Xây dựng buộc phải chuyển mình, và phương pháp Thiết Kế - Thi Công Design & Build chính là cách tiếp cận mới đảm bảo các yêu cầu về chi phí, tiến độ, chất lượng của dự án xây dựng.. Các
TỔNG QUAN
Về Phương Thức Thiết Kế - Thi Công (Design & Build)
2.3.1 Phương thức thiết kế – đấu thầu - thi công
- Trong phương thức thiết kế – đấu thầu - thi công, nhà thầu tư vấn chịu trách nhiệm phần việc thiết kế hồ sơ bản vẽ; sau khi bản vẽ thiết kế hoàn thành chủ đầu tư sẽ tiến hành thuê nhà thầu xây dựng thực hiện phân công việc thi công xây lắp - Ling, Florence Yean Yng, Swee Lean Chan, Edwin Chong (2004) “Predicting
Performance of Design-Build and Design-Bid-Build Projects”[6] Quá trình thiết kế và thi công được tiến hành riêng biệt và độc lập, nhà thầu thiết kế chịu trách nhiệm về chất lượng của hồ sơ thiết kế, nhà thầu thi công chịu trách nhiệm phần việc xây lắp tại công trường dưới sự giám sát của chủ đầu tư hoặc một đơn vị tư vấn giám sát độc lập khác Nhưng trải qua thời gian dài áp dụng thì phương thức thiết kế - đấu thầu – thi công đã bộc lộ nhiều phát sinh do các thủ tục liên quan đến pháp lý chưa đơn giản hoá, nhà thầu thi công tốn nhiều thời gian để liên hệ đơn vị thiết kế để hiểu rõ bản vẽ thi công (do trong nhiều tình huống đặc biệt, nhà thầu thi công khó có thể xác định được tình huống đặc biệt trong bản vẽ thiết kế là lỗi do thiếu sót của đơn vị thiết kế hay là yêu cầu đặc biệt từ chủ đầu tư ), dẫn đến phát sinh tại công trường đòi hỏi sự phối hợp giữa chủ đầu tư, nhà thầu thi công và đơn vị thiết kế để khắc phục vấn đề ( tốn nhiều thời gian và gây ảnh hưởng đến tiến độ cũng như chi phí của dự án ) Các vấn đề này phần lớn là do yêu cầu việc các nhà thầu riêng biệt thực hiện các công tác khảo sát hiện trạng, thiết kế thi công cũng như lập dự toán và cuối cùng là thi công tại công trường gây ra
2.3.2 Phương thức thiết kế – thi công
- Phương thức thiết kế - thi công (Design & Build) mang lại cơ hội đổi mới và tối đa hoá thời gian cũng như lợi nhuận cho cả Chủ đầu tư và Nhà thầu DB Phương pháp này mang mục đích chính là tối ưu hoá thiết kế, tiến độ và chất lượng của dự án, đồng thời thúc đẩy mối quan hệ làm việc hiệu quả và thoải mái, mang tính xây dựng giữa Chù đầu tư và Nhà thầu DB Một môi trường hài hoà và tiện lợi như vậy sẽ dễ dàng đạt được nếu chọn đúng nhà thầu phù hợp Do đó việc lựa chọn nhà thầu ngoài tiêu chí chính là giá thầu thấp thì còn phải dựa vào sự đóng góp đáng kể của nhà thầu đó vào sự thành công chung của dự án DB, từ đó mang đến điều kiện lý tưởng nhất là môi trường “win-win” (đôi bên cùng có lợi) cho cả Chủ đầu tư, Nhà thầu DB và các Nhà thầu phụ tham gia vào dự án DB Chỉ riêng việc lựa chọn giá thầu thấp nhất trong các dự án cũng mang nguy cơ có thể dẫn đến chi phí lớn hơn trong dài hạn Hơn nữa, cách tiếp cận này có thể dẫn đến việc bỏ qua mọi cơ hội có thêm lợi ích và giá trị đồng tiền tốt hơn Sẽ công bằng khi kết luận rằng các cách tiếp cận truyền thống để lựa chọn nhà thầu thường không đáp ứng trực tiếp các thách thức hoặc nhu cầu của các dự án DB
- E Palaneeswaran, M Kumaraswamy, K Walsh (2000) “Contractor Selection for Design/Build Projects” [7] Đây là phương thức tích hợp hai quá trình thiết kế và thi công vào cùng y hợp đồng duy nhất, trong đó nhà thầu DB sẽ chịu trách nhiệm cho toàn bộ quá trình thiết kế cũng như thi công xây lắp
- Phương thức thực hiện hợp đồng thiết kế - thi công đã không còn xa lạ với nghành công nghệp xây dựng Việt Nam Phương thức thiết kế - thi công là dạng trong cùng một gói thầu, một hợp đồng thì nhà thầu được giao thực hiện cả 2 nội dung công việc: thiết kế hồ sơ bản vẽ và thi công xây dựng công trình Thực tế cho thấy phương thức thiết kế - thi công đang áp dụng rất có hiệu quả trong các dự án công nghiệp có quy mô lớn cũng như yêu cầu công nghệ đa dạng và yêu cầu phức tạp Khác với phương thức truyền thống là thiết kế hoàn thành xong mới tổ chức lựa chọn nhà thầu thi công phương thức này đòi hỏi sự tích hợp giữa thiết kế và quá trình thi công để cải thiện cơ hội đạt được dự án có chất lượng tốt hơn, hoàn thành một cách an toàn, đúng tiến độ và chi phí thấp nhất Đồng thời, các dự án thiết kế thi công có nhiều khả năng được hoàn thành đúng tiến độ dự án
