luận văn
Trang 1Bộ giáo dục vμ đμo tạo Trường đại học nông nghiệp hμ nội
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng số liệu kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và ch−a sử dụng để bảo vệ trong một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong luận văn này đ∙ đ−ợc cảm ơn, mọi thông tin trích trong luận văn đều đ∙ đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 09 năm 2008
Tác giả
Nguyễn Thị Thuận
Trang 3Lời cảm ơn
Đến nay Luận văn của tôi đ∙ hoàn thành, kết quả này là nhờ công lao dạy bảo, đào tạo và động viên của các Thầy, Cô giáo trong thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại trường Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các Thầy giáo, Cô giáo khoa Kế toán và Quản trị Kinh doanh, khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, khoa Sau Đại học, bộ môn Tài chính trường Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nội đ∙ giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, sự kính trọng sâu sắc nhất tới Thầy giáo - PGS – TS Lê Hữu ảnh, người đ∙ tận tình chỉ bảo, trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND thị trấn Trâu Quỳ, các hộ gia
đình, hộ kinh doanh thương mại dịch vụ, các bạn sinh viên trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đ∙ tham gia các cuộc phỏng vấn, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu điều tra và xin số liệu của tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp đ∙ động viên giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học!
Hà Nội, tháng 09 năm 2008
Tác giả
Nguyễn Thị Thuận
Trang 4Môc lôc
Trang 52.1.5 Các thành phần của chi tiêu cho tiêu dùng 9
2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển và phân bố các ngành dịch vụ 17
4.1.1 Tình hình phát triển các đối tượng chi tiêu ngoại sinh ảnh hưởng
Trang 64.1.2 Tình hình chi tiêu của các đối tượng 434.2 Thực trạng phát triển dịch vụ phục vụ chi tiêu của các đối tượng
4.2.1 Tình hình phát triển dịch vụ tại thị trấn Trâu Quỳ những năm
4.2.2 Tình hình các hộ tham gia vào phát triển dịch vụ tại thị trấn Trâu
Quỳ 524.3 Phân tích tác động của chi tiêu ngoại sinh đến phát triển dịch vụ
4.3.1 Tình hình các đối tượng chi tiêu ngoại sinh giữa các khu vực của
4.3.2 Tình hình dịch vụ phục vụ chi tiêu của các đối tượng giữa các
4.4.2 Tình hình các hộ điều tra tham gia vào phát triển dịch vụ của địa
phương 694.5 Những tác động tích cực từ phát triển dịch vụ ở thị trấn Trâu
Quỳ 76
Trang 74.7 Định hướng và giải pháp điều chỉnh sự cung ứng dịch vụ của thị
4.7.1 Một số định hướng trong phát triển dịch vụ tại thị trấn Trâu Quỳ 874.7.2 Giải pháp điều chỉnh sự cung ứng dịch vụ tại thị trấn Trâu Quỳ 88
Trang 8Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 9Danh mục bảng biểu
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của thị trấn Trâu Quỳ từ 2005 - 2007 25 Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của thị trấn Trâu Quỳ từ 2005 - 2007 27
Bảng 4.1: Các đối tượng chi tiêu ngoại sinh trên địa bàn thị trấn Trâu Quỳ
Bảng 4.5: Tình hình chi tiêu của các hộ gia đình cán bộ công chức trường
Bảng 4.6: Tình hình chi tiêu của sinh viên trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
46 Bảng 4.7: Dự kiến lượng chi tiêu hàng năm của cán bộ, công chức trường
Bảng 4.8: Dự kiến lượng chi tiêu hàng năm quy theo sinh viên chính quy 49 Bảng 4.9: Tổng hợp tình hình phát triển dịch vụ của thị trấn Trâu Quỳ 51 Bảng 4.10: Tình hình các hộ tham gia vào sự phát triển dịch vụ của thị trấn
Trang 10Bảng 4.14: Cơ cấu các nhóm hộ theo hướng sản xuất năm 2007 64 Bảng 4.15: Giá trị sản xuất dịch vụ giữa các KV của thị trấn Trâu Quỳ(2001 –
Bảng 4.17: Tình hình sử dụng đất thổ cư của các hộ điều tra năm 2007 70
Bảng 4.20: Sự biến động cơ cấu lao động trong các hộ điều tra (2004 – 2007) 77 Bảng 4.21: So sánh thu nhập từ dịch vụ và thu nhập từ nông nghiệp trong các
Bảng 4.22: Khảo sát ý kiến về phát triển dịch vụ tại thị trấn Trâu Quỳ 80 Bảng 4.23: Trình độ văn hoá của các lao động trong các hộ điều tra ở thị trấn
Trang 11Danh mục đồ thị
Đồ thị 1: Cơ cấu các khoản chi tiêu của gia đình cán bộ công chức trường
Đồ thị 4: Đối tượng chi tiêu ngoại sinh giữa các khu vựccủa thị trấn Trâu Quỳ 56
Đồ thị 5: Phát triển dịch vụ tại các khu vực của thị trấn Trâu Quỳ 61
Đồ thị 7: Cơ cấu GTSX dịch vụ giữa các khu vực so với toàn thị trấn 66
Trang 121 Đặt vấn đề
1.1 Tính cấp thiết của đề tμi
Tổ chức hoạt động dịch vụ là một bộ phận cấu thành hữu cơ của tổ chức sản xuất xã hội, có ý nghĩa quan trọng trong việc phục vụ và nâng cao đời sống của dân cư, phản ánh trình độ chung của sản xuất Bản chất của dịch vụ là: phục vụ sản xuất và phục vụ đời sống dân cư Dịch vụ là các loại hình hoạt
động có mục đích phục vụ cho các nhu cầu đời sống dân cư hoặc trợ giúp, hoàn thiện, tiếp tục quá trình sản xuất - kinh doanh chủ yếu
Trong đời sống hàng ngày của nhân dân có rất nhiều nhu cầu phát sinh thuộc lĩnh vực hoạt động của dịch vụ, phục vụ tốt các bữa ăn hàng ngày, công việc may vá, đi lại, vui chơi giải trí như xem chiếu phim, biểu diễn nghệ thuật, thể dục thể thao, sửa chữa nhà cửa, công cụ, phương tiện đồ dùng gia đình…
Qua thống kê tình hình dịch vụ ở các nước, các nhà nghiên cứu kinh tế đi
đến kết luận: tốc độ phát triển của các hoạt động dịch vụ tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển của sản xuất và trình độ chung của xã hội Nền kinh tế càng phát triển thì yêu cầu về dịch vụ càng tăng Các nước có nền kinh tế phát triển, đời sống vật chất, văn hoá cao thì các loại hình dịch vụ càng phát triển và nhu cầu về dịch vụ càng phong phú [24] Kết luận này không chỉ đúng và phù hợp đối với phạm vi một quốc gia mà còn phù hợp với phạm vi một địa phương hay một vùng Địa phương nào, vùng nào có nền kinh tế phát triển thì ở đó đời sống của người dân được nâng cao, kéo theo những nhu cầu rất lớn về dịch vụ Theo quy luật cung cầu, ở đâu có cầu ở đó ắt có cung, vì thế những địa phương này có hoạt động dịch vụ ngày càng phát triển để đáp ứng nhu cầu của người dân
Thị trấn Trâu Quỳ là trung tâm kinh tế văn hoá của huyện Gia Lâm Nhiều năm trở lại đây, kinh tế của thị trấn Trâu Quỳ phát triển rất mạnh Trong đó, phát triển mạnh nhất là ngành kinh tế thương mại dịch vụ Thị trường và hoạt động thương mại phát triển sôi động, khối lượng hàng hoá lưu
Trang 13cao đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu dùng, góp phần quan trọng vào sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện đời sống dân cư Tỷ lệ hộ dân của thị trấn làm nông nghiệp ngày càng giảm và tỷ lệ hộ dân làm phi nông nghiệp ngày càng tăng
Một trong những nguyên nhân của sự phát triển mạnh mẽ đó là do thị trấn nằm gần trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nên chịu nhiều tác động trực tiếp và gián tiếp từ các hoạt động của trường
Trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, nhu cầu về nguồn lao động chất lượng cao ngày càng lớn Nhà nước ta chú trọng rất nhiều vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo Vì vậy quy mô đào tạo của các trường đại học nói chung và trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nói riêng ngày càng được mở rộng
Số lượng sinh viên vào học các trường tăng nhanh theo từng năm Đặc biệt những năm gần đây, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã mở thêm một số khoa mới
đào tạo nguồn lao động chất lượng cao phù hợp hơn với sự phát triển của thời đại, nên càng thu hút thêm nhiều sinh viên có nhu cầu vào học tại trường
Sinh viên nhập học kéo theo nhiều đối tượng khác được thu hút về trường như cán bộ công nhân viên của trường, các đối tượng từ nơi khác đến gần trường làm dịch vụ Tất cả các đối tượng này đều có các khoản chi tiêu phục vụ cho việc học tập, lao động và sinh hoạt hàng ngày Chính các khoản chi tiêu này có tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế cũng như xã hội ở các địa phương gần trường đại học Nó tạo ra một nhu cầu về dịch vụ rất lớn nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của số lượng lớn sinh viên và cán bộ Vì vậy
xu hướng chung của các hộ thuộc khu vực này là chuyển các hoạt động kinh
tế sang làm dịch vụ phục vụ nhu cầu chi tiêu của các đối tượng
