1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thiết kế và sử dụng hoạt động trải nghiệm tìm hiểu thiên nhiên thành phố đà nẵng cho học sinh THPT

102 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 3,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Nghị quyết, quá trình đổi mới nhằm “tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông” và “góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sa

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG

VŨ THỊ XUÂN THU

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TÌM HIỂU THIÊN NHIÊN THÀNH PHỐ

ĐÀ NẴNG CHO HỌC SINH THPT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đà Nẵng – Năm 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG

VŨ THỊ XUÂN THU

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TÌM HIỂU THIÊN NHIÊN THÀNH PHỐ

ĐÀ NẴNG CHO HỌC SINH THPT

Ngành: Sư phạm Sinh học

Người hướng dẫn: ThS Ngô Thị Hoàng Vân

Đà Nẵng – Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đề tài “Thiết kế và sử dụng hoạt động trải nghiệm tìm hiểu

thiên nhiên thành phố Đà Nẵng cho học sinh THPT” là công trình nghiên cứu

của riêng tôi

Các số liệu, kết quả trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

VŨ THỊ XUÂN THU

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi đã nhận được rất nhiều sự hỗ trợ

từ phía thầy cô, gia đình, bạn bè và các em học sinh Đây là nguồn động lực lớn nhất để tôi cố gắng trong thời gian thực hiện khóa luận

Xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới cô ThS Ngô Thị Hoàng Vân vì đã luôn tận tình hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành đề tài Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Sinh - Môi trường đã cho tôi những bài học, kinh nghiệm quý báu và vô cùng cần thiết, hữu ích khi thực hiện nghiên cứu

Xin cảm ơn quý thầy cô giáo ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, đặc biệt là các giáo viên trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn và trường THPT Nguyễn Thượng Hiền đã giúp đỡ tôi trong quá trình khảo nghiệm, thực nghiệm Cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên, hỗ trợ tôi hoàn thành luận văn

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2018

Tác giả

VŨ THỊ XUÂN THU

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.1 Xuất phát từ sự phát triển của thực tiễn xã hội và sự thay đổi chương trình giáo dục phổ thông 1

1.2 Xuất phát từ thực tế thành phố Đà Nẵng 2

2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 2

3 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 2

4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM 4

1.1.1 Giáo dục bằng trải nghiệm 4

1.1.2 Hoạt động trải nghiệm 6

1.1.3 Hoạt động trải nghiệm trong chương trình giáo dục phổ thông mới 20

1.1.4 Điều kiện tự nhiên thành phố Đà Nẵng 23

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 25

1.2.1 Khảo sát giáo viên 25

1.2.2 Khảo sát học sinh 25

1.3 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 26

1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới 26

1.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 28

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG – KHÁCH THỂ 33

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 33

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33

2.1.2 Đối tượng khảo nghiệm 33

2.1.3 Khách thể nghiên cứu 33

2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 33

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

Trang 6

2.3.1 Phương pháp điều tra cơ bản 33

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 34

2.3.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 34

2.3.4 Phương pháp khảo nghiệm sư phạm 34

2.3.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 34

2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 35

3.1 QUY TRÌNH THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM 36

3.1.1 Quy trình thiết kế hoạt động trải nghiệm 36

3.1.2 Quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm 39

3.2 KẾT QUẢ THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TÌM HIỂU THIÊN NHIÊN ĐÀ NẴNG CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG 41

3.2.1 Nội dung giáo án 41

3.2.2 Đề xuất sử dụng giáo án 63

3.2.3 Đề xuất một số phương án kiểm tra - đánh giá quá trình hoạt động 63

3.3 KHẢO NGHIỆM SƢ PHẠM 66

3.3.1 Mục đích khảo nghiệm 66

3.3.2 Nội dung khảo nghiệm 66

3.3.3 Kết quả khảo nghiệm 66

3.4 THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 68

3.4.1 Mục đích thực nghiệm 68

3.4.2 Nội dung thực nghiệm 68

3.4.3 Kết quả thực nghiệm 68

3.4.4 Tiểu kết sau quá trình thực nghiệm 72

1 KẾT LUẬN 75

2 KIẾN NGHỊ 75

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GV Giáo viên

HS Học sinh THPT Trung học phổ thông

Trang 8

1.3

Bảng mô tả mức độ đóng góp của các thành viên trong nhóm dùng cho học sinh tự đánh giá và đánh giá học sinh khác

30

3.1 Rubric đánh giá của giáo viên dành cho quá trình hoạt động

trải nghiệm của học sinh 63, 64

3.2 Mức độ phù hợp của các giáo án do giáo viên THPT đánh

3.3 Mức độ phù hợp của Giáo án 1 do học sinh THPT đánh giá 69 3.4 Mức độ phù hợp của Giáo án 2 do học sinh THPT đánh giá 71

Trang 9

sau hoạt động trải nghiệm

65

3.4 Hình ảnh bảng giấy note thu nhận ý kiến của học sinh sau

hoạt động trải nghiệm

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Xuất phát từ sự phát triển của thực tiễn xã hội và sự thay đổi chương trình giáo dục phổ thông

Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 diễn ra, nền kinh tế tri thức ngày càng phát triển mạnh làm thay đổi nhiều mặt của thế giới Cùng với sự phát triển đó, hàng loạt các vấn đề môi trường như biến đổi khí hậu, ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên… cũng diễn ra mạnh mẽ, trở thành vấn đề toàn cầu Trong bối cảnh đó, nguồn nhân lực trong tương lai phải là những người không chỉ giỏi về kiến thức mà còn phải

có những phẩm chất tốt, năng lực tốt và có khả năng thích ứng cao với những thay đổi

Ở trường Phổ thông hiện nay, phần lớn thời lượng là dành cho học các bộ môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Quá trình giáo dục vẫn còn nặng về truyền thụ kiến thức, học sinh chủ yếu học lý thuyết thông qua bài giảng của giáo viên Với phương thức giáo dục này, phần các phẩm chất, kỹ năng của học sinh vẫn chưa được bộc lộ và phát triển

Trong bối cảnh đó, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Theo Nghị quyết, quá trình đổi mới nhằm “tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông” và

“góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh.”

Để đạt được mục tiêu đổi mới giáo dục, chương trình giáo dục phổ thông mới không chỉ thay đổi trong từng môn học mà còn xuất hiện hoạt động giáo dục mới

là hoạt động trải nghiệm, được thực hiện xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12 Trong hoạt động này, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ sử dụng tổng hợp kiến thức và kĩ năng của mình để trải nghiệm thực tiễn đời sốngqua đó học sinh

tự thu nhận được kiến thức, phẩm chất và nhiều năng lực cần thiết để thích ứng với cuộc sống

Trang 11

tế, nghiên cứu khoa học, dược liệu; điều hòa khí hậu cho thành phố mà còn là nguồn gen rất quan trọng [10] Với điều kiện tự nhiên thuận lợi đó, thành phố Đà Nẵng định hướng phát triển chính ngành du lịch – dịch vụ gắn liền với sinh thái Tuy nhiên, hoạt động của con người khi khai thác du lịch đã gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng tới điều kiện tự nhiên Chính vì vậy, việc tìm hiểu tự nhiên của thành phố thông qua hoạt động trải nghiệm khiến học sinh có cái nhìn cụ thể hơn về địa phương, biết được những tài nguyên địa phương đang có và nhận thức được những nguy cơ, hiểm họa môi trường để có cách ứng xử, giải quyết phù hợp cho tương lai

2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

- Xây dựng quy trình thiết kế và sử dụng hoạt động trải nghiệm

- Thiết kế các giáo án hoạt động trải nghiệm tìm hiểu thiên nhiên thành phố

Đà Nẵng cho học sinh phổ thông nhằm hình thành phẩm chất và năng lực cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

3 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu thiết kế các hoạt động trải nghiệm tốt, ứng dụng phù hợp với điều kiện của học sinh và địa phương thì sẽ giúp học sinh có kiến thức về thiên nhiên thành phố, nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền về bảo tồn thiên nhiên, hình thành và phát triển những năng lực cần thiết cho học sinh và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

Trang 12

4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Xây dựng được quy trình thiết kế và tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh phổ thông

- Thiết kế được các giáo án hoạt động trải nghiệm tìm hiểu thiên nhiên Đà Nẵng cho học sinh phổ thông

Trang 13

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

1.1.1 Giáo dục bằng trải nghiệm

a Trải nghiệm

Trải nghiệm, theo Từ điển Oxford, có thể được hiểu theo rất nhiều nghĩa: sự trở thành chủ thể của một trạng thái, điều kiện nào đó; sự chịu ảnh hưởng bởi một trạng thái, điều kiện được nhìn nhận một cách chủ quan; một sự kiện gây ảnh hưởng đến ai đó; và những nhận thức, kỹ năng thu nhận được sau khi phân tích hoặc trải qua một sự kiện nào đó

Hiểu theo cách thông thường, trải nghiệm là những sự kiện mà một người đã trải qua, gây ảnh hưởng và tạo nên một số nhận thức, kỹ năng mới cho người đó

Dù hiểu theo cách nào, cũng phải khẳng định rằng, trải nghiệm là điều không thể thiếu trong cuộc sống, mang đến cho mỗi người những bài học, kinh nghiệm

b Giáo dục bằng trải nghiệm

Khi trải nghiệm được đưa vào quá trình giáo dục, nhiều nhà nghiên cứu đã nêu ra những quan điểm khác nhau về giáo dục trải nghiệm như:

