luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
TRƯờNG ĐạI HọC NÔNG NGHIệP Hà NộI
Nghiên cứu ảnh HƯởNG của nhiệt độ, độ muối lên tỷ
lệ sống và sinh trưởng của ngao (metrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn chuyển từ ấu trùng sang sống đáy trong sản xuất giống nhân tạo
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ5 đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Đặng Thị Thanh
Trang 3Lời cảm ơn
Trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp tôi đ nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ đó
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn tới Trường Đại học nông nghiệp 1, Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1, Ban quản lý dự án NORAD, ban lnh
đạo, tập thể Trung tâm Khuyến ngư Hải phòng đ tạo điều kiện cho tôi được tham gia khoá học này
Tôi xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô đ tận tình truyền đạt cho tôi những kiến thức tâm huyết không chỉ trên lý thuyết mà còn trong cả thực tế
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Quyền, Ks Hà
Đức Thắng đ trực tiếp giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thành đề tài tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới cán bộ công nhân viên Trại sản xuất giống hải sản Đông Minh – Tiền Hải – Thái Bình đ giúp đỡ, hỗ trợ tôi hoàn thành các nội dung của đề tài
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, cùng bạn bè, đồng nghiệp đ động viên, khuyến khích tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn ! Bắc Ninh, tháng năm 2008
Tác giả
Đặng Thị Thanh
Trang 4Mục lục
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
1 Mở đầu 1
1.1 Mục tiêu của đề tài 2
1.2 Nội dung nghiên cứu của đề tài 2
2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
2.1 Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học 3
2.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu tạo 3
2.1.2 Đặc điểm phân bố 5
2.1.3 Tập tính sống 6
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng và dinh dưỡng 7
2.1.5 Đặc điểm sinh sản 9
2.1.6 Khả năng thích ứng với môi trường 12
2.1.7 Địch hại và bệnh ký sinh 14
2.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống ngao trên thế giới và Việt nam 15
2.2.1 Trên thế giới 15
2.2.2 ở Việt Nam 18
3 Phương pháp nghiên cứu 21
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
3.1.1 Thời gian nghiên cứu: 21
3.1.2 Địa điểm thực hiện: Trại sản xuất giống hải sản Đông Minh –
Tiền Hải – Thái Bình 21
3.2 Đối tượng nghiên cứu 21
3.3 Vật liệu nghiên cứu 21
3.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm 22
Trang 53.4.1 Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của độ muối 22
3.4.2 Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ 23
3.5 Phương pháp xác định các chỉ tiêu cần theo dõi 24
3.5.1 Phương pháp theo dõi tốc độ tăng trưởng của ấu trùng 24
3.5.2 Phương pháp xác định tỷ lệ sống 25
3.5.3 Phương pháp theo dõi thời gian biến thái của ấu trùng chữ D đến
ấu trùng Umbo 25
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 25
4 Kết quả nghiên cứu 26
4.1 ảnh hưởng của độ muối lên tỷ lệ sống và sinh trưởng của ngao 26
4.1.1 Một số yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 26
4.1.2 Kết quả theo dõi tỉ lệ sống (%) của ấu trùng ở các thang độ muối
khác nhau 28
4.1.3 Thời gian biến thái của ấu trùng ngao từ giai đoạn chữ D đến
giai đoạn hậu Umbo ở các ngưỡng độ muối khác nhau 31
4.1.4 Kết quả theo dõi tốc độ tăng trưởng của ấu trùng ngao ở các các
thang độ muối khác nhau 32
4.2 ảnh hưởng của nhiệt độ lên tỷ lệ sống 34
4.2.1 Một số yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 35
4.2.2 Kết quả theo dõi tỉ lệ sống (%) của ấu trùng ở các ngưỡng nhiệt độ 36
4.2.3 Thời gian biến thái của ấu trùng ở các thang nhiệt độ 38
4.2.4 Kết quả theo dõi tốc độ tăng trưởng của ấu trùng ngao giai đoạn ấu trùng chữ D ủến giai ủoạn hậu Umbo ở các các nhiệt độ khác nhau 39
V: Kết kuận và đề xuất ý kiến 42
Tài liệu tham khảo 43
Phụ lục 47
Trang 6Danh mục các chữ viết tắt
Stt Ký hiệu Chữ viết đầy đủ
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 3.1 Một số yếu tố môi trường nước trong bể ương ở các thang
độ muối 27
Bảng 3.2: Tỷ lệ sống ấu trùng (%) ở các thang độ muối khác nhau 28
Bảng 3.3 Thời gian biến thái (ngày) của ấu trùng ở các ngưỡng độ muối
khác nhau 31
Bảng 3.4 Kết quả theo dõi tốc độ tăng trưởng của ấu trùng ở các thang
độ muối (àm) 32
Bảng 3.5 Phần trăm tăng trưởng và tăng trưởng riêng theo ngày của
ấu trùng ở các thang độ muối(%) 34
Bảng 3.6 Giá trị trung bình của một số yếu tố môi trường nước trong
bể ương ở các thang nhiệt độ 35
Bảng 3.7: Tỷ lệ sống (%) của ấu trùng ở các thang nhiệt độ khác nhau 36
Bảng 3.8 Thời gian biến thái(ngày) của ấu trùng ngao từ giai đoạn
ấu trùng chữ D ủến giai ủoạn hậu Umbo ở các thang nhiệt độ 38
Bảng 3.9 Kết quả theo dõi tốc độ tăng trưởng của ấu trùng ở các thang
nhiệt độ (àm) 39
Bảng 3.10 Kết quả theo dõi tốc độ tăng trưởng của ấu trùng ở các thang
nhiệt độ (àm) 40
Trang 91 mở đầu
Trong chiến lược phát triển Nuôi trồng Thuỷ sản hiện nay, động vật thân mềm được xem là đối tượng ưu thế và đầy triển vọng ĐVTM đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, ổn định sinh thái, là thành viên không thể thiếu trong nghề nuôi bền vững Do đó, ĐVTM được coi là đối tượng chủ lực cho phát triển nuôi biển trong thế kỷ XXI Theo thống kê của FAO (2006) tổng sản lượng ĐVTM nuôi tính đến năm 2004 là 13,25 triệu tấn, chiếm 22,3% tổng sản lượng thuỷ sản nuôi
