Tập hợp những bài viết, bài nói chuyện, những lời dạy của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về cán bộ và đào tạo cán bộ trong “Tư tưởng Hồ Chí Minh với công tác tổ chức cán bộ” của tác giả Bùi Kim H
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC CÁN
BỘ VÀO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ Ở THÀNH PHỐ
QUẢNG NGÃI HIỆN NAY
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Bích Trâm
Giảng viên hướng dẫn : TS.Vương Thị Bích Thủy
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC CÁN
BỘ VÀO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ Ở THÀNH PHỐ
QUẢNG NGÃI HIỆN NAY
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Bích Trâm
Giảng viên hướng dẫn : TS.Vương Thị Bích Thủy
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS.Vương Thị Bích Thủy, có sự kế thừa một số kết quả nghiên cứu đã được công bố trước đó, các tài liệu trong khóa luận là trung thực, đảm bảo tính khách quan và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về khóa luận của mình
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Bích Trâm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu, để hoàn thành được khóa luận này, với tình cảm chân thành và lòng kính trọng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến TS.Vương Thị Bích Thủy, người đã tận tình hướng dẫn khoa học, dành cho tôi những lời chỉ bảo ân cần với những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, giúp tôi vững tin, vượt qua khó khăn trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành đề tài khóa luận
Đồng thời, tôi xin cảm ơn các thầy cô khoa Giáo dục Chính trị của Trường Đại học Sư phạm, khoa Lý luận Chính trị của trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt bốn năm học để tôi thực hiện công trình nghiên cứu này
Và tôi cũng xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Thành ủy, Uỷ ban nhân dân, phòng Nội vụ, chi cục thống kê thành phố, văn phòng Đảng ủy thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ, cung cấp tư liệu, đóng góp ý kiến cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý thầy cô giáo đóng góp ý kiến để khóa luận được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Bích Trâm
Trang 5MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục của đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
B NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ 7
1.1 Cơ sở hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ 7
1.1.1 Bối cảnh lịch sử 7
1.1.2 Nguồn gốc, quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ 9 1.2 Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ 17
1.2.1 Về tiêu chuẩn của người cán bộ 18
1.2.2 Về công tác phát hiện, lựa chọn, đánh giá, tạo nguồn cán bộ 20
1.2.3 Về công tác huấn luyện và bồi dưỡng cán bộ 22
1.2.4 Về bố trí, sử dụng cán bộ 24
1.2.5 Về chế độ, chính sách đối với cán bộ 25
Tiểu kết chương 1 27
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ Ở THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 28
2.1 Khái quát tình hình, đặc điểm thành phố Quảng Ngãi 28
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 28
2.1.2 Truyền thống văn hoá, lịch sử và con người Quảng Ngãi 29
2.1.3 Đặc điểm dân cư, nguồn lao động 30
2.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và hệ thống chính trị 31
2.2 Công tác cán bộ ở thành phố Quảng Ngãi hiện nay 33
2.2.1 Tình hình cán bộ và công tác cán bộ 33
2.2.2 Những kết quả và hạn chế 43
2.2.3 Một số vấn đề đặt ra trong công tác cán bộ ở thành phố Quảng Ngãi hiện nay 50
Trang 62.3 Phương hướng và giải pháp cơ bản xây dựng đội ngũ cán bộ Thành phố
Quảng Ngãi dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh 54
2.3.1 Phương hướng, mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ 54
2.3.2 Một số giải pháp cơ bản xây dựng đội ngũ cán bộ ở thành phố Quảng Ngãi hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh 56
2.3.2.1 Cụ thể hóa tiêu chuẩn chức danh cán bộ 57
2.3.2.2 Đổi mới công tác đánh giá, quy hoạch, tạo nguồn cán bộ 57
2.3.2.3 Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ 63
2.3.2.4 Tuyển dụng, bố trí, sử dụng hợp lý cán bộ 65
2.3.2.5 Từng bước đổi mới chính sách cán bộ, tạo động lực để cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ 66
Tiểu kết chương 2 68
C KẾT LUẬN 69
PHỤ LỤC ………
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH : Ban chấp hành
BTV : Ban thường vụ
CB, CC : Cán bộ, công chức
HĐND : Hội đồng nhân dân
UBND : Uỷ ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích, dân số, mật độ dân số phân theo phường, xã
của thành phố Quảng Ngãi 30 Bảng 2.2: Quy mô cán bộ cấp phường, xã thành phố Quảng Ngãi
qua 3 năm 2015 – 2016 – 2017 34 Bảng 2.3: Số lượng đội ngũ cán bộ, công chức các phường, xã
của thành phố Quảng Ngãi năm 2017 35 Bảng 2.4: Cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức cấp phường, xã
thành phố Quảng Ngãi qua 3 năm 2015 – 2017 36
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng về cán bộ và công tác cán bộ là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của đội ngũ cán bộ, luôn đặt công tác cán bộ lên vị trí hàng đầu trong các công tác của Đảng và Nhà nước Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, bởi trong đó đã kết tinh tinh hoa của triết học chính trị phương Đông và phương Tây, của triết học chính trị Mác - Lênin, đặc biệt là sự đúc kết từ chính quá trình Người phát hiện, đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ trong cách mạng Việt Nam
Cán bộ và công tác cán bộ là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định sự thành bại của cách mạng Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, trong các phong trào cách mạng của quần chúng, đội ngũ cán bộ luôn giữ vai trò nòng cốt Chỉ có đội ngũ cán bộ có đủ cả đức và tài, ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong từng thời kỳ cách mạng, thì việc xác định đường lối, chủ trương, chính sách mới đúng đắn; đồng thời việc lãnh đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối mới trở thành hiện thực
và cách mạng mới thành công Chính đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản
lý là động lực đầu tiên, trực tiếp trong phong trào thực tiễn
Trong những năm gần đây, cán bộ và công tác cán bộ của Đảng bộ thành phố Quảng Ngãi đã đạt được những kết quả nhất định, cho thấy sự chuyển biến tích cực
về chất lượng Công tác tổ chức cán bộ đã được đổi mới và kiện toàn, đội ngũ cán
bộ trưởng thành rõ rệt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ, ý thức trách nhiệm với công việc được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, công tác cán bộ vẫn còn bộc lộ những mặt hạn chế, yếu kém, dẫn đến sự bất cập, hụt hẫng, chắp vá, không đồng bộ ở một
số khâu, nhất là trong công tác bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ, cơ cấu độ tuổi cán bộ chưa đảm bảo theo yêu cầu của thời kì mới Một số cán bộ có biểu hiện vi phạm trong thực thi nhiệm vụ, suy thoái về đạo đức, lối sống,… làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng Thực tế đó, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục đổi mới, nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất, phong cách của đội ngũ cán bộ, nhằm tạo ra một sự chuyển biến mới về chất, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở địa phương Quảng Ngãi trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Trang 102
Từ những lý do trên, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu đề tài “Vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ vào xây dựng đội ngũ cán bộ ở Thành phố Quảng Ngãi hiện nay” là hết sức cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu: Trên cơ sở khái quát nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về
cán bộ và công tác cán bộ và đánh giá thực trạng công tác cán bộ ở Thành phố Quảng Ngãi hiện nay, đề tài đề xuất các giải pháp góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Thành phố Quảng Ngãi theo tư tưởng Hồ Chí Minh
* Nhiệm vụ:
+ Thứ nhất, làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công
tác cán bộ
+ Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra trong công tác
xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp ở Thành phố Quảng Ngãi
+ Thứ ba, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, đáp
ứng yêu cầu của thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ
- Phạm vi: Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và công tác
cán bộ ở thành phố Quảng Ngãi hiện nay
4 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lí luận: Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cán bộ và công tác cán bộ
- Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, hệ thống - cấu trúc, so sánh, thống kê, nghiên cứu văn bản trong nghiên cứu các vấn đề lý thuyết
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp các báo cáo, điều tra của các cấp chính quyền, kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu có liên quan đến thực trạng công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ ở thành phố Quảng Ngãi hiện nay
Trang 113
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương:
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ
Chương 2: Xây dựng đội ngũ cán bộ ở Thành phố Quảng Ngãi hiện nay theo tư
