1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đo lường, dự báo chi phí và tiến độ hoàn thành dự án xây dựng có xét đến rủi ro trong quá trình thi công sử dụng phương pháp evm và fahp

156 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 3,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRẦN HOÀI ANH ĐO LƯỜNG, DỰ BÁO CHI PHÍ VÀ TIẾN ĐỘ HOÀN THÀNH DỰ ÁN XÂY DỰNG CÓ XÉT ĐẾN RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH THI CÔNG SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN HOÀI ANH

ĐO LƯỜNG, DỰ BÁO CHI PHÍ VÀ TIẾN ĐỘ HOÀN THÀNH DỰ ÁN XÂY DỰNG CÓ XÉT ĐẾN RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH THI CÔNG SỬ DỤNG

PHƯƠNG PHÁP EVM VÀ FAHP

Chuyên ngành: Quản lý Xây dựng

Mã số: 8580302

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TP HỒ CHÍ MINH, tháng 01 năm 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐHQG TP HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:

(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ)

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận văn và Trưởng Khoa quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa

PGS.TS Lương Đức Long PGS.TS Lê Anh Tuấn

Trang 3

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên : TRẦN HOÀI ANH MSHV : 1870461

Ngày, tháng, năm sinh : 12/02/1996 Nơi sinh : Bình Dương

I TÊN ĐỀ TÀI:

ĐO LƯỜNG, DỰ BÁO CHI PHÍ VÀ TIẾN ĐỘ HOÀN THÀNH DỰ ÁN XÂY DỰNG

CÓ XÉT ĐẾN RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH THI CÔNG SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP EVM VÀ FAHP

II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

- Nhận dạng, xác định được các yếu tố rủi ro chính trong quá trình thi công các dự án nhà cao tầng ở Việt Nam

- Xác định chỉ số đánh giá quản lý rủi ro Risk Performance Index – RPI trong quá trình thi công các dự án nhà cao tầng ở Việt Nam bằng phương pháp Fuzzy AHP

- Kết hợp phương pháp EVM và Fuzzy AHP thông qua việc tích hợp RPI, CPI, và SPI

để đo lường chi phí và tiến độ thực hiện dự án; đồng thời dự báo chi phí và thời gian hoàn thành của dự án

- Áp dụng phương pháp tích hợp để tính toán và so sánh kết quả của phương pháp này với phương pháp EVM truyền thống vào một dự án cụ thể ở Việt Nam

III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : 21/09/2020

IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 03/01/2021

V CÁN BỘ HƯỚNG DẪN : GVHD 1 : TS Nguyễn Hoài Nghĩa

GVHD 2 : TS Đỗ Tiến Sỹ

TRƯỞNG KHOA

PGS.TS Lê Anh Tuấn

Trang 4

hệ thống lại toàn bộ những kiến thức, kết quả và nổ lực của bản thân trong 4 năm học tập đại học và 2 năm học tập thạc sĩ tại trường

Trước tiên em xin được gửi những lời cảm ơn đến toàn thể quý Thầy Cô khoa Kỹ thuật Xây dựng nói riêng và quý Thầy Cô của trường Đại học Bách khoa nói chung, những người đã trực tiếp dạy dỗ em từ những ngày đầu vào trường cho đến hôm nay

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy TS Nguyễn Hoài Nghĩa và thầy TS Đỗ Tiến Sỹ, xin gửi đến hai thầy với tất cả sự biết ơn sâu sắc của em Hai thầy đã tận tình hướng dẫn em qua các buổi duyệt bài, không ngại khó khăn để hết lòng giúp đỡ chỉ bảo

em hoàn thành luận văn này

Con cũng xin gửi lời cảm ơn cùng lòng biết ơn sâu sắc đến ba mẹ, người đã nuôi dưỡng dạy bảo con nên người, giúp con có thể đi đến được như ngày hôm nay

Luận văn này chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong nhận được sự chỉ dạy, góp ý của các Thầy cô để em có thể hoàn chỉnh hơn

Lời cuối cùng, em kính chúc Ban lãnh đạo Khoa, quý Thầy cô lời chúc sức khỏe, thành công trong công tác cũng như trong cuộc sống

TP Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 01 năm 2020

TRẦN HOÀI ANH

Trang 5

chi phí kế hoạch được lập ra để nhà thầu và chủ đầu tư làm căn cứ để theo dõi và kiểm soát tiến độ cũng như chi phí thực hiện dự án Tuy nhiên, vì tính chất phức tạp và những rủi ro có thể xảy ra mà không thể đo lường, dự báo đầy đủ và chính xác trong quá trình thi công nên tiến độ và chi phí thực tế thường không như kế hoạch ban đầu Chính vì vậy, việc đo lường, dự báo chi phí và tiến độ có xét đến rủi ro trong quá trình thi công là việc rất cần thiết và quan trọng

Luận văn này nhận dạng, xác định các yếu tố rủi ro chính trong quá trình thi công các dự án nhà ở cao tầng tại Việt Nam, từ đó ứng dụng phương pháp Fuzzy AHP để xác định được trọng số nhóm yếu tố và trọng số các yếu tố rủi ro trong thang đo đánh giá mức độ rủi ro, xác định chỉ số đánh giá quản lý rủi ro Risk Performance Index – RPI trong quá trình thi công các dự án nhà cao tầng ở Việt Nam Sau cùng, kết hợp giữa các nguyên tắc cơ bản của phương pháp EVM trong việc xác định chỉ số quản lý Chi phí CPI, quản lý Tiến độ SPI và Fuzzy AHP trong việc xác định chỉ số đánh giá quản lý Rủi ro RPI ứng dụng để đo lường chi phí và tiến độ; dự báo chi phí và thời gian hoàn thành dự kiến của dự án

Từ nghiên cứu này, các nhà thầu có thể có thêm một phương án đo lường, dự báo chi phí và tiến độ hoàn thành dự án trong quá trình thi công để có thể dự báo sớm được chi phí vượt, thời gian hoàn thành để từ đó đưa ra phương án ứng phó và xử lý kịp thời khắc phục

Từ khóa: Phương pháp Giá trị đạt được EVM; Phương pháp Fuzzy AHP; Chỉ số đánh

giá quản lý rủi ro RPI; Đo lường, Đự báo chi phí và tiến độ…

Trang 6

schedule and cost are made for the contractor and the client as a basis to monitor and control the schedule as well as the cost of implementing the project However, due to the complexity and the possible risks that cannot be fully and accurately measured and forecasted during the construction process, the actual schedule and costs are often not as originally planned Therefore, measuring, predicting costs and schedule, with risk perspectives during construction is very necessary and important

This thesis identifies the main risk factors during the construction of high-rise buildings in Vietnam, then applies the Fuzzy AHP method to determine the weight of factor and group factors in the scale of risk assessment, determining the Risk Performance Index - RPI in the construction process of high-rise buildings in Vietnam Finally, apply the model combining the fundamentals of the EVM method in determining the Cost Performance index CPI, Schedule Performance index SPI and Fuzzy AHP in determining the Risk Performance index RPI, use to measure costs and schedule; predicting project cost and completion time

From this study, the contractor may have an additional method to measure, forecasting the cost and schedule of completing project during the construction process

so that the contractor can early forecast the excess cost, time at completion from which to propose preventive action plan and timely remediation

Keywords: The Earned Value Management method (EVM); The Fuzzy AHP method;

Risk Performance Index RPI; Measuring, Predicting Cost And Schedule

Trang 7

sự hướng dẫn của TS Nguyễn Hoài Nghĩa và TS Đỗ Tiến Sỹ, các thông tin dẫn chứng trong luận văn được trích dẫn từ nguồn gốc khoa học rõ ràng; các số liệu và kết quả nghiên cứu là hoàn toàn trung thực không sao chép với bất kỳ nghiên cứu nào trước đó