- Như trong hầu hết các dự án xây dựng truyền thống, việc lựa chọn nhà thầu cho các dự án Design & Build cũng tuân theo các thủ tục sơ tuyển, lập danh sách rút gọn và đánh giá thầu Tuy nhiên, vì việc chọn '' nhà thầu được đề xuất '' thích hợp nhất sẽ phức tạp và quan trọng hơn để giải quyết những rủi ro phụ liên quan đến thiết kế và xây dựng, các yêu cầu cốt lõi của việc lựa chọn nhà thầu phải được xem xét lại một cách nghiêm ngặt và các phương pháp tiếp cận mới phải được xây dựng Thông thường, các Chủ đầu tư bị ràng buộc phải chọn người trả giá thấp nhất để ký hợp đồng, trừ những trường hợp ngoại lệ Cách tiếp cận này có thể có hiệu lực trong các tình huống đơn giản và dễ hiểu, khi một ý tưởng rõ ràng về chi phí và điều kiện đã được thiết lập do tính chất lặp đi lặp lại của các công việc Tuy nhiên, nó có thể không hợp lệ trong hầu hết các tình huống, bởi vì việc trao hợp đồng cho nhà thầu chỉ dựa trên giá thấp nhất có thể dẫn đến những hậu quả khác nặng nề hơn về chi phí
- Nhà thầu có thể đủ năng lực thực hiện cả công việc thiết kế lẫn thi công hoặc có thể thuê thầu phụ thực hiện công tác thiết kế , hoặc thuê thầu phụ thực hiện công tác thi công
- Những người tham gia dự án DB cho rằng tiến độ, chi phí và chức năng phải là tiêu chí thành công chính cho các dự án DB Hơn nữa, các yếu tố quyết định sự thành công của dự án DB bao gồm bản chất dự án, hiệu quả của hành động quản lý dự án và việc áp dụng các phương pháp quản lý sáng tạo Các phát hiện từ nghiên cứu này có thể cung cấp một loạt các khuyến nghị thiết thực cho các bên liên quan của dự án để giúp thực hiện tốt hơn phương pháp phân phối DB Làm việc theo nhóm và hợp tác sẽ dẫn đến thành công chung của dự án trong tương lai
Hình 2 1: So sánh phương pháp Truyền thống với phương pháp Thiết Kế - Thi
2.3.3 Thuận lợi của phương thức thiết kế – thi công
- Đơn giản hóa trong việc kí kết hợp đồng và quản lý hợp đồng : quá trình từ thiết kế đến thi công chỉ gói gọn trong một hợp đồng duy nhất tạo điều kiện rút ngắn thủ tục, thời gian đàm phán, đơn giản hóa trong việc quản lý hợp đồng cho nhà thầu và chủ đầu tư
- Giới hạn chi phí: phương thức thiết kế thi công hoàn thành toàn bộ dự án bởi một nhà thầu chính duy nhất với chi phí giới hạn cụ thể đã được yêu cầu trong hợp đồng ký kết giữa hai bên
- Giảm nhẹ các thay đổi và tranh chấp: các sai sót và thay đổi phát sinh trong quá trình thiết kế đều thuộc trách nhiệm của nhà thầu thiết kế – thi công; sự phân bổ rủi ro phù hợp của hợp đồng thiết kế – thi công đã làm giảm nguy cơ thay đổi trong suốt dự án
- Giảm các quan hệ đối kháng: bộ phận thiết kế và thi công làm việc cùng nhau từ giai đoạn thiết kế ban đầu và chịu sự chi phối bởi một hợp đồng duy nhất, điều này làm giảm các xung đột và giảm việc đổ lỗi qua lại giữa bộ phận thiết kế và thi công so với phương thức truyền thống
- Tiết kiệm chi phí: ưu tiên sự đổi mới, các giải pháp chi phí hiệu quả đáp ứng các điều kiện kỹ thuật là một trong những tiêu chí của phương thức thiết kế - thi công
- Tiết kiệm thời gian: phương thức thiết kế - thi công cho phép đề xuất và triển khai các biện pháp thi công hợp lý phù hợp với năng lực của nhà thầu , quá trình triển khai thiết kế và thi công được triển khai bởi một nhà thầu đảm bảo hạn chế được tối đa sự chậm trễ
- Xác định được chi phí sớm: chi phí cho dự án thiết kế – thi công được xác định sớm hơn so với phương thức truyền thống
- Khả năng đưa giá trị vào trong quá trình thiết kế là trong những thành công của gói thầu thiết kế – thi công Đưa giá trị vào thiết kế là một việc làm quan trọng bởi nó sẽ cung cấp các sản phẩm thiết kế mang tính sáng tạo và đổi mới, gặp ít sự than phiền của chủ đầu tư, cung cấp nhiều chức năng tốt hơn trong bố trí , và đảm bảo sự hài lòng của chủ đầu tư rất cao – theo L Pheng, L Yeap (2001) “Quality function deployment in Design/Build Projects”[8]
2.3.4 Bất lợi của phương thức thiết kế – thi công
Xây dựng quy trình thiết kế trong dự án DB (giai đoạn đấu thầu)
- Trưởng phòng Thiết kế sẽ xác định đầu vào của thiết kế liên quan đến các yêu cầu đối với sản phẩm, duy trì hồ sơ liên quan và xem xét sự thỏa đáng của các yếu tố đầu vào của thiết kế Các yêu cầu phải đầy đủ, rõ ràng và không mâu thuẫn với nhau Đầu vào phải bao gồm:
+ Các yêu cầu về chức năng và công dụng từ kết quả của việc xem xét hợp đồng + Các qui định, mã hiệu, tiêu chuẩn và thông số kỹ thuật có liên quan (nếu cần thiết có thể nêu rõ năm, phiên bản áp dụng)
+ Kết quả từ các hoạt động nghiên cứu thị trường (vật liệu mới, công nghệ mới,…)
+ Khiếu nại hoặc yêu cầu của Khách hàng hoặc hệ quả tiềm ẩn của sai lỗi trước đó
+ Các thông tin liên quan đến dự án hoặc kết quả của việc nghiên cứu (báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng,…)
+ Các yêu cầu luật định và chế định liên quan đến chất lượng, an toàn và môi trường
+ Thông tin nhận được từ các thiết kế tương tự trước đó, khi thích hợp
