1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu các rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện gia lâm, hà nội

118 1,4K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu các rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện Gia Lâm, Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thế Hùng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Quốc Chỉnh
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 870,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học Nông nghiệp hà nộI

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đ1 đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đ1 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn thế hùng

Trang 3

Lời cảm ơnKhi nhận đề tài nghiên cứu này, tôi vô cùng bỡ ngỡ bởi sự mới mẻ của

nó Nhưng đươc sự định hướng tận tình của TS Nguyễn Quốc Chỉnh về những vấn đề lý luận và thực tiễn, những khó khăn đó đ1 được khắc phục để đề tài dần được định hình và đến nay đ1 hoàn thành Khi tôi tiến hành nghiên cứu đề tài tại địa điểm nghiên cứu các cấp chính quyến từ phòng nông nghiệp, trạm khuyến nông, chính quyền các x1 các thôn trong địa điểm nghiên cứu đ1 có những hợp tác giúp đỡ rất vô tư và tận tình Đó chính là những nguồn động viên lớn giúp tôi vượt qua khó khăn khi thực hiện đề tài này Đặc biệt là sự hợp tác của bà con nông dân khi tôi tiến hành điều tra phỏng vấn đ1 dành thời gian đón tiếp và cung cấp những thông tin quý báu cho đề tài Qua đó tôi không chỉ thu được những thông tin kiến thức cần thiết cho đề tài mà còn học hỏi được rất nhiều bổ ích về đời sống kinh tế x1 hội trong cộng đồng nông thôn Khi nghiên cứu thực tế kết thúc, các thầy cô trong bộ môn đ1 có những

đóng góp quý báu cho việc hoàn tất cuối cùng của luận văn Bên cạnh sự hợp tác giúp đỡ trong công việc tôi không thể quên sự động viên của gia đình và bạn bè trong quá trình học tập và nghiên cứu thực tế Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới tất cả mọi người và các tổ chức đ1 giúp đỡ tôi thực hiện thành công luận văn thạc sỹ kinh tế này

Tác giả luận văn

Nguyễn thế hùng

Trang 4

Môc lôc

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO TÌM HIỂU

4.1.1 Thực trạng sản xuất rau của huyện trong những năm gần ñây 55

4.2 Thực trạng rủi ro trong sản xuất và tiêu thụ của các hộ ñiều tra 68

4.3 Mét sè biÖn ph¸p h¹n chÕ rñi ro cho hé s¶n xuÊt rau 100 4.3.1 Nâng cao nhận thức của hộ về kỹ thuật, thị trường, rủi ro 101

Trang 5

4.3.3 ða dạng hóa trong sản xuất 105

Trang 6

Danh mục bảng

2.2: Một số loại hình bảo hiểm nông nghiệp trên thế giới 37

3.2: Tình hình biến động dân số và lao động của huyện Gia Lâm 44

4.2: Phát triển sản xuất rau xanh theo các x1 của Gia Lâm 60 4.3: Diện tích, năng suất, sản lượng rau năm 2007 của huyện 62

4.6: Tình hình sử dụng lao động cho sản xuất rau của các hộ điều tra 69 4.7: Tình hình sử dụng vốn và tài sản phục vụ cho sản xuất rau năm 2008 72 4.8: Hiệu quả sản xuất một số cây rau của các hộ điều tra trên một

4.9: Mức độ xuất hiện rủi ro trong sản xuất rau của các hộ điều tra

4.11: Những tổn thất về vật chất do rủi ro gây ra cho các nhóm hộ điều tra 83 4.12: Mức độ ảnh hưởng của rủi ro trong sản xuất đến thu nhập của

4.13: Rủi ro và mức độ ảnh hưởng đến sản lượng cây trồng 88 4.14: Rủi ro về vị trí sản xuất ảnh tới sản lượng cây trồng 90 4.15: Rủi ro kỹ thuật, công nghệ ảnh hưởng tới sản lượng cây trồng 92

4.17: Mức độ xuất hiện rủi ro trong tiêu thụ của các hộ điều tra 98 4.18: Mức độ thiệt hại của rủi ro trong tiêu thụ của các hộ điều tra 99 4.19: Nhận thức của hộ về kỹ thuật, thị trường, rủi ro 103

Trang 7

1 MỞ ðẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ðỀ TÀI

Ngày nay với sự phát triển của kinh tế ñi liền với nó là các nhu cầu về tiêu dùng cũng ñược nâng cao, trong ñó ñặc biệt là các nhu cầu về nông sản tiêu dùng hàng ngày Các nhu cầu thiết yếu ñòi hỏi sự ña dạng về số lượng, chủ loại và chất lượng ngày một cao vì các sản phẩm này có sự tác ñộng thường xuyên, trực tiếp ñến ñời sống con người

ðồng thời với sự phất triển kinh tế là sự phát triển của các khu công nghiệp, các khu ñô thị mới và sự gia tăng dân số nhanh, quá trình này ñã gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường, diện tích ñất sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm ñặc biệt là các vùng ven thành phố lớn, các khu công nghiệp

Tình hình này ñã gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp nói chung và cho sản xuất rau nói riêng Mặt khác cũng ñòi hỏi cung về sản xuất nông nghiệp cho các khu ñô thị, khu công nghiệp ngày một cao cả về số lượng và chất lượng ñặc biệt là ñối với sản phẩm rau, hiện nay với xu hướng phát triển chung của thời ñại là việc phát triển sản xuất và tiêu dùng những sản phẩm sạch, an toàn ðây là vẫn ñề có tính thiết yếu vì sự phát triển kinh tế, xã hội , môi trường và sức khỏe con người Ngày nay hướng sản xuất rau an toàn không chỉ ñơn thuần là chủ trương của ñảng và Nhà nước mà còn là nhu cầu của người tiêu dùng nhằm ñảm bảo an toàn, tránh ngộ ñộc thức ăn và bệnh tật

về lâu dài có thể xẩy ra

Hiện nay sản xuất rau của các hộ trên ñịa bàn chủ yếu dựa trên quyết ñịnh của cá nhân từng hộ, các quyết ñịnh dựa trên nguồn lực của hộ sao cho sản xuất ñem lại những tối ưu cho hộ hay ñạt tới ñộ thỏa dụng cao nhất khi họ phải lựa chọn các doanh mục sản xuất khác nhau Trong khi ñó sản xuất nông

Trang 8

nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng cũng có rủi ro cao: rủi ro do thiên tai, sâu bệnh; rủi ro công nghệ, kỹ thuậtẦ đồng thời sản xuất rau cũng có nhiều vẫn ựề cần tìm hiểu và giải quyết như ựầu ra cho sản phẩm chưa ổn ựịnh, diện tắch ựất sản xuất còn manh mún, vốn ựầu tư cho sản xuất chưa ựầy

ựủ, quy trình sản xuất rau chưa ựược áp dụng triệt ựể, trình ựộ dân trắ của người sản xuất nhìn chung còn thấp, thu nhập của người sản xuất thấp, lượng rau ựưa vào thị trường chưa chiếm ựược niềm tin của người tiêu dùng, tổ chức quản lý chưa hiệu quả Từ ựây ựặt ra cho nghành hàng rau nhiệm vụ quan trọng ựòi hỏi phải ựược quan tâm giả quyết thỏa ựáng trong cả lĩnh vực sản xuất và tiêu thụ Sự thất bại của một số mô hình trồng rau ựã và ựang ựặt ra những câu hỏi cho việc phát triển sản xuất rau? Làm thế nào ựể phát triển sản xuất rau an toàn cho sức khỏe cộng ựồng? các rủi ro trong sản xuất và tiêu thụ rau ựã ựược quan tâm ựúng mức chưa?

đã có nhiều ựề tài nghiên cứu sự phát triển sản xuất rau nhưng từ góc

ựộ hiệu quả sản xuất Rất ắt hoặc chỉ ựề cập một cách chung chung những khó khăn, rủi ro mà sản xuất rau có thể gặp phải Việc phát triển sản xuất, tiêu thụ rau có thể tiếp cận từ góc ựộ rủi ro Từ thực tế ựó chúng tôi tiến hành nghiên

cứu ựề tài: ỘTìm hiểu các rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện Gia Lâm-Hà NộiỢ

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở phân tắch ựánh giá thực trạng rủi ro trong sản xuất tiêu thụ rau ựề ra những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro có hiệu quả

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về rủi ro

- Tìm hiểu thực trạng sản xuất, tiêu thụ và rủi ro trong sản xuất và tiêu

Trang 9

thụ rau ở huyện Gia Lâm và tác ñộng của rủi ro ñến kết quả sản xuất, tiêu thụ rau trên ñịa bàn nghiên cứu

- ðề xuất giải pháp nhằm hạn chế rủi ro cho các hộ nông dân sản xuất

và tiêu thụ rau

1.3 ðỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 ðối tượng nghiên cứu

- Các rủi ro trong sản xuất và tiêu thụ rau trên ñịa bàn

- Các hộ sản xuất rau trên ñịa bàn

- Các hình thức tiêu thụ rau của hộ sản xuất

Trang 10

2 CƠ SỞ Lí LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO TèM HIỂU CÁC RỦI RO TRONG SẢN XUẤT VÀ TIấU THỤ RAU

2.1 CƠ SỞ Lí LUẬN VỀ RỦI RO VÀ KHễNG CHẮC CHẮN

Một trong những thách thức lớn nhất đối với các hộ nông dân là thường xuyên gặp rủi ro Rủi ro sẽ tác động trực tiếp đến quyết định của người nông dân, nhưng đồng thời cũng ảnh hưởng đến lợi ích của người nông dân Vì thế, vấn đề rủi ro ngày càng trở thành một vấn đề đáng quan tâm Từ rủi ro trong phân tích kinh tế được dùng để đề cập đến tình trạng một quyết định có thể có nhiều kết quả với các khả năng khác nhau Nhưng trước tiên cần phân biệt hai thuật ngữ rủi ro và không chắc chắn