TP.Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 01 năm 2021

Trần Hoài Anh

Khóa 2018 Chuyên ngành: Quản lý xây dựng

Trang 8

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Giới thiệu chung 1

1.2 Lựa chọn đề tài 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.4 Mục tiêu nghiên cứu 4

1.5 Phạm vi nghiên cứu 5

1.6 Đóng góp của đề tài 5

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 6

2.1 Giới thiệu chung 6

2.2 Các nghiên cứu trước đó 6

2.2.1 Về rủi ro trong thi công các dự án nhà cao tầng 6

2.2.2 Về đo lường, dự báo chi phí và tiến độ bằng phương pháp Earned Value Management – EVM 7

2.2.3 Về đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro bằng phương pháp FAHP 8

2.2.4 Về xét ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đến đo lường và dự báo chi phí, tiến độ hoàn thành dự án 8

2.3 Các khái niệm liên quan đến nghiên cứu 9

2.3.1 Các khái niệm liên quan đến Tiến độ, chi phí xây dựng 9

2.3.2 Các khái niệm liên quan đến Rủi ro trong xây dựng 10

2.4 Các cơ sở lý thuyết liên quan đến nghiên cứu 12

2.4.1 Phương pháp giá trị đạt được Earned Value Management – EVM 12

2.4.2 Lý thuyết tập mờ (Fuzzy Set Theory) 12

2.4.3 Phương pháp Analytical Hierarchy Process – AHP 14

2.4.4 Phương pháp Fuzzy Analytical Hierarchy Process – FAHP 15

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

3.1 Giới thiệu chung 18

Trang 9

3.2.2 Phương pháp Fuzzy Analytical Hierarchy Process – FAHP 23

3.3 Thu thập dữ liệu giai đoạn 1: Xác định các yếu tố rủi ro chính trong quá trình thi công xây dựng nhà ở cao tầng tại Việt Nam 30

3.3.1 Quy trình thu thập dữ liệu giai đoạn 1 30

3.3.2 Xác định các yếu tố rủi ro 30

3.3.3 Xây dựng bảng câu hỏi chính thức 34

3.3.4 Thu thập dữ liệu 34

3.4 Thu thập dữ liệu giai đoạn 2: Thực hiện quá trình so sánh cặp, xác định trọng số yếu tố và trọng số nhóm yếu tố 42

3.4.1 Quy trình thu thập dữ liệu giai đoạn 2 42

3.4.2 Thiết kế bảng câu hỏi so sánh cặp 42

3.4.3 Lựa chọn chuyên gia 43

3.4.4 Cách thức thu thập dữ liệu 45

3.4.5 Xác định chỉ số đánh giá quản lý rủi ro RPI 45

CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH THI CÔNG XÂY DỰNG DỰ ÁN NHÀ CAO TẦNG Ở VIỆT NAM 47

4.1 Giới thiệu chung 47

4.2 Phân tích đặc điểm của mẫu nghiên cứu 48

4.2.1 Số năm kinh nghiệm công tác trong ngành xây dựng 48

4.2.2 Chuyên môn 49

4.2.3 Trình độ học vấn 50

4.2.4 Cơ quan/ đơn vị đang công tác 51

4.2.5 Vai trò/ vị trí đang công tác 52

4.2.6 Chức vụ hiện tại đang công tác trong đơn vị 53

4.2.7 Quy mô dự án lớn nhất đã tham gia 54

4.3 Kiểm định độ tin cậy thang đo 55

Trang 10

4.4 Xếp hạng các yếu tố rủi ro 61

4.4.1 Xếp hạng các rủi ro theo khả năng xảy ra P 61

4.4.1 Xếp hạng các rủi ro theo mức độ tác động I 64

4.4.2 Xếp hạng các rủi ro theo mức độ rủi ro IMP=PxI 67

4.5 Xây dựng cấu trúc thứ bậc 73

CHƯƠNG 5 XÁC ĐỊNH CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ RỦI RO RPI CHO CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG NHÀ CAO TẦNG Ở VIỆT NAM 74

5.1 Giới thiệu chung 74

5.2 Áp dụng phương pháp FAHP 74

5.2.1 Thiết lập ma trận đánh giá mờ 74

5.2.1 Kiểm tra chỉ số nhất quán 78

5.2.2 Tổng hợp ý kiến các chuyên gia 80

5.2.3 Phá mờ 80

5.2.4 Kiểm tra chỉ số nhất quán tổng hợp và tính toán trọng số 81

5.2.5 Phân tích độ nhạy 85

5.3 Đề xuất thang đo mức độ quản lý rủi ro 89

5.4 Đề xuất chỉ số đánh giá quản lý rủi ro RPI 89

CHƯƠNG 6 ĐO LƯỜNG, DỰ BÁO CHI PHÍ VÀ TIẾN ĐỘ HOÀN THÀNH DỰ ÁN BẰNG MÔ HÌNH KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP EVM VÀ FAHP 90

6.1 Giới thiệu chung 90

6.2 Cơ sở lý thuyết của mô hình EVM kết hợp FAHP 90

CHƯƠNG 7 ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP ĐỀ XUẤT VÀO DỰ ÁN THỰC TẾ CỤ THỂ Ở VIỆT NAM 95

7.1 Giới thiệu dự án 95

7.2 Chỉ số đánh giá quản lý rủi ro RPI 96

Trang 11

8.1 Kết luận 106

8.2 Thảo luận 107

8.3 Hạn chế của đề tài 108

8.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN 110

PHỤ LỤC 113

Trang 12

Hình 1.2 Tốc độ tăng trưởng thị trường xây dựng trong 10 năm 2

Hình 2.1 Tập mờ và tập rõ 13

Hình 2.2 Số fuzzy tam giác 14

Hình 2.3 Số fuzzy hình thang 14

Hình 3.1 Tổng quan phương pháp nghiên cứu 18

Hình 3.2 Xu hướng CEAC (TEAC) theo thời gian Anbari (2003) 22

Hình 3.3 Sơ đồ phương pháp Fuzzy AHP dựa theo Tesfamariam và Sadiq (2006) 23

Hình 3.4 Cấu trúc thứ bậc minh họa 24

Hình 3.5 Quy trình thực hiện khảo sát đợt 1 30

Hình 3.6 Quy trình thực hiện khảo sát đợt 2 42

Hình 4.1 Quy trình thực hiện nhận dạng các rủi ro chính 47

Hình 4.2 Ma trận mức độ rủi ro 70

Hình 4.3 Bảng xếp hạng các yếu tố rủi ro 72

Hình 4.4 Bảng cấu trúc thứ bậc 73

Hình 5.1 Biểu đồ thể hiện trọng số của nhóm yếu tố rủi ro 83

Hình 5.2 Biểu đồ thể hiện trọng số của các yếu tố rủi ro 84

Hình 5.3 Biểu đồ thể hiện trọng số của nhóm yếu tố rủi ro ứng với thái độ của người ra quyết định λ=0 86

Hình 5.4 Biểu đồ thể hiện trọng số của nhóm yếu tố rủi ro ứng với thái độ của người ra quyết định λ=0.5 87

Hình 5.5 Biểu đồ thể hiện trọng số của nhóm yếu tố rủi ro ứng với thái độ của người ra quyết định λ=1 88

Hình 5.6 Thang đo mức độ quản lý rủi ro đề xuất 89

Hình 6.1 Quy trình thực hiện mô hình EVM kết hợp FAHP 90

Hình 7.1 Biểu đồ dòng tiền của dự án A ở tháng 14 100

Hình 7.2 Biểu đồ dòng tiền của dự án A ở tháng 17 104

Trang 13

Bảng 2.2 Các thang đo so sánh cặp theo Wind và Saaty (1980) 15

Bảng 2.3 Các phương pháp Fuzzy AHP 16

Bảng 3.1 Thang đo fuzzy sử dụng so sánh cặp 25

Bảng 3.2 Bảng xác định giá trị của hệ số ngẫu nhiên RI 27

Bảng 3.3 Bảng các yếu tố rủi ro trong quá trình thi công các dự án nhà cao tầng ở Việt Nam 31