- Theo David A Kolb, học tập chính là quá trình mà kiến thức được hình thành thông qua biến đổi và trải nghiệm Giáo dục trải nghiệm là quá trình học tập qua kinh nghiệm dựa trên các hoạt động có hướng dẫn, trong đó đề cao kinh nghiệm chủ quan của người học [12]

- Colin M Beard lại nhận định học tập trải nghiệm là quá trình tri giác của mối liên kết tích cực giữa thế giới bên trong của người học với thế giới bên ngoài của môi trường Học tập trải nghiệm, về bản chất là nền móng của tất cả các hình thức học tập vì nó tạo nên hầu hết những dạng kinh nghiệm mới đầy ý nghĩa và nối kết chúng thành một hệ thống chung [15]

- Wurdinger và Carlson (2010) nhận thấy rằng hầu hết giáo viên dạy bằng cách thuyết giảng vì rất ít trong số họ được học về những cách giảng dạy khác

Dù rằng yếu tố quan trọng của một nhà giáo vẫn là có khả năng thuyết giảng tốt, giáo viên vẫn nên khiến học sinh tham gia vào bài học một cách tích cực thông

Trang 14

qua thảo luận, làm việc nhóm, thực hành và trải nghiệm ngoài lớp học Giáo viên cần giúp học sinh hiểu lí thuyết bằng cách đưa học sinh vào những trải nghiệm thực tế trong hoặc sau giờ học Đó chính là quá trình học trải nghiệm, khi đó học sinh sẽ tự khám phá ra sự ham thích, nhu cầu và mong muốn được học cho bản thân mình [18]

- Theo tài liệu của Đại học Northern Illinois: Hoạt động trải nghiệm gồm nhiều bước, trong đó, học sinh thực hành, hợp tác và tư duy phản hồi từ những kinh nghiệm học tập sẵn có Từ đó, học sinh tiếp tục hình thành và phát triển những kỹ năng, kiến thức mới Học từ quá trình chính là trung tâm của học tập trải nghiệm, mặc dù nội dung bài học là rất quan trọng Trong từng bước của quá trình trải nghiệm, học sinh sẽ tự liên hệ với nội dung bài học, tự tư duy và áp dụng những điều đã học vào tình huống khác [13]

Có thể hiểu, trong giáo dục bằng trải nghiệm, học sinh được vận dụng các giác quan của mình để tri giác tình huống trải nghiệm, sử dụng các kiến thức, kỹ năng sẵn có để giải quyết tình huống Thông qua quá trình tư duy, hoạt động, rút kinh nghiệm mà học sinh có thể phát triển thêm những kiến thức, kỹ năng của mình, hình thành những phẩm chất và năng lực cần thiết

c Trải nghiệm có ý nghĩa

Việc trải qua một trải nghiệm không phải lúc nào cũng dẫn tới sự thấu hiểu

và bài học mới Cụ thể như, nếu trải nghiệm chỉ được dùng để chứng minh cho một niềm tin đã có, nó sẽ được hiểu là trải nghiệm cũ và nhận được rất ít sự chú

ý Nếu như không có sự tập trung thì rất khó để thu nhận được những bài học mới

Trải nghiệm là cơ sở cho mọi tri thức nhưng không phải lúc nào trải nghiệm cũng tạo ra tri thức Khi trải nghiệm, người học cần phải thực sự nhập cuộc và phản ứng với những điều xảy ra, nó xảy ra như thế nào và vì sao lại xảy ra Nếu không có điều này, những trải nghiệm sẽ chỉ như những kích thích tác động đến giác quan của người học hằng ngày Các kích thích luôn ở xung quanh người học nhưng sự nhận thức và độ nhạy cảm phụ thuộc vào “độ lớn” của các kích

Trang 15

thích, mức độ quan tâm tới chúng và sự tác động của những kích thích khác gây chú ý cho người học [11]

Bằng cách này hay cách khác, việc học tập luôn có liên hệ với những tri thức

đã biết trước đó Nếu những ý tưởng mới, trải nghiệm mới không liên kết với kinh nghiệm cũ, nó sẽ tồn tại trừu tượng, cô lập và vô nghĩa Kinh nghiệm có tác động đến tất cả các quá trình học tập Những điều thu hút người học, những điều người học từ chối tiếp cận và cách người học giải quyết các nhiệm vụ phụ thuộc vào việc họ đã phản ứng như thế nào trong quá khứ Những trải nghiệm cũ có thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến quá trình học tập Chúng có thể khuyến khích người học vượt qua khó khăn và khám phá những điều mới mẻ, hoặc ngược lại, chúng ngăn cản khả năng của người học khi phản ứng với những

cơ hội mới [15]

Như vậy, những trải nghiệm có ý nghĩa là những trải nghiệm vừa mang tính mới mẻ đủ để kích thích người học hoạt động, vừa mang tính quen thuộc, có liên quan đến những điều người học đã biết Ngoài ra, trải nghiệm phải mang đến tình huống có vấn đề, những nhiệm vụ để người học giải quyết Đảm bảo những điều đó thì trải nghiệm sẽ là nền tảng tạo ra tri thức, phẩm chất và năng lực mới cho người học

1.1.2 Hoạt động trải nghiệm

a Khái niệm hoạt động trải nghiệm

Theo Dự thảo Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015 đã nêu: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo bản chất là những hoạt động giáo dục nhằm hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất tư tưởng, ý chí tình cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực cần có của con người trong xã hội hiện đại Nội dung của HĐTNST được thiết kế theo hướng tích hợp nhiều lĩnh vực, môn học thành các chủ điểm mang tính chất mở Hình thức và phương pháp tổ chức đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian, thời gian, quy mô, đối tượng và số lượng… để HS có nhiều cơ hội

tự trải nghiệm” [5]

Trang 16

Theo PGS TS Đinh Thị Kim Thoa, hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục, trong đó dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của mình

Khái niệm này khẳng định rõ vai trò của nhà giáo dục là hướng dẫn và tổ chức hoạt động Như vậy, nhà trường, thầy cô, phụ huynh… không trực tiếp tham gia hay phân công HS hoạt động mà chỉ định hướng, hỗ trợ, giám sát cho quá trình đó Trung tâm của hoạt động trải nghiệm chính là học sinh: học sinh trực tiếp, chủ động tham gia vào các hoạt động một cách tích cực, tạo ra những sản phẩm, từ đó tự thu nhận kiến thức, phẩm chất và năng lực cho mình

Từ những nghiên cứu trên, theo chúng tôi, hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục trong thực tiễn đời sống được tổ chức dưới sự định hướng của nhà giáo dục mà học sinh là chủ thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động, tự giáo dục nhằm hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho riêng mình

b Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm

Theo Kolb, học tập là quá trình tạo ra kiến thức nhờ sự chuyển đổi các kinh nghiệm Kiến thức là kết quả của sự kết hợp giữa nắm bắt các kinh nghiệm và chuyển đổi nó Học tập bằng trải nghiệm có 6 đặc điểm chính:

- Việc học tập trải nghiệm cần được nhìn nhận trong suốt quá trình chứ không chỉ ở kết quả

- Đây là một quá trình học tập dựa vào các kinh nghiệm

- Học tập trải nghiệm đòi hỏi sự giải quyết mâu thuẫn giữa các phương thức biện chứng đối lập nhau để thích nghi với thế giới (Bản chất của học tập đầy căng thẳng)

- Học tập trải nghiệm là một quá trình hoàn thiện nhằm thích nghi với thế giới

- Học tập trải nghiệm bao gồm sự tương tác giữa con người với môi trường học tập

Trang 17

- Học tập trải nghiệm là một quá trình tạo ra nhận thức từ sự tương tác giữa tri thức cá nhân với tri thức xã hội

Trong Dự thảo Chương trình Giáo dục Phổ thông tháng 1 năm 2018 có trình bày về hoạt động trải nghiệm:

- Hoạt động trải nghiệm tạo cơ hội cho học sinh: huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học và lĩnh vực giáo dục khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống gia đình, nhà trường và xã hội; tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động, từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động; trải nghiệm, bày tỏ quan điểm, ý tưởng sáng tạo, lựa chọn

ý tưởng hoạt động; thể hiện và tự khẳng định bản thân, đánh giá và tự đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm và của các bạn dưới sự hướng dẫn,

tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi được tuyên bố trong chương trình tổng thể và các năng lực đặc thù của Hoạt động trải nghiệm

- Chương trình Hoạt động trải nghiệm mang tính linh hoạt, mềm dẻo Các cơ

sở giáo dục có thể căn cứ vào bốn nội dung hoạt động chính là Hoạt động phát triển cá nhân, Hoạt động lao động, Hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng, Hoạt động giáo dục hướng nghiệp để thiết kế thành các chủ đề hoạt động phù hợp với nhu cầu, đặc điểm học sinh, điều kiện của nhà trường, địa phương Một

số nội dung sinh hoạt Sao Nhi đồng, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam được tích hợp trong nội dung các hoạt động trên

