1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng và đề xuất hướng sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp vùng đồi gò huyện chương mỹ, tỉnh hà tây

114 665 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá thực trạng và đề xuất hướng sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp vùng đồi gò huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây
Tác giả Phạm Thanh Quế
Người hướng dẫn TS. Đoàn Công Quỳ
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Quản lý đất đai
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 831,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I

-& -

PHẠM THANH QUẾ

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐỒI GÒ HUYỆN CHƯƠNG MỸ,

TỈNH HÀ TÂY

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số : 60.62.16

Người hướng dẫn khoa học: TS Đoàn Công Quỳ

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

i

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều

đã được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đều đã được cảm ơn

Tác giả luận văn

Phạm Thanh Quế

Trang 3

ii

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của rất nhiều tập thể và cá nhân Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến:

Tập thể các thầy giáo, cô giáo khoa Đất và môi trường, khoa Sau đại học của trường Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội, đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này;

Tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo TS Đoàn Công Quỳ đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn;

Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo trường Đại học Lâm nghiệp, đơn vị khoa Kinh tế – Quản trị kinh doanh và đặc biệt là các thầy cô giáo của bộ môn Quản lý đất đai nơi tôi công tác đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu của tôi;

Cảm ơn các bạn sinh viên của lớp 49 QLĐĐ, khoa Kinh tế – Quản trị kinh doanh , trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp đỡ tôi trong việc thu thập, điều tra số liệu

Xin cảm ơn các tập thể, cơ quan, ban, ngành của huyện Chương Mỹ, cán bộ và bà con nông dân các xã Nam Phương Tiến, Trần Phú, Thuỷ Xuân Tiên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu, số liệu;

Đặc biệt, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ, cùng chia sẻ với tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả mọi sự giúp đỡ quý báu trên!

Tác giả luận văn

Trang 4

2.1 Một số vấn đề lý luận về hiệu quả sử dụng đất 4

3.5 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 30

Trang 5

4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất vùng đồi gò của huyện Chương Mỹ

74

4.6 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất vùng đồi gò 77

4.6.2 Phương hướng sử dụng đất vùng đồi gò 78 4.6.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất vùng đồi gò 79 4.6.4 Đề xuất một số mô hình sử dụng đất có hiệu quả ở vùng đồi gò 83

Trang 6

v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

FAO (Food and Agriculture

Organisation)

Tổ chức Lương thực và nông nghiệp

ISRIC (World Soil Information Database) Trung tâm thông tin nghiên cứu đất quốc tế

LUT (Land Use Type) Loại hình sử dụng đất

SALT (Slopping Agricultural Land

Technology)

Canh tác nông nghiệp trên đất dốc

SWOT (Strengths – Weaknesses –

Biểu 2.2 Xói mòn trên đất nương rẫy đối với từng loại đất 18

Biểu 2.3 Phân bố đất dốc và đất bị thoái hoá do xói mòn ở các vùng 18

Biểu 2.4 Ước tính thiệt hại tối thiểu do xói mòn trên đất dốc 19

Biểu 4.1 Tình hình dân số và lao động của vùng đồi gò 43

Biểu 4.2 Một số chỉ tiêu cơ bản về phát triển kinh tế – xã hội 45

Trang 7

vi

Biểu 4.3 Cơ cấu sử dụng đất đai huyện Chương Mỹ năm 2007 47 Biểu 4.4 Hiện trạng sử dụng đất vùng đồi gò của huyện Chương Mỹ 49 Biểu 4.5 Các loại hình sử dụng đất chính của vùng đồi gò 51 Biểu 4.6 Diện tích một số cây trồng chính của vùng đồi gò của

huyện Chương Mỹ qua một số năm

DANH MỤC CÁC PHỤ BIỂU

Phụ biểu 1 Giá một số vật tư và hàng hoá nông sản chủ yếu 94

Trang 8

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố của các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng Đất đai không sản sinh được về số lượng, nhưng nếu trong quá trình sử dụng đất con người biết cải tạo, bồi dưỡng và bảo vệ, thì không những nó không bị hao mòn mà còn tăng được độ màu mỡ, tăng được khả năng sản xuất Đối với sản xuất nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được, là đối tượng để lao động tác động vào nó, tạo ra lương thực, thực phẩm cung cấp cho đời sống của con người, nguồn thức ăn cho vật nuôi, cung cấp nguyên vật liệu cho công nghiệp chế biến, nông sản phẩm có giá trị kinh tế cao cho xuất khẩu Nông nghiệp là một hoạt động có từ xa xưa của loài người và hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp cho việc phát triển của các ngành khác Trong điều kiện hiện nay, khi dân số ngày một gia tăng, nhu cầu về sử dụng đất của con người cũng không ngừng tăng theo, làm ảnh hưởng rất lớn đến diện tích và chất lượng đất sản xuất nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp để nhường chỗ cho các mục tiêu phát triển và đáp ứng nhu cầu ở ngày càng tăng, cùng với nó là quá trình khai thác đất nông nghiệp quá mức, không quan tâm đến việc cải tạo, bồi bổ đất đã dẫn đến hiện tượng làm giảm sức sản xuất của đất như: xói mòn, rửa trôi, xa mạc hoá, nhiễm mặn, nhiễm phèn, chua hoá….Vì vậy việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả là nhiệm vụ quan trọng đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững

Ở nước ta, Đảng và Nhà nước trong những năm qua đã đặc biệt quan tâm

Trang 9

Mặc dù vậy, trong quá trình sử dụng đất đai, tình trạng ruộng đất quá manh mún, việc chuyển đổi từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn chưa thực hiện triệt để, sản xuất vẫn là thủ công, việc tiếp cận với nền kinh tế thị trường theo hướng sản xuất hàng hoá của người dân còn chậm, việc khai thác đất đai quá mức mà chưa cải tạo, bồi bổ vẫn còn chưa được khắc phục Do đó đất nông nghiệp nói chung và đặc biệt là ở các xã vùng đồi gò nói riêng đất đai vẫn chưa được khai thác một cách hợp lý và hiệu quả

Huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây có địa hình vừa mang đặc trưng của vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng vừa mang đặc trưng của vùng bán sơn địa Huyện có 12 trong tổng số 33 xã, thị trấn thuộc vùng đồi gò Địa hình của khu vực khá phức tạp, có độ dốc từ Tây sang Đông với đặc điểm chính của vùng đất là địa hình bị chia cắt bởi đồi gò và ruộng trũng Đồi gò ở đây chủ yếu là đồi thấp với độ dốc trung bình từ 50 đến 200 Địa hình có xu hướng nghiêng dần từ dãy núi Lương Sơn về phía sông Bùi, sông Tích Phần lớn diện tích đất nông nghiệp của các xã vùng đồi gò vẫn trồng cây hàng năm là chính, trong quá trình khai thác và sử dụng đạt hiệu quả kinh tế chưa cao, nhiều diện tích đất vẫn chưa được đưa vào sử dụng, đất đai ngày càng suy giảm về chất lượng, rửa trôi và xói mòn đất đã diễn ra khá mạnh do người dân chưa có các phương thức canh tác vừa cải tạo đất và chống xói mòn Đời sống người dân trong vùng còn gặp nhiều khó khăn Vì vậy, việc nghiên cứu để

Trang 10

3

đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng đồi gò là một yêu cầu hết sức quan trọng và cần thiết trong thời gian tới

Chính vì vậy chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng

và đề xuất hướng sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp vùng đồi gò huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của vùng nhằm đưa ra các loại hình sử dụng đất có triển vọng trong điều kiện cụ thể của vùng;

- Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp của vùng theo quan điểm sử dụng đất hiệu quả và bền vững;