2.1.1 Không chắc chắn

Trong môi trường tự nhiên, kinh tế và x1 hội của người nông dân có rất nhiều điều không chắc chắn xảy ra gây bất lợi đối với mỗi nông dân như thiên tai, giảm giá nông sản, tăng giá đầu vào, bệnh tật… Các sự kiện đó xảy ra với những xác suất mà không thể biết trước được

Vì vậy ta có thể hiểu sự không chắc chắn là các tình trạng không thể gắn xác suất với việc xảy ra các sự kiện Sự không chắc chắn đề cập theo ý nghĩa mô tả đặc điểm môi trường kinh tế mà các nông hộ phải đương đầu

Các dạng không chắc chắn đều được thể hiện bằng sự nghèo nàn tuyệt

đối của nhiều hộ nông dân, hậu quả của các sự không chắc chắn thường tạo ra

sự khác biệt giữa giàu có và đói nghèo Sự không chắc chắn chỉ được xem như

là một vấn đề đối với sản xuất nông nghiệp hơn là các ngành khác và được thể hiện trên các dạng chủ yếu sau:

+ Sự không chắc chắn về sản lượng

Nguyên nhân gây ra sự không chắc chắn này là do gặp phải thiên tai Thiên tai là những tác động có hại đối với sản xuất nông nghiệp mà khó có thể

Trang 11

dự đoán được như sâu bệnh, lũ lụt, nắng hạn Thiên tai cũng có thể được mô tả như là sự không chắc chắn về năng suất và sản lượng cây trồng Khả năng chống lại thiên tai phụ thuộc nhiều vào khả năng tiền mặt, vật tư của hộ nông dân, vì vậy khả năng này giữa các hộ nông dân sẽ khác nhau

+ Sự không chắc chắn về giá cả

Do chu kỳ của sản xuất nông nghiệp kéo dài nên khi lựa chọn một loại cây trồng hoặc chăn nuôi gia súc, tại thời điểm ra quyết định người ta khó xác

định được giá thị trường vào lúc có sản phẩm để bán là bao nhiêu Điều này

đặc biệt khó khăn đối với cây trồng lâu năm vì phải mất vài năm kiến thiết cơ bản mới cho thu hoạch sản phẩm Vấn đề càng trầm trọng hơn đối với các nước nông nghiệp chậm phát triển nơi có thị trường không hoàn thiện và thiếu thông tin Sự dao động của thị trường cũng có thể được miêu tả như là sự không chắc chắn của giá cả Đây là điều phổ biến đối với nền nông nghiệp ở mọi nơi và là nguyên nhân chính cho sự can thiệp của Nhà nước đối với thị trường nông nghiệp ở nhiều nước trên thế giới

+ Sự không chắc chắn về x hội

Sự không chắc chắn về x1 hội liên quan đến việc kiểm soát các nguồn lực sản xuất và sự lệ thuộc của một số nông dân vào những người khác Điều này xảy ra khi không có sự công bằng trong quyền sở hữu đất đai và các nguồn lực khác Sự không chắc chắn về x1 hội do tính chất của x1 hội quyết định nên nó có mức độ khác nhau giữa các vùng hoặc các nước khác nhau

+ Sự không chắc chắn về con người (ốm đau, bệnh tật, qua đời…)

Không ai có thể biết trước được sức khoẻ của mình cũng như các thành viên trong gia đình trong tương lai Vì vậy, điều này cũng được coi là sự không chắc chắn về con người

Những sự không chắc chắn như trên dẫn đến người nông dân không tình nguyện chấp nhận sự đổi mới kỹ thuật, ngại đầu tư cho sản xuất hoặc tiếp nhận một cách chậm chạp để tăng sự thích nghi với những điều không chắc chắn Điều đó cũng làm tăng thêm sự phân hoá giàu nghèo trong x1 hội nông thôn

Trang 12

2.1.2 Rủi ro

Trong các tình trạng không chắc chắn trên, các biến cố có thể xảy ra với một xác suất ước đoán chủ quan được gọi là sự rủi ro Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh mặc dù đ1 luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng vẫn có thể gặp rất nhiều những rủi ro bất ngờ xảy ra Rủi ro có thể xuất hiện mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực

Việc ra quyết định trong các hoạt động kinh tế đều gặp phải rủi ro bởi vì việc ra quyết định được tiến hành trước khi biết được kết quả của quyết định

đó Mức độ rủi ro phụ thuộc vào sự tác động của các yếu tố và khả năng kiểm soát các yếu tố trong giai đoạn từ quyết định đến kết quả Trong khi đó, từ quyết định đến kết quả là một quá trình bị tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó rất nhiều yếu tố nằm ngoài dự đoán và khả năng kiểm soát của người ra quyết

định nên mức độ rủi ro là rất lớn

Vậy rủi ro là gì ?

Cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về rủi ro, những trường phái khác nhau, tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau Những định nghĩa này rất đa dạng, phong phú, nhưng có thể chia làm 2 trường phái lớn:

+ Theo trường phái truyền thống

Thuộc trường phái này, ta có thể thấy các định nghĩa:

- Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến

- Rủi ro là sự không may

- Rủi ro là sự bất trắc, gây ra mất mát, hư hại

- Rủi ro là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hoặc điều không chắc chắn

- Rủi ro là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến

- Trong lĩnh vực hoạt động tài chính nông thôn thì coi việc nông dân

Trang 13

đầu tư từ các khoản tiền vay cho chăn nuôi mà gia súc chết cũng là rủi ro

Theo cách định nghĩa truyền thống, rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc

điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người

X1 hội loài người càng phát triển, hoạt động của con người ngày càng

đa dạng, phong phú và phức tạp, thì rủi ro ngày càng nhiều và đa dạng, mỗi ngày lại xuất hiện những rủi ro mới, những rủi ro chưa từng có trong quá khứ Con người cũng quan tâm đến việc nghiên cứu rủi ro và quá trình nghiên cứu

đó nhận thức về rủi ro cũng thay đổi, trở nên trung hoà hơn

+ Theo trường phái trung hoà

Theo trường phái này, có các quan điểm như sau về rủi ro:

- Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được (Frank Knight)

- Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không mong đợi (Allan Willett)

- Rủi ro là một tổng hợp những ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác suất (Irving Preffer)

- Rủi ro là giá trị và kết quả mà hiện thời chưa biết đến

- Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất

định Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước (C Arthur William, Jr Smith)

Trường phái trung hoà thì “rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường

được” Rủi ro vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực Rủi ro có thể mang đến những tổn thất, mất mát, nguy hiểm cho con người, nhưng cũng

có thể mang đến những cơ hội Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhận dạng, đo lường rủi ro, người ta có thể tìm ra được các biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang kết quả tốt đẹp cho tương lai (Đoàn

Trang 14

ảnh hưởng đến đời sống kinh tế x1 hội nói chung

Trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là nhìn nhận rủi ro theo trường phái truyền thống bởi vì với hộ nông dân thì họ quan niệm rủi ro tức là sự không may, ảnh hưởng đến sinh kế Hơn nữa với nông dân cũng không có những ghi chép liên tục về các sự kiện đ1 xẩy ra nên khó có thể tính ra xác suất chính xác Tuy nhiên, ở trường phái trung hoà chúng tôi sử dụng ảnh hưởng của rủi ro đến việc ra quyết định vì việc quan trọng nhất của quản lý rủi

ro là ra được các chiến lược quản lý rủi ro nhằm đảm bảo sinh kế cho gia đình 2.1.3 Phân biệt giữa rủi ro và sự không chắc chắn

Từ các khái niệm trên ta nhận thấy rằng, rủi ro là khách quan và nếu có

đầy đủ thông tin thì có thể tính được xác suất của các sự kiện xảy ra Còn không chắc chắn đề cập đến các tình trạng mất mát không thể gắn xác suất với việc xảy

ra các sự kiện, nó không còn là khách quan như ý nghĩa ban đầu mà gắn với chủ quan của người ra quyết định Có nghĩa là con người có thể tác động để giảm bớt

sự thua thiệt cho người sản xuất Đó cũng là nguyên tắc cho việc ra quyết định trong quản lý rủi ro phải dựa vào suy nghĩ chủ quan của từng người

Trang 15

Rủi ro đề cập đến nhiều kết quả, mỗi kết quả có thể xảy ra với các khả năng khác nhau Khả năng của một kết quả nào đó hiểu theo nghĩa là tần suất trung bình xảy ra kết quả đó Trong khi đó, không chắc chắn đề cập đến tình trạng có nhiều kết qủa có thể xảy ra trong một quyết định nhưng chưa biết khả năng sẽ xảy ra của từng kết quả Như vậy, rủi ro và không chắc chắn chỉ khác nhau ở việc có đánh giá được hay không khả năng (hay còn gọi là xác suất) xảy ra các kết quả khác nhau

2.1.4 Nguyên nhân và đặc điểm rủi ro của hộ nông dân sản xuất NN 2.1.4.1 Nguyên nhân gây ra rủi ro của hộ nông dân sản xuất NN