- Đầu ra của thiết kế phải được cung cấp ở dạng thích hợp để kiểm tra xác nhận theo đầu vào của thiết kế và phải được phát triển trước khi ban hành, và phải thỏa mãn những yếu tố sau:
+ Đáp ứng các yêu cầu đầu vào của thiết kế
+ Cung cấp các thông tin thích hợp cho việc mua hàng, xây dựng và cung cấp dịch vụ
+ Bao gồm hoặc viện dẫn tới các chuẩn mực chấp nhận của sản phẩm
+ Tuân theo các yêu cầu luật định và chế định mặc dù không nhất thiết phải được nêu ra trong thông tin đầu vào
+ Xác định các đặc tính cốt yếu cho an toàn và sử dụng đúng của sản phẩm
- Kiểm tra xác nhận, thẩm định và phê duyệt thiết kế thi công để đảm bảo rằng đầu ra thiết kế đáp ứng yêu cầu của đầu vào thiết kế và tuân thủ các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam
- Việc xác nhận giá trị sử dụng của thiết kế phải được tiến hành theo các kế hoạch như kiểm tra bản vẽ, mẫu vật liệu đã được thí nghiệm đối chứng hay thực hiện các bước tính toán, chạy thử trên các mô hình thiết kế hoặc xem xét các tài liệu thiết kế liên quan, hoặc năng lực của người thiết kế để đảm bảo rằng thiết kế đáp ứng các yêu cầu thi công dự kiến Khi có thể, phải tiến hành xác nhận giá trị sử dụng thiết kế trước khi chuyển giao qua giai đoạn thi công (thẩm kế)
Hình 2 3: Quy trình thay đổi thiết kế
2.4.2 Khi có thay đổi trong thiết kế:
- Những thay đổi trong thiết kế được duyệt trước đây phải được xem xét, xác minh và thẩm định/phê duyệt
- Việc đánh giá tác động của những thay đổi trên những yếu tố cấu thành và sản phẩm đã được phân phối phải được xem xét trước khi thay đổi thiết kế (thông tin thể hiện trong biên bản họp, email,…)
- Thay đổi thiết kế (nếu có) phải được xác định và ghi nhận vào bảng so sánh thiết kế
- Những thay đổi trong thiết kế đã được phê duyệt phải được phân phối cho các tổ chức có liên quan dưới dạng tài liệu.
Tổng quan về chi phí
Chi phí là một trong ba yếu tố chính liên quan đến thực hiện dự án Đó là chi phí hoặc giá cả, thời gian hoặc lịch trình và chất lượng Chi phí của một công tác thường được xác định bởi chi phí tài nguyên được sử dụng để hoàn thành công tác đó Trong xây dựng, tài nguyên được sử dụng thường là vật liệu, nhân công và máy thi công và nhà thầu phụ Chi phí được chia ra thành hai loại chính, đó là chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
Chi phí trực tiếp là chi phí các nguồn lực chỉ được sử dụng để thực hiện công việc của một hoạt động trong một dự án Chi phí trực tiếp của dự án bao gồm chi phí vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công và chi phí nhà thầu phụ Chi phí trực tiếp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như địa điểm xây dựng, phương pháp xây dựng… Tùy vào đặc thù riêng của mỗi loại công trình mà tổng chi phí trực tiếp có thể chiếm từ 70% đến 90% tổng chi phí xây dựng
Chi phí gián tiếp là chi phí tài nguyên cần thiết để hỗ trợ thực hiện và quản lý dự án Tuy nhiên, chi phí gián tiếp không được tính cho một hoạt động Chi phí gián tiếp được chia thành hai loại là chi phí dự án và chi phí chung Chi phí gián tiếp dự án là chi phí có thể tính riêng cho một dự án Chi phí thí nghiệm vật liệu, chi phí an toàn lao động là những trường hợp chi phí gián tiếp dự án Mặt khác, chi phí gián tiếp chung là một phần chi phí phát sinh tại văn phòng nhưng không tính chung cho một dự án nào cụ thể Tiền thuê văn phòng, tiền lương nhân viên văn phòng là những trường hợp chi phí gián tiếp chung Ngoài ra, theo mối quan hệ về thời gian, chi phí gián tiếp có thể được chia thành hai loại là phụ thuộc vào thời gian và độc lập với thời gian Chi phí gián tiếp phụ thuộc vào thời gian tức thời gian dự án càng kéo dài thì chi phí gián tiếp càng cao Chi phí điện, chi phí nước và chi phí tiện ích khác là những trường hợp như vậy Chi phí gián tiếp độc lập với thời gian tức là không phụ thuộc và thời gian dự án Thuế và chi phi bảo hiểm là hai ví dụ điển hình cho trường hợp này
Chi phí trực tiếp Chi phí gián tiếp
Nhân công Vật liệu Máy thi công Thầu phụ Chi phí gián tiếp dự án
Chi phí gián tiếp chung
Hình 2 4: Thành phần chi phí trong dự án xây dựng Giá cả là chi phí mà tại đó một gói thầu được gởi hoặc một tài sản được mua Giả cả là tổng của tổng chi phí (chi phi trực tiếp và chi phí gián tiếp) và markup (lợi nhuận và chi phí đề phòng rủi ro) Chi phí đề phòng rủi ro là giá trị thêm vào để bù đắp cho các trường hợp bất lợi ảnh hưởng đến dự án như điều kiện về thời tiết, điều kiện về đất đai Lợi nhuận là chi phí thêm vào thông thường nằm trong khoảng 0% đến 20% tổng chi phí, giá trị này tùy thuộc và mức độ cạnh tranh và nhu cầu giành được gói thầu
Lợi nhuận Chi phí rủi ro Chi phí trực tiếp Chi phí gián tiếp
Hình 2 5: Thành phần giá trong dự án xây dựng