Ngao Bến Tre (Meretrix lyrata) là loài ĐVTM 2 mảnh vỏ (Bivalvia) ở nước ta chúng phân bố tự nhiên tại khu vực vùng triều cửa sông ven biển các tỉnh miền tây nam bộ như : Gò Công Đông (Tiền Giang), Cầu Ngang, Duyên Hải (Trà Vinh), Bình Đại, Ba Tri, Thạch Phú (Bến Tre), Vĩnh Châu (Sóc Trăng) [4] Từ năm 1999 trong việc tìm kiếm đối tượng nuôi phù hợp với
điều kiện khí hậu của miền bắc, ngao Bến Tre được người dân đưa vào nuôi thử nghiệm ở một số vùng cửa sông ven biển và đ5 cho kết quả tốt
Ngao Bến Tre là đối tượng đang được người dân quan tâm bởi giá trị dinh dưỡng cao, thịt thơm ngon có nhiều chất dinh dưỡng trong đó Prôtêin chiếm 15,66%, Lipit chiếm 3,43%, khoáng chiếm 3-13% ( Nguyễn Chính và CTV) năm 1996 và đang là một trong những mặt hàng hải sản có giá trị xuất khẩu cao Đặc biệt tháng 10/2008 hội đồng bảo tồn biển quốc tế vừa cấp giấy chứng nhận tiêu chuẩn thương hiệu MSC (Marine Sterwarship Council)cho ngao Bến tre trở thành đặc sản biển đầu tiên của cả khu vực Đông nam á Sự công nhận này sẽ giúp con ngao Bến Tre có nhiều cơ hội xuất khẩu sang nhiều thị trường trong khu vực và trên thế giới (http://www.fistenet.gov.vn)
Nuôi ngao nước ta chủ yếu theo phương thức quảng canh cải tiến, dựa vào nguồn giống tự nhiên Việc khai thác con giống một cách ồ ạt, thiếu trách
Trang 10nhiệm đ5 làm cho nguồn lợi tự nhiên ngày càng suy giảm đe doạ đến sự tồn vong của loài Vì vậy, vấn đề bức thiết được đặt ra hiện nay là nghiên cứu sản xuất nhân tạo giống ngao Bến Tre để đáp ứng nhu cầu nuôi của người dân và góp phần vào việc bảo vệ nguồn lợi tự nhiên Tuy nhiên cho đến nay, các nghiên cứu mới chỉ thành công ở qui mô thí nghiệm, hiệu quả chưa cao, thường không ổn định khi triển khai sản xuất đại trà ở nước ta nghiên cứu sản xuất giống ngao Bến Tre đ5 thực hiện bởi Nguyễn Đình Hùng và CTV (2002) nhưng tỷ lệ sống của ấu trùng đến giai đoạn xuống đáy còn thấp (8 – 24%), tỷ lệ sống ấu trùng chưa cao, năng suất bể ương không ổn định Nguyên nhân có nhiều trong đó hai yếu tố ảnh hưởng trực tiếp là nhiệt độ và độ muối lại chưa được xác định Xuất phát từ thực tế trên và nhằm bổ sung thêm những thông tin cần thiết để ổn định công nghệ sản xuất giống ngao Bến Tre chúng tôi tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của độ muối và nhiệt độ lên tỷ lệ sống và sinh trưởng của ngao giai đoạn chuyển từ ấu trùng sang sống đáy trong sản xuất giống nhân tạo"
1.1 Mục tiêu của đề tài
Xác định ngưỡng nhiệt độ, độ muối thích hợp của ngao trong giai đoạn chuyển từ ấu trùng sang sống đáy, góp phần hoàn thiện qui trình sản xuất giống ngao nhân tạo và phát triển nghề nuôi ngao hiệu quả và bền vững 1.2 Nội dung nghiên cứu của đề tài
- Theo dõi tỷ lệ sống và sinh trưởng của ngao trong giai đoạn chuyển từ ấu trùng sang sống đáy ở các mức độ muối khác nhau
- Theo dõi tỷ lệ sống và sinh trưởng của ngao trong giai đoạn chuyển từ ấu trùng sang sống đáy ở các mức nhiệt độ khác nhau
Trang 112 tổng quan tài liệu nghiên cứu 2.1 Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học
2.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu tạo
* Vị trí phân loại
Theo một số công trình nghiên cứu về Ngao Bến Tre của một số tác giả trong nước và nước ngoài như: Theo Nguyễn Chính (1996) [5], Trương Quốc Phú (1999)[16], Hà Đức Thắng và ctv (2005)[18], David reid (1999)[26] thì vị trí phân loại của Ngao Bến Tre như sau:
Giống ngao: Meretrix
Loài ngao: Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) Tên tiếng Anh : Hard Clam, Lyrate Asiatic
Tên khoa học : Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)
Tên tiếng việt : Miền Bắc ngao Bến Tre, miền Nam nghêu Bến Tre Trong các công trình nghiên cứu trước đây về đặc điểm hình thái, phân loại của ĐVTM có một số công trình mô tả một số loài thuộc giống Meretrix như: Walter (1945) mô tả ba loài Meretrix lusoria Chem, Meretrix petechialis
Trang 12Lam, Meretrix tripla; Pierre (1952) và Anuwat (1995) đ5 mô tả 1 loài Meretrix meritrix (Linnaeus); Anuwat (1995) mô tả loài Meretrix lusoria Có một số nghiên cứu về loài ngao Meretri lyrata nhưng chỉ mô tả sơ lược như các nghiên cứu của Habe và Sadao (1996), Nguyễn Chính (1996) Đến năm
1999, Nguyễn Quốc Phú đ5 nghiên cứu chi tiết hơn về hình thái và cấu tạo trong của ngao [17]
Hình1.1 Hình thái cấu tạo ngoài của ngao Bến Tre Ngao Bến Tre có hình dạng ngoài rất giống ngao dầu (Meretrix meretrix), nhưng kích thước nhỏ hơn Ngao một năm tuổi có chiều dài trên 25 mm, khối lượng >3g (Trương Quốc Phú, 1996) [18] Rìa lưng phần vỏ hình tam giác, phần rìa bụng hình tròn, 2 vỏ bằng nhau dày và chắc, chiều dài vỏ lớn hơn chiều cao
vỏ Đỉnh vỏ hơi lệch về phía trước và nhô lên uốn cong về phía bụng, mặt vỏ phồng lên, các gờ sinh trưởng rõ ràng Màu sắc mặt vỏ ngoài đa phần là màu trắng sữa, đôi khi lẫn màu hơi nâu, tùy thuộc môi trường b5i nuôi
Mặt trong của vỏ có màu trắng, vết cơ khép vỏ trước nhỏ hình bán nguyệt, vết cơ khép vỏ sau to hình bầu dục (Nguyễn Chính, 1996) Hai tấm màng áo mỏng bao phủ toàn bộ nội tạng của ngao Phía mép của 2 màng áo
Trang 13gần bụng dính lại hình thành 2 vòi nước (vào và ra) hay còn gọi là vòi xi phông Vòi nước vào nằm ở phía bụng, vòi nước ra nằm ở phía lưng Vòi xi phông của ngao to và ngắn Chân ngao to hình lưỡi dùng để đào cát, chân nằm
ở phía bụng Ngao có miệng là một r5nh nằm ngang ở phía trước cơ thể, trong miệng có tấm môi ngoài, môi trong và tiêm mao để vận chuyển và lựa chọn thức ăn Mang là cơ quan hô hấp chủ yếu Ngoài ra các vi mạch trên môi và màng áo ngoài cũng có tác dụng bổ trợ cho quá trình hô hấp
2.1.2 Đặc điểm phân bố
2.1.2.1 Phân bố theo địa lý