+ Rủi ro do thiên nhiên

Các nguyên nhân có nguồn gốc thiên nhiên, bao gồm:

- Các yếu tố liên quan đến điều kiện thời tiết như hạn hán, lũ lụt

- Các loại dịch bệnh

- Sâu bệnh

Nhóm nguyên nhân này do tự nhiên tạo ra là chủ yếu Do sự tác

động của điều kiện tự nhiên đ1 gây ra sự biến động về sản lượng của các hộ nông dân Sự biến động về sản lượng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự không ổn định trong thu nhập của người nông dân

+ Rủi ro do thị trường tiêu thụ sản phẩm

Nguyên nhân của tình trạng rủi ro này chủ yếu là do sự biến động của giá cả Sản xuất nông nghiệp có đặc thù là tính thời vụ nên giá cả thường có nhiều biến động Giá nông sản vào vụ thu hoạch rộ thường giảm làm cho thu nhập của người sản xuất giảm theo hay những năm được mùa thì giá lại thấp

đi hoặc có một dạng khác là sản xuất quá nhiều làm cho cung vượt quá cầu Giá cả thay đổi cũng mang đến cho người nông dân rất nhiều rủi ro

+ Rủi ro do chính sách của Nhà nước qua việc thay đổi quy hoạch xây dựng, qua việc ngăn đập, phân lũ nên nhiều vùng dân phải thu non sản phẩm hoặc có khi không được thu hoạch

Trang 16

+ Rủi ro do chiến tranh, xung đột sắc tộc hoặc sự tranh chấp địa giới giữa các địa phương, giữa các hộ nông dân

+ Rủi ro về con người do ốm đau, bệnh tật, qua đời, ly hôn, mắc phải các tệ nạn x1 hội

Ngoài những rủi ro chung của tất cả các hộ nông dân trên thế giới, hộ nông dân Việt Nam còn gặp phải một số rủi ro sau:

- Rủi ro do không có thị trường chắc chắn để tiêu thụ sản phẩm Một số nông sản có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm nhưng việc thực hiện và xử lý hợp

đồng không nghiêm minh làm cho người nông dân bị thua thiệt Một số nông sản hàng hoá đ1 được các nhà máy hứa hẹn giá từ đầu vụ nhưng khi có sản phẩm thì họ không mua hoặc mua với giá rẻ

- Rủi ro do thiếu hiểu biết kỹ thuật và thiếu thông tin Trong nông nghiệp làm sai mùa vụ, sai giống, sai kỹ thuật cũng dễ bị mất trắng

- Tuyên truyền, quảng cáo sai hoặc sự lừa đảo của một số cá nhân nên nông dân mua phải hàng giả và cả “dịch vụ” giả

Rủi ro có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sản xuất của người nông dân Tình trạng có nhiều rủi ro làm cho người nông dân không muốn đầu tư vào lĩnh vực sản xuất đòi hỏi đầu tư cao hoặc áp dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến Vì thế, việc nghiên cứu và tìm ra các biện pháp phòng tránh và giảm bớt các tác hại của rủi ro sẽ có ảnh hưởng tích cực đến sản xuất và vấn đề nghèo đói ở nông thôn 2.1.4.2 Những đặc điểm rủi ro của hộ nông dân sản xuất NN

Nông dân gắn với khu vực nông thôn và sản xuất nông nghiệp, đặc biệt

là nông dân vùng núi, vùng kém phát triển cho nên đặc điểm của nông nghiệp

và nông thôn quyết định nhiều đến đặc điểm của rủi ro của nông dân

Sản xuất nông nghiệp có nhiều điểm khác hẳn so với một số ngành kinh

tế khác Sự khác nhau ở đây xuất phát từ những đặc điểm riêng có của sản xuất nông nghiệp và nông dân Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng, cung cấp lương thực và thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho

Trang 17

ngành công nghiệp và là hàng hoá để xuất khẩu Nông nghiệp cũng là ngành thu hút nhiều lao động x1 hội, góp phần giải quyết công ăn việc làm và đồng thời còn là một ngành đóng góp không nhỏ vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Một trong những khó khăn thách thức lớn nhất đối với sản xuất nông nghiệp là vấn đề rủi ro Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp nên đ1 làm cho mức độ rủi ro trong nông nghiệp thường cao hơn so với các hoạt động trong các lĩnh vực khác Bao gồm những đặc điểm sau:

+ Sản xuất nông nghiệp thường trải trên một phạm vi rộng lớn và hầu hết lại được tiến hành ở ngoài trời, vì thế nó chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên Mặc dù trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng tiên tiến và hiện

đại, con người ngày càng chế ngự được nhiều những ảnh hưởng xấu của tự nhiên nhưng mâu thuẫn giữa con người với lực lượng tự nhiên vẫn tồn tại trong sản xuất nông nghiệp Hàng năm điều kiện tự nhiên vẫn luôn đe doạ và gây tổn thất lớn cho quá trình sản xuất nông nghiệp

+ Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống như cây trồng, vật nuôi Chúng không chỉ chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, mà còn chịu sự tác động của các quy luật sinh học Đó là các quy luật: đồng hoá,

dị hoá, biến di, di truyền; quy luật về thời gian sinh trưởng và cho sản phẩm Vì vậy, xác suất rủi ro trong nông nghiệp đ1 lớn lại càng lớn hơn so với nhiều ngành sản xuất khác

+ Chu kỳ sản xuất trong nông nghiệp thường kéo dài, thời gian lao động

và thời gian sản xuất lại không trùng nhau, do đó đánh giá, kiểm soát việc phòng ngừa và quản lý rủi ro là rất khó thực hiện

+ Trong nông nghiệp có rất nhiều loại cây trồng, vật nuôi khác nhau, mỗi loại lại thường gặp những rủi ro khác nhau Thậm chí, có những loại rủi

ro mà hậu quả của chúng mang tính chất thảm hoạ Từ đó đ1 ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý người sản xuất Mặc dù có lao động, có đất đai nhưng muốn

mở rộng quy mô sản xuất, muốn đầu tư thâm canh, muốn sản xuất hàng hoá

Trang 18

với quy mô lớn, họ cũng không dám mạnh dạn vay vốn để đầu tư Bởi vì tài sản thế chấp vốn vay không có, mà rủi ro lại luôn rình rập

Trong điều kiện rủi ro cao, người nông dân thường giảm quy mô sản xuất và do đó thu nhập của họ sẽ giảm Lý do rất đơn giản là rủi ro cao sẽ đòi hỏi sản xuất phải có l1i cao hơn trong trường hợp sản xuất không có rủi ro Trong trường hợp hiệu quả giảm dần theo quy mô như ngành nông nghiệp,

điều này dẫn đến người nông dân phải giảm sản xuất để tăng sản phẩm cận biên sao cho bằng với chi phí cận biên mà chi phí này cao hơn do rủi ro làm tăng chi phí cơ hội của các nguồn lực (vốn, lao động)

Đối với nông dân ngoài rủi ro gặp trong sản xuất họ còn có thể gặp rất nhiều rủi ro trong cuộc sống do điều kiện sinh hoạt khó khăn hơn các tầng lớp khác trong x1 hội, cơ sở hạ tầng kém phát triển, môi trường sống không vệ sinh… Những rủi ro về con người đ1 làm cho nông dân càng nhiều khó khăn hơn và phát sinh thêm nhiều rủi ro khác Mỗi loại rủi ro có những tác động rất khác nhau đến kết quả, hiệu quả sản xuất và cuộc sống của hộ

2.1.5 Phân loại rủi ro trong các hộ nông dân sản xuất NN

- Phân theo lĩnh vực rủi ro:

+ Rủi ro trong quá trình sản xuất: là những rủi ro liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân

+ Rủi ro ngoài sản xuất: là những rủi ro liên quan đến cuộc sống của người nông dân Trong cuộc sống hàng ngày cũng có rất nhiều rủi ro đến với các hộ nông dân như ốm đau, bệnh tật, sự mất mát tài sản… Những rủi ro trên

ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và thu nhập của các hộ nông dân

- Phân theo nguồn gốc rủi ro:

+ Rủi ro tự nhiên

Đây là nhóm rủi ro do các hiện tượng thiên nhiên như: lũ lụt, mưa đá, hạn hán, đất lở, sương muối, dịch bệnh, sâu bệnh gây ra Những rủi ro này thường dẫn đến những thiệt hại to lớn về người và của Nó có thể tác động đến

Trang 19

năng suất mùa màng (rủi ro trong sản xuất) và cả sản phẩm cất trữ trong kho (rủi ro trong bảo quản)

+ Rủi ro x1 hội

Sự thay đổi các chuẩn mực giá trị, hành vi của con người, cấu trúc x1 hội, các định chế là một nguồn rủi ro quan trọng Nếu không nắm được điều này sẽ có thể phải gánh chịu những thiệt hại nặng nề

+ Rủi ro kinh tế

Là những rủi ro do môi trường kinh tế gây ra như: tốc độ phát triển kinh

tế, khủng hoảng, suy thoái kinh tế, lạm phát

- Phân theo mức độ rủi ro:

+ Rủi ro cá nhân: rủi ro chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân nào đó

+ Rủi ro cộng đồng: rủi ro ảnh hưởng đến cả cộng đồng

- Phân theo mức độ xuất hiện của rủi ro:

+ Rủi ro riêng rẽ: chỉ xuất hiện một loại rủi ro

+ Rủi ro dây chuyền: rủi ro này xuất hiện lại kéo theo những rủi ro khác + Rủi ro kết hợp: kết hợp nhiều loại rủi ro với nhau

Quản lý rủi ro cũng mang hai đặc tính trên của quản lý đó Các hoạt

động của quản lý rủi ro phải diễn ra trước và trong quá trình sản xuất Tính

định hướng trong quản lý rủi ro chính là giảm thiểu sự mất mát, thiệt hại

Trang 20

Như vậy, quản lý rủi ro được hiểu như một phương pháp khoa học nhằm kiểm soát và điều chỉnh những điều kiện dẫn đến rủi ro và giảm tối thiểu những thiệt hại do các điều kiện đó gây ra Quản lý rủi ro không chỉ bao hàm ý chống rủi ro mà còn bao hàm cả ý về lập kế hoạch nhằm thích ứng với rủi ro

Chống rủi ro là những biện pháp, những ứng xử nhằm tránh rủi ro ứng

xử của nông dân với rủi ro biểu hiện ở 3 trạng thái:

- Chấp nhận rủi ro để có thể thu được thu nhập cao nhất, mặc dù họ biết rằng cơ hội cho khả năng này chỉ có một xác suất nhất định

- Chống hoặc không chấp nhận rủi ro để bảo đảm an toàn các hoạt động của mình trong trường hợp khả năng xấu có thể xảy ra, mặc dù khả năng xảy

Trong khi đó, khắc phục rủi ro là các hành động hay phản ứng sau khi rủi

ro đ1 xảy ra nhằm tối thiểu hoá tác hại

Như vậy, quản lý rủi ro chính là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro 2.2.2 Các chiến lược quản lý rủi ro

Chiến lược quản lý rủi ro bao gồm: chiến lược đối phó với rủi ro và chiến lược thích ứng với rủi ro

Chiến lược đối phó với rủi ro là chiến lược tức thời, cấp bách không thật tích cực, nhiều khi vì nhu cầu trước mắt sẽ ảnh hưởng lợi ích lâu dài

Chiến lược thích ứng với rủi ro là chiến lược dự phòng lâu dài, uyển chuyển nhằm ổn định thu nhập vừa giải quyết được rủi ro vừa tạo cơ hội cho phát triển Ví dụ mua bảo hiểm thì sẽ được đền bù khi mất mùa nên không phải vay nợ l1i cao

Trang 21

2.2.3 Nội dung quản lý rủi ro

Quản lý rủi ro bao gồm các nội dung:

+ Nhận dạng, phân tích, đo lường rủi ro

+ Kiểm soát, phòng ngừa rủi ro

+ Tài trợ rủi ro khi nó đ1 xuất hiện

2.2.3.1 Nhận dạng, phân tích, đo lường rủi ro

- Nhận dạng rủi ro

Để quản lý rủi ro trước hết phải nhận dạng rủi ro Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh Hoạt động nhận dạng rủi ro nhằm phát triển các thông tin về nguồn gốc rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm hoạ, đối tượng rủi ro và các loại tổn thất Nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ mọi hoạt động nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ những rủi ro đ1 và đang xảy ra, mà còn dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp

Phương pháp nhận dạng rủi ro: Để nhận dạng rủi ro phải lập được bảng liệt kê tất cả các dạng rủi ro đ1, đang và sẽ có thể xuất hiện, có thể sử dụng các phương pháp sau:

+ Lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra Các câu hỏi có thể được sắp xếp theo nguồn gốc rủi ro, hoặc môi trường tác động Các câu hỏi thường xoay quanh những vấn đề như:

 Các hộ đ1 gặp những loại rủi ro nào ?

 Tổn thất là bao nhiêu ?

 Số lần xuất hiện các loại rủi ro đó trong một khoảng thời gian nhất

định (thường là 1 năm) ?

 Những biện pháp phòng ngừa, biện pháp tài trợ rủi ro được sử dụng? Kết quả đạt được ?

Trang 22

 Những rủi ro chưa xảy ra nhưng có thể xuất hiện? Lý do ?

 Những ý kiến đánh giá và đề xuất về công tác quản lý rủi ro

+ Thanh tra hiện trường: để quản lý rủi ro đòi hỏi phải thường xuyên thanh tra hiện trường Nhờ quan sát, theo dõi trực tiếp hiện trường sẽ tiến hành phân tích, đánh giá, nhận dạng rủi ro

- Phân tích rủi ro

Nhận dạng được các rủi ro và lập bảng liệt kê tất cả các rủi ro có thể

đến tuy là công việc quan trọng, không thể thiếu, nhưng mới chỉ là bước khởi

đầu của công tác quản lý rủi ro Bước tiếp theo là phải tiến hành phân tích rủi

ro, phải xác định được các nguyên nhân gây ra rủi ro, trên cơ sở đó mới có thể tìm ra các biện pháp phòng ngừa Đây là một công việc rất phức tạp bởi vì mỗi loại rủi ro thường do nhiều nguyên nhân, trong đó có cả nguyên nhân trực tiếp

và nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân gần và nguyên nhân xa

- Đo lường rủi ro

Có 2 cách tiếp cận chính về việc đo lường mức độ rủi ro:

- Cách tiếp cận phương sai-thu nhập và phòng tránh thảm hoạ hay còn gọi là cách tiếp cận an toàn trước tiên Cách tiếp cận thứ nhất dùng độ phân tán của các kết quả, chẳng hạn như phương sai hay hệ số sai lệch làm thước đo rủi ro Hệ số sai lệch càng cao thì rủi ro càng cao và ngược lại

Phương phỏp xỏc ủịnh giỏ trị kỳ vọng

Cú nhiều phương phỏp biểu thị giỏ trị kỳ vọng về năng suất, về giỏ hoặc cỏc giỏ trị khỏc khi khụng biết chỳng một cỏch chắc chắn Khi cú ủược cỏc giỏ trị kỳ vọng thỡ ta cú thể sử dụng nú ủể lập kế hoạch và ra quyết ủịnh vỡủú là cỏc ước lượng tốt nhất cho cỏc giỏ trị chưa biết và chỉ xỏc ủịnh chớnh xỏc trong tương lai

Cú 2 loại con số trung bỡnh cú thể sử dụng ủể tớnh kỳ vọng

M ột là: số trung bỡnh là bỡnh quõn ủơn giản ủược tớnh từ số liệu quỏ khứ, như số liệu về năng suất hoặc giỏ ðõy là phương phỏp ủơn giản thường

Trang 23

ủược sử dụng khi cú sẵn số liệu thống kờ Vẫn ủề là lựa chọn số liệu ủể tớnh,

sự lựa chọn này khụng cú quy tắc và phụ thuộc vào ước lượng chủ quan của người ra quyết ủịnh

Hai là: phương phỏp số trung bỡnh hiệu chỉnh, cú hai vẫn ủề cần sử lý khi sử dụng hệ thống này ủú là: sử dụng số liệu bao nhiờu năm và sử dụng hệ thống hiệu chỉnh nào là tốt nhất?

Nếu cú xỏc suất (chủ quan hoặc khỏch quan) của cỏc kết quả kỳ vọng thỡ cú thể tớnh kỳ vọng toỏn học kỳ vọng toỏn học là giỏ trị trung bỡnh của cỏc kết quả thớ nghiệm hoặc nhắc lại cỏc sư kiện nhiều lần

Để đo lường rủi ro người ta thường dùng phân phối xác suất với hai tham số đo lường phổ biến là kỳ vọng và độ lệch chuẩn của rủi ro

Kỳ vọng ký hiệu là E(I) được định nghĩa như sau:

E(I) =Σ(Ii)(Pi)

Trong đó kết quả ứng với khả năng i có xác suất pi và n là số khả năng

có thể xảy ra Như vậy kết quả của kỳ vọng chính là trung bình gia quyền của các kết quả có thể xảy ra với quyền số chính là xác suất xảy ra

Độ lệch chuẩn (S)

Để đo lường hay sai biệt giữa kết quả và với kỳ vọng người ta dùng độ lệch chuẩn (s) Độ lệch chuẩn đo lường sự khác biệt giữa phân phối kết quả với giá trị trung bình của nó

ðộ lệch chuẩn ủược tớnh bằng cỏch lấy căn bậc hai của phương sai ðộ lệch chuẩn càng lớn thỡ ủộ phõn tỏn của cỏc kết quả càng lớn, do ủú khả năng kết quả thực càng xa giỏ trị trung bỡnh hoặc giỏ trị kỳ vọng càng lớn

Kết quả kỳ vọng và độ lệch chuẩn được dùng để đo lường rủi ro cả về không gian và thời gian

Để đo lường rủi ro sản lượng chúng tôi dùng kết quả kỳ vọng và độ lệch chuẩn theo không gian Vì nếu nghiên cứu theo thời gian thì phải có một

Trang 24

lượng mẫu lớn, điều kiện nghiên cứu của đề tài không thể cho phép Nhưng việc nghiên cứu rủi ro theo không gian cũng thu được nhiều ý nghĩa khác mà nghiên cứu theo thời gian không thấy được, đó là sự đồng đều giữa các đối tượng và khả năng tiếp cận với rủi ro của các hộ

Riêng đối với sự biến động của giá cả chúng tôi theo dõi trong ba năm liện tiếp, khoảng thời gian này cũng đủ để xem xét tác động của rủi ro thị trường tới việc sản xuất của các nông hộ

Công thức được sử dụng là:

) ( )]