2.6 Tiến độ dự án xây dựng
Tiến độ dự án xây dựng bao gồm tất cả các công tác có mối quan hệ logic về mặt thời gian, tác động qua lại lẫn nhau Chẳng hạn công tác A sẽ không thể bắt đầu khi công tác B đứng trước chưa kết thúc Các công tác này đều có thời lượng làm việc cụ thể và có sử dụng tài nguyên (bao gồm chi phí, nhân lực …) và được thực hiện tại một thời điểm xác định trước
Tiến độ dự án xây dựng giúp nắm được thời gian để hoàn thành dự án có nằm trong thời hạn cho phép của hợp đồng hay không, cũng như kiểm soát số lượng công nhân, máy móc sử dụng tối đa trong quá trình thi công Từ đó quản lý số lượng công nhân lớn nhất trong thời gian nào của quá trình thi công, khả năng tối đa về số lượng công nhân phù hợp với năng lực quản lý và chi phí
Nắm rõ tiến độ dự án xây dựng cũng chính là nắm rõ thời điểm thi công công tác, thời gian dự trữ riêng phần và dự trự toàn phần của từng công tác trong suốt quá trình thi công, thiết kế Giúp nhà thầu cân đối chi phí sử dụng tại từng thời điểm, là cơ sở cho quá trình thanh quyết toán theo giai đoạn
2.7 Các yêu cầu đặt ra về tiến độ dự án xây dựng
- Tiến độ dự án phải bắt đầu lập ra trước khi bắy đầu công việc Thành viên tham gia dự án cũng nên cùng nhau lập kế hoạch và tiến độ để đạt được hiệu quả cao nhất
- Tiến độ phải có khả năng dự trù những thay đổi, xét duyệt và phê chuẩn
- Nhà quản lý phải hiểu rằng tiến độ là kế hoạch thực hiện công việc và tiến độ sẽ không bao giờ đúng một cách chính xác
- Kế hoạch, tiến độ càng đơn giản, loại bỏ những chi tiết không phù hợp, thì càng mang lại hiệu quả tối ưu nhất
- Kế hoạch cần được phổ biến tới các bên tham gia dự án, nếu không sẽ khiến tiến độ trở nên vô dụng
2.8 Các công trình nghiên cứu về chất lượng thiết kế cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thiết kế trong gói thầu Thiết Kế- Thi Công
- Theo nghiên cứu của Ling, Florence Yean Yng, Swee Lean Chan, Edwin Chong (2004) “Predicting Performance of Design-Build and Design-Bid-Build
Projects”[6], đối với dự án DB, tốc độ xây dựng được dự đoán bằng cách sử dụng tổng diện tích và phạm vi mà thời gian hợp đồng được phép thay đổi trong quá trình đánh giá thầu Doanh thu và chất lượng hệ thống của các dự án DB cũng có thể được dự đoán Nhiều thuộc tính khác thường được cho là có ý nghĩa nhưng thay vào đó không được chứng minh phù hợp trong việc dự đoán hiệu suất dự án Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các thuộc tính này không quan trọng, vì các phân tích tương quan cho thấy rằng các thuộc tính này có tương quan với hiệu suất dự án Tuy nhiên, điều hiển nhiên là chúng không cần được sử dụng để dự đoán hiệu suất dự án Khuyến nghị rằng những người cần quyết định sử dụng DB hay DBB dựa trên các mô hình được phát triển trong nghiên cứu này để dự đoán khả năng hoạt động của dự án Các nhà thầu muốn đảm bảo các dự án của họ có hiệu suất cao, họ nên tập trung vào các thuộc tính quan trọng có thể được sử dụng để dự đoán hiệu suất
- Chan Edwin H.W., Yu, Ann T.W (2005) “Contract strategy for design management in the design and build system“ [3], mặc dù ranh giới trách nhiệm thiết kế giữa chủ đầu tư và nhà thầu DB là rõ ràng, nhưng vấn đề quản lý thiết kế và trách nhiệm pháp lý phức tạp hơn luôn là vấn đề quan tâm của nhiều bên tham gia dự án Theo quan điểm của các khu vực liên quan đến bối cảnh pháp lý và bảo hiểm đối với trách nhiệm thiết kế, một tập hợp các thông số chính được khuyến nghị làm hướng dẫn để chuẩn bị một bộ hợp đồng xây dựng được phối hợp tốt và các thỏa thuận chỉ định tư vấn tương ứng để giải quyết vấn đề quản lý thiết kế trong hệ thống DB
- Liên quan đến năng lực của nhà thầu, theo F Ling (2004) “how project managers can better control the performance of design-build projects“ [9] để đảm bảo chất lượng thiết kế , nhà thầu phải thiết kế từ bước thiết kế cơ sở trực tiếp lựa chọn đội ngũ kiến trúc sư và kỹ sư, nhà thầu phải am hiểu văn hóa của địa phương nơi công trình được xây dựng Về phía chủ đầu tư, phải yêu cầu nhà thầu đệ trình kế hoạch quản lý chất lượng cả khâu thiết kế và thi công lắp dựng , phải thiết lập hệ thống quản lý chất lượng trước khi giao thầu , chuẩn bị danh sách các yêu cầu đối với dự in một cách rõ ràng và cẩn thận
- Theo Luận văn thạc sỹ Nguyễn Minh Tuấn (2010) “ Các nhân tố ảnh hưởng đến thành quả trong thiết kế xây dựng” [10], bàn về các nhân tố ảnh hưởng đến thành quả trong thiết kế xây dựng Tác giả đã lựa chọn và phân tích 28 nhân tố được chia thành 5 nhóm có ảnh hưởng lớn đến thành quả trong thiết kế, cụ thể là: (1) nhóm yếu tố về năng lực của chủ đầu tư: bao gồm khả năng về tài chính, điều hành, kinh nghiệm và hiểu biết của chủ đầu tư về hoạt động xây dựng, khả năng lựa chọn đơn vị tư vấn
