luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học Nông nghiệp hà nội
-
NguyễN ĐìNH khang
Quản trị rủi ro trong sản xuất kinh doanh lúa giống
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ2
được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ2 được chỉ rõ nguồn gốc
Hà nội, ngày 10 tháng 11 năm 2008
Người cam đoan
Trang 3Lời cảm ơn
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tác giả đ2 hoàn thành luận văn thạc sĩ Kinh tế nông nghiệp với đề tài: “Quản trị rủi ro trong sản xuất kinh doanh lúa giống tại Công ty cổ phần giống cây trồng Bắc Ninh”
Tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến với tất cả các thầy, cô giáo và đặc biệt là thầy cô giáo Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh - Trường
Đại học Nông nghiệp Hà Nội đ2 tận tình dạy bảo, giúp đỡ và định hướng cho tác giả trong quá trình học tập, công tác và nghiên cứu khoa học
Tác giả xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ Công ty cổ phần giống cây trồng Bắc Ninh, Cục trồng trọt, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Tổng cục thống kê Việt Nam đ2 giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện đề tài Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Chu Thị Kim Loan người đ2 trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các tập thể, các cá nhân, các
đồng nghiệp, bạn bè và những người thân đ2 chỉ bảo, giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Một lần nữa xin trân trọng tỏ lòng biết ơn tới tất cả những sự giúp đỡ đ2 dành cho bản thân tác giả
Luận văn này mới chỉ là kết quả bước đầu, bản thân tác giả hứa sẽ nỗ lực,
cố gắng nhiều hơn nữa để khỏi phụ công giúp đỡ của mọi người
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2008
Người cảm ơn
Nguyễn Đình Khang
Trang 4mục lục
4.1 Thực trạng quản trị rủi ro trong sản xuất kinh doanh lúa giống tại
4.1.1 Nhận dạng rủi ro trong sản xuất kinh doanh lúa giống tại công ty 58 4.1.2 Ước tính mức độ ảnh hưởng của rủi ro đến kết quả sản xuất kinh
4.1.3 ứng xử của công ty đối với rủi ro trong sản xuất kinh doanh 87
Trang 54.2 Mét sè biÖn ph¸p nh»m t¨ng c−êng qu¶n trÞ rñi ro trong s¶n xuÊt
kinh doanh lóa gièng t¹i c«ng ty cæ phÇn gièng c©y trång B¾c
4.3 KÕ ho¹ch tæ chøc triÓn khai thùc hiÖn qu¶n trÞ rñi ro trong s¶n
4.3.1 Thµnh lËp Ban qu¶n trÞ rñi ro trong s¶n xuÊt kinh doanh 119 4.3.2 Qu¶n trÞ rñi ro trong s¶n xuÊt kinh doanh lóa gièng 120 4.3.3 Qu¶n trÞ rñi ro trong thu mua vµ dù tr÷ s¶n phÈm 124 4.3.4 Qu¶n trÞ rñi ro trong nhËp khÈu gièng lóa lai 124
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 7Danh mục bảng
2.1 Tình hình sản xuất và cung ứng giống cây trồng phân theo nhóm cây 332.2 Diện tích gieo trồng lúa của các tỉnh phía Bắc năm 2006 363.1 Tình hình vốn và nguồn vốn của công ty qua các năm 453.2 Tình hình lao động của công ty qua các năm (2005 - 2007) 473.3 Kết quả quá trình tiêu thụ sản phẩm của công ty qua các năm 503.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty qua các năm 534.1 Biến động về năng suất và diện tích sản xuất lúa giống của công ty
4.2 Kết quả thu mua lúa giống của công ty qua các năm (2005 - 2007) 624.3 Tình hình tồn kho của công ty qua các năm (2006 - 2008) 654.4 Tóm tắt quá trình thanh toán hợp đồng nhập khẩu giống lúa lai qua
4.5 Tình hình tài chính của công ty qua các năm (2005 - 2007) 764.6 Ước tính mức tổn thất trong sản xuất lúa giống của công ty qua các năm 784.7 Ước tính mức tổn thất trong quá trình thu mua sản phẩm của công
Trang 8Danh mục biểU đồ
3.1 Sản l−ợng tiêu thụ một số sản phẩm của công ty qua các năm 51 4.1 Sản l−ợng sản xuất và thu mua lúa giống theo chủng loại sản
Danh mục sƠ đồ
4.1 Kế hoạch quản trị rủi ro trong sản xuất kinh doanh 120
Trang 91 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, Quản trị doanh nghiệp trở nên phổ biến từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước Đặc biệt đối với các nước Châu á sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, các doanh nghiệp đ2 nhận thức được tầm quan trọng và giảm thiểu rủi ro trong quá trình vận hành khi áp dụng nguyên tắc Quản trị công ty tốt, trong đó quản lý rủi ro là trọng tâm Đồng thời xu thế hội nhập kinh tế làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không còn bó hẹp trong phạm vi mỗi nước mà đ2 vượt qua biên giới quốc gia để hòa vào dòng chảy kinh tế khu vực và thế giới, bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế một mặt đ2 mang đến cho doanh nghiệp thêm nhiều cơ hội nhưng bên cạnh đó cũng phải thường xuyên
đối mặt với những rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có rủi
ro về ký hợp đồng sản xuất kinh doanh, thị trường, tỷ giá, giá cả của đối thủ cạnh tranh, con người, tài chính,… Vài thập niên gần đây, nền kinh tế thế giới
có những bước tăng trưởng đột phá cộng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin tạo nên mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng mật thiết giữa thị trường trong nước và quốc tế, mối quan hệ mật thiết này làm gia tăng rủi ro Do vậy, quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngày càng trở nên quan trọng đối với từng doanh nghiệp Một trong những vấn đề là khi doanh nghiệp tham gia thương trường phải luôn luôn chấp nhận và đối mặt với rất nhiều nguy cơ rủi
ro, tổn thất về tinh thần, tài sản, sự nghiệp,… Bên cạnh đó hoạt động sản xuất kinh doanh giống cây trồng có đặc những thù riêng, gặp nhiều rủi ro Với chức năng sản xuất kinh doanh các sản phẩm thuộc lĩnh vực nông nghiệp mà chủ yếu là hạt giống cây trồng, Công ty BSC đ2 quan tâm đến việc xây dựng chính sách và chiến lược quản trị rủi ro để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất Trong những năm qua công ty đ2 có nhiều cố gắng định ra những sách lược để hạn
Trang 10chế rủi ro, hàng năm công ty sản xuất và nhập khẩu giống lúa lai khá lớn nhưng trên thị trường thường xuyên diễn biến phức tạp như thời tiết, khí hậu, giá cả đầu ra, tỷ giá, nên công ty thường xuyên phải đối mặt với những nguy cơ thiệt hại kinh tế Mặc dù, Công ty CP giống cây trồng Bắc Ninh (BSC) đ2 quan tâm đến chiến lược quản trị rủi ro Song hầu như việc hoạch định chiến lược chưa thích hợp với thời cuộc, còn nhiều vấn đề tồn tại cần giải quyết, chưa khai thác hết lợi thế trong kinh doanh, cơ cấu tài chính chưa được kiểm soát chặt chẽ, phân bổ và sử dụng chưa hợp lý, trình độ chuyên môn và năng suất lao động của cán bộ không được cải thiện, chậm đổi mới và phát triển sản phẩm, hệ thống quản lý chất lượng được áp dụng ở công ty cứng nhắc hoặc lỏng lẻo, vì thế quản trị rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay
được coi như là một bộ phận không thể tách rời với chiến lược doanh nghiệp Vậy câu hỏi đặt ra là? Công ty có thể hạn chế được rủi ro để nâng cao hiệu quả kinh doanh và duy trì sự phát triển bền vững hay không? Trong quá trình SXKD công ty gặp phải những rủi ro gì? ứng xử của công ty trước những rủi