Ví dụ: việc bón phân cho cây trồng là do ý thức chủ quan của các hộ, ở các mức bón phân khác nhau sẽ tạo ra các kết quả khác nhau và tạo ra một lượng mẫu

có độ phân tán Đó chính là rủi ro, rủi ro này được hình thành từ cách tiếp cận với

kỹ thuật chăm bón của các hộ với cây trồng, hay nói chính xác hơn đây là rủi ro kỹ thuật Vì các hộ khi thực hiện sản xuất bao giờ cũng muốn sản lượng cây trồng của mình tương đương với người khác, việc thu được kết quả không mong đợi nằm ngoài mong muốn của họ và đó là rủi ro do nguyên nhân không chắc chắn hay khả năng tiếp cận với điều kiện rủi ro của các hộ còn yếu

Trang 25

Hệ số biến động (CV)

ðộ lệch chuẩn rất khú biểu diễn khi cỏc phõn phối xỏc suất khụng cú cựng một kỳ vọng Phõn phối xỏc suất với kỳ vọng lớn hơn cú khả năng cú biến ủộng lớn Một cõn nhắc quan trọng ở ủõy là sự biến ủộng tương ủối

Độ lệch chuẩn đôi khi cho chúng ta những kết luận không chính xác khi

so sánh rủi ro của 2 phương án nếu như chúng rất khác nhau về quy mô Ví dụ xem xét hai dự án đầu tư A và B có phân phối xác suất như nhau:

CV =S/E(I)

Trong ví dụ trên, dự án A có CV = 0,75, dự án B chỉ có CV= 0,33 Có thể nói dự án A rủi ro hơn dự án B

Mỗi chỉ tiêu có một ý nghĩa riêng, kết hợp ba chỉ tiêu trên có thể cho thấy cái nhìn toàn diện hơn khi đánh giá rủi ro, việc áp dụng các chỉ tiêu theo mức độ ưu tiên như thế nào phải căn cứ vào từng đối tượng được đánh giá

Trang 26

Một câu hỏi nữa đặt ra là với sự khác biệt của các chỉ tiêu trong những phương án lựa chọn như vậy thì việc ra quyết định sẽ diễn ra như thế nào

Điều này được giải thích bằng lý thuyết về độ thoả dụng

Von neumann Morenstern đưa ra mô hình lựa chọn về độ thoả dụng trong điều kiện không chắc chắn như sau:

Giả sử W* là thu nhâp hiện có, U(W) là độ thoả dụng của thu nhập U(W) có dạng lõm thể hiện rằng độ thoả dụng của thu nhập biên giảm dần

và xác định mức độ nghiêm trọng của rủi ro Trên cơ sở đó có thể lập được ma trận đo lường rủi ro

Trang 27

Bảng 2.1: Ma trận đo lường rủi ro Tần suất xuất hiện

Trong việc nghiên cứu hành vi ra quyết định, mô hình thông dụng và được công nhận nhất hiện nay là mô hình được xây dựng theo Giả thuyết về độ thoả dụng mong đợi Nội dung cơ bản của mô hình này là các cá nhân sẽ ra quyết định lựa chọn các phương án khác nhau sao cho có thể tối đa được độ thoả dụng mong

đợi Việc ra quyết định dựa trên các tiêu thức kỳ vọng và phương sai tỏ ra phù hợp với giả thuyết về độ thoả dụng mong đợi, do vậy cách tiếp cận phương sai – thu nhập thường được sử dụng Điều này có nghĩa là mức độ rủi ro thường được thể hiện bằng hệ số biến động

Trang 28

2.2.3.2 Kiểm soát và phòng ngừa rủi ro

- Kiểm soát rủi ro

Công việc trọng tâm của quản lý rủi ro là kiểm soát rủi ro Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể đến

Kiểm soát rủi ro đòi hỏi phải sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo, bao gồm các biện pháp sau:

+ Các biện pháp né tránh rủi ro: là các biện pháp né tránh những hoạt

động hoặc những nguyên nhân làm phát sinh tổn thất, mất mát có thể có Đây

là biện pháp được sử dụng thường xuyên trong cuộc sống Mỗi người, mỗi đơn

vị sản xuất kinh doanh đều lựa chọn những biện pháp thích hợp để né tránh rủi

ro có thể xảy ra, tức loại trừ cơ hội dẫn đến tổn thất Né tránh rủi ro chỉ với những rủi ro có thể né tránh được Nhưng trong cuộc sống có rất nhiều rủi ro bất ngờ không thế tránh né được

+ Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất: Là sử dụng các biện pháp giảm thiểu số lần xuất hiện các rủi ro hoặc giảm mức độ thiệt hại do rủi ro mang lại + Các biện pháp giảm thiểu tổn thất: là những biện pháp cứu vớt những tài sản còn lại, xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng ngừa rủi ro, lập quỹ

dự phòng, phân tán rủi ro…

+ Các biện pháp chuyển giao rủi ro: Là những biện pháp chuyển rủi ro

đến cho người khác, tổ chức khác thông qua các con đường ký hợp đồng + Các biện pháp đa dạng rủi ro: Gần giống với kỹ thuật phân tán rủi ro, bao gồm đa dạng hoá mặt hàng, đa dạng hoá khách hàng, đa dạng hoá thị trường để phòng chống rủi ro

- Phòng ngừa rủi ro: Là những biện pháp dự phòng để giảm rủi ro có thể xảy ra

Trang 29

2.2.3.3 Các công cụ quản lý rủi ro

a Các công cụ quản lý rủi ro trong sản xuất và kinh doanh nông nghiệp

Rủi ro trong nông nghiệp không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và

đời sống của các hộ nông dân mà nó còn ảnh hưởng đến an ninh của toàn x1 hội Do vậy quản lý rủi ro trong nông nghiệp cũng là mối quan tâm chung của người nông dân và các cấp chính quyền

- Các công cụ quản lý rủi ro sản lượng

+ Các công cụ truyền thống: trong sản xuất nông nghiệp, từ lâu người ta

đ1 biết áp dụng những phương pháp nhằm hạn chế rủi ro như đa dạng hoá cây trồng, đa dạng hoá về không gian, xen canh và luân canh

+ Tự bảo hiểm trong sản xuất: người nông dân thường chọn những phương án sản xuất ít rủi ro nhất mà vẫn đảm bảo được cuộc sống tối thiểu của mình Bằng cách này họ đ1 bỏ qua cơ hội sản xuất có thu nhập cao hơn nhưng có độ an toàn thấp hơn Kỳ vọng chênh lệch thu nhập đó chính là chi phí cho việc tự bảo hiểm trong sản xuất

Hình thức này có tác dụng rất lớn trong ổn định sản lượng sản xuất nhưng cũng có những mặt trái là tạo nên tính ì trong sản xuất nông nghiệp do sản xuất quy mô nhỏ, manh mún, thiếu tính chủ lực của sản xuất hàng hoá và hạn chế việc áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm

Do những hạn chế trên nên đòi hỏi phải có những biện pháp quản lý thay thế bổ sung Một biện pháp đang được quan tâm áp dụng và nghiên cứu hoàn thiện là bảo hiểm trong nông nghiệp bao gồm hai mảng chính là bảo hiểm mùa vụ và bảo hiểm vật nuôi Phạm vi áp dụng của bảo hiểm cũng rất rộng

và bao gồm cả bảo hiểm sau thu hoạch và bảo hiểm tiêu thụ sản phẩm

+ Bảo hiểm mùa vụ

Bảo hiểm có rất mhiều tác dụng đối với người tham gia bảo hiểm và tác dụng quan trong nhất là bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho người tham gia trước rủi ro

Trang 30

Mục tiêu và cơ sở lý thuyết của bảo hiểm mùa vụ

Mục tiêu của bảo hiểm mùa vụ là ổn định thu nhập, tránh cú sốc về tài chính khi rủi ro xảy ra Bảo hiểm mùa vụ còn có một tác động tích cực đến quá trình sản xuất là khuyến khích người dân áp dụng những cái mới có nhiều rủi ro hơn

Cơ chế tính phí bảo hiểm và tiền đền bù được căn cứ vào sự biến động của sản lượng Cơ sở lý thuyết của hình thức bảo hiểm này là dựa trên quy luật

số lớn Quy luật này là nếu tổng hợp thu nhập của người nông dân, với giả

định sự phân bố thu nhập của từng người là giống nhau và độc lập với nhau thì

sự giao động của thu nhập bình quân sẽ tiến tới không khi n tiến tới vô cùng

Cơ chế hoạt động

Cũng như các loại hình bảo hiểm khác người tham gia bảo hiểm mùa vụ

đóng phí bảo hiểm và được đền bù khi có rủi ro xảy ra Có hai cách tiếp cận với việc xác định rủi ro trong bảo hiểm mùa vụ: tiếp cận theo vùng và tiếp cận theo cá thể Mức tiếp cận theo cá thể việc xác định mức phí bảo hiểm và đền

bù căn cứ vào tình hình của từng thành viên tham gia bảo hiểm Trong khi đó cách tiếp cận theo vùng được xác định trên cơ sở một nhóm người

Những hạn chế của bảo hiểm mùa vụ

Do đặc tính của sản xuất nông nghiệp rất khác so với các ngành sản xuất khác nên nhiều khi áp dụng bảo hiểm mùa vụ đ1 trở nên thất bại