(2) nhóm yếu tố về mối quan hệ giữa chủ đầu tư và đơn vị thiết kế: cách thức trao đổi thông tin, sự can thiệp và các yêu cầu của CĐT đối với hoạt động thiết kế; (3) nhóm yếu tố về năng lực của các thành viên tham gia thiết kế kiến thức chuyên môn, kỹ năng làm việc nhóm, khả năng giải quyết vấn đề liên quan; (4) nhóm yếu tố về năng lực chủ trì thiết kế: khả năng phối hợp với các thành viên tham gia thiết kế, sự kiểm soát thông tin đầu vào, hỗ trợ kỹ thuật và khả năng chịu áp lực trong công việc; (5) nhóm yếu tố liên quan đến sự hỗ trợ của tổ chức kinh nghiệm và uy tín của tổ chức, cơ cấu hoạt động, khả năng phối hợp giữa các phòng ban
- L Zhang, J Du, S Zhang (2014) “Solution to the time-cost-quality trade-off problem in construction projects based on immune genetic particle swarm optimization“ [11] đã phát triển và cải tiến các mô hình thỏa hiệp giữa chi phí – thời gian và chất lượng thời gian thành bài toán thỏa hiệp giữa thời gian chi phí và chất lượng Mô hình thỏa hiệp chi phí – thời gian truyền thống được cải tiến khi xem xét yếu tố thưởng phạt vào hàm mục tiêu chi phí Ngoài ra, mô hình đề xuất chỉ số hiệu suất chất lượng (QPI) để môt tả độ tin cậy của hệ thống các tiêu chí về thời gian, chi phí và chất lượng dựa vào hợp đồng làm điểm chuẩn để đánh giá các lời giải khả thi
Mô hình được áp dụng dựa trên sự kết hợp của thuật toán di truyền miễn dịch và tối ưu hóa bầy đàn (IGPSO) Kết quả lời giải từ mô hình là tập hợp Pareto các giải pháp để hỗ trợ người ra quyết định có lựa chọn phù hợp
Các công trình nghiên cứu về chất lượng thiết kế cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thiết kế trong gói thầu Thiết Kế- Thi Công
hưởng đến chất lượng thiết kế trong gói thầu Thiết Kế- Thi Công
- Theo nghiên cứu của Ling, Florence Yean Yng, Swee Lean Chan, Edwin Chong (2004) “Predicting Performance of Design-Build and Design-Bid-Build
Projects”[6], đối với dự án DB, tốc độ xây dựng được dự đoán bằng cách sử dụng tổng diện tích và phạm vi mà thời gian hợp đồng được phép thay đổi trong quá trình đánh giá thầu Doanh thu và chất lượng hệ thống của các dự án DB cũng có thể được dự đoán Nhiều thuộc tính khác thường được cho là có ý nghĩa nhưng thay vào đó không được chứng minh phù hợp trong việc dự đoán hiệu suất dự án Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các thuộc tính này không quan trọng, vì các phân tích tương quan cho thấy rằng các thuộc tính này có tương quan với hiệu suất dự án Tuy nhiên, điều hiển nhiên là chúng không cần được sử dụng để dự đoán hiệu suất dự án Khuyến nghị rằng những người cần quyết định sử dụng DB hay DBB dựa trên các mô hình được phát triển trong nghiên cứu này để dự đoán khả năng hoạt động của dự án Các nhà thầu muốn đảm bảo các dự án của họ có hiệu suất cao, họ nên tập trung vào các thuộc tính quan trọng có thể được sử dụng để dự đoán hiệu suất
- Chan Edwin H.W., Yu, Ann T.W (2005) “Contract strategy for design management in the design and build system“ [3], mặc dù ranh giới trách nhiệm thiết kế giữa chủ đầu tư và nhà thầu DB là rõ ràng, nhưng vấn đề quản lý thiết kế và trách nhiệm pháp lý phức tạp hơn luôn là vấn đề quan tâm của nhiều bên tham gia dự án Theo quan điểm của các khu vực liên quan đến bối cảnh pháp lý và bảo hiểm đối với trách nhiệm thiết kế, một tập hợp các thông số chính được khuyến nghị làm hướng dẫn để chuẩn bị một bộ hợp đồng xây dựng được phối hợp tốt và các thỏa thuận chỉ định tư vấn tương ứng để giải quyết vấn đề quản lý thiết kế trong hệ thống DB
- Liên quan đến năng lực của nhà thầu, theo F Ling (2004) “how project managers can better control the performance of design-build projects“ [9] để đảm bảo chất lượng thiết kế , nhà thầu phải thiết kế từ bước thiết kế cơ sở trực tiếp lựa chọn đội ngũ kiến trúc sư và kỹ sư, nhà thầu phải am hiểu văn hóa của địa phương nơi công trình được xây dựng Về phía chủ đầu tư, phải yêu cầu nhà thầu đệ trình kế hoạch quản lý chất lượng cả khâu thiết kế và thi công lắp dựng , phải thiết lập hệ thống quản lý chất lượng trước khi giao thầu , chuẩn bị danh sách các yêu cầu đối với dự in một cách rõ ràng và cẩn thận
- Theo Luận văn thạc sỹ Nguyễn Minh Tuấn (2010) “ Các nhân tố ảnh hưởng đến thành quả trong thiết kế xây dựng” [10], bàn về các nhân tố ảnh hưởng đến thành quả trong thiết kế xây dựng Tác giả đã lựa chọn và phân tích 28 nhân tố được chia thành 5 nhóm có ảnh hưởng lớn đến thành quả trong thiết kế, cụ thể là: (1) nhóm yếu tố về năng lực của chủ đầu tư: bao gồm khả năng về tài chính, điều hành, kinh nghiệm và hiểu biết của chủ đầu tư về hoạt động xây dựng, khả năng lựa chọn đơn vị tư vấn
