ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA NGỮ VĂN TỪ NGỮ LÓNG VÀ TỪ NGỮ NGHỀ NGHIỆP TRONG PHÓNG SỰ CẠM BẪY NGƯỜI, KĨ NGHỆ LẤY TÂY VÀ LỤC XÌ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
TỪ NGỮ LÓNG VÀ TỪ NGỮ NGHỀ
NGHIỆP TRONG PHÓNG SỰ CẠM BẪY NGƯỜI, KĨ NGHỆ LẤY TÂY VÀ LỤC XÌ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS TS Bùi Trọng Ngoãn – Giảng viên khoa Ngữ Văn,
trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính khoa học cũng như nội dung trích dẫn
và các tài liệu tham khảo của khóa luận
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2018
Tác giả khóa luận Phạm Thị Bích Ngọc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, sự đóng góp ý kiến của các thầy cô trong tổ Ngôn ngữ và đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy Bùi Trọng Ngoãn Em xin chân thành cảm ơn thầy cô và các bạn đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do hạn chế về điều kiện, thời gian và trình độ nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Em mong nhận được sự đóng góp chân thành của thầy cô để đề tài được hoàn thiện và mang tính khả thi hơn
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện Phạm Thị Bích Ngọc
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 7
3.1 Mục đích nghiên cứu 7
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Dự kiến đóng góp của đề tài 8
6 Bố cục của đề tài 9
NỘI DUNG 10
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 10
1.1 Từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp 10
1.1.1 Từ ngữ lóng 10
1.1.2 Từ ngữ nghề nghiệp 12
1.1.3 Mối quan hệ giữa từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp 14
1.2 Vũ Trọng Phụng và ba tập phóng sự Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục xì 15
1.2.1 Đôi nét về Vũ Trọng Phụng 15
1.2.2 Ba tập phóng sự Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục xì 18
1.3 Tiểu kết chương một 20
CHƯƠNG II: KHẢO SÁT TỪ NGỮ LÓNG VÀ TỪ NGỮ NGHỀ NGHIỆP TRONG PHÓNG SỰ “CẠM BẪY NGƯỜI”, “KĨ NGHỆ LẤY TÂY”, “LỤC XÌ” CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG 21
2.1 Từ ngữ lóng trong phóng sự Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục xì ……….21
2.1.1 Đặc điểm cấu tạo từ ngữ lóng 21
2.1.1.1 Các đơn vị lóng có cấu tạo là từ 21
2.1.1.2 Các đơn vị lóng có cấu tạo là ngữ 23
Trang 62.1.2 Đặc điểm từ loại của từ ngữ lóng 24
2.1.2.1 Đặc điểm từ loại của các đơn vị lóng có cấu tạo là từ 24
2.1.2.2 Đặc điểm từ loại của yếu tố chính trong các đơn vị lóng có cấu tạo là ngữ 26
2.1.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ lóng trong phóng sự Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây và Lục xì 28
2.1.3.1 Các từ ngữ lóng thuộc trường nghĩa biểu vật chỉ người 28
2.1.3.2 Các từ ngữ lóng thuộc trường nghĩa biểu vật chỉ vật 34
2.1.3.3 Các từ ngữ lóng thuộc trường nghĩa biểu vật chỉ cách thức 35
2.1.3.4 Các từ ngữ lóng thuộc trường nghĩa biểu vật chỉ hoạt động 40
2.1.3.5 Các từ ngữ lóng thuộc trường nghĩa biểu vật chỉ tính chất 44
2.1.3.6 Các từ ngữ lóng thuộc trường biểu vật chỉ trạng thái 46
2.2 Từ ngữ nghề nghiệp trong phóng sự Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục xì 47
2.2.1 Đặc điểm cấu tạo của từ ngữ nghề nghiệp 47
2.2.1.1 Các đơn vị từ nghề nghiệp có cấu tạo là từ 47
2.2.1.2 Các đơn vị từ nghề nghiệp có cấu tạo là ngữ 49
2.2.2 Đặc điểm từ loại của từ ngữ nghề nghiệp 51
2.2.2.1 Đặc điểm từ loại của đơn vị từ nghề nghiệp có cấu tạo là từ 51
2.2.2.2 Đặc điểm từ loại của yếu tố chính trong các đơn vị từ nghề nghiệp có cấu tạo là ngữ 52
2.2.3 Đặc điểm ngữ nghĩa từ ngữ nghề nghiệp trong phóng sự Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục xì 53
2.2.3.1 Các từ ngữ nghề nghiệp thuộc trường nghĩa biểu vật chỉ người 53
2.2.3.2 Các từ ngữ nghề nghiệp thuộc trường nghĩa biểu vật chỉ vật 56
2.2.3.3 Các từ ngữ nghề nghiệp thuộc trường nghĩa biểu vật chỉ cách thức 57
2.2.3.4 Các từ nghề nghiệp thuộc trường nghĩa biểu vật chỉ hoạt động 62
Trang 72.2.3.5 Các từ ngữ nghề nghiệp thuộc trường nghĩa biểu vật chỉ tính chất 64 2.2.3.6 Các từ ngữ nghề nghiệp thuộc trường nghĩa biểu vật chỉ về bệnh tình dục 64 2.2.3.7 Các từ ngữ nghề nghiệp thuộc trường nghĩa biểu vật chỉ địa điểm 65
2.3 Tiểu kết chương hai 66 CHƯƠNG III: VAI TRÒ CỦA TỪ NGỮ LÓNG VÀ TỪ NGỮ NGHỀ NGHIỆP ĐỐI VỚI THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG “CẠM BẪY NGƯỜI”, “KĨ NGHỆ LẤY TÂY”, “LỤC XÌ” CỦA VŨ TRỌNG
PHỤNG 67 3.1 Vai trò của từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp đối với nội dung thể hiện của ba phóng sự 67
3.1.1 Vai trò của từ ngữ lóng đối với nội dung thể hiện của ba phóng sự 67 3.1.2 Vai trò của từ ngữ nghề nghiệp đối với nội dung thể hiện của ba
3.3 Tầm tác động của từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp đối với phong cách nghệ thuật của nhà văn 74 KẾT LUẬN 76 THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đọc một văn bản nghệ thuật là quá trình tương tác giữa người sáng tạo
và người tiếp nhận từ những hệ mã tín hiệu thẩm mĩ (Bùi Bích Hạnh, “Lời
giới thiệu” [11, tr.5]) Tiếp cận một tác phẩm văn học là cả một quá trình Quá
trình đó cần có “cầu nối” là phương tiện ngôn ngữ của văn bản nghệ thuật
Đứng trên cái nhìn này, việc giải mã tín hiệu thẩm mĩ qua các lớp ngôn từ là điều cần thiết Để đọc hiểu phóng sự của Vũ Trọng Phụng thì bước tiếp cận đầu tiên là ngôn từ, ngữ nghĩa Riêng với phóng sự Vũ Trọng Phụng, lớp ngôn từ nổi bật hẳn là từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp Đó là định hướng nghiên cứu từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng
Trong thực tế, ở Việt Nam có rất nhiều ngành nghề khác nhau Có điều tra sưu tầm đầy đủ các từ ngữ nghề nghiệp mới thấy hết sự phong phú của và
đa dạng của từ vựng tiếng Việt mà bất cứ cuốn từ điển giải thích tiếng Việt
nào cũng không phản ánh hết được Ngoài ra, “mọi nghề, mọi nghiệp, có thể
mọi ngẫu nhiên của hệ thống xã hội và hết thảy các hình thức của trí tuệ, đều
có tiếng lóng của nó” (Victor Hugo) [15] Nghiên cứu cách gọi tên trong các
từ ngữ nghề nghiệp và tiếng lóng trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng sẽ giúp chúng ta hiểu rõ thêm đặc trưng của tiếng Việt, tính độc đáo trong cách nhìn, nếp nghĩ của người Việt, trên cơ sở đó có phương hướng đúng trong việc sử dụng từ và xây dựng các hệ thống thuật ngữ khoa học hiện nay
