tài chính lập theo chuẩn mực kế toán Việt Nam vẫn còn một số hạn chế và chưa cungcấp được đầy đủ thông tin với chất lượng tốt nhất cho các người sử dụng.Một trong những thông tin công bố
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
BÙI LÊ THÁI BÌNH
ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC TRÌNH BÀY BÁO CÁO BỘ PHẬN
CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM
YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
BÙI LÊ THÁI BÌNH
ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC TRÌNH BÀY BÁO CÁO BỘ PHẬN
CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM
YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS MAI THỊ HOÀNG MINH
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi với sự hướng dẫn củaPGS.TS Mai Thị Hoàng Minh Tất cả các nguồn tài liệu tham khảo đã được công bốđầy đủ Nội dung của luận văn là trung thực
Tác giả luận văn
Bùi Lê Thái Bình
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
M
Ở ĐẦ U 1
1 Lý do ch ọn đề tài 1
2 M ụ c tiêu nghiên c ứ u 2
3 Đối tượ ng và ph ạ m vi nghiên c ứ u 3
4 Phương pháp nghiên cứ u 4
5 Nh ững đóng góp củ a lu ận văn 4
CHƯƠNG 1 -T Ổ NG QUAN V Ề CÁC NGHIÊN C Ứ U V Ề TRÌNH BÀY BÁO CÁO B Ộ PH Ậ N 6
1.1. Các nghiên c ứ u v ề báo cáo b ộ ph ậ n 6
1.1.1 Bài báo và nghiên c ứ u khoa h ọc nướ c ngoài 7
1.1.2 Bài báo và các nghiên c ứu trong nướ c 10
1.2. Các v ấn đề còn t ồn đọ ng trong các nghiên c ứu trước đó 12
1.2.1 Khái quát nh ữ ng y ế u kèm và b ấ t c ậ p trong th ự c ti ễ n 12
1.2.2 Các v ấn đề t ồn đọ ng trong nghiên c ứ u 13
CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ LU Ậ N 15
2.1. Khái ni ệ m báo cáo b ộ ph ậ n 15
2.2. Báo cáo b ộ ph ậ n theo chu ẩ n m ự c k ế toán qu ố c t ế 16
2.2.1 L ị ch s ử ra đờ i các chu ẩ n m ự c k ế toán qu ố c t ế v ề báo cáo b ộ ph ậ n 16
2.2.2 L ợ i ích và ch ỉ trích xung quanh báo cáo b ộ ph ậ n 19
Trang 52.3. Báo cáo b ộ ph ậ n theo chu ẩ n m ự c k ế toán vi ệ t nam 20
2.3.1 Quá trình hình thành 20
2.3.2 Chu ẩ n m ự c chung 22
2.3.3 N ộ i dung chu ẩ n m ự c VAS 28 23
2.4. sánh quy So đị nh c ủ a VAS 28 v ớ i IFRS 8 26
2.4.1 M ục tiêu, đối tượng và phương pháp thự c hi ệ n 26
2.4.2 K ế t qu ả đố i chi ế u 26
2.5. Nguyên nhân c ủ a s ự khác bi ệt và hướ ng h ộ i t ụ gi ữ a vi ệ t nam và qu ố c t ế 29 2.6 Lý thuy ế t n ề n 29
2.6.1 Lý thuy ết chi phí đạ i di ệ n ( Agency Theory) 29
2.6.2 Lý thuy ế t d ấ u hi ệ u ( Signaling theory) 31
2.6.3 Lý thuy ế t chi phí s ở h ữ u ( Proprietary cost theory) 32
2.7. Các gi ả thuy ế t và mô hình nghiên c ứ u 33
2.7.1 M ức độ trình bày báo cáo b ộ ph ậ n 33
2.7.2 Quy mô công ty 33
2.7.3 Đòn bẩ y tài chính 34
2.7.4 Phân tán quy ề n s ở h ữ u 34
2.7.5 Kh ả năng sinh lờ i 35
2.7.6 Công ty ki ể m toán 35
2.7.7 M ức độ tăng trưở ng 36
2.7.8 R ủ i ro th ị trườ ng 36
Chương 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨ U 39
3.1. Thi ế t k ế nghiên c ứ u 39
3.1.1 Phương pháp nghiên cứ u 39
3.1.2 Quy trình nghiên c ứ u 39
3.2. Nghiên c ứu định lượ ng 39
3.2.1 Phương thứ c l ấ y m ẫ u 40
Trang 63.2.2 C ỡ m ẫ u 40
3.3. Xây d ựng phương trình nghiên cứ u 41
3.4. Đo lườ ng ch ỉ s ố m ức độ trình bày BCBP 42
3.5. Kh ả o sát nhân t ố đị nh danh 44
Chương 4 - K Ế T QU Ả NGHIÊN C Ứ U VÀ BÀN LU Ậ N 45
4.1. Gi ớ i thi ệ u v ề th ị trườ ng ch ứ ng khoán Vi ệ t Nam và s ở giao d ị ch ch ứ ng khoán Thành ph ố H ồ Chí Minh 45
4.1.1 Gi ớ i thi ệ u v ề th ị trườ ng ch ứ ng khoán Vi ệ t Nam 45
4.1.2 Gi ớ i thi ệ u v ề S ở giao d ị ch ch ứ ng khoán Thành ph ố H ồ Chí Minh 45
4.2. Ki ểm đị nh các gi ả thuy ế t nghiên c ứ u 47
4.2.1 Th ố ng kê mô t ả 47
4.2.2 Phân tích tương quan giữ a các bi ế n 54
4.2.3 Phân tích phương sai ANOVA 57
4.2.4 Đánh giá chung về k ế t qu ả nghiên c ứ u 58
Chương 5 - K Ế T LU Ậ N VÀ KI Ế N NGH Ị 61
5.1. ự S c ầ n thi ế t c ủ a các gi ả i pháp hoàn thi ệ n vi ệ c trình bày BCBP c ủ a các công ty
niêm y ế t trên sàn ch ứ ng khoán 61
5.2. Các gi ả i pháp n ề n t ả ng 62
5.2.1 Hoàn thi ện các quy đị nh pháp lý và chu ẩ n m ự c ngh ề nghi ệ p 62
5.2.2 Gi ả i pháp nâng cao kh ả năng áp dụ ng VAS 28 64
KẾT LUẬN……… 69
GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ NGHỊ CHO NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CODM Chief operating decision maker – Người ra quyết định hoạt động
FASB Financial Accounting Standard Board - Ủy ban chuẩn mực kế toán tài
chính Hoa KỳIAS International Accouting Standard – Chuẩn mực kế toán quốc tế
IFRS International Financial Reporting Standards – Chuẩn mực báo cáo tài
chính quốc tếSFAS Statement of Financial Accounting Standards – Chuẩn mực kế toán tài
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Mô hình nghiên c ứ u 37Hình 3.1 Quy trình nghiên c ứ u 39Hình 4.1: S ố lượ ng doanh nghi ệ p niêm y ế t ở SGDCK TP.HCM 46
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đang trong xu hướng hội nhập toàn cầu hóa ngàycàng cao, vào năm 2007 Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thếgiới (WTO) và mới đây là đã là thành viên của Hiệp định đối tác kinh tế chiến lượcxuyên Thái Bình Dương (TPP) Hiệp định TPP có ảnh hưởng rất lớn đến ngành kinh tếViệt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài xem Việt Nam là điểm đầu tư tốt khi các rào cản
về thuế quan và sự tự do của thị trường lao động quốc tế Chính những tác động này sẽlàm cho nền kinh tế Việt Nam sự thách thức tự thay đổi mình để hòa nhập quốc tế vàthị trường chứng khoán là một trong những lĩnh vực thay đổi rất nhanh chóng để thuhút vốn đầu tư nước ngoài Để đáp ứng yêu cầu hội nhập thì việc phát triển thị trườngchứng khoán vững mạnh và minh bạch về thông tin là yêu cầu cần thiết giúp thị trườngphát triển và tạo niềm tin cho nhà đầu tư Để làm được điều này thì việc nâng cao vềlượng và chất đối với thông tin kế toán là điều kiện cần và đủ để thị trường chứngkhoán Việt Nam phát triển hội nhập
Sự hội nhập ngày càng nhanh và mạnh với nền kinh tế thế giới cùng với sự ra đời củathị trường chứng khoán đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam pháttriển ngày càng nhanh và mạnh cả về quy mô và số lượng doanh nghiệp Các doanhnghiệp hiện nay không chỉ hoạt động thu hẹp trong một ngành nghề cụ thể ở thị trườngtrong nước mà có xu hướng đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh và vươn ra hoạt độngtại nhiều thị trường trên thế giới Đó là những tín hiệu tích cực cho sự phát triển củanền kinh tế Các doanh nghiệp muốn tồn tại cần phải thu hút vốn đầu tư từ các nhà đầu
tư trong nước và nước ngoài để có nguồn lực tài chính phục vụ cho mở rộng đầu tưkinh doanh và để có thể thu hút nhà đầu tư doanh nghiệp cần phải xây dựng hệ thốngthông tin kế toán và báo cáo tài chính minh bạch và cung cấp thông tin hữu ích choviệc ra quyết định của các nhà đầu tư Tại Việt Nam hiện nay hệ thống chuẩn mực kếtoán vẫn chưa bắt kịp với sự phát triển của quy định và thông lệ quốc tế do đó báo cáo
10
Trang 11tài chính lập theo chuẩn mực kế toán Việt Nam vẫn còn một số hạn chế và chưa cungcấp được đầy đủ thông tin với chất lượng tốt nhất cho các người sử dụng.