ro đó ra sao? Đ2 có chiến lược điều hành kiểm soát rủi ro đó như thế nào? Còn những tồn tại gì trong quá trình thực hiện? Do đó cách tốt nhất cho doanh nghiệp để tồn tại và phát triển là thực hiện chức năng quản trị chung, phát triển chức năng quản trị đồng bộ rủi ro bằng cách tăng cường nhận dạng, kiểm soát rủi ro và tài trợ phục hồi sản xuất kinh doanh khi rủi ro xảy ra Xuất phát
từ thực tiễn trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Quản trị rủi ro trong sản xuất kinh doanh lúa giống tại Công ty cổ phần giống cây trồng Bắc Ninh"
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh
- Tìm hiểu thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 11lúa giống tại Công ty cổ phần giống cây trồng Bắc Ninh trong thời gian qua
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản trị rủi
ro trong những năm tiếp theo
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu quản trị rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh lúa giống
* Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian có hạn nên luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề rủi
ro chủ yếu như rủi ro sản xuất, rủi ro tỷ giá (rủi ro marketing), rủi ro tài chính
và công tác quản trị các rủi ro này
Trang 122 cơ sở lý luận và thực TIễN
2.1 Những lý luận chung về rủi ro
2.1.1 Một số khái niệm về rủi ro
Rủi ro là sự kiện không may xảy ra luôn gắn liền với hoạt động và môi trường sống của con người Bản chất rủi ro được phản ánh qua những thuộc tính bên trong, nội hàm, ngoại diện các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xuất hiện, quan hệ nhân quả của rủi ro cho doanh nghiệp Và theo Đoàn Thị Hồng Vân, cho đến nay chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro, những trường phái khác nhau, tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau
về rủi ro Nhiều nhà kinh tế trên thế giới đ2 nghiên cứu và đưa ra một số khái niệm về rủi ro sau:
Frank Knight, học giả Mỹ cho rằng “Rủi ro là những bất trắc có thể đo lường được” Theo ông, các loại bất trắc không thể đo lường được coi là bất trắc, còn các loại bất trắc có thể đo lường được gọi là rủi ro Nghĩa là cách tiếp cận của ông liên quan đến khả năng đo lường được hoặc không được của bất trắc[16]
Allan Willett, học giả người Mỹ khác cho rằng “Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến một biến cố không mong đợi” Như vậy, cách tiếp cận của
ông liên quan đến thái độ của con người Những biến cố ngoài sự mong đợi chính là rủi ro, còn những biến cố mong đợi không phải là rủi ro Điều này đ2 giải thích cho rủi ro đối xứng, hoặc rủi ro suy đoán liên quan đến sự thành bại của một sự kiện diễn ra Thành công của người này chính là thất bại (rủi ro) của người khác [16]
Inrving Pferfer (Mỹ) lại cho rằng “Rủi ro là tổng hợp của những sự ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác suất” Theo ông, rủi ro gắn với hiện diện ngẫu nhiên của vạn vật, hiện tượng mà có thể đo lường được bằng xác suất Tức là
Trang 13rủi ro là sự ngẫu nhiên không phụ thuộc vào ý chí của con người Tuy nhiên,
điều đó không hoàn toàn đúng bởi nhiều loại rủi ro chính là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp ro người gây ra [16]
Marilu Hurt MrCarty thuộc viện Khoa học kỹ thuật Georgia (Mỹ) cho rằng “Rủi ro là một tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được” Có nghĩa là rủi ro là biến cố xảy ra trong tương lai liên quan đến điều kiện, môi trường rủi ro Kinh nghiệm của một công ty có thể cung cấp chứng cứ về tần số các biến cố riêng biệt trong quá khứ, do đó cho phép các nhà quản trị xác định phân bố xác suất xuất hiện của các biến cố tương lai Tuy vậy, sự xuất hiện của các biến cố còn bị ảnh hưởng bởi những yếu tố tác động hiện tại [16]
Theo cuốn Từ điển kinh tế học hiện đại “Rủi ro là hoàn cảnh trong đó một sự kiện xảy ra với một xác suất nhất định hoặc trong trường hợp qui mô của sự kiện đó có một phân phối xác suất” [16]
Còn ông Nguyễn Hữu Thân trong tác phẩm “Phương pháp mạo hiểm và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh” đ2 cho rằng “Rủi ro là sự bất trắc gây ra mất mát thiệt hại” Như vậy rủi ro phải là bất trắc gây ra hậu quả cho con người Còn những bất trắc không gây ra hậu quả không phải là rủi ro [16] Theo Tổ chức tiêu chuẩn hoá thế giới (ISO) thì “ Rủi ro là sự kết hợp giữa xác suất xảy ra một sự kiện và những hậu quả tiêu cực của sự kiện đó” [17]
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Rủi ro là hậu quả gây thiệt hại ít nhiều có thể dự đoán được của một hành vi mà việc thực hiện không chỉ phụ thuộc vào ý chí của các đương sự” [15]
Theo Từ điển Microsoft Encarta, “Rủi ro là khả năng điều gì đó xấu xảy ra: sự nguy hiểm xảy ra thiệt hại, chấn thương hoặc thua lỗ” [15]
Trang 14Theo Từ điển tiếng Việt do Trung tâm từ điển học Hà Nội xuất bản năm
1995 thì “Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy ra” [17]
Trong lĩnh vực kinh doanh, Hồ Diệu định nghĩa “Rủi ro là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến” [9] Qua các khái niệm về rủi ro nêu trên có thể thấy rằng, tuy có những điểm khác nhau nhưng đều thống nhất về nội dung cơ bản: Coi rủi ro là những bất trắc, sự cố không mong đợi; nếu rủi ro xảy ra sẽ gây ra mất mát hiện tại về tính mạng, tinh thần, tài sản của con người và có thể đo lường rủi ro bằng xác suất Qua đó chúng ta hiểu được điều căn bản của rủi ro: Đó là những sự kiện không mong đợi, không lường trước; mặt khác những sự kiện này gắn liền với những hiểm họa, nguy hiểm đối với con người Chung quy lại các khái niệm rủi ro dường như có mối liên hệ với nhau ở ba vấn đề:
Thứ nhất, các khái niệm đều đề cập đến sự không chắc chắn mà chúng ta coi đó là mối ngờ vực đối với tương lai
Thứ hai, ở đây người ta cũng ám chỉ rằng những cấp độ hay mức độ rủi
ro là khác nhau
Thứ ba, các khái niệm đều nói đến hậu quả do một hoặc nhiều nguyên nhân gây ra và sự không chắc chắn về hậu quả trong một tình huống cụ thể Không chắc chắn là tình trạng mà cả các kết quả có khả năng xảy ra và xác suất của nó không biết trước khi quyết định quản lý
Như vậy, từ rủi ro không những chỉ mối ngờ vực về tương lai mà còn ám chỉ cả một thực tế là hậu quả có thể xảy ra
Quản trị rủi ro là một quy trình được thiết lập bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các cán bộ có liên quan khác áp dụng trong quá trình xây dựng chiến lược doanh nghiệp thực hiện xác định những sự vụ có khả năng xảy ra gây ảnh hưởng đến doanh nghiệp đồng thời quản trị rủi ro trong
Trang 15phạm vi cho phép nhằm đưa ra mức độ đảm bảo trong việc đạt được mục tiêu của doanh nghiệp