- Hoạt động trải nghiệm được thực hiện dưới bốn loại hoạt động chủ yếu: Sinh hoạt dưới cờ, Sinh hoạt lớp, Hoạt động giáo dục theo chủ đề và Hoạt động câu lạc bộ Hoạt động trải nghiệm có thể được tổ chức trong và ngoài lớp học, trong và ngoài trường học theo quy mô cá nhân, nhóm, lớp học, khối lớp hoặc quy mô trường

- Hoạt động trải nghiệm huy động sự tham gia, phối hợp, liên kết của nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: GV chủ nhiệm lớp, GV bộ

Trang 18

môn, Cán bộ Đoàn, Tổng phụ trách Đội, Ban Giám hiệu nhà trường, cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân và đoàn thể trong xã hội [2]

Từ những cơ sở trên, chúng tôi đưa ra đề xuất về hoạt động trải nghiệm có những đặc điểm sau:

- Hoạt động trải nghiệm là một quá trình học tập: Học sinh tham gia hoạt động bằng những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm sẵn và tiếp tục phát triển các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm đó trong quá trình hoạt động để hình thành nên những kinh nghiệm mới cho mình Những phẩm chất, năng lực của học sinh chủ yếu được bộc lộ thông qua quá trình hoạt động, chứ không chỉ thể hiện ở kết quả Việc đánh giá kết quả của hoạt động trải nghiệm nên được thực hiện bằng đánh giá quá trình

- Hoạt động trải nghiệm mang tính tích hợp: Khi tham gia vào hoạt động trải nghiệm, học sinh được đặt vào một tình huống cụ thể, để phân tích, xử lí tình huống đó, học sinh không chỉ cần kiến thức của một môn học hay chỉ một kĩ năng nào mà cần tổng hòa kiến thức nhiều môn học, kiến thức xã hội, cảm xúc

cá nhân và nhiều kĩ năng khác nhau cùng phối hợp

- Hoạt động trải nghiệm có tính phân hóa cao: Hoạt động trải nghiệm được thiết kế tùy thuộc vào điều kiện của địa phương, điều kiện của nhà trường, trình

độ, hoàn cảnh của học sinh ; trong mỗi trải nghiệm, từng học sinh lại có cách nhận thức và rút ra được những bài học khác nhau, vì vậy, hoạt động trải nghiệm mang tính phân hóa cao theo nhiều mặt

- Hoạt động trải nghiệm thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng: Có rất nhiều hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm như: Tham quan thực tế, Thực hành thí nghiệm, Hoạt động ngoài giờ lên lớp, Hội trại Mỗi hình thức lại có nhiều cách tổ chức khác nhau, bao gồm nhiều hoạt động đi kèm Giáo viên có thể lựa chọn hình thức hoạt động phù hợp tùy thuộc vào đối tượng học sinh và điều kiện dạy học

- Hoạt động trải nghiệm là quá trình học tích cực, hiệu quả và sáng tạo: Sự tích cực, hiệu quả và sáng tạo thể hiện ở cả giáo viên và học sinh khi tổ chức hoạt động trải nghiệm Để tổ chức hoạt động trải nghiệm, giáo viên cần phải

Trang 19

chuẩn bị rất nhiều cả về kiến thức chuyên môn, kiến thức xã hội, kỹ năng và thái

độ Người giáo viên phải đặt tâm huyết của mình vào khi thiết kế hoạt động, đặt mình vào vị trí của học sinh, đồng thời, cũng phải tìm hiểu rất nhiều về tâm lí lứa tuổi, về các hoạt động để tìm ra cách thức tổ chức hiệu quả nhất, phù hợp nhất Về phía học sinh, họ được tham gia vào lớp học một cách tích cực, tự do

và thoải mái sáng tạo, được thể hiện bản thân và tự mình trải nghiệm, tự mình đúc kết nên hiệu quả sẽ rất cao

- Hoạt động trải nghiệm đòi hỏi sự phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường: Để tổ chức được một hoạt động có hiệu quả, giáo viên không thể độc lập hành động mà cần rất nhiều sự hỗ trợ từ phía nhà trường,

từ phụ huynh, địa phương và đặc biệt là từ học sinh

- Hoạt động trải nghiệm giúp lĩnh hội những kinh nghiệm mà các hình thức học tập khác không thực hiện được: Học tập thông qua phương pháp thuyết giảng hay phần lớn phương pháp dạy học khác dù là phương pháp dạy học tích cực, cũng không thể cho học sinh nhiều những cơ hội trải nghiệm thực tế Thông qua những tình huống thực tế trong hoạt động trải nghiệm, học sinh phải tự phân tích, tự xử lí, học sinh sẽ rút ra được những kinh nghiệm, những bài học cho riêng mình mà những kinh nghiệm đó khó có thể hình thành được từ những hình thức học tập khác

Đặc trưng của hoạt động trải nghiệm so với hình thức học tập theo môn học khác được thể hiện trong bảng 1.1 [7]

Bảng 1.1 Đặc trưng của hoạt động trải nghiệm

so với hình thức học tập theo môn học khác

và hành động của học

Hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực chung cần có ở

Trang 20

sinh con người trong xã hội hiện đại

Nội dung

- Kiến thức khoa học, nội dung gắn với các lĩnh vực chuyên môn

- Được thiết kế theo các phần, chương, bài có mối liên hệ logic chặt chẽ

- Kiến thức thực tiễn gắn bó với đời sống địa phương, cộng đồng, đất nước, mang tính tổ hợp nhiều lĩnh vực giáo dục, nhiều môn học, dễ vận dụng vào thực tế

- Được thiết kế theo các chủ điểm mang tính mở rộng

Hình thức

tổ chức

- Đa dạng, có quy trình chặt chẽ, hạn chế về không gian, thời gian

- Học sinh ít có cơ hội trải nghiệm

- Người chỉ đạo, tổ chức hoạt động chủ yếu là giáo viên

- Đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về về không gian, thời gian

- Học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm

- Có nhiều lực lượng tham gia chỉ đạo, tổ chức hoạt động (GV, PH, Nhà trường, Doanh nghiệp )

Tương tác

- Tương tác giáo viên với học sinh là chủ yếu: Giáo viên chỉ đạo, hướng dẫn học sinh học tập

- Tương tác đa chiều giữa giáo viên với học sinh, học sinh với học sinh, học sinh với các đối tượng của môi trường giáo dục (mọi người, gia đình, môi trường

- Theo chuẩn chung

- Thường đánh giá kết quả đạt được bằng điểm

- Nhấn mạnh đến kinh nghiệm, năng lực thực hiện, tính trải nghiệm

- Theo những yêu cầu riêng, mang tính cá biệt, phân hóa

Trang 21

số, phần lớn là đánh giá tổng kết

- Thường đánh giá kết quả đạt được bằng nhận xét, đánh giá thông qua quá trình

c Sự hình thành năng lực trong hoạt động trải nghiệm

c.1 Quan điểm về năng lực

Năng lực là một tập hợp kiến thức, thái độ và kỹ năng hoặc các chiến lược tư duy cốt lõi cho việc tạo ra những sản phẩm đầu ra quan trọng, năng lực là những phẩm chất tiềm tàng của một cá nhân và những đòi hỏi của công việc Điều này

có nghĩa là các năng lực luôn bị chi phối bởi bối cảnh cụ thể mà trong đó đòi hỏi con người phải thể hiện năng lực Vậy, năng lực là sự tích hợp sâu sắc của kiến thức, kỹ năng, thái độ làm nên khả năng thực hiện một công việc chuyên môn và được thể hiện trong thực tiễn hoạt động

Năng lực còn mang thuộc tính cá nhân, thể hiện ở tổ hợp những hành động dựa vào đặc điểm cá nhân (đặc điểm sinh học, cá tính của cá nhân và giá trị xã hội) được thực hiện một cách tự giác, dẫn đến kết quả phù hợp Năng lực được biểu hiện ở quá trình hoạt động (thông qua hiệu suất, phương thức, tốc độ và phong cách làm việc) và kết quả hoạt động (sản lượng, năng suất, chất lượng) Theo quan điểm này, năng lực là cái tồn tại thực chứ không phải chỉ là khả năng tiềm tàng

Tuy quan niệm về năng lực giữa các tác giả còn có sự khác nhau nhất định, nhưng đều thống nhất ở một điểm chung đó là: Nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện là phải biết làm (know-how) chứ không chỉ biết và hiểu (know-what) về mặt kiến thức [7]

Tóm lại, năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác để thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể

Trang 22

Có thể hiểu về những năng lực chung nhất của con người như sau:

(1) Năng lực Hiểu: Hiểu biết những tri thức về thế giới và các phương thức hoạt động để thu được tri thức ấy

(2) Năng lực Làm: Kĩ năng – kĩ xảo để hiện thực hóa các phương thức hoạt động nói trên của mỗi cá nhân

(3) Năng lực Cảm: Khả năng biểu cảm, thể hiện cảm xúc và giá trị

(4) Năng lực Sáng tạo: Sự thống nhất của ba năng lực Hiểu, Làm và Cảm ở mỗi

cá nhân

Yếu tố cốt lõi trong bất cứ năng lực cụ thể nào đều là kĩ năng Trong năng lực Làm, yếu tố kĩ năng được biểu hiện rõ ràng nhất, còn trong năng lực Hiểu và Cảm thì vẫn có kĩ năng, nhưng đó là những kĩ năng hẹp như: phân tích, so sánh,