Trên thế giới họ ngao có tới 500 loài, phân bố rộng khắp ở vùng b5i triều ven biển của các nước ôn đới và nhiệt đới (Nguyễn Hữu Phụng và Võ Sỹ Tuấn, 1996) trong đó ngao phân bố chủ yếu ở vùng biển ấm tây Thái Bình Dương (Nam Đài Loan) (Nguyễn Chính, 1996) [4], vùng biển nhiệt đới và á nhiệt đới (Nguyễn Thế ánh và CTV, 1999) [1]
ở Việt Nam, ngao Bến Tre phân bố chủ yếu ở vùng biển phía nam như
ở gò Công Đông (Tiền Giang), Bình Đại, BaTri, Thạnh Phú (Bến Tre), Cầu Ngang, Duyên Hải (Trà Vinh), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Bạc Liêu, ven biển Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh) (Nguyễn Chính, 1996) Hiện nay do quá trình di nhập giống ra miền Bắc nên đ5 xuất hiện ngao ở các b5i ven biển, cửa sông của các tỉnh phía bắc như Thái Bình, Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh Các tỉnh cho sản luợng lớn như: Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An
2.1.2.2 Phân bố theo sinh thái
Ngao là loài sống vùi phân bố trên các b5i biển, eo vịnh có đáy là cát pha bùn Theo nghiên cứu chỉ tiêu môi trường của ngao ở ĐBSCL cho thấy ngao thường phân bố nhiều ở nơi nền đáy có tỷ lệ cát 68 - 75%, tỷ lệ sét 21 - 31%,
đất thịt có tỷ trọng thấp < 7% (Nguyễn Văn Hảo và CTV, 1999) [8] B5i ngao phân bố thường ở gần cửa sông có sóng gió nhẹ, có nguồn nước ngọt chảy
Trang 14vào Chúng phân bố từ vùng trung triều, hạ triều, cho đến độ sâu 1-2m nước,
có khi bắt gặp ở cả độ sâu 2-4m (Nguyễn Chính, 1996) [5] Trong tự nhiên chưa gặp loài này ở đáy bùn nhuyễn hay bùn cát (Nguyễn Thế ánh và CTV, 1999) [1]
Ngao là loài thân mềm 2 mảnh vỏ rộng nhiệt: Chúng có thể sống trong điều kiện nhiệt độ 5 – 35oC, khoảng nhiệt độ thích hợp cho ngao phát triển là 28-310C, tốc độ dòng chảy 0,1 - 0,25 m/s, hàm lượng oxy hoà tan khoảng 4 - 6 mg/l, pH 6 –
9, khoảng độ muối phù hợp cho ngao phát triển là 22-250/00 (Rubi, 2000) (trích theo 19)
2.1.3 Tập tính sống
Ngao là loài sống đáy nhưng khi gặp điều kiện không thuận lợi như nhiệt độ giảm, độ muối thay đổi đột ngột chúng thường nổi lên khỏi đáy và di chuyển đi nơi khác có điều kiện thích hợp hơn
Theo Trương Quốc Phú (1999) khi độ muối giảm xuống 50/00 thì hầu hết ngao di chuyển tới vùng mới nơi có độ muối cao hơn, b5i ngao có xu hướng dịch chuyển từ bờ ra xa vào mùa mưa và mùa khô có xu hướng tiến lại gần bờ nên diện phân bố của ngao vào mùa khô rộng hơn so với mùa mưa Ngao nói riêng và ĐVTM hai mảnh vỏ nói chung, trong quá trình sống đều trải qua 2 giai đoạn chính
- Giai đoạn ấu trùng sống trôi nổi và sống đáy: Sau khi trứng nở chuyển sang giai đoạn ấu trùng phù du gồm các giai đoạn nhỏ: Trochophore, Veliger
và ấu trùng Umbo Giai đoạn này, ấu trùng trôi nổi trong nước Sự phân bố của chúng phụ thuộc rất lớn vào dòng chảy và thuỷ triều Kết thúc giai đoạn ấu trùng phù du là giai đoạn sống đáy Lúc này đ5 hình thành chân, màng áo và cơ khép vỏ
- Giai đoạn trưởng thành: Giai đoạn trưởng thành Ngao sống vùi mình trong đáy Để hô hấp và lấythức ăn trong nước, ngao thò vòi lên mặt b5i Vòi
Trang 15ngao ngắn nên ngao không thể chui sâu, thường chỉ cách đáy vài cm Vào mùa lạnh ngao vùi mình xuống sâu, nhưng không quá 10 cm [1],[16],[25]
Khi gặp điều kiện môi trường bất lợi, ngao có thể tiết ra chất nhầy để giảm nhẹ tỷ trọng cơ thể và nổi lên mặt nước và theo dòng nước triều di chuyển tới nơi khác Khi di chuyển, ngao có thể nổi lên cách mặt đáy tới 1,2 m ngao thường di chuyển vào mùa hạ, mùa thu Mùa hạ ngao sống ở vùng triều cao, thời gian chiếu nắng dài làm cho b5i cát nóng lên ngao phải di chuyển theo nước triều rút xuống vùng sâu hơn Mùa thu nhiệt độ hạ dần, gió thổi liên tục làm cho nhiệt độ giảm nhanh ngao cũng phải di chuyển xuống vùng sâu Mặt khác sự di chuyển cũng liên quan tới sinh sản, khi ngao thành thục sinh dục thường di chuyển nhiều hơn thời kỳ tiền trưởng thành[9], [25]
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng và dinh dưỡng
2.1.4.1 Đặc điểm sinh trưởng
Sự sinh trưởng của nhuyễn thể hai mảnh vỏ nói chung và ngao nói riêng
có sự thay đổi theo loài, vị trí địa lý phân bố, thời tiết, vùng trung triều hay hạ triều, cũng như là sự khác nhau của mỗi cá thể
Tốc độ tăng trưởng của ngao phụ thuộc vào vùng phân bố nhiều hay ít thức
ăn Ngao phân bố ở vùng cửa sông phong phú về thành phần thực vật phù du và các mùn b5 hữu cơ, ngao lớn nhanh Ngao sống vùng triều thấp thường lớn nhanh hơn vùng triều cao Ngoài ra chúng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ muối, nhiệt độ, sóng gió, sự sinh trưởng có thể thay đổi từ năm này đến năm khác ở các khu vực mà có nhiệt độ biến đổi theo mùa Vào mùa xuân và mùa hè khi nhiệt độ nước ấm lên, thức ăn dư thừa thì sự sinh trưởng tăng lên nhanh chóng.Sự sinh trưởng thường dừng lại vào mùa đông khi nhiệt độ xuống thấp và nguồn dinh dưỡng trong nước kém [36] Qua kết quả phân tích tốc độ sinh trưởng tuyệt đối
và tương đối của ngao cho thấy: Giai đoạn còn non tốc độ tăng trưởng rất nhanh, sau đó giảm dần (Trần Quang Minh, 1999) [13] Trong điều kiện tương đối thuận lợi, từ trứng đến ngao cám 2 tháng, từ ngao cám đến ngao giống (800 - 1000
Trang 16con/kg) 6 - 8 tháng và từ ngao giống đến ngao thịt (50 con/kg từ 10 - 11 tháng Tổng thời gian từ khi sinh ra đến lúc thu hoạch trải qua 18 - 20 tháng (Nguyễn Thế ánh và CTV, 1999) [1]
Trương Quốc Phú (1999) [17] nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của ngao M lyrata cho thấy, ngao sinh trưởng nhanh từ tháng 5 - 9 và sinh trưởng chậm từ tháng 10 – 4 năm sau