Cụ thể các khoản chi tiêu của các đối tượng trên như thế nào? Nó có tác
động ra sao đến sự phát triển cung ứng dịch vụ tại Thị trấn Trâu Quỳ? Từ đó
có thể đưa ra những giải pháp gì điều chỉnh thị trường cung ứng dịch vụ Thị trấn Trâu Quỳ? Để trả lời được các câu hỏi trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Nghiên cứu tác động của chi tiêu ngoại sinh đến phát triển cung ứng dịch
vụ tại Thị trấn Trâu Quỳ”
Trang 141.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu tác động của chi tiêu ngoại sinh đến phát triển cung ứng dịch vụ tại Thị trấn Trâu Quỳ và đưa ra một số giải pháp điều chỉnh sự cung ứng của thị trường
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề chi tiêu, chi tiêu ngoại sinh và sự phát triển cung ứng dịch vụ
- Tìm hiểu thực trạng chi tiêu của các đối tượng ngoại sinh, so sánh sự phát triển dịch vụ giữa các tổ dân phố và rút ra những tác động tích cực, những tồn tại từ sự phát triển dịch vụ ở thị trấn Trâu Quỳ
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu điều chỉnh sự cung ứng dịch vụ của thị trấn Trâu Quỳ
1.3 Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các hộ gia đình kể cả gia đình làm dịch vụ và không làm dịch vụ thuộc Thị trấn Trâu Quỳ
- Các sinh viên đang học tập, cán bộ làm việc tại trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
- Các đối tượng từ nơi khác đến làm dịch vụ và tạm trú tại Thị trấn Trâu Quỳ
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: nghiên cứu các phát sinh chi tiêu từ trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và các dịch vụ chủ yếu phục vụ nhu cầu của các đối tượng chi tiêu ngoại sinh từ trường này
- Phạm vi về không gian: tập trung nghiên cứu tại các tổ dân phố của Thị trấn Trâu Quỳ
- Phạm vi về thời gian: nghiên cứu tình hình chi tiêu của các đối tượng và sự phát triển cung ứng dịch vụ của thị trấn Trâu Quỳ từ năm 2001
đến năm 2007
Trang 152 Một số vấn đề lý luận vμ thực tiễn về chi tiêu ngoại sinh vμ sự phát triển cung ứng dịch vụ
2.1 Một số nội dung liên quan đến chi tiêu
2.1.1 Khái quát về chi tiêu, chi tiêu ngoại sinh
Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi chúng ta đều phải tiêu dùng rất nhiều loại hàng hoá, dịch vụ khác nhau để phục vụ cho nhu cầu cá nhân Các nhu cầu tối thiểu cho mỗi cá nhân gồm ăn, uống, may mặc, nghỉ ngơi giải trí và quan hệ xã hội Để đáp ứng được các nhu cầu này, buộc chúng ta phải bỏ ra một khoản tiền để có thể được sử dụng các hàng hoá, dịch vụ ta cần Việc chúng ta bỏ ra một khoản tiền để có cái ta cần đó gọi là chi tiêu Từ việc hiểu chi tiêu một cách đơn giản như vậy, có thể nêu khái niệm về chi tiêu như sau:
“Chi tiêu là việc dùng tiền vào một mục đích nào đó nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân hoặc tập thể” [11]
Dựa vào khái niệm trên có thể phân làm 4 loại chi tiêu:
- Chi tiêu cho tiêu dùng: phục vụ nhu cầu cá nhân hàng ngày như lương thực, thực phẩm, quần áo, đồ dùng sinh hoạt, trang thiết bị
- Chi tiêu cho đầu tư: xây dựng cơ sở sản xuất,
- Chi tiêu của Chính phủ: xây dựng cơ sở hạ tầng, trường học
- Xuất khẩu ròng
* Chi tiêu ngoại sinh: Đến nay vẫn chưa có một khái niệm cụ thể nào về vấn đề chi tiêu ngoại sinh Song chúng ta có thể hiểu một cách khái quát như sau:
Chi tiêu ngoại sinh là chi tiêu của các đối tượng không thuộc vùng địa
lý đó Các đối tượng này xuất phát từ bên ngoài vì một nguyên nhân nào đó
được thu hút về vùng địa lý đó để sinh sống, làm việc Trong quá trình sinh hoạt hàng ngày, các đối tượng này có những khoản chi tiêu Các khoản chi tiêu này gọi là chi tiêu ngoại sinh tức là chi tiêu từ bên ngoài Bản chất của chi
Trang 16tiêu ngoại sinh không có nguồn gốc tại “bên trong”, tức là tất cả những nguồn tiền xuất phát từ người dân bản địa chi tiêu đều không tính vào vấn đề chi tiêu ngoại sinh Các nguồn tiền chi tiêu này được đưa từ nơi khác đến phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cho cuộc sống hàng ngày
Mỗi địa phương có điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện địa lý, điều kiện hành chính khác nhau Sự khác nhau đó tạo ra các đối tượng chi tiêu ngoại sinh nhiều hay ít, đặc điểm chi tiêu của các đối tượng như thế nào Thông thường các địa phương có trường học đặc biệt là các trường đại học, cao đẳng, hay có khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp; bệnh viện hoặc các đơn vị khác
sẽ thu hút nhiều đối tượng từ nơi khác đến học tập, làm việc và nó là cơ sở tạo
ra nguồn chi tiêu ngoại sinh
Các đối tượng khác nhau có các đặc điểm chi tiêu ngoại sinh khác nhau
Đối tượng chi tiêu ngoại sinh xuất phát từ các khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp, đơn vị hành chính có thể sẽ mang tiền từ nơi này về gia đình ở nơi khác để chi tiêu Trong khi đối tượng chi tiêu ngoại sinh xuất phát từ các trường
đại học hay các bệnh viện thì ngược lại Họ mang tiền từ nhà ở nơi khác đến nơi này để chi tiêu phục vụ nhu cầu học tập, lao động, khám chữa bệnh, sinh hoạt hàng ngày Vì vậy các đối tượng chi tiêu xuất phát từ trường học, bệnh viện tạo ra nguồn chi tiêu ngoại sinh lớn hơn các đối tượng khác
Nếu một vùng địa lý nào thu hút được nhiều đối tượng từ nơi khác đến, tức là đã tạo ra nhiều khoản chi tiêu ngoại sinh Các khoản chi tiêu ngoại sinh này có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế xã hội của vùng đó Nó tạo ra một lượng cầu rất lớn về các vấn đề ăn ở, sinh hoạt hàng ngày Đây là một cơ hội thuận lợi để người dân bản địa tạo ra những dịch vụ cung cấp đáp ứng những nhu cầu này Do đó người dân sẽ phát triển nhiều ngành nghề hơn, phát triển buôn bán nhiều hơn Khi nhu cầu quá lớn sẽ hấp dẫn cả những người dân ở nơi khác Họ chuyển đến nơi có cầu lớn để làm ăn buôn bán, họ mang theo cả những ngành nghề, kiến thức kinh doanh dịch vụ từ nơi khác đến
Trang 17Tóm lại, có thể nói, chi tiêu ngoại sinh sẽ thúc đẩy thương mại dịch vụ phát triển, trong đó có những ngành nghề kinh doanh dịch vụ vốn có của địa phương, nhưng cũng có những ngành nghề kinh doanh dịch vụ được du nhập
từ nơi khác đến Song cả hai lý do trên đều làm cho tình hình hoạt động dịch
vụ của địa phương ngày càng phát triển hơn, đa dạng hơn
2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho tiêu dùng
Chi tiêu cho tiêu dùng bao gồm rất nhiều khoản chi tiêu với số lượng chi tiêu tương đối lớn và thường xuyên Tuy nhiên, chi tiêu cho tiêu dùng của mỗi gia đình nhiều hay ít còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu cho tiêu dùng của mỗi người như sau:
a Giá cả
- Giá của hàng hoá và dịch vụ là các mức giá mà chúng ta thấy trên thị trường mỗi ngày và thường được gọi là giá cả hiện hành Có thể lấy được dữ liệu lịch sử về giá nhưng dự báo giá một cách nhất quán lại là một công việc rất khó khăn Giá của một món hàng là kết quả của hai tập hợp xung lực kinh tế: các xung lực kinh tế vĩ mô xác định mặt bằng giá chung và các xung lực cung cầu đối với món hàng đó khiến cho giá của nó thay đổi so với các hàng hoá và dịch vụ khác trên thị trường
- Người tiêu dùng khi mua hàng hoá thường chú ý tới giá và chất lượng hàng hoá Vì vậy phương châm đưa giá thấp cũng là một chiến lược kích thích tiêu dùng của người dân Chiến lược này thường được các công ty sử dụng rất nhiều, ở các cửa hàng cũng dùng những chiêu thức tương tự như khuyến mãi, bán hạ giá Kết quả sau khi dùng chiến lược trên thì lượng hàng hoá tiêu thụ
đã tăng lên rất nhiều Rõ ràng là giá cả hàng hoá đã ảnh hưởng rất lớn đến tiêu dùng của người dân
Trang 18b Sở thích và thị hiếu
- Thị hiếu là sở thích trong mọi lĩnh vực đời sống của các cá nhân và tập thể Sở thích của con người rất phong phú, nhiều lĩnh vực: đời sống, đạo đức, tâm hồn, Sở thích gần như là thói quen của con người trong sinh hoạt Con người có
sở thích tốt, sở thích xấu; sở thích lành mạnh, sở thích không lành mạnh
- Có thể nói sở thích của con người rất đa dạng và thay đổi hàng ngày, vì thế nhu cầu của con người cũng liên tục và ngày càng tăng, nhất là khi thu nhập tăng Tại sao một người lại mua sắm quần áo liên tục trong khi họ đang còn rất nhiều và đều đang rất tốt? Tại sao nhiều người trong chúng ta lại thường đổi điện thoại di động khi mà điện thoại của ta chưa có vấn đề gì cả?