Trang 11

4

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT

2.1.1 Bản chất của hiệu quả

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả xuât phát từ các góc độ nghiên cứu khác nhau Có quan điểm cho rằng hiệu quả sử dụng đất được tính bằng tổng giá trị sản xuất thu được Nếu như vậy thì mới chỉ nhìn thấy kết quả của quá trình sản xuất về mặt tổng thể, chưa phân biệt được giữa chi phí bỏ

ra, giá trị tăng thêm và lợi nhuận thu được Có quan điểm lấy chỉ tiêu giá trị tăng thêm là hiệu quả Nếu như vậy thì chưa tách được giữa thu nhập hỗn hợp, khấu hao tài sản cố định và lợi nhuận thu được Có quan điểm cho rằng hiệu quả phải được tính bằng số lợi nhuận thu được sau khi đã trừ đi toàn bộ các khoản chi phí (kể cả chi phí lao động) Chỉ tiêu này có thể phản ánh được tương đối chính xác về hiệu quả kinh tế sử dụng đất đai, nhưng nó chỉ áp dụng được đối với những trường hợp có điều kiện theo dõi và hạch toán được chính xác ngày công lao động đã hao phí trong qúa trình sản xuất Hiện nay đối với nền kinh tế nông nghiệp của chúng ta còn phổ biến là sản xuất nhỏ, phân tán, mục đích của sản xuất đa số còn mang tính tự cung tự cấp, nên chưa thể áp dụng được cho diện rộng Mặt khác, nếu chỉ đánh giá về lợi nhuận mà không chú ý đánh giá về hiệu quả môi trường, về hiệu quả xã hội thì không đánh giá được hiệu quả đó sẽ được bền vững hay không Vì vậy, việc xác định một cách đúng và đầy đủ khái niệm về hiệu quả phải đứng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê Nin và luận điểm của lý thuyết hệ thống Bản chất của hiệu quả chính là sự biểu hiện của trình độ tiết kiệm thời gian, trình

độ sử dụng các nguồn lực, khi đó ta có thể coi hiệu quả được xác định trong mối quan hệ so sánh tối ưu giữa kết quả thu được và lượng chi phí đã bỏ ra trong các điều kiện giới hạn về nguồn lực

Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu

Trang 12

5

cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề được quan tâm hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của cả nhà nông - những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp

Căn cứ vào nhu cầu thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao, là một trong những điều tiên quyết để phát triển nền nông nghiệp hiện nay

2.1.2 Phân loại hiệu quả

Ngày nay, mọi hoạt động sản xuất của con người đều hướng đến mục tiêu là kinh tế Tuy nhiên, để sản xuất đạt được hiệu quả thì nhất thiết không chỉ đạt mục tiêu về kinh tế mà đồng thời phải tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống xã hội và môi trường của con người Những kết quả đó có thể là:

- Cải thiện điều kiện sống và làm việc của con người, nâng cao thu nhập;

- Cải tạo xã hội, nâng cao đời sống tinh thần cho người dân;

- Cải tạo môi trường sinh thái, tạo ra một sự phát triển bền vững trong sử dụng đất

Căn cứ vào những mục tiêu có thể đạt được người ta chia hiệu quả thành

3 loại:

* Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng của các hoạt động sản xuất Mục tiêu của sản xuất là đáp ứng mức sống ngày càng tăng về mặt vật chất và tinh thần của toàn xã hội, trong khi nguồn lực sản xuất

xã hội ngày càng trở nên khan hiếm Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội

Trang 13

Trên cơ sở thực hiện vấn đề tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động (vật hoá và lao động sống) giữa các ngành Theo quan điểm của Mác đó là quy luật “tiết kiệm”, là “tăng năng suất lao động xã hội” hay đó

là tăng hiệu quả Ông cho rằng: “Nâng cao năng suất lao động, vượt qua nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở của hết thảy mọi xã hội” [3]

- Quan điểm thứ 2: Các nhà kinh tế XHCN, đại diện là Liên Xô cũ đã dựa vào lý luận chung của Các Mác để phát triển CNXH Ở đây, hiệu quả kinh tế cao được biểu hiện bằng sự đáp ứng được yêu cầu quy luật kinh tế

cơ bản của CNXH và hiệu quả kinh tế cao được xác định bằng nhịp độ tăng tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân cao Do vậy quan điểm này mới chỉ để cập đến nhu cầu tiêu dùng, quỹ tiêu dùng là mục địch cuối cùng cần đạt được của nền sản xuất xã hội, nhưng chưa đề cập đến quỹ tích luỹ để làm điều kiện phương tiện đạt được mục đích đó [1]

- Quan điểm thứ 3: Các nhà khoa học kinh tế Samuelson – Nordhuas cho rằng: “Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí” Nghiên cứu hiệu quả phải xét đến chi phí cơ hội, “hiệu quả sản xuất phải diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác Mọi nền kinh tế có hiệu quả phải nằm trên đường giới hạn và sản lượng tiềm năng sản xuất của nó” [7]

- Quan điểm thứ 4: Hiệu quả trên quan điểm kinh tế thị trường: Xã hội chịu sự chi phối bởi quy luật khan hiếm nguồn lực, thực tế các nguồn lực như

Trang 14

7

đất đai, lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên khan hiếm Trong khi đó nhu cầu xã hội tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng Do vậy, vấn đề đặt ra là phải tiết kiệm nguồn lực, từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực nói chung, trước hết mỗi quá trình sản xuất phải lựa chọn đầu vào tối ưu [27] Như vậy, trên thực tế có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh

tế, nó là một phạm trù kinh tế chung nhất, là khâu trung tâm của các loại hiệu quả Hiệu quả kinh tế có khả năng lượng hoá, tính toán chính xác trong mối quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần các nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối và so sánh tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó

Hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp về bản chất cũng giống như các ngành sản xuất khác: Với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội [ 19]

* Hiệu quả xã hội

Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra [22], [36] Ở đây, hiệu quả xã hội phản ánh những khía cạnh vầ mối quan hệ xã hội giữa con người với con người như vấn đề công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội

Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp Trong giai đoạn hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp đang được nhiều nhà khoa học đặc biệt quan tâm [29]

Trang 15

8

* Hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường trong sử dụng đất là một vấn đề mang tính toàn cầu, ngày nay đang được đặc biệt quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất Điều này có nghĩa là mọi hoạt động sản xuất, mọi biện pháp khoa học kỹ thuật, mọi giải pháp về quản lý được coi là có hiệu quả khi chúng không gây tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí cũng như không làm ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học

Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất cà môi trường sinh thái [37]

2.1.3 Quan điểm về sử dụng đất nông nghiệp bền vững

2.1.3.1 Khái quát về đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp

Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp

Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, xã hội, khi mức sống của con người còn thấp, công năng chủ yếu của đất là tập trung vào sản xuất vật chất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu nhỏ lẻ, tự cung, tự cấp để phục

vụ việc ăn, ở, mặc Khi con người biết sử dụng đất đai vào cuộc sống cũng như sản xuất thì đất đai đóng vai trò quan trọng trong hiện tại và tương lai

Từ thế kỷ XVIII và nhất là thế kỷ XX, việc phát triển công nghiệp và khoa học kỹ thuật đã đem lại thành tựu kỳ diệu là thay đổi hẳn bộ mặt trái đất

và cuộc sống con người Nhưng do chạy theo lợi nhuận tối đa cục bộ không có một chiến lược phát triển chung nên đã gây ra hậu quả tiêu cực: ô nhiễm môi trường và thoái hoá đất Hàng năm gần 12 triệu ha rừng nhiệt đới bị tàn phá ở

Trang 16

9

châu Mỹ La tinh và châu Á Cân bằng sinh thái bị phá vỡ, hàng triệu ha đất đai

bị hoang mạc hoá [13] Theo kết quả điều tra của UNDP và Trung tâm thông tin nghiên cứu đất quốc tế (ISRIC) đã cho thấy cả thế giới có khoảng 13,4 tỷ ha đất thì đã có 2 tỷ ha bị thoái hoá ở các mức độ khác nhau trong đó châu Á và châu Phi là 1,2 tỷ ha chiếm 62% tổng diện tích đất bị thoái hoá [5] Số liệu trên cho ta thấy đất đai bị thoái hoá tập trung ở các nước đang phát triển