tưởng Hồ Chí Minh
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ là một bộ phận quan trọng trong di sản tư tưởng lý luận của Người Tư tưởng ấy đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học và được bàn luận trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau Ngoài những công trình đã xuất bản, các nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ trong thời gian gần đây được công bố dưới nhiều hình thức như báo cáo chuyên đề, luận văn thạc sỹ, các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học các cấp Đó là nguồn tư liệu, tài liệu tham khảo quý báu cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài của mình
Trên cơ sở tiếp cận các nguồn tài liệu khác nhau, chúng tôi nhận thấy, liên quan đến đề tài có hai hướng nghiên cứu chính như sau:
* Hướng thứ nhất, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ
Tiêu biểu trong số này trước hết phải kể đến “Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
và công tác cán bộ” của tác giả Bùi Đình Phong [20] Trong công trình này, tác giả
đã phân tích quá trình hình thành, nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, công tác cán bộ và quá trình vận dụng tư tưởng đó trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tập hợp những bài viết, bài nói chuyện, những lời dạy
của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về cán bộ và đào tạo cán bộ trong “Tư tưởng Hồ Chí
Minh với công tác tổ chức cán bộ” của tác giả Bùi Kim Hồng [10], “Hồ Chí Minh đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài” của tác giả Đức Vượng [29] đã đưa đến cho
bạn đọc những bài học bổ ích trong công tác đào tạo, giáo dục cán bộ, trọng dụng nhân tài của Đảng qua các thời kì cách mạng; từ đó cho thấy vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc
Tác phẩm “Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh” của nhà nghiên cứu
Đặng Xuân Kì [12] đã khái quát quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh ngay từ những ngày ra đi tìm đường cứu nước và phát triển trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người Những nghiên cứu từ công trình này đã cho thấy phương
Trang 124
pháp cách mạng của Hồ Chí Minh đã trở thành phương pháp cách mạng Việt Nam, phong cách của Người là bài học, là chuẩn mực cho việc xây dựng phong cách người cán bộ cách mạng Việt Nam hôm nay và mai sau Qua việc nghiên cứu các bài học về tuyển chọn và sử dụng nhân tài trong lịch sử dân tộc, đề tài khoa học cấp nhà nước, mã số KX.04, năm 2004 của nhóm tác giả Thang Văn Phúc và Nguyễn
Minh Phương “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” [21], đã hệ thống hóa và
tổng kết quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, về yêu cầu đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức đáp ứng đòi hỏi xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay
Ngoài các công trình tiêu biểu nói trên, còn có nhiều bài viết nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ đăng tải trên các tạp chí khác nhau, như “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ” của Phạm Ngọc Anh [1], “Góp phần tìm hiểu quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sử dụng cán bộ” của
Nguyễn Thị Kim Dung, Nguyễn Bắc Phương [6], “Nguyễn Ái Quốc với công tác
đào tạo, huấn luyện cán bộ ở Thái Lan” (1928 – 1929) của Nguyễn Thị Kim Dung
[7] và một số bài viết có liên quan khác đăng tải trên các sách, báo, tạp chí điện tử khác
* Hướng thứ hai, nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ vào xây dựng đội ngũ cán bộ hiện nay
Các công trình tiêu biểu, trước hết phải kể đến “Phát huy tính tích cực xã hội
của đội ngũ cán bộ nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Văn Tài [24] Tác giả đã
phân tích, làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn của đường lối, chính sách cán bộ của Đảng ta trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh Qua đó, tác giả đánh giá về tình hình cán bộ nước ta hiện nay, đề xuất những giải pháp cụ thể, có tính khả thi để góp phần nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ các cấp Tác giả Nguyễn Minh Tuấn trong “Tiếp tục đổi mới đồng bộ
công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [25] đã làm rõ
một số nội dung chính về cán bộ, công tác cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và gợi ý một số giải pháp cụ thể nhằm đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ từng khâu trong công tác cán bộ Luận văn thạc sĩ cao học của
Nguyễn Danh Tuyên “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ với việc xây dựng
Trang 135
đội ngũ cán bộ ở thành phố Tuy Hòa hiện nay” [26], đã nghiên cứu khái quát tư
tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
Công trình “Luận cứ khoa học và một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ
lãnh đạo phường hiện nay” của Nguyễn Duy Hùng [11] đã nghiên cứu cơ sở khoa
học, lý luận và thực tiễn của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở phường xã; từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp khả thi trong xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng, và hệ thống chính trị ở địa phương, góp phần vào công tác xây dựng đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay
Một số văn bản quy phạm pháp luật về công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước
ban hành trong những năm qua như Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV [3] về việc ban
hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn,
Quyết định số 03/2007/QĐ-BNV [4] của Bộ nội vụ về việc ban hành quy tắc ứng xử
của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương;
Nghị định số 158/2007/NĐ-CP [5] của Chính phủ quy định các danh mục vị trí công
tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên
chức; Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30-10-2016 [19] của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khoá XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” và
“tự chuyển hóa” trong nội bộ; Quyết định 90-QĐ/TW [20] của Ban Chấp hành Trung
ương về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành
Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; Quyết định số 1752/QĐ-UBND ngày
02 tháng 12 năm 2011 [27] của UBND tỉnh Quảng Ngãi ban hành kế hoạch đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011-2015; Đề
án nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đáp ứng yêu cầu cải cách chế độ công vụ, công chức [28] của
UBND tỉnh Quảng Ngãi Những văn bản pháp luật trên là cơ sở pháp lý để các tỉnh, thành phố vận dụng vào xây dựng đội ngũ cán bộ ở địa phương
Bên cạnh đó, còn có nhiều bài viết nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công
tác cán bộ được đăng trên các trang mạng, báo điện tử như “ Vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh về công tác cán bộ trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ ở huyện Từ Liêm –
Trang 146
Hà Nội hiện nay” [30], “Coi trọng công tác cán bộ ở thành phố Quảng Ngãi”[35],
“Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi tập trung làm tốt công tác tổ chức cán bộ, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu” [37]
Những công trình khoa học của các tác giả nói trên đã tiếp cận nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ ở nhiều góc độ khác nhau, với nhiều đóng góp thể hiện ý kiến, quan điểm, đánh giá có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn Đây là nguồn tài liệu quý báu giúp chúng tôi tiếp thu, kế thừa, tham khảo trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình Tuy nhiên, ngoài những văn bản quy phạm pháp luật của Đảng, Nhà nước và Đảng bộ, chính quyền địa phương thì hầu như chưa có công trình nào đề cập trực tiếp đến việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ vào xây dựng đội ngũ cán bộ ở Thành phố Quảng Ngãi trong những năm qua Vì vậy, việc chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhất định, góp phần nâng cao hiệu quả công tác cán bộ trong quá trình xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ở thành phố Quảng Ngãi hiện nay
Trang 157
B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ 1.1 Cơ sở hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán
bộ
1.1.1 Bối cảnh lịch sử
Tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Các nước đế quốc đã chi phối toàn bộ tình hình thế giới Phần lớn các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh đã trở thành thuộc địa hoặc phụ thuộc của chúng Nhân dân các nước thuộc địa bị chủ nghĩa thực dân tước hết những giá trị văn hoá, tinh thần, quyền lợi kinh tế
và địa vị xã hội… Mạng sống của người dân thuộc địa “không đáng một trinh” Cùng với mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản - mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh một mâu thuẫn mới - mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân Mâu thuẫn này ngày càng gay gắt Vì vậy, từ đầu thế kỷ XX phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa ngày càng phát triển, nhưng chưa ở đâu giành được thắng lợi triệt để
Trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc, Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác - Lênin Sự xuất hiện chủ nghĩa Mác - Lênin là một nhân tố đặc biệt quan trọng đối với việc ra đời và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ nghĩa đế quốc và sự tranh chấp thuộc địa giữa chúng là nguyên nhân gây