(2) nhóm yếu tố về mối quan hệ giữa chủ đầu tư và đơn vị thiết kế: cách thức trao đổi thông tin, sự can thiệp và các yêu cầu của CĐT đối với hoạt động thiết kế; (3) nhóm yếu tố về năng lực của các thành viên tham gia thiết kế kiến thức chuyên môn, kỹ năng làm việc nhóm, khả năng giải quyết vấn đề liên quan; (4) nhóm yếu tố về năng lực chủ trì thiết kế: khả năng phối hợp với các thành viên tham gia thiết kế, sự kiểm soát thông tin đầu vào, hỗ trợ kỹ thuật và khả năng chịu áp lực trong công việc; (5) nhóm yếu tố liên quan đến sự hỗ trợ của tổ chức kinh nghiệm và uy tín của tổ chức, cơ cấu hoạt động, khả năng phối hợp giữa các phòng ban
- L Zhang, J Du, S Zhang (2014) “Solution to the time-cost-quality trade-off problem in construction projects based on immune genetic particle swarm optimization“ [11] đã phát triển và cải tiến các mô hình thỏa hiệp giữa chi phí – thời gian và chất lượng thời gian thành bài toán thỏa hiệp giữa thời gian chi phí và chất lượng Mô hình thỏa hiệp chi phí – thời gian truyền thống được cải tiến khi xem xét yếu tố thưởng phạt vào hàm mục tiêu chi phí Ngoài ra, mô hình đề xuất chỉ số hiệu suất chất lượng (QPI) để môt tả độ tin cậy của hệ thống các tiêu chí về thời gian, chi phí và chất lượng dựa vào hợp đồng làm điểm chuẩn để đánh giá các lời giải khả thi
Mô hình được áp dụng dựa trên sự kết hợp của thuật toán di truyền miễn dịch và tối ưu hóa bầy đàn (IGPSO) Kết quả lời giải từ mô hình là tập hợp Pareto các giải pháp để hỗ trợ người ra quyết định có lựa chọn phù hợp
- A Kazaz, S Ulubeyli (2016) “Construction materials-based methodology for time-cost-quality trade-off problems“ [12] đã phát họa một phương pháp hai bước mới vào bài toán thỏa hiệp thời gian – chi phí – chất lượng của dự án Trong bước đầu tiên, cần so sánh ảnh hưởng của vật liệu thay thế đến các tiêu chí về thời gian, chi phí và chất lượng trong cùng điều điện với mục đích xác định vật liệu được chọn trong các công tác Bước hai chỉ được bắt đầu nếu những người tham gia dự án cố gắng giảm thời gian hoặc giảm chi phí từ tiến độ xây dựng có ở bước đầu tiên
- E Lam, A Chan, D Chan (2008) “Journal of Construction Engineering and
Management“[13] cho rằng công việc quản lý dự án một cách hiệu quả là yếu tố thành công quan trọng khác đối với các dự án DB và nghiên cứu cho thấy rằng “Hành động quản lý dự án hiệu quả hơn sẽ làm tăng thành công chung của một Dự án DB”
Công việc quản lý dự án một cách hiệu quả có thể rút ngắn thời gian dự án vì việc lập kế hoạch phù hợp từ địa điểm đến thời gian có thể tạo ra sự tối ưu giữa các giai đoạn thiết kế và xây dựng Công việc quản lý dự án và tài liệu hợp đồng thích hợp có thể cải thiện hiệu suất chất lượng của một dự án DB Các phương tiện giao tiếp hiệu quả cũng có thể bảo vệ việc truyền tải thông điệp giữa những người tham gia dự án nhằm giảm thiểu việc bỏ dở công việc Các biện pháp kiểm soát cụ thể trong quá trình phát triển thiết kế và việc phê duyệt thiết kế áp dụng cho một dự án D&B, là cơ sở để đáp ứng các yêu cầu chức năng Do đó, các dự án D&B đòi hỏi phải có tài liệu hợp đồng phù hợp, các kiểm soát cụ thể trong quá trình phát triển thiết kế và việc phê duyệt các sổ tay hướng dẫn thủ tục thiết kế và dự án nhằm xác định vai trò và trách nhiệm của các bên tham gia chính.
Tổng hợp và phân nhóm lại các nhân tố
2.9.1 Giai đoạn thiết kế DB để đấu thầu
Bảng 2 2: Bảng tổng hợp nhân tố khảo sát từ các tài liệu tham khảo
Mã hiệu Nhân tố Nguồn
Nhóm nhân tố liên quan đến năng lực thiết kế DB
Khả năng tiếp nhận thông tin và lên phương án thiết kế theo yêu cầu Chủ Đầu
Tư của đội Thiết kế
Tính khả thi của phương án thiết kế (Kết cấu, Kiến trúc, MEP ) trong giai đoạn đấu thầu
Kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn của chủ trì thiết kế
(Design Manager) khi quyết định phương án thiết kế và quản lý các đầu mục công việc, phân bổ hạng mục cho kĩ sư phù hợp thực hiện
Kinh nghiệm và khả năng xử lý phương án kết cấu phù hợp với yều cầu kiến trúc (khi kiến trúc có các yêu cầu đặc biệt tạo điểm nhấn cho công trình thì kết cấu phải đủ khả năng đưa ra phương án phù hợp)
Phương án thiết kế phù hợp với các điều kiện của Chủ Đầu Tư (chi phí, giá thành, biện pháp thi công)
Mã hiệu Nhân tố Nguồn
Xác định được các rủi ro có thể ảnh hưởng và tối thiểu hóa việc điều chỉnh thiết kế trong các giai đoạn tiếp theo Giúp giảm ảnh hưởng đến tổng mức đầu tư
A.7 Khả năng dự toán chính xác của nhân viên khối lượng [5], [7]
Nhóm nhân tố liên quan đến nội dung công việc thiết kế