áp dụng công thức, tính toán, kĩ năng biểu đạt cảm xúc, bất bình, hài lòng, ứng

xử, phản đối [6]

Như vậy, kĩ năng chính là cơ sở của tất cả năng lực và kĩ năng thu được hiệu quả nhất là thông qua hoạt động Các môn học hiện nay phần lớn chỉ hướng đến năng lực Hiểu Năng lực Làm và năng lực Cảm rất khó được hình thành và phát triển khi học sinh không được trực tiếp tham gia trải nghiệm hoạt động Ngược lại, hoạt động trải nghiệm lại giúp người học phát triển tốt cả 3 nhóm năng lực thông qua việc trực tiếp tham gia vào hoạt động, giúp người học phát triển toàn diện hơn cả về tri thức, phẩm chất lẫn năng lực

c.2 Các nhóm năng lực học sinh cần đạt trong Chương trình giáo dục phổ thông mới

Cùng với việc xây dựng khung chương trình giáo dục Trung học phổ thông mới, các nhóm phẩm chất và năng lực mà học sinh cần đạt được cũng thay đổi 9 năng lực cần đạt của học sinh theo thang đánh giá cũ (Tự học, Giải quyết vấn đề, Sáng tạo, Tự quản lí, Giao tiếp, Hợp tác, Sử dụng CNTT, Sử dụng ngôn ngữ, Tính toán) được chuyển đổi thành thang đánh giá mới gồm 8 năng lực cốt lõi

Đó là những năng lực mà bất kì người nào cũng cần có để sống và làm việc 8 năng lực này được chia thành 2 nhóm:

Trang 23

- Nhóm thứ nhất có 3 năng lực chung cho tất cả các môn học và hoạt động giáo dục là: Năng lực tự chủ, năng lực hợp tác và năng lực sáng tạo

+ Năng lực tự chủ được thể hiện trong mối quan hệ của mỗi người với bản thân Thể hiện sự quản lí bản thân, điều khiển hành vi và cảm xúc của mình + Năng lực hợp tác được thể hiện trong mối quan hệ của mỗi người với người khác Mỗi cá nhân có một lòng tự tôn và cá tính riêng và những cá tính

đó cần phải được hòa hợp mới tạo nên tập thể đoàn kết và bền vững Năng lực hợp tác được biểu hiện thông qua việc giao tiếp, làm việc nhóm, trao đổi thông tin của một người với người khác là cao hay thấp

+ Năng lực sáng tạo được thể hiện trong mối quan hệ của mỗi người với công việc Một người có khả năng hoàn thành tốt công việc không phải chỉ cần

họ làm đúng và đủ nghĩa vụ mà còn là họ sử dụng tư duy của mình để tạo ra những cách làm mới, cách làm có hiệu quả và tiết kiệm nhất trong công việc

- Nhóm thứ 2 bao gồm 5 năng lực đặc thù do một hoặc một vài môn học kiến tạo thành, bao gồm: năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực thẩm mỹ, năng lực tính toán, năng lực tin học và năng lực thể chất [1]

Năng lực ở học sinh được chia thành 3 cấp độ:

- Cấp độ 1: Bắt đầu hình thành và có khả năng nhận biết

- Cấp độ 2: Có khả năng nhận biết, đánh giá, hành động dưới sự hướng dẫn

- Cấp độ 3: Có thể độc lập nhận biết, đánh giá và hành động [6]

c.3 Sự hình thànhnăng lực trong hoạt động trải nghiệm

Học tập trải nghiệm chính là lí thuyết học tập đóng vai trò trung tâm trong đào tạo theo năng lực bởi vì nó chỉ ra các hoạt động học tập cụ thể của người học để phát triển kinh nghiệm nền tảng hướng đến mục tiêu đào tạo

Để giải thích sự hình thành và phát triển năng lực từ kinh nghiệm nền tảng của người học, chúng tôi đã kết hợp mô hình học tập trải nghiệm của Kolb và

mô hình cấu trúc năng lực của Đặng Thành Hưng (xem Hình 1.1)

Trang 24

Hình 1.1 Mô hình học tập trải nghiệm của Kolb và sự phát triển năng lực của

người học

Học tập sẽ xuất phát từ một mâu thuẫn giữa Kinh nghiệm cụ thể và Khái niệm hóa trừu tượng, hiểu đơn giản thì đó chính là mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết Mô hình học tập trải nghiệm của Kolb gồm 4 giai đoạn:

- Giai đoạn 1 - Kinh nghiệm cụ thể: Học tập thông qua các hoạt động, hành vi, thao tác cụ thể, trực tiếp gắn với bối cảnh thực tế Người học sử dụng kinh nghiệm đã có để tham gia vào trải nghiệm, từ đó, các kinh nghiệm mới phát sinh trong hoạt động cụ thể Kinh nghiệm mới chính là dữ liệu đầu vào cho chu trình học tập

- Giai đoạn 2 - Quan sát phản ánh: Học tập thông qua quan sát người khác thực hiện hoặc chiêm nghiệm lại bản thân Trong quá trình hoạt động, người học quan sát chính mình và quan sát người khác Những hành động, kinh nghiệm của

Trang 25

mọi người được suy ngẫm, phân tích, thảo luận, xem xét một cách hệ thống Từ

đó, người học đưa ra những đánh giá, đúc kết về ý nghĩa của kinh nghiệm

- Giai đoạn 3 - Khái niệm hóa trừu tượng: Học tập thông qua việc xây dựng các khái niệm, tổng hợp và phân tích Từ những điều quan sát được, người học đưa ra những kết luận hợp lí, có thể bổ sung thêm cho mình từ những kết luận của nhà giáo dục hoặc người học khác

- Giai đoạn 4 - Thử nghiệm tích cực: Học tập thông qua những đề xuất, thử nghiệm các phương án giải quyết vấn đề Các kết luận ở giải đoạn trước là tiền

đề cho các quyết định và hành động nhằm giải quyết vấn đề nào đó Từ đây, lại nảy sinh ra những kinh nghiệm mới và bắt đầu chu trình học tập mới [4], [9] Tóm lại, trong chu trình học tập trải nghiệm, người học sử dụng các kinh nghiệm nền tảng đã có để trải nghiệm trong các tình huống thực nhằm giải quyết vấn đề, các giá trị thực tế của kinh nghiệm nền tảng được phân tích bởi tư duy sẽ đưa đến những ý tưởng mới, cách làm mới và người học cố gắng áp dụng thử nghiệm những ý tưởng mới đó để giải quyết vấn đề Từ đó,những kinh nghiệm mới được đúc kết và những kinh nghiệm này sẽ được sử dụng cho lần trải nghiệm tiếp theo Quá trình này liên tục diễn ra theo hình xoắn ốc sẽ đưa kinh nghiệm nền tảng đã có phát triển hướng đến mục tiêu đào tạo Qua mỗi chu trình học tập, người học sẽ phát triển các năng lực Hiểu, Làm, Cảm và Sáng tạo [10]

Cụ thể như sau:

- Năng lực Cảm được phát triển khi cá nhân trải nghiệm các kinh nghiệm đã

có trong các tình huống thực, họ biểu lộ cảm xúc với việc học, biết được lợi ích của việc học với bản thân, sự phán xét giá trị kinh nghiệm đã có trong tình huống thực sẽ cho họ thấy được giá trị và ý nghĩa của việc học tập, điều này sẽ kích thích sự suy nghĩ, tìm kiếm và xử lí thông tin, làm tiền đề cho sự phát triển năng lực Hiểu

- Năng lực Hiểu được phát triển khi cá nhân thu thập và xử lí các dữ liệu, thông tin có được nhờ sự phán xét giá trị của kinh nghiệm nền tảng trong tình huống thực, qua đó người học sáng tạo ra ý tưởng mới, cách làm mới, giải pháp mới để giải quyết vấn đề gặp phải Kết quả của quá trình này là những khái niệm

Trang 26

mới và phương thức hoạt động để thử nghiệm những khái niệm mới nhằm giải quyết vấn đè, làm tiền đề cho sự phát triển năng lực làm

- Năng lực Làm được phát triển khi người học thử nghiệm những khái niệm mới trong việc giải quyết vấn đề Đó là quá trình người học hiện thực hóa mối quan hệ giữa những hành động và hệ quả xảy ra sau đó có thể làm sáng tỏ những

ý nghĩa, giá trị của khái niệm mới, giải pháp mới do mình khám phá ra

- Sự phát triển và hợp nhất của các năng lực Hiểu, Làm, Cảm sẽ là tiền đề cho

sự phát triển năng lực Sáng tạo, đưa người học lên trình độ mới, có được năng lực mới sau mỗi chu trình học tập, hướng đến mục tiêu đào tạo [6]

Qua đó, có thể thấy rằng, thông qua hoạt động trải nghiệm, cả ba nhóm năng lực Cảm, Hiểu, Làm đều được hình thành và phát triển thông qua hoạt động trải nghiệm, và có thể đưa đến sự phát triển năng lực sáng tạo Như vậy, theo chân dung học sinh mới, hoạt động trải nghiệm hoàn toàn có khả năng hướng đến phát triển 3 năng lực chung, và tùy thuộc vào nội dung, có thể phát triển thêm những năng lực chuyên biệt khác

d Vai trò của hoạt động trải nghiệm

Từ những lí luận về hoạt động trải nghiệm, chúng tôi xin tóm tắt những vai trò của hoạt động trải nghiệm bao gồm:

- Hoạt động trải nghiệm đóng vai trò là hoạt động giáo dục

Hoạt động trải nghiệm không phải là một môn học mà là hoạt động được tổ chức với mục đích giáo dục học sinh Với hình thức tổ chức mở và đa dạng, hoạt động trải nghiệm giúp học sinh tham gia vào thực tiễn cuộc sống, thông qua đó bộc lộ những phẩm chất, năng lực của mình Đây là cơ sở cho nhà giáo dục đề ra những biện pháp phù hợp để giáo dục học sinh

Quan trọng hơn, đây là hình thức giúp học sinh tự giáo dục bản thân Theo Khổng Tử, “mỗi ngày xem xét bản thân là tự tu luyện, tự giáo dục hiệu quả tốt nhất, sẽ hoàn thiện bản thân, nhanh chóng sửa lỗi, tránh được sai lầm” [8] Từ việc tham gia hoạt động trải nghiệm, học sinh được hiểu hơn về bản thân: những nhu cầu, mơ ước, thế mạnh, nhược điểm, cá tính, cảm xúc… Qua đó, học sinh

có khả năng tự định hướng cho chính bản thân mình về những thế mạnh cần

Trang 27

phát huy, những điểm yếu cần khắc phục, những cảm xúc cần tiết chế, cách ứng

xử phù hợp… và hơn hết là tìm ra ước mơ, lí tưởng cho tương lai Ngoài ra, khi gắn quá trình giáo dục với thực tiễn xã hội, hoạt động trải nghiệm gắn kết người học với môi trường xung quanh, làm nảy sinh tính trách nhiệm với môi trường,

xã hội – một mục tiêu quan trọng của định hướng giáo dục vì phát triển bền vững

- Hoạt động trải nghiệm giúp học sinh có phương pháp học tập, rèn luyện cân bằng

Mỗi người có một cách riêng biệt để tiếp cận với thế giới xung quanh Theo thang phân loại của Myers-Briggs, có bốn khía cạnh cần xác định của một người: Định hướng sống, sự tri giác, khả năng đưa ra quyết định và thái độ với thế giới bên ngoài [16], [17] Tương ứng với mỗi khía cạnh, mỗi người lại có một thế mạnh, phương thức học tập riêng (Xem bảng 1.2)

Bảng 1.2 Những thế mạnh của mỗi người theo thang Myers-Briggs

- Không theo thói quen

Khả năng đƣa ra quyết

Trang 28

Dựa vào những thế mạnh khác nhau, cách tiếp cận thông tin và phương thức học tập của người học rất đa dạng Hoạt động trải nghiệm không chỉ là môi trường cho học sinh tìm hiểu bản thân mình mà còn tạo điều kiện cho các cá tính khác nhau của học sinh được tương tác với nhau Nhờ vậy, học sinh tiếp thu những phương pháp hiệu quả của học sinh khác, tìm ra được những phương pháp học tập, hình thức tư duy phù hợp nhất đối với bản thân mình Những phương pháp học tập này là do người học tự chủ, nên có tính bền vững nhưng cũng rất linh hoạt Tùy vào hoàn cảnh mà học sinh có thể thích ứng để tìm ra phương pháp học mới phù hợp với sự phát triển của bản thân mình Các trải nghiệm còn làm nảy sinh ý nghĩa và động lực học tập, vì học sinh ý thức được vai trò của tri thức và kỹ năng khi vận dụng vào cuộc sống Phương pháp và động lực học tập là những điều cần thiết để phát triển tính tự học và khuyến khích học tập suốt đời

Ngoài ra, hoạt động trải nghiệm còn đóng vai trò quan trọng trong việc chống “Bệnh thành tích” trong giáo dục vì kết quả của hoạt động trải nghiệm được đánh giá qua quá trình, qua sự tiến bộ của học sinh Hoạt động trải nghiệm khuyến khích học sinh học tập, nhưng là học tập gắn với ý nghĩa thực tiễn, không phải chỉ là “học vẹt” với lý thuyết hàn lâm Với cơ sở trải nghiệm thực tiễn, học sinh ý thức được rằng ngoài kiến thức, còn phải rèn luyện thêm về kỹ năng và phẩm chất thì mới thích ứng được với xã hội thay đổi không ngừng Từ

đó, sẽ hình thành nên tính chủ động, tích cực trong học tập cũng như rèn luyện

và tham gia hoạt động xã hội của học sinh [14]

- Hoạt động trải nghiệm giúp phát triển phẩm chất và năng lực Trong hoạt động trải nghiệm, học sinh sử dụng những tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm sẵn có

để giải quyết các vấn đề của thực tiễn cuộc sống, từ đó, những tri thức, kinh nghiệm mới lại nảy sinh và dẫn đến những hành động mới nhằm cải tạo thực tiễn Chính nhờ sự tự chủ, tích cực, sáng tạo đó, học sinh được phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực cần thiết cho mình để thích ứng tốt với cuộc sống

Trang 29

- Hoạt động trải nghiệm tạo sự gắn kết các mối quan hệ xã hội trong giáo dục Để tổ chức hoạt động trải nghiệm có hiệu quả, nhà giáo dục cần hiểu học sinh và kết nối được với những yếu tố có liên quan đến quá trình dạy học và giáo dục để đạt được mục tiêu giáo dục Điều này khẳng định rằng, nhiệm vụ giáo dục không chỉ là của nhà trường mà còn là của gia đình và tất cả các lực lượng khác trong xã hội Sự nhận thức đúng về nhiệm vụ giáo dục và sự phối hợp chặt chẽ để thực hiện tốt nhiệm vụ đó giữa các lực lượng sẽ tạo nên môi trường giáo dục thuận lợi cho sự phát triển của học sinh Đây là điều kiện cần có để thực hiện được mục tiêu thay đổi căn bản và toàn diện giáo dục

1.1.3 Hoạt động trải nghiệm trong chương trình giáo dục phổ thông mới

a Vị trí và thời lượng của môn hoạt động trải nghiệm

Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục được thực hiện bắt buộc từ lớp

1 đến lớp 12, ở cấp Trung học Cơ sở và Trung học phổ thông được gọi là Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp

Hoạt động trải nghiệm thuộc nhóm môn học bắt buộc có phân hóa Trong tổng thời lượng giáo dục của một năm học, hoạt động trải nghiệm chiếm 105 tiết, nghĩa là trung bình một tuần có 3 tiết hoạt động trải nghiệm

Có 4 hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm:

- Hình thức có tính khám phá: Thực địa – thực tế, Tham quan, Cắm trại, Trò

b Quan điểm xây dựng chương trình hoạt động trải nghiệm

(1) Chương trình Hoạt động trải nghiệm tuân thủ các quy định cơ bản được nêu trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể

Trang 30

(2) Chương trình Hoạt động trải nghiệm bảo đảm hài hoà giữa lí thuyết và thực tiễn, tính khoa học và tính sư phạm

(3) Chương trình Hoạt động trải nghiệm bảo đảm sự cân đối giữa hoạt động

cá nhân và hoạt động tập thể, giữa hoạt động trong lớp và ngoài lớp, hoạt động trong nhà trường và ngoài nhà trường

(4) Chương trình Hoạt động trải nghiệm đảm bảo tính chỉnh thể, sự nhất quán và phát triển liên tục qua các lớp, các cấp Chương trình Hoạt động trải nghiệm được triển khai qua 4 nhóm nội dung hoạt động chính là: Hoạt động phát triển cá nhân, Hoạt động lao động, Hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng, Hoạt động giáo dục hướng nghiệp

(5) Chương trình Hoạt động trải nghiệm là chương trình mở, linh hoạt

c Yêu cầu cần đạt ở học sinh Trung học Phổ thông trong hoạt động trải nghiệm

a) Yêu cầu cần đạt về phẩm chất

Thông qua Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp học sinh đạt được các yêu cầu sau:

- Biết rung cảm với cảnh quan, di tích, truyền thống; thể hiện sự trân trọng,

tự hào và tham gia bảo vệ, phát huy truyền thống tốt đẹp của địa phương, đất nước bằng những hoạt động phù hợp;

- Nhận diện được giá trị của bản thân và những người xung quanh; quan tâm chăm sóc sức khoẻ thể chất và tinh thần cho bản thân và cộng đồng; có hành vi văn hoá trong ứng xử với bản thân và mọi người;

- Thể hiện trách nhiệm trong học tập, rèn luyện của bản thân, bạn bè và công việc chung; trách nhiệm với gia đình, trách nhiệm với cộng đồng và môi trường

- Trung thực với bản thân, người khác và trong công việc;

- Chăm chỉ, tự giác trong học tập, lao động và rèn luyện

b) Yêu cầu cần đạt về năng lực

Thông qua Chương trình Hoạt động trải nghiệm, học sinh hình thành và phát triển được các năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề

và sáng tạo biểu hiện qua các năng lực thành phần như sau:

(1) Năng lực thích ứng với cuộc sống

Trang 31

- Tự quyết định được một số vấn đề có liên quan đến bản thân trong cuộc sống; chủ động, tích cực tham gia các hoạt động ở lớp, trường, cộng đồng