Là sinh viên sư phạm, kết quả nghiên cứu từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp trong ngòi bút của Vũ Trọng Phụng sẽ là tài liệu bổ trợ học tập và phục vụ công việc sau này Bên cạnh đó, đây là một đề tài thú vị bởi nó tạo cơ hội để khám phá, tìm hiểu sự phong phú của từ vựng tiếng Việt với những lớp
từ được dùng hạn chế về mặt xã hội
Trang 9Từ những lí do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: Từ ngữ lóng và từ ngữ
nghề nghiệp trong phóng sự Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục xì của Vũ
Trọng Phụng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vũ Trọng Phụng là nhà văn sớm tạo được tiếng vang ngay từ những tác
phẩm đầu tay Với nghệ thuật trào phúng và khuynh hướng “tả chân”, ông đã
đặt cho dư luận, giới nghiên cứu nhiều câu hỏi Xoay quanh nhà văn và các
sáng tác của ông có rất nhiều ý kiến, nhận xét của dư luận Những đề tài liên
quan với chủ đề trên cũng đã được nghiên cứu nhiều
Đánh giá về nhà văn Vũ Trọng Phụng, giới cầm bút có nhiều nhận xét
Đỗ Tất Lợi viết: “Trước khi lên Hà Nội, ở Hải Phòng, chỉ đọc Vũ Trọng
Phụng, tôi hình dung một Vũ Trọng Phụng láu cá, trác táng bệ rạc mới với viết được những tảng viết sắc bén như vậy, nhưng khi gặp nhà văn lần đầu tiên ở nhà xuất bản của chú tôi cùng nhà văn Ngô Tất Tố, tôi cứ không tin ở tôi: làm sao một con người nhỏ nhắn, hiền lành ốm yếu như vậy lại đẻ ra những tác phẩm vĩ đại như vậy?” [2, tr.224]
Lưu Trọng Lư từng viết: “Tất cả sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng là phơi
bày, là chế nhạo tất cả những cái rởm, cái xấu, cái bần tiện, cái đồi bại của một hạng người, của một thời đại Vũ Trọng Phụng đối với thời đại Vũ Trọng Phụng, cũng giống như Balzac đối với thời đại của Balzac” [2, tr.643]
Lê Thị Đức Hạnh đánh giá cao Vũ Trọng Phụng: “Có thể coi Vũ Trọng
Phụng là một thiên tài, một ngôi sao rực sáng của văn học Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945 Không chỉ đương thời mà cho đến nay, nhiều người đã nói đến tài năng và sức sáng tạo của nhà văn này với một sự ngưỡng mộ, khâm phục, thậm chí “kinh sợ” Tên tuổi ông xuất hiện trên báo từ năm 1929 (mới
17 tuổi), rồi chỉ trong vòng 10 năm, nhà văn đã cho ra đời 17 tác phẩm dài, gồm 11 tiểu thuyết, 4 phóng sự, 2 vở kịch, hơn 30 truyện ngắn, phóng sự, kịch
Trang 10ngắn và nhều bài tiểu luận các loại, (ngoài ra ông còn còn dịch 2 vở kịch), trong đó có không ít tác phẩm bất hủ với những nhân vật, những câu nói đã trở thành những biểu tượng sinh động cứ lừng lững những cái rởm, cái xấu, cái bần tiện, cái đồi bại của một hạng người, của một thời đại.” [2, tr.643]
Cũng Lê Thị Đức Hạnh viết: “Con người Vũ Trọng Phụng phải gánh chịu
biết bao vất vả, gian lao, đã thế những đứa con tinh thần của ông lại phải lận đạn, truân chuyên Gấp hai lần hơn hẳn nàng Kiều, chúng đã ba mươi năm lưu lạc, chìm nổi rồi mới được trở về sum họp trong cái gia đình văn học đông vui này Nhưng để bù lại, chúng ngày càng đẹp đẽ, cao sang Âu cũng là
sự công bằng của tạo hóa!” [2, tr.644]
Đánh giá về nội dung các thiên phóng sự của Vũ Trọng Phụng, giới cầm
bút đã có nhiều tranh luận Vấn đề nổi cộm là câu hỏi “Dâm hay không dâm?” với lối “tả chân” của Vũ Trọng Phụng
Nhà phê bình Nguyễn Hoài Thanh đánh giá cao nội dung phóng sự Vũ
Trọng Phụng:“Phóng sự Vũ Trọng Phụng là những cuộc săn lùng tận ổ của
những tội ác hoặc sự điều tra từ bên trong những tệ nạn, những thảm trạng
xã hội, để tìm ra cái “mặt trái cuộc đời” của chế độ phong kiến nửa thực dân thuộc thời Pháp Vì vậy, ông đã thu nhập được nhiều chứng cứ, chứng tích, khai thác được nhiều tư liệu…để “làm bằng cho bức tranh cuộc sống ngồn ngộn chất hiện thực của mình.” [2, tr.322]
Lê Thanh từng viết: “Bằng một thể văn tả thực, mới mẻ chua chát, viết
thiên phóng sự Kĩ nghệ lấy Tây, ông Vũ Trọng Phụng đã lột hẳn tinh thần của đối tượng Đáng chú ý hơn nữa là giữa lúc người ta đua nhau tả tấn kịch do
sự tiếp xúc của hai thế hệ gây nên – mới cũ xung đột – ông thoát ly hẳn gia đình nhỏ hẹp sân khấu của tấn kịch này, ông sứng biệt ra hẳn một nơi, ghi lại từng mảnh một tấn kịch vĩ đại hơn, hiện đang diễn ra ở xứ ta do sự gặp gỡ của hai làng sóng, của hai thế giới gây nên.” [12, tr.137]
Trang 11Vừa có ý khen, vừa có ý chê, Vũ Ngọc Phan viết: “Thật nhiều lời phê
phán quá Giá tác giả cứ để tự việc nó làm cho người đọc suy nghĩ, thì hơn Tác giả lại phê bình bằng những lời chua chát, không đáng Đối với hạng người ấy, xã hội nên thương không nên trách” [5, tr.90]
Ngược lại, luồng ý kiến phê bình, đả kích Vũ Trọng Phụng không phải là
ít Trên tờ Ngày nay, số 52 (14-3-1937), Nhất Chi Mai viết: “Trong văn Vũ
Trọng Phụng có nhiều chỗ nhơ nhớp, những câu sống sượng, trần truồng Không ai có quyền cấm nhà văn Vũ Trọng Phụng dùng những chữ bẩn thỉu để
tả những sự bẩn thỉu Nhưng trong khi viết những câu văn mà mình cho là khoái trá tưởng cũng nên nghĩ cho độc giả một chút…[5, tr.147] Cũng Nhất
Chi Mai đã nhận xét: “Đọc văn Vũ Trọng Phụng không bao giờ cho tôi thấy
tia hy vọng, một tư tưởng lạc quan Đọc xong, ta phải tưởng tượng nhân gian
là một nơi địa ngục và chung quanh toàn những giết người, làm đĩ, ăn tục, nói càn, một thế giới khốn nạn vô cùng.” [5, tr.148]
Một cây bút khác trong nhóm Tư lực văn đoàn gay gắt: “Khi vào trại
con gái lính Tây, khi vào đám bạc, khi len lỏi vào nhà lục xì, khi đi theo Thị Mịch, khi đứng ngắm bà Phó Đoan cũng như khi lẻn vào nhà ông lão lòa, Vũ Trọng Phụng vẫn chỉ nhìn thấy cái gì ông muốn nhìn, thấy những cái khốn nạn đê hèn, bẩn thỉu của người đời Rồi ông tức tối, rồi ông lên tiếng nghiền rủa nhiếc móc” [5, tr.169]
Vũ Trọng Phụng là nhà văn đáp ứng trúng yêu cầu bức xúc của đời sống văn học và mong đợi của người đọc Xã hội trong tác phẩm của nhà văn là
hiện thực “nhâng nháo” (chữ dùng của Nguyễn Đăng Mạnh), lố lăng với đủ
chân dung mặt người Cũng vì vậy mà nhiều ý kiến cho rằng tác phẩm văn
chương của Vũ Trọng Phụng là loại “văn chương dâm uế”, và cho đến nay
vấn đề này vẫn còn đang được bàn luận
Trang 12Về nghệ thuật tiểu thuyết và ngôn ngữ văn chương Vũ Trọng Phụng, chúng tôi xin kể đến ý kiến của một số nhà nghiên cứu dưới đây