Xác định phương án thi công móng phù hợp với kết cấu khung và số liệu địa chất (do chủ đầu tư cung cấp hoặc từ dự án gần đó từng thi công) Đề xuất
B.2 Đưa ra nhiều phương án thiết kế đấu thầu làm mất rất nhiều thời gian và công sức thiết kế
B.3 Mức độ yêu cầu hoàn thiện chi tiết của phương án thiết kế [3], [9]
B.4 Phương án thiết kế khả thi với điều kiện và khả năng của đơn vị thi công [4], [5] B.5
Thiết kế kết cấu đưa ra hê số an toàn quá cao hoặc quá sát với yêu cầu chịu lực quyết định đến giá thành và chất lượng của công trình Đề xuất
B.6 Khả năng phối hợp kiến trúc, kết cấu và
MEP để đáp ứng yêu cầu của Chủ Đầu Tư [3]
Phương án kiến trúc phù hợp với khả năng cung cấp vật tư hoàn thiện, thiết bị trang trí, đảm bảo tiêu chí chất lượng và giá thành Đề xuất
Có kế hoạch chi tiết các phương án xử lý vướng mắt giữa các bộ phận kết cấu, kiến trúc, MEP
(C)Nhóm nhân tố liên quan đến phối hợp các bên (Chủ đầu tư,
Sự hợp tác hỗ trợ của Chủ đầu tư về thông tin để làm rõ yêu cầu thiết kế (Tốc độ phản hồi câu hỏi từ đội thiết kế, sự lường trước các khuất mắt để chuẩn bị từ những bước đầu tiên …)
Mức độ phức tạp của dự án cũng như số lượng phương án thiết kế cần thiết theo yêu cầu từ Chủ đầu tư
Mã hiệu Nhân tố Nguồn thầu phụ )
Yêu cầu về giới hạn tổng chi phí của Chủ đầu tư (Làm rõ hạn mức đầu tư để thiết kế đưa ra phương án thiết kế phù hợp; Khả năng thực hiện dự án ngay khi có được phương án thiết kế phù hợp…)
Sự nhiệt tình và cam kết của Thầu phụ trong quá trình hỗ trợ nhà thầu DB thực hiện đấu thầu dù chưa có hợp đồng chính thức (Thực hiện bản vẽ và thuyết minh thiết kế, sẵn sàng thay đổi theo yêu cầu của chủ đầu tư để tiếp tục đấu thầu cùng nhà thầu DB , thường xuyên liên lạc hoặc hội họp cùng nhà thầu DB đưa ra phương án thiết kế )
Sự tin tưởng và hợp tác lâu dài giữa nhà thầu DB với các nhà thầu phụ ( Dù chưa có hợp đồng chính thức nhưng vì là đối tác lâu dài, nhà thầu phụ sẵn sàng hỗ trợ nhiệt tình trong giai đoạn đấu thầu , ở phía ngược lại thì nhà thầu DB cũng cân nhắc nên kí kết với những thầu phụ đã hộ trợ tận tình trong giai đoạn đấu thầu thay vì kí kết với một thầu phụ thiếu nhiệt tình nhưng giá rẻ hơn )
Khả năng liên kết hoặc gặp gỡ thường xuyên để đội thiết kế DB nắm được các công nghệ thi công mới, vật liệu xây dựng mới… của các thầu phụ để sẵn sàng cho các dự án sắp đấu thầu, sẵn sàng cho các yêu cầu mới lạ nếu có từ chủ đầu tư
C.7 Đội thiết kế DB có khả năng tổng hợp thông tin và yêu cầu một cách nhanh gọn, hiệu quả để gửi đến các thầu phụ liên quan thực hiện bản vẽ và báo giá
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Quy trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí, tiến độ liên quan đến thiết kế trong dự án DB công nghiệp
Nghiên cứu với mục đích tìm ra biện pháp cải tiến được quá trình thiết kế bằng cách giảm thiểu các sai sót cũng như vấn đề tồn đọng, luận văn sẽ áp dụng cách thức khảo sát bằng bảng câu hỏi để xác định các nhân tố quan trọng liên quan quá trình thiết kế ảnh hưởng đến tiến độ, chi phí trong dự án DB công nghiệp Việc nghiên cứu dựa trên phương diện đánh giá của người quản lý và những người trực tiếp tham gia quá trình thiết kế trong dự án DB công nghiệp đã có nhiều năm kinh nghiệm Xem xét từng giai đoạn thiết kế trong một dự án với các nhân tố riêng biệt ảnh hưởng thế nào đến tiến độ và chi phí cho toàn bộ quá trình thực hiện dự án Bảng câu hỏi khảo sát được đưa ra thông qua tham khảo ý kiến chuyên gia và các nghiên cứu trước đây có liên quan, tiến hành phỏng vấn và trao đổi cũng như tiếp thu ý kiến với những người quản lý hoặc chuyên gia lâu năm đã trãi qua nhiều khó khăn trong công đoạn thiết kế dự án DB công nghiệp Để từ đó tiến hành khảo sát và thu thập dữ liệu, tổng hợp một bản khảo sát hoàn chỉnh sẽ tiến hành gửi các bảng câu hỏi các nhân tố khảo sát để lấy ý kiến của các nhân sự hoạt động trong công tác thiết kế trong dự án DB công nghiệp Tiến hành phân tích dữ liệu thu thập được bằng các kiểm định thống kê, sử dụng trị trung bình cũng như phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) Sau khi tiến hành phân tích để cho ra kết quả thì so sánh và kết luận phương pháp Từ kết quả có được, sử dụng các nhân tố quan trọng để đề xuất các giải pháp cũng như đưa ra mô hình cho một dự án để cải thiện hiêụ quả trong quá trình thiết kế của dự án DB công nghiệp.
Thu thập dữ liệu bằng bảng câu hỏi
Nhân tố quan trọng ảnh hưởng thiết kế
Bảng câu hỏi chính thức và tiến hành khảo sát
+ Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước.
+ Ý kiến của các chuyên gia.
+ Tổng hợp và xác định yếu tố khảo sát.