Mặt khác, rủi ro trong kinh doanh xuất nhập khẩu là sự bất trắc có thể đo lường được, nó có thể tạo ra những tổn thất, mất mát, thiệt hại hoặc làm mất đi những cơ hội sinh lời, nhưng cũng có thể đưa đến những lợi ích, những cơ hội thuận lợi trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
Rủi ro tỷ giá là xác suất xảy ra một nguy cơ, một bất lợi nào đó mà nếu
sự kiện đó xảy ra, nó sẽ gây nên tổn thất hữu hình hoặc vô hình làm ảnh hưởng đến lợi ích của chủ thể Có thể hiểu rủi ro hối đoái là loại rủi ro xảy ra khi tỷ giá biến động sẽ gây tổn thất tài chính cho ít nhất một trong các đối tác tham gia vào các giao dịch liên quan đến ngoại tệ
Tỷ giá là giá cả của đồng tiền này được biểu hiện thông qua đồng tiền khác nên nó cũng chịu sự chi phối của quy luật cung - cầu như giá cả của các loại hàng hoá khác tức là nó có thể ổn định, tăng hoặc giảm Khi tỷ giá biến
động, giá trị của các khoản tiền, các khoản phải thu, phải trả và các chứng từ
có giá (bằng ngoại tệ) tính bằng đồng nội tệ có sự thay đổi Sự thay đổi này có thể làm tăng thêm hoặc giảm bớt giá trị tài sản (tính bằng đồng nội tệ) của chủ
sở hữu Tổn thất do giá trị tài sản bằng đồng nội tệ của chủ sở hữu bị giảm bớt khi tỷ giá biến động được gọi là rủi ro hối đoái Rủi ro hối đoái được hiểu theo nghĩa hẹp là rủi ro tỷ giá bởi vì sự biến động của tỷ giá theo thời gian là căn nguyên cơ bản gây nên rủi ro hối đoái
2.1.2 Phân loại rủi ro
Trong quá trình sản xuất kinh doanh mọi doanh nghiệp đều phải đương
đầu và hứng chịu những rủi ro xảy ra Mỗi loại rủi ro đều có ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh ở từng mức độ khác nhau, rủi ro có thể tác động rất trái ngược, có thể gây thiệt hại nhưng cũng có thể mang lại may mắn Một phương
án sản xuất kinh doanh có thể gặp rất nhiều rủi ro khác nhau, có thể phân loại
Trang 16một số nhóm rủi ro cơ bản sau đây
* Rủi ro sản xuất
Một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro sản xuất đó là môi trường thiên nhiên như: Động đất, núi lửa, b2o, lũ lụt, sóng thần, sét đánh, đất lở, hạn hán, sương muối, đ2 làm cho năng suất bị biến động lớn Những rủi ro này thường dẫn đến những thiệt hại to lớn về người và của, làm cho các doanh nghiệp nông nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh giống cây trồng bị tổn thất nặng nề vì nông nghiệp chịu ảnh hưởng của yếu tố không kiểm soát được Chính yếu tố thời tiết ảnh hưởng đến năng suất cây trồng đ2 gây lên tình trạng không chắc chắn về đầu ra Cùng với sự không chắc chắn về
đầu ra là sự không chắc chắn về giá thành sản xuất Giá đầu vào có xu hướng biến động ít hơn giá đầu ra nhưng vẫn là một nguyên nhân gây ra rủi ro sản xuất Ngoài ra, công nghệ mới cũng là nguyên nhân gây ra rủi ro sản xuất
* Rủi ro về cung cấp nguyên liệu đầu vào, mà biểu hiện là các tình huống không đảm bảo được các đầu vào quan trọng theo số lượng, giá cả, chất lượng
đ2 dự kiến gây khó khăn trong việc vận hành, thanh toán các khoản nợ,
* Rủi ro marketing
Rủi ro marketing (hoặc rủi ro thị trường, rủi ro giá) là rủi ro liên quan
đến biến động giá đầu ra Biến động giá đầu ra là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra rủi ro trong nông nghiệp Giá nông sản thay đổi năm này qua năm khác và đặc biệt là biến động lớn theo vụ sản xuất ngay trong một năm Giá nông sản thay đổi mà người nông dân không có khả năng kiểm soát Cung nông sản chịu tác động của quyết định sản xuất của từng cá nhân
và thời tiết xảy ra năm đó Còn nhu cầu nông sản cũng chịu ảnh hưởng bởi vô
số yếu tố, như thu nhập của người tiêu dùng, xuất khẩu và chính sách xuất khẩu, nền kinh tế nói chung, tất cả những vấn đề đó đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhu cầu thông qua chính sách của chính phủ
Trang 17* Rủi ro do môi trường văn hoá
Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán trồng trọt của từng vùng
Rủi ro do môi trường văn hoá là những rủi ro do sự thiếu hiểu biết về phong tục, tập quán, lối sống, của dân tộc khác, từ đó dẫn đến cách hành xử không phù hợp, gây ra những thiệt hại, mất mát, mất cơ hội kinh doanh
* Rủi ro do môi trường x2 hội
Sự thay đổi các chuẩn mực giá trị, hành vi của con người, cấu trúc x2 hội, các định chế, là một rủi ro quan trọng Nếu không nắm được điều này sẽ có thể gánh chịu những thiệt hại nặng nề
* Rủi ro do môi trường chính trị
Môi trường chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến bầu không khí kinh doanh Môi trường chính trị ổn định sẽ giảm thiểu rất nhiều rủi ro cho các doanh nghiệp Khi một chỉnh thể mới ra đời sẽ có thể làm đảo lộn hoạt động của nhiều doanh nghiệp Trong kinh doanh quốc tế ảnh hưởng của môi trường chính trị lại càng lớn Chỉ có những ai biết nghiên cứu kỹ, nắm vững và có
Trang 18những chiến lược, sách lược thích hợp với môi trường chính trị không chỉ ở nước mình, mà còn ở nước đến kinh doanh thì mới có thể gặt hái được thành công rực rỡ
* Rủi ro do môi trường pháp luật
Có rất nhiều rủi ro phát sinh từ hệ thống luật pháp Luật pháp đề ra các chuẩn mực mà mọi người phải thực hiện và các biện pháp trừng phạt những ai
vi phạm Luật pháp đảm bảo sự công bằng cho các doanh nghiệp, chống lại sự cạnh tranh không lành mạnh Nhưng x2 hội luôn phát triển, nếu các chuẩn mực luật pháp không phù hợp với bước tiến của x2 hội thì sẽ gây ra nhiều rủi
ro Ngược lại luật pháp thay đổi quá nhiều, quá trường xuyên, không ổn định, cũng gây ra những khó khăn không nắm vững những đổi thay, không theo kịp những chuẩn mực mới chắc chắn sẽ gặp rủi ro
Trong kinh doanh quốc tế môi trường luật pháp phức tạp hơn rất nhiều, bởi chuẩn mực luật pháp của các nước khác nhau là khác nhau Nếu chỉ nắm vững và tuân thủ các chuẩn mực luật pháp nước mình, mà không am hiểu luật pháp nước đối tác, thì sẽ gặp rủi ro
* Rủi ro do môi trường kinh tế
Trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, mặc dù trong mỗi nước môi trường kinh tế thường vận động theo môi trường chính trị, nhưng ảnh hưởng của môi trường kinh tế chung của thế giới đến từng nước là rất lớn (biến động của thị trường, thu nhập, thanh toán, biến động không dự kiến trước được của tỷ giá hối đoái, lạm phát, l2i suất, ) Mặc dù hoạt động của một chính phủ (đặc biệt là chính phủ của các nước siêu cường quốc) có thể ảnh hưởng sâu sắc đến thị trường thế giới, nhưng họ cũng không thể kiểm soát nổi thị trường thế giới rộng lớn này và từ đó có rất nhiều rủi ro, bất ổn Các chiến lược về sản xuất và marketing mà doanh nghiệp theo đuổi để phòng ngừa rủi ro kinh tế, có thể đề cập như sau:
Trang 19Chiến lược marketing Lựa chọn thị trường - Phân tích rủi ro quốc gia để lựa chọn thị trường
và chấp nhận rủi ro
- Phân khúc thị trường trong mỗi quốc gia
Chiến lược sản phẩm - Thay đổi chiến lược sản phẩm liên quan như giới
thiệu sản phẩm mới, những quyết định về nguồn cung ứng sản phẩm
- Cải tiến sản phẩm, thay đổi cơ cấu sản phẩm