Nguyễn Đăng Mạnh nói về nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng
như sau: “Nói đến đặc sắc của ngòi bút của Vũ Trọng Phụng không thể không
nói đến nghệ thuật trào phúng bậc thầy ở nhà văn này
Tài nghệ trào phúng của Vũ Trọng Phụng trước hết kết tinh ở những bức chân dung hý họa độc đáo của ông
Nghệ thuật hý họa rất cần tới thủ pháp phóng đại Người ta bật cười trước một vẻ mặt di hình, ở đó có một tật xấu đã trở thành cố định, một tật xấu bị ngưng kết lại, cứng nhắc, máy móc, đồ vật hóa trên bộ mặt vốn linh hoạt của con người…” [2, tr.212]
Ý kiến của Đinh Trí Dũng như sau: “Quả thực, so với nhiều cây bút tiểu
thuyết đương thời, Vũ Trọng Phụng quả có biệt tài quan sát, bao quát hiện thực trên bình diện rộng Thế giới nhân vật trong các tiểu thuyết hiện thực của ông thật phong phú và đa dạng Trong Giông tố, Vũ Trọng Phụng đã
“quản lý” được vài ba chục nhân vật, chưa kể những đám đông không tên tuổi bao gồm đủ mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội Số đỏ, Vỡ đên cũng không thua kém Giông tố bao nhiêu.” [2, tr.521]
Bùi Văn Tiến đã viết rằng: “Về phương diện nghệ thuật, chất tiểu thuyết,
tư duy tiểu thuyết trước hết thể hiện ở việc nhà văn tạo ra trong tác phẩm một thời gian trần thuật đa chiều, một thế giới nhân vật sống nhiều thời gian đa chiều.” [2, tr.539]
Nhận xét về nghệ thuật trần thuật của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Quang
Trung có viết: “Cùng với Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, kịch hóa trần thuật
là một nỗ lực đổ mới hình thức tự sự của Vũ Trọng Phụng Nhờ nét mới mẻ này, tiếng cười của nhà văn mang giá trị nhân bản, và dân chủ sâu sắc hơn Những kinh nghiệm trần thuật đa dạng, phong phú của Vũ Trọng Phụng sẽ là
Trang 13đóng góp quý giá cho nghệ thuật tự sự của văn học Việt Nam hiện đại” [2,
tr.560]
Nhà phê bình Nguyễn Ngọc Thiện cho rằng: “Để có được một tài năng
bậc thầy đáng nể trọng, Vũ Trọng Phụng đã biết tiếp thu vốn trào phúng dân gian, học tập sáng tạo kỹ thuật bố cục và cách viết của tiểu thuyết phương Tây mà ông đã được đọc, đưa tiểu thuyết, phóng sự của ta đi nhanh vào quỹ đạo hiện đại, trước hết trong tư duy nghệ thuật về thể loại Với tinh thần tôn trọng sự thật, để sự thật tự nói lên một cách khách quan, không dài dòng nhiều lời bình luận, Vũ Trọng Phụng đã cố gắng sử dụng tiếng Việt một cách sinh động, khai thác tận độ sự đa nghĩa và tính hàm ngôn của nó Nhà văn có biệt tài trong quan sát tinh tường, miêu tả xác thực,…” [5, tr 527]
Tác giả Nguyễn Văn Phượng viết về nghê thuật ngôn từ của Vũ Trọng
Phụng như sau: “Khi viết phóng sự, nhà văn Vũ Trọng Phụng đã đem vào
ngôn ngữ báo chí thêm nhiều tính văn học Ngôn từ Vũ Trọng Phụng đúng là một ngôn từ thiếu chừng mực Nhưng, như người ta nói, có sự thiếu chừng mực tạo nên vẻ đẹp và cũng sự thiếu chừng mực tạo nên sự xô bồ, thô thiển, thậm chí thô tục Dường như trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng có cả hai phẩm chất này… Ông tạo ra một hệ thống ngôn ngữ thô, sắc, gai góc mang đậm tính chất khẩu ngữ đời thường để lột trần vẻ thơ mộng của các khuynh hướng văn học chạy theo thời thượng, chiều theo thị hiếu nhất thời của người đọc Bằng cách này, ngôn từ Vũ Trọng Phụng trở thành ngôn từ nghệ thuật khi nó khẳng định mạnh mẽ một quan niệm thẩm mĩ mới trong đời sống văn học đương thời: cái thực là cái đẹp” [13]
Trong loạt bài phê bình của Lê Tràng Kiều in trong tập Văn hóa tạp chí,
ngày 8/6/1935 có viết “Vũ Trọng Phụng thực là một tay thiện nghệ trong văn
tả thực.Văn ông không giống như văn Flôbe, Banzăc, cũng không giống như
Trang 14văn E Zola Văn ông là bao gồm cả những giọng mạnh mẽ , hùng hồn, nhí nhảnh và lẹ làng, nhất là lẹ làng…” [5, tr 335]
Liên quan đến đề tài này đã có một số luận văn nghiên cứu Xin được
nhắc đến luận án Ngôn từ nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng trong phóng sự và
tiểu thuyết, năm 2002, tác giả Nguyễn Văn Phượng bảo vệ tại Đại học sư
phạm Hà nội Luận án này đã trình bày chủ nghĩa hiện thực Vũ Trọng Phụng
và quan niệm thẩm mĩ về ngôn từ; ngôn ngữ Vũ Trọng Phụng, khuynh hướng đặc tả trần trụi hiện thực, nhịp điệu tự sự của Vũ Trọng Phụng; những đột biến bất ngờ của văn học nghệ thuật
Đề tài từ ngữ lóng trong phóng sự Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục
xì của Vũ Trọng Phụng đã có nhiều người chạm đến Riêng với từ ngữ nghề
nghiệp trong ba phóng sự này thì chưa có đề tài nghiên cứu nào Chúng tôi sẽ lấy những nghiên cứu trước làm tiền đề cho đề tài này Qua đề tài khóa luận, chúng tôi sẽ tìm hiểu văn phong của ông trên phương diện ngôn ngữ mà cụ
thể là từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp trong phóng sự Cạm bẫy người, Kĩ
nghệ lấy Tây, Lục xì
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Tổng hợp, liệt kê, phân loại toàn bộ là từ ngữ lóng và từ ngữ nghề
nghiệp trong phóng sự Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục xì
- Miêu tả từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp trong phóng sự Cạm bẫy
người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục xì trên các phương diện sau: đặc điểm cấu tạo từ,
đặc điểm từ loại, đặc điểm ngữ nghĩa
- Góp phần làm rõ vai trò của từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng và phong cách nghệ thuật của nhà văn
Trang 153.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lí luận về từ ngữ lóng, từ ngữ nghề nghiệp, nhà
văn Vũ Trọng Phụng và ba thiên phóng sự của ông
- Tái hiện toàn bộ diện mạo từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp trong
trong phóng sự Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục xì của Vũ Trọng Phụng
- Nghiên cứu tầm tác động của từ ngữ lóng, từ ngữ nghề nghiệp trong
phóng sự Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục xì của Vũ Trọng Phụng
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng một số thủ pháp và phương pháp cơ bản sau:
- Thủ pháp thống kê: Sử dụng thủ pháp này để thống kê hệ thống các từ
ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp được dùng trong ba phóng sự Cạm bẫy
người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục xì của Vũ Trọng Phụng