Một trong những thông tin công bố quan trọng trên báo cáo tài chính đã kiểm toán củacác công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán là thông tin về báo cáo bộ phận Thông tin về báo cáo bộ phận sẽ hỗ trợ cho người sử dụng báo cáo tài chính hiểu rõ vềtình hình hoạt động các năm trước của doanh nghiệp Đặc biệt đối với các công ty cóthị trường tại nhiều quốc gia và nhiều lĩnh vực hoạt động thì việ cung cấp thông tin báocáo bộ phận sẽ giúp cho việc đánh giá rủi ro và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp mộtcách tổng quan
Hiện nay tại Việt Nam, doanh nghiệp đang áp dụng việc trình bày các yêu cầu về báocáo bộ phận theo VAS 28, nhưng sau nhiều năm áp dụng nhiều doanh nghiệp vẫn cóhiểu biết chưa rõ ràng, chưa lưu tâm đầy đủ tới việc lập và trình bày báo cáo bộ phậnhoặc lập báo cáo bộ phận sơ sài chỉ để nhằm mục đích tuân thủ các quy định Dựa trênthực tiễn đó, với mong muốn đem lại cái nhìn sâu hơn về nhân tố ảnh hưởng đến việctrình bày báo cáo bộ phận của các công ty niêm yết phù hợp với chuẩn mực kế toán
hiện hành, tác giả đã chọn đề tài “Đánh giá các nhân tố tác động đến việc trình bày
báo cáo bộ phận của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu nhằm tới 3 mục tiêu cơ bản sau:
- Khái quát và hệ thống các nghiên cứu trên thế giới và trong nước về trình bày BCBPtrên BCTC đã kiểm toán nhằm xác định được lỗ hỏng trong các nghiên cứu trước làmnền tảng cho nghiên cứu của tác giả
- Tóm tắt các cơ sở lý luận chính liên quan đến trình bày thông tin BCBP và đo lườngcác yếu tố tác động đến việc trình bày và công bố báo cáo bộ phận trên báo cáo kiểmtoán tại Việt Nam
Trang 12- Dựa theo kết quả nghiên cứu thu được qua kiểm định tác giả sẽ đưa ra các giải phápphù hợp cải thiện và nâng cao thông tin trình bày BCBP, qua đó góp phần cho thịtrường chứng khoán Việt Nam nói chung và sàn chứng khoán Hồ Chí Minh nói riêngphát triển theo minh bạch thông tin, hòa nhập quốc tế và thu hút được nhiều nhà đầutư.
Đo lường mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến việc trình bày và công bố báocáo bộ phận được cụ thể qua 2 câu hỏi nghiên cứu sau:
- Câu hỏi nghiên cứu 1: Mức độ trình bày thông tin báo cáo bộ phận của các
công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Hồ Chí Minh?
- Câu hỏi nghiên cứu 2: Yếu tố nào ảnh hưởng chủ yếu trong việc công bố thông
tin báo cáo bộ phận của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Hồ ChíMinh?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Thông tin BCBP trên báo cáo tài chính đã kiểm toán năm
2014 của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu: Các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí
Minh, là sàn giao dịch chứng khoán lớn nhất Việt Nam về giá trị và khối lượng giaodịch hàng ngày, tập trung các công ty niêm yết đứng đầu trong các ngành Nghiên cứunày không bao gồm các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực đặc thù về tài chínhnhư ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, quỹ đầu tư
Trang 134 Phương pháp nghiên cứu
Tiến trình nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để kiểm định cácyếu tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin BCBP của các công ty niêm yết trên sànchứng khoán Hồ Chí Minh
Các công cụ, phương pháp cụ thể được sử dụng chủ yếu bao gồm:
Công cụ: Sử dụng công cụ SPSS 20 Tác giả tiến hành áp dụng phương pháp hồi quy
tuyến tính bội, xây dựng ma trận hệ số tương quan để kiểm tra mối tương quan và độphù hợp của các biến độc lập đo lường bằng các thang đo
Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát và thu thập thông tin công bố của 120
công ty có trình bày báo cáo bộ phận trên tổng số 390 công ty niêm yết trên sàn chứngkhoán Hồ Chí Minh
Phương pháp thống kê: Sử dụng thống kê mô tả, các chỉ số đo lường mức độ trình
bày báo cáo bộ phận theo VAS 28
Phương pháp so sánh dữ liệu: So sánh các dữ liệu thu thập được từ báo cáo đã kiểm
toán năm 2014 của các công ty có trình bày báo cáo bộ phận
5 Những đóng góp của luận văn
Luận văn của tác giả là một công trình nghiên cứu khoa học Kết quả nghiên cứu củaluận văn sẽ đóng góp một số điểm cơ ban như sau:
- Một là, hệ thống hóa lại các vấn đề liên quan đến trình bày BCBP trên BCTC đã kiểmtoán của các công ty niêm yết tại sàn chứng khoán Hồ Chí Minh
- Hai là, khái quát lịch sự hình thành và quá trình phát triển của BCBP có liên quan đếnnội dung đề tài góp phần đánh giá được thực trạng công bố thông tin BCBPtrên BCTC Qua đó rút ra được những yếu kém mà chế độ kế toán hiện nay cầnthay đổi theo hướng hội nhập quốc tế
- Ba là, đề xuất các giải pháp khả thi để gia tăng mức độ trình bày báo cáo bộ phận trênBCTC đã kiểm toán của các công ty niêm yết tại sàn chứng khoán Hồ Chí Minh
Trang 141.5 Kết cấu của luận văn
Luận văn được thực hiện bao gồm phần mở đầu, danh mục các từ viết tắt, danh mụcbảng biểu, hình vẽ, kết luận và được kết cấu bởi 5 chương chính:
Chương 1: Tổng quan về các nghiên cứu về trình bày báo cáo bộ phận – Trình bày sơlượ với các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, các hướng nghiên cứu trênthế giới
Chương 2: Cơ sở lý thuyết – Nghiên cứu trình bày cơ sở lý thuyết liên quan các kháiniệm về báo cáo bộ phận Xây dựng mô hình phục vụ cho việc nghiên cứu và đặt cácgiả thuyết nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – Trình bày quy trình nghiên cứu, xây dựng vàkiểm định các thang đo nhằm đo lường các khái niệm nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận – Trình bày thông tin về mẫu khảo sát,kiểm định mô hình và đo lường các khái niệm nghiên cứu, phân tích đánh giá các kếtquả có được
Chương 5: Giải pháp và kiến nghị - Trình bày một số giải pháp và kiến nghị nằm nângcao mức độ trình bày BCBP, đồng thời nêu lên những hạn chế nghiên cứu và đề nghịcác nghiên cứu tiếp theo
Trang 15Chương 1 - TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TRÌNH BÀY BÁO
CÁO BỘ PHẬN
Nội dung chính của chương này tác giả cung cấp một bức tranh tổng quan về quá trìnhnghiên cứu các vấn đề có liên quan đến nội dung của luận văn Tác giả tóm tắt nhữngthành công của các nghiên cứu trong và ngoài nước đã tìm hiểu về một số mảng nộidung khác nhau có liên quan đến hướng nghiên cứu của tác giả, qua đó xác định lỗhỏng còn thiếu sót của vấn đề nghiên cứu và nhằm minh chứng cho tính cấp thiết củaluận văn này
1.1 Các nghiên cứu về báo cáo bộ phận
Sự phát triển của các tập đoàn kinh tế trên thế giới bắt nguồn từ các chiến lược đa dạnghóa lĩnh vực kinh doanh và địa lý đã dẫn đến sự gia tăng tính phức tạp của các hoạtđộng kinh doanh gây tác động mạnh mẽ đến các thông tin tài chính cho các nhà đầu tư.Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn cần tìm hiểu sâu hơn thì trên thế giới đã có nhiều nghiêncứu thực nghiệm về báo cáo bộ phận Các nghiên cứu này thường chia làm hai nhómchính Nhóm đầu tiên nghiên cứu báo cáo bộ phận ở khía cạnh các thông tin tự nguyệntrình bày Nhóm thứ hai theo khuynh hướng thảo luận về chuẩn mực mới so với cácchuẩn mực cũ trước đây và đưa ra các bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố và ảnhhưởng của chúng đến việc trình bày báo cáo bộ phận trên thực tế
Nhiều nghiên cứu thuộc nhóm thứ nhất nhận định rằng việc trình bày nhiều thông tinhơn tiềm ẩn cả lợi ích và chi phí Việc trình bày nhiều thông tin hơn sẽ làm giảm mức
độ thông tin bất cân xứng từ đó cải thiện được tính thanh khoản, làm giảm chi phí sởhữu do đó sẽ tạo ra lợi ích cho doanh nghiệp Theo Verrechia (1990) việc trình bàynhiều thông tin hơn có thể giúp làm giảm khả năng định giá công ty thấp hoặc cao hơn
so với giá trị thực Xét về khía cạnh này, các nghiên cứu nhấn mạnh rằng các chuẩnmực trước kia với mức độ tự do khá lớn đã tạo ra sự khác biệt về nội dung của cácthông tin được công bố do đó một số công ty đã giới hạn các thông tin mà họ trình bày
Trang 16để tránh thu hút thêm các đối thủ cạnh tranh vào lĩnh vực kinh doanh đang tạo ra lợinhuận Và việc làm này thường được các công ty áp dụng khi trình bày các thông tinnhạy cảm về kinh doanh Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng các bộ phận có lợi nhuận caothường có dấu hiệu bị che dấu đi để giảm áp lực gia nhập ngành của các đối thủ cạnhtranh tiềm năng.