Rõ ràng là vì sở thích và thị hiếu của người tiêu dùng mà hàng hoá trở nên sinh động và đa dạng hơn rất nhiều và chính những yếu tố đó đã kích thích rất lớn đến sức mua của người tiêu dùng
c Dự đoán của người tiêu dùng về các hoạt động trong tương lai
liên quan đến việc tiêu dùng Dự định của người tiêu dùng cũng làm ảnh hưởng rất lớn đến việc chi tiêu
Thí dụ: khi nước ta sắp gia nhập WTO, điều này sẽ làm cho một số hàng hoá giảm giá Vì thế người tiêu dùng đã hoãn lại một số dự định mua hàng đợi giá giảm sau khi gia nhập WTO
2.1.3 Đặc điểm của chi tiêu cho tiêu dùng
Chi tiêu trong gia đình rất đa dạng và phong phú, mỗi khoản chi tiêu
đều có tính toán mục đích, thời gian chi tiêu khác nhau Vì vậy, nó tạo ra những đặc điểm của từng khoản chi tiêu Trong chi tiêu cho tiêu dùng cũng vậy, nó là khoản chi tiêu thiết yếu và có những đặc điểm rất cơ bản
Chi tiêu cho tiêu dùng là khoản chi tiêu thường xuyên, diễn ra liên tục hàng ngày Dù các hộ gia đình có thu nhập thấp hay thu nhập cao cũng đều
Trang 19Chi tiêu cho tiêu dùng nhiều hay ít phụ thuộc vào thu nhập của gia
đình cao hay thấp, nếu thu nhập của gia đình tăng thì chi tiêu cho tiêu dùng cũng tăng
Cùng với sự phát triển đi lên của xã hội, nhu cầu chi tiêu nói chung
và chi tiêu cho tiêu dùng nói riêng cũng ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng
Ngày nay, hàng hoá trên thị trường rất đa dạng và phong phú nên người tiêu dùng được quyền lựa chọn nhiều hơn Điều đó làm cho vấn đề chi tiêu cho tiêu dùng khắt khe hơn, người tiêu dùng lựa chọn hàng hoá kỹ hơn, đòi hỏi giá trị sử dụng của hàng hoá cao hơn, đa năng hơn
2.1.4 Tính chất của chi tiêu cho tiêu dùng
Mỗi người, mỗi nghề nghiệp, mỗi địa điểm khác nhau sẽ có những quyết
định chi tiêu cho tiêu dùng khác nhau Vì sao lại như vậy? Bởi vì trong chi tiêu cho tiêu dùng có những tính chất riêng phù hợp với từng đối tượng cụ thể
Tính chất nghề nghiệp trong chi tiêu: xu hướng chi tiêu thường xoay quanh tính chất nghề nghiệp Khi làm nghề nào thì các khoản chi tiêu sẽ phục
vụ cho những nhu cầu thiết yếu phục vụ nghề đó Nếu đối tượng chi tiêu là sinh viên thì các khoản chi tiêu tập trung chủ yếu và các đồ dùng, phương tiện phục
vụ học tập Nếu đối tượng chi tiêu là công nhân thì các khoản chi tiêu lại phục
vụ mua sắm đồ dùng cho công việc của một công nhân
Chi tiêu mang tính mật độ cao: Nếu địa phương có mật độ dân số đông hoặc quy mô của địa phương lớn thì giá trị của chi tiêu cho tiêu dùng cũng cao, ngược lại với địa phương có mật độ dân số thấp hoặc quy mô nhỏ thì giá trị chi tiêu sẽ thấp hơn
Tính chất của mỗi vùng địa lý khác nhau quyết định tính chất của chi tiêu: Những vùng có nhiều cơ hội được tiếp xúc, giao lưu với điều kiện hiện
đại, với nhiều đối tượng thì cuộc sống có phần phát triển hơn những vùng ít có
điều kiện giao lưu, tiếp xúc với bên ngoài Qua đó tính chất của các khoản chi
Trang 20tiêu sẽ khác nhau Vùng phát triển, người dân có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn, mua sắm hàng hoá đắt tiền hơn, tiêu dùng loại hàng hoá, dịch vụ hiện đại hơn, với vùng kia thì ngược lại
Tính chất chi tiêu cá nhân trong chi tiêu công: Tại một số địa phương có những cơ sở, cơ quan thuộc sự quản lý của Nhà nước Các cơ quan này có những khoản mang tính trợ cấp, phụ cấp cho các đối tượng lao động, học tập (ví dụ như đối với sinh viên là các khoản học bổng) Các khoản này chính là chi tiêu công của cơ quan Các đối tượng được nhận tiền mang về nhà tiêu dùng cho những nhu cầu cá nhân Vì vậy mới có tính chất chi tiêu cá nhân trong các khoản chi tiêu công
2.1.5 Các thành phần của chi tiêu cho tiêu dùng
Người ta thường mong muốn một gia đình vợ chồng hoà hợp với nhau, gia đình kinh tế giàu có Muốn thực hiện được mục tiêu đó, phải xuất phát từ tình hình thực tế đời sống để lập kế hoạch cụ thể và khéo sắp xếp mọi chi tiêu trong gia đình của mình
Vậy sắp xếp chi tiêu trong gia đình như thế nào?