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Sử dụng phương pháp này nhằm tiếp cận trực tiếp với tác phẩm trên mọi phương diện từ đó khát quát làm rõ vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và miêu tả: Với phương pháp này, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích, miêu tả từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp trên 3 bình diện là đặc điểm cấu tạo từ, đặc điểm từ loại, đặc điểm ngữ nghĩa
5 Dự kiến đóng góp của đề tài
Luận văn “Từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp trong phóng sự Cạm bẫy
người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục xì của Vũ Trọng Phụng” có một số đóng góp mới
sau đây:
- Góp phần làm sáng tỏ năng lực biểu đạt của từ ngữ lóng và từ ngữ nghề
nghiệp trong phóng sự Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục xì của Vũ Trọng
Phụng
Trang 16- Chỉ ra tầm tác động của từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp đối với phong cách nghệ thuật của nhà văn Vũ Trọng Phụng
Chương III Vai trò của từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp đối với thế
giới nghệ thuật trong ba phóng sự “Cạm bẫy người”, “Kĩ nghệ lấy Tây”,
“Lục xì”
Trang 17NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp
1.1.1 Từ ngữ lóng
Từ ngữ lóng hay tiếng lóng là một tiểu loại của phương ngữ xã hội Tiếng lóng được sử dụng trong phạm vi hẹp bởi nhóm tập thể người nhất định Có thể nói tiếng lóng là ngôn ngữ xã hội mang tính bí mật cao, những người ngoài nhóm tập thể đó khó có thể hiểu được Đến bây giờ, trong giới ngôn ngữ học tồn tại không ít quan niệm về tiếng lóng Luận văn xin được nhắc đến một số quan niệm về tiếng lóng của các nhà ngôn ngữ học
Nguyễn Văn Tu cho rằng: Nó không phải là công cụ giao tiếp của xã hội
mà chỉ là một số từ với ý nghĩa bí hiểm của một nhóm người với mục đích không cho người khác biết [16]
Đoàn Tử Huyến quan niệm: “Tiếng lóng là loại ngôn ngữ riêng của một
nhóm xã hội nhằm tạo ra sự tách biệt với những người không liên đới; sự tách biệt này có thể là nhằm mục đích giữ bí mật, nhưng cũng có thể chỉ nhằm tạo ra một nét riêng cho nhóm xã hội mình.” [6, tr.9]
Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, cho rằng tiếng lóng bao
gồm các đơn vị từ vựng thuộc loại thứ hai trong các biệt ngữ tức là những tên gọi “chồng lên” trên những tên gọi chính thức
Hiện tượng tiếng lóng là phổ biến đối với mọi tập thể xã hội Hầu như tất cả các tập thể xã hội nào đã có cái gì chung đó về sinh hoạt hay về sản xuất, làm việc… thì đều có những tiếng lóng của riêng mình
Thực ra, điều này không có gì ngạc nhiên: nó chỉ là mộtt biểu hiện của cách thức tồn tại của ngôn ngữ Ngôn ngữ là cái chung, nhưng cái chung đó chỉ tồn tại được trong những cái riêng: trong từng cá nhân, trong từng tập thể
Trang 18người, trong từng ngành hoạt động, trong từng khu vực địa lí, trong từng phong cách sử dụng…
Do nhiều động lực khác nhau, như muốn “tự bộc lộ” cái vẻ riêng của tập thể mình, do muốn gây ra được những sự chú ý đặc biệt, muốn che dấu những điều mà những người ngoài tập thể không nên biết, muốn biểu thị thái
độ một cách mạnh mẽ…mà hằng ngày hằng giờ trong các tập thể xã hội đều xuất hiện tiếng lóng Những tiếng lóng này rất “phù du” không hệ thống, lẻ
tẻ, xuất hiện rồi lại mất ngay
… Tuy nhiên, cũng có những tiếng lóng mà tính mục đích khá rõ ràng, tức là để giữ bí mật trong tập thể, có hệ thống rõ ràng và do đó tương đối bền vững [9,tr.256]
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: Tiếng lóng là những từ ngữ dùng hạn chế
về mặt xã hội, tức là những từ ngữ không phải toàn dân sử dụng mà chỉ một tầng lớp xã hội nào đó sử dụng mà thôi [16]
Hoàng Thị Châu từng viết: Tiếng lóng là loại ngôn ngữ chỉ cốt nói cho
một nhóm người biết mà thôi, những người khác không thể biết được Vì mục đích của biệt ngữ và tiếng lóng là che đậy việc làm không cho người ngoài nhóm biết, cho nên tất cả những từ gì có thể khiến người ta phỏng đoán được nội dung của công việc đều bị thay thế nhất là trong đám người làm nghề bất lương, bị xã hội ngăn cấm như bọn cờ bạc bịp, bọn ăn cắp, bọn buôn lậu
[16]
Lưu Vân Lăng quan niệm: Tiếng lóng là một thứ tiếng có tính chất bí
mật, một lối nói kín của bọn nhà nghề dùng để giấu những ý nghĩa, việc làm của mình cho người khác khỏi biết Nó thường có trong những hạng làm nghề bất lương, tầng lớp lưu manh hoặc tầng lớp con buôn trong xã hội có giai cấp [16]
Trang 19Nguyễn Văn Khang sử dụng quan niệm sau: Từ lóng được coi là “ngôn
ngữ riêng của một nhóm xã hội hoặc nghề nghiệp có tổ chức gồm các yếu tố của một hoặc một số các ngôn ngữ tự nhiên đã được chọn lọc và biến đổi đi nhằm tạo sự cách biệt ngôn ngữ với những người không liên đới” [ 5, tr.117]
Kết luận cuối cùng, luận văn này sẽ được viết theo quan điểm sau: Tiếng
lóng là một dạng của biệt ngữ và chúng được xếp vào lớp từ này bởi chỉ được
sử dụng một phạm vi xã hội hạn hẹp Nếu biệt ngữ là những từ ngữ độc lập trong hệ thống từ vựng thì tiếng lóng là những tên gọi chồng lên, hay những tên gọi song song, của các sự vật, hiện tượng [17, tr.30]
1.1.2 Từ ngữ nghề nghiệp
Là một tiểu loại của phương ngữ xã hội, từ ngữ nghề nghiệp sinh ra từ môi trường giao tiếp và liên quan đến thuộc tính xã hội của người giao tiếp Dưới đây xin nhắc đến một số quan niệm về từ ngữ nghề nghiệp của các nhà ngôn ngữ học
Nguyễn Văn Khang xếp từ nghề nghiệp vào phương ngữ xã hội “Con
người vì mưu sinh mà tìm nghề, chọn nghề (theo nghĩa được xã hội phân công), học nghề, làm nghề và lập nghiệp Quá trình xã hội hóa con người cũng là một quá trình “nghề nghiệp hóa” Đó là quá trình nhận được tri thức
và kĩ năng Sự phân công xã hội càng nghiêm trọng thì xã hội càng hoàn chỉnh và con người theo hướng chuyên môn hóa càng cao (Nhưng phải chăng vì thế mà con người bị trói buộc vào vòng kim cô của nghề nghiệp giống như một câu của người Trung Quốc đời xưa đã đúc kết “sinh sự nghệ,
tử ư nghiệp?) Và có lẽ chính lí do đó đã tạo nên những sự phân cách nhất định giữa người hoặc nhóm người làm nghề khác nhau trong đó có ngôn ngữ Xét về mặt ngôn từ nghề nghiệp là cơ sở để tạo ra những hệ thống từ nghề nghiệp riêng và cùng với đó là sự hình thành một phong cách ngôn ngữ có dấu ấn nghề nghiệp