- Thay đổi thời gian giới thiệu sản phẩm
Chiến lược giá - Hai vấn đề then chốt cần xem xét là chú trọng
đến thị phần hoặc đến lợi nhuận
- Công ty có thể lựa chọn hoặc giữ giá bán để duy trì lợi nhuận hoặc giảm giá bán để giữ thị phần Chiến lược khuyến mãi - Những chính sách khuyến m2i đi cùng với chiến
Địa điểm nhà máy - Công ty đa quốc gia có thể phân bố sản xuất giữa
các quốc gia Tăng sản xuất ở những nơi rủi ro thấp và giảm sản xuất ở những nơi rủi ro cao Tăng năng suất sản xuất - Cải tiến một cách hiệu quả hoạt động sản xuất
- Đóng cửa các nhà máy không có hiệu quả, cắt giảm chi phí
- Nâng cao năng suất sản xuất
Trang 20* Rủi ro cạnh tranh
Sự thay đổi thị hiếu nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời với sự gia tăng
về số lượng cũng như qui mô của các doanh nghiệp sản xuất trong cùng một ngành đ2 tạo nên một áp lực cạnh tranh lớn hiện nay trên thị trường Mức độ cạnh tranh trong nội bộ ngành càng cao thì khả năng để một doanh nghiệp bị thôn tính hay buộc phải từ bỏ thị trường do thiếu khả năng thích nghi càng lớn Rủi ro cạnh tranh đến từ các đối thủ trong cùng ngành sản xuất có thể bao gồm: + Thiếu thông tin về sản phẩm và công nghệ của đối thủ cạnh tranh + Sự cạnh tranh của hàng giả, hàng nhái trên thị trường và giá bán sản phẩm của đối thủ cạnh tranh
+ Ngủ quên trên chiến thắng khiến doanh nghiệp không tự đổi mới để nâng cao năng lực cạnh tranh
+ Cạnh tranh thiếu lành mạnh của các đổi thủ cạnh tranh
Điều quan trọng là doanh nghiệp phải điều tra các khách hàng tiềm năng, thẩm định năng lực tài chính các đối tác để đảm bảo họ sẽ có khả năng thanh toán và thực hiện đơn hàng cũng như không có yếu tố lừa đảo
* Rủi ro do môi trường hoạt động của tổ chức
Trong quá trình hoạt động của mọi tổ chức có thể phát sinh rất nhiều rủi
ro Rủi ro có thể phát sinh ở mọi lĩnh vực, như: công nghệ, tổ chức bộ máy, văn hoá tổ chức, tuyển dụng, đ2i ngộ nhân viên, quan hệ với khách hàng (cả
Trang 21nhà cung cấp - đầu vào lẫn người tiêu thụ - đầu ra), đối thủ cạnh tranh, tâm lý của người l2nh đạo, Rủi ro do môi trường hoạt động của tổ chức có thể xuất hiện dưới rất nhiều dạng
* Rủi ro do nhận thức của con người
Môi trường nhận thức là nguồn rủi ro đầy thách thức Một khi nhận diện
và phân tích không đúng thì tất yếu sẽ đưa ra kết luận sai Nếu nhận thức thực
tế hoàn toàn khác nhau thì rủi ro sẽ vô cùng lớn
Ngoài cách phân loại rủi ro trên để phân loại rủi ro phục vụ cho công tác quản trị rủi ro còn sử dụng nhiều tiêu chí khác
- Phân loại rủi ro theo môi trường tác động
+ Môi trường bên trong: Môi trường hoạt động nội tại bên trong tổ chức + Môi trường bên ngoài: Môi trường thiên nhiên, môi trường văn hoá, môi trường x2 hội, môi trường chính trị, luật pháp, kinh tế,
Hoặc theo tiêu chí phân loại theo môi trường tác động còn có thể chia ra: + Môi trường bên trong: Bao gồm các bộ phận nội bộ doanh nghiệp + Môi trường vi mô: Nhà cùng cấp, khách hàng (người tiêu dùng), đối thủ cạnh tranh
+ Môi trường vĩ mô: Tự nhiên, văn hoá, luật pháp, kinh tế, x2 hội, chính trị, công nghệ Cụ thể như mô hình sau:
Mô hình rủi ro theo môi trường tác động
Thiên nhiên Văn hoá
Đối thủ cạnh tranh Phòng ban/ phân xưởng 1 Phòng ban/ phân xưởng 2 Phòng ban/ phân xưởng 3
Trang 22- Phân loại theo đối tượng rủi ro, có:
+ Rủi ro về tài sản
+ Rủi ro về nhân lực
+ Rủi ro về trách nhiệm pháp lý
2.1.3 Nhận dạng, phân tích và đo lường rủi ro
Rủi ro thường là những biến động ngoài dự kiến, khó có thể tránh được Chính vì vậy, nhận dạng rủi ro một cách kịp thời để tìm cách hạn chế tác động bất lợi của chúng là rất quan trọng Đối với mỗi phương án sản xuất kinh doanh, cần xem xét các rủi ro trên hai phương diện: Một là, bản thân rủi ro và biểu hiện của nó, và hai là, thời điểm mà rủi ro có thể nảy sinh Mọi rủi ro đều
ảnh hưởng đến tài chính, con người, của doanh nghiệp, những rủi ro đều có tính liên kết và tác động qua lại với nhau nên khi thị trường đi xuống, sự cộng hưởng của chúng sẽ gây lên tổn thất khôn lường đối với doanh nghiệp
* Nhận dạng rủi ro: Để quản trị rủi ro trước hết cần nhận dạng được rủi
ro Đây là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các công ty Hoạt động nhận dạng rủi ro nhằm phát triển các thông tin về nguồn gốc rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, đối tượng rủi ro và các loại tổn thất Nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc theo dõi, xem xét nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ mọi hoạt động của công ty nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ những loại rủi ro đ2 và đang xảy ra,
mà còn dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện đối với tổ chức, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp
Phương pháp nhận dạng rủi ro: Để nhận dạng được rủi ro cần lập được bảng liệt kê tất cả các dạng rủi ro đ2, đang và sẽ có thể xuất hiện đối với công
ty, có thể sử dụng các phương pháp sau đây:
- Lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra Các câu hỏi
có thể được sắp xếp theo nguồn rủi ro, hoặc môi trường tác động
- Phân tích báo cáo tài chính: Đây là phương pháp thông dụng Trong công tác quản trị rủi ro, bằng cách phân tích bảng tổng kết tài sản, báo cáo
Trang 23hoạt động kinh doanh, các tài liệu bổ trợ khác để từ đó xác định giá trị doanh nghiệp và nhận định được mọi nguy cơ rủi ro của công ty
Bảng phân loại rủi ro theo giá trị doanh nghiệp
- Phương pháp lưu đồ: Đây là phương pháp quan trọng để nhận dạng rủi
ro Để thực hiện phương pháp này trước hết cần xây dựng lưu đồ trình bày tất cả các hoạt động của công ty Chẳng hạn như để thực hiện được một thương
vụ xuất nhập khẩu thì cần qua nhiều giai đoạn, bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường, lựa chọn khách hàng và kết thúc bằng khâu thanh lý hợp đồng Nhìn chung quá trình này có thể thông qua 3 bước chính sau đây:
Nghiên cứu thị
trường, lựa chọn
khách hàng
Đàm phán, ký kết hợp đồng
Tổ chức thực hiện hợp đồng
Trong trường hợp cụ thể, quá trình đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu có thể được cụ thể hoá từng bước chi tiết khác nhau
- Thanh tra hiện trường: Đối với nhà quản trị rủi ro thanh tra hiện trường là công việc phải làm thường xuyên Nhờ quan sát, theo dõi trực tiếp hoạt động của các bộ phận trong tổ chức, trên cơ sở đó tiến hành phân tích, đánh giá, các nhà quản trị có khả năng nhận dạng được những rủi ro mà công ty có thể gặp