Mới xem qua vấn đề trên có vẻ như là rất giản đơn Thực ra, bên trong còn bao gồm nhiều tri thức cần thiết khác nữa, vì nếu xử lý tốt vấn đề này có thể tạo cơ sở cho gia đình đoàn kết hoà thuận, xử lý không tốt sẽ dẫn đến bất hoà, có khi là hiểm hoạ khó lường
Một gia đình hiện đại không nên chi tiêu vung tay quá trán, đầu tháng tiền tiêu hết, cuối tháng một đồng không có, ăn hết, dùng sạch hoặc cũng không nên gửi hết tiền dư thừa vào sổ tiết kiệm, không dám ăn, không dám tiêu Cho nên, chúng ta cần căn cứ vào tài sản gia đình nhiều hay ít, thu nhập cao hay thấp để định ra kế hoạch chi tiêu hợp lý nhất
Chi tiêu chủ yếu của gia đình gồm có 4 loại sau:
- Chi tiêu cố định: như tiền điện nước, thuê nhà ở
Trang 21- Chi tiêu cơ động: như mua quần áo, giao tiếp xã hội, tiền tiêu vặt
- Chi tiêu lớn: như mua hàng chất lượng cao như ti vi, tủ lạnh
Như vậy, trên cơ sở thu nhập đã được xác định cụ thể, gia đình cần bàn bạc để thống nhất kế hoạch chi tiêu khoa học nhất Ngoài loại chi tiêu thường ngày và tất yếu ra, số tiền dành lại cần đem gửi tiết kiệm để có thể giải quyết khi có việc cấp bách hoặc đóng góp vào những đầu tư thích đáng
để “tiền đẻ ra tiền”
2.2 Một số Nội dung liên quan đến dịch vụ
2.2.1 Một số quan điểm về dịch vụ, nhận dạng và phân nhóm dịch vụ
2.2.1.1 Một số quan điểm về dịch vụ
Thuật ngữ “dịch vụ” (service) lúc đầu được dùng để chỉ các hoạt động cung ứng về mặt hậu cần cho quân đội, sau đó dần dần đưa vào các lĩnh vực kinh tế và trở thành ngành kinh tế dịch vụ
Trên thế giới ngày nay, bên cạnh nền kinh tế với những sản phẩm có dáng hình vật chất cụ thể, đã xuất hiện một ngành kinh tế mà sản phẩm là dịch vụ
Cho đến nay, khái niệm dịch vụ vẫn chưa được xác định một cách chính xác với đầy đủ cơ sở khoa học, bởi vì việc thâu tóm các hoạt động phong phú
đa dạng và rất khác nhau về bản chất của dịch vụ trong sản xuất và đời sống là việc hết sức khó khăn và phức tạp Cuộc tranh luận để đi đến thống nhất về khái niệm dịch vụ của các nhà lý luận kinh tế vẫn đang tiếp diễn Không chờ
định nghĩa, trên thực tế dịch vụ đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược kinh tế – xã hội của nhiều quốc gia, góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới
“Theo các nhà lý luận kinh tế thì: kinh tế dịch vụ bao gồm những hoạt
động phục vụ với tư cách là một bộ phận lao động xã hội, những công việc cần thiết cho các giai đoạn của quá trình tái sản xuất (sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng) Dịch vụ là kết quả lao động có ích cho xã hội được thể hiện bằng những giá trị sử dụng nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời
Trang 22sống, trong đó nhiều dịch vụ có tác dụng trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng sản xuất, chất lượng sản phẩm, chất lượng đời sống vật chất và văn hoá của con người.” [19]
Kinh tế dịch vụ là phương tiện hữu hiệu để thực hiện phương châm “vì
con người”, tạo khả năng cho con người phát triển toàn diện
ở Việt Nam, thuật ngữ “dịch vụ” bắt đầu xuất hiện từ những năm 70 của thế kỷ 20 Cho đến nay cũng đã có rất nhiều các khái niệm khác nhau về dịch vụ
Theo Văn Thái thì: “Dịch vụ là các hoạt động kinh tế – xã hội hữu ích
có tạo ra giá trị mà không thuộc lãnh vực sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp khai thác, chế biến và xây dựng cơ bản” [41]
Trong cuốn giáo trình “Địa lý kinh tế” của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nêu khái niệm về dịch vụ như sau: “Dịch vụ là một khu vực kinh tế, nó bao gồm một tổ hợp rộng rãi các ngành nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của sản xuất, của đời sống vật chất và tinh thần của dân cư, đảm bảo sự hoạt động bình thường, liên tục, đều đặn và có hiệu quả của nền kinh tế” [31]
Theo các khái niệm trên, dịch vụ bao gồm rất nhiều ngành khác nhau như:
- Ngành giao thông vận tải
- Ngành thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông
- Ngành thương nghiệp (nội thương, ngoại thương)
Trang 232.2.1.2 Sự nhận dạng dịch vụ
a Theo tác dụng đối với quá trình sản xuất và đời sống, có thể phân chia thành dịch vụ có tính chất sản xuất (dịch vụ vật chất) và dịch vụ không có tính chất sản xuất (dịch vụ phi vật chất)
Dịch vụ vật chất nhằm di chuyển trong không gian, bảo quản hay phục hồi những giá trị sử dụng đã tạo ra trong lĩnh vực sản xuất vật chất Do đó chúng bảo tồn hoặc làm tăng số lượng lao động xã hội kết tinh trong của cải vật chất Lao động đó thuộc về lĩnh vực sản xuất của nền kinh tế, nó trực tiếp tham gia vào việc tạo ra thu nhập quốc dân
Dịch vụ vật chất bao gồm dịch vụ của ngành vận tải hàng hoá, thông tin liên lạc phục vụ sản xuất, cung ứng vật tư kỹ thuật và tiêu thụ, thương nghiệp (bộ phận gắn liền với việc tiếp tục quá trình sản xuất), ăn uống công cộng, dịch vụ sản xuất và sửa chữa giày dép, quần áo, vật phẩm phục vụ sinh hoạt, văn hoá
Dịch vụ phi vật chất bao gồm dịch vụ của các ngành giáo dục, thể dục thể thao, quản lý nhà nước, một số xí nghiệp phục vụ sinh hoạt của nhân dân (nhà tắm, xưởng giặt, hiệu cắt tóc…) Tất cả những dịch vụ đó đều nằm trong lĩnh vực không sản xuất của nền kinh tế
b Xét theo đối tượng phục vụ, có thể phân chia dịch vụ có tính chất xã hội và dịch vụ có tính chất cá nhân
Dịch vụ có tính chất xã hội là dịch vụ đáp ứng cho nhu cầu chung của toàn xã hội hay một nhóm người, nó thường do các nguồn phúc lợi xã hội chi trả Phần lớn các dịch vụ phục vụ đời sống vật chất, văn hoá, thẩm mỹ và tình cảm của con người là dịch vụ có tính chất cá nhân (còn gọi là dịch vụ sinh hoạt)
c Có thể phân chia thành dịch vụ trả tiền và dịch vụ không phải trả tiền (Nhà nước cung cấp cho nhân dân qua quỹ tiêu dùng xã hội) Cách phân chia này đang giảm dần ý nghĩa do những thay đổi về hình thức tổ chức và quan niệm về hạch toán kinh tế trong các hoạt động dịch vụ
Trang 24Thông qua sự nhận dạng dịch vụ, chúng ta hiểu rõ hơn cụ thể hơn về các dạng tồn tại dịch vụ để có hướng phát triển hợp lý hơn, cân bằng hơn Sự nhận dạng dịch vụ một cách chính xác sẽ tránh sự nhầm lẫn giữa hàng hoá và dịch vụ hay giữa các loại dịch vụ với nhau Nó là tiền đề giúp chúng ta phân loại được các loại dịch vụ khác nhau trong quá trình phát triển
b Nhóm các dịch vụ có liên quan với việc tổ chức quá trình lưu thông sản phẩm: có thể coi toàn bộ hoạt động thương mại là nằm trong dịch vụ theo nghĩa rộng, nhưng trên thực tế người ta chỉ coi các hoạt động thương nghiệp nhỏ có kết hợp việc gia công sửa chữa nhỏ cùng với các hoạt động hỗ trợ thương nghiệp (như đóng gói, bao bì, triển lãm, thông tin, quảng cáo, hội chợ, bảo hành hàng hoá sau khi bán) là thuộc kinh tế dịch vụ
c Nhóm các dịch vụ có liên quan với việc phục vụ đời sống con người rất rộng, như các dịch vụ giáo dục và đào tạo nghề nghiệp, văn hoá và nghệ thuật, y tế, thể dục thể thao, du lịch và giải trí, dịch vụ nhà ở và phục vụ công cộng cho dân cư thành phố, dịch vụ may mặc, ăn uống, công việc nội chợ, giặt