Tốc độ sinh trưởng trung bình là 1,72 mm/tháng và 789,47 mg/tháng, tốc độ sinh trưởng khối lượng tương đối nhanh hơn so với tốc độ sinh trưởng chiều dài ở vùng biển khác nhau, tốc độ sinh trưởng của ngao khác nhau Cùng một năm tuổi, ngao ở Trà Vinh cỡ 20 mm nặng trung bình 2,7 g/con, ở Duyên Hải 3,7 g/con [1], ở Tiền Giang ngao cỡ 25 mm nặng 2,8 g/con [18]
2.1.4.2 Dinh dưỡng
Theo Thái Trần Bái (1978)[3], Elizabeth Gosling (2003)[28] thì hoạt
động bắt mồi của loài hai mảnh vỏ được thực hiện theo cách lọc nhờ vào hoạt
động của các tấm mang Trong quá trình hô hấp, nước mang theo thức ăn đi qua mang, ở đó có các tiêm mao nằm trên tia mang Tuy nhiên, chúng vẫn có
sự chọn lựa thức ăn theo kích thước
Thức ăn chủ yếu của ngao là các khuê tảo, các mảnh vụn hữu cơ, thức ăn của loài thay đổi theo thời kỳ phát triển của cơ thể Giai đoạn ấu trùng thức ăn chủ yếu là các tảo phù du, sau khi ấu trùng xuống đáy thì thức ăn đa dạng hơn, ngoài tảo phù du thì có các thành phần như các mảnh vụn hữu cơ, khoáng, mùn, vi khuẩn, chất keo cũng được ngao sử dụng Theo Nguyễn Hữu Phụng (1996) khi nghiên cứu thành phần thức ăn của ngao M lyrata ở Trà Vinh thì thành phần thức ăn chính của ngao là mùn b5 hữu cơ chiếm 75 - 90%, tảo chiếm 10 - 25% Trong thành phần tảo thì tảo silic (Baciloriophyta) chiếm 90
- 95%, tảo giáp (Pyrrophyta) chiếm 3,3 -6,6%, tảo lam (Cyanophyta), tảo lục (Chlorophyta) và tảo vàng ánh (Chrysophyta) chiếm 0,8 - 1%
Trang 172.1.5 Đặc điểm sinh sản
Ngao đẻ trứng và thụ tinh ngoài, xác định ngao thành thục dựa vào sự phát triển của tuyến sinh dục Khi thành thục tuyến sinh dục thường có màu trắng, tinh trùng có kích thước rất nhỏ 3-4 àm chuyển động rất nhanh trong nước và chết sau phóng tinh từ 1-2 giờ Trứng Ngao có đường kính từ 75 – 80
àm, ban đầu trứng có hình quả lê nhưng sau khi tiếp xúc với môi trường nước trứng bị trương nước và chuyển sang hình cầu [9], [10]
Ngao là loài dị thể đực cái riêng biệt, tuy nhiên khi nghiên cứu đặc điểm sinh học của ngao ở ĐBSCL tác giả Nguyễn Văn Hảo và CTV (1999) [8] đ5 khẳng định ngao M lyrata có hiện tượng lưỡng tính tuy nhiên chỉ có một số lượng rất ít Trương Quốc Phú (1999)[17] phát hiện hiện tượng lưỡng tính xảy
ra vào mùa sinh sản (tháng 2-tháng 8) Hình dạng cá thể lưỡng tính không có gì khác biệt về hình dạng, kích thước và màu sắc so với các cá thể đơn tính
* Mùa vụ sinh sản: Ngao có 2 mùa sinh sản trong năm, mùa chính từ tháng 5 - 7 và mùa phụ tháng 11 - 1 năm sau Tùy theo điều kiện khí hậu từng vùng mà ngao có thể thành thục sớm hoặc muộn Tỷ lệ đực cái trong tự nhiên thường 1,56 : 1
* Sức sinh sản: Sức sinh sản của ngao tương đối cao, sức sinh sản tuyệt đối bình quân đạt 6.453.910 trứng/cá thể Sức sinh sản tuyệt đối phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, khối lượng cá thể càng lớn sức sinh sản tuyệt đối càng tăng (Nguyễn Đình Hùng và ctv, 2002) [9]
* Phương thức sinh sản:
Sau khi trứng và tinh trùng phóng ra, quá trình thụ tinh xảy ra trong nước
Có 5-10 tinh trùng bám trên bề mặt trứng Màng thụ tinh xuất hiện, các tinh trùng yếu bị màng nhầy bên ngoài vỏ trứng chặn lại không xâm nhập được vào bên trong Đường kính trứng thụ tinh 78,87 ± 1,06 àm, 20 phút sau khi thụ
Trang 18tinh nhân tế bào tan biến, ở cực động vật xuất hiện cực diệp thứ nhất, 5 phút sau cực diệp thứ 2 xuất hiện, sau đó trứng bắt đầu phân cắt 2, 4, 8 tế bào Quá trình phát triển phôi nang, phôi vị kéo dài trong 12 giờ, lúc này đ5 có rất nhiều
tế bào đ−ợc hình thành Màng nhầy bị phá vỡ ấu trùng Trochophore chuyển
Hình 1.2 Sơ đồ vòng đời ngao Bến Tre (M.lyrata)
* Đặc điểm các giai đoạn phát triển của ấu trùng ngao Bến Tre
Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Hùng và CTV (2002) [9] quá trình phát triển của ấu trùng ngao Bến Tre đ−ợc chia làm các giai đoạn sau đây:
+ ấu trùng Morula: Xuất hiện 5 - 7 giờ sau khi thụ tinh, ấu trùng có dạng hình tròn hoặc hơi bầu dục, tiêm mao bao phủ kín ấu trùng hoạt động
Trứng
Ngao bố mẹ Quá trình phát triển phôi
ấu trùng chữ D
AT Umbo Ngao giống
Tinh trùng
Trang 19tăng dần từ chậm đến nhanh và vận động xoay tròn xoắn ốc, thường vận động ngược kim đồng hồ Kích thước ấu trùng 87 ± 2,03 àm x 82,7 ± 1,48 àm
+ ấu trùng Veliger (ấu trùng chữ D): ấu trùng có dạng hình chữ D, có 2 nắp vỏ và vành tiêm mao nằm giữa 2 nắp vỏ, ấu trùng vận động nhanh nhờ sự vận động của vành tiêm mao quanh miệng Kích thước ấu trùng 97,08 ± 2,06
àm x 87,7 ± 3,13 àm
+ ấu trùng Umbo: Giai đoạn ấu trùng tiền Umbo (sau thụ tinh 2 ngày) xuất hiện mầm cơ khép vỏ, trên kính hiển vi có thể thấy được cơ quan tiêu hoá, kích thước ấu trùng 115,88 ± 3,13àm Giai đoạn giữa Umbo (sau 4 ngày): ấu trùng xuất hiện đỉnh vỏ với kích thước ấu trùng đạt 124,73 ± 2,06
àm Giai đoạn cuối Umbo (8 - 9 ngày): chân bò hình thành ở ngày thứ 9 đây
là dấu hiệu kết thúc giai đoạn bơi chuyển sang giai đoạn sống đáy của ấu trùng, kích thước đạt
+ ấu trùng Spat: Sau khi thụ tinh 9-12 ngày vành tiêm mao của ấu trùng thoái hoá dần, hoạt động bơi giảm, ấu trùng chuyển sang sống bò dưới đáy với
đặc trưng hình thành chân, mang, màng áo, cơ khép vỏ ấu trùng chuyển hoàn toàn từ đời sống bơi lội sang sống vùi Kích thước ấu trùng tăng nhanh,
đầu giai đoạn spat 203,13 ± 4,62àm x 150 ± 3àm(ngày 11); giữa giai đoạn spat 412,07 ± 6,23 àm x 354,43 ± 3,93 àm (ngày 15); cuối giai đoạn spat 760
± 29,33 àm x 7,09 ± 27,47 àm
+ Juvenile (ngao giống): Ngao giống có hình dạng tương tự ngao trưởng thành, kích thước đạt 1 mm sau 30 ngày, giống nhỏ có kích thước 1,8 - 2 mm sau 60 ngày, giống lớn 4 mm đạt sau 100 ngày
Trang 202.1.6 Khả năng thích ứng với môi trường
2.1.6.1 Khả năng thích ứng của nhiệt độ