Trang 24- Phân tích các hợp đồng: Trong hoạt động kinh doanh nói chung, hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu nói riêng, hợp đồng đóng vai trò đặc biệt quan trọng Chính vì vậy, phân tích hợp đồng chính là một phương pháp hữu hiệu để nhận dạng rủi ro Khi phân tích hợp đồng cần phân tích tất cả các bộ phận của hợp đồng, từ phần mở đầu, giới thiệu các bên chủ thể, cho đến nội dung các điều kiện, điều khoản của hợp đồng và phần ký kết của hợp đồng Trong đó cần tập trung phân tích kỹ tất cả các điều kiện và điều khoản của hợp đồng, cụ thể: Tên hàng (Commodity); chất lượng (Quality); số lượng (Quanlity); giá cả (Price); giao hàng (Shipment); thanh toán (Payment); bao bì, ký m2 hiệu (Packing and marking); bảo hành (Warranty); phạt (Penalty); bảo hiểm (Insurance); bất khả kháng (Force majeure); khiếu nại (Claim); trọng tải (Arbitration); các điều kiện và điều khoản khác (Other terms and conditions)
* Đo lường rủi ro: Để đo lường rủi ro, cần thu thập số liệu và phân tích,
đánh giá chỉ tiêu sau
- Tần suất xuất hiện của rủi ro, số lần xảy ra tổn thất hay khả năng xảy ra biến cố nguy hiểm đối với tổ chức trong khoảng thời gian nhất định (thường là năm, quý, tháng )
- Mức độ nghiêm trọng của rủi ro, tổn thất, mất mát, nguy hiểm,
Trên cơ sở thu thập được, lập Ma trận đo lường rủi ro như sau:
Bảng Ma trận đo lường rủi ro
Trang 25định mục tiêu đề ra ở cả cấp độ tổng thể doanh nghiệp và cấp độ quy trình hay các bộ phận chức năng, doanh nghiệp có thể xác định được những yếu tố chủ yếu dẫn đến thành công và sau đó xác định những rủi ro gây ảnh hưởng đến những yếu tố thành công này
Sau khi nhận định được các rủi ro có thể xảy ra, doanh nghiệp cần tiến hành đánh giá hậu quả mà rủi ro có thể mang lại một khi nó xảy ra, để từ đó
đưa ra quyết định quản trị rủi ro cho hợp lý và hiệu quả Ví dụ như theo phương pháp thống kê, rủi ro có thể được biểu diễn bằng một hàm phân phối thống kê (đồ thị 2.1), diễn tả các thông tin về mức độ tổn thất tiềm tàng và xác suất xảy ra của chúng Ta có thể dựa vào một hàm phân phối thống kê, xác
định giới hạn chấp nhận trong từng tình huống:
- Mục tiêu lợi nhuận dự báo không đạt được;
- Doanh nghiệp bị lỗ;
Mức lỗ có thể gây nên tình trạng bị động về tài chính của doanh nghiệp,
Trang 26Xác suất Giới hạn
S Số tiền tổn thất
Đồ thị 2.1 Hàm phân phối thống kê Các rủi ro lớn với xác suất cao cần được xếp hạng thứ tự ưu tiên để quản trị trước và có thể được biểu diễn như đồ thị dưới đây
2.2 Quản trị rủi ro trong sản xuất kinh doanh
Bất kỳ một nhà doanh nghiệp nào thường cũng đều mang ý nghĩ theo mối lời mà không kìm giữ nổi cho nên muốn chinh phục, ý muốn mạo hiểm thường cùng nảy sinh một lúc Để giành được mối lợi nhuận lớn trong cạnh tranh thị trường, họ thường dốc hết năng lực của mình ra và kết quả không ít
à = zσ + s
Trang 27doanh nghiệp đ2 trở lên lớn mạnh Thực tế cho thấy, không có sự l2nh đạo mạnh mẽ, doanh nghiệp sẽ bị đổ vỡ Nếu không có những mưu cao kế lạ để mạo hiểm thì sẽ không giành được thắng lợi vẻ vang trong cạnh tranh
Doanh nghiệp tham gia thương trường phải luôn chấp nhận và đối mặt với những nguy cơ, rủi ro và làm cho doanh nghiệp tổn thất về tinh thần và tài sản Rủi ro và lời l2i cùng tồn tại; rủi ro và hiệu quả thường tỷ lệ thuận với nhau Nếu rủi ro ít thì sẽ có nhiều người theo đuổi, tìm kiếm cơ hội đó và hiệu quả cũng sẽ không lớn Nếu rủi ro nhiều, thì sẽ có ít người tìm kiếm theo đuổi, cho nên hiệu quả thu được cũng sẽ lớn hơn Từ ý nghĩa đó mà chúng ta có thể thấy rằng rủi ro chính là hiệu quả, rủi ro càng lớn thì sẽ càng mang lại hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh
Khi đối mặt với rủi ro, người ta thường ứng phó bằng một trong những cách sau
- Chấp nhận rủi ro tức là chịu đựng tổn thất;
- Né tránh rủi ro bằng cách loại trừ những nguyên nhân gây nên rủi ro đó;
- Hạn chế rủi ro tức là thực hiện các biện pháp để làm giảm ảnh hưởng của rủi ro hay là hạn chế mức độ tổn thất
Trong ba cách ứng xử trên thì chấp nhận rủi ro là cách ứng phó thụ động
và sự chấp nhận rủi ro cũng chỉ giới hạn trong khả năng chịu đựng tối đa của chủ thể Né tránh và hạn chế rủi ro là cách ứng xử mang tính chủ động, tuy nhiên cách thứ hai không phải bao giờ cũng có thể thực hiện bởi vì người ta chỉ có thể loại bỏ những nguyên nhân mang tính chủ quan chứ không thể loại trừ các nguyên nhân khách quan Cách thứ ba chủ động thực hiện các biện pháp nhằm giảm thiệt hại do rủi ro gây nên do đó được gọi là quản trị rủi ro Quản trị rủi ro trong sản xuất kinh doanh là quá trình phát hiện, phân tích
và ứng phó đối với sự thay đổi của những rủi ro tiềm ẩn bên trong đến môi trường bên ngoài để nhằm hạn chế rủi ro, tổn thất về: Tài chính cho dự án, tỷ giá trong quá trình thực hiện các giao dịch liên quan đến ngoại tệ, dự trữ hàng
Trang 28tồn kho và về con người,
2.2.1 Sự cần thiết quản trị rủi ro
“Mất bò mới lo làm chuồng” là một câu ví để phản ánh trường hợp mà chỉ đến khi sự việc xảy ra rồi thì người ta mới giật mình nhận biết để xử lý Mọi doanh nghiệp hoạt động đều hướng tới mục tiêu tạo lợi thế cạnh tranh và đem lại giá trị tăng thêm cho những đối tác bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp gắn kết chặt chẽ với các hoạt động của mình Để đạt được mục tiêu đó, doanh nghiệp thường xây dựng cho mình chiến lược hoạt động cùng hàng loạt những chương trình, kế hoạch để thực thi những chiến lược đ2
đề ra Trong quá trình thực thi chiến lược sẽ thường có nhiều rủi ro xảy ra làm
ảnh hưởng đến quá trình tiến tới mục tiêu của doanh nghiệp Sự hiểu biết quản trị rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh là khả năng của chúng ta trong mối tương quan so sánh với các đối thủ cạnh tranh liên quan đến việc đánh giá một rủi ro Sự hiểu biết đó phụ thuộc vào các lợi thế thông tin và việc ứng dụng các lợi thế đó như thế nào Vì vậy, quản trị rủi ro là bộ phận không thể tách rời với chiến lược của doanh nghiệp Điều đó có nghĩa là chiến lược của doanh nghiệp sẽ được xem là không đầy đủ nếu thiếu vắng sự gắn kết với quản trị rủi ro
Có nhiều loại rủi ro được xâm nhập từ bên ngoài doanh nghiệp cũng như phát sinh bên trong doanh nghiệp Rủi ro thường được phân loại vào những nhóm chính như rủi ro chiến lược, rủi ro hoạt động, rủi ro tài chính, rủi ro tỷ giá, rủi ro quản lý tri thức và rủi ro tuân thủ
Rủi ro tỷ giá mà nhà xuất nhập khẩu và nhà đầu tư quốc tế phải đối mặt
là rủi ro cơ bản nhất trong thương mại và đầu tư quốc tế mà thương mại và đầu tư nội địa không có Những biến động không lường trước được của tỷ giá ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu, chi phí và hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Tỷ giá là biến số rất nhạy cảm với tình hình kinh tế, chính trị - x2 hội của các nước và khu vực kinh tế quan trọng trên thế giới, tỷ giá thường xuyên
Trang 29biến động phức tạp, khó lường là kết quả của mối quan hệ mật thiết, phụ thuộc
ảnh hưởng lẫn nhau ngày càng gia tăng giữa các thị trường tài chính của các quốc gia và khu vực từ quá trình toàn cầu hoá Dù nguyên nhân nào gây nên
sự biến động dữ dội của tỷ giá ngày nay thì điều cần thiết đối với các nhà kinh doanh, các nhà quản lý là phải thực hiện quản trị rủi ro cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh của mình một cách có hiệu quả Thương mại và đầu tư quốc