là, cắt tóc, nhà tắm, dịch vụ kết hôn, sửa sang sắc đẹp
d Nhóm các dịch vụ có liên quan đến việc sử dụng chất xám gần đây
được phát triển mạnh do việc nâng cao trình độ và sự gắn bó hữu cơ giữa khoa học – kỹ thuật với sản xuất và đời sống như dịch vụ tư vấn, pháp lý, xử lý thông tin, cung cấp phần mềm của máy tính, dạy ngoại ngữ…
e Nhóm các dịch vụ thu ngoại tệ gồm các dịch vụ như: dịch vụ du lịch quốc tế, thông tin liên lạc quốc tế, vận tải đường biển và cung ứng tàu biển
Trang 25quốc tế, xuất khẩu lao động, dịch vụ kiều hối, tín dụng quốc tế, thanh toán quốc tế, tài chính quốc tế
f Các dịch vụ khác còn lại như: dịch vụ bảo hiểm Nhà nước, gửi tiền tiết kiệm, chuyển tiền và qua bưu điện, dịch vụ hành chính…
Từ sự phân loại dịch vụ như trên, trong đề tài này, tác giả sẽ định hình
được loại dịch vụ định nghiên cứu bao gồm những loại dịch vụ nào Từ đó có hướng đi sâu nghiên cứu, phân tích, thu thập các thông tin liên quan đến loại dịch vụ cần nghiên cứu, tránh sự nghiên cứu dàn trải không có trọng tâm của
đề tài
2.2.2 Đặc điểm của dịch vụ
Quá trình tạo ra dịch vụ cũng đồng thời là quá trình thực hiện (tiêu dùng) chúng Dịch vụ thường không mang hình thái độc lập, kể cả trong trường hợp nó có tính chất sản xuất vật chất – nó hoà nhập hay gắn liền với một sản phẩm hay một giai đoạn nào đó Tất cả các dịch vụ có ích đều được thực hiện đồng thời với quá trình sản sinh ra nó nên lao động dịch vụ mang tính xã hội hoá cao
Phần lớn các dịch vụ đều có đối tượng đáp ứng là con người nên trong lĩnh vực dịch vụ thường diễn ra mối quan hệ trực tiếp giữa người phục vụ và người được phục vụ
Có nhiều trường hợp, hoạt động dịch vụ sau khi được thực hiện thì các yếu tố tạo ra dịch vụ không mất đi mà vẫn còn nguyên vẹn, nghĩa là quá trình này có thể lặp đi lặp lại nhiều lần (một điệu múa, một bài hát, một bài giảng, một lượng thông tin, việc khám bệnh, tư vấn pháp lý…)
Có nhiều dịch vụ không đòi hỏi nhiều vốn, vốn lớn, không cần có tổ chức cồng kềnh… nhưng có nhiều dịch vụ lại có sự gắn liền với sự phát triển
đồng bộ nhiều ngành kinh tế, đòi hỏi kết cấu hạ tầng đồng bộ về giao thông, thông tin liên lạc, năng lượng, nhà ở phải đi trước một bước
Dựa vào những đặc điểm trên của dịch vụ để có sự nghiên cứu, so sánh
sự khác nhau giữa ngành dịch vụ với một số ngành sản xuất khác Từ đó nhấn mạnh được vai trò dịch vụ mang lại cho người dân khi họ tham gia phát triển
Trang 26dịch vụ, cũng như đặc điểm cần đầu tư phát triển để người dân có hướng đầu tư vào dịch vụ một cách hợp lý, nhằm thu được hiệu quả sản xuất kinh doanh thương mại dịch vụ cao nhất
2.2.3 Vai trò của dịch vụ
Khi nền kinh tế càng phát triển, đời sống của người dân được nâng cao, kinh tế dịch vụ càng phát triển mạnh Đồng thời kinh tế dịch vụ phát triển mạnh lại có tác động trở lại làm cho kinh tế phát triển, đời sống nâng cao hơn Vậy dịch vụ có vai trò như thế nào trong nền kinh tế của một vùng, một quốc gia?
Các ngành dịch vụ phát triển mạnh có tác dụng thúc đẩy các ngành sản xuất vật chất, sử dụng tốt hơn nguồn lao động trong nước, tạo thêm việc làm cho người dân
Sự phát triển của các ngành dịch vụ còn cho phép khai thác tốt hơn các tài nguyên thiên nhiên và sự ưu đãi của tự nhiên, các di sản văn hoá, lịch sử, cũng như các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại để phục vụ cho con người
Trên thế giới, số người hoạt động trong các ngành dịch vụ đã tăng lên nhanh chóng trong mấy chục năm trở lại đây ở các nước phát triển, số người làm việc trong các ngành dịch vụ có thể trên 80% (Hoa Kỳ) hoặc từ 50 đến 79% (các nước khác ở Bắc Mỹ và Tây Âu) ở các nước đang phát triển thì tỷ
lệ lao động làm việc trong khu vực dịch vụ thường chỉ trên dưới 30% ở nước
ta, lao động trong khu vực dịch vụ mới chiếm hơn 25% lao động cả nước [39]
Trong phạm vi một quốc gia, vùng nào có dịch vụ phát triển mạnh sẽ làm thay đổi tình hình kinh tế – xã hội, đời sống của người dân nơi đó Đặc biệt ở khu vực nông thôn, khi dịch vụ đi vào đời sống của mỗi vùng, mỗi nhà, bộ mặt của nông thôn thay đổi đáng kể ở Việt Nam, có không ít những vùng nông thôn đang thay đổi từng ngày, cơ cấu ngành nghề, lao động trong nông thôn thay đổi theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng dịch vụ
Trang 27Một ví dụ điển hình về sự thay đổi theo xu hướng tích cực này, đó là thị trấn Quế, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam [45]
Thời gian qua, cùng với việc khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, thị trấn Quế đã nỗ lực củng cố, sắp xếp các loại hình kinh doanh thương mại (KD – TM) hoạt động trên địa bàn, mở rộng liên kết phát triển thêm nhiều loại hình dịch vụ mới nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của
địa phương, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân
Toàn thị trấn hiện có hơn 280 hộ kinh doanh lớn nhỏ Lượng hàng hoá lưu thông trên địa bàn khá lớn, đa dạng về chủng loại, mức độ giao lưu hàng hoá tương đối nhanh… Nhìn chung, hoạt động thương mại – dịch vụ ở thị trấn
đã và đang có những bước chuyển tích cực cả về số lượng và chất lượng Số hộ tham gia kinh doanh hàng năm tăng lên đáng kể Năm 2004, tổng mức luân chuyển hàng hoá ước khoảng vài chục tỷ đồng Doanh thu từ hoạt động thương mại dịch vụ đạt 6,6 tỷ đồng, tăng 300 triệu đồng so với năm 2003 Các hộ kinh doanh ở mức phải nộp thuế ở ngưỡng gần 170 hộ, chiếm gần 70% số hộ kinh doanh TM – DV, đưa mức thuế thu được trên địa bàn đạt khoảng 10 triệu
đồng/tháng với nhiều mặt hàng kinh doanh dịch vụ: ăn uống, giải khát, điện tử,
điện lạnh, may mặc, vật liệu xây dựng, internet
Đó là sự phát triển của một thị trấn ít nhiều chịu ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá Còn huyện ứng Hoà, thuộc Hà Nội ngày nay có một xã lại
được lợi thế của vị trí địa lý nên cũng có điều kiện thuận lợi để phát triển thương mại dịch vụ, đó là xã Hoà Nam [45]
Hoà Nam có lợi thế của tuyến đường 21B, thông thương giữa ứng Hoà,
Mỹ Đức và thành phố Hà Nội, nên bà con đã tranh thủ vị trí đắc địa để phát triển thương mại, dịch vụ Ngay từ đầu những năm 1990 của thế kỷ 20, phần lớn các hộ gia đình ở xã Hoà Nam đã vươn ra mặt đường làm ăn buôn bán
Đến năm 1995, nền kinh tế thị trường phát triển, người dân Hoà Nam đã mạnh dạn vay vốn ngân hàng và quỹ tín dụng để đầu tư làm ăn lớn hơn Các cửa
Trang 28hàng đại lý thi nhau mọc lên dọc trục đường trên địa bàn thúc đẩy hoạt động thương mại, dịch vụ diễn ra sôi động Dọc hai bên đường thuộc địa phận xã Hoà Nam giờ đây không chỉ còn buôn bán những mặt hàng nhỏ lẻ như trước kia, mà đã trở thành một thị tứ nhỏ, là đầu mối trung chuyển các mặt hàng hoá quả, lâm sản lớn phục vụ cho các thị trường khu vực và đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của các địa bàn thành phố Hàng lâm sản được các hộ dân thu mua và chế biến thành các sản phẩm gia dụng có giá trị kinh tế cao như giường, tủ, bàn, ghế, đồ thờ cúng tinh xảo, thẩm mỹ, cho hiệu quả kinh tế cao gấp 5- 7 lần so với bán gỗ thô Nhiều hộ dân đã mạnh dạn đầu tư hàng tỷ đồng để mua sắm ô tô chất lượng cao phục vụ nhu cầu vận tải trên địa bàn, khu vực lân cận Trên