Các điều kiện môi trường ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ấu trùng Theo Esncel (1968) nhiệt độ để ngao tăng trưởng tốt nhất là 20-24 0C, tăng trưởng chậm ở 70C và 310C, ngoài tự nhiên ngao sẽ tăng trưởng nhanh vào mùa hè và mùa đông Tại Trung Quốc vào tháng 6 năm 2003 người ta đ5 làm thí nghiệm trên loài Coelomactra antinquata khi nghiên cứu thì thấy rằng loài này sẽ ngừng tăng trưởng ở 120C và ngừng ăn ở 80C và lớn hơn 300C, khoảng nhiệt độ thích hợp cho chúng tăng trưởng là 17-280C
Nhiệt độ ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý và chi phối đến sinh trưởng của sinh vật cho nên hầu hết các nghiên cứu đều tập trung tìm hiểu mối quan
hệ giữa nhiệt độ và sinh trưởng của Bivalvia Những nghiên cứu ban đầu của nhiều tác giả trên đối tượng thuộc Crassostrea, Mercenaria và mytilus nhằm xác định khoảng nhiệt độ tối ưu cho sinh trưởng và nhiệt độ trú đông Một số nghiên cứu khác đ5 nêu lên khoảng nhiệt độ tối ưu cho sinh trưởng của một số loài cụ thể như Crassostrea virginica, Mercenaria mercenaria, mytilus calyfornianus và Tivila stultorum Khi nhiệt độ ngoài khoảng tối ưu, tốc độ sinh trưởng sẽ giảm (Vakily, 1992) Một số quan sát thấy rằng: loài Mercenaria mercenaria nuôi ở cửa cống trạm thuỷ điện (nhiệt độ nước ấm hơn) lớn nhanh gấp đôi so với những cá thể nuôi ở vùng nước khác (Ansell, 1968), cũng cho rằng ở phía bắc M Mercenari chỉ sinh trưởng trong mùa hè trong khi ở phía nam sự sinh trưởng diễn ra quanh năm Theo Gilbert (1973) nhiệt độ càng thấp mùa sinh sản càng ngắn [17]
Theo (Rubi, 2000)(trích dẫn bởi 19) ngao là loài rộng nhiệt: Chúng có thể sống trong điều kiện nhiệt độ 5 – 35oC, khoảng nhiệt độ thích hợp cho ngao phát triển là 28-310C Tốc độ lọc thức ăn của ngao chịu ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố như nhiệt độ, độ muối, mật độ thức ăn Khi nhiệt độ càng cao thì tốc độ lọc thức
ăn càng lớn.[30] Theo Nguyễn Tác An và Nguyễn Văn Lục (1994)[1] thì
Trang 21ngao phân bố ở vùng hạ triều thời gian phơi b5i 2 – 8 giờ/ngày Độ sâu cực đại tìm thấy ngao lúc nước ròng là 1,5 – 2,5 cm khi nhiệt độ 26 – 32 o C
Nhìn chung, các nghiên cứu về khả năng thích ứng nhiêt độ của ngao M.lyrata ở Việt nam chưa nhiều và vì thế việc nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt
độ đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ngao giai đoạn ấu trùng đến xuống đáy là nhu cầu thực tiễn nhằm làm cơ sở cho nghề nuôi ngao ở vùng ven biển phía Bắc 2.1.6.2 Khả năng thích ứng của độ muối
Độ muối cũng là yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển của ngao.Theo Davis H C(1958) ngao là loài duy nhất ở ven biển có thể sống với
sự thay đổi độ muối từ 20-300/00 Khi nghiên cứu trên loài M.mereenaria thì
độ muối lớn hơn 320/00 sẽ gây ảnh hưởng đến ấu trùng còn độ muối nhỏ hơn
150/00 làm cho chúng hạn chế tìm kiếm thức ăn
Độ muối là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của ĐVTM nói chung, ngao nói riêng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các đối tượng thân mềm khác Nghiên cứu ảnh hưởng của độ muối đến đời sống của loài ngao bến tre mới tập trung vào giai đoạn ngao giống và ngao trưởng thành
Trương Quốc Phú (1999) cho rằng ngao có thể phân bố ở độ muối từ
7-240/00, khi độ muối giảm xuống 50/00 thì hầu hết ngao di chuyển tới vùng mới nơi có độ muối cao hơn, ngao lớn thì vùi mình xuống cát, b5i ngao có xu hướng dịch chuyển từ bờ ra xa vào mùa mưa và mùa khô có xu hướng mở rộng diện tích
Sự biến động của độ muối thường diễn ra theo mùa và làm thay đổi môi trường sống của ngao Nếu độ muối thay đổi ngao sẽ di chuyển ra xa bờ hoặc khu vực cửa sông (cá thể nhỏ), những cá thể lớn khó di chuyển thì vùi sâu xuống nền đáy ngao Bến Tre có tập tính di chuyển trong nước, thay đổi nơi phân bố khi có độ muối thay đổi lớn
Trang 22Sinh trưởng của ngao chịu ảnh hưởng nhiều của độ muối Tác giả [17] thấy rằng tốc độ lọc thức ăn của ngao chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố độ muối Khi độ muối giảm xuống 150/00 sẽ hạn chế việc tìm kiếm thức ăn của chúng và như vậy ảnh hưởng đến sinh trưởng của ngao
Khi nghiên cứu độ no của ngao thương phẩm ở ĐBSCL, Nguyễn Văn Hảo và CTV (1999) [8] cho thấy, ngao bắt mồi kém từ tháng 8 - tháng 12, tỷ
lệ ngao có độ no cao chiếm rất thấp (15%) do các tháng mùa lũ độ muối thấp chúng phải ngậm vỏ không ăn trong một thời gian dài nên độ béo thấp Từ tháng 12 - 6 năm sau ngao bắt mồi khá tốt, đặc biệt từ tháng 2 - 5 lượng thức
ăn trong ống tiêu hoá cao nhất (Nguyễn Thế ánh và CTV, 1999) [1] Tỷ lệ ngao có độ no cao chiếm 80 - 100% Điều đó cho thấy rằng độ muối ảnh hưởng rất lớn đến khả năng lọc thức ăn của ngao
ở giai đoạn ấu trùng của loài M.lyrata những nghiên cứu về ảnh hưởng của độ muối còn rất hạn chế Theo (Rubi, 2000)(trích dẫn bởi [19]) độ muối thích ứng của ấu trùng ngao dao động từ 19-260/00, phù hợp nhất từ 22-250/00 [36] Nhưng theo [22] Khoảng độ muối thích hợp để ngao sinh trưởng và phát triển
từ 7 – 25 %o[22] Nên việc nghiên cứu khả năng thích ứng độ muối của ấu trùng ngao là rất cần thiết nhằm góp phần vào hoàn thiện qui trình sản xuát giống nhân tạo
2.1.7 Địch hại và bệnh ký sinh
Hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu bệnh xảy ra trên nhuyễn thể 2 mảnh
vỏ Mới chỉ có 1 vài nghiên cứu chỉ ra rõ tác nhân gây bệnh là do nấm và động vật nguyên sinh, còn lại được giải thích do các yếu tố môi trường vật lý như:
sự chênh lệch nhiệt độ, độ muối quá lớn hay là do nguồn nước ô nhiễm thường gây nên hiện tượng dịch bệnh xảy ra [21], [7], [28]
Trang 232.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống ngao trên thế giới và Việt nam 2.2.1.Trên thế giới