tế càng phát triển thì vấn đề phát hiện rủi ro và sử dụng linh hoạt các công cụ phòng ngừa rủi ro càng trở nên cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp
2.2.2 Quy trình quản trị rủi ro trong kinh doanh
Rủi ro thường có tác động dây chuyền và cộng hưởng Do đó, doanh nghiệp phải chủ động xây dựng cho mình quy trình đánh giá và quản trị rủi ro phù hợp, nhằm tự vệ trước biến động khôn lường của thị trường Rủi ro kinh doanh bắt nguồn từ vô số các hoạt động giao dịch liên quan trực tiếp đến tài chính như sản xuất, mua bán, đầu tư, vay nợ và một số hoạt động kinh doanh khác hoặc là hệ quả gián tiếp của các chính sách thay đổi trong quản lý, trong cạnh tranh, trong các quan hệ quốc tế và thậm chí có thể chỉ do sự thay đổi của thời tiết hay khí hậu Nếu quan sát kỹ các biến động về tài chính, có thể nhận ra được các nguồn chính gây ra rủi ro về tài chính bao gồm: Rủi ro phát sinh từ sự thay đổi bên ngoài về giá cả thị trường như l2i suất, tỷ giá; Rủi ro phát sinh từ các hoạt động hay giao dịch với các đối tác trong kinh doanh như nhà cung cấp, khách hàng, các đối tác trong giao dịch phát sinh; Rủi ro phát sinh ngay chính nội bộ doanh nghiệp, những thay đổi từ bên trong liên quan
đến nhân sự, cơ cấu tổ chức hoặc quy trình sản xuất kinh doanh
Quy trình quản lý rủi ro được thiết kế mang tính đồng bộ và có sự gắn kết với việc xây dựng và thực thi chiến lược của doanh nghiệp Về cơ bản quy trình quản lý rủi ro cần chứa đựng những giai đoạn hay bước công việc cơ bản như xác định rủi ro, mô tả rủi ro, xử lý rủi ro, theo dõi và rà soát quy trình quản lý rủi ro
Trang 30Quản trị rủi ro gắn liền với quản lý tài chính dự án hoặc quản lý tài chính doanh nghiệp với mục đích giúp doanh nghiệp kiểm soát chi phí và hạn chế tổn thất có thể xảy ra đến mức thấp nhất Cụ thể trong ngắn hạn, chi phí phòng ngừa phải nhỏ hơn thiệt hại có thể xảy ra nếu không có biện pháp chống đỡ và trong dài hạn, chi phí quản lý rủi ro phải nhỏ hơn nhiều so với tổn thất mà biến động về giá cả, dự trữ, tỷ giá có thể gây ra
Thực chất quá trình quản trị rủi ro là quá trình quan sát, phân tích sự vận
động của các rủi ro trong những điều kiện kinh tế cụ thể để dự báo mức độ thay đổi của từng yếu tố trong tương lai, ra quyết định và thực hiện những biện pháp phòng ngừa cho các luồng tiền liên quan đến ngoại tệ của doanh nghiệp nhằm hạn chế tối đa tổn thất tài chính do sự biến động của từng yếu tố rủi ro gây nên trước khi nó trở thành hiện thực
Vì vậy, việc quan trọng nhất trong quản trị rủi ro là phải xây dựng được quy trình quản lý rủi ro Thông thường quản lý rủi ro được chia làm các bước sau đây:
* Nhận dạng rủi ro: Đây là bước đầu tiên nhằm tìm hiểu cặn kẽ về bản chất của rủi ro Cách đơn giản và trực tiếp nhất là liệt kê từng nhân tố và các biến cố có thể gây ra rủi ro
Cách làm rõ bản chất của rủi ro là:
+ Thứ nhất: Nhận dạng những tác nhân kinh tế có thể gây ra rủi ro, ví dụ như yếu tố l2i suất, lạm phát, tỷ giá hối đoái, tăng trưởng kinh tế, Mỗi dạng rủi ro có những đặc trưng cơ bản và phương thức quản trị khác nhau do vậy cần nhận dạng chính xác loại rủi ro đang phải đối mặt Căn cứ vào tác động của thị trường đến sự thay đổi tăng hoặc giảm các luồng tiền trong tương lai bằng nội tệ hoặc ngoại tệ, nhà quản lý có thể nhận dạng loại rủi ro mà doanh nghiệp đang phải đối mặt là rủi ro nghiệp vụ, rủi ro trong hoạt động sản xuất, rủi ro kinh tế hay rủi ro chuyển đổi
+ Thứ hai: Tìm hiểu xem chiều hướng có thể gây ra rủi ro, ví dụ việc Ngân hàng Trung ương tăng l2i suất sẽ tác động giá cả chứng khoán như
Trang 31thế nào?
+ Thứ ba: Kiểm tra lại xem biểu hiện rủi ro đang phân tích có phụ thuộc vào biến cố nào khác hay không, chẳng hạn công ty có biểu hiện rủi ro trong trường hợp không được tín nhiệm của khách hàng
* Ước tính, định lượng rủi ro: Bước này sẽ đo lường mức độ phản ứng của công ty đối với các nguồn gốc rủi ro đ2 xác định ở trên Cụ thể, dùng một phương pháp giả định nếu có nhân tố rủi ro thì công ty được gì và mất gì
* Đánh giá tác động của rủi ro: Để đánh giá rủi ro người ta thường làm bài toán chi phí và lợi tức Đôi khi, việc quản lý rủi ro tiêu tốn nhiều nguồn lực của công ty như tiền bạc và thời gian, do đó cần phải cân nhắc xem liệu việc quản lý rủi ro như vậy có thực sự đem lại lợi ích lớn hơn chi phí bỏ ra để thực hiện nó hay không
* Đánh giá năng lực của người thực hiện chương trình bảo hiểm rủi ro
Để quản lý rủi ro có hai chiến lược:
- Thứ nhất: Dựa vào một tổ chức tài chính chuyên nghiệp, thuê họ thiết
kế một giải pháp quản lý rủi ro cụ thể, thích hợp với chiến lược quản lý của công ty
- Thứ hai: Tự công ty đứng ra thực hiện phòng chống rủi ro bằng cách sử dụng các công cụ chứng khoán phái sinh như chứng quyền, quyền chọn, hợp
đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, đồng thời xây dựng một đội ngũ nhân viên của công ty có khả năng lập và thực hiện hàng rào chống rủi ro Vấn đề này
đòi hỏi nhân viên công ty vừa phải thiết kế đúng lại vừa phải thực hiện chương trình phòng chống rủi ro bởi quản lý rủi ro cần phải được theo dõi thường xuyên và điều chỉnh kịp thời với sự biến đổi của thời gian
* Lựa chọn công cụ và quản trị rủi ro thích hợp
Đây là bước mấu chốt cuối cùng trong việc xây dựng chiến lược quản trị rủi ro Trong bước này nhà quản lý phải chọn một giải pháp cụ thể Chẳng hạn, đối với các công cụ trên thị trường hối đoái, người ta có thể sử dụng hợp
đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, làm công cụ phòng chống rủi ro, công
cụ này có ưu điểm là có tính thanh khoản cao và có hiệu quả về giá Tuy
Trang 32nhiên, công cụ này không linh động, không khắc phục được rủi ro cố hữu mà chi phí theo dõi lại khá tốn kém
* Quyết định có nên phòng ngừa hay không
Quyết định thực hiện phòng ngừa hay không được đưa ra trên cơ sở so sánh mức tổn thất có khả năng xảy ra với một tiêu chí nhất định nào đó, chẳng hạn như chi phí cần thiết để thực hiện phòng ngừa hoặc khả năng chịu rủi ro tối đa của doanh nghiệp hay mức l2i/lỗ của mỗi thương vụ Tuỳ theo quan
điểm của các nhà quản lý của từng doanh nghiệp, các tiêu chí được lựa chọn
để so sánh sẽ khác nhau và ngay cả trong một doanh nghiệp, các tiêu chí được lựa chọn để so sánh vào những thời kỳ khác nhau cũng có thể không giống nhau Nhìn chung, quyết định thực hiện phòng ngừa, phòng ngừa bao nhiêu và phòng ngừa như thế nào? tuỳ thuộc vào mức độ chịu đựng rủi ro và dự báo mức độ biến
động của từng yếu tố rủi ro trong kỳ tính toán của các nhà quản lý
* Lựa chọn kỹ thuật phòng ngừa hiệu quả nhất trong số các kỹ thuật khác nhau có thể