địa bàn Hoà Nam hiện có 10 doanh nghiệp thì có 4 doanh nghiệp chuyên về vận tải Cùng với việc đẩy mạnh phát triển các loại hình buôn bán hoa quả, chế biến lâm sản, dịch vụ vận tải, các hộ dân Hoà Nam phát triển mạnh nghề xay xát gạo cung cấp cho thị trường Trên địa bàn xã có 20 máy xát gạo chuyên sản xuất gạo bán ra thị trường Kim Bôi (Hoà Bình) đem lại hiệu quả kinh tế cao Mặc dù là xã thuần nông không có nghề phụ nhưng thu nhập chính của người dân Hoà Nam từ thương mại, dịch vụ chiếm tới 73%, thu nhập từ nông nghiệp chỉ chiếm 27% Hiện nay, số hộ gia đình tại Hoà Nam tham gia vào các hoạt động thương nghiệp, dịch vụ chiếm tới 50% số hộ toàn xã Năm 2006, giá trị thu nhập từ dịch vụ, thương nghiệp đạt 29,2 tỷ đồng, tăng 11,5% so với năm trước Trong 6 tháng đầu năm 2007, giá trị thu nhập từ thương nghiệp, dịch vụ của xã Hoà Nam đã đạt 16,4 tỷ đồng, tằng gần 12% so với cùng kỳ năm 2006
2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển và phân bố các ngành dịch vụ
Nhận thức được dịch vụ có một vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh
tế xã hội của một địa phương Song không phải nơi đâu cũng có thể phát triển thương mại dịch vụ Nhiều địa phương có điều kiện thuận lợi để phát triển
Trang 29dịch vụ nhưng cũng nhiều địa phương không có cơ hội để phát triển Bởi vì sự phân bố và phát triển dịch vụ chịu sự ảnh hưởng của một số nhân tố sau:
Trình độ phát triển của nền kinh tế đất nước và năng suất lao động xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất vật chất có ảnh hưởng rất căn bản tới sự phát triển các ngành dịch vụ Năng suất lao động trong nông nghiệp, công nghiệp có cao, thì mới có thể chuyển một phần lao động sang làm dịch vụ Bởi vậy, quá trình phát triển và phân bố các ngành dịch vụ phải luôn cân đối với trình độ chung của sự phát triển kinh tế đất nước, cân đối với các ngành sản xuất vật chất
Số dân, kết cấu tuổi, giới tính, tỷ lệ gia tăng dân số và sức mua của dân cư sẽ đặt ra những yêu cầu về quy mô phát triển, nhịp độ tăng trưởng và cơ cấu của các ngành dịch vụ
Sự phân bố các ngành dịch vụ tiêu dùng gắn bó mật thiết với sự phân bố dân cư và cụ thể hơn nữa là các ngành dịch vụ cần phân bố ở ngay trong lòng các điểm dân cư (thành phố, thị xã, các làng bản ) Đây là điểm khác với công nghiệp: nhiều ngành công nghiệp được phân bố xa các khu dân cư, thậm chí ở những nơi xa xôi, hẻo lánh
Môi trường của các thành phố là môi trường nhân tạo, phần lớn nhu cầu của dân cư được đáp ứng nhờ các nguồn cung cấp từ bên ngoài vào (lương thực, thực phẩm, năng lượng, nước sinh hoạt ) Dân cư thành thị nói chung có mức sống cao, có “lối sống thành thị” Vì vậy, nhu cầu dịch vụ hết sức đa dạng, hoạt động dịch vụ cực kỳ phức tạp
Các thành phố cũng thường là các trung tâm công nghiệp, vì vậy, các loại dịch vụ kinh doanh phải được phát triển một cách tương xứng Nhiều thành phố, thị xã còn là các trung tâm chính trị của cả nước, của địa phương, vì vậy các dịch vụ về hành chính, văn hoá, giáo dục cũng được tập trung nhiều ở đây
Nói chung, các thành phố, thị xã là các trung tâm dịch vụ, các trung tâm phát triển có ý nghĩa đối với cả nước, với tỉnh hay với các địa phương lân cận
Trang 30Một số điểm dịch vụ như trường tiểu học, mẫu giáo, trạm y tế cần có bán kính phục vụ hẹp hơn so với các điểm dịch vụ về văn hoá nghệ thuật, các điểm du lịch, vui chơi giải trí, các trường trung học phổ thông, bệnh viện chuyên khoa
Truyền thống văn hoá, phong tục tập quán của dân cư có ảnh hưởng không nhỏ đến việc tổ chức dịch vụ
Đối với việc hình thành các điểm dịch vụ du lịch, sự phân bố các tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Trong các nhân tố trên, sự phát triển của khu công nghiệp là một nhân
tố đang được nói đến nhiều nhất hiện nay ở nơi nào có sự phát triển của khu công nghiệp, nơi đó có đời sống kinh tế xã hội phát triển rất mạnh Các loại hình thương mại dịch vụ phát triển rầm rộ để đáp ứng nhu cầu của người dân Tại thị trấn Mỹ Phước, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Phước đã có sự thay đổi rõ rệt từ khi có khu công nghiệp phát triển [17]
Thị trấn Mỹ Phước bây giờ người dân ngoài tỉnh đông hơn người dân
địa phương Dân số của thị trấn Mỹ Phước tính luôn công nhân nhập cư làm việc tại các nhà máy, xí nghiệp xấp xỉ 23.000 người Công nghiệp phát triển, người ngoài tỉnh đến làm ăn sinh sống nhiều nên dịch vụ cũng phát triển theo Nếu như trước đây, thị trấn Mỹ Phước chỉ có vài trăm hộ làm dịch vụ thì nay có hơn 1355 hộ kinh doanh với những ngành nghề khác nhau, trong đó kinh doanh nhà trọ phát triển nhanh nhất Con số thống kê chưa đầy đủ, toàn thị trấn có 254 khu nhà trọ với 2582 phòng cho thuê Không chỉ nhà trọ, có người còn bán đồ điện gia dụng, điện thoại di động… với thu nhập gần chục triệu đồng/tháng
Trước tốc độ phát triển khá nhanh về lĩnh vực TM – DV, cơ cấu kinh tế của thị trấn Mỹ Phước giai đoạn 2006 – 2010 bước đầu đã thay đổi Tỷ trọng
TM – DV từ 14 – 15%, đến nay đã lên 23%
Trang 312.3 Vai trò của chi tiêu ngoại sinh vμ sự phát triển dịch vụ
2.3.1 Mối quan hệ giữa chi tiêu và sự phát triển dịch vụ
Thực chất mối quan hệ giữa chi tiêu và sự phát triển dịch vụ chính là mối quan hệ giữa cung và cầu trong nền kinh tế thị trường Khi đời sống xã hội càng phát triển tạo ra một nhu cầu lớn về một loại hàng hoá dịch vụ nào
đó Khi thấy có nhu cầu về hàng hoá dịch vụ thì tự sẽ xuất hiện cung về hàng hoá dịch vụ đó
góp phần làm tăng lượng cầu một cách nhanh chóng Đặc biệt là cầu về hàng hoá, dịch vụ thiết yếu phục vụ nhu cầu hàng ngày của con người Nắm bắt
được nhu cầu này, một số người nhanh nhẹn sẽ chớp ngay cơ hội tạo ra nguồn cung nhằm thu về cho mình một khoản lợi nhuận
Trên thực tế, nếu tất cả chỉ là nhu cầu thì chưa thể tạo động lực cho cung phát triển Khi nhu cầu có khả năng thanh toán, tức là tạo ra cầu thì mới thúc đẩy sự phát triển của cung một cách nhanh chóng Vấn đề chi tiêu của người dân chính là cầu về các sản phẩm hàng hoá dịch vụ thiết yếu hàng ngày Khi đời sống tăng lên, chi tiêu của người dân cũng tăng theo, lúc đó cung sẽ càng phát triển nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu chi tiêu đó
Như vậy, có thể nói giữa chi tiêu và sự phát triển dịch vụ có mối quan
hệ tỷ lệ thuận với nhau Chi tiêu càng lớn thì càng tạo điều kiện cho thương mại dịch vụ phục vụ nhu cầu thiết yếu của cuộc sống phát triển mạnh và ngược lại
2.3.2 Vai trò của chi tiêu ngoại sinh và sự phát triển dịch vụ
Có 2 nguyên nhân làm tăng lượng cầu về hàng hoá dịch vụ phục vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày là:
Thu nhập của người dân tăng lên, dẫn đến tiêu dùng tăng trong đó có tiêu dùng cho sản phẩm hàng hoá thường ngày nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
Trang 32Khi thu nhập không thay đổi nhưng số lượng người dân tăng lên cũng kéo theo số lượng các khoản chi tiêu thường ngày tăng lên
Cả 2 nguyên nhân trên đều làm tăng lượng cầu Song nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân nội tại bên trong còn nguyên nhân thứ hai là nguyên nhân ngoại sinh bên ngoài Nguyên nhân thứ hai dẫn đến tăng chi tiêu ngoại sinh Theo quy luật của thị trường, khi chi tiêu tăng tức là cầu tăng dẫn đến cung sẽ phát triển để đáp ứng cầu đó
Như vậy chi tiêu ngoại sinh có vai trò thúc đẩy sự phát triển của thương mại dịch vụ ở nơi nào có nhiều đối tượng chi tiêu ngoại sinh, nơi đó thương mại dịch vụ chắc chắn sẽ phát triển vì nhu cầu về nhà ở, về mua sắm các đồ dùng thiết bị, hàng hoá phục vụ nhu cầu ăn uống hàng ngày là rất cần thiết Tuy nhiên, không phải nơi nào cũng có thể tăng đối tượng chi tiêu ngoại sinh Chỉ có những vùng tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện mới tập trung nhiều đối tượng chi tiêu ngoại sinh Vì các vùng này sẽ thu hút mọi người về làm việc, học tập Đây là nguyên nhân lý giải tại sao quanh các trường đại học, khu công nghiệp lại phát triển nhiều loại hình thương mại dịch vụ Vì ở đó có nhiều đối tượng chi tiêu ngoại sinh, tức là có cầu lớn và cung ắt sẽ phát triển theo cầu đó
ở nước ta có hai thành phố tập trung nhiều đối tượng chi tiêu ngoại sinh nhất Đó là thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Hai thành phố này tập trung nhiều trường đại học và cao đẳng vì vậy thu hút rất nhiều sinh viên
về học tập và nhiều cán bộ về làm việc Hiện nay, tình hình phát triển thương mại dịch vụ để phục vụ các đối tượng này đang rất phát triển Qua tìm hiểu, ta thấy thực tế phát triển dịch vụ nhà trọ phục vụ sinh viên ở Thành phố Hồ Chí
Minh như sau: [47]
Sài Gòn, thành phố của gần 8 triệu dân, đang trở lên bội thực trước làn sóng người ngoại tỉnh đổ về làm việc và học hành Đáng nói nhất là năm nay thành phố này có hơn 300.000 tân sinh viên trúng tuyển đại học, trong khi tại những ký túc xá dành cho sinh viên chỉ đáp ứng được gần 20%, nếu cộng thêm
Trang 33số lượng của những năm trước thì sẽ thành một con số khổng lồ Nhu cầu thuê chỗ trọ của sinh viên trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết
Nhiều gia đình cấp tập xẻ phòng ngăn vách để cho thuê Nhà trọ sinh viên trở thành thị trường kinh doanh béo bở, đẩy giá cho thuê lên tới đỉnh
điểm với điều kiện ăn ở nhếch nhác, dơ bẩn lại thiếu an toàn cho người sử dụng ở những “nhà trọ” này có khoảng 5 người sống trong một khoảng diện tích chừng 6 m2
Những nhà trọ quanh trường đại học Khoa học Tự nhiên, đại học Sư Phạm nằm trên đường Nguyễn Văn Cừ, An Dương Vương, Nguyễn Trãi, Trần Bình Trọng (quận 5) có mức giá tính theo đầu người từ 250 - 300 ngàn/người, khu vực hẻm 45 Đinh Tiên Hoàng, hẻm 18 Nguyễn Thị Minh Khai… gần trường đại học Khoa học Xã hội- Nhân Văn rồi đường D2, Ung Văn Khiêm… vẫn rất hút sinh viên dù chi phí phải bỏ ra để có được chỗ trọ hiếm khi dưới 350 ngàn đồng
Đó là tình hình phát triển chung về dịch vụ nhà trọ cho sinh viên Xong bên cạnh đó cũng có một số khu vực có những mô hình phát triển kết hợp thương mại dịch vụ phục vụ sinh viên rất hiệu quả, đem lại nhiều thuận lợi trong đời sống và học tập cho sinh viên Một ví dụ tại làng Đại học Quốc gia – Thành phố Hồ Chí Minh [18]
Không còn cảnh xập xệ và buồn tẻ về đêm như cách đây 2 năm, Làng
đại học Quốc gia TP HCM gần như lột xác với sự ra đời của Trung tâm Dịch
vụ đời sống Nếu trước đây, Sinh viên ngoại trú hầu như phải sinh hoạt trong
điều kiện hết sức thiếu thốn và tẻ nhạt, thì từ nay 20000 sinh viên đang trọ học tại Linh Trung sẽ được thưởng thức những đêm nhạc “cây nhà lá vườn” ngoài trời vào mỗi tuần
Hàng chục ngàn sinh viên làng đại học không còn phải đi xa mấy cây
số để mua sắm Siêu thị đầu tiên của Linh Trung nằm ngay trong khuôn viên của Trung tâm Dịch vụ đời sống và chỉ cách trung tâm ký túc xá Đại học Quốc gia hơn 100 mét nên rất thuận tiện cho nhu cầu mua sắm của sinh viên
Đến đây, sinh viên có thể mua từ nhu yếu phẩm, sách vở đến quần áo
Bên cạnh siêu thị sinh viên là một nhà ăn rất thoáng mát và rộng rãi với giá cả hết sức mềm, dao động từ 4000 đồng đến 7000 đồng/đĩa cơm
Trang 343 Đặc điểm địa bμn nghiên cứu vμ phương pháp
nghiên cứu
3.1 Đặc điểm địa bμn nghiên cứu
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển thị trấn Trâu Quỳ
Xã Trâu Quỳ được Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội công nhận là thị trấn vào ngày 01 – 04 – 2005 Tiền thân của xã Trâu Quỳ là Quang Trung I, khu đồn điền 16 ấp, thuộc Bắc Ninh ngày xưa Trước cách mạng tháng 8 năm
1945 thì phần lớn là dân tá điền nghèo khó, làm thuê, cấy mướn cho đồn điền Mác ty, chủ yếu là dân Hà Nam, Hưng Yên và một số tỉnh khác cùng nhau lập nghiệp sinh sống rải rác trên 9 thôn và một phố Trâu Quỳ Hoà bình lập lại dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, với chính sách giao đất cho người nông dân, cuộc sống cũng đỡ vất vả, khó khăn hơn Qua quá trình cải tạo xã,
hệ thống sông ngòi mương máng, thuỷ nông tương đối hoàn chỉnh, đất đai trù phú rất phù hợp cho phát triển cây công nghiệp và nuôi trồng các loại cây, con giống Ngày nay là một thị trấn điển hình về phát triển kinh tế của khu vực ngoại thành Hà Nội và có thể nói Trâu Quỳ là trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội của huyện Gia Lâm
3.1.2 Điều kiện tự nhiên
Phía Nam giáp xã Đa Tốn, Đông Dư
Phía Tây giáp xã Cự Khối, Thạch Bàn
Trang 35Thị trấn có điều kiện thuận lợi về giao thông với tuyến đường quốc lộ 5A chạy qua và thị trấn còn gần kề với ga Phú Thuỵ nên tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu, trao đổi kinh tế, văn hoá trong vùng
Mặt khác thị trấn còn nằm gần các trung tâm nghiên cứu và giáo dục lớn như: Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Viện nghiên cứu Rau – Quả Gia Lâm – Hà Nội Đây là nơi thu hút rất nhiều đối tượng từ bên ngoài vào học tập, lao động và sinh sống Nó tạo tiền đề thúc đẩy kinh tế thị trấn Trâu Quỳ ngày càng phát triển
Thị trấn Trâu Quỳ còn là nơi tập trung các cơ quan kinh tế – chính trị của huyện Gia Lâm như UBND huyện, doanh trại quân đội, các bệnh viện… Vì vậy, cơ hội và điều kiện để phát triển kinh tế – xã hội của thị trấn rất thuận lợi
Tóm lại, vị trí địa lý của thị trấn có rất nhiều ưu điểm để phát triển kinh
tế – văn hoá - xã hội Do đó những năm gần đây, thị trấn đang có những bước phát triển mạnh vượt bậc, bộ mặt kinh tế – xã hội thay đổi nhanh chóng, đời sống của người dân được nâng cao
3.1.3 Điều kiện kinh tế – xã hội
3.1.3.1 Tình hình sử dụng đất đai của thị trấn Trâu Quỳ