Trong lịch sử phát triển của thế giới bất cứ nước nào dù phát triển hay đang phát triển thì việc sản xuất nông nghiệp đều có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, tạo ra sự ổn định xã hội và mức an toàn lương thực quốc gia Sản phẩm nông nghiệp là nguồn tạo ra thu nhập ngoại tệ, tuỳ theo lợi thế của mình mà mỗi nước có thể xuất khẩu thu ngoại tệ hay trao đổi lấy sản phẩm công nghiệp

để đầu tư lại cho nông nghiệp và các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, hiện tại dân số thế giới vào khoảng hơn 6 tỷ người thì lượng lương thực còn có thể đáp ứng được, tuy nhiên không đồng đều giữa các vùng Vì vậy, trong thời gian tới nông nghiệp sẽ phải gánh chịu sức ép của nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày càng tăng của con người Hiện nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỷ ha, còn lại đa phần là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Quy mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: Châu Mỹ 35 %, Châu Á 26 %, Châu Âu 13 %, Châu Phi 20 %, Châu Đại Dương 6 % Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người toàn thế giới là 12.000 m2 (Mỹ

2000 m2, Bungari 7000 m2, Nhật Bản 650 m2) Theo báo cáo của UNDP năm

1995 ở khu vực Đông Nam Á bình quân diện tích đất trên đầu người của một

số nước như sau: Indonesia 0,12 ha, Malaysia 0,27 ha, Philippin 0,13 ha, Thailand 0,42 ha, Việt Nam 0,1 ha [1]

Theo Vũ Thị Phương Thuỵ (2000), [22] dân số thế giới tăng nhanh trong vòng 25 năm (1965 – 1990) là 86,5 % (từ 3.027 triệu người đến 5.100 triệu

Trang 17

10

người) trong khi đó diện tích đất canh tác chỉ tăng 9,7 % (từ 1.380 triệu ha đến 1.520 triệu ha) Dự kiến tính đến năm 2025 dân số thế giới tăng lên 8.300 triệu người, diện tích đất canh tác tăng lên không đáng kể (1.650 triệu ha), do đó diện tích đất canh tác bình quân đầu người sẽ tiếp tục giảm chỉ còn 1.990 m2 Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2005 [17] tổng diện tích tự nhiên của

cả nước là 33.121.159 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp chỉ có 24.822.560 ha; dân số là 80.902,4 triệu người, bình quân diện tích đất nông nghiệp là 3.068 m2/người So sánh với 10 nước khu vực Đông Nam Á, tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam xếp thứ 2, bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người của Việt Nam đứng vị trí thứ 9 trong khu vực

Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho

xã hội về nông sản phẩm đang trở thành một trong những mối quan tâm lớn nhất của người quản lý và sử dụng đất

2.1.3.2 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp

Từ khi biết sử dụng đất đai vào mục đích sinh tồn của mình, đất đai đã trở thành cơ sở cần thiết cho sự sống hiện tại cũng như cho tương lai phát triển của con người Trước đây, khi dân số còn ít, việc khai thác đất đai để đáp ứng nhu cầu của con người là quá dễ dàng, con người chưa làm ảnh hưởng lớn đến tài nguyên đất Nhưng đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người về các sản phẩm được lấy từ đất ngày càng tăng Một vài thập kỷ trở lại đây, do sức ép từ sự gia tăng dân số, nhu cầu của quá trình đô thị hoá và phát triển các ngành kinh tế đặc biệt là ở các nước đang phát triển đã gây áp lực rất lớn đối với đất đai, nhất là đất nông nghiệp

Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta cần hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở cân nhắc những mục

Trang 18

11

tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên đất đai

Theo Fetry [39] cho rằng sự phát triển bền vững trong nông nghiệp chính

là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động vật và thực vật không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội Sử dụng đất nông nghiệp bền vững dựa trên các quan điểm [11]:

- Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất

- Giảm thiểu mức rủi ro trong sản xuất

- Bảo vệ tài nguyên tự nhiên và ngăn chặn sự thoái đất và nước

- Có hiệu quả lâu bền

- Được xã hội chấp nhận

Năm nguyên tắc trên là cốt lõi của việc sử dụng đất đai bền vững, nếu sử dụng đất đai đảm bảo các nguyên tắc trên thì đất đai được bảo vệ cho phát triển nông nghiệp bền vững

Mục tiêu của nông nghiệp bền vững là xây dựng một hệ thống ổn định

về mặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con người, mà không bóc lột đất, không gây ô nhiễm môi trường Nông nghiệp bền vững sử dụng những đặc tính vốn có của cây trồng vật nuôi kết hợp với đặc trưng của cảnh quan và cấu trúc trên diện tích đất sử dụng một cách thống nhất Nông nghiệp bền vững là một hệ thống mà nhờ đó con người

có thế tồn tại được, sử dụng nguồn lương thực và tài nguyên phong phú của thiên nhiên mà không liên tục huỷ diệt sự sống trên đất

Ở Việt Nam đã hình thành nền văn minh lúa nước hàng ngàn năm nay,

có thể coi là một mô hình nông nghiệp bền vững ở vùng đồng bằng, thích hợp với điều kiện tự nhiên ở nước ta Trong những năm gần đây nhiều mô hình

Trang 19

12

vườn – ao – chuồng (VAC), mô hình nông – lâm kết hợp trên đất đồi thực chất là những kinh nghiệp truyền thống được đúc rút từ quá trình đấu tranh lâu dài, bền vững với thiên nhiên khắc nghiệt của con người để tồn tại và phát triển

2.2 ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG ĐẤT VÙNG ĐỒI GÒ

2.2.1 Khái niệm đất đồi gò

Hiện nay có rất nhiều ý kiến khác nhau về giới hạn độ cao của vùng đồi

gò Tỉnh Quảng Bình xếp các vùng lãnh thổ có độ cao 200m trở xuống so với mặt nước biển thuộc vùng đồi gò, tỉnh Quảng Trị xếp các vùng có độ cao từ 25m – 300m, tỉnh Thừa Thiên Huế thì cho rằng, đồi gò là vùng đất có độ cao 10m – 250m, còn Nghệ An, Thanh Hoá đã xếp những khu vực có độ cao 400m – 500m vào vùng đồi gò Chính những quan niệm khác nhau này dẫn đến diện tích vùng đồi gò của các địa phương có sự khác nhau khá lớn

Nhìn chung, đồi gò được hiểu là vùng lãnh thổ chuyển tiếp giữa núi và đồng bằng (có nơi chạy ra sát biển) hoặc những vùng đất cao xen với đồng bằng, có độ cao từ 10m – 300m so với mặt biển [34]

Theo một số quan điểm khác, đất đồi gò thuộc vùng đất dốc, là đất có mặt nghiêng so với bề mặt trái đất bình thường Ở Việt Nam khái niệm về đất dốc thường được dùng để chỉ những vùng trung du miền núi Tuỳ theo mục đích sử dụng đất đai mà độ dốc của vùng trung du miền núi được chia ra nhiều cấp độ khác nhau:

- Đối với đất sản xuất nông nghiệp độ đốc có các cấp độ

- Đối với sản xuất lâm nghiệp chủ yếu ở cấp độ dốc từ 250 trở lên

Trong các vùng đất dốc thì đất đồi gò cơ bản là vùng đất có độ dốc nhẹ

Trang 20

đất nương dẫy du canh trồng cây lương thực, chính vì thế theo Ngô Thế Dân,

Trần An Phong [4] “ hàng năm bị xói mòn 250-350 tấn đất màu/ha” Đối với các vùng đồi gò một số nơi nhân dân đã biết đưa một số cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày như chè, mía, dứa vào sản xuất Hiện nay nhờ có sự đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế trong đó có nông nghiệp, nhiều nơi đã mạnh dạn đầu tư xây dựng hệ thống giao thông, thuỷ lợi, thực hiện quy hoạch sử dụng đất gắn liền với các biện pháp cải tạo và bảo vệ đất, do đó có điều kiện từng bước chuyển đất trồng màu sang trồng cây ăn quả và cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao

Việc canh tác trên đất đồi gò có những thuận lợi và khó khăn chủ yếu sau:

+ Những lợi thế

Trên tất cả các vùng đất dốc có rất nhiều ưu thế trong phát triển nông nghiệp Trước hết đó là một vùng sinh thái nhân văn đa dạng về văn hoá tộc người Mỗi dân tộc đều bảo lưu những tri thức truyền thống hết sức quý giá

về canh tác nông nghiệp, về quản lý tài nguyên Đây là vốn tri thức địa phương độc đáo để họ thích ứng được với hoàn cảnh sống Hãy quan sát cách làm ruộng bậc thang của người H’Mông ở SaPa, Phong Thổ, Mù Cang

Trang 21

14

Chải Họ đã thiết kế những cánh đồng ruộng bậc thang hàng trăm bậc cheo leo trên sườn dốc; họ chia cánh đồng của họ thành 3 khu vực (đỉnh, sườn và chân núi) mỗi khu vực có một thời vụ, một mật độ cấy riêng Hãy đến thăm phương thức thổ canh hốc đá của họ ở Hà Giang ta sẽ thấy cách xen canh gối

vụ trên vùng núi đá cực bắc Tổ quốc mới tuyệt vời làm sao Hãy xem cách người Dao vào núi hái thuốc, người Thái làm mương, phai, lán, lín chúng ta

sẽ thấy tiềm năng phát triển nông nghiệp trên vùng đất dốc thật là to lớn

Địa hình phước tạp và bị chia cắt mạnh đã tạo nên sự đa dạng của cá hệ canh tác, đa dạng của các giống loài cây trồng vật nuôi Chúng ta có khả năng phát triển cả cây, con của vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới Đây là một lợi thế trong phát triển nông sản hàng hoá Khí hậu miền núi tuy có khắc nghiệt nhưng nhìn chung là mát mẻ và ẩm hơn đồng bằng, lại không hoặc ít có bão, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Một số vùng có điều kiện phát triển nhiều loại cây ôn đới có giá trị cao và chăn nuôi bò sữa, phát triển cây công nghiệp dài ngày, chăn nuôi đại gia súc và trồng rừng Cũng chính do có khí hậu đặc thù, đã hình thành từ lâu đời nhiều vùng nông, lâm đặc sản như hồi, mận (Lạng Sơn), Quế (Trà My, Văn Yên), Hồng (Đà Lạt, Lạng Sơn), Đào (SaPa), Chè (Suối Giàng, Tân Cương), Cà phê (Buôn Ma Thuột)

Do vị trí địa lý, Trung du – miền núi nước ta có nhiều lợi thế về thị trường Các tỉnh đồng bằng và các thành phố lớn trong khu vực là thị trường trực tiếp của các loại nông sản từ miền núi Miền núi có đường biên giới chạy dài trên 4000km với Trung Quốc, Lào và Campuchia, giúp vùng cao có thể dễ dàng tiếp cận với thị trường quốc tế rộng lớn [30]

+ Những hạn chế

Khó khăn lớn nhất cho việc phát triển nông nghiệp trên vùng đất dốc là địa hình chia cắt mạnh, tạo thành nhiều tiểu vùng sinh thái khác biệt Trên các tiểu vùng đó, các dân tộc ít người sinh sống theo sắc tộc, dòng họ đã tạo nên

Trang 22

Mo, hàm lượng nhôm di động cao gây ngộ độc cho cây [31]

Thực bì che phủ đất kể cả rừng và tầng đất mặt đã bị lạm dụng và thoái hoá ngày càng nghiêm trọng Theo Ngô Thế Dân và Trần An Phong [4] đã trích dẫn tài liệu của FAO: “ độ che phủ mặt đất ở các nước đã phát triển bình quân là 41%, ở các nước đang phát triển là 29,5% và mức an toàn về sinh thái là 35 %, trong khi đó ở nước ta theo số liệu thống kê từ năm 1991 chỉ còn 28,9%”, hiện nay tỷ lệ đó còn thấp hơn, là do việc khai thác rừng ngày càng lớn, nhưng việc trồng rừng bổ xung thì quá chậm Đặc biệt, theo Ngô Thế Dân [4]: “Ở địa hình vùng Tây bắc, đầu nguồn của Thuỷ điện sông

Đà chỉ còn 10%” Vì vậy đất dễ bị xói mòn, dễ bị lũ lụt khi mùa mưa đến, mùa khô dễ gây ra tình trạng thiếu nước nghiêm trọng làm cho đất đai ngày càng bị thoái hoá mất khả năng sản xuất, môi trường tự nhiên và sự cân bằng sinh thái ngày càng bị đảo lộn

Về cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống giao thông còn lạc hậu, chưa phát triển, những nơi đã có thì bị xuống cấp nhanh do không được sửa chữa kịp thời, làm cho công việc đi lại trong quá trình sản xuất và vận chuyển sản phẩm hàng hoá gặp nhiều khó khăn Các cơ sở vật chất kỹ thuật khác như: Các trạm, trại nghiên cứu về giống cây trồng, vật nuôi, các trạm thú y, bảo vệ thực vật, dịch vụ vật tư nông nghiệp, chưa đáp được kịp thời nhu cầu sản xuất

và phát triển kinh tế xã hội của vùng

Trình độ dân trí đa số còn thấp, tệ nạn xã hội như mê tín dị đoan và các

hủ tục lạc hậu khác vẫn còn phổ biến trong đời sống xã hội của vùng trung du

Trang 23

2.3.1 Nguyên nhân gây xói mòn đất

Xói mòn là hiện tượng làm mất lớp mặt hoặc hoặc tầng đất mặt do gió

ở vùng khí hậu khô hạn hoặc do nước chảy trên bề mặt ở vùng khí hậu ẩm ướt Ở Việt Nam, xói mòn chủ yếu là do nước gây ra

Nguyên nhân gây ra xói mòn ở Việt Nam:

- Lượng mưa lớn và tập trung

- Đất dốc tạo dòng chảy

- Thảm thực vật che phủ bị tàn phá một cách nặng nề do du canh, du

cư, chặt phá rừng bừa bãi, do hậu quả của chiến tranh

Những yếu tố ảnh hưởng đến lượng đất bị xói mòn bao gồm mưa, độ dốc, chiều dài sườn dốc, mức độ che phủ của cây và tính chất đất dốc Đất có rừng che phủ thì lượng đất bị xói mòn không đáng kể

Theo Trần An Phong [16]:

+ Nếu đất có rừng, đất bị trôi 3-12 tấn/ha/năm

+ Nếu đất có trồng cà phê hay chè bị trôi 22-70 tấn/ha/năm

+ Nếu đất không trồng trọt chỉ có cỏ tự nhiên bị trôi 150-235 tấn/ha/năm

+ Nếu đất trồng sắn và lúa nương bị trôi 175-260 tấn/ha/năm

Nguyễn Quang Mỹ nghiên cứu ảnh hưởng của độ dốc đến xói mòn đất trên đất đỏ bazan có trồng chè một tuổi nhận thấy [12]:

+ Độ dốc 30 đất bị mất đi 96 tấn/ha/năm

+ Độ dốc 80 đất bị mất đi 211 tấn/ha/năm

+ Độ dốc 150 đất bị mất đi 305 tấn/ha/năm

Trang 24

17

Lê Văn Khoa và cộng tác viên nghiên cứu ảnh hưởng của chiều dài sườn dốc tới cường độ xói mòn rút ra nhận xét: nếu tăng chiều dài sườn dốc lên 2 lần thì lượng đất bị xói mòn tăng 7-8 lần [9]