Trong nông nghiệp hay gặp phải rủi ro hệ thống có mức ảnh hưởng rộng lớn nên bảo hiểm mùa vụ dựa vào quy luật số đông không phát huy tác dụng Trường hợp này dẫn đến các công ty bảo hiểm thua lỗ Ví dụ hạn hán diễn ra trên diện rộng thì việc đền bù sẽ rất lớn Nếu mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm trên một phạm vi rộng thì những rủi ro này có thể được hạn chế nhưng lại gặp phải khó khăn trong việc xác định mức phí bảo hiểm và đền bù vì mỗi vùng có mức độ rủi ro cũng như thu nhập bình quân khác nhau Do vậy muốn phát huy tác dụng ngoài quy luật số lớn chúng ta cần phải tính đến yếu tố thời gian, lấy năm được bù năm mất

Trang 31

Ngoài ra việc trục lợi trong bảo hiểm nông nghiệp cũng là một vấn đề nghiêm trọng Người được bảo hiểm cố tình tạo ra rủi ro để thu lợi từ tiền đền

bù bảo hiểm Trong khi người bảo hiểm rất khó kiểm soát được những hành vi của người sản xuất Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra

sự thất bại của bảo hiểm mùa vụ

- Các công cụ quản lý rủi ro giá cả

Sự biến động của giá cả là một thách thức không nhỏ đối với những người sản suất nông nghiệp, đặc biệt là đối với nông dân của ta ngày nay khi phải đối mặt với cơ chế thị trường Rủi ro về giá cả thường diễn biến rất phức tạp, nó chịu tác động của nhiều nhân tố thị trường trong khu vực, trong nước

và quốc tế Do đó các công cụ hạn chế rủi ro về giá cả cũng rất rộng và đa dạng Giá cả hàng hoá được quyết định trên cơ sở cân bằng cung cầu trên thị trường Ví dụ giá cà phê được quyết định bởi các nước sản xuất cà phê lớn trên thế giới do đó để bình ổn được giá cả các nước cũng cấp cà phê phải ngồi lại với nhau để bàn về các biện pháp quản lý giá cả

+ Các công cụ thị trường trong quản lý rủi ro giá cả

Thực chất đây là những công cụ được sử dụng trong thị trường tài chính, vì thế công cụ thị trường còn được gọi là những công cụ tài chính quản

lý rủi ro

Các nguyên tắc cơ bản của các công cụ này vẫn giữ nguyên trong việc quản lý rủi ro trên thị trường hàng hoá

Các công cụ quản lý rủi ro trên thị trường tài chính nhằm mục đích trao

đổi rủi ro vì thế các công cụ quản lý rủi ro thị trường đối với vẫn đề rủi ro nông nghiệp (rủi ro giá cả) là hoạt động trao đổi rủi ro, đây là điểm khác biệt

đối với các công cụ phi thị trường

Các công cụ quản lý rủi ro thị trường rất đa dạng bao gồm hợp đồng kỳ hạn, quyền chọn, và swaps Khác với các công cụ phi thị trường, các công cụ này có khả năng ngăn chặn sự biến động của giá cả rất hiệu quả trong khi

Trang 32

không cần sử dụng nhiều nguồn lực (chẳng hạn như các khoản trợ cấp) hoặc gây ra những tác động méo mó đối vơí nền kinh tế (chẳng hạn như cô ta) tuy nhiên, các loại công cụ này chưa được sử dụng rộng r1i ở các nước đang phát triển, điều này không phải do khả năng tiếp cận với các công cụ này bị hạn chế mà chính là môi trường để các công cụ này có hiệu lực như sự phát triển của thị trường tài chính nghiệp vụ sử dụng các công cụ này cần phải có điều kiện tương đối cao về con người, tổ chức, hệ thống pháp luật, khả năng quản

Vào một thời điểm xác định trong tương lai

Với một mức giá xác định ngay trong thời điểm hiện tại

Thời điểm xác định trong tương lai gọi là ngày thanh toán hợp đồng hay thời gian đáo hạn, thời gian từ khi ký hợp đồng đến khi đáo hạn gọi là kỳ hạn của hợp đồng Giá ghi trong hợp đồng gọi là giá kỳ hạn (nếu đó là hợp đồng

kỳ hạn) hay giá tương lai (nếu là hợp đồng tương lai)

Tại thời điểm ký hợp đồng không có sự diễn ra mua bán hay thanh toán nào giữa hai bên Hoạt động này được thực hiện vào một ngày cụ thể trong hợp đồng Vào ngày đó bắt buộc các bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình bất

kể lúc đó giá cả trên thị trường như thế nào

Phân biệt hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai

Hợp đồng tương lai là hợp đồng được chuẩn hoá (về loại tài sản cơ sở mua bán, số lượng tài sản đơn vị cơ sở mua bán, thể thức thanh toán và kỳ hạn thanh toán) Hợp đồng kỳ hạn không được chuẩn hoá, các chi tiết do hai bên trực tiếp thoả thuận cụ thể

Sự khác biệt giữa hai hợp đồng này được thể hiện như sau:

Trang 33

i Hợp đồng tương lai được thoả thuận và mua bán thông qua môi giới, hợp đồng kỳ hạn được thoả thuận trực tiếp giữa các bên mua bán

ii Hợp đồng tương lai được mua bán trên thị trường tập trung, hợp đồng

kỳ hạn được mua bán trên thị trường phi tập trung

iii Hợp đồng tương lai được tính hàng ngày theo giá thị trường, hợp

đồng kỳ hạn được thanh toán vào ngày đáo hạn

Có các loại hợp đồng tương lai như

Hợp đồng tương lai chỉ số chứng khoán

Hợp đồng tương lai l1i suất

Hợp đồng tương lai ngoại hối

Hợp đồng tương lai nông sản

Hợp đồng tương lai về kim loại và đá quý

Tuy nhiên, hầu hết các biện pháp này đều tỏ ra thất bại trong việc ổn

định giá cả và hạn chế rủi ro Phương pháp này cho thấy đây gần như là những canh bạc năm ăn năm thua Nó sẽ có lợi cho người bán khi giá trong tương lai thấp hơn giá trong hợp đồng, ngược lại nó sẽ có lợi cho người mua Khi ký hợp đồng phía người mua cho rằng giá trong tương lai sẽ cao hơn giá trong hợp đồng và ngược lại người bán cho rằng nó thấp hơn do vậy lợi ích giữa các bên là đối ngược nhau Như vậy, khả năng rủi ro có thể thuộc về người bán cũng tương đối cao Giá cả trong tương lai là rất khó dự đoán do vậy việc xác

định giá trong hợp đồng sẽ rất khó khăn và giá đó có thể làm thay đổi cân bằng cung cầu Nếu giá cả dễ dự đoán đối với cả hai bên thì việc thực hiện hợp

đồng không có ý nghĩa, còn dễ dự đoán với một bên thì họ chỉ ký hợp đồng khi có lợi về mình Chính vì tính mạo hiểm và thiếu bền vững đó mà công cụ này đ1 gặp nhiều thất bại khi thực hiện, không đảm bảo được mục tiêu của quản lý rủi ro Ngay Việt Nam cũng đ1 thất bại đối với công cụ này vào năm

2003 khi áp dụng đối với mặt hàng gạo xuất khẩu Hợp đồng được ký và năm

2003 lấy giá của năm này làm căn cứ, sang đầu năm 2004 giá gạo thế giới

Trang 34

tăng cao giá thu mua gạo trong nước cũng cao làm các công ty xuất khẩu bị thua lỗ khi thực hiện hợp đồng

+ Hợp đồng quyền chọn

Về cơ bản trên thị trường tài chính có hai loại hợp đồng quyền chọn là hợp đồng quyền chọn mua (call option) và hợp đồng quyền chọn bán (put option)

Quyền chọn mua là một tài sản tài chính cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua một số tài sản theo một giá cố định biết trước trong một thời hạn nhất định, Quyền chọn bán là một tài sản cho phép người mua nó có quyền nhưng không bắt buộc được bán một lượng tài sản theo một giá cố định biết trước trong một thời gian nhất định

Giá biết trước được gọi là giá thực hiện, tức là giá áp dụng nếu người mua quyền chọn thực hiện lệnh của họ Thời gian từ lúc mua quyền chọn đến khi nó hết hạn là thời gian của quyền chọn Để có quyền chọn người ta phải mua Số tiền phải bỏ ra để mua quyền chọn được gọi là phí mua quyền chọn

Hợp đồng quyền chọn cũng như các công cụ kể trên được sử dụng rất nhiều trong thị trường tài chính đặc biệt là trong giao dịch chứng khoán, nhưng nó cũng được ứng dụng khá rộng r1i trong kinh doanh nông sản Tại Mexico đ1 áp dụng rất thành công công cụ này để bảo hiểm cho người trồng bông trong nước Cũng cần phải nhận định rằng công cụ này chỉ được thực hiện trên những thị trường tài chính đ1 phát triển và người nông dân ngay cả ở các nước phát triển cũng không trực tiếp sử dụng được mà phải thông qua các công ty hoặc các tổ chức

+ Các công cụ phi thị trường trong quản lý rủi ro giá cả

Công cụ này đ1 được áp dụng khá phổ biến trên thế giới, có ba hình thức chính sau đây

Bình ổn giá cả quốc tế

Bình ổn giá cả trên thị trường quốc tế được thực hiện thông qua các thoả

Trang 35

thuận quốc tế về việc mua bán hàng hoá ở các mức giá ổn định giữa người sản xuất và người mua hoặc giữa các nhà sản xuất với nhau Các chức năng ổn