Đ5 có nhiều công trình nghiên cứu về loài ngao đ5 được thực hiện từ những năm đầu thế kỷ 20 Các công trình nghiên cứu bước đầu nhằm xây dựng công nghệ sản xuất giống được xuất phát điểm theo các hướng khác nhau, tập trung chủ yếu mô tả về hình thái, phân loại, phân bố của ngao, như công trình nghiên cứu Shintaro Hirase (1939), Trưng Nhĩ (1965), Tetsuaki Kira (1976), Garcia H.K (1986) [34] mà chưa nghiên cứu các đặc tính sinh thái học của ngao
Hiện nay các nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sinh sản nhân tạo giống ngao đang là lĩnh vực được nhiều tác giả quan tâm, trong đó chủ yếu là các nghiên cứu giống Meretrix như M Meretrix (nustaufig ctv, 2001), Tridacnao squamosa (Labarbeta,1975), Tridacna maxima (Jan và Fulfigar) M lusoria,
M casta
Thức ăn được xem là chìa khoá góp phần vào việc thành công trong sản xuất giống Đối với ĐVTM 2 mảnh vỏ, tảo là thức ăn quan trọng không thể thay thế trong ương nuôi ấu trùng Việc nghiên cứu tảo làm thức ăn tươi sống cho động vật thủy sản nói chung được bắt đầu từ 2 thập kỉ trước Các loài tảo
đ5 được sử dụng gồm Nanochloropsis sp, Thalassiosira, Pseudomonas, Phaeodactylum tricornutum, Isochrysis galbana, Tetraselmis suecica, Chlorella sp, Chaetoceros Các công trình nghiên cứu đ5 xác định tỷ lệ thức
ăn phù hợp với từng giai đoạn phát triển của từng loài ngao Theo Goldstein và Roels (1980), Riisgard (1988), Manzi và Castagna (1989) ngao bố mẹ cần 1-5
tỷ tế bào tảo/cá thể/ngày để chín giao tử (Evelyn cepeda pérez, 2004) [16] Theo Michael và CTV (2004) ngao cần cho ăn tảo với mật độ từ 1 - 1,5 x 105
tế bào/ml trong giai đoạn nuôi vỗ Tỷ lệ thức ăn phù hợp sẽ ảnh hưởng đến tập tính ăn của ngao Tuy nhiên, hiện nay do gặp một số khó khăn trong quá trình
Trang 24tươi như sử dụng tảo khô (Laiing và CTV, 1990; Gladue, 1991; Laing và Verdugo, 1991; Laing và Millican, 1992), tảo cô đặc bảo quản lạnh (Donalson, 1991; Connor và Nell, 1992) hay bổ sung thức ăn nhân tạo như bột khoai tây [32] Cho đến nay thì tảo vẫn đang là thức ăn không thể thiếu trong quá trình ương nuôi ấu trùng của các loài ĐVTM
Các phương pháp kích thích cho đẻ nhân tạo ở ngao Meretrix đ5 được tổng kết bởi Loosanoff (1937c) [33] trong đó các yếu tố môi trường đ5 được
đưa vào kích thích sinh sản ở các công trình nghiên cứu Loosanoff and Davis (1963) [34]; Galtsoff (1964) [25]; Sastry (1979); Mackie (1984); Eversole (1989) Trong các yếu tố môi trường, nhiệt độ nước được xem là yếu tố quan trọng nhất trong việc cho đẻ hàng loạt, tối ưu hoá tỷ lệ thụ tinh và sống sót của
ấu trùng (Loosanoff, 1937c) [33] Vì thế, sử dụng kích nhiệt theo chu kỳ là phương pháp thông dụng nhất trong việc kích thích sinh sản nhân tạo ở các trại giống Ansell et al, (1964a) [19] đ5 kết luận, số lượng con đực phản ứng với kích thích nhiệt lớn hơn con cái Castagna và Knaeuter (1981) cho biết kích cỡ ngao trung bình phản ứng nhanh hơn ở nhiệt độ cao so với ngao lớn Evelyn cepeda pesrez (2004) nghiên cứu cho sinh sản ngao Mercenaria mercenaria với nhiệt độ thay đổi 18 - 300C trong 3 chu kì nóng lạnh đ5 khẳng
định con đực phóng tinh dịch trước con cái
Các sản phẩm sinh dục được sử dụng làm chất kích thích như sử dụng trứng làm chất kích thích sinh sản ngao M meretrix (Galtsoff, 1940), Castagna và Kraeuter (1981) sử dụng tinh trùng và trứng trong quá trình kích thích
Việc sử dụng hợp chất hoá học như serotonin (5 Hydroxytryto amine) làm chất kích thích sinh sản đ5 được ứng dụng trong quá trình sinh sản ở ngao Serotonin được tiêm vào phía trước cơ chân nhằm kích thích ngao sinh sản nhanh đ5 được nghiên cứu bởi Gibbons and Castagna (1984) Phương pháp này đ5 được ứng dụng thành công trong việc sinh sản nhân tạo ngao M
Trang 25meretrix ở các nước phương đông Kết quả đ5 kích thích được 31 - 95% ngao sinh sản sau 1 - 30 phút tiêm dung dịch Serotonin với lượng 0,4 - 0,5 ml/cá thể, tuy nhiên tỷ lệ thụ tinh chỉ đạt 6 - 74% Theo nhận xét của Nugranad và Promjinda (1997) phương pháp này chỉ nên sử dụng đối với ngao đ5 chín sinh dục để thu được số lượng giao tử lớn và ấu trùng khỏe
Ngoài ra một số phương pháp khác được ứng dụng để kích thích như sốc
độ muối, kích thích bằng ánh sáng mặt trời, phương pháp xử lí ngâm NH4OH, kích thích bằng một số chất như Pseudo, Isochrysis, Paradoxa và Thalasiosera pseudomonas 2 - 2,5 triệu tế bào/ml để kích thích ngao đẻ ở 18 –
20oC (Brelse and Robinson, 1981) Hiện nay một số phương pháp kích thích
đ5 được sử dụng kết hợp và cho kết quả tốt ở Trung Quốc ngao được kích thích bằng phương pháp phơi ngao trong không khí cộng với kích thích nhiệt
và kích thích 0,0075 - 0,03 mol/l NH4OH trong 15 - 22 phút, kết quả thu được gần 57,5 triệu trứng và tỷ lệ thụ tinh đạt 77,6%
ấu trùng sau khi nở sẽ được ương trong các bể hoặc trong các thùng chế tạo từ Polycacbonate hay composite 500-1000l, đáy hình nón cụt để dễ dàng rút nước Nước sử dụng trong quá trình ương nuôi thường được lọc qua hệ thống lọc cát hay xử lý bằng tia UV 4500A.[31]
Những nghiên cứu trên đây là tiền đề cho việc sinh sản nhân tạo ở một số loài như M.meretrix, Mereenaria, Coelomactra antinquata, ở Thái Lan, Jintana(1999)cho sinh sản thành công loài M.meretrix sau 7 đợt thu được 310.000 - 910.000 ấu trùng chữ D, 7 - 9 ngày ấu trùng biến thái sang giai đoạn Pediveliger tỷ lệ sống đạt 30-70%, tỷ lệ sống sau 2 - 3 tháng đạt 0,62 -53,23%
Theo Hà Đức Thắng(2001) thì trên thế giới chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo ngao Bến Tre (M lyrata)