Khi nghiên cứu thực tế ở Việt Nam nhiều nhà khoa học cũng đã đưa ra được những số liệu quan trọng về tình hình xói mòn đất trên các vùng trung

du, miền núi ở các địa phương khác nhau Theo Thái Phiên [15] cho biết kết quả nghiên cứu ở Ba Vì (Hà Tây), cho thấy lượng đất mất khác nhau tuỳ thuộc vào lượng mưa, cường độ mưa trong năm và các biện pháp kỹ thuật được áp dụng Với độ dốc khoảng 80 – 100 tại các ô thí nghiệm nghiên cứu đất trống và trên đất trồng cây không áp dụng các biện pháp chống xói mòn, lượng đất bị cuốn trôi do xói mòn cao hơn 30 – 50% (2-5 tấn/ha/năm) so với các ô có áp dụng băng cây xanh chống xói mòn (1 -2 tấn/ha/năm) Khi nghiên cứu trên đất bazan ở Đaklak (Tây Nguyên), theo Hồ Công Trực, Lương Đức Loan [28], lượng đất bị xói mòn trên các độ dốc khác nhau Số liệu thể hiện trong biểu 2.1

Biểu 2.1: Lượng đất bị xói mòn trên các độ dốc khác nhau ở Đaklak

(Tây Nguyên)

Cây trồng Độ dốc

(độ)

Lượng mưa (mm)

Lượng đất mất (tấn/ha) Lúa nương 50 - 70

100 - 120

1530

1530

255,0 138,3

Trang 25

18

Theo một số tác giả khác [24] khi nghiên cứu về xói mòn trên đất canh tác nương rẫy của đồng bào dân tộc thiểu số, cho thấy: mỗi năm tầng đất bị hao mòn từ 1,5 – 3cm, mỗi ha có thể bị trôi 130 – 200 tấn đất

Khi nghiên cứu về sự biến đổi độ phì nhiêu của đất theo các phương thức canh tác khác nhau về xói mòn trên đất nương rẫy, theo tác giả Thái Phiên và Nguyễn Tử Siêm [15] kết quả nghiên cứu xói mòn trên đất canh tác nương rẫy, đối với các loại đất khác nhau, lượng đất bị xói mòn sẽ khác nhau trên cá độ dốc khác nhau, với các cây trồng khác nhau, số liệu được thể hiện qua biểu 2.2

Qua đó ta thấy rằng, trên các vùng đất có độ dốc cao mà trồng các cây hàng năm thì không những năng suất không cao mà còn bị mất đất do xói mòn nhiều hơn

Xói mòn đất được chia thành: xói mòn mặt, xói mòn rãnh, trong đó có những rãnh xói mòn to thành các đường mương thoát nước và xói mòn rãnh nhỏ Xói mòn mặt làm cho lớp đất mặt mất dần đi một cách âm thầm lặng lẽ, nếu không để ý thường bị bỏ qua

Biểu 2.2: Xói mòn trên đất nương rẫy đối với từng loại đất

Chỉ tiêu theo dõi Đất nâu đỏ

bazan

Đất nâu đỏ bazan

Đất xám trên Granit Cây trồng

Độ dốc (độ)

Số năm canh tác

Độ dày tầng đất

Lượng đất bị xói mòn (tấn/ha/năm)

Năng suất (tấn/ha)

Lúa rẫy

10

Vụ 2 sau 8 năm bỏ hoá Trên 2 m

65 1,8

Lúa rẫy

15

3 năm sau khai hoang 1,5 m

88 1,1

Nguồn: [Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm, 1998, Canh tác bảo vệ đất dốc ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp , Hà Nội]

Lượng đất bị xói mòn thường phụ thuộc và chế độ canh tác Trong một

Trang 26

Đất có rừng (%) Diện tích

Nguồn: [Hội khoa học đất Việt Nam, (2000), Đất Việt Nam, Nxb nông nghiệp, Hà Nội]

Hãy làm một con tính ước lượng về tổn thất do xói mòn trên đất dốc, nếu lấy lượng xói mòn tối thiểu bình quân là 10 tấn/ha/năm với hàm lượng chất dinh dưỡng trung bình theo lượng đất trôi là C=2%, N=0,18%,

P2O5=0,08%, K2O=0,05% để quy ra lượng phân bón tương đương thì thiệt hại

do xói mòn đất là rất lớn, số liệu được thể hiện qua biểu 2.4

Biểu 2.4: Ước tính thiệt hại tối thiểu do xói mòn trên đất dốc

Chất mất đi Tính ra phân bón

(kg/ha/năm)

Thành tiền (đồng/ha/năm)

Trang 27

20

Nguồn: [Hội khoa học đất Việt Nam, (2000), Đất Việt Nam, Nxb nông nghiệp, Hà Nội]

Giả thử ở nước ta chỉ có 10 triệu ha đất bị xói mòn với lượng đất mất

đo bình quân là 10 tấn/ha/năm, thì hàng năm đã mất đi một lượng dinh dưỡng cho cây trồng tương đương với giá trị phân bón phải mua là 10 triệu x 60.000 đồng/ha = 600 tỷ đồng Đó là chưa tính lượng dinh dưỡng mất di do rửa trôi,

do nước thấm theo chiều sâu

Trong thực tế, thiệt hại về xói mòn đất còn lớn hơn nhiều Số liệu theo dõi trên đất phiến thạch dốc khoảng 150 tại Hoà Sơn, Lương Sơn, Hoà Bình sau 6 năm canh tác cây ngắn ngày trên đất canh tác không áp dụng các biện pháp chống xói mòn, tổn thất tính bằng tiền như sau [23]:

+ 4.757 kg hữu cơ, tương được với 23 tấn phân chuồng x 100.000 đồng/tấn = 2.300.000 đồng;

+ 141 kg N tương đương với 313 kg urê x 2.500 đồng/kg = 783.000 đồng;

+ 245 kg P2O5 tương đương 1531 kg phân lân Văn điển x 1.000đồng/kg

= 1.531.000 đồng;

+ 313 kg K2O tương đương 521 kg phân kali x 2.000 đồng/kg = 1.043.000 đồng

Tổng cộng: 5.657.000 đồng/ha trong 6 năm

Như vậy tổn thất do xói mòn hàng năm lên đến khoảng 1 triệu đồng/ha Trong điều kiện có áp dụng các biện pháp chống xói mòn đơn giản như tạo bằng cây xanh đồng mức, làm bờ mương lượng tổn thất do xói mòn giảm đi

50 – 70% so với đối chứng

Theo tính toán của các trạm thuỷ văn, hàng năm đất bị cuốn trôi ra biển tương đương khoảng 100.000 tấn đạm, 60.000 tấn lân, 200.000 tấn kali và 1 triệu tấn mùn Lượng dinh dưỡng đó tính ra tiền để mua phân bón tương đương thì hàng năm do xói mòn ta đã mất đi trên 500 tỷ đồng Trong thực tế

Trang 28

21

giá trị mất đi còn lớn hơn nhiều, vì lượng đất và dinh dưỡng mất đi đó chẳng thể nào và chẳng bao giờ bù lại được Trên 7,7 triệu ha đất trống đồi núi trọc trong toàn quốc là hậu quả nặng nề của quá trình phá rừng tuỳ tiện trong sử dụng đất [45]

2.3.2 Những nghiên cứu về sử dụng đất chống xói mòn

2.3.2.1 Những nghiên cứu về sử dụng đất chống xói mòn trên thế giới

Quan điểm sử dụng đất vùng đồi gò của các nước trên thế giới đều có xu hướng sử dụng đất bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với tính bền vững về mặt sinh thái và xã hội Điều đó có nghĩa là không chỉ quan tâm tới tăng trưởng kinh tế để giải quyết những nhu cầu bức xúc trước mắt (như giải quyết vấn đề lương thực, tăng thu nhập cho các hộ nông dân, xoá đói giảm nghèo ) mà còn đòi hỏi phải tạo ra được những nhân tố nuôi dưỡng sự tăng trưởng lâu dài

Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu quan tâm tới việc sử dụng đất vùng đồi gò, nhưng ban đầu các nghiên cứu này chỉ quan tâm tới hiệu quả kinh tế, mà chưa quan tâm tới vấn đề bảo vệ đất và bảo vệ môi trường Vào thế kỷ thứ 19 khi mà diện tích đất đai phục vụ cho sản xuất nhất là sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp và giảm chất lượng thì các nhà khoa học đã quan tâm tới vấn đề sử dụng đất chống xói mòn Trong đó có công trình nghiên cứu về xói mòn đất dưới hoạt động canh tác của nhà bác học Volni tiến hành năm 1870, và tiếp theo là các nghiên cứu của các tác giả Mille, Msgrave, Bernett, Bayor, Borrot, Law, Alden Giai đoạn này các nhà khoa học chủ yếu hướng vào nghiên cứu các biện pháp bố trí các băng cây xanh phòng hộ và bố trí các kiểu ruộng bậc thang để ngăn chặn, giảm bớt cường độ của dòng chảy [25]