- Vận dụng linh hoạt những hiểu biết về quyền và nhu cầu chính đáng của cá nhân để tự bảo vệ mình, thực hiện được một số hành vi tự bảo vệ trong các tình huống

- Điều chỉnh được cảm xúc, hành vi của bản thân để thích ứng được với sự

đa dạng và biến đổi của cuộc sống; giao tiếp hiệu quả trong những tình huống giao tiếp đa dạng

- Chủ động và tự tin thiết lập các mối quan hệ xã hội, giữ gìn và mở rộng các mối quan hệ; biết làm chủ các mối quan hệ trong cuộc sống thực cũng như trong môi trường giao tiếp ảo, đặc biệt là qua Internet phân tích và lựa chọn được con đường phát triển của bản thân

- Tìm được động lực cho bản thân trong hoạt động và biết lôi cuốn mọi người cùng tham gia hoạt động hướng tới mục tiêu chung

- Chủ động chuẩn bị bước vào môi trường học tập nghề nghiệp hoặc tham gia cuộc sống lao động với những yêu cầu cao hơn, đa dạng hơn

(2) Năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động

- Đề xuất được các mục tiêu hoạt động đáp ứng nhu cầu của cá nhân và tập thể và chủ động xây dựng kế hoạch để thực hiện các mục tiêu đặt ra

- Tuân thủ quy định, kỷ luật của nhóm, tập thể, cộng đồng khi tham gia hoạt động, làm tròn trách nhiệm được giao và hỗ trợ, giúp đỡ những người cùng tham gia hoạt động

- Đánh giá được hiệu quả, giá trị của hoạt động; tự đánh giá kết quả rèn luyện và sự trưởng thành của bản thân, điều chỉnh bản thân phù hợp với yêu cầu hoạt động

- Đánh giá được một cách khách quan, công bằng sự đóng góp và tiến bộ của bạn trong hoạt động và chân thành góp ý về những điều bạn cần hoàn thiện

- Giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh, quản lí được các yếu tố bất thường trong hoạt động và trong các mối quan hệ

Trang 32

- Tổ chức, điều hành hoạt động nhóm hiệu quả và tạo được động lực cho mọi người

- Đề xuất được các giải pháp khác nhau cho những vấn đề đặt ra, thực hiện được giải pháp giải quyết vấn đề một cách phù hợp, có căn cứ khoa học, đánh giá được hiệu quả của các giải pháp, suy ngẫm về cách thức và tiến trình giải quyết vấn đề để điều chỉnh và vận dụng trong bối cảnh mới

(3) Năng lực định hướng nghề nghiệp

- Giới thiệu được một số công việc/nghề truyền thống ở địa phương và/hoặc một số nghề phổ biến ở Việt Nam

- Chỉ ra được vai trò kinh tế đối với xã hội của một số nghề/nhóm nghề

- Chỉ ra được một số điểm mạnh và điểm yếu, sở thích, khả năng có liên quan đến nghề nào đó và bước đầu có ý thức rèn luyện một số năng lực và phẩm chất cần có của người lao động

- Phân tích được các chương trình học, các cơ sở đào tạo liên quan đến nghề nghiệp tương lai

- Lựa chọn được hướng đi phù hợp cho bản thân khi kết thúc giáo dục phổ thông và lập được kế hoạch học tập và rèn luyện phù hợp với hướng đi đã chọn

- Xác định được con đường phát triển nghề nghiệp của bản thân [2]

1.1.4 Điều kiện tự nhiên thành phố Đà Nẵng

Thành phố Đà Nẵng nằm ở miền Trung của Việt Nam có tọa độ từ 15o15’ đến 16o40’ vĩ độ Bắc và 107o17’ đến 108o20’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp Thừa Thiên – Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phia Đông giáp biển Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng duyên hải, vừa có đồi núi Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động Khí hậu ở Đà Nẵng là sự chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu cận nhiệt đới ở miền Bắc và khí hậu nhiệt đới xavan miền Nam

Với đặc thù là đa dạng về địa hình và là nơi giao thoa của các tiểu vùng khí hậu, điều đó đã tạo nên sự đa dạng về các kiểu hệ sinh thái cho thành phố Đà Nẵng Đặc biệt, Thành phố Đà nẵng có vị trí là nơi giao thoa của hai trung tâm

có độ đa dạng sinh học lớn là Bạch Mã và Ngọc Linh, do đó các khu hệ động

Trang 33

thực vật ở Đà Nẵng có mức độ đa dạng cao về thành phần loài (WWF, 2004) Một số khu hệ sinh thái điển hình là Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa, Rừng đặc dụng Nam Hải Vân, các rạn san hô Bắc Hải Vân

Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà có tổng diện tích tự nhiên là 4439 ha, trong

đó diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 4180 ha Các nghiên cứu cho thấy hệ thực vật ở đây tương đối đa dạng với 985 loài thực vật trong đó có 22 loài quý hiếm ghi trong Sách đỏ Việt Nam Về động vật, Sơn Trà có 287 loài gồm 36 loài thú,

106 loài chim, 23 loài bò sát, 9 loài ếch nhái và 113 loài công trùng; trong đó, có hàng chục loài động vật quý hiếm cần chú trọng bảo tồn Đặc biệt, ở Sơn Trà có loài Voọc chà vá chân nâu – “Nữ hoàng linh trưởng” được Tổ chức Tài nguyên thiên nhiên quốc tế IUCN xếp vào nhóm Động vật cần bảo tồn vô điều kiện Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa có tổng diện tích tự nhiên là 8838

ha trong đó diện tích đất rừng và đất lâm nghiệp là 8800 ha Đây là khu rừng có giá trị lớn về đa dạng sinh học, nối liền với vườn Quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên – Huế), Rừng đặc dụng Nam Hải Vân và dãy rừng tự nhiên phía Bắc và Tây Bắc tỉnh Quảng Nam, tạo nên một dãy rừng xanh độc nhất Việt Nam liên tục trải dài từ biển Đông đến biên giới Việt – Lào Tại đây, có 793 loài thực vật trong có đến 19 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam Một số loài cây quý hiếm được tổ chức IUCN đưa vào sách đỏ là: Trầm Hương, Sến Mật, Trắc, Gụ lau Theo Niên giám thống kê Thành phố Đà Nẵng năm 2009, Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa có 179 loài động vật gồm 61 loài thuộc lớp thú, 179 loài thuộc lớp chim, 17 loài thuộc lớp bò sát với nhiều loài đặc hữu đẹp như Gà lôi trắng Beli, Gà lôi lam mào trắng, Khướu đàu vàng

Các nghiên cứu về rạn san hô ở Đà Nẵng cho thấy, tại vùng biển Bắc Hải Vân và Hòn Sơn Trà thuộc nhóm rạn viền bờ có kích thước nhỏ từ 100 – 120m Các rạn san hô đều đạt độ che phủ trung bình đến tốt từ 30-70% (2005), tuy nhiên, hiện đang có sự suy giảm Nghiên cứu ở Bắc Hải Vân và Hòn Sơn Trà đã ghi nhận 120 loài san hô cứng, 7 loài san hô sừng và 5 loài san hô mềm, thành phần sinh vật đáy rạn san hô gồm 103 loài rong, 33 loài giun, 60 loài giáp xác,

Trang 34

12 loài da gai Cá san hô có tới 132 loài, số lượng vượt trội so với các vùng rạn

ở Vịnh Bắc Bộ

Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy, thiên nhiên thành phố Đà Nẵng rất

đa dạng và đặc biệt thể hiện ở sự đa dạng sinh học cao của các hệ sinh thái Chính vì vậy, cần sớm có những định hướng bảo tồn nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng này [10]

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Thực hiện khảo sát về hiểu biết và nhu cầu dạy học bằng hoạt động trải nghiệm ở trường Trung học phổ thông

1.2.1 Khảo sát giáo viên

Chúng tôi tiến hành khảo sát 10 giáo viên hiện đang giảng dạy bộ môn Sinh học trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng và thu được kết quả như sau: Khi được hỏi

về hoạt động trải nghiệm, 100% giáo viên phổ thông nắm được nội dung của dạy học trải nghiệm, nhưng 90% giáo viên chưa thực hiện dạy học bằng hoạt động trải nghiệm; 100% giáo viên nhận định hoạt động trải nghiệm sẽ giúp học sinh phát triển toàn diện; 80% giáo viên có suy nghĩ rằng việc đưa hoạt động trải nghiệm vào dạy học là cần thiết, 10% có ý kiến là bình thường và 10% cho là không cần thiết Về khó khăn khi thực hiện dạy học bằng hoạt động trải nghiệm, giáo viên đưa ra những nguyên nhân sau: tốn thời gian và kinh phí (100%), giáo viên còn thiếu kinh nghiệm, chưa được hướng dẫn cụ thể trong dạy học bằng trải nghiệm (60%) và học sinh còn thụ động (40%)

Như vậy, có thể thấy, 100% giáo viên đã có hiểu biết về hoạt động trải nghiệm trong dạy học, việc ứng dụng dạy học trải nghiệm trong dạy học Sinh học là phù hợp và có cơ sở; tuy nhiên vẫn chưa có những quy trình, những mẫu thiết kế cụ thể để giáo viên phổ thông thực hiện, đặc biệt là với điều kiện thành phố Đà Nẵng