Đất đai là điều kiện quan trọng, nó tham gia vào mọi hoạt động của con người Do đó việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên đất đai đòi hỏi phải hợp lý và hiệu quả Mỗi địa phương có những điều kiện thuận lợi khác nhau về
địa hình, địa chất và phương hướng phát triển kinh tế xã hội Thị trấn Trâu Quỳ cũng không ngoại lệ
Với tổng diện tích đất tự nhiên là 724,8 ha, trong đó bao gồm các loại
đất sau: đất nông nghiệp, đất chuyên dùng và đất ở Từ khi xã Trâu Quỳ được lên cấp thị trấn và đi liền với đó là quá trình đô thị hoá Dưới tác động của quá trình đô thị hoá đã làm cho cơ cấu đất đai của thị trấn có sự biến động đáng kể
được thể hiện qua bảng 3.1
Trang 36Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của thị trấn Trâu Quỳ từ 2005 - 2007
Trang 37Đất nông nghiệp có xu hướng giảm xuống, nguyên nhân do quá trình
đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ từ năm 2003 đến nay Nhiều diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi để xây dựng khu chung cư, nhà văn hoá, bệnh viện
Đất phi nông nghiệp có xu hướng tăng lên, trong đó đất ở và đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp cũng nằm trong xu hướng tăng này Tuy tốc độ tăng của 2 loại đất này chưa mạnh, song qua đây cho thấy sự thay đổi trong cơ cấu sản xuất của thị trấn Trâu Quỳ Người dân đã giảm dần tỷ trọng nông nghiệp chuyển sang tỷ trọng sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp Đây là một
xu thế tất yếu phù hợp với đặc điểm kinh tế – xã hội của thị trấn Trâu Quỳ
Trong khi các đối tượng ngoại sinh đang được thu hút về thị trấn ngày càng đông thì việc người dân chuyển đổi cơ cấu sản xuất sang làm ngành nghề
và kinh doanh thương mại dịch vụ, để phục vụ nhu cầu của các đối tượng ngoại sinh là hoàn toàn hợp lý và đáng được khuyến khích
3.1.3.2 Tình hình dân số và lao động
Những năm qua, thị trấn Trâu Quỳ đã có nhiều thay đổi, chất lượng cuộc sống được nâng cao rất nhiều Cùng với quá trình đô thị hoá, thị trấn Trâu Quỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế thương mại dịch
vụ Thị trấn đang ngày càng thu hút nhiều đối tượng chi tiêu ngoại sinh từ nơi khác đến học tập, làm việc và sinh sống Chính điều này đã tác động phần nào
đến tình hình dân số và lao động của thị trấn
Qua bảng 3.2 cho thấy, từ năm 2005 đến 2007, trong ba nhóm hộ thì tỷ
lệ hộ nông nghiệp giảm, còn hộ phi nông nghiệp và hộ kiêm lại có xu hướng tăng nhanh Do đó nhân khẩu nông nghiệp và lao động nông nghiệp cũng giảm mạnh; khẩu phi nông nghiệp, khẩu kiêm và lao động phi nông nghiệp cũng như lao động kiêm có sự tăng lên nhanh chóng
Trang 38Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của thị trấn Trâu Quỳ từ 2005 - 2007
Trang 39Nguyên nhân của sự thay đổi này do: Những năm gần đây, Nhà nước có chủ trương thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ cho quá trình đô thị hoá nên làm cho những hộ thuần nông giảm xuống Nhiều hộ nông dân có đất sản xuất nông nghiệp ít đi nên họ chuyển sang làm thêm một số nghề khác để tăng thu nhập vì thế hộ kiêm có xu hướng tăng nhanh Mặt khác nhiều hộ nông dân thấy sản xuất nông nghiệp không hiệu quả bằng làm các nghề khác nên họ cho người khác mượn đất ruộng còn họ chuyển hẳn sang làm nghề khác như: kinh doanh buôn bán, đi làm công nhân, làm thuê, sản xuất tiểu thủ công nghiệp Do đó các hộ phi nông nghiệp ngày một tăng lên Từ đó lao động phi nông nghiệp và lao động kiêm tăng lên
Bình quân chung số khẩu trong mỗi hộ có khoảng 4 người, trong đó có 3 lao động Qua đây cho thấy, tình hình dân số của thị trấn Trâu Quỳ khá ổn định Người dân có nhận thức tương đối đúng đắn về vấn đề kế hoạch hoá gia đình
Xét về cơ cấu, tỷ lệ hộ phi nông nghiệp, khẩu phi nông nghiệp và lao
động phi nông nghiệp khá cao, chiếm trên 50% trong tổng số và có xu hướng tăng mạnh qua từng năm Như vậy, có thể nói người dân thị trấn Trâu Quỳ
đang thoát ly dần ra khỏi nông nghiệp Họ chuyển sang làm ngành nghề, kinh doanh thương mại dịch vụ khá lớn
Trong khi thị trấn Trâu Quỳ có điều kiện thuận lợi rất lớn để phát triển thương mại dịch vụ thì vấn đề người dân chủ động chuyển đổi cơ cấu lao
động, cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển thương mại dịch vụ sẽ đem lại rất nhiều hiệu quả cả về mặt kinh tế và xã hội Nó không những giúp đời sống của người dân nơi đây thay đổi mà còn đóng góp đắc lực vào sự phát triển chung của toàn thị trấn
3.1.3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của thị trấn
Qua bảng 3.3, nghiên cứu về kết quả sản xuất kinh doanh của thị trấn những năm gần đây cho thấy, tổng giá trị sản xuất kinh doanh của các ngành trong 3 năm liên tục tăng
Trong đó mức đóng góp của ngành nông nghiệp năm 2007 là 17,5 tỷ đồng chiếm tỷ trọng thấp nhất, không ổn định và có xu hướng giảm Trong nội bộ ngành
Trang 40nông nghiệp thì ngành chăn nuôi không ổn định nhất vì các năm gần đây liên tục xảy ra dịch cúm gia cầm, bệnh lở mồm long móng, bệnh tai xanh ở lợn làm cho giá trị của ngành chăn nuôi giảm mạnh, năm 2005 giá trị ngành chăn nuôi là 7,8 tỷ
đồng đến năm 2007 là 6,0 tỷ đồng, giảm bình quân là 12,6% Ngành trồng trọt có
ổn định hơn vì mặc dù diện tích đất nông nghiệp bị giảm song người dân đã nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu cây trồng nên đem lại năng suất và giá trị sản xuất cao, năm 2007 đạt 10,8 tỷ đồng, đóng góp 15,1% trong tổng giá trị sản xuất Một số xu hướng chuyển đổi được người dân áp dụng nhiều là sản xuất cây giống cây ăn quả, cây cảnh có giá trị sản xuất cao Chính nó đã làm giá trị sản xuất ngành nông nghiệp vẫn tăng qua các năm Ngành thuỷ sản mới được đầu tư quan tâm nên tuy có phát triển song chưa nhiều, giá trị sản xuất tăng không đáng kể
Mức đóng góp của các ngành khác như thương mại dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản và giao thông vận tải rất cao và có xu hướng tăng mạnh qua các năm Trong đó ngành thương mại dịch vụ tăng tương đối nhanh, năm 2005 giá trị sản xuất ngành này là 22,3 tỷ đồng thì đến năm 2007 đã đạt là 25,7 tỷ đồng, đóng góp 35,7% về cơ cấu vào tổng giá trị sản xuất, bình quân tăng 7,3% Có sự thay đổi như vậy
là do người nông dân thấy sản xuất cây lúa đem lại hiệu quả thấp trong khi đất nông nghiệp ngày càng giảm đi nên nhiều hộ đã chuyển sang làm dịch vụ như bán hàng tạp hoá, xây nhà cho sinh viên trọ, mở quán ăn và các dịch vụ khác làm cho giá trị đóng góp vào tổng giá trị sản xuất kinh doanh của thị trấn tăng lên rất cao qua các năm
Có thể nói sự thay đổi về mức đóng góp như trên rất phù hợp với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá đang diễn ra rất mạnh mẽ
Do sự tăng lên của tổng giá trị sản xuất kinh doanh đã làm cho tỷ lệ tổng giá trị sản xuất kinh doanh/khẩu và tỷ lệ tổng giá trị sản xuất kinh doanh/hộ có xu hướng tăng qua các năm, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, kinh tế của địa phương ngày càng phát triển