Trong tất cả các quyết định liên quan đến chi phí, doanh nghiệp bao giờ cũng hướng đến mục tiêu tối đa hoá chi phí vì thế nếu quyết định phòng ngừa, doanh nghiệp sẽ lựa chọn kỹ thuật phòng ngừa nào có hiệu quả nhất trong số các
kỹ thuật khác nhau có thể Hiệu quả nhất được hiểu là kỹ thuật đó phải phù hợp với đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp đồng thời có chi phí thấp nhất
2.2.3 Một số biện pháp nhằm hạn chế rủi ro
2.2.3.1 Thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp
Đây là quá trình theo dõi và đánh giá chất lượng kiểm soát nội bộ để đảm bảo việc này được triển khai, điều chỉnh và cải thiện liên tục hệ thống này hoạt
động tốt nếu:
Doanh nghiệp có hệ thống báo cáo cho phép phát hiện các sai lệch so với chỉ tiêu, kế hoạch đ2 định Khi phát hiện sai lệch, doanh nghiệp đ2 triển khai các biện pháp điều chỉnh thích hợp
Việc kiểm toán nội bộ được thực hiện bởi người có trình độ chuyên môn
Trang 33thích hợp và người này có quyền báo cáo trực tiếp cho cấp phụ trách cao hơn
và cho ban l2nh đạo
Những khiếm khuyết của hệ thống kiểm soát nội bộ được phát hiện bởi kiểm toán nội bộ hoặc kiểm toán độc lập được báo cáo trực tiếp và kịp thời với cấp phụ trách cao hơn, kể cả ban l2nh đạo để điều chỉnh đúng lúc
Doanh nghiệp đ2 yêu cầu cấp quản lý trung gian báo cáo ngay với l2nh
đạo về mọi trường hợp gian lận, nghi ngờ gian lận, về các vi phạm nội quy, quy định của doanh nghiệp cũng như quy định của pháp luật hiện hành có khả năng làm giảm uy tín của doanh nghiệp và gây thiệt hại về kinh tế
Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp có đủ năm thành phần và nếu tất cả những nội dung nêu trên được đảm bảo thì hệ thống này chắc chắn mang lại những lợi ích quản lý và kinh tế lớn cho doanh nghiệp
Hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp gồm các hệ thống sau:
* Hệ thống kiểm soát theo chiều dọc (kiểm soát cho từng bộ phận và từng cá nhân)
* Hệ thống kiểm soát theo chiều ngang (kiểm soát theo từng quy trình nghiệp vụ)
- Kiểm soát nội bộ trong quy trình bán hàng
- Kiểm soát nội bộ trong quy trình mua hàng
- Kiểm soát nội bộ trong quy trình tiền lương
- Kiểm soát nội bộ trong quy trình kế toán
- Kiểm soát nội bộ trong quy trình chi tiêu
- Kiểm soát nội bộ trong quy trình sản xuất
- Kiểm soát nội bộ trong quy trình tồn kho
- Kiểm soát nội bộ trong quy trình khác
* Các nút kiểm soát là các điểm giao nhau giữa các hệ kiểm soát
Trang 34Những vấn đề chung khi triển khai việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội
bộ doanh nghiệp trong từng điều kiện cụ thể như sau
Doanh nghiệp tiếp cận hệ thống kiểm soát nội bộ trước hết cần quan tâm
đến mục tiêu và tầm nhìn của đơn vị, sau đó là các rủi ro và nguy cơ, cơ chế kiểm soát, quản lý, kiểm tra giám sát, Cụ thể như:
- Mục tiêu tài chính của doanh nghiệp
+ Lợi nhuận (có lời)
+ Khả năng thanh toán (có tiền)
- Mục tiêu phi tài chính
+ Thương hiệu
+ Thị phần
Mục tiêu doanh nghiệp
KSNB theo chiều dọc KSNB theo chiều ngang
Đánh giá HTKSNB Hiện tại của DN
Tái xác đinh và
đánh giá lại rủi
ro của DN
Xem xét nguồn lực và văn hoá DN
Tái cấu trúc DN, tái PCPN cho NV,
và tái xác lập các qui trình nghiệp vụ
Xây dựng hệ thống quy chế và
tổ chức thực hiện
Các yếu tố chi phối sự thành công Hạn chế rủi ro
Trang 35+ Văn hoá công ty
+ Nhân đạo
+
- Khi xác định mục tiêu của doanh nghiệp cần lưu ý
+ Mục tiêu của doanh nghiệp khác với mục tiêu của chủ doanh nghiệp hay mục tiêu của người quản lý doanh nghiệp Hay nói cách khác: Doanh nghiệp là một chủ thể độc lập với chủ sở hữu của nó và độc lập với người quản
lý nó
+ Mục tiêu của doanh nghiệp sẽ được xác lập cho từng giai đoạn của doanh nghiệp nhưng phải gắn liền với sứ mệnh và tôn chỉ của doanh nghiệp + Sứ mệnh và tôn chỉ của doanh nghiệp sẽ hiếm khi thay đổi nếu doanh nghiệp có một tầm nhìn xuyên thế kỷ
2.2.3.2 Hợp lý hoá quy trình kinh doanh
Một trong những đặc tính chung của các công ty thành công đó là không ngừng hợp lý hoá các quy trình kinh doanh Chúng ta gọi điều này là “xây dựng khả năng dự báo trước” Các quy trình kinh doanh là việc mọi thứ được thực hiện như thế nào trong công ty Mọi công ty đều có một vài quy trình, một số được xác định rất rõ ràng, trong khi một số tiềm ẩn, khó nhận biết
được Mục đích ở đây là nhằm gia tăng hiệu suất hoạt động và giảm thiểu chi phí trong khi vẫn đạt được các kết quả như mong đợi (hoặc thậm chí tốt hơn) Các công ty cần hiểu được sự cần thiết của việc cải thiện không ngừng các quy trình kinh doanh để đạt hiệu quả và thích hợp hơn, và để phản ứng nhanh chóng hơn với những thay đổi của thị trường trong khi vẫn cung cấp dịch vụ tốt hơn cho khách hàng Do vậy, cần phải sử dụng cơ chế kiểm soát như sơ đồ dưới đây:
Trang 36Kiêm nghiệm Chuyên trách Thuê ngoài
Mục tiêu doanh nghiệp Mục tiêu của bộ phận: Mục tiêu của chức năng
Qua đó ta thấy doanh nghiệp sử dụng các cơ chế kiểm soát như: Phê duyệt, sử dụng mục tiêu, bất kiêm nhiệm, bảo vệ tài sản, đối chiếu, báo cáo bất thường, kiểm tra theo dõi và định dạng trước
Như vậy, việc đánh giá rủi ro được coi là có chất lượng nếu: Ban l2nh đạo quan tâm và khuyến khích nhân viên quan tâm phát hiện, đánh giá và phân tích định lượng tác hại của các rủi ro hiện hữu và tiềm ẩn
Doanh nghiệp đ2 đề ra các biện pháp, kế hoạch, quy trình hành động
cụ thể nhằm giảm thiểu tác hại rủi ro đến một giới hạn chấp nhận nào đó hoặc doanh nghiệp đ2 có biện pháp để toàn thể nhân viên nhận thức rõ ràng về tác hại của rủi ro cũng như giới hạn rủi ro tối thiểu mà tổ chức có thể chấp nhận được
Doanh nghiệp đ2 đề ra mục tiêu tổng thể cũng như chi tiết để mọi nhân viên có thể lấy đó làm cơ sở tham chiếu khi triển khai công việc
Trang 372.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro trong sản xuất kinh doanh
* Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị rủi ro của các chủ thể kinh tế Với các văn bản pháp lý như luật, pháp lệnh, quyết định, Nhà nước tạo ra hành lang pháp lý cho các hoạt
động trao đổi nhưng không phải bao giờ các chính sách này cũng phù hợp với các quy luật của thị trường Chính sách không phù hợp sẽ làm hạn chế hiệu quả của quản trị rủi ro Chẳng hạn, Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ giá giao dịch kỳ hạn bằng tỷ giá giao ngay mà không tính đến l2i suất của hai đồng tiền trao đổi nên khi tỷ giá tăng mạnh không ngân hàng nào dám mạo hiểm cung cấp hợp đồng kỳ hạn hoặc hiện nay, đối với giao dịch Option, Ngân hàng nhà nước chỉ cho phép thực hiện giữa các ngoại tệ với nhau nên nhiều doanh nghiệp muốn sử dụng giao dịch này nhưng không thể thực hiện do đó ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị rủi ro tỷ giá của doanh nghiệp đó
* Vai trò của người quản lý: Vai trò của nhà quản lý thể hiện ở các mặt
- Hiểu rủi ro và đánh giá đúng vai trò của quản trị rủi ro đối với quản lý tài chính doanh nghiệp hoặc tài chính dự án; Để quản lý bất cứ đối tượng nào, người quản lý cũng hiểu rõ đối tượng, nguyên nhân và các biện pháp quản lý