Đối với nhóm nghiên cứu thứ hai, đã có rất nhiều các nghiên cứu đã tìm hiểu về việc
áp dụng các chuẩn mực kế toán về báo cáo bộ phận Việc áp dụng SFAS 131 thực sự
đã đem lại cho người sử dụng nhiều lợi ích hơn, nhiều nghiên cứu đã cho thấy sự thayđổi chuẩn mực báo cáo bộ phận của Hoa Kỳ đã làm gia tăng số lượng các bộ phậnđươc trình bày trong báo cáo Nghiên cứu của Herrmann, D., & Thomas, W B (2000)
đã tìm hiểu về việc áp dụng SFAS 131 và SFAS 14 và nghiên cứu của Lucchese, M., &
Di Carlo, F (2012) đã nghiên cứu về trình bày bộ phận theo IFRS 8 và IAS 14R bằngchứng từ các công ty niêm yết ở Italia, và cả hai nghiên cứu này đã được sử dụng như
là các bằng chứng thực tế để so sánh sự khác nhau của các phương pháp lập báo cáo bộphận và sau đó đi đến kết luận áp dụng trình bày báo cáo bộ phận tại các quốc gia.IASB cho rằng phương pháp của SFAS 131 đem lại kết quả tốt hơn trong thực tiễntrình bày báo cáo bộ phận Sau khi tìm hiểu về tình hình của các nghiên cứu về BCBP,tác giả xin tóm tắt các công trình sau được các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu, mỗi mộtnghiên cứu đều hướng tới đánh giá các yếu tố tác động đến mức độ trình bày BCBP
1.1.1 Bài báo và nghiên cứu khoa học nước ngoài
Đối với các nghiên cứu được công bố trên các tạp chí quốc tế, tác giả tiến hành lựachọn một số bài nghiên cứu của các tác giả nghiên cứu các ảnh hưởng đến thực trạngtrình bày báo cáo bộ phận tại một số quốc gia Một số bài báo tiêu biểu như:
[1] Pardal, P N., & Morais, A I (2011), ‘Segment Reporting Under IFRS 8–Evidence From Spanish Listed Firms’, XVI Congreso Aeca “Nuevo modelo económico:
Empresa, Mercados y Culturas”, Granada
Trang 17Thông qua việc thu thập các báo cáo thường niên của 150 doanh nghiệp niêm yết tạiTây Ban Nha năm 2009 để khảo sát mức độ tuân thủ của các công ty này theo IFRS 8
và các yếu tố có ảnh hưởng đến việc trình bày báo cáo bộ phận Kết quả nghiên cứu tácgiả đã kết luận 79% công ty niêm yết ở Tây Ban Nha trình bày báo cáo bộ phận dựatheo lĩnh vực kinh doanh Các báo cáo bộ phận theo địa lý là cơ sở để công bố các báocáo cho các công ty lớn Một phần rất nhỏ chiếm 7,6% công ty không trình bày bất kỳthông tin bộ phận và các giải thích chỉ có một bộ phận trong công ty Dựa theo bằngchứng kết quả thu được thì yếu tố quy mô công ty có mức độ quan hệ lớn nhất và yếu
tố tỷ suất sinh lời có mức độ quan hệ nhỏ nhất so với chỉ số công bố thông tin BCBP [2] Pradeepkumar, K (2011) An Appraisal of Segment Reporting Practices of Indian
IT Industry Journal of Modern Accounting and Auditing, 7(10), 1023-1033.
Nghiên cứu đánh giá thực trạng lập và trình bày BCBP của các công ty niêm yết tronglĩnh vực công nghệ thông tin tại Ấn Độ tuân thủ theo chuẩn mực kế toán Ấn Độ số 17
về BCBP Nghiên cứu phát chỉ ra một khoảng cách lớn giữa những mô tả trong chuẩnmực và thực tế Kết quả thống kê cho thấy đa số các công ty trình bày BCBP chính yếutheo lĩnh vực kinh doanh và chỉ trình bày số lượng có giới hạn các thông tin mà chuẩnmực bắt buộc trình bày Các công ty niêm yết trong lĩnh vực này vẫn chưa tuân thủtoàn bộ các yêu cầu bắt buộc trình bày của chuẩn mực Chỉ có 13% số lượng công tytrong mẫu nghiên cứu trình bày toàn bộ các thông tin bắt buộc trình bày Các thông tin
tự bộ phận tự nguyện là những thông tin đem lại giá trị cao cho cổ đông; hữu ích trongviệc duy trì quan hệ với nhà đầu tư, nhà cung cấp, ngân hàng, nâng cao hình ảnh công
ty trước công chúng và làm tăng đánh giá của thị trường lại được các công ty trình bàyrất ít, và không thể sử dụng các thông tin này được trình bày trên BCBP Nghiên cứukết luận các công ty chỉ áp dụng các chuẩn mực chưa hoàn toàn và tác giả cho rằngviệc áp dụng IFRS 8 tại Ấn Độ từ tháng 4 năm 2011 sẽ cải thiện được chất lượng thôngtin BCBP đồng thời sẽ có sự thay đổi quan điểm của nhà quản trị trong việc chia sẻ cácthông tin với các nhà đầu tư Đây sẽ là cách giúp cho nhà đầu tư đánh giá công ty và
Trang 18các bộ phận hiệu quả hơn và quyết định nắm giữ các khoản đầu tư tối ưu nhất.
[3] Lucchese, M., & Di Carlo, F (2012) An analysis of segment disclosure under IFRS
8 and IAS 14R: Evidence from Italian listed companies Working paper, University of
Naples
Nghiên cứu khảo sát ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS8 trong năm đầu tiên và nămtiếp theo thông qua khảo sát dữ liệu của 95 công ty niêm yết tại Italia Kết quả nghiêncứu cho thấy các công ty niêm yết tại Italia ít thay đổi cách trình bày các thông tin bộphận quản trị chỉ mới thể hiện được trên lý thuyết Về mối liên hệ giữa mức độ trìnhbày báo cáo bộ phận và các nhân tố của doanh nghiệp, kết quả nghiên cứu cho thấy quy
mô và mức sinh lời là hai yếu tố có ảnh hưởng đến việc trình bày
[4] Alfaraih, M M., & Alanezi, F S (2011) ‘What explains variation in segment
reporting - evidence from Kuwait’, International Business & Economics Research
Journal (IBER), 10(7), 31-46
Nghiên cứu đánh giá mức độ thực hiện của các công ty niêm yết tại sàn chứng khoánKuwait và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ trình bày báo cáo bộ phận Nghiên cứukhảo sát 123 công ty niêm yết tại Kuwait cho thấy mực độ tuân thủ trung bình là 56%,các công ty có quy mô lớn hơn, lâu đời hơn, có đòn bẫy tài chính cao hơn, khả năngsinh lời cao hơn và có kiểm toán độc lập là các công ty thuộc nhóm Big-4 sẽ có mức độtrình bày thông tin bộ phận cao hơn các công ty khác
[5] Benjamin, S J., Muthaiyah, S., Marathamuthu, M S., & Murugaiah, U (2010) A study of segment reporting practices: a Malaysian perspective Journal of Applied
Business Research (JABR), 26(3)
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả để khảo sát một số công ty lớn trong
5 lĩnh vực kinh doanh bao gồm: Điện thoại và viễn thông, nước giải khát, truyền thông
in ấn, truyền thông điện tử, và tiện ích xã hội Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ các công tykhông trình bày báo cáo bộ phận cũng khá cao, ngoài ra các công ty có tỷ suất lợinhuận cao lại là các công ty không trình bày báo cáo bộ phận Nghiên cứu cũng đề cập
Trang 19các giải pháp để khắc phục tình trạng không trình bày báo cáo bộ phận tại nước này Các bài báo khoa học của các cá nhân, tập thể đã nghiên cứu cho thấy tầm quan trọngcảu việc áp dụng IFRS 8 trong việc trình bày thông tin báo cáo bộ phận có ảnh hưởngđến quyết định của người sử dụng thông tin Và các nghiên cứu tại các quốc gia khácnhau cho thấy việc áp dụng IFRS 8 trong trình bày BCBP là chưa hoàn toàn Do đó,người viết đề tài nghiên cứu này quyết định chọn đề tài ngày để thực hiện khảo sát thực
tế việc trình bày BCBP trên BCKT của các công ty niêm yết tại Việt Nam để từ đóđánh giá các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp để gia tăng mức độ áp dụngchuẩn mực trình bày IFRS 8
1.1.2 Bài báo và các nghiên cứu trong nước
Để thực hiện nghiên cứu, tác giả xin đề cập tới các nghiên cứu trước đây đã nói về vấn
đề thực trạng trình bày BCBP của các công ty niêm yết tại Việt Nam Tác giả xin trìnhbày tóm tắt nội dung một số nghiên cứu, quan điểm của các nghiên cứu này và đưa ranhận xét cá nhân của tác giả
[1] Nguyễn Thị Phương Thúy (2011), “Hoàn thiện báo cáo bộ phận trong kế toán Việt
Nam theo hướng phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế” – luận văn thạc sĩ kinh tế năm
2011, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Mục tiêu đề tài tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng trình bày báo cáo bộ phận theo CMKTViệt Nam cũng như CMKT quốc tế, đề xuất giải pháp hoàn thiện CMKT Việt Nam vềBCBP theo hướng phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế Phân tích tác động của nămnhân tố độc lập: quy mô công ty, mức độ phân tán quyền sở hữu, đòn bẩy tài chính, khảnăng sinh lời và công ty kiểm toán Các biến độc lập này tác động đến biến phụ thuộc
là chất lượng thông tin báo cáo bộ phận được đo bằng logarit của số lượng chỉ tiêuđược báo cáo cho mỗi bộ phận hoạt động Mẫu nghiên cứu là báo cáo tài chính đượckiểm toán của 118 công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh.Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là thống kê mô tả, kiểm định hệ số tương quan,kiểm định trung bình Kết quả nhân tố khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính và độ phân
Trang 20tán quyền sở hữu có mối tương quan với việc trình bày BCBP, hai nhân tố còn lạikhông có sự tương quan.