ra cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) Cuộc chiến tranh hao người tốn của ấy đã khơi sâu, làm gay gắt thêm mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa, làm cho chủ nghĩa tư bản thế giới suy yếu, tạo điều kiện cho Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga giành được thắng lợi Cách mạng Tháng Mười thắng lợi, mở
ra thời đại mới của lịch sử loài người - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Đồng thời, Nhà nước Xô viết ra đời làm nảy sinh một mâu thuẫn mới mang tính thời đại - mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản
Những nhân tố quốc tế nêu trên đã tạo những tiền đề và điều kiện cơ bản thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Trang 168
Từ những bối cảnh quốc tế và trong nước, Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và từng bước hình thành tư tưởng của mình, đáp ứng đòi hỏi bức thiết của dân tộc và thời đại
Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX
Giữa thế kỷ XIX (1858), Việt Nam từ một quốc gia phong kiến độc lập đã bị chủ nghĩa tư bản Pháp xâm lược, trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Các phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp liên tục nổi lên, dâng cao và lan rộng trong cả nước: từ Trương Định, Nguyễn Trung Trực ở Nam bộ; Trần Tấn, Phan Đình Phùng ở miền Trung đến Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Quang Bích ở miền Bắc Tuy nhiên, do chưa có một đường lối kháng chiến rõ ràng, dựa trên ý thức hệ phong kiến, nên đều thất bại Bước sang đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam bắt đầu có
sự biến chuyển và phân hóa Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, bị mất độc lập tự do, nhân dân ta không ngừng nổi lên chống lại chúng với các phong trào như Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang phục hội do các sĩ phu phong kiến có tư tưởng duy tân truyền bá
và dẫn dắt, nhưng do bất cập trước lịch sử, nên không tránh khỏi thất bại
Kể từ khi triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước Patenôtre (6-6-1884) chịu sự bảo
hộ của đế quốc Pháp, trừ một số ít người cam tâm làm tay sai cho giặc, còn đại đa số nhân dân vẫn nung nấu ý chí căm thù và chờ thời cơ vùng lên tự giải phóng Lớp lớp
sĩ phu và đồng bào yêu nước đã liên tục đứng lên chiến đấu giành lại độc lập Song, những kinh nghiệm lịch sử chống ngoại xâm không phát huy được tác dụng trước một kẻ thù mới - chủ nghĩa đế quốc Các phong trào kháng chiến đều bị dìm trong máu, lửa Sau thất bại của phong trào Cần Vương và các phong trào cứu nước theo
hệ tư tưởng tư sản, đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng đường lối Cả dân tộc chìm đắm trong đêm dài nô lệ, tưởng chừng như không có đường ra
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong bối cảnh nước mất nhà tan, thế giới có nhiều biến động sâu sắc Cùng với bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế lúc bấy giờ
đã thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc Mặc dù Hồ Chí Minh rất quý trọng chí hướng cứu nước của các bậc tiền bối nhưng không tán thành con đường cứu nước giải phóng dân tộc của họ Trong bối cảnh đó, Người đã tự định
ra cho mình một hướng đi mới, đòi hỏi Hồ Chí Minh phải chuẩn bị đội ngũ cán bộ
Trang 17Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ
Truyền thống dân tộc, yếu tố quê hương và gia đình
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã xây dựng nên một nền văn hóa riêng, phong phú và bền vững với những giá trị truyền thống tốt đẹp đã góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ Việt Nam là quốc gia có truyền thống lịch sử lâu đời với nền văn hóa sớm phát triển, cũng sớm hình thành Nhà nước phong kiến, từ thời kỳ độc lập tự chủ thế kỷ XI dưới triều Lý trở đi, vấn đề xây dựng Nhà nước với nền độc lập tự cường ngày càng được chú trọng Trong điều kiện ấy, các Nhà nước phong kiến Việt Nam rất quan tâm tới việc chăm lo xây dựng đội ngũ quan lại của mình Dù đội ngũ quan lại ấy được xây dựng để bảo vệ lợi ích của giai cấp địa chủ phong kiến, nhưng do các điều kiện lịch sử cụ thể và truyền thống của dân tộc Việt Nam, đội ngũ quan lại có đặc điểm gần dân, thân dân, gắn bó với dân, đối lập với dân, mà thường xuất phát từ dân,
có nhiều điều kiện sống trong lòng dân, được dân che chở, đùm bọc, ủng hộ, nhất là những khi vận mệnh dân tộc nước nhà bị đe dọa, lâm nguy Những yếu tố và điều kiện đó làm cho đội ngũ quan lại của các nhà nước phong kiến Việt Nam bớt đi tính
xa dân và quan liêu Trong đội ngũ ấy còn có nhiều tấm gương thanh liêm, trong sáng
Một truyền thống quý báu nữa của dân tộc là sự quý trọng và trọng dụng nhân tài, luôn coi: Hiền tài là nguyên khí quốc gia Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và hưng thịnh Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp kém Vì thế, các bậc thánh nhân chẳng ai không coi trọng việc kén chọn kẻ sĩ, bồi dưỡng nhân tài, vun trồng nguyên khí là công việc cần kíp Bởi vì kẻ sĩ có quan hệ trọng đại với quốc gia như thế, cho nên được quý trọng không biết nhường nào
Đối với dân tộc Việt Nam, truyền thống yêu nước có trong mỗi con người nói chung, cũng như hiện hữu trong đội ngũ quan lại của các Nhà nước phong kiến nói riêng, được hun đúc để trở thành điều cốt lõi trong bản sắc văn hóa Việt Nam Tất cả những yếu tố kể trên trở thành truyền thống dân tộc, có ảnh hưởng rất lớn tới tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ Đó là cơ sở ban đầu hình thành nên tư duy về một đội
Trang 1810
ngũ những con người với những tổ chức là lực lượng tiên phong trong đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước sau này Đối với Hồ Chí Minh, truyền thống yêu nước đã trở thành động lực lớn thôi thúc Người đi tìm đường cứu nước, là
cơ sở để Người đến với và tiếp thu lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng vào thực tiễn Việt Nam, từ đó hình thành nên tư tưởng về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó có tư tưởng về cán bộ
Cùng với truyền thống dân tộc, yếu tố quê hương và gia đình cũng có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ nói riêng
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho có truyền thống yêu nước Thân phụ Người - cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - tuy làm quan trong triều đình nhà Nguyễn, nhưng có thái độ đối nghịch với chế độ thực dân phong kiến Tấm lòng yêu nước thương dân của cụ bảng Sắc có ảnh hưởng sâu sắc đối với sự hình thành nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh Hơn nữa, Người được sinh ra trên quê hương Nghệ Tĩnh - vốn là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, chống áp bức xâm lược Mới 6 tuổi, Nguyễn Tất Thành được đắm mình trong phong trào Cần Vương Khí thế hào hùng xen lẫn bi hùng của phong trào yêu nước này đã tác động sâu sắc tới tâm hồn non trẻ nhưng đầy nhạy cảm của cậu Người lớn lên trong bối cảnh mà các phong trào yêu nước do các bậc cách mạng tiền bối khởi xướng nổ ra khắp nơi như phong trào Đông Du do Phan Bội Châu lãnh đạo, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền lãnh đạo, phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám là thủ lĩnh Nguyễn Tất Thành đã sớm nhận ra những hạn chế của các phong trào đó Mặc dù rất kính trọng và khâm phục các sĩ phu và thủ lĩnh của các phong trào yêu nước, song Người không tán thành cách làm của họ nhưng phương thức tư duy về công tác tổ chức ấy có ảnh hưởng không nhỏ tới tư tưởng Hồ Chí Minh về việc gây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ sau này Cái nôi gia đình và thân tộc mẫu mực ấy chính là cơ sở, điểm tựa, là vườn ươm cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh sau này Chính từ nền tảng đó, khi gặp trào lưu tư tưởng mới, tiến bộ của thời đại là chủ nghĩa Mác – Lênin thì đã được Hồ Chí Minh tiếp thu, phát triển, nâng lên tầm cao mới
Tinh hoa văn hóa nhân loại
Từ khi rời tổ quốc (1911) cho đến năm 1917, Nguyễn Ái Quốc đã đến nhiều nước thuộc địa và nhiều nước tư bản đế quốc Trong khoảng thời gian đó, Người
Trang 1911
được bổ sung thêm những nhận thức mới về những gì ẩn dấu đằng sau các từ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” mà vào trạc tuổi 13, lần đầu tiên Người đã nghe Khoảng cuối năm 1917, khi trở lại Pari, Nguyễn Ái Quốc đã làm quen với nhiều nhà hoạt động chính trị, xã hội của nước Pháp và nhiều nước trên thế giới Năm 1919, Người tham gia Đảng Xã hội Pháp, một đảng tiến bộ lúc bấy giờ thuộc Quốc tế II
Việc Nguyễn Ái Quốc tiếp thu bản Luận cương của Lênin tháng 7 - 1920 và trở thành người cộng sản vào cuối năm đó đã tạo nên bước ngoặt căn bản, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh Thế giới quan và phương pháp luận Mác - Lênin đã giúp Người nhìn nhận, đánh giá phân tích tổng kết các học thuyết, tư tưởng, đường lối các cuộc cách mạng một cách khoa học; cùng với kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của mình để đề ra con dường cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn Mỗi bước phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh hướng tới hoàn thiện đều không thể tách rời với việc không ngừng học tập và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể Việt Nam Qua đó, Hồ Chí Minh góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, trong đó có vấn đề cán bộ