đối tượng đó Cũng như vậy, muốn quản lý rủi ro có hiệu quả, điều trước tiên
là nhà quản lý phải hiểu bản chất của rủi ro, nguyên nhân và điều kiện phát sinh của nó cũng như những cách thức hạn chế tổn thất Rủi ro có thể làm tăng chi phí hoặc làm giảm doanh thu của dự án hoặc của doanh nghiệp dẫn đến tình hình tài chính của doanh nghiệp có thể bị xấu đi vì thế nhà quản lý cần phải đánh giá đúng vai trò của quản lý rủi ro trong quản lý tài chính Chỉ khi nhà quản lý nhận thức đúng tầm quan trọng của quản trị rủi ro thì họ mới chú
ý đến nó từ đó tìm cách quản lý một cách có hiệu quả
- Phát hiện và lập kế hoạch xử lý rủi ro: Muốn quản trị rủi ro một cách hiệu quả, cần phải phát hiện khả năng rủi ro xảy ra, chẳng hạn như đối với các giao dịch ngoại tệ Thông qua việc theo dõi sự biến động của tỷ giá trong
Trang 38những điều kiện cụ thể, nhà quản lý có thể phát hiện sớm rủi ro tỷ giá Nếu
đánh giá xác suất xảy ra sự kiện đó tương đối lớn thì nhà quản lý cần tiến hành lập kế hoạch xử lý rủi ro Kế hoạch xử lý rủi ro phải đưa ra các phương
án phòng ngừa phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể có thể xảy ra
- Sử dụng các kỹ thuật phòng ngừa phù hợp trong những hoàn cảnh phù hợp Để lựa chọn kỹ thuật phòng ngừa rủi ro phù hợp trong từng hoàn cảnh cụ thể, nhà quản lý phải ước tính chi phí và thời gian thực hiện cho từng kỹ thuật sau đó so sánh chúng với nhau và quyết định kỹ thuật tối ưu nhất có thể
- Năng lực của mỗi nhà quản trị: Trong quản trị rủi ro, con người là chủ thể quản trị còn các hoạt động giao dịch có liên quan đến quá trình kinh doanh
là đối tượng quản lý cho nên năng lực của nhà quản trị là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của nhà quản trị Năng lực của nhà quản trị không những thể hiện ở kiến thức chuyên sâu về quản trị rủi ro trong hoạt
động kinh doanh mà còn biểu hiện ở kinh nghiệm, sự phán đoán nhạy bén và bản lĩnh của người quản trị trong quá trình triển khai thực hiện Quản trị là nghệ thuật của cái có thể nên nhà quản trị cần thường xuyên theo dõi, phân tích sự vận động của các diễn biến có thể xảy ra, như sự vận động của tỷ giá, sử dụng linh hoạt và thành thạo các kỹ thuật phòng, có bản lĩnh vững vàng sẵn sàng đối phó với những tình huống bất ngờ ngoài dự đoán đồng thời phải thường xuyên cập nhật các chính sách liên quan đến cơ chế quản trị và giao dịch kinh doanh
để có những điều chỉnh phù hợp với đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
- Dự báo rủi ro trong hoạt động giao dịch kinh doanh: Sự thay đổi khó lường hết được của thị trường theo thời gian là nguyên nhân gây nên rủi ro cho nên dự báo sẽ thay đổi như thế nào trong tương lai có ý nghĩa quan trọng đối với nhà quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh Các quyết định có nên phòng ngừa hay không hoặc phòng ngừa như thế nào phụ thuộc rất lớn vào kết quả dự báo rủi ro Mặc dù công tác dự báo ngày nay sử dụng các phương pháp hiện đại với sự trợ giúp của máy tính điện tử nhưng nhiều khi kết quả dự báo
và thực tế vẫn có khoảng cách khá xa thậm chí đôi khi còn hoàn toàn trái
Trang 39ngược nhau Chẳng hạn như nếu tỷ giá giao ngay ở kỳ tính toán ngang bằng hoặc lớn hơn tỷ giá dự báo thì việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá giao được coi là
đạt hiệu quả vì đ2 tránh được tổn thất Ngược lại nếu tỷ giá giao ngay ở kỳ tính toán thấp hơn tỷ giá dự báo thì việc phòng ngừa của doanh nghiệp không
đạt hiệu quả bởi vì doanh nghiệp đ2 phải chi ra một khoản chi phí thực hiện phòng ngừa đồng thời doanh nghiệp có thể phải mua hoặc bán ngoại tệ với mức
đắt hơn hoặc rẻ hơn tỷ giá giao ngày (phụ thuộc vào kỹ thuật doanh nghiệp sử dụng để phòng ngừa) Có thể nói rằng, độ chính xác của kết quả dự báo tỷ giá
ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản trị rủi ro do vậy cần có những đơn vị chuyên về phân tích và dự báo tỷ giá để có kết quả dự báo chất lượng cao 2.3 Cơ sở thực tiễn
2.3.1 Đặc điểm ngành giống cây trồng
Như chúng ta đ2 biết giống cây trồng có đến hàng trăm loại, một phần tự sản xuất và một phần nhập khẩu từ nước ngoài Theo công bố mới đây của Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón quốc gia về kết quả điều tra 13 cây loài trồng chủ lực trong sản xuất năm 2003 -
2004 Đối với lúa, các giống được công nhận chính thức chiếm 67,1%, công nhận tạm thời 2,6% và chưa công nhận chiếm tới 30,6% Số lượng giống lúa
có mặt trong sản xuất là 688 giống, gồm 159 giống địa phương và 529 giống cải tiến, nhiều hơn số giống lúa được công nhận trên 3 lần Trong số này, 10 giống phổ biến nhất chiếm 49,6% diện tích và đều là những giống được công nhận như Khang dân, OM1490, OM576, OMCS2000, VND 95-20, Nhị ưu
838, IR64, OM2517 Trong đó có 3 giống Trung Quốc, 2 giống IRRI và 5 giống chọn lọc trong nước Như vậy, trong 177 giống công nhận thì 10 giống chủ lực đ2 chiếm gần 50% diện tích lúa, còn lại 167 giống đ2 qua công nhận chỉ chiếm 17%, trong đó có nhiều giống không còn trong sản xuất nữa nhưng kết quả điều tra cũng chưa chỉ ra cụ thể là những giống nào Biểu đồ sau đây minh hoạ rõ hơn về cơ cấu giống lúa ở Việt Nam
Trang 40Biểu đồ 2.1 Cơ cấu giống lúa trong sản xuất 2003 - 2004
Như vậy, có thể thấy tỷ lệ giữa các giống Việt Nam chọn tạo và các giống nước ngoài trong sản xuất là khoảng 50:50, trong đó lúa thuần và lúa lai Trung Quốc chiếm đa số trong các giống nhập nội vào Việt Nam
Do đặc điểm địa lý, sinh thái đa dạng, nền nông nghiệp Việt Nam cũng
đa dạng và có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng miền Cơ cấu giống cây trồng Việt Nam cũng rất phong phú với nhiều loại cây trồng, nhiều giống cây trồng khác nhau Nhóm hạt giống chủ yếu là cây lương thực như lúa, ngô; nhóm cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, đậu tương, rau các loại
2.3.2 Thực trạng sản xuất, kinh doanh giống cây trồng ở Việt Nam
Theo kết quả điều tra tình hình sản xuất, kinh doanh giống cây trồng tại các địa phương và một số doanh nghiệp đại diện năm 2007, chủng loại giống
được sản xuất, kinh doanh tại các Trung tâm giống hoặc Công ty giống tỉnh chủ yếu vẫn tập trung vào các cây lương thực, đặc biệt là lúa và ngô Trong đó các loại lúa thuần và một phần lúa lai (thường thấy ở các doanh nghiệp phía Bắc) chiếm khoảng 80 - 90% sản lượng sản xuất, kinh doanh Đối với giống lúa, các doanh nghiệp phía Bắc tập trung sản xuất và kinh doanh giống đời cao (siêu nguyên chủng và nguyên chủng), các giống cây trồng thuộc nhóm cây
có hạt và củ giống bao gồm lúa, ngô, lạc, đậu tương, rau các loại và khoai tây
Lúa thuần chọn
tạo trong nước
45,57%
Lúa thuần nhập nội từ TQ 19,64%
Lúa thuần nhập nội từ IRRI 13,17%
Lúa thuần nhập nội khác 2,43%
Lúa lai 9,04%
Giống khác 3,81%
Giống địa
phương
6,34%