Trang 26Nhìn chung những nghiên cứu về sản xuất giống thuộc họ ngao trên thế giới chưa nhiều Do đó để có qui trình về vấn đề sản xuất giống nhân tạo ngao Bến Tre thì cần có nhiều nghiên cứu và sản xuất thực nghiệm từ đó để hoàn thiện dần về sản xuất đối tương này
2.2.2 ở Việt Nam
Việc nghiên cứu ĐVTM nói chung và ngao nói riêng ở Việt Nam đ5 được tiến hành từ đầu thế kỷ 20 Các công trình nghiên cứu tập trung vào điều tra thành phần loài, đặc điểm khu hệ ĐVTM ở biển nh công trình nghiên cứu của Serenne (1937) công bố một danh mục gồm 610 loài Mollusca sống ở vùng triều và vùng đới triều của biển Việt Nam, trong đó động vật 2 mảnh vỏ có
213 loài Các tác giả như Nguyễn Văn Chung, Trần Đình Nam (1978), Nguyễn Xuân Dục (1978), Nguyễn Chính (1980, 1990) đ5 xác định có 172 loài Mollusca ở vùng biển Quảng Ninh, Hải Phòng; 25 loài động vật chân đầu
ở vịnh Bắc Bộ, 101 loài ở đầm Thị Nại (Bình Định); 731 loài ở vùng biển nam Việt Nam (Nguyễn Xuân Thu, 2005) Nghiên cứu của Hylleberg J và Richard
N Kilburn (2003) đ5 xác định biển Việt Nam có khoảng 2.200 loài ĐVTM [12]
Trong những năm gần đây nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái những loài có giá trị kinh tế nhằm phục vụ cho khai thác bảo
vệ nguồn lợi và nuôi ĐVTM như: Nguyễn chính (1996), Nguyễn Huy Yết và CTV (1998) [24] Hiện nay người ta tập trung nghiên cứu các qui trình sản xuất giống, đặc điểm sinh hoá và bệnh của ngao như công trình nghiên cứu hàm lượng kim loại nặng trong thịt một số loài ĐVTM ở miền Bắc Việt Nam (Đoàn Việt Bình và CTV, 1999) [2]; Nghiên cứu thành phần prôtêin và đặc trưng enzim của 3 loài ĐVTM 2 mảnh vỏ biển (Nguyễn Thị Vinh và CTV, 1999) [23]
ở Việt Nam, loài ngao bến tre được bắt đầu nghiên cứu từ những năm
1980 ở các Trường Đại học, Viện Nghiên cứu về môi trường và nguồn lợi
Trang 27ngao ở ĐBSCL nhưng nó chưa được đi sâu Bắt đầu từ 1994 các công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học và nguồn lợi ngao mới được nghiên cứu sâu hơn với một số công trình:
- Nghiên cứu về phân bố và đánh giá nguồn lợi ngao ở Trà Vinh của tác giả Nguyễn Tác An và Nguyễn Văn Lục (1994), Nguyễn Hữu Phụng (1996), Nguyễn Chính (1996);
- Trương Quốc Phú (1999) thực hiện luận án tiến sĩ “Nghiên cứu một
số đặc điểm sinh học, sinh hoá và kỹ thuật nuôi Ngao Meretrix lyrata (Sowerby) ở vùng ven biển Tiền Giang, Bến Tre”
- Nghiên cứu một số chỉ tiêu môi trường, đặc điểm sinh học và nguồn lợi ngao M lyrata ở ĐBSCL (Nguyễn Văn Hảo và CTV, 1999);
- Nghiên cứu đặc tính sinh học chính của ngao dưới ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái môi trường tự nhiên (Trần Quang Minh, 2001)
ở nước ta qui trình sản xuất giống ngao mới chỉ được nghiên cứu ở qui mô thử nghiệm với các nghiên cứu chưa nhiều
ở miền Bắc có công trình nghiên cứu về sản xuất nhân tạo ngao dầu (M meretrix) của tác giả Hà Đức Thắng (2005) [19] được thực hiện từ năm 2001 -
2003 với sự hỗ trợ của dự án SUMA Kết quả thành công với tỷ lệ sống qua các đợt là 3-55% Trong các quá trình ương đồng thời làm cả thí nghiệm liên quan như : thí nghiệm tìm ra thức ăn thích hợp cho trong các giai đoạn phát triển của ấu trùng, thí nghiệm về ảnh hưởng độ muối đến quá trình phát triển phôi và ấu trùng, và một số nghiên cứu trên đối tượng ngao Bến Tre M lyrata
ở công ty Cửu Dung (Giao Thuỷ, Nam Định)
- Nghiên cứu về sản xuất giống ngao Bến Tre M lyrata Nguyễn đình Hùng và CTV (Viện Nghiên cứu NTTS II, 2001) trong quá trình ương nuôi ấu trùng thức ăn chính là 2 loài tảo I.galbana, chaetoceos( tỉ lệ 6:4) chế độ thay
Trang 28nước là 60-70% mỗi ngày Tỷ lệ sống đến giai đoạn xuống đáy dao động ở các
đợt là 8-25%, với số giống thu được gồm 600.000 con giống 100 ngày tuổi (4mm), 2 triệu con giống 65 ngày tuổi(1,8mm) và 20 triệu con giống nhỏ 35 ngày tuổi, ở điều kiện nhiệt độ 26,5-300C và độ muối là 18-22%
Khu vực miền Trung đ5 có một số nơi tiến hành sản xuất nhân tạo giống ngao như Trại nghiên cứu Hải Sản Bắc Trung Bộ (Cửa Hội, Cửa Lò), bắt đầu tiến hành các thử nghiệm từ năm 2006 với sự hỗ trợ của dự án Card kết quả thu được khi ấu trùng xuống đáy đạt (5-50%)
Từ những tài liệu thu thập trên chúng tôi thấy những nghiên cứu về đặc
điểm phân bố, sinh trưởng, sinh sản, Thì các tác giả đều đưa ra tương đối chi tiết cho loài ngao này riêng những nghiên cưú về nhiệt độ, độ muối các tác giả đưa ra các chỉ số khác nhau Để phục vụ cho nghề nuôi phát triển thì việc nghiên cứu các đặc điểm sinh thái như nhiệt độ, độ muối đối với loại ngao này
là cần thiết nhằm xây dựng một quy trình ổn định, chủ động con giống, đáp ứng nhu cầu hiện tại cũng như tương lai
Trang 293 Phương pháp nghiên cứu 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Thời gian nghiên cứu:
Thời gian từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2008
3.1.2 Địa điểm thực hiện: Trại sản xuất giống hải sản Đông Minh – Tiền Hải – Thái Bình
3.2 Đối tượng nghiên cứu
ấu trùng ngao Bến Tre (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) giai đoạn từ ấu trùng chữ D đến giai đoạn cuối Umbo
3.3 Vật liệu nghiên cứu
- Ngao bố mẹ thu mua tại Đông Minh – Tiền Hải – Thái Bình
- Thức ăn: Gồm các loài tảo đơn bào như Nanochropsis sp, Chaetoceros
- Hệ thống bể xi măng cho đẻ Hệ thống xô có V= 100lít dùng bố trí thí nghiệm về độ muối, can nhựa 5l dùng để bố trí thí nghiệm về nhiệt độ
- Hệ thống bể lọc, hệ thống bể chứa, hệ thống máy nén khí, máy bơm nước
- Dụng cụ phân tích mẫu: Buồng đếm tảo,đếm luân trùng, trắc vi thị kính, pipet, kính hiển vi có gắn thước chia vạch, kính hiển vi có gắn máy ảnh kỹ thuật số
- Dụng cụ đo các yếu tố môi trường: Máy đo pH, Oxi, nhiệt kế, khúc xạ kế…