[2] Trần Thị Thúy An (2013), “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện trình bày và công
bố báo cáo bộ phận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TPHCM”
- luận văn thạc sĩ năm 2013, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu thực trạng trình bày báo cáo bộ phận của các công tyniêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh qua đó xác định các yếu tố ảnhhưởng đến việc trình bày báo cáo bộ phận theo VAS 28 của các công ty niêm yết Cácyếu tố được tác giả khảo sát biến độc lập gồm có: quy mô công ty, mức phân tán quyền
sở hữu, công ty kiểm toán, đòn bẩy tài chính, tỷ suất sinh lời Biến phụ thuộc là chấtlượng báo cáo bộ phận và số lượng báo cáo bộ phận Phương pháp nghiên cứu là thống
kê mô tả, kiểm định tương quan giữa các biến Kết quả kiểm định cho thấy không cóyếu tố nào có sự tượng quan từ đó đưa ra kết luận các nhân tố tác động lên số lượng vàchất lượng báo cáo bộ phận theo các giả thuyết đã xây dựng không được hỗ trợ trongtrường hợp xem xét ảnh hưởng của chúng lên việc lập báo cáo bộ phận tại thị trườngchứng khoán Hồ Chí Minh trong năm 2012
[3] Nguyễn Thị Kim Nhung (2013), “Vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế để hoànthiện việc trình bày báo cáo bộ phận của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoánViệt Nam” luận văn thạc sĩ năm 2013, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Nghiên cứu này tập trung đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập và trình bày báocáo bộ phận của các công ty trên sàn chứng khoán Việt Nam và từ đó xác định đượccác hạn chế còn tồn tại Các nhân tố được tác giả xác định là: biến độc lập gồm có quy
mô công ty, đòn bẩy tài chính, thời gian hoạt động, mức độ tăng trưởng, công ty kiểmtoán, khả năng sinh lời và lĩnh vực kinh doanh thuộc nhóm công nghiệp chế biến vàbiến phụ thuộc là mức độ trình bày báo cáo bộ phận Mẫu nghiên cứu là báo cáo tàichính đã kiểm toán của 176 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Phương pháp nghiên cứu thống kê mô tả, kiểm định sự tương quan của biến phụ thuộc
Trang 21và biến độc lập thể hiện thông qua các tham số hồi quy và được ước lượng bằngphương pháp bình phương bé nhất (OLS) Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến độclập thời gian hoạt động, tỷ suất sinh lời, công ty kiểm toán và lĩnh vực kinh doanh côngnghiệp chế biến có sự tương quan với biến phụ thuộc và có ý nghĩa thống kê Từ cáckết quả nhận được tác giả đề ra các giải pháp để hoàn thiện việc trình bày báo cáo bộphận tại Việt Nam.
[4] Phạm Thị Thủy (2013), “Trình bày và sử dụng thông tin về báo cáo bộ phận theoVAS 28 tại các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”nghiên cứu khoa học 2013, Tạp chí nghiên cứu phát triển Đại học kinh tế quốc dân.Nghiên cứu này tập trung giới thiệu về các qui định trình bày thông tin về các bộ phậntheo chuẩn mực kế toán Việt Nam và trình bày thực trạng về trình bày BCBP tại cáccông ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Từ thực trạng nghiên cứuđược tác giả đã chỉ ra hạn chế của VAS 28 là giới hạn các bộ phận báo cáo chỉ là theolĩnh vực kinh doanh hoặc khu vực địa lý đã dần tới thực tế có nhiều doanh nghiệp coitoàn bộ doanh nghiệp là một phận duy nhất, từ đó không trình bày báo cáo bộ phậntrong thuyết minh báo cáo tài chính Và tác giả đề xuất VAS 28 nên được sửa đổi theohướng phù hợp với IFRS 8 nhằm gia tăng số lượng các doanh nghiệp có báo cáo bộphận và tăng số lượng bộ phận báo cáo của mỗi doanh nghiệp từ đó cung cấp nhiềuthông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính
1.2 Các vấn đề còn tồn đọng trong các nghiên cứu trước đó
1.2.1 Khái quát những yếu kèm và bất cập trong thực tiễn
Để thực hiện chính sách kinh tế đổi mới, Bộ tài chính đã cho ra đời các chuẩn mực kếtoán để có thể quản lý hệ thống kế toán Việt Nam Cùng với sự phát triển mạnh mẽ củacác công ty hoạt động đa ngành nghề và khu vực địa lý thì hệ thống báo cáo kế toáncũng phát triển để đáp ứng nhu cầu đó Nhu cầu thông tin tài chính đối với nhiều đốitượng kinh doanh và đầu tư là vô cùng quan trọng và việc đảm bảo thông tin minh bạchcho các thông tin này là một yêu cầu cấp bách Một trong những chỉ tiêu quan trọng
Trang 22cần được trình bày báo cáo tài chính là trình bày BCBP trên báo cáo tài chính của cáccông ty niêm yết Thông tin về các bộ phận nếu được cung cấp một cách hợp lý sẽ hữuích đối với nhiều đối tượng sử dụng báo cáo tài chính doanh nghiệp đã kiểm toán Tuynhiên dù ra đời từ năm 2005, nhưng việc áp dụng VAS 28 trong thực tiễn còn nhiềuđiểm bất cập Do đó, để có thể cạnh tranh trên thị trường hội nhập quốc tế thì thông tintrên báo cáo tài chính kiểm toán trên thị trường niêm yết cần phải được nâng cao theohướng chuẩn mực quốc tế
1.2.2 Các vấn đề tồn đọng trong nghiên cứu
Qua công việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu có liên quan và xem xét các bất cậpcủa thực tiễn Tác giả xin tóm tắt lại lỗ hỏng cũng như thiếu sót để làm tiền đề cho đềtài nghiên cứu của tác giả như sau:
+ Đối với công trình nghiên cứu nước ngoài
Các công trình nghiên cứu mà tác giả chọn lọc đã chỉ ra được các nhân tố ảnh hưởnglên việc trình bày BCBP Tuy nhiên, các nghiên cứu này bị giới hạn ở các quốc gia cónền kinh tế phát triển.Và việc trình bày BCBP thường được trình bày theo IFRS 8 làchuẩn mực mới nhất với nhiều yêu cầu hơn về trình bày BCBP Đối với môi trườngkinh tế Việt Nam, thì việc trình bày BCBP vẫn theo VAS 28 từ năm 2005 chưa có sựthay đổi nhiều so với chuẩn mực kế toán thế giới hiện hành do đó về đánh giá thựctrạng áp dụng chuẩn mực trình bày BCBP và xem xét ảnh hưởng của các nhân tố làmột vấn đề cần được nghiên cứu cần thiết
+ Đối với công trình nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu đã kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến trình bày BCBP theo VAS 28tại thị trường Việt Nam Tuy nhiên, dữ liệu để nghiên cứu của các tác giả được sử dụng
là vào năm 2012 và năm 2013 Hiện nay với việc vừa gia nhập hiệp định đối tác xuyênThái Bình Dương thì việc hội nhập kế toán theo hướng quốc tế hóa là vô cùng quantrọng Để đáp ứng được các yêu cầu của các chủ đầu tư nước ngoài thì việc trình bàythông tin của các công ty niêm yết phải được trình bày theo hướng chuẩn mực kế toán
Trang 23quốc tế Để đánh giá thực trình bày BCBP theo VAS 28 hiện tại của các công ty niêmyết từ đó có các giải pháp để hoàn thiện và nâng cao số lượng trình bày BCBP là côngviệc cần được nghiên cứu Do vậy, tác giả đánh giá việc sử dụng dữ liệu tài chính năm
2014 là phù hợp để nghiên cứu thực trạng trình bày BCBP và các nhân tố ảnh hưởng
TÓM TẮT
Từ các nghiên cứu có liên quan đến các nhân tố tác động đến việc trình bày báo cáo bộphận trên báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán, tác giả tiếp tục kế thừa các nhân tốảnh hưởng gồm nhân tố: Quy mô công ty, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, tốc độphát triển, mức độ phân tán quyền sở hữu, công ty kiểm toán
Tóm lại, đề tài nghiên cứu của tác giả muốn trình bày lại một cách tổng thể các nghiêncứu trong và ngoài nước nhằm mục đích xác định các nhân tố tác động lên việc trìnhbày báo cáo bộ phận trên báo cáo tài chính đã kiểm toán của các công ty niêm yết trênthị trường chứng khoán Hồ Chí Minh năm 2014 Từ đó để cho người đọc có cái nhìnkhái quát về thực trạng áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày báo cáo bộphận tại Việt Nam và giải pháp để cải thiện mức độ áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tếtiến tới hội nhập quốc tế trong tương lai
Trong chương 2, nghiên cứu sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết về BCBP và các nhân tốtác động lên việc trình bày BCBP được thể hiện trong chương này
Trang 24Chương 2 - CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài trình bày báo cáo bộ phận Trong chươngnày tác giả sẽ giới thiệu về các cơ sở lý thuyết và từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu cho
đề tài này
2.1 Khái niệm báo cáo bộ phận
Theo Ijiri (1995), “ Báo cáo bộ phận có thể được định nghĩa là các số liệu tài chínhriêng của các đơn vị, công ty con, hoặc những bộ phận khác nhau của một công ty”.Người sử dụng báo cáo tài chính, cộng đồng chuyên gia phân tích và các nhà nghiêncứu được hỗ trợ các thông tin bổ sung về chia tách các bộ phận thông qua việc tìm hiểubáo cáo bộ phận Tất cả các công ty niêm yết phải công bố lợi nhuận và chi phí bộphận với những dữ liệu và thông tin có liên quan, chẳng hạn như doanh thu bên ngoài
và nội bộ, tài liệu các khoản mục không dùng tiền mặt, thu nhập và chi phí… Bên cạnh
đó, công ty này cũng được yêu cầu phải cung cấp cho người dùng để hiểu sự khác biệtgiữa thông tin hợp nhất và các thông tin được cung cấp dưới báo cáo bộ phận
Theo những nguyên tắc được chấp nhận chung (GAAP), “ Báo cáo bộ phận là báo cáocủa các bộ phận hoạt động ở một công ty trong việc trình bày kèm theo báo cáo tàichính của nó” Báo cáo bộ phận cần thiết cho các công ty đại chúng và không cần thiếtcho những công ty tư nhận Báo cáo bộ phận được thiết kế để cung cấp thông tin chonhững nhà đầu tư và chủ nợ mà có liên quan đến các kết quả tài chính của công ty Quathông tin về báo cáo bộ phận, họ có thể sử dụng làm cơ sở cho các quyết định liên quanđến công ty Một bộ phận tham gia vào các hoạt động kinh doanh của công ty mà từ đó
bộ phận này có thể kiếm thu nhập và phải chịu chi phí phát sinh, có thông tin tài chínhriêng biệt sẵn có, đồng thời kết quả thường xuyên được xem xét bởi giám đốc điềuchỉnh của tổ chức thông qua việc đánh giá hoạt động và phân bổ nguồn lực thì cần thựchiện theo các quy tắc để xác định các thông tin cần phải được báo cáo
Trang 25Như vậy, các khái niệm báo cáo bộ phận nhìn chung cho thấy báo cáo này được trìnhbày nhằm nâng cao tính hữu ích của thông tin được đưa ra, làm cơ sở hỗ trợ thêm choviệc xem xét và đưa ra quyết định của những người sử dụng báo cáo tài chính củadoanh nghiệp bên cạnh việc xem xét các số liệu kinh tế tài chính tổng quát Những kháiniệm trên hầu hết hướng đến việc xem xét báo cáo bộ phận dựa theo mục đích mà báocáo này hướng đến, riêng quan điểm của mình, tác giả cho rằng báo cáo bộ phận là báocáo trình bày chi tiết về những thông tin kinh tế tài chính cần thiết mang tính trọng yếu,ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính mà đã được công bố sốliệu tổng quát trước đó.