Giai đoạn sau, các nhà khoa học của các nước trên thế giới đã tập trung nghiên cứu và đưa ra các mô hình về sử dụng đất chống xói mòn không chỉ bảo vệ đất chống xói mòn mà còn nâng cao năng xuất cây trồng vật nuôi

Trang 29

22

Tại Brazin: các kết quả nghiên cứu về tác dụng chống xói mòn của tán cây rừng cho thấy, nhờ có tán che phủ mà 67% động năng của mưa bị cản trở, còn lại 33%lượng mưa rơi trực tiếp xuống đất cũng bị ngăn chặn bởi thảm thực vật rừng Nếu không có lớp thảm thực vật che phủ thì với độ dốc 200 lượng đất bị xói mòn ở nhiều nơi thậm chí lên tới 500 – 700 tấn/ha/năm

Ở các nước Châu Âu cũng đã có nhiều thí nghiệm về việc tăng cường

độ che phủ mặt đất bằng cách trồng xen các loại cây phân xanh hoặc trồng thành các băng theo đường đồng mức, vừa có tác dụng che phủ mặt đất vừa

có tác dụng cố định đạm cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu của đất, như trồng

cỏ 3 lá ở các nước Anh, Hà Lan, Pháp và trồng cây họ đậu ở vùng Châu Phi Năm 1917 các nhà khoa học người Pháp đã nghiên cứu trồng cây cốt khí làm băng chắn xói mòn trên một số loại đất có độ dốc ở khu vực Đông Nam Á, kết quả không những làm giảm xói mòn mà còn góp phần làm tăng năng suất các loại cây trồng [25 ]

Ở Thái Lan, theo Phạm Xuân Hoàn [6] các hộ nông dân đã sử dụng mô hình nông lâm kết hợp đó là: trồng Lúa + Ngô, Sắn, Cây ăn quả Những nơi khô hạn trồng xen lúa mạch, khoai, dưa hấu với một số cây gỗ trụ mỏ là Scanty, ở các vườn của các gia đình trồng rau, cây ăn quả và ao thả cá Hiệu quả chung đạt 29 USD/tháng/hộ, có hộ đạt 59USD

Ở ấn độ thì có sử dụng các mô hình kết hợp: Dừa + Sắn; Dừa + Khoai

sọ + các cây bảo vệ; Dừa + Cacao

Ở Indonesia có một số mô hình kết hợp: Sầu riêng + Cây lấy gỗ + Quế + Cà phê; Cà phê + Cây ăn quả

Ở Philippin đã sử dụng các mô hình canh tác nông nghiệp trên đất dốc (Slopping Agricultural Land Technology – SALT) [35], các mô hình này đã được các hộ nông dân ở các địa phương của Philippin chập nhận ứng dụng và cũng đã được các nước Đông - Nam á học tập kinh nghiệm, triển khai thực

Trang 30

23

hiện Có 4 mô hình:

+ Mô hình SALT – 1: Kết hợp trồng cây công nghiệp ngắn ngày (50%), cây công nghiệp dài ngày (25%) và cây lâm nghiệp (25%) Các hàng của cây trồng chính rộng 4 – 6m, giữa các hàng có bố trí những dải hẹp trồng cây cố định đạm để giữ đất, chống xói mòn, làm phân xanh hoặc cây lấy gỗ củi Với

mô hình này hàng năm trên 1 ha có thể thu nhập một lượng hàng hoá gấp 1,5 lần so với trồng đơn thuần Đây là mô hình nông lâm kết hợp đơn giản, đầu tư thấp cần ít vốn và hiểu biết tối thiểu về kỹ thuật trồng trọt

+ Mô hình SALT – 2: Phát triển trồng trọt kết hợp với chăn nuôi, dành một phần đất trồng cỏ cho chăn nuôi để lấy thịt và sữa Đất đai dành 40% cho cây nông nghiệp ngắn ngày, 20% cho cây công nghiệp dài ngày, 20% cho cây lâm nghiệp và 20% trồng cỏ cho chăn nuôi Mô hình này đảm bảo cho nông hộ

có thu nhập đều đặn, tận dụng được tiềm năng của đất đai, năng lượng mặt trời,

đa dạng hoá sản phẩm và tăng được nguồn phân hữu cơ, phân xanh để cải tạo đất

+ Mô hình SALT – 3: Kết hợp sản xuất lương thực, thực phẩm với trồng rừng quy mô nhỏ: nơi đất thấp (sườn và chân đồi, khoảng 40%) dành cho các hàng cây lương thực, thực phẩm xen với các dải cây cố định, còn phần đất ở trên cao, khoảng 60% dành cho cây lâm nghiệp để trồng hoặc phục hồi rừng Qui mô thực hiện mô hình này là 5 – 10ha hoặc lớn hơn cho một cụm liên hộ, một bản, một xã Mô hình này đòi hỏi vốn đầu tư cao hơn, nhưng

có khả năng giữ đất, điều tiết nước và cải tạo khí hậu, phát triển bền vững hơn

+ Mô hình SALT – 4: kết hợp sản xuất nông nghiệp với trồng cây ăn quả qui mô nhỏ (đu đủ, cam, chanh, chuối, dứa ) và bố trí các cây công nghiệp lâu năm như chè, cà phê, ca cao , để duy trì sự ổn định và bền vững

về môi trường sinh thái Mô hình này đưa lại hiệu quả kinh tế cao, ngoài sản

Trang 31

24

phẩm lương thực, thực phẩm, các cây cố định đạm, chống xói mòn, cải tạo đất, còn có thêm sản phẩm hàng hoá để thu tiền mặt, trang trải các chi phí hàng ngày

2.3.2.2 Những nghiên cứu về sử dụng đất chống xói mòn trên đất đồi gò ở Việt Nam

Nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng của vùng đồi gò, thời gian qua

đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này ở các địa phương, trong đó có các kết quả nghiên cứu:

- Phát triển kinh tế – xã hội vùng gò đồi Bắc Trung Bộ của Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học công nghệ [35];

- Tuyển tập các kết quả nghiên cứu giai đoạn 1991 – 1996 về nông nghiệp trên đất dốc: thách thức và tiềm năng của các tác giả do Trần Đức Viên và Phạm Chí Thành biên tập [35];

- Kỹ thuật canh tác trên đất dốc, trình bày phương thức nông lâm kết hợp, cách trồng xen và luân canh cây công nghiệp, cây nông nghiệp để hạn chế tối đa tác hại của mưa và dòng chảy, tăng sức đề kháng và độ phì cho đất nhằm đưa lại hiệu quả kinh tế cao, bảo vệ đất lâu dài của nhóm tác giả Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài, Nguyễn Văn Tó [20];

- Đánh giá hiệu quả áp dụng mô hình nông lâm kết hợp trong việc cải tạo đất trống đồi núi trọc tại Tam Quan, Tam Đảo, Vĩnh Phúc của tác giả Đào Châu Thu và các cộng sự [27];

- Nông nghiệp bền vững: cơ sở và ứng dụng của các tác giả Nguyễn Văn Mần và Trịnh Văn Thịnh [13];

- Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp và đối tác trong vấn đề sản xuất nông lâm kết hợp ở Việt Nam của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2006 Chương trình đã tiến hành tổng kết lược sử phát triển nông lâm kết hợp ở Việt Nam; các cơ sở pháp lý liên quan đến nông lâm kết hợp

Trang 32

25

trên các loại đất khác nhau; Thực tiễn nông lâm kết hợp ở Việt Nam và các nước trong khu vực đã tổng kết và đưa ra các mô hình nông lâm kết hợp áp dụng trên các loại đất khác nhau của Việt Nam như: Đất đồi gò và trung du, Vùng núi cao, Trung du và đồng bằng và vùng ngập mặn ven biển, cũng như