Trang 20…Từ nghề nghiệp, theo chúng tôi, có thể coi đây là một “hệ mã” ghi nhận thành quả tri thức và thành quả thực tế của con người trong một lĩnh vực nhất định Từ ngữ của một nghề bao giờ cũng gồm từ ngữ chỉ công cụ, từ ngữ của hành vi thực hiện và từ ngữ chỉ sản phẩm làm ra Mọi phương thức cấu tạo từ của từ nghề nghiệp nói chung, không khác gì với phương thức vốn
từ chung của một ngôn ngữ, có khác chăng, chỉ là “cái nội dung ngữ nghĩa” chúng mang tải mà thôi.” [5, tr.118-119]
Đỗ Hữu Châu quan niệm khác, ông cho rằng “từ nghề nghiệp bao gồm
những đơn vị từ vựng được sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí óc (nghề thuốc, ngành văn thư vv ) [9, tr 253]
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: Từ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị
những công cụ, sản xuất lao động và quá trình sản xuất của một ngành nghề nào đó trong xã hội
Những từ ngữ này thường được những người cùng trong ngành nghề đó biết và sử dụng.” [18, tr.390]
Mai Ngọc Chừ viết: “Từ nghề nghiệp là một lớp từ bao gồm những đơn
vị từ ngữ được sử dụng phổ biến trong phạm vi những người cùng làm một nghề nào đó Ví dụ, các từ: choòng, lò chợ, lò thượng, đi là …là những từ thuộc nghề thợ mỏ Các từ bó, vét, xịt, phủ, bay, hom…là nghề sơn mài” [18,
tr.390]
Nguyễn Văn Tu quan niệm: “Những từ nghề nghiệp khác thuật ngữ ở
chỗ được chuyên dùng để trao đổi miệng về chuyên môn chứ không phải dùng
để viết Từ nghề nghiệp còn khác với thuật ngữ ở chỗ chúng gợi cảm gợi hình ảnh, có nhiều sắc thái vui đùa.” [18, tr.389]
Tóm lại, trên cơ sở kết hợp các quan điểm trên, chúng tôi chọn cách quan niệm rằng từ ngữ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị những công cụ,
Trang 21sản phẩm lao động, quá trình sản xuất, quá trình hành nghề của một nghề nghiệp nào đó Những từ ngữ này thường được những người trong ngành nghề đó biết và sử dụng
1.1.3 Mối quan hệ giữa từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp
Về sự giống nhau, từ lóng và từ nghề nghiệp đều thuộc phương ngữ xã hội, là ngôn ngữ được dùng cho một quần thể xã hội nhất định do nhu cầu cuộc sống mưu sinh Do nhiều lí do khác nhau, những người ngoài quần thể thường ít biết về hệ thống ngôn ngữ đó
Về sự khác nhau, từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp có 2 điểm khác nhau cơ bản
Thứ nhất, từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nhiệp khác nhau ở cách định danh
từ ngữ Từ ngữ lóng là cách định danh lần hai những tên gọi của sự vật, hiện tượng
Ở ví dụ trên, các từ ngữ: gậy, con ngỗng, đạn, đầu gấu, đại bàng, chọi,
chọi con, chíp hôi được gọi là từ ngữ lóng
Trang 22Khác với từ ngữ lóng, từ ngữ nghề nghiệp là cách định danh lần một những tên gọi của các sự vật, hiện tượng Và từ nghề nghiệp thường là tên gọi các nguyên liệu, sản phẩm, công cụ sản xuất, thao tác lao động,…của riêng nghề đó Ví dụ:
Thuộc nghề làm trống có: nạo da, néo, sảm, chạy mực, đai trống,… Thuộc nghề sơn mài có: bay, thép, đá ngói, đá mài, lô côn, mài tranh,… Thuộc nghề thợ mộc có: bào cóc, bào phá, bào xoa, chàng tách, mộng
vuông, mộng nanh sấu, mộng mỏ sẻ, xảm, phạt mộc, cất nóc, cầu bẩy, thuận, bức bàn,
Thuộc nghề hát tuồng có: đào kép, lão, mụ, vai ấu, đào thương, đào
chiến, đào điên, đào võ, đào lẳng, đào yêu, đào đẻ, đào tiên, kép văn, kép võ, kép xanh, kép phong tình, kép trắng, kép đỏ, kép rằn, kép núi, kép biển, lão
đỏ, lão trắng, lão đen, lão văn, lão võ, mụ ác, mụ lành,…
Thứ hai, từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp khác nhau ở cách tồn tại,và lưu giữ trong hệ thống từ vựng tiếng Việt Với từ lóng, nó ít có điều kiện để phát triển và sẽ mất đi khi nhóm người sử dụng nó mất đi Khác với từ ngữ lóng, từ ngữ nghề nghiệp không mất đi mà sẽ lưu truyền trong nhóm người hoạt động theo nghề nghiệp ấy và có khả năng thẩm thấu vào từ vựng toàn dân Ví dụ, từ ngữ nghề nghiệp của nghề nông đã thẩm thấu và trở thành từ
vựng toàn dân: cày vỡ, cày ải, bón lót, bón thúc, lúa con gái, lúa đứng cái,
Trang 23trào phúng, nhà văn được dư luận đương thời đặc biệt chú ý và đặt danh hiệu
“Ông vua phóng sự đất Bắc”
Vũ Trọng Phụng là con người tài cao, phận thấp, cuộc đời chịu nhiều sóng gió Ông sinh ra tại Hà Nội, xuất thân từ gia đình lao động nghèo Bố là thợ tiện, mất từ khi Vũ Trọng Phụng mới 7 tháng Mẹ ở vậy nuôi con, sống bằng nghề khâu vá thuê 15 tuổi, nhà văn thôi học để đi bôn chen kiếm sống Ông từng làm rất nhiều nghề, nhiều lần bị sa thải, cuối cùng chuyển hẳn sang nghề báo Cuộc sống của ông cũng như nhiều người lao động nghèo đều chật vật, bấp bênh trong khi ở xung quanh là cả cái xã hội thành thị đang Âu hóa
ăn chơi phè phỡn Phong trào Âu hóa rầm rộ ở thành thị với các tệ nạn ăn chơi đàng điếm, trụy lạc như “cơn lốc xoáy” đảo lộn bao nề nếp, lề thói khiến con người hoang mang, bất lực, cảm thấy vô nghĩa lý trước thực tại Vũ Trọng
Phụng có lần nói: “Tư tưởng xã hội của tôi nó đã kết lại từ trong mạch
máu”[10, tr 420] Đến cuối đời, nhà văn vẫn chết trong cảnh nghèo túng và
Vũ Trọng Phụng là nhà văn tài hoa, là “ông vua phóng sự đất Bắc” đáng khâm phục Với giọng văn trào phúng châm biếm xã hội của ông, một số người đã so sánh ông như Balzac của Việt Nam Nhà văn tả thực cái khốn
Trang 24nạn, công kích cái xa hoa dâm đãng của bọn người có nhiều tiền, lên tiếng cho sự thống khổ của dân nghèo bị bóc lột, bị áp chế, bị cưỡng hiếp, muốn cho xã hội công bằng hơn nữa Tên tuổi nhà văn được khẳng định ở các
phóng sự Cạm bẫy người (1933), Kĩ nghệ lấy Tây (1934) Dư luận biết về ông hơn khi chỉ trong năm 1936 Vũ Trọng Phụng trình làng ngoài tập Cơm thầy
cơm cô, các truyện ngắn Bộ răng vàng; Hồ sê líu, hồ líu sê sàng… Nhà văn
lần lượt cho ra mắt bạn đọc 3 tập tiểu thuyết xuất sắc Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê
Với tất cả vẻ chua chát, phũ phàng, cay đắng, hằn học khiến người ta vừa thích, vừa ngại, giọng văn Vũ Trọng Phụng đã gây nên không ít tranh luận
trong giới nghiên cứu và sự quan tâm của báo chí “Từ đó cho đến nay, theo
sự thống kê chưa đầy đủ, đã có tới 170 bài tiểu luận, phê bình viết về Vũ Trọng Phụng Ngoài ra có 2 cuốn sách viết riêng về ông Đó là Vũ Trọng Phụng – mớ tài liệu cho văn sử Việt Nam của Lan Khia (NXB Minh Phương,