Là những người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học, C.Mác và Ph.Ăngghen
đã đặt nền móng đầu tiên cho vấn đề cán bộ của giai cấp vô sản, rằng: “Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” [14, tr.181] Khi chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ cho cách mạng vô sản đã được Lênin hết sức quan tâm Lênin đòi hỏi giai cấp vô sản phải làm sao có được “Những nhà chính trị giai cấp thực sự của mình, những nhà chính trị vô sản và không thua kém những nhà chính trị của giai cấp tư sản” [13, tr.80] Khi đã giành được chính quyền, vấn đề cán bộ được đặt ra một cách cấp bách, thì tư tưởng của Lênin về cán bộ ngày càng được hoàn thiện hơn, nhất là việc đào tạo, bồi dưỡng, lựa chọn và sử dụng cán bộ Chủ nghĩa Mác - Lênin rất coi trọng vai trò, vị trí của cán bộ và công tác cán bộ Lênin cho rằng, đối với đảng cầm quyền, một trong những vấn đề mấu chốt đặc biệt quan trọng là vấn đề cán bộ Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đòi hỏi người cán bộ phải đạt được những yêu cầu, tiêu chuẩn nhất định: “Về mặt thực tiễn, những người Cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong tất
cả các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản” [13, tr 610] Chủ
Trang 2012
nghĩa Mác - Lênin đòi hỏi người cán bộ phải luôn tự rèn luyện mình cả năng lực thực tiễn và tư duy lý luận, phải trung thành với sự nghiệp cách mạng, gắn bó và phục vụ nhân dân, chịu sự kiểm soát của nhân dân, dám thừa nhận và sửa chữa sai lầm khuyết điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng rất coi trọng vấn đề lựa chọn và sử dụng cán bộ, coi đó như một khoa học, phải đặt người cán bộ vào đúng vị trí thì mới phát huy được khả năng, sở trường của cán bộ
Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, với tư chất thông minh tuyệt vời, từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã được giáo dục Hán học và đã tiếp thu nền văn hóa phương Tây tại trường Quốc học Huế Khi bôn ba khắp năm châu, bốn bể, Người vừa hoạt động cách mạng, vừa học hỏi không ngừng Người đã thông thạo các ngôn ngữ tiêu biểu cho nền văn minh của nhân loại, am tường các nền văn hóa Đông, Tây Khi tiếp thu các nền văn hóa, Người đã phân tích các yếu tố giá trị toàn nhân loại và vĩnh cửu,
làm giàu trí tuệ của mình bằng tinh thần văn hóa nhân loại
Tiếp thu văn hóa phương Đông, trước hết là Nho giáo, Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng vai trò của Nho giáo, người sáng lập ra là Khổng Tử và đã đặc biệt khai thác những mặt tích cực của tư tưởng Nho giáo Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ những mặt bất cập, hạn chế của Nho giáo Đó là những yếu tố duy tâm, lạc hậu, phản động như tư tưởng đẳng cấp, khinh lao động chân tay, coi khinh phụ nữ, khinh thường thực nghiệm, doanh lợi…Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng thấy được những mặt tích cực của Nho giáo và khuyên chúng ta “nên học”, đó là đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học với châm ngôn “Học không biết chán, dạy không biết mỏi” Bên cạnh đó, Người đã khai thác nho giáo, lựa chọn những yếu tố tích cực, phù hợp để phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng Bằng việc tiếp thu những giá trị nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng của người quân tử trong Nho giáo, trên cơ sở phê phán những
“điều không đúng” của Nho giáo như tư tưởng trọng nam khinh nữ, xem nhẹ lao động chân tay, Người đã đưa đạo đức của người cán bộ lên một tầm cao mới với những chuẩn mực đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư,… Bên
cạnh đó, việc đề cao tư tưởng “Đức trị” là một trong những nguồn gốc lý luận quan trọng cho sự ra đời tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ
Tiếp thu những mặt tích cực ở Phật giáo như tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, thương người như thể thương thân; xây dựng nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện, chủ trương không xa đời mà sống gắn bó với nhân dân, với đất nước, tham gia vào cộng đồng, vào cuộc đấu tranh của nhân
Trang 2113
dân chống kẻ thù dân tộc đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tư duy, hành động, cách ứng xử của con người Việt Nam Những điểm tích cực của Phật giáo đã để lại những dấu ấn hết sức sâu sắc trong tư duy hành động và trong tư tưởng Hồ Chí Minh
về công tác cán bộ
Ngoài ra, còn có thể tìm thấy nhiều trích dẫn khác nữa về các nhà tư tưởng phương Đông như Lão Tử, Mặc Tử, Quản Tử…trong các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh Cũng như sau này, khi đã trở thành người Mácxít, Nguyễn Ái Quốc vẫn tìm hiểu thêm về chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và tìm thấy trong đó “những điều thích hợp với điều kiện nước ta” Các tiêu chí của chủ nghĩa Tam dân là dân tộc
- độc lập; dân quyền - tự do; dân sinh - hạnh phúc đã được Hồ Chí Minh rút gọn trong quốc hiệu của Việt Nam “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” Là người Mácxít tỉnh táo và sáng suốt, Hồ Chí Minh đã biết khai thác những yếu tố tích cực của tư tưởng
và văn hóa phương Đông để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng nước ta
Lĩnh hội tư tưởng văn hóa phương Tây: Trong ba mươi năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Hồ Chí Minh sống chủ yếu ở châu Âu nên cũng chịu ảnh hưởng rất sâu rộng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng của phương Tây
Những năm tháng sống ở nước ngoài, Người đã từng sang Mỹ, đến sống ở New York, làm thuê và thường đến thăm khu ở của người da đen Trong các bài viết sau này, Người thường nhắc đến ý chí đấu tranh cho tự do, độc lập, cho quyền sống của con người được ghi lại trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ Người đã tiếp thu giá trị của tư tưởng nhân quyền với nội dung là quyền tự do cá nhân thiêng liêng trong bản tuyên ngôn này Sau này Người đã phát triển nó thành quyền sống, quyền độc lập, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của tất cả các dân tộc Nội dung nhân quyền được Người nâng lên một tầm cao mới trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam năm 1945
Cuối năm 1917, Người từ Anh sang Pháp và quyết định sống và hoạt động ở Paris - thủ đô nước Pháp Đến với quê hương của lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, Nguyễn Ái Quốc được tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng: Voltaire, Rousseau, Montesquieu,…những nhà lý luận tiêu biểu của đại cách
mạng Pháp 1789, như Tinh thần pháp luật của Montesquieu, Khế ước xã hội của
Rousseau, v.v…tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng tới tư tưởng của Người Ngoài ra, Người còn hấp thụ được tư tưởng dân chủ và hình thành được phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống thực tiễn
Trang 2214
Nhờ được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ vũ, dìu dắt trực tiếp của nhiều nhà cách mạng và trí thức tiến bộ Pháp mà Nguyễn Ái Quốc đã từng bước trưởng thành Con người ấy, trên hành trình cứu nước, đã làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây, vừa thông thái, vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao của tri thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển
Kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh của Thiên chúa giáo: Nói đến việc kết hợp văn hóa Đông, Tây trong con người Hồ Chí Minh, không thể không đề cập đến sự kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh, những giá trị cơ bản của đạo đức Thiên chúa giáo Người đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột; đã là hiện thân của lòng nhân ái và đức hy sinh cao cả Sau này, Người luôn luôn giáo dục cán bộ, đảng viên về lòng thương người, thương dân, thương các chiến sỹ ngoài mặt trận - đó là những tư tưởng thấm đậm những giá trị cao cả mang tính nhân loại mà Thiên chúa giáo đã khởi xướng và răn dạy Người lên án gay gắt những kẻ “giả danh Chúa” để thực hiện những “hành
vi ác quỷ”, dẫn đường cho đội quân viễn chinh, cướp của cải, đánh đập, bắt giết người (đặc biệt là trẻ em); chiếm ruộng đất canh tác,… Người coi những hành động
đó là sự đi ngược lại và phản bội lòng nhân ái cao cả của Chúa, làm hoen ố tư tưởng lớn của Ngài là muốn mưu cầu phúc lợi cho xã hội Người lên án những giáo sĩ đại diện cho chủ nghĩa tư bản phương Tây, những kẻ nhân danh Chúa để quan hệ mật thiết với thế lực thực dân, tham gia vào guồng máy của chủ nghĩa thực dân, xâm nhập về kinh tế và quân sự, áp đặt nền văn hóa thực dân, làm xuất hiện nguy cơ bá quyền văn hóa, v.v…
Như vậy, Hồ Chí Minh khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, Người cũng tiếp thu nhiều quan điểm quan trọng về cán bộ và công tác cán bộ, từ đó qua yêu cầu và thực tiễn cách mạng Việt Nam, kết hợp với truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, đã tạo nên tính đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ - bộ phận cấu thành quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung
Trang 23Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ
Thời kỳ tìm tòi, khảo nghiệm trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Đây là thời kỳ tìm tòi, khảo nghiệm thành công bước đầu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, tạo tiền đề lý luận và thực tiễn quan trọng cho việc hoàn thiện tư tưởng của Người sau này
Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng xã hội Pháp để tham gia hoạt động theo con đường của tổ chức Người thành lập Hội người Việt Nam yêu nước tại Pháp
để tập hợp cộng đồng người Việt Nam yêu nước tại Pháp chống lại chế độ thuộc địa Pháp tại Việt Nam Đây chính là sự trải nghiệm đầu tiên của Hồ Chí Minh về vấn đề tổ chức con người, là cơ sở cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ sau này
Cuối năm 1924, Người về Trung Quốc, nhanh chóng liên lạc và thuyết phục những thanh niên Việt Nam yêu nước ở Quảng Châu với tổ chức Tâm tâm xã và bắt tay ngay vào việc xây dựng kế hoạch mở lớp huấn luyện cán bộ đầu tiên cho cách mạng trong nước tại Quảng Châu Nhờ nỗ lực của Người, trường Huấn luyện chính trị được tổ chức, từ đây đội ngũ cán bộ nòng cốt đầu tiên cho cách mạng Việt Nam đã hình thành và được đưa về nước để xây dựng cơ sở, tuyên truyền, lãnh đạo cách mạng Tháng 6/1925, trên cơ sở tổ chức Tâm Tâm xã, Nguyễn Ái Quốc thành lập tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội - tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập,
Trang 2416
Nguyễn Ái Quốc càng quan tâm nhiều hơn tới vấn đề công tác cán bộ, đặc biệt là công tác đào tạo cán bộ Người khẩn thiết đề nghị Quốc tế Cộng sản tăng cường đào tạo cán
bộ cho Việt Nam và các nước thuộc địa Người đề xuất cần xuất bản những cuốn sách
nhỏ để cán bộ nghiên cứu, học tập tích lũy kiến thức Đầu năm 1941, Hồ Chí Minh đã
trực tiếp tổ chức lớp học và huấn luyện cho hơn 40 cán bộ cách mạng Việt Nam, chương trình và tài liệu huấn luyện do chính Người tổ chức biên soạn Tháng 5/1941, ngay sau Hội nghị Trung ương 8 của Đảng, Hồ Chí Minh đã mở lớp huấn luyện chính trị - quân sự ngắn hạn tại Cao Bằng và chỉ đạo tổ chức nhiều lớp huấn luyện cán bộ khác, đồng thời trực tiếp giảng dạy hoặc nói chuyện thời sự cho các học viên tại các
lớp này Tháng 5/1945, khi về tới Tân Trào, Hồ Chí Minh chỉ thị khẩn trương thành
lập trường đào tạo cán bộ mang tên Trường Quân chính kháng Nhật
Những hoạt động tích cực của Hồ Chí Minh trước Cách mạng Tháng Tám 1945
đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng, đào tạo, huấn luyện đội ngũ cán bộ ban đầu cho cách mạng Việt Nam Chính lực lượng ấy đã trở thành một trong những nhân tố nòng cốt quyết định thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 Từ quá trình này, tư tưởng Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam được hình thành ngày càng rõ nét, trong đó có tư tưởng của Người về công tác cán bộ
Thời kỳ từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Đây là thời kỳ tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ tiếp tục được bổ sung, phát triển và hoàn thiện, góp phần quan trọng vào việc hình thành và xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ vừa kháng chiến vừa kiến quốc
Người đã có nhiều bài viết và tác phẩm về vấn đề này, như bài “Cán bộ tốt và
cán bộ xoàng” trên báo Sự thật số 77 tháng 6/1947; tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”
vào tháng 10/1947; bài viết “Dân vận” trên báo Sự thật số 120, ngày 15/10/1949; bài “Tự phê bình” trên báo Nhân dân ngày 20/5/1951… “Người cán bộ cách mạng” trên báo Nhân dân ngày 03/3/1955; tháng 12/1958, Người viết bài “Đạo đức cách
mạng” trên tạp chí Học tập Ngoài ra, Người còn tới dự, tới thăm và phát biểu tại
nhiều lớp, nhiều khóa huấn luyện, đào tạo nhiều loại hình cán bộ và nhiều hội nghị về công tác cán bộ Các tác phẩm, bài viết, những lời phát biểu đó là sự thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ một cách sâu sắc trên các bình diện và khía cạnh khác nhau, phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của từng loại hình đào tạo huấn luyện cán bộ cụ thể
Trang 2517
Bên cạnh tư tưởng về cán bộ, Hồ Chí Minh còn có tư tưởng về nhà nước, pháp luật, về xây dựng nhà nước pháp quyền được bảo đảm bằng pháp luật Vì thế, tư tưởng về cán bộ của Hồ Chí Minh không tách rời, mà có mối liên hệ chặt chẽ với tư tưởng về nhà nước, về pháp luật, nhất là từ khi giành được chính quyền nhà nước, ý thức được tầm quan trọng của việc thể chế hóa thành pháp luật Nhà nước các đường lối chủ trương của Đảng, nhất là các tiêu chuẩn về cán bộ Nên sau cách mạng tháng Tám thành công, dù còn bận với cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, và dù tính đặc thù của đội ngũ cán bộ ở nước ta không chỉ làm việc trong các cơ quan nhà nước,
mà gồm nhiều đối tượng khác nhau làm việc trong cả hệ thống chính trị; Hồ Chí Minh đã trực tiếp ký nhiều sắc lệnh cụ thể hóa vấn đề cán bộ; qua đó chính thức đặt nền móng đầu tiên cho chế định pháp luật về cán bộ, công chức ở nước ta sau này
Đó là các Sắc lệnh số 188/SL ngày 29/5/1948 ban hành thang lương công chức nhà nước, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành Quy chế công chức Việt Nam, Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 quy định chế độ công nhân giúp việc Chính phủ trong thời kỳ kháng chiến
1.2 Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ
Từ xưa tới nay, với bất kỳ quốc gia, dân tộc, nhà nước hay chế độ nào, việc thành công hay thất bại, sự hưng thịnh hay suy vong đều phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ những con người được gọi là quan lại hay cán bộ, viên chức của nhà nước Là người biết rộng, hiểu sâu, tiếp xúc với nhiều nền văn minh trên thế giới, lại luôn canh cánh một khát vọng độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, Hồ Chí Minh càng thấu hiểu điều đó Chính vì vậy, vấn đề cán bộ chiếm vị trí quan trọng trong tổng thể hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh
Người thường nói: Cán bộ là gốc của mọi công việc, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng Chất lượng cán bộ tùy thuộc vào công tác cán bộ Nếu như tất cả các khâu: Phát hiện, lựa chọn cán bộ - Đánh giá cán bộ - Quy hoạch cán bộ - Huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ - Bố trí sử dụng cán bộ - Kiểm tra, thực hiện các chính sách đối với cán bộ … đều làm tốt thì nhất định chúng ta sẽ có đội ngũ cán bộ chất lượng tốt Chỉ cần một trong những khâu đó bị xem nhẹ, làm không đến nơi đến chốn sẽ khiến cho chất lượng đội ngũ cán bộ kém đi rất nhiều
Công tác cán bộ giữ vai trò trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng Thực hiện tốt công tác cán bộ là sự chủ động tạo ra một đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Đảng trong từng thời kỳ cách mạng Đội ngũ cán bộ chỉ có thể xứng
Trang 2618
đáng, đảm đương được vai trò của mình khi thật trong sạch, vững mạnh; toàn diện và đồng bộ Điều này phụ thuộc rất lớn ở chất lượng công tác cán bộ
1.2.1 Về tiêu chuẩn của người cán bộ
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vị trí, vai trò của người cán
bộ cách mạng Người cán bộ phải có những tiêu chuẩn nhất định, phải tự giác rèn luyện về mọi mặt, luôn phấn đấu nâng cao phẩm chất, năng lực để xứng đáng với vị trí, vai trò của mình Tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho quan điểm của Đảng
ta về tiêu chuẩn cán bộ; mang tính toàn diện, khoa học theo quan điểm triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin
Trước hết, người cán bộ phải yêu nước, thương dân, có đạo đức cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm trước hết ở người cán bộ cách mạng là vấn đề đạo đức Đối với người cán bộ, nếu thiếu hoặc yếu về đạo đức cách mạng thì không thể làm tốt những công việc được giao Đạo đức là hết sức cần thiết cho tất cả mọi người và đặc biệt cần thiết cho người cán bộ, “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [16, tr.601] Chỉ khi có đạo đức cách mạng thì cán bộ mới có đủ động lực, điều kiện làm cách mạng “Muốn giải phóng dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì” [17, tr.33] Tiêu chí đạo đức người cán bộ cách mạng được Chủ tịch
Hồ Chí Minh chỉ ra hết sức cụ thể, đó là nhân, nghĩa, trí, dũng, mỗi người cán bộ phải hội đủ các phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Để phấn đấu, tu dưỡng đạo đức cách mạng, người cán bộ phải luôn cảnh giác, phòng tránh những suy nghĩ và việc làm không đúng như: chủ nghĩa địa phương, bè phái, hẹp hòi, chuộng hình thức, lối làm việc bàn giấy, vô kỷ luật, tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, lãng phí của công lấy làm của riêng,…Con đường hoàn thiện tư cách đạo đức cách mạng của người cán bộ phải gắn với các phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân; gần dân, lo trước dân, học tập dân,… là những việc làm thường xuyên của mỗi người cán bộ
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức là cái nền, cái gốc của người cán bộ cách mạng Trung với nước, hiếu với dân, người cán bộ phải là đầy tớ của nhân dân, dũng cảm hy sinh, không sợ khó khăn, gian khổ, gạt bỏ lợi ích cá nhân để phục tùng lợi ích tập thể, khiêm tốn học hỏi, không tự cao, tự đại, cần, kiệm, liêm, chính và tinh thần đoàn kết hữu nghị
Trang 2719
Thứ hai, người cán bộ phải có năng lực tổ chức thực tiễn
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ phải luôn rèn luyện, học tập nâng cao trình độ, năng lực tổ chức thực hành để hoàn thành các nhiệm vụ được giao