Xây dựng mô hình Ezstrobe mô phỏng tác động của nhân tố quan trọng trong quá trình thiết kế đến chi phí, tiến độ của dự án
Kết luận và kiến nghị
Hình 3 1: Phương pháp nghiên cứu của luận văn
3.2 Thu thập dữ liệu bằng bảng câu hỏi
3.2.1 Giới thiệu bảng câu hỏi
Bảng câu hỏi nhân tố khảo sát là phương pháp giúp thu thập các số liệu đánh giá phục vụ cho công tác nghiên cứu Hầu hết trong các lý thuyết thống kê, mô hình đánh giá đều dựa trên các dữ liệu, số liệu thu thập từ bảng câu hỏi để làm việc Việc thiết kế một bảng câu hỏi cần phải đạt được một số yêu cầu như: câu hỏi phải phù hợp vấn đề, câu chữ rõ ràng, tránh tình trạng người trả lời trả lời sai do hiểu sai ý nghĩa của câu hỏi, kết quả phản hồi phải phù hợp với mục tiêu nghiên cứ, đạt tỷ lệ phản hồi thông tin
Bố cục bảng câu hỏi phải được trình bày theo thứ tự rõ ràng, nêu ra những khả năng, những thông tin có thể xảy ra của câu trả lời để người được phỏng vấn dễ dàng hình dung Bảng câu hỏi cần được xây dựng để người trả lời chỉ cần đánh dấu, khoanh tròn xác định đáp án bằng một cách nào đó Do đó, việc xác định những thông tin ban đầu, hay giai đoạn lấy ý kiến, phản hồi góp ý của những người có kinh nghiệm rất quan trọng để tạo ra một bảng câu hỏi chính xác về mặt câu chữ và đầy đủ dữ liệu cần khảo sát
Khi thực hiện lập một bảng câu hỏi khảo sát cần lưu ý các vấn đề:
+ Cách sắp xếp các thành phần: bảng câu hỏi phải được tổ chức logic và phù hợp với đối tượng, cá nhân cần tiến hành khảo sát Tránh tình trạng khảo sát sai lệch đối tượng
+ Cách đặt câu hỏi: câu hỏi được nêu ra phải dễ hiểu, cụ thể mới cho ra giá trị thông tin thu thập tốt nhất
+ Mức độ ước lượng của đáp án: định hình tỷ lệ tác động của nhân tố cần khảo sát
3.2.2 Xây dựng bảng câu hỏi
Công tác nghiên cứu, tìm hiểu thông tin đầy đủ rất cần thiết khi phải xây dựng một bảng câu hỏi để làm rõ mục tiêu cần nghiên cứu, của vấn đề nghiên cứu để có được bảng câu hỏi chính xác nhất quá trình phát triển môt bảng khảo sát cần phải tuân thủ các điều kiện sau:
- Xem xét các nguồn thông tin: ý kiến chuyên gia trong ngành phù hợp với vấn đề khảo sát, kết quả và đề xuất của nghiên cứu trước, sử dụng Internet để hộ trợ tìm kiếm thông tin và các tài liệu thao khảo có liên quan
- Loại thang đo: một trong những hình thức đo lường các lý thuyết thống kê được sử dụng phổ biến nhất trong nghiên cứu là dạng thang đo Likert Mô hình thang do Likert khác nhau cơ bản nằm ở các mức độ phân cấp tính chất cao thấp, mạnh yếu, thường được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây là thang 5 cấp độ Việc điều chỉnh mức độ của thang đo từ 5 mức về thành 3 hay 7 mức độ tùy theo yêu cầu của vấn đề nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu luận văn này xây dựng một bảng câu hỏi dựa trên mức 5 cấp độ để lấy ý kiến của người tham gia khảo sát như sau:
Các vấn đề được nêu ra trong phần nghiên cứu ban đầu được xây dựng và phân chia để phù hợp với từng nhóm vấn đề phù hợp cho bố cục bảng câu hỏi
Tiến hành gửi thông tin khảo sát thử nghiệm: thông tin được thể hiện ở bước này đa phần là những thông tin có tính thô sơ, thông qua các câu trả lời và ý kiến góp ý của các chuyên gia mà có sự bổ sung hay lượt bỏ cho thích hợp
Thu thập thông tin dữ liệu, điều chỉnh câu hỏi, gửi bảng câu hỏi để thu thập số liệu nghiên cứu
3.2.3 Kiểm định thang đo, xác định kích thước mẫu
Kích thước mẫu là giá trị cần phải thực hiện số lần khảo sát để cho ra số lượng dữ liệu cần thiết cho nghiên cứu Muốn độ chính xác của mẫu khảo sát được chính xác thì cách đơn giản nhất là tăng số lượng mẫu khảo sát Tuy nhiên việc điều chỉnh này cần phải cân nhắc kỹ lưỡng do sẽ bị ảnh hưởng bởi các vấn đề chi phí, thời gian và số lượng đối tượng Ngoài ra các điều chỉnh này cũng cần phải lưu ý do tỷ lệ chỉ thay đổi không tăng đều Nói đơn giản là phải khảo sát rất nhiều lần mới tăng được một đơn vị của độ chính xác
+ N: số lượng mẫu cần khảo sát
+S X : độ lệch chuẩn của trị trung bình của mẫu
+ SX: độ lệch chuẩn của mẫu
+ E: giá trị sai số cho phép, khoảng tin cậy
+ Z: giá trị độ lớn phân phối chuẩn được xác định theo hệ số độ tin cậy Độ lớn của mẫu là giá trị được tính toán dựa theo hệ số độ tin cậy Z, độ lệch chuẩn và khoảng sai số cho phép Tuy nhiên công thức được nêu ở trên chỉ là ước lượng về số lượng mẫu cần thiết, giá trị này còn phụ thuộc vào việc xác định độ lệch chuẩn và già trị độ lệch chuẩn này thường không biết trước khi tiến hành khảo sát
Do đó để cho ra số lượng mẫu phù hợp cần có các nghiên cứu thử nghiệm để ước lượng giá trị độ lệch chuẩn, từ đó đưa ra kích thước mẫu phù hợp nhất
Trong quá trình nghiên cứ định lượng thường xuyên phải thay đổi các bảng thang đo lường khác nhau Các vấn đề cần khảo sát thường rất khó khăn trong việc xác định mục tiêu đạt được là gì nên việc ước lượng các khái niệm nghiên cứu cần được phải xây dựng và kiểm tra sao cho phù hợp Xây dựng và kiểm định thang đo là một bước thực hiện có ý nghĩa quan trọng đến độ tin cậy của nghiên cứu
Cronbach's alpha là thước đo tính nhất quán nội bộ, nghĩa là, một tập hợp các mục có liên quan chặt chẽ như thế nào với một nhóm Nó được coi là một thước đo độ tin cậy của quy mô Ngoài việc đo lường tính nhất quán nội bộ, khi muốn xác định rằng thang đo được đề cập không phải là giá trị một chiều thì các phân tích bổ sung có thể được thực hiện Phân tích nhân tố khám phá là một phương pháp kiểm tra kích thước Về mặt kỹ thuật, Cronbach's alpha không phải là một bài kiểm tra thống kê – đó là một hệ số độ tin cậy (hoặc tính nhất quán)
Giá trị tính toán của hệ số này giúp cân nhắc những biến quan sát nào không đạt theo yêu cầu hoặc không phù hợp về giá trị khảo sát Giá trị của hệ số này phải từ 0,6 trở lên mới có thể chấp nhận được với điều kiện hệ số tương quan biến tổng phải lớn hơn 0.4 Hệ số α của Cronbach được qui định như sau:
- Công thức của hệ số Cronbach α là:
+ ρ là hệ số tương quan (hiệp phương sai) trung bình giữa các câu hỏi
+ N là số mục hỏi, yếu tố trong nghiên cứu
- Các mức của hệ số Cronbach’s Alpha thể hiện:
+ α