H, 1941) và cuốn Vũ Trọng Phụng – nhà văn hiện thực (NXB Kim Đức, H, 1957) của Văn Tâm [2, tr 236]
Hiện tượng văn học Vũ Trọng Phụng trở thành một “vụ án văn học” nghiêm trọng kéo dài Ngay từ những sáng tác đầu tay nhất là các phóng sự
Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, ngòi bút “tả chân” sắc xảo của Vũ Trọng
phụng đã được giới văn học và công chúng chú ý Tuy nhiên, không ít công chúng văn học phê phán lối viết về cái dâm có phần sống sượng như Vũ Trọng Phụng Nhiều người như Lan Khai, Vũ Ngọc Phan, Lương Đức Thiệp
…tuy ca ngợi Vũ Trọng Phụng nhưng không tán thành với việc ông miêu tả cái dâm trong một số tác phẩm Một số bạn văn đã lên tiếng bênh vực và khẳng định giá trị của tác phẩm ông Các nhà nghiên cứu vẫn kiên trì lượm nhặt tài liệu, mài mò phương pháp, đi sâu giải quyết vấn đề một cách khoa học và khẳng định vị trí của ông trên văn đàn Cho đến ngày nay, việc nghiên
Trang 25cứu một cách toàn diện, khoa học để thật sự làm chủ di sản văn học phong phú và khá phức tạp của Vũ Trọng Phụng vẫn còn đang tiếp tục
1.2.2 Ba tập phóng sự Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục xì
Sinh thời, Vũ Trọng Phụng nổi danh trước tiên ở thể tài phóng sự Với phóng sự đầu tay Cạm bẫy người (1933) đăng báo Nhật Tân dưới bút danh Thiên Hư, Vũ Trọng Phụng đã gây được sự chú ý của dư luận đương thời
Năm 1934, báo Nhật Tân cho đăng Kĩ nghệ lấy Tây Với hai phóng sự đó, Vũ
Trọng Phụng trở thành một trong số ít lớp nhà văn mở đầu cho nghề phóng sự của nước ta Lục xì và những phóng sự tiếp theo đã góp phần tạo nên tên tuổi
“ông vua phóng sự của đất Bắc” cho Vũ Trọng Phụng
Cạm bẫy người là thiên phóng sự về nạn cờ bạc bịp ở Hà Nội Trong tác
phẩm, Vũ Trọng Phụng ít chú mục mô tả những cảnh tượng cảnh đấu đá nhau giữa những con bạc tại biết bao sòng bạc, mà ông tập trung vào việc khám phá cái cơ cấu tổ chức của cả làng bạc bịp Làng bịp này gồm hai cánh: trùm
Ấm B và Thượng Ký Ấm B là ông trùm có tình có nghĩa với “anh em” Ông
là “quân sư bạc bịp”, được “làng B” nể trọng Ông truyền đủ mọi “ngón” bịp cho đàn em Dưới trướng ông trùm là cả một tổ chức hoạt động chuyên nghiệp, có “bộ tham mưu” như Ký Vũ, Tham Ngọc, “chim mồi” câu dẫn con bạc, …và cả “xưởng chế tạo khí giới” phục vụ đủ mọi “ngón” bịp Chân rết của làng bịp là hàng trăm tên “tạ” đầu trâu mặt ngựa, lưu manh đủ loại Mọi ngón lừa chuyên nghiệp cũng chững chiêu trò đánh đòn tâm lí khiến con bạc
dù bị bịp mà cũng không hề nghi ngờ
Sự khám phá ra cái tổ chức bạc bịp đã làm cho bức tranh hiện thực trong
Cạm bẫy người có giá trị hiện thực sâu sắc Chỉ một xã hội đen tối, thối nát
thì mới có thể dung túng cho một thứ tệ nạn có quy mô như thế mặc sức hoành hành Nó như một cái “lưới nhện” giăng khắp mọi nơi, trùm khắp mọi nơi Cùng với bao nhiêu hiểm họa khác trong cái xã hội thối tha đó, nó thực
Trang 26sự là một thứ cạm bẫy làm cho bao người điêu đứng, cửa nát nhà tan, thân tàn
ma dại và gây ra những cảnh đồi phong bại tục
Thiên phóng sự Kĩ nghệ lấy Tây của Vũ Trong Phụng đăng báo Nhật
Tân từ số 69, 5 – 12 – 1934 Phóng sự đã điều tra , ghi chép về cuộc sống đám “me Tây” xung quanh trại lính lê dương vùng Thị Cầu, Bắc Giang và cái nghề lấy Tây của họ Qua những chương sách ngắn gọn, ngòi bút phóng sự
“tả chân” sắc sảo của Vũ Trọng Phụng đã lạnh lùng phơi trần những cách sống tạm bợ, ăn xổi ở thị đến kì quặc của những cặp gọi là vợ chồng mà người đàn bà chỉ nghĩ đến tiền, người đàn ông chỉ nghĩ đến nhục dục Với
những gã lê dương thì lấy vợ bản xứ “cũng như nuôi đầy tớ…, cũng như thuê
gái trong một hạn dài ngày” Còn các với các “me” anh nào đưa tiền trước
hoặc đưa nhiều hơn thì là chồng; hết tiền thì “phi – ni nhăm, phi – ni ma – ghi” (hết vợ hết chồng)
Đằng sau đề tài có tính chất “giật gân” là niềm căm ghét sâu sắc cái xã hội đồng tiền đã biến mọi quan hệ giữa người với người thành một thứ quan
hệ mua bán, “tiền trao cháo múc” trắng trợn, phỉ báng mọi nền nếp đạo đức truyền thống
Lục xì, trước hiện tượng vẫn được mệnh danh là “kín cổng cao tường” và
ẩn sau bề mặt hiện thực, tác giả đã tìm cách tiếp cận từ “bên trong” và từ phía
“cổng hậu của nó” Đầu tiên phải kể đến sự “đột nhập táo bạo và kịp thời của nhà phóng sự vào cái ngôi nhà Lục xì đầy u ám, bí ẩn “nơi cấm mà, nơi không phải nhà thổ, không phải mật thám, không là thầy thuốc thì không bao giờ ta được bước chân vào” (Trích Lục Xì, tr 83) Và từ trong cái “viện bảo tàng những điều ô uế” đó, tác giả đã mở ra trước mắt bạn đọc cả một thế giới về tệ mại dâm Đó là bức tranh có tính quy mô toàn cảnh, đầy ắp những con số, sự kiện mới mẻ, hấp dẫn, đủ độ tin cậy về mặt thông tin Trong số các nhà viết phóng sự đương thời, chưa ai thực hiện được cuộc điều tra từ bên trong một
Trang 27cách táo bạo, rốt ráo và đạt được hiệu quả cao về sự khám phá thực trạng mại dâm như trong phóng sự Vũ Trọng Phụng
Tóm lại, với khuynh hướng “tả chân” một cách táo bạo, bạo đến sỗ sàng,
ba tập phóng sự Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục xì đã lột trần hiện thực
dưới đáy của xã hội Bên cạnh đó, phóng sự của ông đã tạo được tiếng vang trong dư luận và gây nên sự “dè dặt” trong giới phê bình
1.3 Tiểu kết chương một
Trở lên, chúng tôi đã trình bày về từ ngữ lóng, từ ngữ nghề nghiệp, mối quan hệ của từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp và về Vũ Trọng Phụng cùng
với ba phóng sự “Cạm bẫy người”, “Kĩ nghệ lấy tây”, “Lục xì” của ông
Trong đó, phần thứ nhất về từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp, chúng tôi đã đưa ra các quan điểm của của các nhà nghiên cứu về vấn đề này Phần thứ hai, chúng tôi chỉ ra vài nét về nhà văn Vũ Trọng Phụng và tổng quan về ba phóng
sự “Cạm bẫy người”, “Kĩ nghệ lấy Tây”, “Lục xì” Đó chính là những vấn đề
đã được chúng tôi đề cập ở chương này
Trang 28CHƯƠNG II: KHẢO SÁT TỪ NGỮ LÓNG VÀ TỪ NGỮ NGHỀ
NGHIỆP TRONG PHÓNG SỰ “CẠM BẪY NGƯỜI”, “KĨ NGHỆ LẤY
TÂY”, “LỤC XÌ” CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Do đối tượng nghiên cứu khá lớn, chúng tôi tập hợp từ ngữ lóng và từ ngữ nghề nghiệp theo các bình diện sau: đặc điểm cấu tạo từ, đặc điểm từ loại, đặc điểm ngữ nghĩa
2.1 Từ ngữ lóng trong phóng sự Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục xì
2.1.1 Đặc điểm cấu tạo từ ngữ lóng