Bảng 3.4 Thang đo so sánh cặp giữa 2 yếu tố Ri và Rj 43

Bảng 3.5 Bảng câu hỏi so sánh cặp giữa 2 yếu tố Ri và Rj 43

Bảng 3.6 Bảng thông tin chuyên gia khảo sát đợt 2 44

Bảng 4.1 Số năm kinh nghiệm công tác trong ngành xây dựng 48

Bảng 4.2 Chuyên môn 49

Bảng 4.3 Trình độ học vấn 50

Bảng 4.4 Cơ quan/ đơn vị đang công tác 51

Bảng 4.5 Vai trò/ vị trí đang công tác 52

Bảng 4.6 Chức vụ hiện tại đang công tác trong đơn vị 53

Bảng 4.7 Quy mô dự án lớn nhất đã tham gia 54

Bảng 4.8 Hệ số Cronbach’s Alpha khả năng xảy ra của tổng thể thang đo 55

Bảng 4.9 Hệ số Cronbach’s Alpha khả năng xảy ra của từng yếu tố 55

Bảng 4.10 Hệ số Cronbach’s Alpha mức độ tác động của tổng thể thang đo 58

Bảng 4.11 Hệ số Cronbach’s Alpha mức độ tác động của từng yếu tố 58

Bảng 4.12 Xếp hạng các yếu tố rủi ro theo Khả năng xảy ra P 61

Bảng 4.13 Xếp hạng các yếu tố rủi ro theo Mức độ tác động I 64

Bảng 4.14 Xếp hạng các yếu tố rủi ro theo Mức độ rủi ro IMP=P I 67

Bảng 5.1 Ma trận đánh giá mờ R1 Kỹ thuật – Thi công 74

Bảng 5.2 Ma trận đánh giá mờ R2 Tiến độ 75

Bảng 5.3 Ma trận đánh giá mờ R3 Kinh tế - Tài chính 75

Bảng 5.4 Ma trận đánh giá mờ R4 Pháp lý – Hợp đồng 76

Bảng 5.5 Ma trận đánh giá mờ R5 Thiết kế 76

Bảng 5.6 Ma trận đánh giá mờ R6 Môi trường – An toàn – Xã hội 76

Trang 14

Bảng 5.9 Kết quả tính toán chỉ số nhất quán tổng hợp 81

Bảng 5.10 Kết quả tính toán trọng số của các nhóm yếu tố và các yếu tố con 82

Bảng 6.1 Bảng trọng số của các chỉ số trong từng giai đoạn thực hiện dự án 93

Bảng 7.1 Bảng đánh giá chỉ số quản lý rủi ro của dự án A 96

Bảng 7.2 Bảng tổng hợp tính toán các tiêu chí điển hình của dự án A thời điểm cập nhật tháng 14 98

Bảng 7.3 Bảng tổng hợp dòng tiền của dự án A theo tiến độ thi công 99

Bảng 7.4 Bảng so sánh đánh giá giữa các phương pháp với thực tế 101

Bảng 7.5 Bảng tổng hợp tính toán các tiêu chí điển hình của dự án A thời điểm cập nhật tháng 17 102

Bảng 7.6 Bảng tổng hợp dòng tiền của dự án A theo tiến độ thi công 103

Bảng 7.7 Bảng so sánh đánh giá giữa các phương pháp với thực tế 105

Trang 15

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 1

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Giới thiệu chung

Ngành xây dựng Việt Nam đã và đang có những bước tiến vượt bậc, trong tất cả các lĩnh vực từ thi công xây dựng công trình, vật liệu xây dựng đến quy hoạch kiến trúc, phát triển đô thị… Gần 60 năm đổi mới phát triển, ngành xây dựng đã góp phần to lớn trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để từng bước đổi mới, phát triển, hội nhập khu vực và quốc tế Năng lực xây dựng của các nhà thầu ngày càng được nâng cao và đã có nhiều tiến bộ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu về xây dựng trong nước, kể cả những công trình hiện đại có quy mô lớn, yêu cầu kỹ thuật chất lượng cao, công nghệ hiện đại

Theo Tổng Hội Xây dựng cho biết cả nước có gần 78.000 doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây dựng, thu hút khoảng 4 triệu lao động Tính đến 2018, dân số Việt Nam đạt khoảng 95,5 triệu người, đứng thứ ba trong Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines) Dân số Việt Nam trẻ (độ tuổi trung bình là 31) và đang trong thời kỳ dân số vàng với khoảng 66,4 triệu dân đang trong độ tuổi lao động Theo Ngân hàng Thế giới (WB), thời kỳ dân số vàng tại Việt Nam bắt đầu từ năm 2006 và được dự kiến sẽ kéo dài tới 2033 Tại cuối thời kỳ dân số vàng, nhu cầu xây dựng sẽ chuyển dịch từ trường học, nhà máy, văn phòng… sang các công trình y tế để phục vụ dân số đang già hóa Dân số trẻ vừa là nguồn nhân lực dồi dào, vừa là động lực thúc đẩy xu hướng của nhu cầu xây dựng trong dài hạn

Thị trường xây dựng Việt Nam phát triển nhất từ năm 2016 đến năm 2018, theo Tổng cục Thống kê, giá trị sản xuất ngành xây dựng năm 2016 đạt gần 1100 nghìn tỷ đồng Hai năm sau đó, năm 2018 giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng đạt 1356 nghìn tỷ VND, tương đương 24,5% giá trị GDP cùng kỳ Ngành xây dựng Việt Nam là một trong những ngành kinh tế có cơ hội phát triển thuận lợi nhất khi mức độ đầu tư (công, tư nhân

và vốn nước ngoài) đang tăng lên vượt trội qua mỗi năm

Đầu ra của ngành xây dựng rất đa dạng: nhà ở, nhà không để ở và cơ sở hạ tầng Ngoài ra, nhà ở và nhà không để ở còn có thể được chia thành dân dụng (gồm nhà ở, khách sạn, văn phòng, trung tâm thương mại…) và công nghiệp (khu công nghiệp, nhà xưởng, nhà máy…) Về mặt giá trị, nhà ở được ước tính có tỷ trọng cao nhất ở mức 45%, sau đó là nhà không để ở 32% và cơ sở hạ tầng 23%

Trang 16

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 2

Hình 1.1 Cơ cấu giá trị các sản phẩm ngành xây dựng

Nguồn: BMI, GSO, FPTS ước tính

Theo BMI, ngành xây dựng Việt Nam được dự đoán có tốc độ tăng trưởng trung bình là 6,9%/năm trong 10 năm tới, giảm nhẹ so với trung bình 10 năm trước (7,1%/năm) nhưng vẫn cao hơn nhiều so với trung bình thế giới

Hình 1.2 Tốc độ tăng trưởng thị trường xây dựng trong 10 năm

Nguồn: BMI, GlobalData

Qua các số liệu minh chứng trên, ta có thể thấy ngành xây dựng Việt Nam đang trên

đà phát triển mạnh mẽ qua từng năm “Miếng bánh” ngành xây dựng Việt Nam hiện tại đang được chia thành rất nhiều thị phần với nhiều doanh nghiệp nhà nước, tư nhân trong

và ngoài nước, đặc biệt là với các doanh nghiệp tư nhân trong nước với các tập đoàn xây dựng lớn từ nước ngoài đang manh nha vào thị trường xây dựng Việt Nam Để tăng tính cạnh tranh trên thị trường, các doanh nghiệp xây dựng luôn phải không ngường đổi mới, đặc biệt phải đảm bảo thi công đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng và chi phí cam kết ban đầu với chủ đầu tư Muốn làm được điều đó, việc kiểm soát chi phí, tiến độ và rủi ro phải được các nhà thầu đặc biệt chú trọng trong quá trình thi công Các rủi ro tốt nhất nên được nhận dạng, đo lường, dự báo từ sớm khi giai đoạn thi công bắt đầu, để có những

Trang 17

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 3

biện pháp ngăn ngừa hoặc tránh né rủi ro phù hợp, đảm bảo chắc chắn rằng dự án luôn đi đúng hướng, đúng tiến độ, chất lượng đặt ra ban đầu và an toàn được đảm bảo

1.2 Lựa chọn đề tài

Trước khi thi công, tiến độ và chi phí kế hoạch được lập ra để nhà thầu và chủ đầu

tư làm căn cứ để theo dõi và kiểm soát tiến độ cũng như chi phí thực hiện dự án Tuy nhiên, vì tính chất phức tạp và những rủi ro có thể xảy ra mà không thể đo lường, dự báo đầy đủ và chính xác trong quá trình thi công nên tiến độ và chi phí thực tế thường không như kế hoạch ban đầu Chính vì vậy, việc đo lường, dự báo chi phí và tiến độ có xét đến rủi ro trong quá trình thi công là việc rất cần thiết và quan trọng Tuy nhiên, đó là một công tác khó và hiện tại chưa có nhiều phương pháp để thực hiện triệt để