định giá cả được thực hiện thông qua một số biện pháp như kho đệm, quỹ dự phòng, cô ta xuất nhập khẩu, cô ta về mức sản xuất hoặc tiêu dùng

Bình ổn giá cả trong nước

Đối với giá cả trong nước có rất nhiều biện pháp được áp dụng như các chính sách vĩ mô (tài khoản, tiền tệ) sử dụng dự trữ ngoại tệ, ngân sách chính phủ hoặc kho đệm Việc điều chỉnh vĩ mô chủ yếu nhằm khắc phục những cú sốc giá cả có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền kinh tế như giá đầu vào cơ bản tăng cao Ví dụ năm 2004 giá đầu vào trong nông nghiệp và công nghiệp đều tăng rất cao (xăng dầu, phân đạm ) Nhà nước đ1 áp dụng các chính sách miễn thuế nhập khẩu Tuy nhiên việc điều chỉnh này cũng chỉ là biện pháp tức thời và gây thiệt hại cho nền kinh tế, do vậy nó thiếu tính bền vững Vì thế chính sách vĩ mô thường không phải là biện pháp hiệu quả để giải quyết vấn

đề rủi ro giá cả

Việc lựa chọn các hình thức ổn định giá cả phụ thuộc và hàng hoá cần

ổn định giá là loại hàng hoá nào: hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu hay không tham gia thương mại, có thể dự trữ được hay không, hoặc khả năng ảnh hưởng của một quốc gia đối với giá cả hàng hoá đó trên thị trường thế giới Các hình thức đ1 và đang đực áp dụng bao gồm kho đệm, quỹ dự phòng, thay đổi thuế nhập khẩu, trợ giá, quy định hành lang giá hoặc giá sàn, kiểm soát về số lượng

và các hành động can thiệp trực tiếp

Tuy nhiên đối với phần lớn công cụ ổn định giá này, mục đích thực sự không chỉ giới hạn ở phạm vi hạn chế biến động giá cả mà bao gồm cả mục tiêu tái phân phối thu nhập và quản lý nhu cầu Hơn nữa kinh nghiệm quá khứ cho thấy việc áp dụng cơ chế ổn định giá cả sẽ gặp phải vấn đề trong đầu tư và phân phối nguồn lực Các nỗ lực bình ổn giá cả thị trường có thể gây ra tình trạng giá cả không phản ánh thực chất các điều kiện cung cầu trong dài hạn

Trang 36

Quỹ dự phòng phái sinh

Quỹ hỗ trợ tài chính được hình thành trong thời gian thuận lợi về giá cả hàng hoá và được sử dụng bù đắp khi giá cả xuống thấp Hình thức này đ1

được áp dụng ở một số nước như Chi Lê và một số nước châu Mỹ La Tinh Tuy nhiên, hình thức này cũng gặp phải một số vẫn đề vướng mắc như chi phí cơ hội cao, hạn chế trong việc bù đắp và rất khó có thể thiết kế được một cơ chế có hiệu quả

Tóm lại: những công cụ truyền thống này thường thiếu tính bền vững nên nó chỉ được sử dụng trong những trường hợp nhất định và trong thời gian nhất định Nhiều nước đ1 rời bỏ quỹ bình ổn giá cả và các công cụ truyền thống sau nhiều năm áp dụng chúng: Nigeria đ1 thôi không sử dụng công cụ này đối với Cacao vào năm1986; Madagasca, Burundi và Uganda thôi không

áp dụng đối với cà phê tương ứng và các năm 1989, 1990 và 1992; Cameroon

đ1 thôi không áp dụng đối với cacao và năm 1994: các thoả thuận quốc tế cũng thực hiện không có hiệu quả ở Việt Nam một số công cụ đ1 được áp dụng như giá sàn, bình ổn giá đầu vào, hợp đồng quốc tế nhưng đều gặp phải thất bại do năng lực quản lý và chưa hiểu hết được những mặt trái của các công cụ hoặc thiếu tính phù hợp với đặc điểm hiện tại của nông nghiệp nông thôn trong nước

Do đó việc tiếp cận đối với những công cụ quản lý rủi ro mới và có hiệu quả hơn trong việc quản lý rủi ro giá cả là rất cần thiết, đó là những công cụ quản lý rủi ro mang tính thị trường

- Liên kết các ngành sản xuất

Đây là một biện pháp hữu hiệu để phân tán rủi ro chuyển rủi ro của ngành này sang ngành khác, lấy ngành được bù ngành mất lấy khâu được bù khâu mất Ví dụ liên kết giữa sản xuất và chế biến, lên kết giữa trồng trọt và chăn nuôi, giữa nông nghiệp và nghề phụ đây là một công cụ truyền thống rất hợp với nông nghiệp nông thôn nước ta, đ1 được nông dân ứng dụng từ lâu

Trang 37

nhưng vẫn mang tính manh mún thiếu sự định hướng và quy hoạch khoa học

Nhận xét chung: Các công cụ truyền thống và các công cụ mới khi sử dụng đều gặp phải những mặt trái nhất định, do đó việc ứng dụng nó vào quản

lý rủi ro cần phải hết sức linh hoạt và phải có những điều kiện nhất định Các công cụ trên cũng đ1 được chúng ta sử dụng và đều gặp phải những thất bại

Do đó việc tìm ra những công cụ phù hợp cũng như phương pháp áp dụng những công cụ đó cần phải nghiên cứu và thực nghiệm kỹ càng

Nghiên cứu này cũng mong muốn tìm ra được những cơ sở thực tế cho việc áp dụng các công cụ hợp lý trong quản lý rủi ro về sản xuất nông nghiệp nói chung xuất phát từ kinh tế hộ nông dân

b Các công cụ trong quản lý đầu vào của sản xuất nông nghiệp

Hai yếu tố đầu vào cơ bản trong rủi ro do đầu vào đem lại là chất lượng

đầu vào và giá cả đầu vào

Do vậy các công cụ quản lý rủi ro đầu vào cũng được phân chia thành hai nhóm là quản lý rủi ro giá cả và quản lý rủi ro chất lượng

Quản lý rủi ro giá cả đầu vào nhằm các mục đích hạn chế sự biến động của giá cả và chủ động trước sự biến động của giá

Dự trữ đầu vào khi giá cả ổn định để sử dụng khi giá tăng cao, đây là biện pháp thường được những người nông dân tiên tiến sử dụng đối với các

đầu vào có sự dao động theo chu kỳ Ngoài ra nó cũng được nhà nước và các tổng công ty sử dụng như những công cụ đắc lực chống lại những cú sốc về giá Công cụ này sẽ có hiệu quả hơn khi có những thông tin chính xác về tình hình cũng cầu trong tương lai Nhưng công cụ này cũng có những hạn chế như tốn kém về tài chính nên nhiều hộ nông dân không thể áp dụng, bản thân nó cũng chứa đựng những rủi ro nếu giá giảm xuống

Đa dạng hoá đầu vào, công cụ này vô cùng hữu ích với sản xuất nông nghiệp, nó làm tăng thêm sự lựa chọn của nông dân với các đầu vào để tìm ra các phương án tối ưu nhất Ví dụ khi giá phân đạm tăng mạnh người nông dân

Trang 38

ở khu vực miền núi tỉnh Bắc Giang đ1 phát triển chăn nuôi để lấy phân bón cho cây vải và nuôi cá

Công cụ quản lý rủi ro về chất lượng chủ yếu dựa vào hệ thống luật pháp và sự quản lý của nhà nước, nhưng tình trạng thả nổi về chất lượng hàng hoá vẫn chưa được khắc phục, điều này không chỉ ảnh hưởng đến người nông dân mà rủi ro của nó còn chuyển tới toàn x1 hội Ví dụ việc sử dụng thức ăn chăn nưôi có chứa hooc môn tăng trưởng, các loại phân đạm không đủ hàm lượng dinh dưỡng

2.3 cơ sở thực tiễn về quản lý rủi ro của nông dân trên thế giới và việt nam

Luôn luôn phải đối mặt với những rủi ro, người sản xuất nông nghiệp khắp nơi trên thế giới đ1 biết tự phòng vệ bằng rất nhiều phương pháp khác nhau nhưng phổ biến nhất đó là đa dạng hoá trong sản xuất Đa dạng hoá là công cụ chống lại rủi ro của nhiều ngành khác nhau nhưng nó đặc biệt hữu dụng trong sản xuất nông nghiệp Khi sản xuất hàng hoá phát triển thì tính

định hướng của đa dạng hoá càng rõ nét Điển hình là châu Phi, theo nghiên cứu của Delgao và Siamwalla, các hộ nông dân đ1 chuyển từ sản xuất cây lương thực tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá ở đây đa dạng hoá lại mang một ý nghĩa rất lớn đó là sự tập trung vào sản xuất một nhóm hàng để bán và trao đổi thay vì sản xuất rất nhiều sản phẩm để tự tiêu dùng Theo cách này người nông dân đ1 khắc phục được những mặt yếu của đa dạng hoá là tính manh mún, thiếu thiếu tập trung làm giảm thu nhập trung bình Như vậy khi tập trung vào sản xuất một số mặt hàng thế mạnh của mình các hộ sẽ tự nâng cao được năng lực sản xuất của mình lên rất nhiều, đó là cơ sở để nâng cao chất lượng hàng hoá bằng những kinh nghiệm và kiến thức do sản xuất mang tính chuyên môn hoá đem lại Đó cũng là điều kiện thuận lợi để áp dụng khoa