2.2 Báo cáo bộ phận theo chuẩn mực kế toán quốc tế
2.2.1 Lịch sử ra đời các chuẩn mực kế toán quốc tế về báo cáo bộ phận
Trong phần này, tác giả sẻ tổng hợp theo một trình tự thời gian những sự kiện quantrọng được xem xét trong quá trình phát triển của báo cáo bộ phận Để rõ ràng hơn,những sự kiện được theo dõi trên cả lãnh thổ Mỹ (FASB) và những sự kiện được thựcthi bởi IASB
Theo Skousen (1970) lịch sử của báo cáo bộ phận quay ngược lại tháng 9 năm 1964.Đây là thời điểm Tiểu ban chống độc quyền của Ủy ban Thượng viện Hoa Kỳ bắt đầubuổi điều trần về tư pháp liên quan đến tập trung kinh tế trong ngành công nghiệp Mỹ.Trong suốt năm này, các cuộc họp đã diễn ra giữa SEC và đại diện các nhà phân tíchtài chính và kế toán trong các ngành công nghiệp Mỹ Vào cuối năm 1966, một dự ánmang tên FEI “ Báo cáo tài chính của những công ty đa dạng” đã được thiết lập
Tháng 12 năm 1974 IASC ban hành E3, một bản dự thảo tiếp xúc của chuẩn mực vềbáo cáo tài chính hợp nhất, trong đó ngụ ý rằng các báo cáo tài chính của các công tycon khác nhau nên được trình bày kèm theo trong báo cáo tài chính hợp nhất Tuynhiên, E3 dù bị bắt buộc bởi IASC nhưng lại chứa đựng những yêu cầu phân chia bộphận được diễn đạt khá sơ sài
Trang 26Năm 1976 SFAS 14:’ Báo cáo tài chính cho các bộ phận của doanh nghiệp kinhdoanh” Đây thực sự là chuẩn mực kế toán đầu tiên liên quan đến báo cáo về thông tin
bộ phận được ban hành sau những kêu gọi của các tổ chức đại diện cho người sử dụngbáo cáo tài chính như Liên đàon chuyên viên phân tích tài chính, nhóm nghiên cứu kếtoán quốc tế, Hội đồng chứng khoán New York Chuẩn mực này đòi hỏi công bố thôngtin ở các hai bộ phận là theo lĩnh vực kinh doanh và phạm vị địa lý
Tháng 3 năm 1980 IASC ban hành ED E15 “ Báo cáo thông tin tài chính bởi bộ phận”
ra đời, dự thảo này đã được ban hành dựa trên SFAS số 14 của Mỹ, theo phương pháptiếp cận rủi ro và lợi ích có được, có nghĩa là việc đưa ra quyết định dựa trên cơ sởchính là sự phân chia, khi đó sự lựa chọn theo cách phân chia dựa trên các sản phẩm,dịch vụ liên quan hoặc khu vực địa lý sẽ xác định hầu hết các rủi ro và lợi ích của côngty
Năm 1992 Văn bản định vị của AIMR ra đời liệt kê những thiếu sót lặp đi lặp lại trongcác báo cáo bộ phận hiện nay ở hầu hết các báo cáo tài chính được công bố ở Mỹ Năm
1994 AICPA tổ chức một ủy ban đặc biệt về báo cáo tài chính Ủy ban này đã đượcthành lập như một câu trả lời cho văn bản định vị năm 1992 của AIMR nhằm để điềutra nhu cầu thông tin của các nhà đầu tư và chủ nợ
Tháng 12 năm 1995 IASC đã công bố dự thảo tiếp xúc E51 “ Báo cáo thông tin tàichính bởi bộ phận” mà qua đã thấy có sự thay đổi trong cách xác định bộ phận đượccông bố Dự thảo này cho thấy những thay đổi đáng kể về việc công bố thông tin tàichính của các sản phẩm và dịch vụ mà công ty cung cấp, cũng như thông tin về cáchoạt động trên toàn thế giới của họ
Năm 1997 FASB thay thế SFAS 14 thành SFAS số 131 “ Công bố về các bộ phận củamột doanh nghiệp và thông tin liê nquan” vì thông qua một nghiên cứu được thực hiệnFASB phát hiện thấy nhiều công ty đã không công bộ thông tin bộ phận được mongđợi Họ lạm dụng sự không rõ ràng trong các định nghĩa trong SFAS 14 để báo cáomình là một công ty chỉ một bộ phận duy nhất
Trang 27Tháng 8 năm 1997 IASC sửa đổi IAS 14 thành IAS 14R IAS 14 “ Báo cáo bộ phận”thường bị các chỉ trích về ngôn ngữ mềm mại và yêu cầu chung chung Nó cho phépquá nhiều giải thích khác nhau cũng như không cung cấp đầy đủ hướng dẫn và địnhnghĩa chi tiết, đồng thời không yêu cầu tiết lộ dữ liệu mô tả về các bộ phận Do đóIASB đã quyết định sửa đổi chuẩn mực này đối với một số vấn đề gồm quy địnhngưỡng định lượng rõ ràng để xác định các phần được báo cáo, thay đổi định nghĩarộng thành các định nghĩa rõ ràng về tất cả thuyết minh và cung cấp những hướng dẫn
cụ thể hơn Ngày 1 tháng 7 năm 1998 là ngày hiệu lực của IAS 14R
Vào tháng 9 năm 2002, FASB và IASB đã thực hiện một thỏa thuận để loại bỏ nhiều
sự khác biệt giữa US GAAP và IFRS Năm 2005, dự án hội tụ giữa IFRS và US GAAPdiễn ra Việc gia tăng mạnh trong dự án hội tụ đã xảy ra bởi vì Nghị viện châu Âu bỏphiếu vào năm 2002 chấp thuận một quy định yêu cầu tất cả các công ty EU niêm yếtphải chuẩn bị báo cáo hợp nhất theo quy định của IAS bằng cách mới nhất trong năm2005
Ngày 19 tháng 1 năm 2006 IASB ban hành Dự thảo tiếp xúc số 8 “ Bộ phận hoạtđộng” Theo đề nghị của IFRS, nó sẽ thay đổi cho IAS 14R hiện có Sự khác biệt lớngiữa dự thảo này và IAS 14R là sự thay thế phương pháp tiếp cận rủi ro và lợi ích bằngcách tiếp cận theo phương pháp quản lý Cho dù nó được sử dụng bởi những nhà quản
lý trong việc ra quyết định, chuẩn mực cũng đòi hỏi đơn vị phải báo cáo thông tin vềdoanh thu có được từ các sản phẩm dịch vụ của mình, các quốc gia mà nó kiếm đượcdoanh thu, tài sản đang nắm giữ và những khách hàng lớn
Ngày 30 tháng 11 năm 2006 ra đời IFRS 8 “ Bộ phận hoạt động” Trong ED 8, IASB
đã đề nghị mở rộng phạm vị của IFRS cho tất cả các đơn vị có trách nhiệm công khai (/hiểu là công ty phát hành cổ phiếu) và không chỉ các đơn vị có chứng khoán được giaodịch công khai Ngày 1 tháng 1 năm 2009 là ngày có hiệu lực IFRS 8
Trang 282.2.2 Lợi ích và chỉ trích xung quanh báo cáo bộ phận
Các tổ chức với tính chất đa dạng trong lĩnh vực kinh doanh và địa bàn hoạt động sẽphải gánh chịu mức độ khác biệt về các rủi ro và lợi ích Trong trường hợp này, báocáo bộ phận thiết lập các nguyên tắc để báo cáo thông tin tài chính về các loại sảnphẩm, dịch vụ khác nhau và các khu vực địa lý khác nhau mà một doanh nghiệp đanghoạt động Theo Prather-Kinsey, J., & Meek, G K (2004) thì những yêu cầu tiết lộthông tin tách biệt, báo cáo bộ phận cung cấp cho người sử dụng báo cáo tài chính mộtcái nhìn tốt hơn về hiệu suất và triển vọng của các bộ phận trong công ty thay vì củatoàn bộ tổ chức Các tiêu chuẩn báo cáo bộ phận cung cấp sẽ cho các thông tin nội bộquan trọng, rất cần thiết với các bên liên quan Dù là một công ty nhỏ hay một công tylớn, các thông tin theo yêu cầu của người sử dụng dường như giống nhau Herrmann,D., & Thomas, W B (2000) đã chỉ ra rằng có sự công bằng khi tất cả các công ty cạnhtranh đều tiết lộ những thông tin tương tự về số lượng và chất lượng
Tuy nhiên, vẫn còn những chỉ trích về báo cáo bộ phận từ các khai báo trong báo cáotài chính và chất lượng thông tin được cung cấp bởi các công ty “ Nó có thể là khôngthích hợp để xem các bộ phận riêng lẻ nếu sự thành công của một bộ phận này là cóliên quan và phụ thuộc vào các hoạt động kinh doanh khác” Barth, M E., Landsman,
W R., & Lang, M H (2008) Nếu người dùng chỉ có thể xem các bộ phận riêng lẻ họ
có thể bỏ lỡ một số mối quan hệ quan trong của doanh nghiệp và đưa ra quyết địnhkinh tế sai lầm đối với công ty Tuy nhiên, thông tin bộ phận cho phép người dùng xácđịnh các bộ phận được thực hiện tốt hơn bằng cách so sánh kết quả của từng bộ phận
Ví dụ, nó cho các nhà đầu tư thấy phần nào của công ty tốt hơn và phần nào sẽ có giátrị để đáng đầu tư hơn Vì vậy họ sẽ hiểu rõ được các hoạt động kinh doanh trong thực
tế, dẫn đến sự thành công của đơn vị
Việc cung cấp thông tin bộ phận có thể làm phát sinh các chi phí khác để quản lý nó vàyêu cầu một hệ thống quản lý tương đối lớn Mặc dù vậy, việc cung cấp thông tin bộphận cũng có giá trị cho chính công ty Nó có thể nâng cao hình ảnh công ty bằng cách
