Triết học hiện sinh ra đời với mục đích đi tìm sự hiện tồn của con người, tìm lại những giá trị nhân bản mà thời đại công nghiệp con người đã bỏ qua.. Những tác phẩm văn học của Sartre
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ - -
Đề tài
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TÁC PHẨM “BUỒN
NÔN” CỦA JEAN-PAUL SARTRE
Sinh viên thực hiện: Bùi Trần Huyền Trâm
Lớp :15SGC
Giảng viên hướng dẫn: TS Dương Đình Tùng
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TÁC PHẨM
“BUỒN NÔN” CỦA JEAN-PAUL SARTRE
Sinh viên thực hiện: Bùi Trần Huyền Trâm Lớp : 15SGC
Giảng viên hướng dẫn: TS Dương Đình Tùng
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Dương Đình Tùng Các nội dung nghiên cứu trong đề tài này là trung thực
và chưa được công bố bằng bất kì hình thức nào trước đây Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng một số quan điểm, nhận xét của các tác giả khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung khóa luận của mình
LỜI CẢM ƠN
Trang 4Để hoàn thành đề tài khóa luận và kết thúc chương trình học, với tình cảm chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn tới thầy Dương Đình Tùng đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp này Đồng thời, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới thầy cô trong Khoa Giáo dục chính trị Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, bạn bè đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp lần này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu: 2
2.1 Mục tiêu nghiên cứu: 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu: 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu: 2
4 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu: 2
5 Bố cục của đề tài: 2
6 Tổng quan tài liệu: 2
CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ TRIẾT HỌC CỦA JEAN-PAUL SARTRE VÀ TÁC PHẨM “BUỒN NÔN” 5
1.1 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Jean-Paul Sartre 5
1.2 Những nội dung cơ bản trong triết học của Jean-Paul Sartre 8
1.2.1 Những tiền đề cho sự ra đời của triết học Jean-Paul Sartre 8
1.2.2 Một số tư tưởng triết học của Jean-Paul Sartre 11
1.3 Tác phẩm “Buồn Nôn” của Jean Paul Sartre 16
1.3.1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Buồn Nôn 16
1.3.2 Nội dung và bố cục của tác phẩm “Buồn Nôn” 18
1.3.3 Ý nghĩa của tác phẩm “Buồn Nôn” 19
1.3.4 Tính chất của tác phẩm 21
Kết luận chương I 24
CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM CỦA JEAN-PAUL SARTRE VỀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI QUA TÁC PHẨM “BUỒN NÔN” 25
2.1 Nhân vật Roquentin và hình ảnh của tác giả qua nhân vật Roquentin trong tác phẩm “Buồn Nôn” 25
2.1.1 Nhân vật Roquentin trong tác phẩm “Buồn Nôn” 25
2.1.2 Hình ảnh tác giả thông qua nhân vật Roquentin trong tác phẩm “Buồn Nôn” 33
Trang 62.2 Con người trong tác phẩm “Buồn Nôn” của Jean-Paul Sartre 37
2.2.1 Con người cô đơn 37
2.2.2 Con người dự phóng 40
2.2.3 Con người tha nhân 42
2.2.4 Con người dấn thân 44
2.3 Giá trị của vấn đề con người trong tác phẩm Buồn Nôn của Jean-Paul Sartre 45
2.3.1 Con người hướng đến đời sống là chính mình 45
2.3.2 Con người trách nhiệm 49
2.3.2.1 Con người trách nhiệm với chính bản thân 49
2.3.2.1 Con người trách nhiệm đối với sự phát triển của xã hội 52
Kết luận chương II 56
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 7con người, cái con người trong tính toàn vẹn của nó Theo Husserl: “Hình thức tha hóa
chiếm ưu thế trong xã hội phương Tây chính là sự tha hóa về tinh thần”
Xã hội càng giàu có về vật chất, con người càng bị cuốn vào lối sống thực dụng, thì những giá trị tinh thần ngày bị xem nhẹ, đặc biệt mặt trái của các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm cho tư duy con người ngày càng khô cứng hơn, sự riêng biệt, tính
cá nhân ngày càng bị lãng quên Triết học hiện sinh ra đời với mục đích đi tìm sự hiện tồn của con người, tìm lại những giá trị nhân bản mà thời đại công nghiệp con người đã
bỏ qua Triết học hiện sinh tìm về đời sống nội tâm, ý thức tự quy và cách thức phản ứng của con người không phải theo bản năng hay theo một cách thức nhất định mà phản ứng một cách tự do Người có tự do hiện sinh là người hành động vì cảm thấy phải hành động, hành động để thể hiện sự hiện sinh của chính mình, hành động để làm sự hiện sinh của mình thêm phong phú và sâu sắc chứ không phải hành động vì chiều theo số động hay vì truyền thống hay vì cưỡng ép hay vì một bất kỳ một lý do nào khác mà không vì
sự hiện sinh của chính mình
Jean-Paul Sartre là nhà triết học người Pháp, là một trong những đại diện hàng đầu của triết học hiên sinh Ông được biết đến với nhiều tác phẩm nổi tiếng như Buồn nôn (1938), Bức tường (1938), Tồn tại và hư vô (1943), Những con đường của tự do (1945-1949), Những người bị cầm tù ở Altona (1960),… Trong số các tác phẩm để lại tên tuổi của ông với hậu thế chúng ta phải bàn đến cuốn tiểu thuyết “Buồn Nôn” Bởi lẽ tác phẩm
đã làm nổi bật được cảm xúc nội tâm của con người, đồng thời cho chúng ta thấy cảm xúc con người được lột tả thông qua nhân vật Roquentin Ông đã mổ xẻ đến kiệt cùng
sự nhận thức của Roquentin về chính mình, về từng động tác, từng cảm giác, từng tri giác của chính mình để dẫn dắt chúng ta đi đến nhận thức sâu sắc hơn về con người hiện sinh Để làm rõ được con người hiện sinh trong tác phẩm này tôi quyết định chọn đề tài:
Trang 8“Vấn đề con người trong tác phẩm Buồn Nôn của Jean-Paul Sartre” góp phần nghiên
cứu giúp chúng ta nhận thức đúng về con người dưới góc nhìn hiện sinh
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Từ việc phân tích vấn đề con người trong tác phẩm, đề tài chỉ ra những giá trị những vấn đề về con người đối với tính lịch sử và xã hội
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khái quát về Jean-Paul Sartre, triết học của ông và tác phẩm “Buồn Nôn”
- Phân tích vấn đề con người trong tác phẩm “Buồn Nôn”
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Vấn đề con người trong tác phẩm “Buồn Nôn” của Jean-Paul Sartre
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Tác phẩm “Buồn Nôn” của Jean-Paul Sartre
4 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu:
Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở nghiên cứu của đề tài
Phương pháp nghiên cứu: đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ đạo sau: phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, đối chiếu, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa
5 Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo bố cục đề tài gồm 2 chương:
- Chương I: Khái lược về Triết học của Jean-Paul Sartre và tác phẩm “Buồn Nôn”
- Chương II: Vấn đề con người trong tác phẩm “Buồn Nôn” của Jean-Paul Sartre
6 Tổng quan tài liệu:
Buồn Nôn của Jean-Paul Sartre là một tác phẩm mang lại giá trị tinh thần rất lớn cho nhân loại Chính vì thế, nó luôn được quan tâm và được nhiều học giả đi sâu vào nghiên cứu trên nhiều khía cạnh, đặc biệt là về góc độ con người, chủ nghĩa hiện sinh,… Bởi Buồn Nôn chính là một làn sóng của chủ nghĩa hiện sinh nên nó đã khơi lên rất nhiều
dư luận trái chiều đối với các học giả Họ quyết tâm đi nghiên cứu tác phẩm để có thể hiểu rõ hơn về nội dung của nó, đồng thời họ cũng dành nhiều thời gian đi nghiên cứu
về tác giả Jean Paul Sartre Trên thế giới cũng như ở Việt Nam cũng đã có nhiều công
Trang 9trình nghiên cứu về tác phẩm Buồn Nôn và tác giả Jean-Paul Sartre, bên cạnh đó, có một
số công trình được viết thành sách
Trong thời kì kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam, có nhiều tác giả viết về chủ nghĩa hiện sinh như: “Chủ nghĩa hiện sinh và thuyết cấu trúc” của Trần Thiện Đạo;
“Triết học hiện sinh” của Trần Thái Đỉnh; “Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam 1954-1975” (trên bình diện lí thuyết) của Huỳnh Như Phương… Các tác giả này đã viết nhiều về Sartre nhưng tiểu thuyết Buồn Nôn chỉ được trình bày một cách ngắn gọn, chưa tác giả nào dành hẳn một mục nói về tác phẩm quan trọng này
Mới đây, ở những trang tạp chí văn học, báo,… nhiều bài viết nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh, bài viết về Jean-Paul Sartre với Buồn Nôn được nghiên cứu và bàn luận sôi nổi Các công trình này đã trình bày một cách khái quát và có hệ thống quan niệm của chủ nghĩa hiện sinh cũng như tư tưởng của Sartre Đó là những tri thức gợi mở cho những người nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh
Francis Jeanson viết cuốn “Sartre” vào năm 1947, do chính Sartre tái bản dưới tựa
“Vấn đề luân lí và tư tưởng của Sartre”, cuốn sách đi giới thiệu, trình bày lại chính xác, mạch lạc, dễ hiểu triết lí của Sartre và những vấn đề luân lí nó đặt ra J.P Sartre đặc biệt nhấn mạnh yếu tố xã hội trong khi nghiên cứu một nhà văn Điều đó thể hiện trước hết qua sự nghiệp sáng tác của chính bản thân ông: “Tôi nghĩ rằng trong tôi đã có sự phát triển liên tục từ tác phẩm Buồn Nôn đến Phê bình lí trí biện chứng Sự phát hiện lớn của tôi, đó là các vấn đề xã hội, trong chiến tranh, tôi đã là người lính trên chiến trận, đó thực sự là nạn nhân của một xã hội mà anh thuộc về nó, nơi ấy anh không muốn có mặt
và là xã hội đem lại cho anh những luật lệ mà anh không muốn Các vấn đề xã hội không
có trong tác phẩm Buồn Nôn, nhưng người ta có thể thấy thoáng qua” Sartre quan tâm đến việc hòa nhập con người và thời đại, thống nhất một cách hữu cơ việc nghiên cứu lịch sử và phân tích tác phẩm của nhà văn
Bài viết “Jean-Paul Sartre - Nỗi đam mê làm người trong thế kỉ XX” của tác giả Phan Huy Đường Nó đi vào nghiên cứu về hiện sinh của Jean-Paul Sartre cùng những tác phẩm của ông Với những nội dung như: Một con người quái đản; Một kiếp sống, tư duy, hành động và sáng tác nghệ thuật phi thường Cùng với đó là quan điểm của các nhà hiện sinh lớn như Descartes, Kant, Hegel khi trả lời 3 câu hỏi: Thực-thể có thực hay không có thực Nếu có, bản chất của nó là gì?, Tinh-thần có thực hay không có thực Nếu có, bản chất của nó là gì?, Tinh-thần có thể hiểu thực-thể hay không? Vì sao? để từ
đó tác giả có thể đi sâu nghiên cứu vào tư tưởng và hành động của Sartre
Trang 10Các nhà nghiên cứu dành nhiều đánh giá cho chủ nghĩa hiện sinh của Jean-Paul Sartre như: “Từ hiện tượng học đến triết học hiện sinh là con đường tất yếu của tư tưởng thế kỉ 20, mà lịch sử đã chọn Jean-Paul Sartre là người phát ngôn của thời đại” Tất cả những vấn đề Sartre đặt ra để làm sáng tỏ thân phận làm người, cụ thể là: “Hữu thể là một thảm kịch, là phi lí, là hư vô; con người luôn cô đơn và cái chết luôn hiện diện Nhưng con người biết bất chấp cái chết để nhập cuộc tự do làm nên lịch sử của mình bằng những dự phóng” Những tác phẩm văn học của Sartre đều bộc lộ tư tưởng triết học của Sartre trong Tồn tại và Hư vô, đó là: Hiện sinh từ thân phận và hoàn cảnh con người trong thế giới, một thế giới mà trong đó ta bị đẩy vào và chờ đợi ở ta một ý nghĩa Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu như: Jean-Paul Sartre là nhà văn dấn thân và nhập cuộc trong cuốn “Sứ mệnh của tiểu thuyết trong thời đại chúng ta” của Svetlana viết năm 2005; “Cửa sổ văn chương thế giới” (Ngô Tự Lập sưu tầm, tuyển chọn) của Trần Thiện Đạo viết năm 2003; “Về tư tưởng và văn học hiện đại phương Tây” của Phạm Văn Sĩ viết năm 1986
Trang 11CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ TRIẾT HỌC CỦA JEAN-PAUL SARTRE
VÀ TÁC PHẨM “BUỒN NÔN”
1.1 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Jean-Paul Sartre
Jean-Paul Sartre là nhà triết học hiện sinh, nhà soạn kịch, nhà biên kịch, tiểu thuyết gia và là nhà hoạt động chính trị người Pháp Ông là một trong những nhân vật nòng cốt trong hệ thống triết học của chủ nghĩa hiện sinh, và một trong những nhân vật có ảnh hưởng lớn trong nền triết học Pháp thế kỷ XX và chủ nghĩa Marx Tác phẩm của ông cũng đã ảnh hưởng đến xã hội học, lý thuyết phê bình, lý thuyết hậu thuộc địa, phê bình văn học, và vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng đến các ngành này Sartre cũng có mối quan hệ với nhà lý thuyết nữ quyền nổi tiếng là Simone de Beauvoir
Ông sinh ngày 21 tháng 05 năm 1905 tại Paris, trong một gia đình gia giáo và giàu
có Ông là người con duy nhất của Jean-Baptiste Sartre, một sĩ quan của Hải quân Pháp,
và Anne-Marie Schweitzer Mẹ ông có nguyên quán là người vùng Grand Est, bà là chị
họ của Albert Schweitzer, người cũng từng đoạt giải Nobel (cha của Anne-Marie Schweitzer - ông Charles Schweitzer - là anh ruột của Louis Théophile Schweitzer - cha của Albert Schweitzer) Năm 1907, khi Satre mới có 2 tuổi thì cha của ông mất vì bị sốt
Bà Anne và đã đưa ông về ở với ông bà ngoại ở Meudon Tại đây, Satre được mẹ giáo dưỡng với sự trợ giúp ông ngoại là một thầy giáo tiếng Đức Ông ngoại của Satre đã dạy ông toán học và văn học cổ điển từ khi ông còn ấu thơ Vào năm 1917, khi Sartre 12 tuổi bà Anne Marie tái giá với ông Joseph Mancy, một kỹ sư và về sau được cử làm giám đốc xưởng hải quân tại La Rochelle Cậu Jean-Paul Sartre đã lớn lên trong một khung cảnh tư sản thành thị, không hề cảm thấy hạnh phúc khi theo học tại trường trung học La Rochelle và luôn cảm thấy cô độc Về sau trong cuốn tự thuật, J.P Sartre đã viết:
“Tôi lớn lên trong cảnh tối tăm, tôi trở thành một người lớn cô đơn, không cha và không mẹ, không nhà và không cả trái tim, và hầu như không có cả tên gọi” và “cái hệ thống này đã làm tôi kinh hoàng”
Sartre sớm đã bộc lộ thiên hướng văn chương Vào những năm 1920, khi còn là một thiếu niên, Satre đã bị triết học thu hút khi ông đọc bài khảo luận “Các dữ liệu trực cảm của ý thức” của Henri Bergson Năm 1924, ông đã theo học và đạt được văn bằng triết học tại Trường Sư Phạm nổi tiếng ở Paris (École normale supérieure), một trường alma mater của nhiều nhà tư tưởng và trí thức nổi tiếng của Pháp Trong thời gian này Sartre
đã gặp một cô bạn cùng lớp: Simone de Beauvoir – là người phụ nữ đầu tiên đậu thạc sĩ
ở Pháp, người mà sau này cũng trở nên một nhà tư tưởng danh tiếng, một nhà văn và
Trang 12một phụ nữ vận động cho phong trào nam nữ bình quyền, sau này tác phẩm nổi tiếng nhất của bà Beauvoir là cuốn “Giới Tính Thứ Hai” (The Second Sex) Sartre và Beauvoir
là đôi bạn thân, đôi tình nhân, trao đổi các mối tình lãnh mạn và cả hai đều không là
“những người một vợ một chồng” Cả hai đều coi thường các quy ước văn hóa và xã hội, họ coi đây là những điều thừa nhận mang tính tư sản (bourgeois), theo cả về tư tưởng lẫn lối sống
Sartre đã chịu ảnh hưởng từ nhiều khía cạnh của triết học phương Tây, kế thừa tư tưởng của Immanuel Kant, Georg Wilhelm Friedrich Hegel, Søren Kierkegaard, Edmund Husserl và Martin Heidegger Có lẽ quyết định có ảnh hưởng lớn nhất đến sự phát triển trong triết học của Sartre là ông đã tham dự hội thảo Alexandre Kojève hàng tuần trong nhiều năm liền
Vào những năm đầu học tại École Normale, Sartre là một trong những sinh viên quậy nhất trường Năm 1927, ông cùng Georges Canguilhem vẽ 1 bức biếm họa về chủ nghĩa chống quân phiệt trên bản tin của trường, bức tranh này đặc biệt gây khó chịu cho hiệu trưởng Gustave Lanson Cũng trong năm này, Sartre cùng với các bạn thân của mình gồm Nizan, Larroutis, Baillou and Herland đã dựng lên một trò chơi khăm giới truyền thông Nhân sự kiện chuyến bay New York - Paris thành công của Charles Lindbergh,
họ đã thông cáo với báo chí rằng Lindbergh sẽ được trao giải thưởng sinh viên danh dự của École Nhiều tờ báo, bao gồm cả tờ Le Petit Parisien, đồng loạt cho công bố tin này vào ngày 25 tháng 5 Hàng ngàn độc giả, bao gồm các nhà báo và những khán giả tò mò đến xem đều không biết rằng những gì họ đã được chứng kiến chỉ là một diễn viên đóng thế nhìn giống như Lindbergh mà thôi Sự việc bị phanh phui, và trước làn sóng phản đối của công chúng đã buộc Lanson phải từ chức hiệu trưởng Năm 1933-1934 J.P Sartre sang Đức dạy học, đồng thời chịu ảnh hưởng nhiều từ triết học Đức, nhất là Hiện tượng học và những tư tưởng của Heiddeger
Sau khi tiếp tục dạy ở Le Havre và ở Lyon, Sartre dạy ở trường trung học Pasteur ở Paris trong thời gian 1937-1939 Cuối thập niên 1930 Sartre bắt đầu viết những tác phẩm lớn của đời mình, trong đó có La Nausée (Buồn Nôn, 1938), Le Mur (Bức Tường, 1938),
là những cuốn sách tiêu biểu cho dòng văn học phi lý đã giúp Sartre trở thành một trong những nhà văn hóa lớn nhất của nước Pháp thời kỳ này Trong Thế chiến thứ hai, do mắt kém ông không nhập ngũ nhưng vẫn tham gia kháng chiến, bị bắt làm tù binh ở Padoux (Lorraine), sau đó bị nhốt vào trại tập trung Đến tháng 5 năm 1941, ông được
Trang 13Năm 1945, sáng lập và chủ trương tạp chí Les Temp Modernes (Thời mới) Sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc, ông thôi dạy học và chuyên tâm vào sáng tác văn học Là nhà triết học của Chủ nghĩa Hiện sinh, tác phẩm của ông nổi tiếng đến nỗi ông được mệnh danh là “Nhà triết học best-sellers” Ông đồng thời là nhà viết kịch, nhà tiểu thuyết và nhà phê bình văn học nổi tiếng
Năm 1964, ông lại càng nổi tiếng cùng với việc ông từ chối giải Nobel văn học Ông cho rằng giải Nobel không thật sự vô tư và ông không muốn gắn tên tuổi mình với sự không vô tư ấy Mặt khác, ông là một nhà văn độc lập, ông muốn giữ sự tự do của mình, không muốn bị phụ thuộc vào vinh quang, vì chính nó sẽ ràng buộc lại mình Vào năm
1970, J.P Sartre đã bị nhà cầm quyền Pháp bắt giữ vì bán trên đường phố một tài liệu Mao-ít bị cấm đoán, có tên là “Lý Do của dân tộc” (La cause du people) J.P Sartre rất hiểu rõ các tư tưởng của Mao Trạch Đông Ông đã từng qua Trung Hoa với Simone de Beauvoir vào năm 1955 và bà này đã quyết định viết một cuốn sách dày về nước này Tuy nhiên, vào đầu thập niên 1960, cuộc cách mạng kinh tế và xã hội tại xứ Cuba đã ám ảnh ông J.P Sartre nhiều hơn Ông đã từng gặp ông Fidel Castro nhưng về sau đoạn giao với nhà độc tài này
Chủ nghĩa Hiện sinh của J.P Sartre mang tính chất vô thần Theo ông, sự tồn tại của con người không phụ thuộc vào Chúa Ông khẳng định: con người là tương lai của con người, con người là chính những gì mình tự tạo nên Đối với J.P Sartre, Chúa đã chết, chỉ còn con người tự cứu lấy mình, mỗi người tự làm cho mình trở thành con người trong những hoàn cảnh khác nhau J.P Sartre coi cuộc đời là vô nghĩa, không có thế lực nào bên ngoài có thể giải thoát được tình trạng đó của con người, kể cả Chúa
Từ việc xác nhận tính chất vô thần trong hệ thống tư tưởng của mình, J.P Sartre nhấn mạnh trách nhiệm của con người trong cuộc đời Trách nhiệm đó thể hiện ở sự tự lựa chọn của con người trong từng tình huống cụ thể Cho rằng “không có lý thuyết nào
có thể lạc quan hơn thuyết Hiện sinh bởi nó cho rằng số phận con người nằm trong bản thân con người”, J.P Sartre khẳng định “Thuyết Hiện sinh là một lý thuyết hành động
và của tinh thần dấn thân” Cũng từ đây xuất hiện những quan niệm tích cực của J.P Sartre liên quan đến vấn đề người viết
Chúng ta đã biết vấn đề người viết trong quá trình sáng tác, hay nói khác đi, vấn đề tác giả là một trong những vấn đề thu hút sự chú ý của giới lý luận phê bình của nhiều nước trên thế giới ở thế kỷ XX Cũng từ vấn đề này mà nhiều cách tiếp cận, nhiều trào
Trang 14lưu, trường phái phê bình khác nhau đã ra đời, đã tranh luận sôi nổi và nhiều khi chưa thể đi đến những kết luận cuối cùng
Vấn đề người viết đã được J.P Sartre thể hiện cụ thể qua nhiều tác phẩm khác nhau trong quá trình hoạt động trên lĩnh vực văn học của mình
J.P Sartre cũng được biết đến nhiều với tư cách một nhà viết kịch phi lí Ông nổi tiếng với các vở kịch Ruồi và Kín cửa Ngoài ra, J.P Sartre còn viết phê bình văn học
và các bài nghiên cứu về Baudelaire (1947), Jean Genet (1952) Cuốn sách viết về thời
niên thiếu của ông, Lời nói, được xuất bản năm 1964
Ông đã để lại cho nhân loại nhiều tác phẩm như Đề cương lí thuyết tình cảm
(Esquisse d’une théorie des émotions, 1939), khảo cứu [Outline of a theory of the
emotions]; Cái tưởng tượng (L’Imaginaire, 1940), nghiên cứu tâm lí [Psychology of imagination]; Buồn nôn (La nausée, 1938), tiểu thuyết [Nausea]; Bức tường (Le mur, 1938), truyện [Intimacy]; Tồn tại và hư vô (L’Etre et le néant, 1943), tác phẩm triết học [Being and nothingness]; Ruồi (Les mouches, 1943), kịch [The flies]; Kín cửa (Huis clos, 1944), kịch; Con đĩ biết lễ nghĩa (La putain respectueuse, 1946), kịch; Chết không
mai táng (Mort sans sépulture, 1947), tập kịch ngắn; Chủ nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa nhân đạo (L’Existentialisme est un humanisme, 1946), tiểu luận [Existentialism is a
humanism]; Sự đã rồi (Les jeux sont faits, 1947); Guồng máy (L’engrenage, 1948);
Những bàn tay bẩn (Les mains sales, 1948), kịch; Những con đường của tự do (Les
chemins de la liberté, 1945 - 1949), tiểu thuyết [The roads to freedom]; Phê phán lí trí
biện chứng (La Critique de la raison dialectique, 1960), khảo luận; Những người bị cầm
tù ở Altona (Les sequestres d’Altona, 1960), kịch; Lời nói (Les mots, 1964), hồi kí [The
words]
Tóm lại, ông là nhà văn, là một trong những nhân vật nòng cốt trong hệ thống triết học của chủ nghĩa hiện sinh, cũng là một trong những nhân vật có ảnh hưởng lớn trong nền triết học Pháp thế kỷ XX và chủ nghĩa Marx Các tác phẩm phong phú cùng những hoạt động sôi nổi trong cuộc đời ông đã có một tác động sâu rộng trong đời sống xã hội Pháp thập niên 1950 – 1960, khiến ông trở thành thần tượng của thanh niên Pháp một thời
1.2 Những nội dung cơ bản trong triết học của Jean-Paul Sartre
1.2.1 Những tiền đề cho sự ra đời của triết học Jean-Paul Sartre
Tư tưởng Sartre nối tiếp và phát triển tư tưởng Heidegger Điều này có thể do triết
Trang 15vấn đề quan trọng là Sartre thể hiện tư tưởng ấy qua văn chương Chính vì thế chủ nghĩa hiện sinh nảy nở với tâm điểm là Sartre Với Sartre, con người hiện sinh có hai đặc điểm chính: một là, con người tự tạo nên mình; hai là, để tạo nên mình con người phải lựa chọn tự do Sartre đã khẳng định vai trò của chủ thể và con người tạo dựng cho thế giới những giá trị của con người gán cho nó
Dòng chảy xuyên suốt lịch sử triết học phương Tây thế kỉ XX, là hiện tượng học đến chủ nghĩa hiện sinh Heidegger là người đã tạo ra nét mới trong nghiên cứu về tâm thức của con người, nếu Husserl nghiên cứu về các hiện tượng trong đời sống tâm lý người, thì Heidegger nghiên cứu về nó như một hữu thể, nghĩa là như một sự hiện tồn để xác định được bản thể của đối tượng Có thể nói, nghiên cứu của Heidegger là một cách tiếp cận mới về vấn đề con người, ông khác các nhà triết đó, là đặt con người trong tính toàn diện của nó, song đó không phải là con người trong tính biệt lập, mà tồn tại trong một trật tự xã hội Và trong cái trật tự, con người sẽ ý, hướng, và tính như thế nào để tồn tại với tư cách là một hữu thể, có thể nói, cách đặt vấn đề như vậy, là cơ sở, nền tảng lý luận cho các nhà hiện sinh về sau nghiên cứu về vấn đề con người
Có thể nói, sau Heidegger, không thể hiểu được triết học châu Âu thế kỉ XX mà không biết tới Heidegger, không có Heidegger thì triết học hiện sinh của Jean-Paul Sartre khó hình thành Heidegger cũng là triết gia thế kỉ XX có cái nhìn mới mẻ về lịch sử triết học; nhờ ông mà các tác giả cổ điển như Platon, Aristote, Kant, Hegel được đọc lại theo kiểu mới
Vậy có thể thấy rằng Husserl và Heidegger có vị trí quan trọng đối với sự ra đời của triết học hiện sinh Bên cạnh tiền đề tư tưởng, thì đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của
xã hội phương Tây sau thế chiến thứ 2 cũng là điều kiện cho sự ra đời của triết học hiện sinh Xã hội phương Tây sau thế chiến thứ 2 là một bãi chiến trường, con người về mặt tinh thần bị hoảng loạn, sự cô đơn đang xâm chiếm tâm thần họ, những suy nghĩ về cuộc đời con người, về các giá trị nhân sinh được đặt ra nhiều hơn, và người ta chú trọng hơn vào nó, và đây là mảnh đất màu mỡ cho sự ra đời của triết học hiện sinh Con đường từ Heidegger đến Sartre là một biến thể đặc biệt: đó là quá trình biến đổi từ hiện tượng học sang triết học hiện sinh mà Heidegger chỉ đóng vai trò bắc cầu Nói cách khác, tư tưởng Sartre nối tiếp và phát triển tư tưởng Heidegger về thân phận con người trong xã hội đương đại Điều này có thể do triết luận của Heidegger trừu tượng, trong khi cách trình bày của Sartre lại khá cụ thể Một vấn đề quan trọng nữa là Sartre thể hiện tư tưởng ấy qua văn chương nên nó dễ đi vào đời sống nhân sinh hơn những triết luận có phần trừu
Trang 16tượng và khó hiểu của Heidegger, chính vì thế chủ nghĩa hiện sinh nảy nở với tâm điểm
là Sartre Với Sartre, con người hiện sinh có hai đặc điểm chính: Một là con người tự tạo nên mình, làm mình thành người Hai là để tạo nên mình con người lựa chọn tự do Như vậy, Husserl và Heidegger chỉ đặt ra một cái nhìn mới về chủ thể còn Sartre khẳng định vai trò của chủ thể và con người tạo dựng cho thế giới những giá trị mà con người gán cho nó
Sartre khi nói về hiện tồn, ông cho rằng đó là chủ thể nhận thức về mình như một cá thể đặc thù Jean Paul Sartre thường đưa ra quan niệm nổi tiếng trong tác phẩm “Tồn tại
và Hư vô”: “Tôi chỉ hiện hữu khi tôi sẽ không hiện hữu nữa” [16] Theo Sartre con người luôn phải đối diện với cái chết bởi cuộc đời họ chính là những đường hầm không lối thoát Chính vì trách nhiệm của bản thân nên buộc con người phải đi vào trạng thái lo
âu Bạn đồng hành trong suốt quá trình sinh tồn của con người là lo âu, và khi lo âu kéo dài không có đường giải thoát thì con người rơi vào tuyệt vọng vì con đường trước mắt
là hư vô Hành trình làm người là một quá trình mâu thuẫn, đau khổ vì không có một thước đo, chuẩn mực để hướng tới Trong cái vòng bắt buộc của thân phận người ta có quyền lựa chọn để làm nên con người của mình Vì vậy cuộc đời không phải là số phận
mà là những lựa chọn, những lựa chọn giúp ta trở thành con người Chỉ khi hiện sinh, đối mặt với mọi tình huống ta mới biết bản chất của mình
Tất cả những vấn đề Sartre đặt ra để làm sáng tỏ thân phận làm người, cụ thể là: hữu thể là một thảm kịch, là phi lí, là hư vô; con người luôn cô đơn và cái chết luôn hiện diện Nhưng con người biết bất chấp cái chết để nhập cuộc tự do làm nên lịch sử của mình bằng những dự phóng Những sự nhập cuộc này đã làm cho con người tha hóa vì tha nhân Sartre bằng những quan điểm được đặt ra, đã mang đến cho văn chương một luồng sinh khí mới Ông chứng minh được rằng: “sáng tạo nghệ thuật không chỉ là con đường giải thoát khỏi hư vô mà sáng tạo còn là cách thức cao nhất bộc lộ tự do cá nhân” Bên cạnh đó, khi con người phải tự làm nên mình thì sáng tạo còn là sự trải nghiệm trong cuộc đời Sartre còn vận dụng luận thuyết của mình trong sáng tạo nghệ thuật Những tác phẩm văn học của Sartre đều bộc lộ tư tưởng triết học của Sartre trong “Tồn tại và Hư vô”, đó là: Hiện sinh từ thân phận và hoàn cảnh con người trong thế giới, một thế giới mà trong đó ta bị đẩy vào và chờ đợi ở ta một ý nghĩa; trong “Buồn Nôn” con người bằng những cảm xúc hiện thực, luôn sống trong sự ngờ vực và suy tư, từ đó quyết tâm đi tìm con người hiện sinh của mình
Trang 17Từ cách tư duy của Husserl và Heidegger về ý thức, “Theo Hussel, tư duy chỉ thực
sự mang tính triết học khi nó hướng tới một suy tư tổng thể hoặc suy tư tuyệt đối Suy
tư này được quan niệm như cái có thể làm hiện ra ý nghĩa cuối cùng của nhận thức và
các đối tượng của nhận thức” [5, tr.44] Sartre đã nhận ra cái phi lí của cuộc đời con
người Con đường từ hiện tượng học đến triết học hiện sinh là con đường đi từ phương pháp luận của Husserl đến cách thức lí luận và suy nghiệm của Sartre Trước những biến động của lịch sử con người trở nên mong manh và họ cảm thấy rằng cái chết đang rình rập ở khắp nơi, những vấn đề của Sartre đặt ra dần trở thành tâm thức của thời đại mở
ra cho nền văn học những bước ngoặt mới Cái bí ẩn và không thể biết trước được trong luận thuyết của Heidegger đã được Sartre cụ thể hóa Cuộc khai chiến của Nietzche về việc lật đổ các giá trị đã tạo tiền đề cho phương pháp tìm kiếm nhìn nhận lại các giá trị của Husserl và cũng giúp cho Heidegger nhìn vào chính giá trị của cuộc tồn hữu Sartre
đã tiến thêm một bước, ông chứng minh các giá trị Tất cả những chiêm nghiệm, suy tư của Heidegger về hiện hữu cũng như lí luận về triết học hiện sinh của Sartre đã được soi chiếu vào văn học nhân loại một cách nhìn, một cách suy tưởng về thân phận con người mang giá trị nhân đạo sâu sắc Vậy con đường từ hiện tượng học đến chủ nghĩa hiện sinh cũng là con đường từ triết học đến văn học Trên con đường ấy có rất nhiều ngã rẽ nhưng cái đích đến cũng chỉ là một - cái đích cao cả nhất - là hướng tới con người
1.2.2 Một số tư tưởng triết học của Jean-Paul Sartre
Vào thế kỉ XX, cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc gây ra hai cuộc chiến tranh thế giới tàn khốc, dẫn tới tình trạng khủng hoảng tinh thần trầm trọng là nguyên nhân trực tiếp nhất làm bộc phát hàng loạt những phong trào phản kháng, phủ định trên bình diện văn hóa nghệ thuật Chủ nghĩa hiện sinh ra đời trong bối cảnh
đó và là một trào lưu phát triển mạnh cả trong triết học và văn học mà Jean-Paul Sartre
là một trong những gương mặt tiêu biểu Jean-Paul Sartre đã để lại sự ảnh hưởng vô cùng rộng lớn không chỉ bao trùm đất nước và thời đại của mình mà còn lan tỏa ở nhiều nơi trên thế giới cho đến ngày hôm nay
Sartre là khuôn mặt mà nhà xã hội học Pháp Pierre Bourdieu gọi là trí thức toàn diện
Tư tưởng của Sartre đi vào đời sống, ảnh hưởng lên toàn bộ tri thức của người Pháp trong thế kỷ XX như một hiện hữu không thể tách rời Sartre là người nói: Bên cạnh đứa
bé sắp chết đói, cuốn Buồn Nôn không có nghĩa lý gì Đối với dân tộc Pháp, Sartre trở thành lương tâm thời đại Sartre - với những khúc mắc, những sai lầm, những ngõ quanh lịch sử, những thất bại, những ngộ nhận, những gặp gỡ, và những đấu tranh không ngừng
Trang 18- là nhà văn, nhà tư tưởng trường kỳ đứng về phía những thành phần yếu kém, suốt đời
bị đàn áp Sartre đặt con người trước tự do và trách nhiệm của mình Con người tự do
và nhân bản, là hai yếu tố chính trong triết học hiện sinh của Sartre Ý thức về con người
tự do và nhân bản xuyên suốt các tác phẩm tiểu thuyết, kịch bản, truyện ngắn, tiểu luận của Sartre, ảnh hưởng lớn đến tầng lớp thanh niên, và cũng là đường lối chính trong trong phê bình văn học của Sartre
Sartre đưa ra quan niệm: “Hiện sinh có trước bản chất” [15] Bởi chủ nghĩa hiện sinh cho rằng con người chỉ là “hư vô” vì thế sự tồn lại của họ ngay từ ban đầu đã là một sự
“phi lý” Vì vậy, chính họ phải làm cho cuộc đời mình trở nên có ý nghĩa Quan niệm này, hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa duy lý trong quan niệm của R.Decartes, con người được xem là “tồn tại” và ngay từ đầu họ đã có lý trí Theo Sartre mỗi người có thể làm nên chính bản thân mình, để làm được điều đó họ hoàn toàn có sự lựa chọn tự do, theo những dự phóng mà mình đặt ra Trong quá trình tiến đến chứng minh sự tồn tại của bản thân, con người luôn có sự lo âu siêu hình Nhờ có sự lo âu đó mà con người cảm thấy cái hư vô làm nơi xuất phát của họ và tính bấp bênh của sự lựa chọn tự do Sartre chỉ ra rằng những hướng tiếp cận mang tính tôn giáo khi nói về bản chất con người thường chỉ dựa trên sự tương đồng với nghề thủ công của con người – bản chất con người trong tinh thần của Chúa cũng giống như bản chất con dao rọc giấy trong tinh thần người thợ làm ra nó Sartre từng cho rằng nhưng học thuyết phi tôn giáo khi nói về bản chất con người cũng được bắt nguồn từ sự tư duy mang tính tôn giáo, vì chúng chỉ tiếp tục nhất quyết cho rằng bản chất có trước hiện sinh, hay nói cách khác chúng ta sinh ra là để thực hiện một mục đích đặc biệt Khi tuyên bố hiện sinh có trước bản chất, Sartre đang đưa
ra một quan điểm mà ông tin là nhất quán hơn với chủ nghĩa vô thần của ông Ông cho rằng: “Không có cái bản chất con người cố định phổ quát nào bởi vì không có Chúa Trời nào tồn tại để mà quy định một bản chất như vậy” Chính nhờ quan điểm hiện sinh có trước bản chất mà con người, một khi đã biết giũ sạch mọi trói buộc giả tạo để được tự
do hoàn toàn, mới biện chứng đời mình bằng hành động có ý thức và trách nhiệm
Ở đây Sartre đang dựa vào một thứ định nghĩa rất đặc biệt về bản chất con người, kiểu xác định bản chất thứ gì đó dựa trên mục đích của nó Ông bác bỏ khái niệm mà các triết gia gọi là mục đích luận về bản chất con người – rằng nó là thứ gì đó mà ta có thể suy ngẫm dựa theo mục đích của hiện sinh con người Dù vậy, cũng có vẻ như Sartre đang đề xuất một lý thuyết về bản chất con người bằng cách tuyên bố chúng ta là những
Trang 19sinh vật bị buộc phải ấn định một mục đích cho cuộc đời ta Vì không có sức mạnh thần thánh nào tiên định mục đích đó, ta phải tự xác định cho mình
Tuy nhiên định nghĩa bản thân không phải chỉ là để tuyên bố chúng ta là gì với tư cách con người Thay vào đó, nó là vấn đề về định hình bản thân vào bất cứ loại người nào mà ta chọn để trở thành Đây là gốc rễ khiến chúng ta khác với mọi loại sinh vật khác trên thế giới – ta có thể trở thành bất kỳ ai mình chọn Một hòn đá đơn giản là một hòn đá; một bó súp lơ đơn giản là một bó súp lơ; và một con chuột thì đơn giản là một con chuột Nhưng con người sở hữu khả năng định hình bản thân một cách chủ động
Vì triết học của Sartre giải phóng ta khỏi sự câu thúc đến từ cái bản chất tiền định của con người, nên nó là thứ triết học của tự do Chúng ta được tự do lựa chọn định hình bản thân như thế nào, dù đúng là ta phải chấp nhận một số giới hạn Ví dụ, dù ta có cố mọc cánh (theo nghĩa đen) thế nào đi nữa thì điều đó cũng sẽ không xảy ra Nhưng ngay cả trong phạm vi những lựa chọn thực tế ta có, ta vẫn thường thấy mình bị bó buộc và đơn thuần quyết định dựa theo thói quen, hoặc vì cách nhìn bản thân mà ta vốn quen
“Sartre muốn ta phá vỡ những lối suy nghĩ theo thói quen, kêu gọi ta đối diện với ý nghĩa của việc sống trong một thế giới mà không có gì là tiền định Để tránh sa vào kiểu hành vi vô định, ông tin chúng ta phải tiếp tục đối mặt những lựa chọn về cách thức hành động.” [22]
Theo ông, con người là dự tính của mình, và tự mình tạo ra mình, thì tất nhiên phải chịu trách nhiệm việc làm của mình và có trách nhiệm với người khác, vì lúc họ hành động, họ hoàn toàn tự do và họ buộc phải hoàn toàn tự do Dù muốn hay không, chúng
ta lúc nào cũng phải ở trong một hoàn cảnh hay một tình thế nào đó Con người buộc phải lựa chọn và tự do của con người cũng nằm trong sự lựa chọn này: vấn đề không phải là tự chọn mình trong hoàn cảnh và tính thế đó Ông luôn đặt ra câu hỏi lựa chọn
là gì nếu không phải là để hành động? Không thể có tự do trừu tượng cũng như không thể có lựa chọn tiêu cực, con người thiết yếu là con người sống trong thực tại Vì vậy, đối với Sartre, hành động đích thực là hành động do con người gánh vác, sau khi đã đảm nhiệm toàn diện hoàn cảnh và tình thế trong đó họ đang sống và nhất là sau khi họ vượt lên hoàn cảnh và tình thế này bằng chính hành động đó Mỗi hành động điều có hai khía cạnh mà chúng ta buộc phải nhớ, đó là khía cạnh khách quan và khía cạnh chủ quan và đặc biệt chỉ có khía cạnh khách quan của hành động mới đáng kể, hay ít ra chỉ nó mới được trông thấy Có thể hiểu rằng giá trị của chúng ta nằm trong hành động của chúng
ta và chỉ có hành động mới có thể đánh giá chúng ta Bên cạnh đó con người cũng thường
Trang 20hay xuất hiện thái độ ngụy tín, đó là sự biện minh cho thất bại của mình và nó không ngừng bị ý thức tha nhân tố cáo triệt để và không buông tha Bởi trong cuộc sống, không phải có một mình chúng ta, chúng ta không sống cô độc, ý thức của chúng ta cũng không hoàn toàn độc lập, chúng ta phải luôn sống trong sự dòm ngó của kẻ khác và phải chịu
sự dị nghị từ bên ngoài
Như vậy, triết lý của Sartre là chủ nghĩa hiện sinh hành động Để cho mình có được những hành động đích thực, thì phải đặt ra những tiêu chuẩn để cho hành động Đối với Sartre hành động con người phải hướng thiện, trong một hoàn cảnh hiện thời và trong chính tình thế mà mình đang sống Còn những cái xấu, cái nạn mà con người trên thế giới phải gánh chịu đó là nghèo đói, là bóc lột, là tư bản, là thực dân, là thái độ gian trá của đạo đức tư bản
Bằng cách đưa ra lựa chọn, ta cũng đang tạo ra một khuôn mẫu cho cách ta nghĩ về những khả thể của một đời người Điều này có nghĩa tự do chính là trách nhiệm lớn hơn hết thảy Chúng ta không chỉ chịu trách nhiệm cho tác động từ những lựa chọn của ta lên bản thân, mà còn chịu trách nhiệm cho tác động của chúng lên toàn thể nhân loại
Và vì không có nguyên tắc hay quy luật bên ngoài nào biện minh cho những hành động của ta, ta không có lý do gì để nấp sau những lựa chọn của mình Vì lý do này, Sartre tuyên bố chúng ta bị “kết án tự do.”
Triết học gắn liền tự do với trách nhiệm của Sartre đã bị gắn mác là bi quan, nhưng ông bác bỏ sự quy chụp đó Thật ra ông còn nói rằng nó là thứ triết học lạc quan nhất có thể, vì bất chấp việc phải chịu trách nhiệm cho tác động từ những hành động của ta lên người khác, ta có thể lựa chọn thực hiện chỉ mỗi việc kiểm soát cách ta tạo nên bản thân
và thế giới của mình Tư tưởng của Sartre đặc biệt ảnh hưởng lên sáng tác của người bạn đời và đồng nghiệp của ông, triết gia Simone de Beauvoir, nhưng chúng cũng có tác động rõ rệt lên văn hóa và đời sống thường ngày ở Pháp Những người trẻ tuổi đặc biệt xúc động trước lời kêu gọi sử dụng tự do họ có để tạo nên hiện sinh của họ Ông truyền cảm hứng cho họ thách thức những quan điểm truyền thống, độc đoán phổ biến ở Pháp trong những năm 1950 và 1960 Sartre được liệt là nguồn ảnh hưởng chính tới những cuộc biểu tình đường phố ở Paris tháng Năm 1968 giúp lật đổ chính phủ bảo thủ và tạo
ra một không khí tự do hơn khắp nước Pháp
Tham gia các vấn đề chính trị là một phần quan trọng trong cuộc đời Sartre Mối quan hệ luôn thay đổi giữa ông với các đảng phái chính trị, cũng như những hoạt động
Trang 21là minh chứng cho một cuộc đời sống theo ánh sáng tư tưởng hiện sinh có trước bản chất
Sartre cho rằng người ta chỉ sống chứ không phải là tồn tại, trong mỗi phút giây và kinh nghiệm về cuộc sống của mỗi người luôn có tính chất độc đáo khác biệt hoàn toàn với kinh nghiệm của mọi người, và chủ thể được hiểu thông qua sự dấn thân của anh ta vào cuộc sống Ông chối bỏ quan điểm về khuôn mẫu lí tưởng của “Con Người”, hoặc của nhân loại, bởi trong đó mỗi người chỉ là một hình ảnh của con người phổ quát Ông đặt ra câu hỏi “Tôi là ai?” thay vì câu hỏi “Nhân loại là gì?” với sự gợi ý về tính độc đáo
và kì bí của mỗi thân phận và sự nhấn mạnh đến chủ thể tính, tức nhân vị, hơn là đến khách thể tính, tức sự vật Nếu xét về vẻ ngoài thì con người cũng chỉ giống như muôn vàn những sinh linh khác, nhưng bên trong họ là cả một vũ trụ quan cần được khám phá,
họ chính là trung tâm của cái vô cùng Khi đề cập đến chiều sâu trong đời sống con người thì lí trí không thể nào giải thích hết được Bởi những lý do: thứ nhất, lý trí của con người thường mềm yếu, dễ giao động và bất toàn; thứ hai, Sâu thẳm trong đời sống con người là những khoảng tối nó mang đặc tính “phi lý trí” mà lý trí không thể nào xâm nhập được Nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận một điều là lý trí và tư duy chúng luôn đi cùng với nhau tạo thành một thể thống nhất Con người cần phải được thừa nhận
là một thực thể thống nhất bao gồm cả cái tốt và cái xấu trong chính bản thân anh ta Chúng ta không thể thừa nhận một tình trạng phân chia nào đó và phải là một con người trọn vẹn có cả tri thức, ước vọng, tội lỗi và cả những thứ lấn át lý trí đang tồn tại trong bản thân con người Con người được nhìn thấy dưới quan niệm này là một con người về
cơ bản, hết sức mơ hồ, huyền bí, đầy rẫy những vấn đề mâu thuẫn và căng thẳng tiềm
ẩn, những vấn đề không thể giải quyết một cách đơn giản chỉ bằng tư duy Vì vậy sẽ dẫn đến sự tuyệt vọng và tình trạng bất khả tự lực của con người khi đứng trước xã hội Đây
là một trong những đề tài quan trọng của văn học phương Tây, và một lần nữa, mặc dù hầu như không khám phá được sự nguy hiểm hay tiến hành một sự phản đối nào, nhưng Sartre đã khôi phục sự phản kháng trước bất cứ khuôn mẫu hoặc thế lực nào manh nha dập tắt tính độc đáo và sự tự tại trong đời sống cá nhân Sự đông đúc nơi đô thị, sự chia nhỏ lao động nhấn chìm con người trong chức năng kinh tế của anh ta, sự phát sinh chính quyền trung ương tập quyền… đã xé nát con người bằng cách hủy diệt cá tính và khiến họ phải sống trên bề mặt của cuộc đời, sẵn lòng giao du với “vật” hơn là với người Sartre là một tác giả hiếm hoi vừa làm chủ tư tưởng của mình vừa làm chủ ngòi bút hành văn của mình, ông không bao giờ cho phép triết lí và văn chương chia lìa nhau
Trang 22Cho tới nay, chưa ai phát hiện được mâu thuẫn nào giữa triết lí, văn chương, hành động, cuộc sống của ông Từ ấy, ông theo đuổi cả hai hoài bão, tư tưởng luôn luôn thống nhất,
“văn chương nêu vấn đề cho triết lí, triết lí làm nền tảng cho văn chương, rồi văn chương hiện sinh hoá.” [11] triết lí qua tác phẩm nghệ thuật và giải quyết những bế tắc triết học
1.3 Tác phẩm “Buồn Nôn” của Jean Paul Sartre
1.3.1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Buồn Nôn
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, châu Âu bước vào tình trạng khủng hoảng về tất cả mọi mặt như tư tưởng, chính trị, văn hóa, xã hội,… Chiến tranh thế giới thứ I nổ ra, hàng triệu người trở thành nạn nhân của trò chơi chiến tranh của các tài phiệt chủ nghĩa đế quốc Tinh thần con người lúc này rơi vào tình trạng hoang mang tột độ, nhân tính giờ đây được thay bằng thú tính, cơ cấu xã hội bị đảo lộn lung lay đến tận gốc rễ, pháp luật dần trở thành trò chơi trong tay những người cầm quyền, mọi luân lý bị xem thường, biết bao nhiêu nghịch cảnh xảy ra Con người trong giai đoạn này dường như mất hết niềm tin vào cuộc sống, nghi ngờ mọi giá trị, con người trở nên buồn chán, vô nghĩ phi
lý và nhân cách bị tha hóa theo hoàn cảnh sống
Cuối thế kỉ XIX, trong lòng châu Âu bùng nổ cuộc khủng hoảng có cội nguồn sức nặng từ thứ văn hóa chuyên chế bóp ngặt nhân cách cá nhân Chúng soi xét cá nhân bằng những giáo lý của Cơ Đốc giáo trong suốt gần 20 thế kỉ Những giá trị, chuẩn mực và nguyên tắc tuyệt đối đã giam hãm tồn tại người vốn tự do, đột biến và đầy sáng tạo Tồn tại người rạn nứt, nhiều tầng cảm xúc bị đè nén bừng tỉnh với câu hỏi: hiện sinh của tôi
là đích thực hay không đích thực? Chính những câu hỏi mang tính thức tỉnh này đã dấy lên phong trào mạnh mẽ những tư tưởng triết học hiện sinh lấy tồn tại con người làm cứu cảnh của mọi triết lý Triết thuyết này dần trở nên có tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội phương Tây lúc bấy giờ
Cách mạng mạng khoa học kĩ thuật cùng với sự bành trướng của phương tiện truyền thông khiến cho cuộc sống con người trở nên phức tạp và nguy hiểm hơn Nó tạo ra một lượng của cải khổng lồ nhưng đời sống của mọi người lại không được ấm no, giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải sống một cuộc sống cơ cực trong những khu nhà
ổ chuột Họ đang sống trong một xã hội tư bản đầy rẫy những bất công sự giàu có thì có thừa nhưng họ lại không được hưởng thụ trong khi đó cũng chính là của cải do họ làm
ra Kinh tế phát triển nhưng kết quả của sự phát triển kinh tế lại là chiến tranh xảy ra
Trang 23vi toàn thế giới Chiến tranh đẩy nhân dân vào vòng lầm than, khổ ải Những cuộc chiến xảy ra không có một chút chính nghĩa nào mà chỉ là để chứng tỏ xem ai làm người đi ăn cướp được nhiều nhất Chiến tranh làm cho mọi thứ trên đời không có một nghĩa lý nào
và định chế kìm hãm tự do cá nhân và biến cá nhân trở thành kẻ chối bỏ trách nhiệm với chính bản thân mình
Bối cảnh của xã hội lúc bấy giờ cũng chính là chủ đề mà các tác phẩm văn chương hay triết học trong giai đoạn này đều mô tả và đề cập đến Qua các tác phẩm các tác gia đều trở thành những nhà hiện sinh, họ đều muốn tìm một nơi nào đó để chia sẻ sự chán chường về cuộc sống thực tại đầy đau khổ, không lối thoát, mọi thức trên đời trở nên phi lý buồn bã, sự đảo lộn trật tự xã hội, nhân sinh quan về cuộc sống của con người trong giai đoạn này Và những tác phẩm đó họ muốn lối thoát, muốn chứng minh sự tồn tại của họ đối với xã hội
Jean-Paul Sartre – một trong những nhà văn tiêu biểu trong thời kì này, đồng thời cũng là một triết gia hiện sinh Năm 1929-1930, Sartre đã đi quân dịch ở Tours, trong ngành khí tượng Quân dịch xong, ông được bổ nhiệm làm giáo dư triết học ở Le Havre, J.P Sartre dạy ở trường trung học ở thành phố này 3 năm liền (1931-1933) Với bối cảnh xã hội của châu Âu, vào năm 1938 trước trận chiến tranh thế giới thứ II một năm, ông đã cho ra đời tác phẩm Buồn Nôn (La Nausée) Thành phố Le Harve được lấy làm khung cảnh cho tiểu thuyết Buồn Nôn (La Nausée) nhưng trong sách được đổi thành Bouville Lúc đó Sartre chỉ mới 23 tuổi, tác phẩm đã để lại tên tuổi của ông cho đến thế
hệ ngày nay Người đọc có thể cảm nhận được tính chất độc đáo của một thế giới mà Sartre tạo ra Đó là thế giới của một triết gia Độc đáo hơn là ông đã lồng ghép chính bản thân mình vào nhân vật trong quyển nhật kí, để có thể thỏa sức bộc lộ những cảm xúc và tư tưởng của mình Buồn Nôn (La Nausée) không chỉ là tiếng nói của tác giả mà còn là nổi lòng của những con người khao khát tự do ở giai đoạn này Họ luôn sống và
đi tìm sự tồn tại của bản thân trong xã hội Đồng thời tác phẩm đã cho người đọc những cảm nhận rõ nét hơn về hơi thở của thời đại ở những năm 90 của thế kỉ XX
Trang 241.3.2 Nội dung và bố cục của tác phẩm “Buồn Nôn”
Dựa trên dụng ý của tác giả, tác phẩm “Buồn Nôn” có thể chia bố cục ra làm 3 phần tương ứng với nội dung như sau:
Phần đầu: Lời thưa trước của người xuất bản (trang 9)
Đây là lời dẫn dắt cho toàn bộ nội dung phía sau Người xuất bản nhấn mạnh những tập vở này đã được tìm thấy trong các giấy tờ của Antone Roquentin (nhân vật chính trong tác phẩm) Người xuất bản cũng chỉ ra những trang viết này được viết vào khoảng đầu tháng Giêng, 1932 sau khi Antoine Roquentin đi du lịch ở Trung Âu, Bắc Phi và Viễn Đông và đã đến định cư tại Bouville 3 năm để hoàn thành công trình nghiên cứu lịch sử về hầu tước De Rollebon
Phần 2: Tờ rơi không ngày tháng (trang 11 – 15)
Roquentin muốn ghi lại những biến cố từng ngày một Anh cảm thấy mình đã sợ hãi nhưng không biết mình sợ gì Anh không nghĩ là mình điên nhưng lại nghĩ đó là một cơn khủng hoảng thoáng qua của bệnh điên khi anh không dám ném hòn sỏi trên mặt biển như lũ trẻ
Phần 3: Nhật kí (trang 17 - 438)
Trong toàn bộ cuốn tiểu thuyết, 31 lần thứ tự thời gian được nhân vật Roquentin viết trong cuốn nhật kí như: thứ ba, 30 tháng giêng; sáng thứ năm tại thư viện; xế trưa thứ năm; thứ sáu, năm giờ rưỡi; thứ năm, 2 giờ rưỡi; ba giờ; thứ sáu; thứ sáu, 3 giờ; trưa thứ bảy; chúa nhật; thứ hai; bảy giờ chiều; mười một giờ khuya; thứ tư; thứ năm; thứ sáu; sáng thứ bảy; xế trưa; thứ hai; thứ ba; thứ tư; sáu giờ chiều; giữa đêm; thứ sáu; thứ bảy; Bouville, thứ ba; thứ tư, ngày cuối cùng của tôi ở Bouville Trình tự thời gian được nhân vật kể lại không theo một trình tự định sẵn mà nó được viết theo cảm xúc riêng của nhân vật Trong đó chỉ có hai lần nhân vật nhắc đến Bouville trên bảng ghi thời gian, đó là khi anh ta chuẩn bị rời khỏi nơi này
Những bài viết trong tập truyện được xoáy quanh một chủ đề buồn nôn, nỗi chán ngấy đó là thảm kịch mà Roquentin trực diện với cuộc đời đang sống, tất cả mọi tình huống được ghi lại như chứng tích dưới dạng thức nhật ký
Nhật kí ghi chép các sự kiện và tâm trạng của Roquentin trong 22 ngày Antoine Roquentin giới thiệu mình là một người sống một mình, hoàn toàn một mình, chẳng bao giờ nói với ai, không cho gì và cũng không nhận gì Hàng ngày, ông ăn ở các quán quen
và làm việc tại thư viện và nếu muốn thì ngủ với một cô chủ quán cà phê Francois ở gần
Trang 25một người có bộ mặt xấu xí nhưng lại được rất nhiều cô gái yêu thích Nhưng dần dà, càng đi sâu vào cuộc đời bịp bợm của tên bá tước, Roquentin không còn hứng thú với công việc giả tạo đó nữa Sau khi làm đến chương VII thì chàng quyết định từ bỏ, bởi
vì “tôi mà đã không có đủ sức giữ lại quá khứ của tôi, thì tôi có thể nào hy vọng cứu vớt quá khứ của người khác” Và cứ thế, hàng ngày chàng lại ghi chép lại đầy đủ mọi ý nghĩ cay đắng về những điều tai nghe mắt thấy Trong những lần vào thư viên để tìm kiếm tư liệu viết đề tài nghiên cứu chàng quen với Ogier.P, thường được gọi là “chàng Tự Học”
- ông này có tính kỉ luật cao, đã và dành hàng trăm giờ đọc tại thư viện tất cả các đầu sách theo chữ cái ABC Ông thường nói với Roquentin và tâm sự với chàng rằng ông là
cả một xã hội Có một thời gian ông yêu và sống cùng một cô gái Anh tên là Anny, nhưng giữa họ xảy ra cãi vã và chàng bỏ đi luôn, sau bốn năm gặp lại, lúc Anny ghé qua Paris, và muốn gặp lại chàng, nhưng chàng cảm thấy nàng đã già và tình cảm cũng phai nhạt, những khoảnh khắc tuyệt vời không còn nữa Anny tiếp tục đi du lịch với một người đàn ông Đức, đang chung sống với nàng Trong suốt thời gian này, có một thứ luôn theo và ám ảnh Roquentin đó chính là những cơn Buồn Nôn Càng ngày Roquentin càng nhận thức được sự phi lý của một vũ trụ vô cớ không được biện minh bởi một cái
gì cả Cơn buồn nôn xuất hiện ở bất cứ đâu trong suy nghĩ của ông và càng ngày nó càng trở nên mạnh mẽ: Buồn Nôn khi sắp ném hòn cuội, Buồn Nôn với dự án nghiên cứu của mình, với chàng Tự Học, những kỉ niệm của ông về Anny, dáng bộ lố bịch của những bức chân dung treo trong viện bảo tàng thành phố, những lời lẽ tự cao của một anh chàng miệng lưỡi ba hoa tưởng rằng mình đang đem tài năng giúp ích đồng loại, ngay cả bàn tay của mình và vẻ đẹp của thiên nhiên,… ông quyết định từ bỏ tất cả để đi đến Ba Lê khi nhận ra mình đang sống thừa giống Anny Những ngày cuối cùng ở Bouville, ông
đã bắt đầu quan tâm tới mọi người xung quanh, đặc biệt là khi chứng kiến chàng Tự Học
bị đánh Và chính bản nhạc với những giai điệu nối tiếp nhau trong quán Rendez-vous des Cheminots
1.3.3 Ý nghĩa của tác phẩm “Buồn Nôn”
Tác giả đã biến câu chuyện thành một lý thuyết sâu xa với hình thức trình bày mới
lạ, đây cũng là một trong những cái hay của tác phẩm Với một trạng thái tâm linh đa dạng, tác giả đã làm cho người đọc ngạc nhiên với triết lý hiện sinh của tác phẩm Truyện
là một tiểu thuyết nhật kí chứ không phải là hồi kí hay tự truyện, mỗi lần giở những
Trang 26trang nhật kí tính cách nhân vật dần dần hiện lên, ta có thể bóc trần được những lí lẽ mà
ít nhiều qua đó chúng ta có thể thấy được nhân bản của nó Từ đó có một cái nhìn hiện sinh của một bản thể tự do, tự tại mà đôi lúc nó sẽ xảy ra trong đời người, vốn mang thân phận xót xa và đau khổ
Câu chuyện trong Buồn Nôn có vẻ như là một chuỗi tự sự tiêu cực và buồn chán của nhân vật Roquentin, chứa đựng đầy nỗi ngờ vực và trĩu nặng suy tư về tồn tại, hư vô Sartre đã dùng phương pháp hiện tượng học để chứng minh rằng đời sống của con người thì không có mục đích Nhân vật chính trong tác phẩm đã phát hiện ra nhiều sự ghê tởm của thế giới xung quanh Anh ta và sự cô đơn của anh ta đã dẫn đến nhiều kinh nghiệm
về buồn nôn tâm lí Dần dần anh ta nhận thức được rằng con người là một hiện tượng ngẫu nhiên, không có ý nghĩa và không có giá trị gì cả, không cần thiết và không có cả
lí do để tồn tại Trong sự nhập cuộc của mình, con người hiện sinh đã cố gắng đưa ra một giải thoát cho tâm tư, bằng sự thể hiện vào trạng thái hiện sinh tuyệt đối Nhưng trên thực tế, con người hiện sinh vẫn chỉ là con người hữu hạn, bị giới hạn một cách tàn nhẫn Trong nhật kí, nhân vật luôn luôn buồn nôn với mọi thứ mà anh ta bắt gặp như một thái độ phản kháng những gì thuộc về lí tính cứng nhắc siêu hình Nhân vật chính Roquentin đang trên con đường khám phá lí do tồn tại của con người là không có lí do
gì hết Con người là một hiện thực ngẫu nhiên, không có lí do tồn tại
Điểm mấu chốt của thuyết hiện sinh là con người phải hành động, là sự dấn thân, là
sự trải nghiệm với chính cuộc sống của mình Và con người, trước hết chỉ là hư vô, vì vậy con người không thể định nghĩa được Con người phải hiện hữu, gặp gỡ, xuất hiện trong thế giới đã, rồi mới được định nghĩa Chính vì thế, con người chỉ tồn tại sau đó, chỉ tồn tại như những gì mà nó được làm ra Điều đó được thể hiện qua sự hành động,
sự dấn thân và sự trải nghiệm Chính từ đây, có thể nói rằng thuyết hiện sinh định nghĩa con người bằng hành động
Buồn Nôn là một câu chuyện hư cấu nhưng có thực và sống thực qua nhân vật Antoine Roquentin Tư tưởng của Sartre đạt tới cực điểm và lan tỏa, vượt qua được sức mạnh của cảm giác, tức nỗi đau khổ không cùng của con người đứng trước hiện hữu; tất
cả được thể hiện rộng rãi từ dưới thể tính bầy nhầy, nhão quẹt (vicous) trộn lẫn với loãng chất (puddle) của cái thời đầy rẫy bóng tối vây quanh và lan trải như vết dầu loang; những hiện tượng đó là cơ hội dành cho Sartre phát triển chủ nghĩa hiện sinh, mà nhân
tố hiện sinh chính là nhân bản, là yếu tố tâm lý và sinh lý giữa hiện thể và hiện vật xảy
Trang 27Truyện Buồn Nôn không phải là một truyện đầy đủ như mọi truyện, mà nó ghép lại qua từng mảnh làm thành một Mỗi bài có cái hay riêng, lan tỏa khắp nơi mà hầu như là những bài bình luận Buồn Nôn đã cho chúng ta thấy được sự sáng tạo, kỷ thuật hành văn và nhất là sức trong sáng trong triết thuyết của Jean-Paul Sartre Truyện đã đưa dẫn chúng ta đến gần với con người trong cùng hoàn cảnh, nơi mà chúng ta đang chiếm cứ Allen Tate nói: “Đó là chức năng tối thượng của nghệ thuật”
Như vậy, tác phẩm Buồn Nôn đã đưa đến cho chúng ta một triết thuyết về hiện sinh được thể hiện vô cùng nổi bật qua nhân vật Roquentin, đây cũng là điểm thành công làm nên tên tuổi của tác phẩm Trong cuốn Buồn Nôn, Sartre có ý hướng chứng minh rằng những thiên kiến, những truyền thống quen thuộc khiến cho con người quên rằng mình vốn sống trong một vũ trụ thù nghịch và khôn lường, và khi nhận thức được sự kiện này, con người nôn mửa vì tuyệt vọng, nhưng con người có thể thoát khỏi sự tuyệt vọng này bằng nghệ thuật và bằng hành động Theo đó, triết thuyết hiện sinh cho rằng chúng ta đều là những thực thể tự do và vì vậy, đều có trách nhiệm với mọi sự lựa chọn và hành động của bản thân mình, chúng ta là phải những tác giả của cuộc đời mình và kiến thiết những gì chúng ta đeo đuổi Buồn Nôn trở thành một luận cứ triết học của học thuyết hiện sinh mà Jean-Paul Sartre là kẻ đưa đường Tác phẩm Buồn Nôn của ông đã để lại hậu thế những giá trị tuyệt đối, vượt thời gian qua những án văn chương bất hủ, một phạm trù triết học đầy nhân tính trong thuyết hiện sinh của ông Jean-Paul Sartre là nhân vật thời thượng qua mọi thời đại của nền văn học sử hiện đại
1.3.4 Tính chất của tác phẩm
Tác phẩm La Nausée (Buồn Nôn, 1938) là một trong những tác phẩm đáng chú ý nhất của Jean-Paul Sartre Tác phẩm được viết dưới hình thức một cuốnnhật kí của nhân vật chính trong truyện tên Antoine Roquentin: “Điều tốt nhất là ghi lại những biến cố trong từng ngày một Tạo giữ một cuốn nhật kí để nhìn thấy rõ ở đấy Đừng để vượt thoát những sắc thái, những sự kiện nhỏ nhặt, ngay cả khi chúng không có vẻ gì cả, và nhất là xếp hạng chúng” [13]
Hình thức (nhật kí) là dạng thức rất quen thuộc đối với mỗi người Song nội dung của quyển nhật kí này lạ vô cùng lạ lẫm thu hút được sự tò mò của người đọc Những tưởng cuốn sách sẽ là những biến động xảy đến mỗi ngày đối với nhân vật, hay chăng tâm trạng của người viết như thế nào Sự thực lại là những câu chuyện được xuất phát từ điểm nhìn người viết dưới một góc độ hoàn toàn khác, soi chiếu vào cái bên trong sâu thẳm nhất của sự vật và con người mà trước nay ta dửng dưng, thờ ơ và đối xử với nó
Trang 28một cách không công bằng Đọc truyện, chúng ta phải giật mình vì chúng ta thấy mình trong đó, soi chiếu tâm hồn mình trong cái gương soi mang tên “Buồn Nôn” cùng những điều rất quen thuộc mà ta chưa ý thức được về mình Hơn nữa, những tư tưởng lạ, đó là
tư tưởng mang đậm chủ nghĩa hiện sinh, hướng tới việc con người phải đi tìm chính mình với những tầng thực siêu thực nhất
Khi đi vào tìm hiểu câu trả lời từ nhan đề tác phẩm điều mà đọc giả gặp phải đầu tiên
đó là một câu chuyện rất khó hiểu Có thể nói Buồn Nôn không phải là một tiểu thuyết khó đọc, nhưng khó muốn đọc hết một lần nếu ta định biết cốt truyện Nhiều đoạn mô
tả cận gần đến chân lông sợi tóc về thân xác, cặn kẽ như trên mặt hành tinh nguyệt cầu, khiến ta không có ấn tượng đẹp (người nữ sà xuống quá gần để khêu gợi khiến người nam buồn nôn); hoặc mô tả cử chỉ đồng tính luyến ái (bàn tay của hai người nam quyện lấy nhau); hoặc nhiều đoạn dài dòng về lịch sử một nơi chốn; hoặc lai vãng khắp nơi những “buồn nôn-phi lí” được lặp đi lặp lại như điệp khúc… Trong khi đó, có những đoạn mô tả độc đáo về hiện hữu (không phải chỉ như từ ngữ trừu tượng) mà là trực quan chỉ triết gia Sartre mới tiếp cận được như vậy, và với những ý tưởng về hiện sinh lạ lùng Buồn Nôn là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị trong văn học Pháp, nó không chỉ độc đáo ở tư tưởng mà còn ở bút pháp hiện sinh, mô tả hiện tượng luận, ở giá trị về phương diện thẩm mỹ, chất men gợi dậy cơn buồn nôn qua cảm nhận dư thừa và phi lí, khai từ thơ mộng cho thiên triết luận hữu thể và hư vô, hiện hữu phi lí nhưng ta có tự do lựa chọn trách nhiệm Nói tuần tự cho có sự sắp đặt, thật ra thì những ý tưởng hiện sinh như hiện hữu, buồn nôn, dư thừa, phi lí, hư vô… trộn lẫn vào nhau, cùng hiện diện đôi khi chỉ ở trong một câu Sắp đặt theo tuần tự chỉ là theo những điều nào đề cập trước, đề cập sau
Nó không giống những câu chuyện thông thường với những chuỗi sự việc diễn ra theo thời gian và không gian nhất định, cái này trước nói trước cái này sau nói sau, đằng này lại khác hoàn toàn dường như khi đọc tác phẩm chúng ta khó lòng sắp xếp trình tự giống như một câu chuyện theo lối kể thông thường, bởi cách kể giống như những mảnh ghép của kí ức khó mà có thể sắp xếp ngay ngắn mạch lạc nội dung Tác phẩm được viết theo trình tự thời gian (sắp xếp theo từng ngày) nhưng sự thật lại không theo cái thời gian hiển hiện ấy khiến cho người ta phải chăm chú mà đọc, mà xem, mà liên kết Cho nên, câu chuyện “Buồn Nôn” này thật sự rất khó hiểu, hơn nữa với độc giả phương Đông không quen với lối viết phương Tây nên càng khó hiểu hơn Thậm chí nếu chỉ đọc sơ
Trang 29loại tiểu thuyết Thế nhưng chính điểm khó hiểu, khó tiếp thu ấy lại là một điểm đáng thu hút của tác phẩm Sở dĩ khi đọc một tác phẩm nghệ thuật ắt hẳn ai cũng muốn hướng đến việc ta phải nắm được nội dung tác phẩm nói đến điều gì thì khi đọc “Buồn Nôn” cũng không ngoại lệ Nếu như nhan đề đã gây được ấn tượng mạnh mẽ, kích thích tính
tò mò của đọc giả thì khi nội dung khó hiểu sẽ khiến người ta hiếu kì hơn và băn khoăn không biết tác phẩm này có điều gì hay để mà lại được nhiều bạn đọc yêu thích như vậy Từ điều đó những độc giả sẽ quyết tâm đọc hiểu cho bằng được mới thôi Nội dung càng khó hiểu sự hiếu kì càng tăng Những mảng màu được pha trộn tưởng chừng rối rắm song lại có sự liên quan chặt chẽ Càng đi sâu vào mê cung của Buồn Nôn, người ta lại càng nảy sinh cái ý chí ngộ ra nó và chính mình Điều đó sẽ là động lực để người đọc
có quyết tâm đi vào tìm hiểu cho bằng được nội dung chứa đựng trong tác phẩm, và ắt hẳn sẽ tin rằng bên trong cái sự khó hiểu đó sẽ chứa đựng một nội dung sâu xa chứ không thông thường như những tác phẩm khác
Tóm lại, Buồn Nôn được tác giả viết theo kiểu đóng, mở đầu là ở thị trấn Bouville, kết thúc tác phẩm nhân vật cũng tìm ra được bản ngã của chính mình ở tại nơi này, dù
để có được điều đó anh ta đã phải trải qua rất nhiều tâm trạng khác nhau Đây là kiểu cấu trúc về cá nhân, bởi ngay từ cái tên của tiểu thuyết tác giả đã cho người đọc thấy sự hình thành cá tính của nhân vật, cũng như hành trình và cả những khủng hoảng mà nhân vật sẽ gặp phải Bằng những thủ pháp của việc kể chuyện, như việc kể theo trục tuyến tính của thời gian, theo đó là trật tự trước sau của các biến cố, trình bày nhân vật một cách rõ ràng, các nơi chốn cụ thể của cuộc phiêu lưu mà nhân vật sẽ gặp phải để thông qua đó nói lên quan điểm của tác giả, sự ghê tởm, thái độ lợm giọng, buồn nôn với chính
xã hội mà anh ta đang sống
Trang 30Kết luận chương I
Jean-Paul Sartre với những tư tưởng hiện sinh mới mẻ ẩn mình trong những tập tuyển thuyết, kịch đã trở thành những khuynh hướng sáng tác văn học ở thế kỉ XX Tác phẩm hiện sinh Buồn Nôn xuất hiện như một sự cứu vớt linh hồn cho những con người đang sống trong cảnh lầm than, cực khổ ở một xã hội vắng niềm tin Chính vì thế nó đa gây
ra nhiều làn sóng bình luận và những ảnh hưởng đa chiều tích cực lẫn tiêu cực
Thuyết hiện sinh của Sartre được xem là một học thuyết vô thần nhưng ảnh hưởng của nó lại chẳng bộc lộ như vậy Nó chứng minh rằng thượng đế không tồn tại nói một cách chính xác hơn là cho dù thượng đế có tồn tại đi chăng nữa thì cũng chẳng có gì thay đổi Bởi con người cho dù có lạc vào lầm than, tăm tối thì chẳng có ai cứu vớt họ
và chỉ có họ mới có thể cứu vớt được bản thân mình ra khỏi đó Họ phải tìm lại chính mình bằng những sự lựa chọn sáng suốt chính vì vậy mà họ hiện hữu Đối với Sartre, con người lúc nào cũng ở ngoài bản thân mình và họ bị kết án tự do Thuyết hiện sinh của Sartre luôn cho rằng con người chỉ là hư vô sự tồn tại của họ ngay từ ban đầu đã phi
lý vì thế họ phải làm cho cuộc sống của mình trở nên ý nghĩa thì mới hoàn thành được mục đích tồn tại của mình
Buồn Nôn là tác phẩm hư cấu mang tính siêu lý ở thế kỉ XX Buồn Nôn là một tiểu thuyết vừa đương đại vừa hiện thực cho một chủ nghĩa hiện sinh mà Sartre chủ xướng một cách trung thực và đầy sáng tạo giữa đời này Nhân vật Roquentin được Sartre tạo
ra đại diện cho tất cả mọi người với những cung bậc cảm xúc khác nhau khi đối diện với hiện thực cuộc sống Mặc dù chàng luôn cảm thấy buồn nôn, nhưng chàng vẫn phải đối diện với nó để có thể tìm ra bản ngã của mình Thấm thía được nội dung của tác phẩm Buồn Nôn, ngày nay đã không còn ai đặt vấn đề hay bình phẩm về nó nữa, vì tất cả những giá trị mà nó mang lại đã được khai thác và bộc lộ thực thụ
Trang 31CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM CỦA JEAN-PAUL SARTRE VỀ VẤN ĐỀ CON
NGƯỜI QUA TÁC PHẨM “BUỒN NÔN”
2.1 Nhân vật Roquentin và hình ảnh của tác giả qua nhân vật Roquentin trong tác phẩm “Buồn Nôn”
2.1.1 Nhân vật Roquentin trong tác phẩm “Buồn Nôn”
Sự ra đời của tác phẩm “Buồn Nôn” đã đánh dấu bước phát triển của văn học hiện sinh ở Pháp vào thế kỉ XX Đây được xem là tác phẩm có giá trị và có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với thực tiễn xã hội ở Pháp lúc bấy giờ
Truyện được viết thành một cuốn nhật ký của nhân vật Antoine Roquentin kể về những câu chuyện xoay quanh chuyến đi Bouville từ ba năm, để anh chàng hoàn tất công trình nghiên cứu của mình về người hầu tước De Rollebon Tác phẩm được viết dưới dạng một cuốn nhật kí, điều này cũng là một điểm mạnh đồng thời cũng là một điểm yếu của tác phẩm Một sự bất lợi không hề nhỏ cho tác phẩm đó là nó dễ khiến cho người đọc cảm thấy khó hiểu vì nội dung được viết ra, đồng thời nó dễ làm cho người đọc nhàm chán vì sự dài dòng trong miêu tả nội tâm nhân vật đan xen vào đó là một cốt truyện không rõ ràng với nhiều tình tiết khó “Tuy nhiên, người đọc vẫn cảm nhận được những tính chất rất độc đáo của một thế giới mà ông đã tạo ra Đó là thế giới của một triết gia Mà đó cũng là thế giới của một tiểu thuyết gia nữa: Một thế giới khép kín, bí hiểm trong đó bao nhiêu tù nhân đang mù quáng quay cuồng với những hành động quyện
chặt vào nhau trong một chất keo nhầy nhụa.” [7, tr.221]
Tác phẩm mang trong mình những tư tưởng triết học hiện sinh theo quan điểm của J.P Sartre, chính vì thế nó được đánh giá rất cao và được cho là một tiểu thuyết thật sự
có giá trị về mặt triết học cũng như đời sống xã hội Mở đầu tác phẩm là một lời tặng vô cùng ấn tượng: “Tặng CASTOR “Đây là một thanh niên không có tầm quan trọng tập thể, gã chính là một cá thể” L.F CÉLINE L’Eglise [13, tr.7] Lời tặng đã thể hiện rõ quan điểm của chủ nghĩa hiện sinh, đề cao sự tự do của con người đồng thời nêu lên nổi bật cá tính của nhân vật là một con người tự do cắt đứt mọi mối quan hệ với xã hội bên ngoài Đây cũng là một cách mở rất thú vị của tác giả, bởi trong toàn bộ tác phẩm, cuộc sống Antoine Roquentin luôn bị bao vây trong một cuộc sống cô đơn
Roquentin có thói quen lang thang đến những quán café, thư viện hay trên đường phố để ngắm nhìn và suy nghĩ về những gì mình thấy được Chàng bị giam hãm bởi hiện tại, bởi với chàng quá khứ của chàng đã chết, và tương lai chàng cũng chẳng cần phải quan tâm thêm Chúng ta có thể lý giải sự cô độc của Roquentin bằng quan điểm triết
Trang 32học của chủ nghĩa hiện sinh Đó là con người hiện sinh độc đáo hay nói cách khác là con người cô độc trong xã hội Và chính anh cũng khẳng định rằng: “Tôi cô độc và tự
do.” [13]
Bên cạnh sự tự do sẽ không tránh khỏi những lo lắng và Antoine cũng vậy chàng đã phải chịu một nỗi lo lắng vô hình luôn ám ảnh Nỗi lo sợ ấy được chủ nghĩa hiện sinh lí giải vì con người tự do nên con người tự lựa chọn tương lai của mình, mà tương lai thì
vô cùng bấp bênh vì vậy con người luôn cảm thấy một nỗi lo âu siêu hình Sống trong
sự tự do mà mình lựa chọ nhưng chàng luôn cảm thấy có một nỗi lo âu luôn bám theo,
ám ảnh; và nỗi ám ảnh về sự bấp bênh của tự do đó đã khiến anh luôn cảm thấy cô độc, chán nản Để phản ứng lại nỗi lo âu ấy chàng luôn cảm thấy buồn nôn Cơn buồn nôn
ấy tượng trưng cho nỗi ám ảnh về sự bấp bênh hư vô của sự tự do “Nếu nghĩ đến việc
tự tử, thì anh lại thấy rằng sự tự tử này cũng vô nghĩa Nó cảm thấy “dư thừa” trong một thế giới “quá đầy” [7, tr.222]
Chính vì suy nghĩ đó nên chàng không hề chạy trốn nỗi buồn, mà ngược lại chàng luôn đối mặt và suy nghĩ về nó Ở mọi nơi mà chàng đi, những sự vật mà chàng thấy ở
đó Antoine luôn cảm nhận được sự cô đơn của bản thân Nhưng chàng lại không quên khẳng định sự tự do của mình vì chàng luôn ý thức được nó Để có được sự tự do chàng
đã rời Pháp và đi đến rất nhiều nơi: Tây Ban Nha, Luân Đôn, Meknès, Đông Kinh, ở đây chàng đã trải qua rất nhiều những chuyến phiêu lưu Điều này càng làm cho chúng
ta thấy rõ hơn về con người của chàng, chàng luôn có trách nhiệm với tương lai của bản thân và biết tự do lựa chọn tương lai cho bản thân Nhưng không có nghĩa những sự rời
đi để tìm tự do lại không mang theo những mối lo âu về sự bấp bênh vô định Chính vì thế, trong ba năm ra đi chàng vẫn phải luôn chung sống với cơn “buồn nôn” và chàng buộc phải đối diện với nó như những mối lo âu siêu hình: Khi người ta sống, chẳng có
gì xảy đến Những bối cảnh thay đổi, người người đi ra đi vào chỉ có thế Không bao giờ
có những lúc khởi đầu Ngày tháng nối tiếp ngày tháng, không tiết điệu, không lí do, đấy là một con toán cộng bất tận và đơn điệu, buồn nản Ngay cả công việc chép sử cũng chẳng làm chàng thấy có ý nghĩa gì cả
Tác giả đã rất khéo léo trong việc đề cao tính khách quan của chủ nghĩa hiện sinh, đồng thời đề cao tính hiện hữu của sự vật Cụ thể là ở “Lời thưa trước của người xuất bản”: Những tập vở này đã được tìm thấy trong số các giấy tờ của Antoine Roquentin Chúng tôi cho xuất bản mà không thay đổi gì cả Trang thứ nhất không ghi ngày tháng,
Trang 33khởi đầu cuốn nhật kí thật sự…; và “Tờ rơi không ngày tháng”: một chữ để trống, một chữ bị xóa, bản văn của tờ rời không ngày tháng dừng ở đây…” Đối với con người, nhà hiện sinh chú ý mô tả con người như nó đang tồn tại (hiện sinh, hiện hữu) Để nói lên quan điểm này của triết học hiện sinh, Sartre để cho nhân vật Antoine đã cảm nhận sự hiện hữu của mình và lí giải nó Chàng hoàn toàn có thể nhận biết được sự hiện hữu của
sự vật xung quanh vì vậy chàng luôn bị ám ảnh bởi chúng Chẳng hạn như khi ở trên biển, cầm lên cục đá nhỏ chàng lại thấy nó là nỗi kinh tởm “Thật khó chịu biết bao! Và nỗi kinh tởm ấy đến từ viên đá, tôi chắc thế, nó chuyền từ viên đá sang tay tôi Vâng đúng nó, đúng là nó: một thứ buồn nôn nơi hai bàn tay” [13, tr.33] Sartre lấy nỗi buồn nôn của nhân vật Antoine để phản bác lại học thuyết của Descartes Triết học duy lí Descartes phân biệt hai thực thể: vật hữu tri và vật hữu hình Thuộc tính chính của vật hữu tri là tư duy, của vật hữu hình là quảng tính hay hậu lượng (étendue) Vì triết học duy lí quá đề cao tính hữu tri (có thể nhận biết được) của sự vật, còn chủ nghĩa hiện sinh cho rằng: thế giới hiện thực chỉ có thể là cái thế giới này, đang phơi mở ra đây với tất cả mọi ý nghĩa nó có thể có cho tôi, trong khi tôi sống trong lòng nó
Để phản ứng lại cũng như dập tắt cơn “buồn nôn” của bản thân Antoine đã nghe bản nhạc “Some of these days” ở quán Rendez – Vous de Cheminots – một quán cà phê mà ông hay ghé đến Một điều ấn tượng nữa đó là tư tưởng đạo đức thực hiện những hành
vi cao quý được thể hiện thông qua nhân vật Lucie – người hầu gái Nàng luôn tỏ ra cao thượng, nhưng nó lại không thể tự an ủi cho sự đau khổ của nàng
Trong và sau các cuộc chiến tranh thế giới của thế kỉ XX, khi Châu Âu tìm thấy mình trong cơn khủng hoảng, đối mặt với cái chết, sự hủy diệt thì phong trào hiện sinh bắt đầu thịnh hành Chủ nghĩa hiện sinh như một khuynh hướng triết học cũng như một phong trào văn hóa văn hóa được phổ biến rộng rãi nhất ở những thập niên 40 – 50 của thế kỉ XX, là thời điểm Châu Âu đang chìm trong tâm trạng tuyệt vọng, có thể không phải không có hy vọng về việc tái thiết xã hội nhưng tình trạng bi quan cũng đủ để chấp nhận cái nhìn hiện sinh vô mục đích, sự buồn nôn, vô nghĩa của cuộc đời Đối với họ, tương lai như một đám sương mù dày đặc Những lý tưởng mà họ đã đặt ra dường như trở về con số không Triết học hiện sinh mang trong nó cả những lo âu xen lẫn bất lực Những day dứt, hoang mang giày vò ấy được các nhà tư tưởng nâng lên thành khái niệm: buồn nôn và phi lý, hư vô và thân phận con người Một điều đáng nói là tại thời điểm này các trào lưu văn học hiện sinh lại tồn tại song song với chủ nghĩa hiện sinh Chưa bao giờ văn học lại gắn bó mật thiết với triết học như vậy Văn học với những đặc trưng