đã đưa ra một số mô hình của các nước Đông Nam Á để tham khảo và áp dụng ở Việt Nam

2.3.3 Những nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất ở tỉnh và huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây

Tỉnh Hà Tây nằm ở phía hữu ngạn sông Đà và sông Hồng thuộc vùng châu thổ sông Hồng, địa hình của tỉnh Hà Tây rất đặc biệt so với các tỉnh khác bao gồm cả vùng đồng bằng, trung du và miền núi Vùng đồi gò của tỉnh Hà Tây gồm có 5 huyện Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức và Thành phố Sơn Tây Diện tích tự nhiên của vùng này là 118.000ha, địa hình vùng này chủ yếu là trung du và miền núi, có độ cao từ 10 – 1200m so với mặt nước biển Đây là một vùng mà có điều kiện tự nhiên và địa hình tương đối phức tạp và khắc nghiệt của tỉnh nên vùng này có tốc độ phát triển về kinh

tế, xã hội chậm hơn so với những vùng khác Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất của tỉnh Hà Tây nhưng lại có rất ít các công trình quan tâm tới hiệu quả sử dụng đất của vùng đồi gò nhất là vùng đồi gò của huyện Chương Mỹ

Năm 1993 tác giả Bùi Minh Tâm và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu về hiện trạng và tiềm năng phát triển nghề chăn nuôi bò ở vùng đồi gò của tỉnh Hà Tây [32] Đây là một trong những nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao, giúp phát triển ngành chăn nuôi của tỉnh Chương trình này tập trung nghiên cứu vào việc nâng cao tỷ trọng thu nhập từ ngành chăn nuôi mà trọng tâm là con bò, trong tổng thu nhập ngành nông nghiệp Nhưng đây cũng là hạn chế của chương trình nghiên cứu này bởi nó mới chỉ tập trung vào nghiên

Trang 33

26

cứu để phát triển ngành chăn nuôi của vùng đồi gò mà đối tượng chủ yếu là con bò trong khi để phát triển ngành nông nghiệp vùng đồi gò thì không thể chỉ phát triển ngành chăn nuôi, và tiềm năng phát triển chăn nuôi của vùng đồi gò thì không phải chỉ riêng con bò mà còn nhiều các vật nuôi khác có tiềm năng phát triển trên vùng đồi gò như Dê và Thỏ

Gần đây đã có một số chương trình nghiên cứu và điều tra về tình hình

sử dụng đất đai của các xã trong huyện Chương Mỹ, trong đó có đề tài của Nguyễn Mạnh Hưng [8] Đề tài đã xác định được kết quả sản xuất của một số cây trồng chính trên đất canh tác của các vùng đất khác nhau trong huyện, trong đó có vùng đồi gò Nhưng do địa bàn nghiên cứu rộng, nên đề tài mới chỉ tập trung nghiên cứu việc sử dụng đất canh tác, chưa đề cập đến việc sử dụng các loại đất nông nghiệp khác, chưa đánh giá được hiệu quả của các kiểu

sử dụng đất và các loại hình sử dụng đất

Tiếp đó, năm 2002 có đề tài nghiên cứu của tác giả Hoàng Đình Trà [25] Đề tài đã tập trung nghiên cứu về thực trạng sử dụng đất nông – lâm nghiệp vùng đồi gò của huyện Chương Mỹ, đánh giá được hiệu quả kinh tế sử dụng đất của một số cây trồng chính, của các kiểu sử dụng đất chính và một

mô hình kinh tế trang trại trong vùng Nhưng đề tài mới chỉ tập trung đánh giá hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất mà chưa đánh giá được hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường trong sử dụng đất

Ngoài ra còn có các chương trình khác về điều tra đánh giá về tình hình

sử dụng đất đai và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của các xã trong huyện, nhưng chỉ mang tính chất chuyên đề, đánh giá tổng kết hàng năm mà chưa đi sâu nghiên cứu để đánh giá được hiệu quả của việc sử dụng đất nông nghiệp vùng đồi gò trên quan điểm sử dụng đất bền vững

Trang 34

27

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động đến hiệu quả sử dụng đất của huyện nói chung và của vùng đồi gò nói riêng;

- Thực trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp vùng đồi gò của huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây

3.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Do giới hạn về thời gian đề tài chỉ tiến hành tập trung nghiên cứu điểm trên 3 xã của vùng đồi gò của huyện Chương Mỹ gồm: Xã Nam Phương Tiến,

xã Trần Phú, xã Thuỷ Xuân Tiên đại diện cho 3 khu vực khác nhau của vùng

Trong đó, xã Thuỷ Xuân Tiên nằm ở trung tâm của vùng đồi gò, gần hai trung tâmkinh tế lớn của vùng và có ảnh hưởng nhiềuđến sản xuất hàng hoá của vùng Xã Nam Phương Tiến nằm về phía Nam của vùng đồi gò, có sự phân bố dân cư khá phức tạp Chiều dài của xã là trên 10km, khu dân cư bị chia cắt làm hai bởi xã Tân Tiến đan xen vào giữa Xã Trần Phú nằm về phía Đông của vùng đồi gò, đất đai bị kết von đá ong nhiều, dân cư có hai dân tộc cùng sinh sống Vì vậy theo chúng tôi 3 xã trên có thể đại diện cho các đặc thù chung của vùng đồi gò

3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.3.1 Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội có liên quan tới hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của vùng đồi gò

- Điều kiện tự nhiên

+ Vị trí địa lý + Địa hình + Khí hậu, thời tiết + Đặc điểm và tính chất đất đai

Trang 35

28

+ Thuỷ văn

- Điều kiện kinh tế, xã hội

+ Tình hình dân số lao động + Các chỉ tiêu cơ bản về kinh tế, xã hội của vùng đồi gò + Tập quán canh tác và các loại cây trồng chủ yếu của vùng đồi gò

3.3.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp vùng đồi gò

3.3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng đồi gò

3.3.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp của vùng đồi

3.3.3.2 Đánh giá hiệu quả về mặt xã hội

3.3.3.3 Đánh giá hiệu quả về mặt môi trường

3.3.4 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng đồi gò

- Điều kiện tự nhiên;

- Điều kiện kinh tế;

- Điều kiện xã hội;

- Cơ chế, chính sách;

3.3.5 Đề xuất hướng sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp vùng đồi gò

- Quan điểm sử dụng đất vùng đồi gò;

Trang 36

29

- Mục tiêu sử dụng đất vùng đồi gò;

- Phương hướng sử dụng đất vùng đồi gò;

- Đề xuất hướng sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp vùng đồi gò

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.4.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Điểm nghiên cứu được chọn dựa trên những tiêu chí sau đây:

- Thể hiện tính đại diện của vùng nghiên cứu;

- Đa dạng về các loại hình sử dụng đất;

- Đa dạng về chủ thể tham gia (hộ gia đinh, cá nhân, doanh nghiệp );

- Đa dạng về các thành phần dân tộc, văn hoá;

* Việc chọn vùng nghiên cứu được thực hiện như sau:

- Chọn vùng nghiên cứu: Do giới hạn về thời gian và mục tiêu nghiên cứu nên đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của vùng đồi gò của huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (bao gồm 12 xã và thị trấn nằm ven Quốc lộ 6 và Quốc lộ 21A) đó là: Thị trấn Xuân Mai, xã Đông Phương Yên, xã Đông Sơn, xã Thanh Bình, xã Thuỷ Xuân Tiên, xã Tân Tiến,

xã Nam Phương Tiến, xã Hoàng Văn Thụ, xã Hữu Văn, xã Mỹ Lương, xã Trần Phú, xã Đồng Lạc