1.2.2 Khảo sát học sinh

Chúng tôi sử dụng kết quả khảo sát 50 học sinh trong đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục (về năng lực tìm hiểu tự nhiên của học sinh phổ thông đã thực hiện trước đó) và tiến hành khảo sát thêm trên 25 học sinh Trung học phổ thông trên

Trang 35

địa bàn thành phố Đà Nẵng (Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn, THPT Phan Châu Trinh, THPT Nguyễn Hiền, THPT Hòa Vang) và thu được kết quả như sau: Khi được hỏi về mối quan tâm đến môi trường thiên nhiên: 41.25% học sinh trả lời rất thích, 32.5% học sinh thích và 26.25% học sinh nhận thấy bình thường với vấn đề này; tiết học của các môn học diễn ra trong lớp và phòng thực hành (95%) , chỉ khoảng 5% học sinh từng được học ở ngoài trời; khi được hỏi

về việc học ở ngoài thiên nhiên, 93.75% học sinh tỏ ý thích (nguyên nhân là vì thú vị, sinh động hơn, được trải nghiệm thực tế) và 6.25% học sinh không thích; với câu hỏi về hình thức học tậpthì 53.75% câu trả lời là muốn được học theo hình thức tự khám phá dưới định hướng của giáo viên, 43.75% câu trả lời muốn được thực hành và 2.5% câu trả lời muốn học lý thuyết; bày tỏ nguyện vọng với việc dạy học các môn học, 85% học sinh có bày tỏ nguyện vọng đều là giảm bớt lượng lý thuyết, trải nghiệm thực tế, thực hành nhiều hơn

Như vậy, có thể nhận định rằng học sinh có nhu cầu được tự khám phá, học tập và trải nghiệm ngoài thiên nhiên, tuy nhiên, việc học tập trải nghiệm hiện nay còn rất hạn chế

1.3 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Ngay từ trong quá trình hình thành của loài người, bàn tay và công cụ lao động là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của não bộ và xã hội loài người Trong bộ phim tài liệu như “The Ascent of Men” được phát hành năm 1973 (Little, Brown), nhà Toán học Jacob Bronowski viết:”Bàn tay là công cụ tiên phong của tâm trí”

Năm 1938, John Dewey (1859-1952), nhà triết học Hoa Kỳ trong thế kỷ XX

công bố tác phẩm Kinh nghiệm và giáo dục Trong tác phẩm này, Dewey đã làm

sáng tỏ ý nghĩa của kinh nghiệm cá nhân và mối quan hệ giữa kinh nghiệm người học với hoạt động dạy học, nhấn mạnh vai trò của trải nghiệm thực tế trong dạy học

Năm 1946, Zadek Kurt Lewin (1890 – 1947) người sáng lập của Tâm lý học

xã hội Hoa Kỳ, có công trình nghiên cứu “Nhóm-T và phương pháp phòng thí

Trang 36

nghiệm” liên quan đến học tập dựa vào trải nghiệm Trong công trình nghiên cứu của mình, ông đưa ra mô hình học tập dựa vào trải nghiệm [5]

Năm 1984, trên cơ sở nghiên cứu của Dewey, Lewin, Piaget, Lev Vygotsky

và các nhà nghiên cứu khác về kinh nghiệm và học tập dựa vào kinh nghiệm, David A, Kolb – nhà lý luận giáo dục Hoa Kỳ đã nghiên cứu và cho xuất bản một công trình về học tập dựa vào trải nghiệm: “Trải nghiệm hoc tập: Kinh nghiệm là nguồn gốc của học tập và phát triển” David Kolb đã chính thức giới thiệu lý thuyết học tập dựa vào trải nghiệm, cung cấp một mô hình học tập dựa vào trải nghiệm để ứng dụng trong trường học, tổ chức kinh tế và hầu như bất cứ nơi nào con người được học tập với nhau Theo Kolb, học sinh không chỉ thu nhận kiến thức của mình từ các giáo viên mà thay vào đó, thông qua quá trình trải nghiệm dựa trên các kinh nghiệm hiện có của bản thân để thu nhận thông tin mới trong môi trường học tập thực tiễn và kiểm tra lại bằng trải nghiệm của mình [12]

Từ năm 1984 đến nay, từ mô hình học tập dựa vào trải nghiệm trên, David Kolb và một số tác giả đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến học tập dựa vào trải nghiệm, tập trung vào các lĩnh vực khác nhau như Kinh tế, Giáo dục, Văn hóa

Năm 1989, cuốn sách kinh điển của Alan Ewert mang tên “Outdoor Adventure Pursuits” được xuất bản, đã tổng kết các nghiên cứu về các chương trình đưa trẻ em tiếp xúc với thiên nhiên và phát hiện ra rằng những em học sinh trực tiếp học tập với thiên nhiên thì sẽ biết đặt câu hỏi nhiều hơn và giải quyết vấn đề tốt hơn những em khác Khi trải nghiệm, sự phong phú của môi trường học tập, các sự vật, hiện tượng luôn vận động và phát triển không ngừng nên giáo viên cũng như học sinh luôn đặt mình vào các tình huống và tạo cho mình những kiến thức và kỹ năng mới Do đó, học tập dựa vào trải nghiệm còn khuyến khích học sinh chủ động đóng góp tiếng nói của mình vào việc xác định mục đích học tập, cho phép học sinh tham gia soạn thảo chương trình học tập và thực hiện dự án nghiên cứu của mình, thậm chí học sinh được tự đánh giá kết quả học tập của mình (David Lemper, 1996)

Trang 37

Trong một số nghiên cứu khác liên quan đến ngành Sinh thái học, như nghiên cứu của Magntorn và Helldén (2005) cũng đã khẳng định: học tập ngoài thiên nhiên là một cách tiếp cận chất lượng để khám phá thiên nhiên hiệu quả Những kiến thức về Sinh thái học được trình bày theo dạng lý thuyết là vô cùng trừu tượng và khó hiểu Các chuyến đi thực địa được coi là một phần quan trọng của việc tiếp thu các kiến thức Sinh thái học vì học sinh có thể tìm hiểu, thảo luận và móc nối được giữa lý thuyết và thực tế

Colin M Beard (2010) trong cuốn sách “The experiential Learning Toolkit: Blending Practice with Concepts” đã nêu ra bản chất của hoạt động trải nghiệm, các bước thực hiện và những cách thức tổ chức hoạt động trải nghiệm một cách hiệu quả [11]

Năm 2012, Fagerstam công bố nghiên cứu “Trải nghiệm thiên nhiên của học sinh: Năng lực và nhận thức của giáo viên” Mục đích của nghiên cứu này là để tìm hiểu năng lực cũng như nhận thức khoa học của giáo viên trung học phổ thông về trải nghiệm thiên nhiên của học sinh Nghiên cứu cho thấy học sinh rất

ít được trải nghiêm thiên nhiên mặc dù cả giáo viên và học sinh đều hứng thú với hình thức học tập và giảng dạy này Cũng trong nghiên cứu ngày, tác giả khẳng định rằng trẻ em đô thị cần được trải nghiệm thiên nhiên nhiều hơn để có kinh nghiệm thực, đáp ứng mục tiêu “xóa mù sinh thái” (ecological literacy goals)

Ngoài ra, còn rất nhiều những nghiên cứu khác về hoạt động trải nghiệm trong giáo dục, vai trò và các hình thức thực hiện nó

1.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Mặc dù trên thế giới, giáo dục dựa vào trải nghiệm được bắt đầu nghiên cứu

từ rất sớm nhưng ở Việt Nam, việc tiếp cận nghiên cứu về phương pháp dạy học dựa vào trải nghiệm còn nhiều hạn chế: ít công trình, tài liệu nghiên cứu và vận dụng Có thể kể đế một số dự án tiêu biểu sau:

- Năm 2006, học tập dựa vào trải nghiệm được đề cập ở tài liệu “Học mà chơi – chơi mà học: Hướng dẫn các hoạt động giáo dục môi trường” do Dự án Giáo dục Môi trường Hà Nội và Trung tâm Con người và Thiên nhiên biên soạn

Trang 38

Chương trình dự án này được triển khai tại 12 trường tiểu học và 11 trường trung học cơ sở tại Hà Nội

- Năm 2011, lần đầu tiên môn học “ Giáo dục trải nghiệm” được giảng dạy cho sinh viên thuộc chương trình đào tạo Cử nhân khoa học ngành Quản lý, liên kết giữa khoa quốc tế - Đại học quốc gia Hà Nội và Đại học Leuka, Mỹ Nội dung và mục tiêu môn học là nhằm giúp cho sinh viên gần gũi hơn với cuộc sống, với xã hội và có thêm được những trải nghiệm thực tế, những điều mà các

em có thể chưa nắm bắt được khi học qua sách vở tại trường đại học

- Năm 2015, luận án tiến sĩ Khoa học giáo dục của tác giả Võ Trung Minh, với đề tài “Giáo dục môi trường dựa vào trải nghiệm trong dạy học môn Khoa học ở Tiểu học” Tác giả đã nhận định HS tiểu học là những trẻ em đang trong

độ tuổi phát triển và định hình về nhân cách Phẩm chất, nhân cách của các em chỉ hình thành thông qua các hoạt động do chính các em làm chủ thể Thông qua giáo dục môi trường dựa vào trải nghiệm, học sinh có nhiều điều kiện thuận lợi