Trang 39

học kỹ thuật vào sản xuất và chuẩn hoá chất lượng sản phẩm một yếu tố cơ bản tạo nên tính cạnh tranh của hàng hoá

Đa dạng hoá

Tại Đông á, trong khi cây lúa đang trở nên một phần ngày càng nhỏ hơn trong toàn bộ nền kinh tế, đối với các nông dân trồng lúa, cây lúa cũng trở thành một phần nhỏ hơn trong thu nhập hộ gia đình Nghiên cứu của Hayami

và Kikuchi (2000) về làng Laguna, Philippine trong hơn ba thập kỷ đ1 chứng minh phương hướng của những thay đổi này Tỷ phần thu nhập từ cây lúa đ1 giảm từ 50% vào thập niên 70 xuống còn 15% vào thập niên 90 Tỷ phần thu nhập của các hoạt đông nông trại khác cũng đ1 giảm sút, nhưng vào thập niên

80, đ1 vượt thu nhập từ cây lúa Thu nhập từ các hoạt động phi nông trại tăng

từ 10% lên hơn 60% Các điều tra xác định các nguồn thu nhập hộ gia đình đ1

được tiến hành ở 6 làng ở hai địa điểm tại Thái Lan vào năm 1987 và 1994 và

ở bốn làng tại Philippine vào năm 1985 và 1997 Các làng này đại diện cho ba

hệ sinh thái trồng lúa - có thuỷ lợi, tưới tiêu nhờ nước mưa và đất cao Mặc dù thời gian nghiên cứu có ngắn hơn, mô thức này hầu như giống với mô thức của làng Laguna Tầm quan trọng của cây lúa như một nguồn thu nhập hộ gia đình

đ1 giảm sút và thu phi nông trại tăng ở cả ba môi trường trồng lúa Nhìn chung

ở Châu á, sự đa dạng hoá từ các nông trại trồng lúa sang các cây trồng khác là khó khăn do hệ thống thủy lợi đ1 được thiết kế để phục vụ trồng lúa Nhưng một ngoại lệ đáng lưu ý ở Đài Loan là khu vực được tưới tiêu vẫn giữ nguyên không thay đổi từ giữa thập niên 60 đến giữa thập niên 80 Nhưng suốt thời kỳ này diện tích trồng lúa và mía đ1 giảm gần 50% và được thay thế bằng cây ăn trái, và hạt làm thức ăn cho vật nuôi cho phép giá trị sản xuất nông nghiệp tiếp tục tăng Tại Việt Nam tình trạng độc canh cây lúa vẫn là phổ biến, trong khi các cây trồng có giá trị cao như cây ăn trái, cây lấy hạt làm thức ăn chăn nuôi, cây lấy dầu hàng năm vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn

Trang 40

Trong những thập kỷ qua Việt Nam đ1 đạt được những thành tựu rất lớn trong việc đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp Đa dạng hoá đ1 mang tính chọn lọc và định hướng rõ ràng hơn, đặc biệt là ở các khu cực các tỉnh phía Nam Nhưng cũng như các nước Đông á khác cây lúa vẫn là cây lương thực chính trong canh tác nông nghiệp của nông dân đặc biệt là các khu vực miền núi phía bắc ở đây đa dạng hoá theo hướng chọn lọc và tập trung đ1 trở thành một bài toán cực kỳ khó mà đa số các hộ đa dạng hoá theo hướng phục vụ tiêu dùng trong gia đình Có rất nhiều nguyên nhân song tác động đến quyết định của họ vẫn là tâm lý sợ rủi ro, do vậy muốn giải quyết được vấn đề này đòi hỏi phải có những nghiên cứu thực sự khoa học Pederson và Amou đ1 sử dụng số liệu điều tra mức sống dân cư 1992-1993 để nghiên cứu tình hình đa dạng hoá

ở Việt Nam Họ thấy rằng đa dạng hoá gắn liền với các trang trại nhỏ, diện tích tưới tiêu ít Ngoài ra họ cho thấy rằng những hộ tương đối chuyên canh lúa có xu hướng đa dạng hoá phi nông nghiệp cao hơn

Liên kết các hộ nông dân thành hiệp hội

Đây là xu hướng đang rất được ưa chuộng ở châu âu và châu Mỹ Những người nông dân cùng sản xuất một loại mặt hàng liên kết lại thành một hiệp hội Ví dụ hiệp hội những người trồng bông, hiệp hội những người nuôi tôm Những người l1nh đạo hiệp hội có trách nhiệm giải quyết những vấn đề cơ bản của ngành nghề đặc biệt là vấn đề về thị trường Chúng ta đ1 từng thấy hiệp hội nuôi tôm mỹ kiện các nhà xuất khẩu tôm Việt Nam và một số nước khác bán tôm phá giá trên thị trường Mỹ Khi người nông dân được liên kết lại sức mạnh của họ được nâng lên nhiều lần Trường hợp của tổ chức trung gian bảo hiểm của Mêxico là một ví dụ Đây là một tổ chức được xây dựng để làm trung gian bảo hiểm rủi ro về giá của người nông dân trồng bông ở Mêxico Giá bông trong trên thị trường thế giới gần đây dao động rất mạnh, điển hình năm 1993 đ1 giao động từ 60 cent đến 1 bảng Anh, nếu cứ để người nông dân

Ngày đăng: 03/12/2013, 14:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Ma trận đo l−ờng rủi ro  Tần suất xuất hiện - Tìm hiểu các rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện gia lâm, hà nội
Bảng 2.1 Ma trận đo l−ờng rủi ro Tần suất xuất hiện (Trang 27)
Bảng 2.2: Một số loại hình bảo hiểm nông nghiệp trên thế giới - Tìm hiểu các rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện gia lâm, hà nội
Bảng 2.2 Một số loại hình bảo hiểm nông nghiệp trên thế giới (Trang 43)
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Gia Lâm - Tìm hiểu các rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện gia lâm, hà nội
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Gia Lâm (Trang 48)
Bảng 3.2: Tình hình biến động dân số và lao động của huyện Gia Lâm - Tìm hiểu các rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện gia lâm, hà nội
Bảng 3.2 Tình hình biến động dân số và lao động của huyện Gia Lâm (Trang 50)
Bảng 3.3: Tình hình phát triển kinh tế của huyện Gia Lâm - Tìm hiểu các rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện gia lâm, hà nội
Bảng 3.3 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Gia Lâm (Trang 52)
Bảng 3.4: Giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện Gia Lâm - Tìm hiểu các rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện gia lâm, hà nội
Bảng 3.4 Giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện Gia Lâm (Trang 55)
Bảng 4.1: Tình hình sản xuất rau của huyện qua các năm - Tìm hiểu các rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện gia lâm, hà nội
Bảng 4.1 Tình hình sản xuất rau của huyện qua các năm (Trang 61)
Bảng 4.2: Phát triển sản xuất rau xanh theo các xã của Gia Lâm - Tìm hiểu các rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện gia lâm, hà nội
Bảng 4.2 Phát triển sản xuất rau xanh theo các xã của Gia Lâm (Trang 66)
Bảng 4.3: Diện tích, năng suất, sản l−ợng rau năm 2007 của huyện - Tìm hiểu các rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện gia lâm, hà nội
Bảng 4.3 Diện tích, năng suất, sản l−ợng rau năm 2007 của huyện (Trang 68)
Bảng 4.4: Giá trị sản suất rau của huyện (Ước tính 6 tháng đầu năm2008) - Tìm hiểu các rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện gia lâm, hà nội
Bảng 4.4 Giá trị sản suất rau của huyện (Ước tính 6 tháng đầu năm2008) (Trang 70)
Bảng 4.5: Tình hình nhân khẩu và lao động của hộ (Tính bình quân 1 hộ)  Diễn giải  Văn ðức  ðặng Xá  Yên Thường  Bình quân - Tìm hiểu các rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện gia lâm, hà nội
Bảng 4.5 Tình hình nhân khẩu và lao động của hộ (Tính bình quân 1 hộ) Diễn giải Văn ðức ðặng Xá Yên Thường Bình quân (Trang 74)
Bảng 4.6: Tình hình sử dụng lao động cho sản xuất rau của các hộ điều tra  (Tớnh cho tất cả cỏc hộ ủiều tra năm 2008) - Tìm hiểu các rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện gia lâm, hà nội
Bảng 4.6 Tình hình sử dụng lao động cho sản xuất rau của các hộ điều tra (Tớnh cho tất cả cỏc hộ ủiều tra năm 2008) (Trang 75)
Bảng 4.7 : Tình hình sử dụng vốn và tài sản phục vụ cho sản xuất rau năm 2008 - Tìm hiểu các rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện gia lâm, hà nội
Bảng 4.7 Tình hình sử dụng vốn và tài sản phục vụ cho sản xuất rau năm 2008 (Trang 78)
Bảng 4.8: Hiệu quả sản xuất một số cây rau của các hộ điều tra trên một  sào canh tác - Tìm hiểu các rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện gia lâm, hà nội
Bảng 4.8 Hiệu quả sản xuất một số cây rau của các hộ điều tra trên một sào canh tác (Trang 80)
Bảng 4.9: Mức độ xuất hiện rủi ro trong sản xuất rau của các hộ điều tra năm 2008 - Tìm hiểu các rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện gia lâm, hà nội
Bảng 4.9 Mức độ xuất hiện rủi ro trong sản xuất rau của các hộ điều tra năm 2008 (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w