2.1.1.1 Các đơn vị lóng có cấu tạo là từ
Xét trên phương diện từ, chúng tôi khảo sát trong phóng sự Cạm bẫy
người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục xì được số từ ngữ lóng thuộc từ đơn, từ ghép, từ
láy, từ ngẫu kết dưới đây:
tạ cớm bắt
ra ngón thịt
chim trô đứt nỡm tân tuých via
trô gái
Trang 29chang cuỗm cản bồng
gỡ rền quých
cỏ
ù sộp ngón
về
ăn thụt trùm
cò khóe
vố cóc nướng bổng hưu chiệc
Từ ghép sửu bàn
bịp kinh chầu rìa trạc xếch
me tây mọc sừng
ám quẻ chạy làng
công tử bột
bò lạc chắn cạ ngày phiên
Trang 30làng b chim mòng hòn đạn
ăn mảnh hút xách trạng sư rồng xanh chỗ yếu muối mặt
lá mặt
du côn chim mồi trả miếng làm gỏi vào xiếc mất đứt
hạ ù
chơi khăm phỗng tay
vi thiềng giang hồ chai bố
cà khịa mẫu dạ xoa mầu hồ
cánh hẩu
cô tây
Từ ngẫu kết hẩu lốn Không có Thần Bạch My
càn long hồng mao
2.1.1.2 Các đơn vị lóng có cấu tạo là ngữ
Xét trên phương diện ngữ cố định, chúng tôi khảo sát trong phóng sự
Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục xì được số ngữ định danh dưới đây:
Trang 31ván ù suông
ù tài bàn cái đỉnh bịp non ngón trá hàng thằng hớ tay cự phách đánh giác tan chầu nhị cập nhất những tay rích xếp thành nươc cưa nứa
lưới nhện
cái mỏ vàng đàn bà ma bùn con lạc đà tam đại xếp cảnh bán xới
đĩ nước con trời con vịt
lá cải thụt két đòn xăng tan
sổ đoạn trường đòn xăng tan bán xới
2.1.2 Đặc điểm từ loại của từ ngữ lóng
2.1.2.1 Đặc điểm từ loại của các đơn vị lóng có cấu tạo là từ
Xét trên phương diện từ, chúng tôi khảo sát trong phóng sự Cạm bẫy
người, Kĩ nghệ lấy Tây, Lục xì được số từ ngữ lóng thuộc từ loại danh từ,
động từ, tính từ dưới đây:
Trang 32tạ cớm ngón trùm
cò khóe
vố bịp non
chim nỡm tân tuých via
me tây mọc sừng giang hồ chai bố mẫu dạ xoa mầu hồ
gái công tử bột
bò lạc chắn cạ ngày phiên
cô tây thần Bạch My càn long hồng mao
Động từ bắt
ra thịt chang cuỗm cản bồng
gỡ
về thụt
trô
cà khịa chạy làng chơi khăm phỗng tay
vi thiềng
ám quẻ
trô cánh hẩu
Trang 33nướng Tính từ rền
quých
cỏ
ù sộp bổng
2.1.2.2 Đặc điểm từ loại của các đơn vị lóng có cấu tạo là ngữ
Thông thường khi phân tích ngữ cố định không yêu cầu xác định về từ loại Tuy nhiên, những đơn vị thuộc từ ngữ lóng trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng, về chức năng định danh thì chúng phải được xem là ngữ cố định; nhưng về mặt cấu tạo chúng vẫn là các cụm từ chính phụ Do đó, dựa vào thành tố chính của các cụm từ này chúng tôi tạm thời tập hợp chúng theo các nhóm dưới đây:
cái mỏ vàng đàn bà ma bùn con lạc đà tam đại
đĩ nước con trời
Trang 34tay cự phách đòn vân nam đòn ve đòn kim đòn trinh thám đòn hiệp sĩ đòn ba giai đòn bát nhé đòn bát lò xo đòn nam châm đòn thùy châu đòn nội phản đòn xăng tan Cụm động từ đánh giác
đánh lớp giác mùi giác bóng đánh siệng đánh kiệu đánh ống tan chầu
Trang 352.1.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ lóng trong phóng sự Cạm bẫy
người, Kĩ nghệ lấy Tây và Lục xì
Sự phân loại từ ngữ lóng theo phạm vi biểu vật có vai trò rất quan trọng
trong việc khảo sát từ ngữ lóng trong phóng sự Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy
Tây và Lục xì
Trong Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu cho rằng “ Một
trường biểu vật là một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật Để
có những căn cứ dựa vào đó mà đưa các nghĩa biểu vật của các từ về trường biểu vật thích hợp, chúng ta chọn danh từ là gốc Các danh từ này phải có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù bểu vật, như người, động vật, thực vật, vật thể, chất liệu…Các danh từ này cũng là tên gọi các nét nghĩa
có tác dụng hạn chế, ý nghĩa của từ về mặt biểu vật, là những nét nghĩa cụ thể, thu hẹp ý nghĩa của từ.”[9, tr.173]
Dựa trên quan điểm đó, chúng tôi phân loại từ ngữ lóng theo các trường biểu vật sau: trường biểu vật về người, trường biểu vật về vật, trường biểu vật
về cách thức, trường biểu vật về hoạt động, trường biểu vật về tính chất, trường biểu vật về trạng thái
2.1.3.1 Các từ ngữ lóng thuộc trường nghĩa biểu vật chỉ người
người đi săn: tên gọi chung chỉ đối tượng trong nghề cờ bạc, có kĩ năng,
kĩ xảo để thắng trong canh bạc
“Thế là thành cuộc Bốn vai trò: Ông “Tham Ngọc” người đi săn, anh Vân người hướng đạo, ông thân sinh ra anh, chim mòng, với tôi, một người tò
mò, đi xem “ [1, tr.188]
người hướng đạo: tên gọi chung chỉ người giả vờ ngây thơ, khờ khạo
hoặc vờ về phe cánh với những người chơi khác trong chiếu bạc để đồng bọn (bạc bịp) giở mánh lới
Trang 36“Thế là thành cuộc Bốn vai trò: Ông “Tham Ngọc” người đi săn, anh Vân người hướng đạo, ông thân sinh ra anh, chim mòng, với tôi, một người tò
“Tôi mới có được một mẻng rất đáng yêu cả tinh thần lẫn xác thịt nhưng
phải cái hơi đáng giận là có cái đức lớn trong sự tiêu tiền [1, tr.184]
mòng: tên gọi chung chỉ người ngây thơ, khờ khạo bị bọn gian để ý, theo
dõi
“Cùng nhau gắn bó đã bao nhiêu lần,tôi vẫ để ý mãi, nay thật đến lúc
phải phiền ngài rồi đây Mong ngài sắp xếp cho một người có vẻ ông tham, ông phán, đúng chiều thứ bảy sang bên tôi có hàng Chính ông thân tôi là
mòng, chắc chắn lắm! Còn nhiều cái két khác nữa, nhưng tôi chưa dám cam
đoan vội, vì chưa xếp xong.” [1, tr.185]
két: tên gọi chung chỉ người lắm tiền
“Cùng nhau gắn bó đã bao nhiêu lần,tôi vẫ để ý mãi, nay thật đến lúc phải phiền ngài rồi đây Mong ngài sắp xếp cho một người có vẻ ông tham, ông phán, đúng chiều thứ bảy sang bên tôi có hàng Chính ông thân tôi là
mòng, chắc chắn lắm! Còn nhiều cái két khác nữa, nhưng tôi chưa dám cam
đoan vội, vì chưa xếp xong.” [1, tr.185]
chầu rìa: tên gọi chung chỉ người ngồi bên cạnh đám chơi bài, cờ không
tham gia chính thức
Trang 37“Cốt nhất phải có bộ mặt tài tử đóng kịch, nghiễm nhiên, bệ vệ, cũng cốt nhất là ngồi vào một chỗ không ai ám nổi, tránh cho xa những bác chầu rìa.” [1, tr 190]
cái: Tên gọi chỉ một vị trí trong canh bạc, thu và chi tiền cho các con
bạc mỗi khi thắng hoặc thua
“ Thứ nhì: hụt nọc Lối chơi này cần mỹ thuật lắm, người đánh phải có
cả tài lẫn gan Bắt cái xong, mình phải cầm lấy bài nọc vờ chang đi mấy lớp Thế là vài ba quân đã theo cái chang chui lọt, nằm gọn trong tay áo mình rồi Đến lúc lên bài, phải xoay đi cho phu nào vào phu ấy, lưng nào vào lưng ấy.”