Trang 29cung cấp những trình bày chi tiết và tốt hơn về tình hình kinh tế chung cảu đơn vị.Trình bày hiệu suất tốt hơn sẽ chứng minh có sự phối hợp và tổ chức tốt trong các hoạtđộng kinh doanh giữa các bộ phận Do đó, thông tin này sẽ hữu ích cho người sử dụng
vì nó làm giảm sự không chắc chắn về công ty Người sử dụng có thể thấy trình độquản lý trong việc đưa ra quyết định và làm thế nào mà các doanh nghiệp sẽ phát triển.Nói cách khác, nó cho thấy kết quả của việc quản lý của các nhà quản lý và tránh thiệthại cho nhà đầu tư dựa trên các thông tin tài chính
Như vậy, mặc dù một số quan điểm trái chiếu, ưu nhược điểm cũng như những chỉtrích và hạn chế của báo cáo bộ phận vẫn tồn tại, song ta không thể phủ nhận lợi íchkhá rõ mà loại báo cáo này mang lại Do đó, người sử dụng báo cáo bộ phận cần cónhững nhìn nhận đúng đắn về vai trò cũng như lợi ích mà báo cáo bộ phận mang đếnnhằm đưa ra quyết định tốt nhất trong việc xem xét báo cáo tài chính tại đơn vị, làm cơ
sở cho những nhận định chuyên sâu tại đơn vị báo cáo
2.3 BÁO CÁO BỘ PHẬN THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM
2.3.1 Quá trình hình thành
Từ những năm 1957, Nhà nước đã ban hành chế độ kế toán cho các ngành công nghiệp
và xây dựng cơ bản Năm 1961, Chính phủ ban hành Điều lệ tổ chức kế toán Nhànước Năm 1988, Pháp lệnh kế toán thống kê ra đời là văn bản pháp luật cao nhất tronglĩnh vực kế toán – theo Nguyễn Đình Hựu (2008) Từ năm 1996, ngoài việc ban hànhChế độ kế toán cho các doanh nghiệp nói chung, Bộ tài chính đã ban hành Chế độ kếtoán riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Như vậy, cả thời kỳ này, Việt Nam không cóchuẩn mực kế toán mà chỉ có chế độ kế toán gồm những quy định và hướng dẫn về kếtoán cho các doanh nghiệp
Đến năm 2000, các chuẩn mực kế toán đầu tiên được soạn thảo ở Việt Nam cũng làthời điểm chứng kiến nhiều biến động có ảnh hưởng lớn tới hoạt động kế toán cả trênthế giới và tại Việt Nam Năm 2000 cũng được xem là năm đánh dấu mốc son chonhiều thành công sau hơn ba mươi năm nỗ lực không ngừng nghỉ của IASC trong việc
Trang 30thúc đẩy sự tiếp nhận của cộng đồng quốc tế đối với các chuẩn mực kế toán quốc tế.IASC đã nhận được sự hậu thuẫn từ IOSCO cũng như từ Cao Ủy Châu Âu với tuyên
bố sử dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế làm điều kiện cho việc niêm yết chứngkhoán ở tất cả các nước thành viên của EU Năm 2000 cũng là năm chứng kiến sự rađời của thị trường chứng khoán Việt Nam, đánh dấu bằng sự kiện khai trương Trungtâm giao dịch chứng khoán TP.HCM vào ngày 20 tháng 7 năm 2000
Sự ra đời của thị trường chứng khoán tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam cóthêm một kênh thu hút vốn bằng việc niêm yết trên thị trường chứng khoán Tuy nhiên,
để có thể thu hút vốn đầu tư thì các doanh nghiệp phải có những báo cáo tài chính phảnánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính của doanh nghiệp Nhu cầu đó đòi hỏi sự rađời của chuẩn mực kế toán ở Việt Nam để thống nhất cách hạch toán kế toán của cácdoanh nghiệp
Từ năm 2001 đến cuối năm 2005, Bộ tài chính bắt đầu ban hành lần lượt hai mưới sáuVAS sau năm đợt và các thông tư hướng dẫn đi kèm Các chuẩn mực kế toán toán nàyđược nghiên cứu và soạn thảo bởi Ban chỉ đạo nghiên cứu, soạn thảo chuẩn mực kếtoán Việt Nam gồm mười ba thành viên đến từ các cơ quan trực thuộc Bộ tài chính, cáctrường Đại học và Hội kế toán Việt Nam Vụ chế độ kế toán là đơn vị thường trực củacác Ban chỉ đạo và các tổ chức soạn thảo chuẩn mực, có nhiệm vụ tổ chức, triển khaiviệc soạn thảo, tiếp thu ý kiến và hoàn chỉnh trình Bộ tài chính Các chuẩn mực kế toánViệt Nam cũng đã được dịch ra tiếng anh nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tưnước ngoài trong việc tìm hiểu hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam Việc xây dựngcác VAS dựa trên việc kế thừa và điều chỉnh các chuẩn mực kế toán quốc tế Cụ thể,các VAS đã được dựa theo nội dung các IAS/IFRS nhưng đã được soạn thảo lại nhằmphù hợp với đặc điểm và tình hình thực tế của Việt Nam
Ngày 15 tháng 2 năm 2005, Bộ tài chính ban hành Quyết định số 12/2005/QĐ-BTCbao gồm sáu chuẩn mực kế toán Việt Nam ( ban hành trong đợt bốn), theo đó chuẩnmực kế toán Việt Nam số 28 (VAS 28) “ Báo cáo bộ phận” ra đời Sau đó, thông tư số
Trang 3120 được Bộ tài chính ban hành ngày 20/3/2006 nhằm hướng dẫn chi tiết việc thực hiệnsáu chuẩn mực này.
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 28 – Báo cáo bộ phận (VAS 28) ra đời năm 2005 trên
cơ sở tuân thủ 100% theo IAS 14 (PricewaterhouseCooper, 2008b, tr.17) Mặc dù chưa
có những cập nhật theo IFRS 8, với việc quy định nguyên tắc và phương pháp thiết lậpcác thông tin tài chính theo bộ phận (lĩnh vực kinh doanh hoặc/và các khu vực địa lý)khác nhau của doanh nghiệp, VAS 28 vẫn có ý nghĩa trong việc giúp các đối tượng sửdụng báo cáo tài chính đánh giá đúng các rủi ro và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp và
có những nhận xét xác đáng về doanh nghiệp
2.3.2 Chuẩn mực chung
Trong chuẩn mực kế toán số 01 “ Chuẩn mực chung”, các yêu cầu cơ bản đặt ra đối với
kế toán để đảm bảo thông tin là hữu ích khi thực hiện gồm trung thực, khách quan, đầy
đủ, kịp thời, dễ hiểu và có thể so sánh được Xem xét với cơ sở của bản chất báo cáobáo cáo bộ phận đã được đề cập phần trên ta thấy rằng không có đặc điểm thích hợpđược đề cập
Các chuẩn mực kế toán trên thế giới hầu như được giải thích thông qua khuôn mẫu lýthuyết kế toán nhưng ở Việt Nam, khuôn mẫu lý thuyết kế toán không được xây dựng
mà thay vào đó, việc xem xét chuẩn mực chung được coi như thay thế cho khuôn mẫu
lý thuyết kế toán, điều này đã dẫn những hoài nghi về VAS 01 rằng liệu nó có thể làm
cơ sở cho các chuẩn mực khác không khi bản thân cũng là một chuẩn mực kế toán, đã
có rất những nghiên cứu đề cập đến việc cập nhật, bổ sung những chuẩn mực kế toánnói chung cũng như VAS 01 nói riêng theo hướng phù hợp với thông lệ kế toán quốctế
Qua việc xem xét thay thế trên, ta thấy yếu tố chất lượng thích hợp đã bị bỏ qua trongVAS 01 Lý giải cho hạn chế này, ta xem xét về cơ sở hình thành các khuôn mẫu lýthuyết kế toán quốc tế và VAS01 (xem như tương ứng cho khuôn mẫu lý thuyết kếtoán Việt Nam) Nền tảng của IAS ra đời năm 1989 cũng như SFAC ra đời năm 1987
Trang 32khi mà các IAS cũng như các SFAS đã được ban hành khá nhiều( đã có hai mươi sáuIAS ra đời hoặc đã ban hành đến SFAS số 24), điều này cho thấy các chuẩn mực kếtoán quốc tế được xây dựng sau quá trình tích lũy kinh nghiệm để xem xét lại cơ sở lýluận Đối chiếu với Việt Nam, VAS01 ra đời trong giai đoạn các chuẩn mực kế toáncủa quốc gia vẫn tiếp tục được xem xét và hoàn thiện, dù trên cơ sở tiếp cận nhữngchuẩn mực kế toán quốc tế và điều chỉnh lại cho phù hợp với đặc thù với đặc thù quốcgia nhưng khó tránh khỏi những sai sót, cũng như bỏ qua những đặc điểm chất lượng lýgiải cho việc hình thành các chuẩn mực kế toán, trong trường hợp này là VAS 28 Vìvậy, trong trường hợp lý giải cho VAS 28, chuẩn mực chung vẫn còn chưa đầy đủ đểgiúp làm rõ bản chất của báo cáo bộ phận Vấn đề bổ sung tính thích hợp là một trongnhững yêu cầu cần thiết phải quan tâm khi chúng ta hướng đến tính thống nhất với cácchuẩn mực kế toán quốc tế.