Năng lực của người cán bộ cách mạng là khả năng tập hợp quần chúng, lãnh đạo, quản lý, tổ chức, động viên quần chúng thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Làm cán bộ phải luôn học hỏi “không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân” [16, tr.80] và phải cần có sự giúp đỡ của dân,
vì “dân chúng đồng lòng việc gì cũng làm được Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên” [16, tr.293] Năng lực tổ chức thực tiễn của người cán bộ được thể hiện ở những nội dung như: quyết định của cán bộ có đúng, trúng không; có được
tổ chức thực hiện và được nhân dân đồng lòng làm theo không; có được kiểm soát, kiểm tra hay là quyết định của cán bộ theo kiểu đánh trống xong là vứt bỏ dùi Để quyết định vấn đề một cách đúng đắn thì cần phải có năng lực, trí tuệ, nắm được thông tin và xử lý thông tin, đưa ra phương án để lựa chọn, quyết định nhanh gọn và sáng suốt nhất
Người cán bộ còn phải biết: “Một là, liên hợp chính sách chung với sự chỉ đạo
riêng Hai là, liên hiệp người lãnh đạo với quần chúng” [17, tr.287] Trong Di
chúc trước lúc đi xa, Người cũng đã để lại những lời căn dặn tâm huyết đối với thế hệ
trẻ như chăm lo, đào tạo đội ngũ cán bộ thành những người thừa kế xây dựng đất nước giàu mạnh Bên cạnh đó, người cán bộ phải có lý tưởng cách mạng, có mục tiêu phấn đấu, phát hiện ra nhiều sáng kiến hay cho quốc gia, dân tộc Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức của người cán bộ cách mạng là đạo đức hành động chứ không phải là điều mong muốn, là lời nói sáo rỗng Do đó, đức phải gắn liền với tài Trong mối quan hệ biện chứng giữa chúng, đức là nhân tố làm cho tài năng trở nên hữu ích đối với con người và xã hội
Thứ ba, người cán bộ phải có trình độ lý luận
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ phải học tập, rèn luyện để không ngừng nâng cao trình độ lý luận Theo đó, mỗi cán bộ phải có thái độ học tập lý luận cho đúng mà trước hết là nêu cao tinh thần khiêm tốn, thật thà Người đã dạy: “Phải
tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong học tập” [18] Là người cán bộ, cần học tập để nâng cao lý luận, tránh thuộc
Trang 2820
lòng hay mô tả lý luận mà phải khái quát, tìm ra quy luật của vấn đề, làm phong phú
lý luận bằng những kết luận mới rút ra từ thực tiễn
Thứ tư, tiêu chuẩn phong cách của người cán bộ
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phong cách của người cán bộ được thể hiện ở các yêu cầu như tác phong quần chúng, dân chủ, thẳng thắn, tính quyết đoán và tinh thần trách nhiệm cao, sâu sát, thận trọng, nhất quán giữa lời nói và việc làm, giữa lý luận
và thực tiễn, thường xuyên nghiêm túc tự phê bình và phê bình Trong phong cách làm việc, phong cách công tác, phong cách lãnh đạo của cán bộ, Người lưu ý phải chống bệnh hẹp hòi, phải biết hy sinh những lợi ích cá nhân vì lợi ích của Tổ quốc và
vì nhân dân, để phục vụ Đảng và Nhà nước Phong cách làm việc của cán bộ phải đề cao tính đảng; mọi hoạt động của cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc
Thứ năm, người cán bộ phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ phải có tài, biết nắm vững và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể Việt Nam, phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực tổ chức thực hành, ai lãnh đạo ngành nào thì phải thông hiểu
và chuyên môn ngành đó
Tóm lại, trong tiêu chuẩn của người cán bộ, Hồ Chí Minh nhấn mạnh tiêu
chuẩn đạo đức, coi đó là gốc của người cán bộ cách mạng, bên cạnh đó, phải có trí tuệ, có tài thì cán bộ mới lĩnh hội được đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, mới có trình độ và năng lực cần thiết để đảm nhiệm được những trọng trách được giao phó, mới đủ khả năng tổ chức chỉ đạo thực hiện tốt phần việc do mình phụ trách Như vậy, người cán bộ phải đồng thời có cả đức và tài, chúng luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau Trong đó đức là gốc, nhưng tài là quan trọng và Bác luôn nhắc nhở chúng ta không được xem nhẹ mặt nào Người nói:
“Có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó Có tài mà không có đức là người vô dụng”
1.2.2 Về công tác phát hiện, lựa chọn, đánh giá, tạo nguồn cán bộ
Phát hiện và lựa chọn cán bộ là công đoạn đầu tiên của toàn bộ công tác cán bộ
Về vấn đề này, Hồ Chí Minh rất tâm huyết với truyền thống tốt đẹp của dân tộc là trọng dụng nhân tài, như lời khắc ghi của cha ông ta vào bia đá ở Văn miếu Quốc tử giám: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” Do vậy, Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới việc phát hiện, lựa chọn nhân tài, làm nguồn cho hình thành đội ngũ cán bộ Để lựa
Trang 29bỏ óc hẹp hòi, mở rộng cửa để liên lạc, hợp tác với những người có đức, có tài năng,
cả người ở ngoài Đảng Muốn thế phải xóa bỏ thói khinh người với căn bệnh “kiêu ngạo Cộng sản”, cho rằng chỉ có mình mới cách mạng, mới khôn khéo
Trong lựa chọn cán bộ, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng tiêu chuẩn phẩm chất đạo đức và năng lực của người được lựa chọn: “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính" và "Sức có mạnh thì mới gánh được nặng và đi được xa”[16, tr.252] Rất chú trọng tiêu chuẩn trong lựa chọn cán bộ, nhưng Hồ Chí Minh không có sự câu nệ
ở bằng cấp mà chủ yếu là ở thực lực; những cán bộ tuy không có bằng cấp cao, nhưng có tài, có đức vẫn phải là nguồn trong tuyển chọn và bố trí sử dụng cán bộ; còn đối với những người không có tài lại không có đức thì phải kiên quyết loại bỏ
Để lựa chọn cán bộ, Hồ Chí Minh yêu cầu phải sâu sát với thực tiễn, kịp thời phát hiện cán bộ có đức, có tài Người cảnh báo căn bệnh thường gặp ở người cán bộ
là thói quan liêu, nó gây thiệt hại đến tiềm năng con người - vốn quý nhất và lâu dài của cách mạng, đất nước Khi đã mắc căn bệnh đó thì không có khả năng phát hiện được những người có khả năng thích hợp với công việc cũng như cán bộ không đủ khả năng đảm đương công việc Khi đã giành được chính quyền nhà nước, Hồ Chí Minh cho rằng vấn đề lựa chọn cán bộ cần phải được công khai hóa, và luật pháp hóa, nhất là đối với cán bộ làm việc trong các cơ quan nhà nước Các sắc lệnh của chủ tịch chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa số 188/SL năm 1948 về việc lập một chế độ công chức mới và một thang lương chung cho các ngạch và các hạng công chức Việt Nam, sắc lệnh số 76/SL năm 1950 về việc ban ban hành quy chế công chức do Người ký ban hành cho thấy rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này; theo
đó đòi hỏi việc tạo nguồn công chức hành chính quốc gia phải qua con đường thi tuyển, với các môn thi về chính trị, về pháp luật, về địa lý, về lịch sử, về ngoại ngữ…
Trang 3022
Theo Hồ Chí Minh cần phải thường xuyên đánh giá cán bộ Vì đánh giá cán bộ đúng thì mới bố trí sử dụng được đúng cán bộ Để đánh giá được cán bộ, trước hết phải xuất phát từ thực tiễn công tác mà người cán bộ tham gia, phải đánh giá cán bộ
cả về phẩm chất đạo đức và năng lực, tài năng: “Xem xét cán bộ không chỉ xem ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc, mà phải xét kỹ cả toàn bộ công việc” [16, tr.278] Hồ Chí Minh cũng chỉ ra khi đánh giá cán bộ phải hết sức tránh thói tự cao tự đại, ưa nịnh hay lòng yêu ghét chủ quan mà “đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác như nhau” [16, tr.243] và bản thân người đánh giá cán bộ trước hết phải sửa chính mình: “Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng” [16, tr.280] Việc đánh giá cán bộ phải trên quan điểm phát triển, phải thấy rõ được mối quan hệ khách quan về biến hóa phát triển của mọi vấn
đề một cách logic Theo đó người chưa phạm sai lầm không có nghĩa sau này sẽ vẫn vậy và ngược lại một người khi trước có sai lầm, không phải vì thế mà họ sai lầm mãi Có nắm được điều đó mới đưa ra được nhận xét, đánh giá cán bộ một cách chính xác, khách quan
Hồ Chí Minh nhấn mạnh khi đề bạt cán bộ trẻ phải chú ý đến sự đoàn kết giữa đảng viên cũ và đảng viên mới Người cho rằng: Trong Đảng ta có nhiều đảng viên già, nhiều đảng viên trẻ Đảng viên nhiều tuổi thì từng trải Đảng viên trẻ tuổi thì hăng hái Cho nên đảng viên phải giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ Xuất phát từ yêu cầu của cách mạng nên Người yêu cầu các cấp ủy đảng trong công tác cán bộ phải khéo kết hợp các thế hệ cán bộ “Đảng ta phải khéo kết hợp cán bộ già với cán bộ trẻ Không nên coi thường cán bộ trẻ Một số ít cán bộ già mắc bệnh công thần, cho mình
là người có công lao, hay có thái độ cha chú với cán bộ trẻ…Còn cán bộ trẻ không được kiêu ngạo, phải khiêm tốn học hỏi các đồng chí già có kinh nghiệm” [9, tr.208]
1.2.3 Về công tác huấn luyện và bồi dưỡng cán bộ
Trong toàn bộ tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề cán bộ và huấn luyện cán bộ luôn có một vị trí hết sức quan trọng bởi theo Người, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay xấu Từ thực tiễn cách mạng ở nước ta, Hồ Chí Minh cho rằng huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là khâu có ý nghĩa quyết định đến chất lượng cán
bộ, vì vậy phải làm thiết thực Nguyên tắc huấn luyện là phải chú ý đến kinh nghiệm thực tế, lý luận phải đi đôi với thực tế Việc huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ gồm những nội dung huấn luyện về nghề nghiệp, huấn luyện về chính trị, huấn luyện về văn hóa, huấn luyện về lý luận Nhận thức rõ việc huấn luyện, đào tạo cán bộ là công
Trang 31Trong chỉ đạo việc học tập, Người luôn phê phán “Hiện tượng kinh nghiệm chủ nghĩa” đó là một hiện tượng có tính chất chủ nghĩa xét lại, cần phải đề phòng… Nhấn mạnh tầm quan trọng của lý luận, Người chỉ rõ: Mỗi cán bộ của Đảng phải luôn nhớ rằng: tránh giáo điều; phải không khi nào được quên rằng vai trò kim chỉ nam cho hành động của lý luận và lý luận không phải mang tính cứng nhắc mà đầy tính sáng tạo Mặt khác, lý luận có mối quan hệ máu thịt với thực tiễn, phải luôn gắn
lý luận và thực tiễn, phải vận dụng lý luận để giải quyết các vấn đề thực tiễn cách mạng đặt ra, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ phải luôn trau dồi lý luận cách mạng và gắn lý luận cách mạng với phong trào cách mạng, với thực tiễn, đó là liều thuốc tránh được các bệnh giáo điều, xét lại và đó cũng là tiêu chuẩn của người cán bộ của Đảng Theo Người, công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ phải tập trung giải quyết được các vấn đề như: Thứ nhất, từ trước đến nay, đoàn thể đã huấn luyện được mấy người? Thứ hai, huấn luyện ai? Thứ ba, ai huấn luyện? Thứ tư, huấn luyện gì? Thứ năm, huấn luyện thế nào? Thứ sáu, về tài liệu huấn luyện
Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu cán bộ, đảng viên phải phát huy tinh thần tự học, học để sửa chữa tư tưởng, tu dưỡng đạo đức cách mạng, học để tin tưởng và học để hành
Trong đào tạo, huấn luyện, một vấn đề mà Người luôn đặc biệt quan tâm đó là học ở đâu? Theo Người, ngoài việc học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau thì cần phải học ở nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn
Đặc biệt, với tầm nhìn chiến lược, Hồ Chí Minh rất chú trọng đến việc đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ trở thành những cán bộ “hồng thắm, chuyên sâu” để xây dựng và gánh vác sự nghiệp cách mạng nước nhà Người cho rằng: Theo luật tự nhiên, già thì phải yếu và chết Nếu không có cán bộ mới thế vào thì ai gánh vác việc của Đảng
Trang 3224
1.2.4 Về bố trí, sử dụng cán bộ
Trong mọi công việc, Hồ Chí Minh rất quan tâm tới việc bố trí và sử dụng cán
bộ sao cho có hiệu quả Hồ Chí Minh đưa ra phương châm “dụng nhân như dụng mộc” với yêu cầu sử dụng cán bộ là:
Hiểu và đánh giá đúng cán bộ để lựa chọn và sử dụng đúng cán bộ Trong sử
dụng cán bộ phải hiểu biết đúng cán bộ Càng am hiểu bản chất, ưu, khuyết điểm của cán bộ thì càng có cơ sở để sử dụng cán bộ hiệu quả, đặt cán bộ phù hợp với năng lực
sở trường của họ Và muốn biết cán bộ thì phải biết mình trước, vì "Đã không tự biết mình thì khó mà biết người, vì vậy muốn biết đúng sự phải trái của người ta, thì trước hết phải biết đúng sự phải trái của mình Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu" [16, tr 277] Hiểu biết cán bộ để nhìn thấy và khơi dậy được những điểm tốt, điểm mạnh cũng như điểm yếu của cán
bộ, qua đó tìm được cách sử dụng cán bộ cho thích hợp với khả năng của mỗi người Phải “khéo dùng cán bộ”, “dùng người đúng chỗ, đúng việc” Xuất phát từ
quan niệm bản chất cán bộ cũng là con người, mà đã là con người thì không phải điều gì cũng tốt, điều gì cũng hay Đã làm việc thì người cán bộ dù có tài giỏi mấy cũng không tránh khỏi những khuyết điểm Vì vậy, phải khéo dùng người, sửa chữa khuyết điểm cho họ, phát huy những ưu điểm của họ Mục đích khéo dùng cán bộ, cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và chính sách của Chính phủ Nếu cán
bộ có ý hoang mang, sợ hãi, buồn rầu, uất ức hoặc công tác không hợp nhau, không
thể thành công được Vì vậy, muốn cán bộ làm được việc, phải khiến cho họ yên tâm làm
việc và cần phải tránh những việc khi dùng cán bộ như: tuyển người bà con, anh em quen biết, những kẻ khéo nịnh hót mình hoặc tính tình hợp với mình
Hồ Chí Minh phê bình nghiêm khắc tệ “kéo bè kéo cánh” trong công tác cán bộ
Tệ này phát sinh từ bệnh bè phái, ai hợp với mình thì thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau; ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là người xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống Khuyết điểm này, như Hồ Chí Minh chỉ
ra, nó rất tai hại, nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình, làm hại sự thống nhất, nó làm mất sự thân ái, đoàn kết đồng chí, gây ra những mối nghi ngờ…
Hồ Chí Minh nêu ra quan điểm toàn diện khi xem xét để đề bạt, bổ nhiệm cán bộ: Khi cất nhắc một cán bộ, cần phải xét rõ người đó có gần gũi quần chúng, có
Trang 3325
được quần chúng tin cậy và mến phục không Lại phải xem người ấy xứng với việc
gì Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc Nếu cất nhắc không cẩn thận, không khỏi đem người bô lô ba la, chỉ nói mà không biết làm, vào những địa vị lãnh đạo, như thế rất có hại
Hồ Chí Minh phê phán những bệnh sau đây: Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, vì cho họ tốt hơn người bên ngoài; Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực; Ham dùng những người tính tình hợp với mình mà tránh những người tính tình không hợp với mình
Phải chống chủ nghĩa biệt phái, cục bộ, địa phương, hẹp hòi Hồ Chí Minh hay
nhấn mạnh đến việc chống cánh hậu, họ hàng, thân quen trong công tác cán bộ nói chung cũng như trong chính sách cán bộ nói riêng Người phê bình một cách nghiêm khắc việc ưa kẻ nịnh người làm công tác cán bộ, tìm cách lợi dụng chức quyền để đưa anh em, họ hàng, bạn bè thân quen vào chức này chức nọ Hồ Chí Minh chỉ rõ tác hại của bệnh hẹp hòi, bệnh địa phương cục bộ Theo Người, những bệnh chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi,…đều do bệnh hẹp hòi mà ra Bên cạnh đó, việc phân công cán bộ được phái đến và cán bộ tại địa phương cũng có nhiều điểm bất cập, không chặt chẽ Theo quan điểm của Người, tốt nhất là kiếm cán bộ tại chỗ, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, sử dụng cán bộ tại chỗ; song nếu không có hoặc thiếu thì điều động cán bộ ở nơi khác về Như vậy, đội ngũ cán bộ là một đội ngũ thống nhất, cán
bộ có thể và cần phải được bố trí công tác ở bất cứ địa bàn nào miễn là người cán bộ
đó có đủ đức và tài, có tính đến đặc điểm, yêu cầu của từng vùng, từng lĩnh vực
Phải chú trọng đến công tác đề bạt cán bộ Hồ Chí Minh lưu ý việc phải xem
xét thật kỹ trước khi đề bạt cán bộ, sau khi đã đề bạt rồi thì phải theo dõi, giúp đỡ, kiểm tra người cán bộ đó; nếu không như thế thì hỏng việc Hồ Chí Minh bày tỏ quan điểm quý trọng cán bộ khi cho rằng: “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta” [16, tr.59]
Trang 3426
Chính sách sử dụng cán bộ, trọng dụng nhân tài được thể hiện cụ thể ở việc phát hiện, hiểu biết cán bộ; khéo dùng cán bộ và bố trí, cân nhắc đề bạt cán bộ Chính sách, chế độ với cán bộ thể hiện ở việc yêu thương cán bộ và cách đối với cán bộ mắc sai lầm, khuyết điểm Điều này, không chỉ là đòi hỏi của công tác cán bộ mà còn thể hiện tính nhân văn sâu sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh Đó là sự tôn trọng yêu thương, nâng niu phẩm giá con người
Yêu thương cán bộ không phải là sự “vỗ về, nuông chiều thả mặc” mà thể hiện rạch ròi giữa nêu gương, khen thưởng khi cán bộ tốt và hoàn thành nhiệm vụ; với động viên giúp đỡ khi cán bộ gặp khó khăn và phê bình uốn nắn khi họ khuyết điểm với “tình đồng chí yêu thương lẫn nhau” Còn hoạt động là còn phạm sai lầm, vì vậy khi cán bộ phạm sai lầm khuyết điểm, không nên công kích họ mà dùng “thái độ thân thiện” để giúp đỡ, cảm hóa, thuyết phục, giáo dục họ Tuy nhiên, Hồ Chí Minh nhấn mạnh “không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt”, mà “cần phải phân tách rõ ràng cái lỡ sai lầm, phải xét kỹ lưỡng việc nặng hay nhẹ, phải dùng xử phạt cho đúng” Như vậy, Hồ Chí Minh đối xử với cán bộ được đặt trong thể thống nhất giữa lý
và tình, giữa tình yêu thương và sự nghiêm khắc, nhằm vun đắp tài đức và chí khí để cán bộ “thắng không kiêu, bại không nản”, “có gan đề xuất”, “có gan làm việc”, cống hiến cao nhất cho sự nghiệp cách mạng và dân tộc
Trang 3527
Tiểu kết chương 1
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ là kết tinh truyền thống dùng người của ông cha ta trong lịch sử, là đỉnh cao của “nghệ thuật” hay “phương sách” dùng người - bí quyết thành công của sự nghiệp Cách mạng Đó
là tư tưởng vĩ đại đầy tính nhân văn và khoa học Nhờ đó mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp được hiền tài, đã thu hút được các nhân sỹ yêu nước, đã thu hút được tất cả các lực lượng đoàn kết xung quanh Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong thời đại mới, đưa cả nước vững bước đi lên CNXH Chương 1 của đề tài đã trình bày rõ các nội dung chủ yếu từ khâu phát hiện, lựa chọn cán bộ, đánh giá cán bộ, huấn luyện cán bộ, bố trí, sử dụng cán
bộ, kiểm tra cán bộ và chế độ, chính sách đối với cán bộ Đó chính là tiền đề cơ sở lý luận thực tiễn để vận dụng xây dựng đội ngũ cán bộ thành phố Quảng Ngãi đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay Đây cũng là cơ sở để đi vào phân tích thực trạng, tìm ra nguyên nhân, hạn chế và giải pháp xây dựng công tác cán bộ
và đội ngũ cán bộ thành phố Quảng Ngãi
Trang 3628
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ Ở THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 2.1 Khái quát tình hình, đặc điểm thành phố Quảng Ngãi
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Thành phố Quảng Ngãi là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Ngãi ở vùng Nam Trung Bộ Việt Nam, chia thành 23 đơn vị hành chính gồm 9 phường và 14 xã Thành phố Quảng Ngãi trải dài từ 14°32′ đến 15°25′ Bắc, từ 108°06′ đến 109°04′ Đông, tựa vào dãy núi Trường Sơn hướng ra biển Đông với chiều dài bờ biển 144 km Phía Nam giáp huyện Tư Nghĩa, Đông Nam giáp huyện Mộ Đức, phía Bắc giáp huyện Bình Sơn, phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Sơn Tịnh, phía Đông giáp biển Đông Sông Trà Khúc đi qua giữa lòng Thành phố và chia thành bờ Bắc và bờ Nam [23]
- Phân loại theo đơn vị hành chính cấp xã:
+ Cấp xã loại I: 07 xã, phường, gồm: xã Tịnh Khê, xã Nghĩa An, xã Nghĩa Hà, phường Quảng Phú, phường Trương Quang Trọng, Phường Nghĩa Lộ, phường Nghĩa Chánh
+ Cấp xã loại II: 15 xã, phường, gồm: xã Nghĩa Dũng, xã Nghĩa Dõng, xã Tịnh Long, xã Tịnh An, xã Tịnh Châu, xã Tịnh Thiện, xã Tịnh Hòa, xã Tịnh Kỳ, xã Tịnh
Ấn Tây, xã Nghĩa Phú, phường Chánh Lộ, phường Nguyễn Nghiêm, phường Trần Phú, phường Lê Hồng Phong, phường Trần Hưng Đạo
+ Cấp xã loại III: xã Tịnh Ấn Đông
Thành phố Quảng Ngãi là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh, là nơi tập trung toàn bộ trụ sở các cơ quan Đảng, cơ quan quản lý hành chính Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hôi, các cơ quan thông tin, truyền thông báo chí của tỉnh, Trung ương và phần lớn trụ sở các doanh nghiệp, văn phòng đại diện của các tổ chức kinh tế Trung ương và địa phương khác
Ngoài ra, thành phố nằm ở trung đoạn giữa thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, là đầu mối giao thông của khu vực Trung Trung Bộ và Tây Nguyên, nằm trên các trục giao thông đường bộ, đường sắt của quốc gia như: Quốc lộ 1A, quốc lộ 24, đường sắt thống nhất Bắc Nam gắn với sân bay Quốc tế Chu Lai và cảng biển nước sâu Dung Quất nên thuận lợi trong việc giao với các tỉnh, thành phố trong cả nước và Quốc tế Có đường tỉnh lộ 625 đi Thạch Nham liên hệ các huyện phía Tây; đường tỉnh lộ 627 nối liền thành phố Quảng Ngãi với các huyện Minh Long, BaTơ và tỉnh
Trang 372.1.2 Truyền thống văn hoá, lịch sử và con người Quảng Ngãi
Theo suốt chiều dài lịch sử, Quảng Ngãi là vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời, giàu truyền thống yêu nước, hiếu học, đoàn kết, lao động cần cù, sáng tạo và xứng đáng là hậu phương, căn cứ địa vững chắc của Liên khu V
Trong quá trình mở rộng lãnh thổ, trở thành một quốc gia thống nhất của các dân tộc Việt Nam, Quảng Ngãi là cầu nối giữa hai miền Bắc, Nam Đến năm 1402, Quảng Ngãi chính thức trở thành một bộ phận của nước Việt Nam ngày nay, khi mà hai châu Tư và Nghĩa cũng do nhà Hồ đặt ở phía Nam hai châu Thăng và Hoa, trên
trình đấu tranh để xây dựng và bảo vệ quê hương, nhân dân Quảng Ngãi đã tạo nên những nét đẹp văn hoá vừa phong phú, vừa đậm đà bản sắc, tính cách con người của địa phương Họ là những người giàu truyền thống yêu nước, sớm theo Đảng và Bác
Hồ, không quản ngại gian khổ và hy sinh, hăng hái tham gia cách mạng, lập nhiều thành tích xuất sắc, cùng nhau đoàn kết vượt qua mọi thử thách, góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng
Cũng như đồng bào cả nước, nhân dân Quảng Ngãi không chỉ có truyền thống đánh giặc giữ nước mà còn có truyền thống lao động cần cù, sáng tạo Với điều kiện
tự nhiên không mấy thuận lợi cho sản xuất, chủ yếu là nông nghiệp, người dân Quảng Ngãi phải lao động cật lực để làm ra hạt lúa, củ khoai Song cũng từ lao động nhọc nhằn ấy đã nảy sinh bao nhiêu sáng tạo trong nông nghiệp, thuỷ lợi, thủ công nghiệp, chăn nuôi gia cầm, gia súc, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản
Quảng Ngãi cũng là vùng đất văn hiến trong quốc gia Việt Nam với nền giáo dục khá phát triển Một vùng đất nghèo, con người phải lao động vất vả để sống,
Trang 3830
song tinh thần, ý chí học tập, truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo thì ngày một toả sáng Truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo này được thể hiện ở việc lập Văn Thánh và tổ chức lễ tế hàng năm và truyền thống ấy vẫn được phát huy đến ngày nay, hàng năm tỉ lệ học sinh đậu đại học trên 60%, nhiều em đậu thủ khoa các trường đại học danh tiếng của đất nước; nhiều người sau này thành đạt và giữ nhiều chức vụ quan trọng ở Trung ương, các tỉnh và thành phố
2.1.3 Đặc điểm dân cư, nguồn lao động
Thành phố Quảng Ngãi hiện nay có diện tích là 160,1534 km², với dân số 263.440 người, mật độ dân số trung bình đạt 1645 người/km2 Cụ thể diện tích, dân
số và mật độ dân số của thành phố Quảng Ngãi phân theo phường, xã được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.1: Diện tích, dân số, mật độ dân số phân theo phường, xã của thành phố Quảng Ngãi
STT Tên đơn vị hành
chính
Diện tích (km²)
Dân số (người)
Mật độ (người/km²)
Trang 39Nguồn: Phòng LĐTBXH thành phố Quảng Ngãi
Qua bảng số liệu trên, ta thấy dân số tập trung đông đúc với mật độ dân số cao tại nội thành Trong khi đó, vùng ngoại ô có diện tích đất rông lớn thì mật độ dân số còn thưa thớt cho dù có tổng số dân lớn hơn Tuy nhiên mật độ dân số ở khu vực các phường nội thành cao hơn nhiều so với các xã ngoại thành (3.633 người/km2 so với 1.111 người/km2 )
Hiện nay, dân số thành phố ngày càng được trẻ hóa, đây cũng là một nguồn lực lượng lao động dồi dào và có chất lượng cao Cung cấp nguồn lao động trẻ, có năng lực, trình độ cho thành phố cũng như toàn tỉnh Quảng Ngãi
2.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và hệ thống chính trị
Với vị trí đặc biệt thuận lợi, trong những năm qua, thành phố Quảng Ngãi đã đạt được nhiều thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh và công tác xây dựng hệ thống chính trị Ngày 24/9/2015, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định công nhận thành phố Quảng Ngãi là đô thị loại II
Về kinh tế: Kinh tế của thành phố đã có bước phát triển khá toàn diện Tổng
sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2017 ước đạt 45.386 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010) tăng 1,3 lần so với năm 2016 GRDP bình quân đầu người đạt 51,8 triệu đồng/ người, tương đương 2.231 USD/người; tổng giá trị gia tăng 13.197 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng kinh tế 11,79% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng Trong đó, công nghiệp – xây dựng đạt 24.037,8 tỷ đồng ; khu vực dịch vụ đạt 13.198,0 tỷ đồng tăng 8,5%; Khu vực nông, lâm, nghiệp và thủy sản đạt 8.150,2 tỷ đồng tăng 4,9% Tổng sản phẩm trên địa bàn không tính sản phẩm lọc hóa dầu ước đạt 30.342,1 tỷ đồng, tăng 9,1% so với năm 2016
Trang 4032
- Sản xuất công nghiệp: Giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 101.311,6 tỷ đồng Trong đó, công nghiệp hóa dầu đạt 79.095,3 tỷ đồng giảm 11,5%; công nghiệp ngoài hóa dầu đạt 22.216,3 tỷ đồng, tăng 11,0% so với năm 2016
- Thương mại – dịch vụ và giá cả thị trường: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch
vụ tiêu dùng ước đạt 46.205,8 tỷ đồng, tăng 11,0% so với năm 2016, đạt 100,7% kế hoạch
- Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản: Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 14.517,4 tỷ đồng, tăng 5,0% so với năm 2016 và vượt 5,1% kế hoạch Trong đó, nông nghiệp đạt 8.205,4 tỷ đồng, tăng 3,1%; lâm nghiệp đạt 825,4
tỷ đồng, tăng 8,4%; thủy sản đạt 5.486,7 tỷ đồng, tăng 7,6%
Về văn hóa - xã hội: Chất lượng, hiệu quả hoạt động của các lĩnh vực giáo
dục - đào tạo, y tế, văn hóa - thông tin, thể thao ngày càng được nâng cao Công tác quản lý giáo dục tiếp tục được đổi mới, chất lượng giáo dục có mặt được nâng lên; cơ
sở vật chất được quan tâm đầu tư, chủ trương xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh Chính sách đối với người có công, công tác đền ơn, đáp nghĩa được thực hiện kịp thời; công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm được chú trọng Công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em được quan tâm và đạt kết quả khá; an sinh xã hội được đảm bảo Các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao có bước phát triển tích cực, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân Các chương trình mục tiêu y tế quốc gia được triển khai đến tận cơ sở; chất lượng công tác khám, chữa bệnh có chuyển biến tốt hơn Công tác truyền thông dân số kết hợp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch
hóa gia đình được quan tâm chỉ đạo thực hiện
Về quốc phòng - an ninh: Thực hiện tốt nhiệm vụ đảm bảo an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội Tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, kiềm chế có hiệu quả tốc độ gia tăng tội phạm, các tệ nạn xã hội, giảm thiểu ùn tắc và tai nạn giao thông, đảm bảo cuộc sống bình yên cho nhân dân Công tác quân sự quốc phòng được thực hiện tốt Công tác khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án nhìn chung đảm bảo đúng quy định của pháp luật
Về xây dựng hệ thống chính trị: Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng
lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng của địa phương được đẩy mạnh theo hướng đổi mới
và nâng cao chất lượng, hiệu quả Việc triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn thành phố được thực hiện