- Để tạo độ muối cần thiết cho thí nghiệm : Dùng nước ngọt, nước biển 30%0 nước chạt (150-170%o) để điều chỉnh độ muối mình cần dùng
Độ muối pha theo công thức đường chéo sau :
Trang 303.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm
3.4.1 Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của độ muối
- Bố trí thí nghiệm với độ muối từ 10%0 đến 30%0 chia thành 5 công thức, mỗi công thức cách nhau 5%0, được lặp lại ba lần Các yếu tố phi thí nghiệm được khống chế hoàn toàn giống nhau
Ban đầu ấu trùng được đưa vào các xô có độ muối gốc là 28‰ Sau đó phải tăng, giảm dần độ muối để đưa về các mức độ muối tương ứng của các lô thí nghiệm bằng cách:
- Thuần theo phương pháp bậc thang tăng hoặc giảm, chia làm 2 mức
để thuần Một mức thuần độ muối tăng lên 30, 35‰ và một mức thuần độ muối giảm xuống các mức 25, 20, 10 ‰
- Phương pháp thuần theo sơ đồ sau:
Độ muối(‰) 10 15 20 25 28 30 35 Thời gian thuần (phút/ ‰) 35 30 25 15 10 25 Sơ đồ thí nghiệm
ấu trùng chữ D đến Umbo
Trang 31- Mật độ 3 ấu trùng /ml
- Thức ăn: Tảo Chlorella sp, Isochrysis galbana, mật độ 150.000 tb/ml
- Thay nước 1 ngày một lần, mỗi lần thay 70% kết hợp cùng thời điểm cho ăn, có sục khí, đáy cát mịn dày 0.5 cm
3.4.2 Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ
- Thí nghiệm bố trí từ 20 đến 35oc chia làm 4thang: thang TI (200c), TII (250c), TIII (300c); và TIV (350c)
- Các bình thí nghiệm được đặt trong thùng xốp đ5 ổn định nhiệt theo các thang nhiệt độ thí nghiệm
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi công thức
được lặp lại ba lần, các yếu tố phi thí nghiệm được khống chế hoàn toàn giống nhau
Sơ đồ thí nghiệm
ấu trùng chữ D đến Umbo
Trang 32- Mật độ 3 ấu trùng /ml
- Thức ăn: Tảo Chlorella sp, Isochrysis galbana Mật độ150.000 tb/ml
theo tỷ lệ 50/50
- Thay nước 1 ngày một lần, mỗi lần thay 70% kết hợp tại thời điểm cho ăn
- Chất đáy cát mịn dày 0.5 cm
- Thí nghiệm được bố trí trong nhà, nhiệt độ được điều chỉnh bằng nước
đá và heater điện Thường xuyên kiểm tra và điều chỉnh nhiệt độ trong các lô
thí nghiệm
3.5 Phương pháp xác định các chỉ tiêu cần theo dõi
3.5.1 Phương pháp theo dõi tốc độ tăng trưởng của ấu trùng
Hai ngày tiến hành thu mẫu 1 lần ở các lô thí nghiệm vào buổi sáng ( 6 h)
Mỗi bể thu 3 mẫu, mỗi mẫu đo 30 ấu trùng cho một mẫu bằng trắc vi thị kính
trên kính hiển vi có độ phóng đại 40 lần
-Phần trăm tăng trưởng theo chiều rộng ủược tính theo công thức:
Ltbc - Ltbd L% = x 100%
Ltbc L(%): Là mức độ tăng trưởng % theo chiều rộng
Ltbc: Là chiều rộng tính theo (àm) trung bình tại ngày đo cuối cùng
Ltbc: Là chiều rộng tính theo (àm) trung bình lúc bố trí thí nghiệm
- Tốc độ tăng trưởng riêng theo ngày (SGR)
LnRtb2 – LnRtb1
SGRr = x 100%
T2 – T1
SGRr: Là tốc độ tăng trưởng riêng theo chiều rộng
Rtb1: Là chiều rộng(àm)trung bình tại thời điểm T1
Rtb2: Là chiều rộng(àm)trung bình tại thời điểm T2
Trang 333.5.2 Phương pháp xác định tỷ lệ sống
Dùng phương pháp thể tích: định kỳ 2 ngày/ lần sau khi thay nước và vệ sinh bể Dùng cốc đong và pipet 1 ml để thu mẫu Mẫu được đếm trong 1 ml bằng buồng đếm luân trùng, đếm 3 lần cho một lần lấy mẫu Kết quả cuối cùng là trung bình của 3 lần đếm Số lượng ấu trùng được tính bằng đơn vị con/ ml
Tỷ lệ sống (TLS%) của ấu trùng được xác định theo công thức sau :
Số lượng ấu trùng tại thời điểm iTLS(%) = x 100%
Số lượng ấu trùng ban đầu 3.5.3 Phương pháp theo dõi thời gian biến thái của ấu trùng chữ D đến
Trang 344 kết quả nghiên cứu 4.1 ảnh hưởng của độ muối lên tỷ lệ sống và sinh trưởng của ngao
Độ muối được xem là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của ấu trùng ĐVTM nói chung và ngao nói riêng, vì nó liên quan trực tiếp
đến áp suất thẩm thấu của màng tế bào Khi độ muối quá cao làm cho tế bào cơ thể bị mất nước, ngược lại khi độ muối thấp thì làm cho cơ thể dễ bị trương nước Do đó để sản xuất thành công giống các đối tượng này thì việc tìm ra
được các thang độ muối thích hợp nhất cho sự phát triển của ấu trùng là rất quan trọng
Ngao Bến Tre là ĐVTM có tính rộng muối, cá thể trưởng thành có thể thích ứng với sự thay đổi tương đối rộng với biện độ dao động của độ muối trong môi trường sống Tuy nhiên, ở giai đoạn ấu trùng, độ muối lại ảnh hưởng rất lớn
Kết quả thí nghiệm ảnh hưởng của độ muối đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ngao từ giai đoạn ấu trùng chữ D đến giai đoạn hậu Umbo đựơc trình bày dưới đây
4.1.1 Một số yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm
Các yếu tố môi trường phi thí nghiệm được khống chế tương đối nghiêm ngặt Chỉ số thu được của các yếu tố này trong các lô thí nghiệm là tương tự nhau trong cùng một đợt thí nghiệm
Qua theo dõi một số yếu tố môi trường nước trong bể ương chúng tôi thu
được các kết quả thể hiện ở bảng sau:
Trang 35Bảng 3.1 Một số yếu tố môi trường nước trong bể ương ở các thang
độ muối
Yếu tố môi trường
pH Nhiệt độ (oC) DO (mg/l) Các đợt
ương Max Min Max Min Trung bình Max Min Trung bình
Do thí nghiệm được bố trí trong nhà, nước trong bể thí nghiệm được thay
1 ngày/lần, DO được cấp thường xuyên bởi hệ thống sục khí và quá trình khuyếch tán từ không khí nên hàm lượng ôxi hoà tan đạt cao và khá ổn định ở các lô thí nghiệm ở cả ba đợt thí nghiệm, ôxi hoà tan biến thiên trong khoảng 5,6 - 6,25mg/l Hàm lượng DO đợt 1 đạt cao nhất, trung bình 5,96 ± 0,09, tiếp
đến là đợt 2 trung bình đạt 5,93 ± 0,08 thấp nhất đợt 3 trung bình đạt 5,90 ± 0,09
pH ở các lô thí nghiệm gần như nhau, biến động trong khoảng thời gian nghiên cứu khoảng từ 7,6 – 8,43, sự chênh lệch pH giữa sáng và chiều ở các lô thí nghiệm từ 0,1 – 0,3, với biên độ gần như nhau ở tất cả các lô thí nghiệm