2.3.3 Nội dung chuẩn mực VAS 28
Mục đích chuẩn mực
Chuẩn mực nhằm hỗ trợ người sử dụng báo cáo tài chính hiểu rõ về tình hình hoạtđộng các năm trước của doanh nghiệp, đánh giá đúng về những rủi ro và lợi ích kinh tếcủa doanh nghiệp và đưa ra những đánh giá hợp lý về doanh nghiệp Chuẩn mực này
áp dụng cho việc lập và trình bày đầy đủ hơn báo cáo tài chính năm phù hợp với cácChuẩn mực kế toán Việt Nam
Bộ phận cần báo cáo
Một bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh hoặc một bộ phận theo khu vực địa lý được xem
là một bộ phận cần báo cáo phụ thuộc vào đánh giá của Ban giám đốc doanh nghiệpdựa trên việc xem xét mục tiêu của việc lập báo cáo tài chính theo bộ phận quy địnhtrong Chuẩn mực này và các chuẩn mực khác Hai hay nhiều lĩnh vực kinh doanh hoặckhu vực địa lý tương đương có thể được kết hợp thành một lĩnh vực kinh daonh haymột khu vực địa lý Rủi ro và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi khuvực địa lý là vị trí của tài sản, là nơi doanh nghiệp hoạt động ( nơi sản xuất sản phẩm
Trang 33hoặc nơi hình thành dịch vụ của doanh nghiệp) và cũng bị ảnh hưởng bởi vị trí củakhách hàng (nơi sản phẩm của doanh nghiệp được bán hoặc nơi dịch vụ của doanhnghiệp được cung cấp).
Một lĩnh vực kinh doanh không bao gồm các sản phẩm, dịch vụ có rủi ro và lợi íchkinh tế khác biệt đáng kể Có những điểm không tương đồng với một hoặc một vàinhân tố trong định nghĩa bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh nhưng các sản phẩm, dịch
vụ trong một lĩnh vực kinh doanh phải tương đồng với phần lớn các nhân tố Một khuvực địa lý không bao gồm các hoạt động trong môi trường kinh tế có rủi ro và lợi íchkinh tế khác biệt đáng kể Một khu vực địa lý có thể là một quốc gia, hai hay nhiềuquốc gia hoặc một, hai hay nhiều tỉnh thành phố trong cả nước
Một lĩnh vực kinh doanh hay khu vực địa lý cần được xác định là một bộ phận phải báocáo khi phần lớn doanh thu phát sinh từ bán hàng ra ngoài đồng thời thỏa mãn mộttrong các điều kiện là tổng doanh thu của bộ phận từ việc bán hàng ra ngoài và từ cácgiao dịch với các bộ phận khác phải chiếm từ 10% trở lên trên tổng daonh thu của tất
cả bộ phận, hoặc kết quả kinh doanh của bộ phận này bất kể lãi(lỗ) chiếm từ 10% trởlên tổng lãi (hay lỗ) của tất cả các bộ phận có lãi ( hoặc trên tổng lỗ của tất cả bộ phậnlỗ) nếu đại lượng nào có giá trị tuyệt đối lớn hơn, hoặc tài sản của bộ phận chiếm từ10% trở lên trên tổng tài sản của tất cả các bộ phận Đối với các bộ phận có mức dưới10% theo quy định trên thì bộ phận đó có thể báo cáo được mà không tính đến yếu tốquy mô nếu thông tin của bộ phận đó là cần thiết cho người sử dụng báo cáo tài chínhhoặc nếu bộ phận đó có thể được kết hợp với các bộ phận tương đương khác
Báo cáo bộ phận chính yếu
Doanh nghiệp phải trình bày doanh thu bộ phận đối với mỗi bộ phận cần báo cáo.Doanh thu bộ phận từ việc bán hàng và cung cấp dịch vụ cho khách hàng bên ngoài và
từ các giao dịch với các bộ phận khác phải được báo cáo riêng biệt Ngoài ra, doanhnghiệp cần trình bày thêm kết quả bộ phận, tổng giá trị còn lại của tài sản bộ phận, nợphải trả bộ phận, tổng chi phí đã phát sinh trong niên độ để mua tài sản cố định, tổng
Trang 34chi phí khấu hao TSCĐ và phân bổ chi phí trả trước dài hạn của bộ phận, tổng giá trịcác khoản chi phí lớn không bằng tiền, ngoại trừ chi phí khấu hao và chi phí phân bổ
đã được thuyết minh riêng rẽ đối với mỗi bộ phận cần báo cáo
Nếu tính toán được lãi hoặc lỗ thuần của bộ phận hoặc có các chỉ tiêu khác đánh giákhả năng sinh lời của bộ phận ngoài kết quả bộ phận mà không có sự phẩn bổ tùy biến,thì khuyến khích doanh nghiệp trình bày thêm các chỉ tiêu đó kèm theo những diễn giảiphù hợp Hơn nữa, doanh nghiệp phải trình bày bảng đối chiếu giữa số liệu của các bộphận và số liệu tổng cộng trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp hoặc báo cáo tàichính hợp nhất Trong bảng đối chiếu này các số liệu không thuộc các bộ phận báo cáophải được gộp vào một cột Doanh nghiệp phải đối chiếu doanh thu bộ phận so vớitổng doanh thu bán hàng ra bên ngoài trong đó nêu rõ số doanh thu bán hàng ra bênngoài chưa được báo cáo ở bất kỳ bộ phận nào, kết quả kinh doanh của bộ phận vớitổng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và với lợi nhuận thuần của doanh nghiệp; tàisản bộ phận phải được đối chiếu với tổng tài sản của doanh nghiệp; nợ phải trả của bộphận phải được đối chiếu với tổng nợ phải trả của doanh nghiệp
Báo cáo bộ phận thứ yếu
Báo cáo bộ phận thứ yếu phải thuyết minh các thông tin sau đối với lĩnh vực kinhdoanh hoặc khu vực địa lý có doanh thu từ việc bán hàng ra bên ngoài chiếm từ 10%trở lên trên tổng doanh thu từ bán hàng ra bên ngoài của doanh nghiệp, hoặc tài sản bộphận chiếm từ 10% trở lên trên tổng tài sản của các bộ phận, bao gồm doanh thu bộphận bán hàng bán ra bên ngoài, tổng giá trị còn lại của tài sản bộ phận và tổng chi phíphát sinh trong niên độ để mua tài sản cố định( tài sản bộ phận dự kiến sẽ sử dụngnhiều hơn một niên độ như TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, tài sản dài hạn khác)
Trang 352.4 SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA VAS 28 VỚI IFRS 8
2.4.1 Mục tiêu, đối tượng và phương pháp thực hiện
Phương pháp thực hiện
Đối chiếu, so sánh từng nội dung trong hai chuẩn mực VAS 28 và IFRS 8, từ đó đưa ranhận xét về sự khác biệt giữa các quy định theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốctế
2.4.2 Kết quả đối chiếu
Điểm giống nhau
Phạm vi áp dụng:
Nếu báo cáo tài chính bao gồm báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn có chứngkhoán được trao đổi công khai và báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ và của mộthoặc nhiều cộng ty con, thông tin theo bộ phận phải trình bày trong báo cáo tài chínhhợp nhất
Tiêu chí tổng hợp các bộ phận
Hai hay nhiều bộ phận tương đương có thể được kết hợp thành một bộ phận cần đượcbáo cáo Hai hay nhiều bộ phận được coi là tương đương khi các bộ phận này có nhữngđặc điểm kinh tế tương tự nhau, tương đương về tình hình tài chính hoặc có chungphần lớn các nhân tố về tính chất của hàng hóa và dịch vụ, tính chất của quy trình sản
Trang 36xuất, kiểu hoặc nhóm khách hàng sử dụng các sản phẩm hoặc dịch vụ, phương phápđược sử dụng để phân phối sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ, điều kiện của môi trườngpháp lý như hoạt động ngân hàng hoặc dịch vụ công cộng.