Phương pháp Giá trị đạt được (Earned Value Management – EVM) đã được dùng rộng rãi trong đo lường, dự báo chi phí và tiến độ dự án Tuy nhiên, khả năng đo lường tiến độ và dự báo thời gian hoàn thành dự án của EVM còn nhiều điểm không hợp lý vì EVM sử dụng giá trị đạt được để đo lường và dự báo thời gian, cũng như chưa xem xét được đến yếu tố rủi ro trong quá trình thi công ảnh hưởng đến chi phí và tiến độ hoàn thành dự án

Quản lý chi phí và quản lý tiến độ là hai vấn đề cốt lõi trong việc quản lý dự án xây dựng Đảm bảo chi phí và đảm bảo tiến độ là hai tiêu chí quan trọng mà các nhà thầu cần quan tâm nhất trong quá trình thi công Nhưng vào giai đoạn đầu thi công có rất nhiều rủi

ro không thể đo lường, dự báo đầy đủ làm tiến độ bị trễ, chi phí bị vượt so với kế hoạch

đề ra ban đầu Điều này rất dễ làm nhà thầu lúng túng trong việc đánh giá tình trạng chi phí, tiến độ dự án và dự báo chi phí vượt, thời gian hoàn thành dự án khi thực tế thi công khác kế hoạch Vì vậy, việc đo lường và dự báo chi phí thời gian hoàn thành dự án tại thời điểm cập nhật là một công tác thiết yếu và quan trọng, nếu dự báo có độ chính xác cao thì nhà thầu có thể dự báo sớm được chi phí vượt, thời gian hoàn thành chính xác sớm nhất có thể để từ đó đưa ra phương án đối phó và xử lý kịp thời khắc phục

Luận văn này sẽ nghiên cứu một phương pháp đánh giá, đo lường chỉ số quản lý rủi

ro Risk Performance Index – RPI trong quá trình thi công các dự án nhà cao tầng ở Việt Nam bằng phương pháp Fuzzy AHP, kết hợp với đo lường chi phí CPI và tiến độ SPI theo phương pháp EVM truyền thống, đồng thời xây dựng mô hình dự báo chi phí và thời

Trang 18

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 4

gian hoàn thành thực tế của dự án có xét đến cả ba chỉ số đánh giá quản lý chi phí CPI, tiến độ SPI và rủi ro RPI Từ đó, các nhà thầu thi công có thể có thêm một phương án đo lường, dự báo chi phí và tiến độ hoàn thành dự án trong quá trình thi công xây dựng

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Làm thế nào để xây dựng được phương pháp xác định chỉ số đánh giá quản lý rủi ro Risk Performance Index – RPI trong quá trình thi công các dự án nhà cao tầng ở Việt Nam bằng Phương pháp Fuzzy AHP ?

- Làm thế nào để đo lường chi phí và tiến độ trong quá trình thi công, dự báo chi phí và thời gian hoàn thành dự án có xét đến các yếu tố rủi ro trong quá trình thi công bằng cách kết hợp phương pháp giá trị đạt được EVM và Phương pháp Fuzzy AHP ?

- Làm thế nào để so sánh kết quả của mô hình đề xuất với phương pháp EVM truyền thống vào một dự án cụ thể ở Việt Nam ?

1.4 Mục tiêu nghiên cứu

Để giải quyết được vấn đề đo lường, dự báo chi phí và thời gian hoàn thành dự án trong quá trình thi công, nghiên cứu sẽ trả lời các câu hỏi trên thông qua việc giải quyết các mục tiêu nghiên cứu sau:

- Mục tiêu 1: Nhận dạng, xác định được các yếu tố rủi ro chính trong quá trình thi công các dự án nhà cao tầng ở Việt Nam

- Mục tiêu 2: Xác định chỉ số đánh giá quản lý rủi ro Risk Performance Index – RPI

trong quá trình thi công các dự án nhà cao tầng ở Việt Nam bằng phương pháp Fuzzy AHP

- Mục tiêu 3: Ứng dụng mô hình kết hợp giữa các nguyên tắc cơ bản của phương pháp

EVM trong việc xác định chỉ số quản lý Chi phí CPI, quản lý Tiến độ SPI và Fuzzy AHP trong việc xác định chỉ số đánh giá quản lý Rủi ro RPI Từ đó, dùng để đo lường chi phí và tiến độ ứng với từng thời điểm thực hiện dự án; dự báo chi phí và thời gian hoàn thành của dự án

- Mục tiêu 4: Áp dụng phương pháp tích hợp vào một dự án cụ thể ở Việt Nam, so

sánh kết quả của phương pháp đề xuất với chi phí và thời gian hoàn thành thực tế của

dự án, chi phí và thời gian hoàn thành theo phương pháp EVM truyền thống

Trang 19

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 5

1.5 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu: Chi phí, tiến độ, rủi ro trong quá trình thi công các công trình nhà cao tầng ở Việt Nam

- Thời gian nghiên cứu: từ 21/09/2020 đến 03/01/2021

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Chỉ số đánh giá quản lý rủi ro Risk Performance Index – RPI trong quá trình thi công của dự án nhà cao tầng ở Việt Nam

+ Đo lường chi phí và tiến độ tại thời điểm cập nhật

+ Dự báo chi phí và thời gian hoàn thành thực tế của dự án tại thời điểm cập nhật

- Phương pháp thực hiện nghiên cứu:

+ Phương pháp Khảo sát thống kê

+ Phương pháp Fuzzy Analytical Hierarchy Process – Fuzzy AHP

+ Phương pháp giá trị đạt được Earned Value Management – EVM

+ Phương pháp kết hợp giữa EVM và Fuzzy AHP

- Quan điểm phân tích: Trên quan điểm phân tích nhà quản lý dự án của chủ đầu tư hoặc nhà thầu thi công

- Đối tượng khảo sát: Các kỹ sư có nhiều kinh nghiệm thi công các công trình nhà ở cao tầng tại Việt Nam, làm việc cho chủ đầu tư, đơn vị tư vấn hoặc nhà thầu

1.6 Đóng góp của đề tài

- Nhận dạng, xác định được các yếu tố rủi ro chính trong quá trình thi công các dự án nhà cao tầng ở Việt Nam

- Xác định trọng số yếu tố và trọng số nhóm yếu tố rủi ro trong thang đo đánh giá quản

lý rủi ro và chỉ số đánh giá quản lý rủi ro RPI

việc xác định chỉ số quản lý Chi phí CPI, quản lý Tiến độ SPI và Fuzzy AHP trong việc xác định chỉ số đánh giá quản lý Rủi ro RPI Từ đó, ứng dụng để đo lường chi phí và tiến độ ứng với từng thời điểm thực hiện dự án; dự báo chi phí và thời gian hoàn thành của dự án

- Đóng góp cho các nhà thầu thi công có thêm một phương pháp đo lường, dự báo chi phí và tiến độ hoàn thành thực tế có xét đến yếu tố rủi ro trong quá trình thi công dự

án, áp dụng cho các dự án nhà cao tầng ở Việt Nam

Trang 20

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 6

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1 Giới thiệu chung

Chương này giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu thông qua các tập chí, bài báo khoa học, luận văn trong và ngoài nước đã được công bố Từ đó, giúp cho ta biết được thực trạng của các nghiên cứu và mối quan hệ liên quan với đề tài này

2.2 Các nghiên cứu trước đó

2.2.1 Về rủi ro trong thi công các dự án nhà cao tầng

Các nghiên cứu nước ngoài

Iqbal và cộng sự (2015) đã chỉ ra rằng quản lý rủi ro là một lĩnh vực quan trọng của ngành xây dựng và ngày càng chú trọng quan tâm Các dự án xây dựng đã và đang gặp phải những rủi ro làm ảnh hưởng tiêu cực đến tiến độ, chi phí, chất lượng cũng như an toàn của dự án Điều này đã được chứng minh dựa trên kết quả của một cuộc khảo sát về đánh giá quản lý rủi ro trong các dự án xây dựng ở Pakistan