[1, tr 189]
trếch: tên gọi chung chỉ đối tượng chơi cờ bạc là người bình dân
“Hoặc nếu ông là một chú trếch sộp, tất nhiên phải có một bác tài rang vàng, đội cái cát-két hay một ông nguyên bí tóc lại mặc áo cánh cổ cứng ngòi hầu ông chư… biết làm thế nào?” [1, tr 197]
tạ: tên gọi chung chỉ kẻ chuyên môn đi đón khách cho sòng bạc
“Còn tạ là những anh đầu trâu, mặt ngựa, chuyên môn đi đón khách cho
sòng, hạng người hai, ba lá mặt, đang mời chào ân cần đấy mà có thể giở giọng thô bỉ ngay đấy, vừa đóng những vai đầy tớ dễ bảo lại vừa là du côn.” [1, tr.211]
làng b: tên gọi chung chỉ những người trong nghề bạc bịp
“Cái ông ấm vô ý này bấy giờ mới gọi - Quên đi mất Rõ nỡm! ông này là một ông rất có cảm tình với làng b ta Đất rất nhiều, rất sộp!” [1, tr 234]
cớm: tên gọi chỉ cảnh sát
“Bàn thờ có đèn hương cẩn thận, bọn "con công đệ tử cứ" việc tha hồ ngồi chầu Tổ, nhỡ ra có cớm thì bài họ vứt vào hoả lò trong khi một thằng nhỏ ra mở cửa, con sen ở trong đã bưng cỗ xuống chiếu bạc rồi.[ 1, Tr 274]
Trang 38bip non: chỉ kẻ đánh bài gian dối còn chưa thạo, mới học
“Nhưng đó chỉ là phương pháp của các bịp non, dễ lộ tẩy, nếu người ta nghi hoặc, khám bài thấy rõ sự đánh tầm bậy, gian lận thì nguy [1, tr.189]
trùm: tên gọi chung chỉ kẻ cầm đầu thế lực lớn trong một băng nhóm
“ Hiện nay anh em tôn tôi là trùm đảng bạc bịp.” [1, tr.192]
chim mồi: nghĩa là mồi nhử để lôi kéo người khác
“ Được dễ thân như thế là vì có anh Vân, người cùng đi với tôi để thăm ông ấm, trước nay đã làm "chim mồi" cho ông đê săn các bạn già cụ phán bên
tỉnh Bắc cùng những tín đồ của "đổ bác giáo" bao nhiêu lần rồi [1, tr.192]
cò: người môi giới trong các hoạt động mua bán
“ Từ cuộc cò con đến cuộc đi gỡ sòng, đối với hạng khéo mơn, không có
những tay rích: tên gọi chung chỉ những người giàu có
“ Những tay rích mới có dăm canh đã bị lột trần.” [ 1,tr.226]
me Tây: gái Việt lấy chồng Tây
“Ngoài ra, lại còn bao nhiêu: me tây, cô đầu hàng xáo nữa ” [ 1,tr.224]
lá mặt: ý chỉ bề ngoài giả dối
“ Còn tạ là những anh đầu trâu, mặt ngựa, chuyên môn đi đón khách cho
sòng, hạng người hai, ba lá mặt, đang mời chào ân cần đấy mà có thể giở giọng thô bỉ ngay đấy, vừa đóng những vai đầy tớ dễ bảo lại vừa là du côn.” [1, tr.211]
du côn: Kẻ chuyên gây sự, hành hung, chỉ chơi bời lêu lổng
Trang 39“Còn tạ là những anh đầu trâu, mặt ngựa, chuyên môn đi đón khách cho
sòng, hạng người hai, ba lá mặt, đang mời chào ân cần đấy mà có thể giở giọng thô bỉ ngay đấy, vừa đóng những vai đầy tớ dễ bảo lại vừa là du côn.” [1, tr.211]
thằng chiệc: chỉ người Hoa Kiều
“ Trên ấy bây giờ có một thằng chiệc, trước bán phá xa, nay không biết
có phải được mả ông tổ tam, ngũ đại hay không, hốt nhiên đổi nghề và phất lắm Nó làm cái món đánh số lấy vịt quay!” [1, tr.211]
me: gọi chung những cô gái chuyên cặp bồ hoặc kết hôn với người Việt
Kiều hoặc người Tây để kiếm tiền Từ điển [6, tr.218]
“Nhưng, một buổi sáng kia, một me Tây trước vành móng ngựa toà trừng
trị đã nói một câu khiến cho công chúng quên khuấy ngay mình đang ở chỗ trang nghiêm, tưởng dè lúc đó đương xem hát bội mà thích chí cười ồ.” [1,tr 301]
cái mỏ vàng: nơi có vật quý giá để khai thác
“Anh đàn ông coi cô vợ đầm lai như cái mỏ vàng.” [1,tr 330]
mọc sừng: tên gọi chung chỉ người đàn ông có vợ ngoại tình
“Kẻ kia có lẽ bắn súng lục vào ngực một người mẹ đã cho bố mình mọc
sừng.” [1, tr 304]
đàn bà ma bùn: người đói khát
Điều khả ố là me ta gần nhảy lên mà reo:
Đã biết tay đàn bà ma bùn chúng tôi chưa, ông? Đừng có tưởng nhầm
chúng tôi lấy họ vì tình nữa nhé! [1,tr 340]
thằng hớ: chỉ kẻ ngớ ngẩn, bị người khác lừa
“Có hai lẽ rằng tôi không bị bịp Lẽ thứ nhất là tôi cũng chẳng phải là một thằng hớ, với lẽ thứ hai: nhân tình của tôi dắt tôi đến nhà một người quen
để dậy hoá,…” [1, tr.243]
Trang 40giang hồ: chỉ người có trải nghiệm
“Không, tôi đã nghĩ: chẳng tội gì mà quyên sinh! Chỉ cốt để bố mẹ tưởng
là mình chết rồi thì thôi, có muốn thương cũng không thương được nữa Thế rồi thì là cái đời giang hồ.” [1,tr 317]
tam đại: lai lịch
Nhưng mà đôi bít tất hoa đào, cái vẻ mặt thản nhiên vì ngu đần của Duyên Với những câu kê khai tam đại Duyên của bà Cẩm [1,tr 320]
hồng mao: gọi người nước Anh nghĩa là tóc đỏ
Hẳn trong số những ông thầy thuốc trông nom phúc đường trước kia, đã
có mọt ông hya bông đùa, hay dùng tiếng hồng mao trong khi đáng lẽ phải dùng tiếng Pháp [1,tr 370]
gái: tên gọi chung chỉ gái mại dâm
“Trong thành phố Hà Nội, ít ra cũng có năm nghìn gái sống về nghề mại
dâm Năm nghìn! Nhưng làm thế nào biết họ cho khắp mặt được, nhất là từ khi bị lôi cuốn vào cuộc biến hóa của phong tục cái đức hạnh người đàn bà
An Nam xưa kia kiên cố biết bao, thì nay đã hóa ra quá đỗi mỏng manh!” [1,tr 364]
công tử bột: con trai nhà giàu, béo tốt, trắng trẻo, ít có am hiểu về xã
hội, hay ăn chơi và lười biếng
“Những gái quê thì hoặc đã chê chồng vì đã ăn phải bả tân thời, hoặc đã
ra tỉnh làm con đòi, con sen mà không xong, hoặc đã đập trống ngực thình
thình khi, ngồi ở vệ hè, đương đói khát mà lại được vài ba cậu công tử bột
Hà thành nói vào tai những câu ân ái với thái độ săn sóc gian dối của thằng
mất dạy bên cạnh một con bò lạc , vừa quê mùa lại vừa chắc chắn cả trăm
phần trăm.” [1,tr 405]
con bò lạc: chỉ người con gái bỏ nhà đi hoang, ban đêm thường lang
thang ngoài đường