Ngưỡng định lượng
Một bộ phận được báo cáo khi phần lớn doanh thu phát sinh từ bán hàng ra ngoài đồngthời thỏa mãn một trong các điều kiện sau: tổng doanh thu của bộ phận từ việc bánhàng ra ngoài và từ giao dịch với các bộ phận khác phải chiếm từ 10% trở lên trên tổngdoanh thu của tất cả bộ phận, hoặc kết quả kinh doanh của bộ phận này bất kể lãi ( haylỗ) chiếm từ 10% trở lên trên tổng lãi hay lỗ của tất cả các bộ phận có lãi hoặc trêntổng lỗ của tất cả các bộ phận lỗ nếu đại lượng nào có giá trị tuyệt đối lớn hơn, hoặc tàisản của bộ phận chiếm từ 10% trở lên trên tổng tài sản của tất cả các bộ phận Đối vớicác bộ phận có mức dưới 10% theo quy định trên thì bộ phận đó có thể báo cáo được
mà không tính đến yếu tố quy mô nếu thông tin của bộ phận đó là cần thiết cho người
sử dụng báo cáo tài chính
Ngoài ra, nếu tổng doanh thu bán hàng ra ngoài của doanh nghiệp được phân bổ chocác bộ phận có thể được báo cáo thấp hơn 75% tổng số doanh thu của doanh nghiệphoặc doanh thu của tập đoàn thì phải xác định thêm bộ phận cần báo cáo, kể cả khi bộphận đó không đáp ứng được tiêu chuẩn 10% cho tới khi đặt được ít nhất 75% tổng sốdoanh thu của doanh nghiệp hoặc tập đoàn tính cho các bộ phận báo cáo được
Điểm khác nhau: Sự khác nhau trong chuẩn mực quốc tế và Việt Nam về trình bày
báo cáo bộ phận được mô tả ở bảng 2.1
Trang 37Bảng 2.1 : Những điểm khác biệt IFRS 8 và VAS 28 IFRS và VAS Những điểm khác biệt chính
IFRS 8 thay thế IAS14 Báo cáo bộ phận và điều chỉnh việc báo cáo bộ phận đáp ứng theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán được chấp nhận chung của Hoa Kỳ SFAS 131 thuyết minh về các bộ phận của doanh nghiệp và các thông tin liên quan Theo IFRS 8, các bộ phận theo hoạt động là thành phần của một doanh nghiệp, được xác định dựa trên báo cáo nội bộ về mỗi bộ phận mà được giám đốc điều hành hoạt động có thẩm quyền quyết định (CODM) của doanh nghiệp
sử dụng để phân bổ nguồn lực cho bộ phận đó và đánh giá hiệu quả hoạt dộng của bộ phận đó
Các bộ phận theo hoạt động được báo cáo riêng lẻ nếu chúngđáp ứng định nghĩa về một bộ phận cần báo cáo Một bộ phận cần báo cáo làm một bộ phận hoạt động hoặc một nhóm bộ phận hoạt động vượt quá các ngưỡng định lượng được đề ra trong chuẩn mực Tuy nhiên, doanh nghiệp có thể trình bày bổ sung bất kỳ bộ phận hoạt động nào nếu doanh nghiệp quyết định như vậy
Tất cả bác bộ phận cần báo cáo phải cung cấp đơn vị đo lường lợi nhuận và tài sản theo định dạng do CODM xem xét, cũng như trình bày doanh thu từ khách hàng đối với mộtnhóm sản phẩn và dịch vụ tương tự doanh thu theo khu vực địa lý và sự lệ thuộc vào các khách hàng lớn
Cần phải có các thuyết minh chi tiết khác về hiệu quả hoạt động và nguồn lực nếu CODM soát xét các khoản này Cần phải đối chiếu so sánh tổng doanh thu, lãi và lỗ, tài sản và các khoản mục trọng yếu khá được soát xét bởi CODM với các báo cáo tài chính chủ yếu
( Nguồn: Tài liệu tập huấn kiểm toán viên – Đặng Quốc Tuấn công ty Pwc)
Trang 382.5 Nguyên nhân của sự khác biệt và hướng hội tụ giữa Việt nam và quốc tế Báo cáo
bộ phận được các quốc gia trên thế giới nghiên cứu và áp dụng trên việc xem xét cả chuẩn mực kế toán quốc gia và theo sự hòa hợp với quốc tế Theo thời gian, chuẩnmực kế toán quốc tế đã có nhiều sự thay đổi và cải tiến phù hợp Chuẩn mực kế toán Việt Nam cũng đã dựa trên cơ sở hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế nhưng cho đến thời điểm hiện tại, VAS 28 ra đời là dựa theo IAS 14, mà chuẩn mực này hiện đã được thay thế bởi IFRS 8 bởi những hạn chế đa được nhiều nghiên cứu đề cập Vì thế, những xem xét và thay đổi theo hướng phù hợp hơn của chuẩn mực quốc gia vàchuẩn mực quốc tế mới nhất trong trình bày và công bố thông tin bộ phận rất cần đượcquan tâm nghiên cứu Ngoài ra, việc so sánh cũng như xem xét ứng dụng của chuẩnmực kế toán liên quan trong trình bày báo cáo bộ phận cũng cần phải tiến hành nhằmđánh giá đúng về khả năng ứng dụng cũng như việc tuân thủ của các doanh nghiệp diễn
ra như thế nào Một nghiên cứu trong nước đã nêu ra cho thấy vấn đề xem xét báo cáo
bộ phận vẫn là 1 sự bỏ ngõ lớn Xét ở góc độ lợi ích mang lại, việc áp dụng và thực thichuẩn mực bao 1ca1o bộ phận ở một số quốc gia đã giúp cải thiện chất lượng thông tin
kế toán được cung cấp Vì vậy , việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý liên quan đến báocáo bộ phận tại các doanh nghiệp Việt Nam có liên quan là một vấn đề cần được chútrọng hơn
2.6 Lý thuyết nền
Có nhiều cơ sở lý thuyết cho thấy sự tác động của các nhân tố đến trình bày BCBP trênBCTC Trong nghiên cứu này tác sẽ tập trung tìm hiểu tác động của cơ sở lý thuyếtnền: Lý thuyết chi phí đại diện, lý thuyết dấu hiệu, lý thuyết chi phí sở hữu, lý thuyếtbất cân xứng thông tin bao hàm trong các yếu tố ảnh hưởng đến trình bày BCBP
2.6.1 Lý thuyết chi phí đại diện ( Agency Theory)
Jensen & Meckling (1976) đã định nghĩa lý thuyết đại diện là chỉ mối quan hệ giữa bên
ủy nhiệm (nhà đầu tư, chủ sở hữu ) và bên được ủy nhiệm ( nhà quản lý), trong đó bên
Trang 39được ủy nhiệm sẽ đại diện cho bên ủy nhiệm quản lý DN, thực hiện các công việc được
ủy nhiệm
Một nghiên cứu khác của Fama & Jensen (1983) kết luận rằng trong một công ty có sựtách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát, nói cách khác là người sở hữu thực sự củacông ty không tham gia vào việc quản lý công ty Nhà quản lý có nhiều thông tin hơn
về tình hình công ty và họ sẽ dùng quyền quản lý để trục lợi cho bản thân họ Chi phíđại diện xảy ra giữa các chủ thể: HĐQT – giám đốc, tổng giám đốc – giám đốc chinhánh, người thuê lao động – người lao động Hai bên đều mong muốn tối đa hóa lợiích của mình, trong khi cổ đông mong muốn tối đa hóa lợi ích của mình thông qua tănggiá trị doanh nghiệp, còn đối với nhà quản lý thì mong muốn tối đa hóa thu nhập Gây
ra xung đột lợi ích, kèm theo thông tin bất cân xứng, làm nảy sinh những nguy cơkhiến cho hiệu quả hoạt động của DN không đạt mức tối ưu, gây thiệt hại cho cácNĐT Nhà quản lý là người trực tiếp điều hành hoạt động của DN nên chủ động trongviệc nắm bắt thông tin của DN và có thể thực hiện những hành động và quyết địnhnhằm tối đa hóa lợi ích của mình nhưng lại làm tổn hại đến lợi ích của NĐT Trong khi
đó NĐT, cổ đông không trực tiếp quản lý DN nên ít có cơ hội tiếp cận thông tin trựctiếp từ DN để ra quyết định, bị động trong thu thập thông tin của DN Nhà quản lý cóthể khai khống doanh thu, khai thiếu chi phí làm tăng lợi nhuận ảo DN để hoàn thànhchỉ tiêu lợi nhuận cổ đông đề ra, như vậy sẽ làm thông tin trình bày trên BCBP khôngcòn trung thực chính xác và đáng tin cậy Những tổn thất gây ra trong trường hợp nàyđược gọi là chi phí đại diện Và mâu thuẫn lợi ích giữa người ủy nhiệm và người được
ủy nhiệm bất cân xứng thông tin tạo ra chi phí đại diện
Jensen & Meckiling (1976) chia chi phí đại diện làm ba loại gồm:
+ Chi phí giám sát
+ Chi phí liên kết
+ Các chi phí khác
Trang 40Chi phí đại diện sẽ được giảm thiểu bằng cách bên ủy nhiệm sẽ chủ động khuyết khíchbằng vật chất và chi phí vật chất cho người được ủy nhiệm để khuyến khích và tạo rađộng lực cho người được ủy nhiệm hành động vì mục tiêu chung của DN., công bốnhiều thông tin tự nguyện hơn Bằng việc trả lương và thưởng theo hiệu quả công việc,theo kết quả hoạt động kinh doanh của DN bằng các hình thức như: thưởng bằng cổphiều, giáo dục ý thức tự trọng nghề nghiệp, các danh hiệu thi đua, cơ hội thăng tiến.Thiết kế hệ thống kiểm soát trong nội bộ DN để hoạt động hiệu quả hơn.
Chi phí đại diện sẽ giảm khi DN công bố thông tin BCBP nhiều hơn thì sẽ làm giảmbất cân xứng thông tin giữa cổ đông và nhà quản lý Liên quan đến chi phí đại diện thìnhững nhân tố liên quan tới mức độ phân tán quyền sở hữu Khi DNNY có chi phí đạidiện càng cao sẽ làm cho CLTTKT thấp do hiện tượng bất cân xứng thông tin làm chocác thông tin được DNNY công bố ra không còn đáng tin cậy nữa, do nhà quản lý vìlợi ích của mình có thể điều khiển thông tin DN theo lợi ích cá nhân Tóm lại từ lýthuyết đại diện tác giả sẽ nghiên cứu các nhân tố: Mức độ phân tán quyền sở hữu, đònbẫy tài chính là nhân tố tác động đến trình bày thông tin BCBP thông qua lý thuyết chiphí đại diện
2.6.2 Lý thuyết dấu hiệu ( Signaling theory)
Lý thuyết tín hiệu mô tả hành vì khi hai bên ( cá nhân hoặc tổ chức) có thể truy cậpthông tin khác nhau Thông thường, một bên là người gửi tín hiệu sẽ tìm cách gửi cácthông tin ( tín hiệu) và bên nhận thông tin sẽ phải chọn cách nào để giải thích nhữngthông tin đó Lý thuyết dấu hiệu về cơ bản có liên quan đến việc làm giảm thông tin bấtcân xứng giữa hai bên
Giả định thông tin không bằng nhau và không có sẵn cho các bên liên quan cùng mộtlúc Thông tin bất cân xứng có thể dẫn đến lựa chọn bất lợi cho NĐT với kết quả đạtđược là một giá trị thấp cho một chính sách đầu tư Vì vậy, các công ty CBTT ra thịtrường một cách tự nguyện và đưa các tín hiệu đến NĐT CBTT là một trong nhữngcông cụ mà các công ty dùng để tạo ra sự khác biệt về chất lượng hoạt động của công