Nghiên cứu đã tiết lộ rằng các vấn đề về tài chính dự án, tai nạn trên công trường và thiết kế bị lỗi là rủi ro ảnh hưởng lớn nhất đến hầu hết các dự án xây dựng Theo đó, nhà thầu sẽ chịu trách nhiệm quản lý hầu hết các rủi ro xảy ra tại công trường trong giai đoạn thi công dự án, chẳng hạn như các vấn đề liên quan đến nhà thầu phụ, thiếu hụt nhân công lao động, sự cố máy móc, thiết bị, sự sẵn có và chất lượng của vật liệu vật tư… Trong khi các vấn đề tài chính, thay đổi thiết kế, các thay đổi trong các quy định trong hợp đồng, hay thay đổi phạm vi công việc trong quá trình thi công thực hiện dự án sẽ do chủ đầu tư sẽ chịu trách nhiệm

Các nghiên cứu trong nước

nhân chính làm chậm tiến độ và vượt chi phí cho những dự án xây dựng tại Việt Nam Nghiên cứu này cũng đã thực hiện một cuộc khảo sát bằng bảng câu hỏi, bằng cách phỏng vấn 87 chuyên gia, từ đó nghiên cứu đã xác định được 21 nguyên nhân chính gây

ra sự chậm trễ và vượt chi phí của các dự án xây dựng dân dụng và công nghiệp được xếp hạng theo khả năng xảy ra F.I, mức độ ảnh hưởng S.I và các chỉ số quan trọng (IMP.I = F.IxS.I)

Trang 21

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 7

Cuối cùng, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được năm nguyên nhân gây ra sự chậm trễ

và vượt chi phí lớn nhất cho những dự án xây dựng Việt Nam, đó là: (1) Quản lý tổ chức thi công của nhà thầu kém, (2) Thiếu sự phối hợp, hổ trợ giữa các bên tham gia quản lý

dự án, (3) Năng lực tài chính của Chủ đầu tư, (4) Năng lực tài chính của Nhà thầu; (5) Những thay đổi thiết kế

cũng đã xây dựng và kiểm chứng được mô hình các yếu tố rủi ro gây nên biến động chi phí trong thi công xây dựng dự án

2.2.2 Về đo lường, dự báo chi phí và tiến độ bằng phương pháp Earned

Value Management – EVM

Các nghiên cứu nước ngoài

Phương pháp giá trị đạt được Earned Value Management – EVM được bộ quốc

phòng Mỹ giới thiệu vào những năm 60 được dùng để đánh giá tổng thể hiệu quả thực hiện dự án, kết hợp được cả việc kiểm soát, dự báo chi phí lẫn kiểm soát, dự báo tiến độ

dự án Phương pháp này đã được dùng rộng rãi trong đo lường, dự báo chi phí và tiến độ

án bằng cách tích hợp ba yếu tố quan trọng của quản lý dự án, đó là khối lượng công việc, thời gian và chi phí Nó đòi hỏi phải giám sát chi phí thực tế, sản lượng đạt được định kỳ và cho phép đo lường chi phí và tiến độ, cùng với tính toán các chỉ số hiệu suất

về chi phí, tiến độ của dự án Phương pháp cho phép dự báo chi phí và thời gian hoàn thành dự án Nghiên cứu này cho thấy các khía cạnh chính của phương pháp giá trị đạt được và trình bày các công cụ đồ họa để đánh giá được xu hướng hiệu suất dự án

Các nghiên cứu trong nước

nghiên cứu đề xuất các phương pháp khắc phục những hạn chế của phương pháp EVM như: Xem xét áp dụng Phương pháp Thời gian đạt được Erned Duration Management - EDM vào các công tác nằm trên chuổi đường găng của dự án, sử dụng các thông số đo

Trang 22

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 8

lường của EVM và EDM vào mô hình Warburton để dự báo chi phí hoàn thành riêng từng hạng mục và thời gian hoàn thành của dự án

2.2.3 Về đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro bằng phương pháp FAHP

Các nghiên cứu nước ngoài

chắn, mơ hồ được xem là số mờ tam giác, để đo lường dựa trên phương pháp Fuzzy AHP Khái niệm về thái độ đối với rủi ro và sự tự tin của người ra quyết định trong việc

so sánh cặp rủi ro cũng được đưa ra thảo luận

độ phức tạp của dự án để hỗ trợ cho việc ra quyết định đa tiêu chí Một tổng quan tài liệu

về các biện pháp đánh giá mức độ phức tạp trước đây được trình bày để thấy được những mặt hạn chế của chúng Sau đó, xác định nhiều yếu tố, khía cạnh phức tạp của dự án Đề xuất một cách tiếp cận đa tiêu chí để đánh giá độ phức tạp của dự án, thông qua việc sử dụng phương pháp Analytic Hierarchy Process - AHP

Các nghiên cứu trong nước

lường mức độ phức tạp của dự án, sử dụng các số fuzzy tam giác, có xét đến mức độ tự tin và thái độ đối với rủi ro của người ra quyết định Kết quả nghiên cứu đã tìm ra được 6 nhóm yếu tố phức tạp

tổng hợp mờ Fuzzy AHP để xác định các yếu tố rủi ro đến các dự án giao thông thực hiện bằng hình thức PPP tại Việt Nam, nghiên cứu đã xác định được 4 nhóm yếu tố và 12 yếu

tố rủi ro chính ảnh hưởng đến các dự án PPP giao thông tại Việt Nam

2.2.4 Về xét ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đến đo lường và dự báo chi phí,

tiến độ hoàn thành dự án

Các nghiên cứu nước ngoài

kiểm soát dự án được phát triển bằng cách kết hợp các nguyên tắc cơ bản của phương pháp EVM, phân tích rủi ro và lý thuyết đa cấp bậc AHP nhằm để cải thiện hiệu suất của các hệ thống sản xuất đã được đề xuất

Trang 23

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 9

Các giá trị trọng số tương ứng với chỉ số phân tích tiến độ (SPI), chỉ số phân tích chi phí (CPI) và chỉ số phân tích rủi ro (RPI) được tính toán dựa trên các đánh giá của chuyên gia bằng cách sử dụng Z-number và Analytic Hierarchy Process (Z-AHP) Phân tích độ nhạy cho thấy chỉ số hiệu suất rủi ro là nhạy cảm nhất khi so sánh với chỉ số hiệu suất tiến độ và chi phí

trợ các nhà quản lý dự án để dự báo chi phí hoàn thành dự án CEAC tốt hơn bằng cách tích hợp rủi ro trong EVM truyền thống dựa trên việc xem xét trung bình trọng số của các chỉ số đánh giá chính (Chi phí CPI, Tiến độ SPI, Rủi ro RPI)

Khi làm như vậy, RPI được phát triển dựa trên các KPI quan trọng của dự án Các KPI này được xác định thông qua kết quả thống kê từ việc khảo sát ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng Sau khi tiến hành khảo sát, tổng cộng 16 yếu tố chính đã được xác định trong tổng số 55 yếu tố đề xuất, được chia làm 4 nhóm KPI chính: chất lượng (QPI), an toàn (SFPI), sự hài lòng của các bên liên quan (SSPI) và hiệu suất khác (OPI) Các chỉ số này sẽ cho phép các nhà quản lý dự án đo lường định lượng các vấn đề liên quan đến chi phí, chất lượng, an toàn và sự hài lòng của các bên liên quan gây ảnh hưởng đến sự thành công tổng thể dự án

Các nghiên cứu trong nước

Hiện tại chưa có nghiên cứu trong nước nào về lĩnh vực xem xét ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đến vấn đề đo lường và dự báo chi phí, tiến độ hoàn thành dự án được công

sự (2017)nhưng đưa vào áp dụng phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam cũng như kết hợp một số đề xuất cải tiến riêng

Các nhóm yếu tố rủi ro trong quá trình thi công xây dựng nhà cao tầng sẽ được nhận dạng và xác định dựa trên các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước được công bố trước đó và đặc biệt dựa trên điều kiện thi công của ngành xây dựng Việt Nam

2.3 Các khái niệm liên quan đến nghiên cứu

2.3.1 Các khái niệm liên quan đến Tiến độ, chi phí xây dựng

Trang 24

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 10

Tiến độ kế hoạch

Là một kế hoạch tổ chức thi công được lập trước khi thi công công trình Nó là

cơ sở để chủ đầu tư, nhà thầu làm căn cứ để quản lý, theo dõi trong quá trình thi công thực tế

Tiến độ thực tế

Là tiến độ đã được điều chỉnh theo thực tế thi công dựa trên trình tự thi công, khối lượng công việc thực tế đã thực hiện của các công tác trên công trường

Chuỗi các công tác găng

Là những công tác sắp xếp với nhau theo trình tự chuỗi mà độ dài của chuổi này sẽ được quyết định thời gian của dự án (sự sắp xếp chuỗi do các mối quan hệ trình tự kỹ thuật trước sau hoặc do các quan hệ giới hạn tài nguyên, quan hệ tổ chức thi công,…)

Thời điểm cập nhật thực tế

Là mốc thời gian mà tại đó có thể so sánh tiến độ kế hoạch và tiến độ thực tế thi công dự án, từ đó có thể đánh giá dự án đang nhanh hay chậm tiến độ, tiết kiệm hay

bị vượt chi phí so với kế hoạch đề ra Sau đó có những điều chỉnh phù hợp

2.3.2 Các khái niệm liên quan đến Rủi ro trong xây dựng

2.3.2.1 Định nghĩa rủi ro

- Rủi ro dự án xây dựng là một sự kiện không chắc chắn của các điều kiện dự án

mà nếu xảy ra sẽ tác động tiêu cực đến một mục tiêu nào đó của dự án như con người, thời gian, chi phí, chất lượng, tài sản, uy tín…

- Theo The Institute of Risk Management thì rủi ro có thể định nghĩa là sự kết hợp của xác suất xảy ra của một sự kiện và hậu quả của nó

2.3.2.2 Phân loại rủi ro

Có thể phân loại rủi ro thành 2 loại:

- Rủi ro thuần túy tồn tại khi có một nguy cơ tổn thất nhưng không có cơ hội kiếm lời được

- Rủi ro suy đoán tồn tại khi có một cơ hội kiếm lại được cũng như nguy cơ tổn thất

Trang 25

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 11

2.3.2.4 Chiến lược ứng phó rủi ro

Có 5 chiến lược cổ điển nhằm giảm thiểu rủi ro: Chấp nhận, Tránh né, Giám sát, Chuyển giao, Giảm nhẹ rủi ro

2.3.2.4.1 Tránh né rủi ro

- Tránh né rủi ro là những việc né tránh những hành động hoặc những nguyên nhân làm phát sinh tổn thất, mất mát có thể có

- Trong quản lý dự án, tránh né rủi ro có thể được phản ánh trong sự chọn lọc các

ý tưởng và kiểm soát nguồn gốc nhà thầu

2.3.2.4.2 Giám sát rủi ro và chuẩn bị kế hoạch dự phòng

- Giám sát một rủi ro bằng cách chọn một số chỉ tiêu khi dự án tiến gần đến điểm rủi ro Có thể chuẩn bị các kế hoạch dự phòng, thông thường phổ biến nhất là dành một khoản gọi là quỹ dự phòng phí hoặc thời gian dự phòng khi cần thiết

- Một yếu tố đòi hỏi sự khéo léo trong việc giám sát rủi ro là khả năng dự báo đúng lúc để ứng phó kịp thời

Trang 26

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 12

2.4 Các cơ sở lý thuyết liên quan đến nghiên cứu

Đo lường, dự báo chi phí và tiến độ dự án là một công tác thiết yếu và quan trọng, nếu dự báo có độ chính xác cao thì các nhà thầu và chủ đầu tư có thể điều chỉnh phương

án tiến độ một cách phù hợp nhất để có thể đảm bảo được chi phí và tiến độ hoàn thành

dự án với lợi nhuận cao nhất cho cả hai bên

2.4.1 Phương pháp giá trị đạt được Earned Value Management – EVM

Phương pháp giá trị đạt được Earned Value Management – EVM được bộ quốc

phòng Mỹ giới thiệu vào những năm 60 được dùng để đánh giá hiệu quả tổng thể thực hiện dự án tại thời điểm đang xét, kết hợp được cả việc đo lường, dự báo chi phí lẫn đo lường, dự báo tiến độ dự án Đường cong tích lũy của PV, EV, AC của dự án có dạng đường cong S

EVM là một phương pháp để đo lường tiến độ thực tế của dự án bằng cách tích hợp

ba yếu tố quan trọng của quản lý dự án, đó là khối lượng, thời gian và chi phí (PMBOK, 2004) Nghiên cứu này đặc biệt áp dụng EVM để đo lường chi phí và thời gian hoàn thành dự án EVM được đánh giá dựa trên kết quả so sánh các chỉ số:

- Budget at Completion (BAC): Tổng ngân sách cho dự án theo kế hoạch

- Schedule at Completion (SAC): Thời gian hoàn thành dự án theo kế hoạch

- Plan Value (PV): Chi phí theo kế hoạch

- Earn Value (EV): Giá trị thu được cho công việc đã thực hiện

- Actual Cost (AC): Chi phí thực tế cho công việc đã thực hiện

2.4.2 Lý thuyết tập mờ (Fuzzy Set Theory)

Khái niệm về logic mờ (Fuzzy logic) được phát hiện bởi giáo sư Lotfi Zadeh (ĐH

UC Berkeley – năm 1965) Logic mờ đã được sử dụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc không chắc chắn (Uncertain); thông tin không chính xác (Imprecision) Lý thuyết mờ sẽ đưa ra một cơ chế để xử lý các thông tin có tính không chắc chắn: nhiều;

cụ toán học hết sức mạnh mẽ, đặc biệt là hỗ trợ ra quyết định trong trường hợp thiếu thông tin hoặc thông tin không chính xác và nó cũng thể hiện suy nghĩ của con người một cách tự nhiên hơn so với các quy tắc và phương trình toán học cứng nhắc khác

Trang 27

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 13

Ngày nay lý thuyết mờ đã và đang được sử dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực khác nhau để tối ưu cũng như giải đáp sự không chắc chắn hoặc thông tin không chính thống

2.4.2.1 Tập mờ

Lý thuyết tập mờ thể hiện mức độ thành viên của tập hợp không bị giới hạn bởi số 0

thành viên giữa một phần tử và một tập hợp được đánh giá theo kiểu nhị phân – một phần

Tập mờ A xác định trên cơ sở tập X là một tập hợp mà mỗi phần tử của nó là một

được gọi là hàm thành viên của tập mờ A Hàm thành viên đặc trưng cho mức độ phụ thuộc của một phần tử bất kỳ thuộc tập cơ sở X vào tập mờ A và nhận giá trị là một số từ

số mờ dạng tam giác và hình thang được sử dụng phổ biến

Số fuzzy là một tập fuzzy với hàm thành viên phải thõa mãn điều kiện là liên tục, lồi (convex) và bình thường (normal) Một tập fuzzy được gọi là bình thường nếu tồn tại một giá trị x X sao cho A(x)=1 Hai số fuzzy hay được sử dụng là số fuzzy tam giác và

số fuzzy hình thang, được thể hiện trong Hình 2.2 và Hình 2.3

Trang 28

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 14

Hình 2.2 Số fuzzy tam giác

Hình 2.3 Số fuzzy hình thang

Trong Luận văn này, các số fuzzy tam giác được sử dụng trong việc tính toán trọng

số của các nhân tố và yếu tố con Các phép tính toán cơ bản của 2 số fuzzy tam giác với

Bảng 2.1 Các phép tính cơ bản của số fuzzy

2.4.3 Phương pháp Analytical Hierarchy Process – AHP

Phương pháp Analytical Hierarchy Process AHP được Thomas Saaty giới thiệu

lần đầu tiên năm 1971 nhằm giải quyết vấn đề phân bổ nguồn lực và nhu cầu lập kế hoạch trong quân đội Phương pháp AHP đã trở thành một phương pháp định lượng hổ trợ ra quyết định đa mục tiêu được sử dụng rộng rãi trên trên nhiều lĩnh vực khác nhau để sắp xếp các phương án và lựa chọn phương án thỏa mãn các tiêu chí cho trước Các tiêu chí được phân cấp thành những tiêu chí con được thể hiện trên hệ thống phân cấp, giúp người ra quyết định dễ dàng nhận thấy được vấn đề và phân tích chúng một cách độc lập

Trang 29

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 15

Các bước để tiến hành áp dụng phương pháp AHP:

- Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu

- Thiết lập hệ thống phân cấp từ cấp độ cao nhất đến thấp nhất

- Xây dựng các ma trận so sánh cặp sử dụng các thang đo từ 1 đến 9 Các thang đo so sánh cặp này được thể hiện trong Bảng 2.2

- Chuyển các thông số so sánh đó thành các trọng số và kiểm tra chỉ số nhất quán CR (Consistency ratio) từ các đánh giá của các chuyên gia

- Dùng trọng số tính được cho các phương án để ra quyết định tạm thời

- Thực hiện phân tích độ nhạy Bước này dùng để kiểm tra tác động của việc thay đổi các trọng số của các tiêu chí đến kết quả cuối cùng

2.4.4 Phương pháp Fuzzy Analytical Hierarchy Process – FAHP

Phương pháp Fuzzy Analytical Hierarchy Process - FAHP là phương pháp mở

rộng của AHP dùng để giải quyết một cách hiệu quả tính mờ của dữ liệu liên quan đến việc ra quyết định Fuzzy AHP giúp người ra quyết định dễ dàng hơn trong việc đưa ra quyết định và Fuzzy AHP có thể xử lý cả dữ liệu định tính lẫn định lượng trong quyết

Có rất nhiều phương pháp Fuzzy AHP đã được đề xuất bởi nhiều tác giả trên thế giới Mỗi phương pháp có những cách hình thành, cách thức thực hiện và ưu nhược điểm khác nhau Tüysüz và Kahraman (2006) đã phân tích và tổng hợp đặc điểm cũng như các

ưu nhược điểm của từng phương pháp, được trình bày ở Bảng 2.3

Trang 30

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 16

Bảng 2.3 Các phương pháp Fuzzy AHP

phương nhỏ nhất logarit của Lootsma được sử dụng để tính trọng số fuzzy điểm tổng hợp fuzzy

- Quan điểm những người ra quyết định

có thể được tổng hợp trong ma trận nghịch đảo

- Không phải lúc nào cũng sử dụng phương trình tuyến tính

- Yêu cầu tính toán nhiều ngay cả cho một vấn đề nhỏ

- Chỉ sử dụng cho số fuzzy tam giác

- Sử dụng phương pháp trung bình nhân để tính các trọng số fuzzy và điểm tổng hợp

- Dễ mở rộng trong việc

áp dụng các số mờ

- Bảo đảm một giải pháp duy nhất cho ma trận so sánh nghịch đảo

- Yêu cầu tính toán nhiều

- Quan điểm những người ra quyết định có thể được tổng hợp

- Yêu cầu tính toán nhiều

- Giá trị có tính tổng hợp

- Phân lớp trình tự đơn giản

- Yêu cầu tính toán tương đối thấp

- Tuân theo các bước đơn giản của phương pháp AHP

- Chỉ áp dụng cho số fuzzy tam giác

“entropy” để tính các trọng số tổng hợp

- Yêu cầu tính toán không nhiều

- “Entropy” chỉ được sử dụng khi phân bố xác suất đã biết

Trang 31

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 17

Fuzzy AHP có thể giảm bớt hoặc thậm chí là loại trừ tính “mờ” và sự mơ hồ cố hữu trong những vấn đề ra quyết định mà có thể tác động đến độ chính xác của các

Thật vậy, các đánh giá định tính dựa vào cảm giác và suy nghĩ chủ quan của con người thường không rõ ràng, không chắc chắn mà lại được biểu diễn bằng các con số

so sánh cặp cứng nhắc thì quả là không hợp lý cho lắm Thay vào đó, nếu đưa ra một khoảng cố định để đánh giá thì có vẻ hợp lý hơn Vì thế, các số Fuzzy tam giác được

và Kumar (2007)

Trong phương pháp Fuzzy AHP, hai số fuzzy hình tam giác và hình thang thường được sử dụng để diễn tả sự đánh giá các phương án theo từng tiêu chí Để đánh giá trọng số các phương án, cần phải có một quá trình so sánh và xếp hạng các tiêu chí

Deng (1999)

quyết một cách hiệu quả những vấn đề liên quan đến dữ liệu định tính Những số fuzzy tam giác đã được sử dụng cho quá trình so sánh cặp để diễn tả đánh giá chủ quan của người ra quyết định Khái niệm “α-cut” đã được sử dụng để quá trình so sánh trở nên dễ dàng và tin cậy hơn Cùng với thái độ của người ra quyết định đối với rủi

ro, chỉ số tổng thể được tính toán cho từng phương án thông qua tất cả các tiêu chí

Trang 32

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 18

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Giới thiệu chung

MÔ HÌNH EVM + FAHP

ỨNG DỤNG ĐO LƯỜNG, DỰ BÁO CHI PHÍ

VÀ TIẾN ĐỘ CHO DỰ ÁN THỰC TẾ

(1)

(2)

(3)

QUY TRÌNH THỰC HIỆN LUẬN VĂN

Hình 3.1 Tổng quan phương pháp nghiên cứu

3.2 Các lý thuyết, phương pháp áp dụng

3.2.1 Phương pháp giá trị đạt được Earned Value Management – EVM

Như đã trình bày ở chương 2, Phương pháp giá trị đạt được EVM là một phương pháp để đo lường tiến độ thực tế của dự án bằng cách tích hợp ba yếu tố quan trọng của quản lý dự án, đó là khối lượng, thời gian và chi phí (PMBOK, 2004) Nghiên cứu này đặc biệt áp dụng EVM để đo lường chi phí và thời gian hoàn thành dự án như sau:

EVM đánh giá dựa trên kết quả so sánh các chỉ số:

- Budget at Completion (BAC): Tổng ngân sách cho dự án theo kế hoạch

- Schedule at Completion (SAC): Thời gian hoàn thành dự án theo kế hoạch

Trang 33

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 19

- Plan Value (PV): Giá trị theo kế hoạch PV là giá trị ngân sách được duyệt theo

tiến độ công việc

1

t

n i i

- Earn Value (EV): Giá trị thu được cho công việc đã thực hiện EV cho biết dự

án thực tế thu vào được tại thời điểm đo lường xác định

1

t

n i i

- Actual Cost (AC): Chi phí thực tế cho công việc đã thực hiện AC cho biết chi

phí thực tế tại thời điểm đo lường xác định

1

t

n i i

3.2.1.1 Đo lường chi phí và tiến độ

AC

CPI cho thấy hiệu quả của việc sử dụng tài nguyên Giá trị CPI < 1 cho thấy việc

sử dụng tài nguyên kém Dự án đang bị vượt chi phí kế hoạch

thức:

- Schedule Variance (SV): Thời gian chênh lệch giữa tiến độ thực tế so với tiến

Trang 34

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 20

- Schedule Performance Index (SPI): Hiệu suất tiến độ thi công tại thời điểm

EV SPI PV

SPI cho thấy hiệu quả của thời gian sử dụng trên một dự án Giá trị SPI > 1 cho thấy rằng dự án phân bổ sử dụng thời gian rất hiệu quả (vượt tiến độ)

phép đánh đổi chi phí và thời gian dựa trên các mục tiêu của dự án

3.2.1.2 Dự báo chi phí và tiến độ

Phương pháp EVM đặc biệt hữu ích trong việc dự báo chi phí và thời gian của dự

(2003)đã trình bày các công thức khác nhau để tính toán Dự báo Chi phí khi Hoàn thành (Cost Estimate At Completion - CEAC) và Dự báo Thời gian Hoàn thành (Time Estimate

At Completion - TEAC), mỗi công thức phù hợp với điều kiện cụ thể về hiệu suất của dự

án trong tương lai Trong nghiên cứu này tập trung vào ba trong số các điều kiện được

 Điều kiện 1: Khi phân tích hiện tại cho thấy hiệu suất chi phí / tiến độ trong quá

khứ không phải là yếu tố dự báo tốt về hiệu suất chi phí / tiến độ trong tương lai,

rằng các vấn đề hoặc cơ hội ảnh hưởng đến hiệu suất trong quá khứ sẽ không xảy ra trong tương lai và hiệu suất trong tương lai sẽ song song với kế hoạch ban đầu Khi đó, dự báo chi phí và thời gian hoàn thành dự án như sau:

 Điều kiện 2: Khi phân tích hiện tại cho thấy hiệu suất chi phí/ tiến độ trong quá

khứ là một yếu tố dự báo tốt về hiệu suất chi phí/ tiến độ trong tương lai, hiệu

suất đó sẽ tiếp tục trong tương lai và sự hiệu quả hoặc sự không hiệu quả được quan sát thấy ngày càng biểu hiện rõ khi hoàn thành Khi đó, dự báo chi phí và thời gian hoàn thành dự án như sau:

BAC CEAC

CPI

Trang 35

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 21

SAC TEAC

SPI

Christensen và Payne (1992) đã cho thấy chỉ số CPI của một dự án sẽ ổn định sau khi dự án hoàn thành được 20% khối lượng (Giai đoạn sớm của dự án), sự ổn định này được định nghĩa là CPI khi dự án hoàn thành sai lệch nhỏ hơn 10% so với CPI khi dự án hoàn thành được 20% khối lượng công việc

 Điều kiện 3: Nếu các hoạt động, gói công việc hoặc dự án chậm tiến độ, chi phí

bổ sung sẽ phải chịu để đưa dự án trở lại đúng tiến độ, thông qua việc sử dụng thêm giờ, thêm tài nguyên, giải quyết các lô hàng và các hành động tương tự Mặt khác, nếu hoạt động, gói công việc hoặc dự án vượt tiến độ, cơ hội tiết kiệm chi phí đáng kể có thể được theo đuổi, mặc dù chúng có thể cần nhiều thời gian hơn do sử dụng tài nguyên ít về số lượng, ít kinh nghiệm và / hoặc ít kỹ năng hơn Sự khác biệt giữa điều kiện 3 và điều kiện 2 là điều kiện 3 đề cập đến các tình huống cần có sự đánh đổi giữa chi phí và thời gian để đáp ứng mục tiêu chung của dự án Tuy nhiên, sự đánh đổi chi phí và thời gian như vậy là không cần thiết hoặc áp dụng trong điều kiện 2 Khi đó, dự báo chi phí và thời gian hoàn thành dự án như sau:

BAC CEAC

CR

SAC TEAC

CR

đến đường cơ sở Những số liệu này cung cấp một chỉ số có giá trị về xu hướng hiệu suất chi phí và thời gian của dự án Khi các giá trị nằm phía trên đường cơ sở BAC (SAC) cho thấy hiệu suất chi phí (tiến độ) của dự án kém

Trang 36

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 22

 Ưu, nhược điểm của phương pháp EVM

Ưu điểm của EVM

Đo lường chi phí: Tại thời điểm cập nhật EVM có thể định lượng được chi phí chênh lệch giữa thực tế thi công với kế hoạch ban đầu

Nhược điểm của EVM

Dự báo chi phí dự án: EVM không thể vẽ được đường cong dự báo chi phí EV và

dự báo theo công thức (3.10) có thể hiểu là kết quả của việc ngoại suy tuyến tính

Đo lường, dự báo thời gian hoàn thành dự án:

- SV có đơn vị là tiền tệ chứ không phải là đơn vị thời gian nhưng được dùng để đánh giá thời gian là không hợp lý

- SV=0 (SPI=1) có nghĩa là công việc đã được hoàn thành nhưng cũng có nghĩa công việc đang chạy theo đúng kế hoạch Chính vì thế nên khả năng dự báo không chính xác, vì có nhiều công việc mặc dù đã hoàn thành nhưng không đúng kế hoạch ban đầu

- Khi kết thúc dự án luôn luôn SV=0 (SPI=1) dù dự án có hoàn thành sớm, đúng hay trễ so với tiến độ kế hoạch Vì vậy dùng SV và SPI để đo lường và đánh giá tiến độ là không đáng tin cậy

- Khả năng dự báo thời gian hoàn thành dự án của EVM không đáng tin cậy vì chưa xem xét đến công tác trên chuỗi đường găng

Trang 37

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 23

3.2.2 Phương pháp Fuzzy Analytical Hierarchy Process – FAHP

3.2.2.1 Giới thiệu

Như đã giới thiệu ở chương 2, mặc dù có cùng chung tên gọi là FAHP nhưng thực

tế có rất nhiều phương pháp FAHP được đề xuất bởi nhiều tác giả khác nhau Mỗi phương pháp lại có lập luận và cách thức thực hiện khác nhau Luận văn này sẽ tham

3.2.2.2 Xây dựng cấu trúc thứ bậc

Cấu trúc thứ bậc của Luận văn được xây dựng trực tiếp từ kết quả của việc Xếp hạng các rủi ro theo mức độ rủi ro IMP=PxI Xây dựng cấu trúc thứ bậc có 3 cấp độ như

Hình 3.4 Mục tiêu của cấu trúc thứ bậc trong Luận văn là “Xác định trọng số nhóm và

trọng số yếu tố của các rủi ro trong quá trình thi công dự án nhà cao tầng ở Việt Nam”

Trang 38

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 24

R21 R2m

R31 R32 R33 R3m

Rn1 Rn2

Những yếu tố rủi ro trong quá trình thi công các dự án nhà cao tầng ở Việt Nam

Trang 39

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 25

Với phương pháp Fuzzy AHP, có nhiều tác giả đã đề xuất các thang đo khác nhau xuất

là Chang (1996), Cheng (1997), Deng (1999), Tesfamariam và Sadiq (2006)… Nghiên

yếu tố là “mức độ quan trọng” Trong khi đó, trong Luận văn này, mục tiêu của việc so sánh cặp chính là so sánh “mức độ rủi ro” Do vậy, cách định nghĩa và giải thích cho các giá trị của thang đo trong Bảng 3.1 được điều chỉnh lại cho phù hợp với mục tiêu của Luận văn Các cấp độ so sánh từ 1 đến 9 vẫn được giữ nguyên tương ứng so với thang đo của Tesfamariam và Sadiq (2006)

Bảng 3.1 Thang đo fuzzy sử dụng so sánh cặp

3 (3 - c, 3, 3 +  ) Rủi ro vừa phải Tiêu chí đang xét rủi ro vừa phải so với tiêu chí còn lại

5 (5 -  , 5, 5 +  ) Khá Rủi ro Tiêu chí đang xét khá rủi ro so với tiêu chí còn lại

7 (7 -  , 7, 7 +  ) Rất Rủi ro Tiêu chí đang xét rất rủi ro so với tiêu chí còn lại

1/ x 1/(x +  ), 1/x, 1/(x -  )

Ghi chú: a Giá trị này dựa vào thang đo của Saaty (1980)

Trang 40

HVTH: TRẦN HOÀI ANH – 1870461 Trang 26

3.2.2.4 Kiểm tra tính nhất quán của các chuyên gia

Việc so sánh cặp trong các ma trận ra quyết định mờ (3.19) rất dễ dẫn đến sự thiếu

từng ma trận đánh giá Hệ số này được thiết kế để báo cho người ra quyết định nhận biết được tính nhất quán trong các so sánh cặp của các chuyên gia Đây cũng là một ưu điểm được kế thừa từ phương pháp AHP Khi thành lập một ma trận đánh giá thì sẽ xác định

Wind và Saaty (1980) cho rằng khi một ma trận đánh giá là hoàn toàn nhất quán thì

và Saaty (1980) đề xuất phương pháp tính thông qua công thức (3.16) Vì kích thước của

ma trận so sánh cặp có ảnh hưởng đến tính nhất quán khi các chuyên gia đưa ra quyết

Saaty (1980) đã tính đến vấn đề này và đưa ra công thức tính hệ số nhất quán CR, được trình bày trong công thức (3.17) Hệ số nhất quán CR xác định từ việc hiệu chỉnh hệ số

CI thông qua một hệ số có xét đến ảnh hưởng của kích thước ma trận, được ông đặt tên là

hệ số ngẫu nhiên RI Hệ số RI được xác định từ Bảng 3.2 dưới đây

Ngày đăng: 08/05/2021, 15:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w