- Chọn xã nghiên cứu: Việc lựa chọn các xã để nghiên cứu có thể căn

cứ vào nhiều tiêu chí khác nhau nhưng do giới hạn về thời gian và nguồn lực nghiên cứu nên việc lựa chọn này phụ thuộc vào: 1) Xã có tính đại diện về vị trí địa lý; 2) Có tính đại diện về quy mô diện tích; 3) Có tính đa dạng về các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của vùng; 4) Đa dạng về các chủ thể tham gia; 5) Đa dạng về các thành phần dân tộc, văn hoá

Tổng số xã lựa chọn để khảo sát nghiên cứu là 3 xã, gồm: xã Nam Phương Tiến, xã Trần Phú, xã Thuỷ Xuân Tiên

Trong mỗi xã dự kiến sẽ lựa chọn 50 hộ có các loại hình sử dụng đất

Trang 37

3.4.2 Phương pháp điều tra thu thập thông tin thứ cấp

Tiến hành thu thập toàn bộ các tài liệu có liên quan từ các nguồn khác nhau: Phòng Tài nguyên môi trường, phòng Thống kê, các xã ;

- Các văn bản pháp quy có liên quan đến việc sử dụng đất đai;

- Các tài liệu và kết quả nghiên cứu có liên quan đến việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của vùng đồi gò;

- Các báo cáo của các cấp chính quyền địa phương về tình hình sản xuất nông nghiệp;

- Các loại tài liệu khác có liên quan như: bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ thổ nhưỡng

3.4.3 Phương pháp điều tra thu thập thông tin sơ cấp

- Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA): tiến hành đi thực địa, điều tra nhanh;

- Phương pháp điều tra có sự tham gia của cộng đồng (PRA): Điều tra theo bộ câu hỏi chuẩn bị sẵn, tổ chức thảo luận nhóm

3.4.4 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu

Thông tin, số liệu thu thập được sẽ được xử lý theo từng nội dung nghiên cứu Cụ thể:

- Các thông tin định lượng (tổng hợp từ các bảng hỏi, biểu mẫu) sẽ được xử lý thống kê bằng sự hỗ trợ của phần mềm excel;

- Các thông tin định tính (từ các cuộc phỏng vấn nhanh, thảo luận nhóm ) sẽ được tổng hợp, xử lý nhờ phần mềm Word và excel;

- Phân tích SWOT (Strengths, Weakesses, Opportunities, Theats): là

Trang 38

- Phương pháp tính toán theo định mức;

- Phương pháp minh hoạ bằng bản đồ

3.5 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

3.5.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế

Để đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng các hệ thống chỉ tiêu bao gồm: + Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch

vụ của từng ngành, từng đơn vị được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian nhất định (thường tính theo 1 năm)

Đối với gia súc, gia cầm thì tính bằng sản lượng nhân với giá bán; Đối với cây nông nghiệp ngắn ngày hoặc dài ngày tính bằng sản lượng nhân với giá bán;

i n

i

i P Q

=

=

1

Trong đó: Q i là khối lượng sản phẩm loại i

P i là đơn giá sản phẩm loại i Đối với cây lâm nghiệp, do đặc điểm của cây lâm nghiệp là chu kỳ kinh doanh dài thường tính từ 7 đến 8 năm, thậm chí đến 15 hoặc 20 năm (nếu là rừng kinh tế), việc trồng cây lâm nghiệp không những có ý nghĩa về mặt kinh

tế mà còn góp phần rất lớn trong việc phòng hộ và môi trường sinh thái, nên đánh giá đúng giá trị của rừng là việc làm rất cần thiết Giá trị kinh tế của cây

Trang 39

32

lâm nghiệp được xác định bằng việc tính giá cây đứng:

Gcđ = Gb – (Ckt + Cvc) – T Trong đó: Gcđ: Giá bán cây đứng (đồng/m3)

Gb: Giá bán lâm sản tại nơi tiêu thụ (đồng/m3)

Ckt và Cvc lần lượt là chi phí khai thác và vận chuyển lâm sản từ rừng đến nơi tiêu thụ (đồng/m3)

T: thuế phải nộp (đồng/m3) + Chi phí trung gian (CPTG): là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên như chi phí nguyên vật liệu, giống, phân bón, chi phí dịch vụ phục vụ cho sản xuất (không tính khấu hao tài sản cố định và các khoản thuế)

j P C CPTG

1

Trong đó: C jlà số chi phí đầu tư thứ j

P jlà đơn giá loại j + Giá trị gia tăng (GTGT): là chỉ tiêu hiệu quả phản ánh tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ do các ngành sản xuất tạo ra trong một thời gian nhất định (thường tính theo 1 năm)

GTGT = GTSX – CPTG + Thu nhập hỗn hợp (TNHH): là chỉ tiêu hiệu quả phản ánh thu nhập thuần tuý của người sản xuất bao gồm cả lao động và lợi nhuận sản xuất

TNHH = GTGT – T – A – L Trong đó: VA: Giá trị gia tăng T: thuế

A: Khấu hao tài sản cố định

L: Lao động thuê ngoài + Giá trị ngày công lao động: là chỉ tiêu biểu thị giá trị thu được bình quân trên ngày công lao động, phản ánh trình độ tổ chức, quản lý lao động

Trang 40

33

trong quá trình sử dụng đất Nó không những phản ánh hiệu quả sử dụng đất đai mà còn phản ánh năng suất lao động trong quá trình sản xuất (GTSX/LĐ)

+ Thu nhập hỗn hợp trên ngày công lao động (TNHH/LĐ)

3.5.2 Đánh giá hiệu quả xã hội

Đánh giá hiệu quả xã hội là chỉ tiêu rất khó định lượng, đặc biệt là phải

có thời gian dài, tiến hành nghiên cứu một cách khoa học, chi tiết để thấy được những ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp ở các mức độ nặng nhẹ khác nhau của các loại hình sử dụng đất Nhưng do điều kiện thời gian có hạn trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tối chỉ tiến hành đề cập đến một số chỉ tiêu cơ bản:

+ Mức độ chấp nhận của người dân;

+ Hiệu quả giải quyết việc làm;

+ Khả năng phát triển về sản xuất và tiêu thụ hàng hoá

Để đánh giá các chỉ tiêu này chúng tôi sử dụng phương pháp đánh giá

có sự tham gia của người dân địa phương để đưa ra hiệu quả xã hội của từng loại hình sử dụng đất

a, Cách xác định mức độ chấp nhận của người dân:

Trên thực tế chúng ta thấy rằng, một mô hình sử dụng đất có được lựa chọn hay không ngoài việc đạt hiệu quả kinh tế, bảo vệ đất thì điều quan trọng

là phải được người dân chấp nhận Mức độ chấp nhận của người dân thì phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Nhận thức của người dân, trình độ dân trí, phong tục tập quán, khả năng đầu tư, trình độ khoa học kỹ thuật, thị trường Tuy nhiên, một mô hình muốn được chấp nhận thì phải đáp ứng được 2 yêu cầu:

+ Khả năng đáp ứng nhu cầu trước mắt: tức là mô hình có sản phẩm đáp ứng được nhu cầu hiện tại của người dân;

+ Khả năng đầu tư và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật: mô hình nào

có mức độ đầu tư thấp hơn, dễ làm hơn thì sẽ được người dân chấp nhận và

Ngày đăng: 03/12/2013, 14:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

4.3.2.1. Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của vùng đồi gò - Đánh giá thực trạng và đề xuất hướng sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp vùng đồi gò huyện chương mỹ, tỉnh hà tây
4.3.2.1. Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của vùng đồi gò (Trang 60)
Biểu 4.5: Các loại hình sử dụng đất chính của vùng đồi gò - Đánh giá thực trạng và đề xuất hướng sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp vùng đồi gò huyện chương mỹ, tỉnh hà tây
i ểu 4.5: Các loại hình sử dụng đất chính của vùng đồi gò (Trang 61)
Biểu 4.9: Hiệu quả sử dụng đất của một số mô hình kinh tế trang trại của vùng đồi gò - Đánh giá thực trạng và đề xuất hướng sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp vùng đồi gò huyện chương mỹ, tỉnh hà tây
i ểu 4.9: Hiệu quả sử dụng đất của một số mô hình kinh tế trang trại của vùng đồi gò (Trang 78)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w