để thể hiện hết những hiểu biết, kết hợp với khai thác các giác quan của cá nhân, rèn luyện hành vi và thói quen bảo vệ môi trường Giáo dục môi trường dựa vào trải nghiệm sẽ giúp cho giáo viên và học sinh được tiếp xúc với môi trường thực tiển, thể hiện các hoạt động bảo vệ môi trường có hiệu quả Đồng thời, giáo dục môi trường dựa vào trải nghiệm còn giúp cho học sinh và giáo viên kiểm nghiệm, vận dụng những kiến thức đã được học vào thực tiển, điều chỉnh kịp thời những hành vi, thái độ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống

- Cũng trong năm 2015, dưới định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam của Bộ Giáo dục và đào tạo, rất nhiều đề tài của nhiều tác giả đã đề cập đến “trải nghiệm sáng tạo” trong nghiên cứu của mình Đơn cử như tác giả Bùi Ngọc Diệp cũng đã nghiên cứu các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong nhà trường phổ thông Các hình thức đó là: hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, tổ chức diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, hội thi, tổ chức, sự kiện, hoạt động giao lưu, hoạt động chiến dịch, hoạt động nhân tạo Tác gải cho rằng các hoạt động này được thực hiện nhằm mục tiêu đào tạo ra những con người cóc hí hướng, có đạo đức, có định

Trang 39

hướng tương lai, có khả năng sáng tạo, biết vận dụng một số cách tích cực những kiến thức đã học vào thực tế, đồng thời biết chia sẻ và quan tâm tới mọi người xung quanh

- Vào năm 2016, 2017, có một số bộ sách của nhiều tác giả như Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Hằng, Tưởng Duy Hải về tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông được xuất bản Trong đó

có đề xuất nhiều phương pháp, cách thức tổ chức cũng như đánh giá trong hoạt động trải nghiệm Theo đó, các tác giả có đề xuất nội dung đánh giá dành cho học sinh tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng (Bảng 1.3)

Bảng 1.3 Bảng mô tả mức độ đóng góp của các cá nhân trong nhóm

(dành cho học sinh tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng)

Mức độ Tiêu chí

4 Quan trọng

3

Có ý nghĩa

2 Nhỏ

1 Không có Nghiên cứu và thu

thập thông tin

Tìm kiếm được nhiều thông tin có ích cho chủ

đề hoặc nhiệm vụ được giao

Tìm kiếm được một số thông tin có

có ích cho chủ đề

Tìm kiếm được một vài thông tin nhưng chỉ một lượng nhỏ là có ích cho chủ đề

Không tìm kiếm được thông tin liên quan đến chủ đề

Chia sẻ thông tin Chia sẻ

nhiều thông tin hữu ích với nhóm

Chia sẻ một

số thông tin hữu ích với nhóm

Chia sẻ một

ít thông tin với nhóm

Không chia

sẻ thông tin với nhóm

Sự tham gia vào

nhiệm vụ nhóm

Tham gia tất

cả nhiệm vụ hoặc buổi họp nhóm

Tham gia hơn một nửa nhiệm vụ hoặc các buổi họp

Tham gia dưới một nửa các nhiệm vụ hoặc buổi

Không tham gia nhiệm

vụ hoặc buổi họp nhóm nào

Trang 40

nhóm nhưng không phải

Hoàn thành nhiều hơn một nửa nhưng không đủ nhiệm vụ được giao

Hoàn thành

ít hơn một nửa nhiệm

vụ được giao

Không hoàn thành nhiệm

có hiệu quả cho nhóm sẽ đồng ý

Gần như lắng nghe ý kiến và phản hồi của các thành viên khác cho nhóm

Không thường xuyên lắng nghe ý kiến

và phản hồi của các thành viên khác cho nhóm

Không lắng nghe thành viên khác trong nhóm, nghĩ và làm theo cách riêng

Hợp tác với nhóm Thảo luận

không tranh cãi với các thành viên trong nhóm

Thảo luận các vấn đề với các thành viên

và chỉ vài lần tranh cãi

Thỉnh thoảng tranh cãi với các thành viên khác của nhóm

Tranh cãi với mọi người và cố gắng để họ suy nghĩ như cách của mình

Như vậy có thể nói rằng, các nghiên cứu về giáo dục trải nghiệm trên thế giới hay ở Việt Nam đều khẳng định rằng trải nghiệm là hình thức giáo dục ưu việt Hoạt động trải nghiệm hấp dẫn và thử thách về mọi mặt, từ thể chất, xã hội,

Ngày đăng: 08/05/2021, 16:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), “Dự thảo Chương trình tổng thể giáo dục.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Chương trình tổng thể giáo dục
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2017
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018(, “Chương trình Giáo dục Phổ thông Hoạt động trải nghiệm”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Giáo dục Phổ thông Hoạt động trải nghiệm
[3] Hoàng Hòa Bình (2015), “Năng lực và đánh giá theo năng lực”, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Số 6(70) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực và đánh giá theo năng lực”
Tác giả: Hoàng Hòa Bình
Năm: 2015
[4] Trần Thị Gái (2017), “Vận dụng mô hình trải nghiệm của David Kolb để xây dựng chu trình hoạt động trải nghiệm trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông”, Tạp chí khoa học đại học quốc gia Hà Nội, số 3 (1-6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng mô hình trải nghiệm của David Kolb để xây dựng chu trình hoạt động trải nghiệm trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông”
Tác giả: Trần Thị Gái
Năm: 2017
[6] Nguyễn Văn Hạnh (2017), “Học tập trải nghiệm: Một lý thuyết học tập đóng vai trò trung tâm trong đào tạo theo năng lực”, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chính Minh, số 1(179-187) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập trải nghiệm: Một lý thuyết học tập đóng vai trò trung tâm trong đào tạo theo năng lực”
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Năm: 2017
[7] Nguyễn Khải Hoàn (2015), “Dạy học dựa vào nghiên cứu trường hợp nhằm phát triển năng lực người học”, Tạp chí giáo dục, số 364(19) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học dựa vào nghiên cứu trường hợp nhằm phát triển năng lực người học”
Tác giả: Nguyễn Khải Hoàn
Năm: 2015
[8] Lê Kim Nam (2014), “Triết lý của Khổng Tử về phương pháp giáo dục”, Tập san Khoa học và Đào tạo, Số 1(71-77) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý của Khổng Tử về phương pháp giáo dục”
Tác giả: Lê Kim Nam
Năm: 2014
[9] Chu Thị Hồng Nhung (2015), “Vận dụng mô hình giáo dục trải nghiệm của David A. Kolb vào việc giáo dục lòng nhân ái cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường Mầm non”, Tạp chí giáo dục, số 361(19) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng mô hình giáo dục trải nghiệm của David A. Kolb vào việc giáo dục lòng nhân ái cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường Mầm non”
Tác giả: Chu Thị Hồng Nhung
Năm: 2015
[10] Nguyễn Thị Tường Vi (2010), “Tổng quan về Đa dạng sinh học ở Thành phố Đà Nẵng và một số định hướng bảo tồn”, Tạp chí khoa học và công nghệ Đại học Đà Nẵng, số 5(40).Tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về Đa dạng sinh học ở Thành phố Đà Nẵng và một số định hướng bảo tồn”, "Tạp chí khoa học và công nghệ Đại học Đà Nẵng, số 5(40)
Tác giả: Nguyễn Thị Tường Vi
Năm: 2010
[11] Colin M. Beard (2010), “The experiential Learning Toolkit: Blending Practice with Concepts” Sách, tạp chí
Tiêu đề: The experiential Learning Toolkit: Blending Practice with Concepts
Tác giả: Colin M. Beard
Năm: 2010
[12] David A.Kolb (2015), “Experiential learning: Experience as the source of learning and development”, Second Edition, Prentice Hall PTR Sách, tạp chí
Tiêu đề: Experiential learning: Experience as the source of learning and development
Tác giả: David A.Kolb
Năm: 2015
[13] Faculty Development and Instructional Design Center (2011), “Experiential learning”, Northern Illinois University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Experiential learning
Tác giả: Faculty Development and Instructional Design Center
Năm: 2011
[14] Linda Darling, Hammond, Kim Austin (2010), “The learning classroom session 11”, Stanford University School of Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: The learning classroom session 11
Tác giả: Linda Darling, Hammond, Kim Austin
Năm: 2010
[15] Peter Wilson, Collin M. Beard (2006), “Experiential learning: A best practice handbook for educators and trainers” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Experiential learning: A best practice handbook for educators and trainers
Tác giả: Peter Wilson, Collin M. Beard
Năm: 2006
[16] Robert J. Stemberg, Li-fang Zhang (2011), “Perspectives on Thinking, Learning, and Cognitive Styles” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Perspectives on Thinking, Learning, and Cognitive Styles
Tác giả: Robert J. Stemberg, Li-fang Zhang
Năm: 2011
[17] Susan M. Montgomery, Linda N. Groat (1998), “Student learning style and their implication for teaching”, The University of Michigan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Student learning style and their implication for teaching
Tác giả: Susan M. Montgomery, Linda N. Groat
Năm: 1998
[18] Wurdinger, S.D, Carlson, J.A (2010), “Teaching for experiential learning: Five approaches that work” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Teaching for experiential learning: Five approaches that work
Tác giả: Wurdinger, S.D, Carlson, J.A
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm