Cũng như các ngành khoa học khác, triết học Mác – Lênin thực hiện nhiều vai trò khác nhau: nhận thức, giải thích, dự báo, giáo dục v.v..Trong đó, quan trọng nhất là vai trò thế giới quan
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ - -
VIỆT NAM HIỆN NAY
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Thu Thủy
Lớp : 15SGC
Giảng viên hướng dẫn: TS Đinh Thị Phượng
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ - -
VIỆT NAM HIỆN NAY
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Thu Thủy Lớp : 15SGC
Giảng viên hướng dẫn: TS Đinh Thị Phượng
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất cứ hình thức nào trước đây Nếu phát hiện có bất cứ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung khoa học của khóa luận
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2019 Tác giả
Phạm Thị Thu Thủy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến
TS Đinh Thị Phượng, người đã luôn động viên, quan tâm hướng dẫn, giúp đỡ tận tình tôi về mặt chuyên môn Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô giáo khoa Giáo dục Chính trị - Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng đã tạo điều kiện giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức lý luận và thực tiễn trong quá trình tôi triển khai viết và hoàn thiện đề tài Cuối cùng, xin được gửi lời cảm ơn đến tập thể sinh viên lớp 15SGC khoa Giáo dục Chính trị đã có những góp ý chân thành, động viên để tôi làm tốt khóa luận này
Đề tài chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ quý thầy cô, các bạn và những người có kinh nghiệm để được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Thu Thủy
Trang 5MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN Ở VIỆT NAM 7
1.1 Quá trình tiếp thu và truyền bá triết học Mác – Lênin ở Việt Nam 7
1.1.1 Quá trình tiếp thu 7
1.1.2 Quá trình truyền bá 13
1.2 Những nội dung cơ bản của triết học Mác – Lênin 17
1.2.1 Nội dung của phép biện chứng duy vật 17
1.2.2 Nội dung của chủ nghĩa duy vật lịch sử 29
1.3 Vai trò cơ bản của triết học Mác – Lênin 34
1.3.1 Vai trò thế giới quan 34
1.3.2 Vai trò phương pháp luận 37
1.3.3 Vai trò khác 39
Tiểu kết chương 1 41
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM 43
2.1 Khái quát về công cuộc đổi mới và những vấn đề đặt ra 43
2.1.1 Khái quát về công cuộc đổi mới ở Việt Nam 43
2.1.2 Những vấn đề đặt ra trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam 48
2.2 Vai trò của triết học Mác – Lênin trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay 52
2.2.1 Triết học Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng cho công cuộc đổi mới của Việt Nam 52
2.2.2 Triết học Mác – Lênin định hướng con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới của Việt Nam 54
Trang 62.2.3 Triết học Mác – Lênin định hướng con đường xây dựng và phát triển
đất nước trong bối cảnh mới hiện nay 59
2.2.4 Triết học Mác – Lênin là cơ sở lý luận giải quyết vấn đề xã hội mới nảy sinh 62
2.3 Khuyến nghị 68
Tiểu kết chương 2 69
C KẾT LUẬN 71
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Triết học Mác – Lênin ra đời từ những năm 40 của thế kỉ XIX Ngay từ khi mới ra
đời, triết học Mác – Lênin đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử triết học: triết học không chỉ có vai trò giải thích thế giới mà còn cải tạo thế giới Cũng như các ngành khoa học khác, triết học Mác – Lênin thực hiện nhiều vai trò khác nhau: nhận thức, giải thích, dự báo, giáo dục v.v Trong đó, quan trọng nhất là vai trò thế giới quan, phương pháp luận trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người Vai trò
to lớn của triết học Mác – Lênin đã được thực tiễn thừa nhận Từ một “bóng ma ám ảnh châu Âu”, triết học Mác - Lênin đã được hiện thực hóa trong phong trào công nhân, mở ra một thời đại mới, thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Sự hình thành hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển của loài người, là chỗ dựa cho các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc đứng lên đấu tranh tự giải phóng, xóa bỏ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ và mới Những thắng lợi to lớn của chủ nghĩa xã hội đã làm thay đổi bộ mặt thế giới, là minh chứng hùng hồn cho sức sống mãnh liệt, trường tồn của triết học Mác – Lênin
Là học thuyết khoa học và cách mạng, triết học Mác – Lênin sống mãi trong sự nghiệp đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới và là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của Đảng Cộng sản
Vận dụng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam đã giúp Đảng cộng sản Viêt Nam giải quyết thành công những vấn đề thực tiễn cách mạng đề ra Cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh, triết học Mác – Lênin vào Việt Nam đã đưa nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Từ thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nhà nước công công đầu tiên ở Đông Nam Á Tiếp đến là giành được những thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Chỉ
có chủ nghĩa Mác – Lênin mới có thể vạch rõ được hướng đi đúng cho con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và đưa nước ta bước vào thời kì đổi mới toàn diện Ngoài ra, chính triết học Mác – Lênin đã làm thay đổi nhận thức, trở thành hệ tư tưởng
Trang 8chính thống của toàn xã hội, thay đổi nhanh chóng đời sống tinh thần đại đa số nhân dân Việt Nam
Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đến nay, nước ta bước vào một giai đoạn phát triển mới, đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa quan trọng, tạo nên diện mạo hoàn toàn mới cho Việt Nam Trong bối cảnh hiện nay, đòi hỏi dân tộc Việt Nam phải biết làm chủ mình, nắm bắt thời cơ, vận dụng cơ hội, vượt qua thử thách, tránh nguy cơ tụt hậu v.v Bối cảnh này đã và đang đặt ra vấn đề tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức lại, nhận thức đúng đắn vai trò của triết học Mác – Lênin trong giải quyết những vấn đề của thời đại Nghiên cứu vai trò của triết học Mác – Lênin có một
ý nghĩa hết sức quan trọng, cấp bách và thiết thực thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
Với những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài: “Vai trò của triết học Mác –
Lênin ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở khái quát quá trình tiếp thu, truyền bá, những nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phân tích vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác – Lênin và những vấn đề đặt ra trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam; đề tài làm sáng tỏ vai trò nền tảng tư tưởng, vai trò định hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và xây dựng, phát triển đất nước, giải quyết những vấn đề mới nảy sinh trong trong bối cảnh hiện nay của nước ta
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu trên, đề tài có nhiệm vụ cụ thể sau:
- Khái quát về quá trình tiếp thu, truyền bá triết học Mác – Lênin vào Việt Nam
- Khái quát về nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Phân tích vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác – Lênin
- Khái quát về công cuộc đổi mới và những vấn đề đặt ra
Trang 9- Chỉ ra và phân tích vai trò nền tảng tư tưởng của triết học Mác ở Việt nam
- Phân tích vai trò định hướng con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài có đối tượng nghiên cứu là vai trò của triết học Mác – Lênin trong công
cuộc đổi mới của Việt Nam hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài có phạm vi nghiên cứu là vai trò nền tảng tư tưởng và vai trò định hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng, phát triển đất nước, giải quyết những vấn
đề mới nảy sinh trong đổi mới từ năm 1986 đến nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Đề tài dựa trên cơ sở lý luận là quan điểm của Triết học Mác –
Lênin về vai trò thế giới quan và phương pháp luận
* Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác – Lênin, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp sau: Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu; Phương pháp phân tích và tổng hợp; Phương pháp logic
và lịch sử
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận và Tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương:
- Chương 1: Khái quát về triết học Mác – Lênin ở Việt Nam
- Chương 2: Vai trò nền tảng tư tưởng và định hướng của triết học Mác – Lênin trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Trang 106 Tổng quan tài liệu
Xoay quanh đề tài Vai trò của triết học Mác – Lênin ở Việt Nam hiện nay, xuất
hiện nhiều tác giả, nhà nghiên cứu với nhiều bài viết, công trình Tập trung:
Thứ nhất, bàn về triết học và vai trò của triết học: Triết học trong “thế giới phẳng”, tác giả Hồ Sỹ Quý đã đưa ra những suy tư của mình về diện mạo của triết học
trong kỷ nguyên toàn cầu Đó là: Tại sao triết học, trong khi vẫn có đầy đủ uy tín của mình trên diễn đàn quốc tế, lại kém đi vào cuộc sống đến thế Một khi các nhà triết học không biết ngăn chặn cái ác, cái xấu thì khi đó, tiếng nói nhân đạo, những định hướng giá trị sáng suốt sẽ ra sao Liệu triết học trong kỷ nguyên toàn cầu có đủ khôn khéo để nhắc nhở loài người tôn trọng những giá trị quý báu của những bài học đã từng phải trả
giá cho quá khứ [37] Trong “Những vấn đề cơ bản và cấp bách của triết học Mácxít”,
của Nguyễn Thế Nghĩa – Thái Thị Thu Hương, thể hiện những tìm tòi mới của tập thể tác giả về cách tiếp cận đối tượng triết học, về logic nghiên cứu và phương pháp trình bày các vấn đề cơ bản và cấp bách của triết học trên lập trường, quan điểm Mácxít
Trong “Người ta cần triết học để làm gì?” của Nguyễn Thúy Vân, bài viết đề cập đến một vấn đề tuy không mới nhưng cũng không dễ có câu trả lời, đó là vấn đề “người ta cần triết học để làm gì?”.Trên cơ sở phân tích những vấn đề liên quan đến câu hỏi
trên, tác giả cho rằng, chính nội dung của những tri thức triết học và chỉ nó mới làm sản sinh năng lực nhận thức của con người cách suy nghĩ và hành động phù hợp với
hiện thực được phản ánh [46, tr.2] Đó là lý do người ta cần triết học Trong “Nhận thức lại vai trò của triết học trong kỷ nguyên toàn cầu”: Từ diện mạo triết học thế giới cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI” của Phạm Văn Đức và Đặng Hữu Toàn – đồng chủ
biên, bài viết đã đề cập đến ba chủ điểm chính – vai trò của triết học Việt Nam, triết
học C.Mác và triết học nói chung trong kỷ nguyên toàn cầu [15, tr.22-25] Trong “Vai trò định hướng của triết học trong nhận thức và giải quyết những vấn đề toàn cầu ở thời đại hiện nay” của Đặng Hữu Toàn, tác giả cho rằng: Triết học với các chức năng
vốn có – chuẩn mực, phê phán, định hướng, tiên đoán khoa học và tổng hợp tri thức, không chỉ đem lại cách tiếp cận phức hợp, liên ngành trong việc nhân thức bản chất,
xu hướng vận động và phát triển của những vấn đề toàn cầu, mà còn phản ánh chúng một cách đúng đắn theo quan điểm phát triển toàn diện và lịch sử - cụ thể, để từ đó tìm
ra và khẳng định những phương thức giải quyết hợp lý [43, tr.2] Muốn vậy, triết học
Trang 11không chỉ cần phải tuân theo một triết lý mới về sự phát triển bền vững, mà còn phải hướng tới bản chất nhân văn, tính nhân đạo, khát vọng dân chủ, tự do và bình đẳng với
tư cách thuộc tính vốn có của con người và trong cả cộng đồng nhân loại Không chỉ thế, triết học còn phải trở thành trung tâm cho quá trình tổng hợp văn hóa trên cơ sở
thay đổi lối triết lý một chiều truyền thống của mình Trong “Vai trò của triết học đối với phát triển kinh tế”, tác giả Trần Văn Phòng khẳng định: Triết học là hạt nhân lý
luận của con người Thế giới quan triết học như thế nào sẽ quy định quan điểm kinh tế, chính trị, văn hóa, nghệ thuật, đạo đức… như thế ấy Do vậy, triết học khoa học đúng đắn có vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển của xã hội nói chung, của kinh tế nói riêng [32, tr.31] Trong “Thế giới quan - Chiếc la bàn định hướng cuộc sống”, theo tác giả Bùi Quang Minh thế giới quan đóng vai trò nhân tố sống động của ý thức cá nhân, giữ vai trò chỉ dẫn cách thức tư duy và hành động của cá nhân Nó đồng thời cũng thể hiện lý luận và khái quát hóa các quan điểm và hoạt động của nhóm xã hội Mỗi cá nhân cũng luôn mong muốn tiếp nhận những thế giới quan khác, làm phong phú thế giới quan cho mình, góp phần điều chỉnh định hướng cuộc sống
Thứ hai, bàn về vai trò của triết học Mác – Lênin ở Việt Nam: Trong “Vai trò của triết học Mác – Lênin trong đổi mới tư duy lý luận ở Việt Nam hiện nay” của Lê
Văn Quang, tác giả khẳng đinh: trong hàng loạt nhân tố tạo nên sự thành công của quá trình đổi mới tư duy lý luận ở Việt Nam, triết học Mác – Lênin có vai trò đặc biệt quan trọng Theo tác giả, trong điều kiện hiện nay, triết học Mác – Lênin vẫn giữ được tính khoa học và đúng đắn, vẫn giữ nguyên giá trị định hướng cho những người cách mạng,
nó giúp cho Đảng cộng sản và nhân dân Việt Nam nhận thức đúng các vấn đề của thời đại có liên quan chặt chẽ đến đổi mới tư duy lý luận; đồng thời là cơ sở lý luận và phương pháp để tư duy đúng đắn về con đường phát triển của cách mạng Việt Nam
[34] Trong “Vận dụng quan điểm của triết học Mác – Lênin về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức vào việc nhận thức con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay” của Đỗ Hồng Huyền, tác giả cho rằng: Ở Việt Nam, định hướng xã hội chủ
nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn rất
cơ bản, vừa liên quan đến đường lối, chính sách, giải pháp, vừa liên quan đến nhận thức, ý chí cách mạng Trước những biến động không ngừng của thực tiễn xã hội trong
và ngoài nước, qua 10 kỳ Đại hội, Đảng ta không ngừng tổng kết thực tiễn, thẳng thắn
Trang 12chỉ ra những ưu, khuyết điểm trong công cuộc xây dựng đất nước, từ đó bổ sung, hoàn chỉnh và vận dụng quan điểm có tính chất phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam [19]
Từ những gợi mở trên, các tác phẩm đã hệ thống hóa được được kiến thức cơ bản về triết học; Vai trò cơ bản của triết học Mác – Lênin, giúp tôi gợi mở nhiều vấn
đề Tuy nhiên, chưa có một đề tài nào đi sâu nghiên cứu về vai trò của triết học Mác – Lênin trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam Đây là động lực to lớn, thôi thúc tôi mạnh
dạn chọn đề tài Vai trò của triết học Mác – Lênin ở Việt Nam hiện nay để tiếp tục
nghiên cứu
Trang 13B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN Ở VIỆT NAM 1.1 Quá trình tiếp thu và truyền bá triết học Mác – Lênin ở Việt Nam
1.1.1 Quá trình tiếp thu
Triết học Mác – Lênin là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác – Lênin Trong học thuyết Mác – Lênin, tính khoa học được thể hiện rõ từ tổng thể cấu trúc đến các bộ phận hợp thành trên cơ sở thế giới quan duy vật triệt để và phương pháp biện chứng duy vật Bản thân phương pháp biện chứng duy vật – linh hồn của chủ nghĩa Mác cũng mang trong mình một tinh thần cách mạng sâu sắc, bởi “trong quan niệm tích cực về cái hiện đang tồn tại, phép biện chứng đồng thời cũng bao hàm
cả quan niệm về sự phủ định cái hiện đang tồn tại đó, về sự diệt vong tất yếu của nó, vì mỗi hình thái đã hình thành đều được phép biện chứng xét ở trong sự vận động, tức là xét cả mặt nhất thời của hình thái đó, vì phép biện chứng không khuất phục trước một
cái gì cả, và về thực chất thì nó có tính chất phê phán và cách mạng” [25, tr.35]
Sự phát triển của triết học Mác – Lênin gắn với quá trình chuyển biến lập trường chính trị, tư tưởng của hai ông và những mốc xuất hiện những tác phẩm kinh điển Cụ thể: Thời gian từ năm 1844 đến năm 1848 là quá trình hai ông từng bước xây dựng những nguyên lý triết học của mình Năm 1848, C.Mác và Ph.Ăngghen viết tác phẩm “Tuyên ngôn cộng sản” là văn kiện có tính chất cương lĩnh đầu tiên của chủ nghĩa Mác, của phong trào cộng sản thế giới Trong đó trình bày một cách triệt để thế giới quan mới, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Với tác phẩm “tuyên ngôn cộng sản” triết học Mác và chủ nghĩa Mác nói chung đã hình thành
Từ sau “tuyên ngôn cộng sản”, học thuyết triết học Mác tiếp tục được phát triển trong
sự gắn bó hơn nữa với thực tiễn cách mạng vô sản mà hai ông là lãnh tụ Bằng hoạt động của mình, hai ông đã đưa phong trào cách mạng của giai cấp vô sản từ tự phát thành phong trào tự giác, chính qua đó, học thuyết triết học của hai ông không ngừng được phát triển
Triết học Mác sau khi trở thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh nó đã trực tiếp đi vào đời sống xã hội, trở thành vũ khí lý luận của giai cấp vô sản Vì thế, nội dung của
Trang 14nó được lan truyền nhanh chóng ở các quốc gia thuộc Châu Âu, trong đó có nước Nga Nhưng sau khi C.Mác và Ăngghen mất, phong trào cộng sản thế giới có nguy cơ bị những người của phái chủ nghĩa xã hội dân chủ chi phối Những người này tuyên truyền những luận điểm để bác bỏ những giá trị của chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng Tình hình đó cũng diễn ra ở nước Nga trong thời cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Những năm cuối thế kỷ XIX bước sang thế kỷ XX trong khoa học tự nhiên có những phát minh mới, nhất là việc tìm ra điện tử và cấu tạo của nguyên tử làm đảo lộn căn bản quan niệm vật lý học cổ điển, dẫn tới “cuộc khủng hoảng vật lý” Lợi dụng tình hình đó, chủ nghĩa duy tâm, trong đó có chủ nghĩa Makhơ (duy tâm chủ quan) công kích chủ nghĩa duy vật của Mác Nước Nga sau khi cuộc cách mạng 1905-1907 thất bại, những người theo chủ nghĩa Makhơ tăng cường hoạt động lý luận, họ viện cớ
“bảo vệ chủ nghĩa Mác” để xuyên tạc triết học Mác V.I.Lênin phát triển triết học Mác thông qua cuộc đấu tranh bảo vệ triết học Mác, đặc biệt trong hoàn cảnh “cuộc khủng hoảng tư tưởng” ở nước Nga sau thất bại của cuộc cách mạng 1905-1907 Trong những năm 90 của thế kỷ XIX, Lênin nghiên cứu thể chế xã hội Nga và vai trò của các giai cấp khác nhau trong cuộc cách mạng đang tới gần, phê phán mọi hệ thống quan điểm duy tâm chủ quan của những người dân túy Ý nghĩa to lớn của sự phê phán đó được thể hiện trong tác phẩm “Những người bạn dân là những người như thế nào và
họ đã chống lại những người dân chủ - xã hội ra sao? (1894) Đây là tác phẩm đánh dấu giai đoạn Lênin trong sự phát triển của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng Tác phẩm đã thể hiện một trong những tính chất đặc biệt của Lênin – nhà triết học, nhà cách mạng phát xít – đó là sự sáng tạo khi vận dụng lý luận chung vào việc phân tích hiện thực cụ thể, vận dụng triết học vào những nhiệm vụ chính trị của giai cấp vô sản Năm 1900 Lênin viết tác phẩm: “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” để vạch rõ quan điểm duy tâm, siêu hình của những người theo chủ nghĩa Makhơ và chỉ rõ tác hại của nó đến phong trào cách mạng ở Nga Trong tác phẩm, Lênin đã bổ sung và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử dựa trên sự phân tích, khái quát những thành tựu khoa học mới nhất, Lênin xây dựng định nghĩa vật chất với tính cách là phạm trù triết học, đồng thời còn làm rõ thêm nhiều vấn đề lý luận nhận thức mácxít Tinh thần sáng tạo của tư duy biện chứng
Trang 15đã giúp cho V.I Lênin có những đóng góp quan trọng vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác về triết học như: vấn đề về nhà nước, bạo lực cách mạng, chuyên chính vô sản, lý luận về đảng kiểu mới Sự phát triển sáng tạo học thuyết Mác của V.I Lênin đã làm cho chủ nghĩa cộng sản khoa học trở thành hệ thống lý luận thống nhất của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới
Với tư cách là một hệ thống lý luận, một học thuyết, triết học Mác – Lênin đã lý giải một cách khoa học nhất về thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó Triết học Mác – Lênin đóng vai trò là cơ sở lý luận, là hạt nhân của thế giới quan Chính triết học đã lý giải về mặt lý luận toàn bộ các dữ kiện của hiện thực khách quan và hoạt động thực tiễn của con người một cách lịch sử - cụ thể và khoa học nhất Thế giới quan của triết học Mác – Lênin mà linh hồn của nó là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, là hệ thống lý luận khoa học và cách mạng nhất, là đỉnh cao của trí tuệ nhân loại
Với bản chất khoa học và cách mạng, triết học Mác – Lênin được nhiều nước tiếp thu và vận dụng như Trung Quốc, Nhật Bản, các nước Châu Âu, Liên Xô Quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác, triết học Mác vào mỗi nước có đặc điểm riêng Vận dụng triết học Mác một cách linh động làm thay đổi diện mạo của Trung Quốc, Nhật Bản, Liên Xô, thúc đẩy xã hội phát triển Điều này đã được thực tiễn chứng minh
Ở Việt Nam, ngoài Nguyễn Ái Quốc là người tiêu biểu nhất trong quá trình tiếp thu triết học Mác – Lênin thì bên cạnh đó vẫn có một số nhà yêu nước khác Nhiều người cho rằng Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền là những người sau Nguyễn Ái Quốc đã sớm có công trong việc tiếp thu và truyền bá triết học Mác vào Việt Nam Trong thời gian ở Pari, Nguyễn An Ninh liên hệ với Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Ái Quốc và được mọi người tin cây, quý mến Tháng 12 năm 1923, ông xuất bản báo Tiếng Chuông Rè, Nước Nam; viết cả tiểu thuyết, viết sách, vạch mặt bọn thực dân xâm lược, vừa phê bình Khổng giáo, vừa kêu gọi thanh niên hãy sống có lý tưởng vì Tổ quốc, kêu gọi đồng bào xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc Tiếng Chuông Rè là tờ báo đầu tiên ở Đông Dương đăng công khai “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền”, đăng toàn văn
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (1848) của C.Mác và Ph.Ăngghen, đăng các bài
Trang 16bênh vực Liên Xô, Cách mạng tháng Mười Nga và ủng hộ Nguyễn Ái Quốc, cho thấy ông thiên hướng theo chủ nghĩa Mác và tiếp thu những điểm tích cực của triết học Mác – Lênin Ngoài ra chúng ta không thể không nhắc Nguyễn Khoa Văn Sau khi Đảng Tân Việt tan rã, bị chính quyền thực dân bắt giam, khi được ra tù năm 1933, Nguyễn Khoa Văn trở lại với vũ khí quen thuộc của mình là cây bút Ông viết báo với bút hiệu mới là Hải Triều Là người còn trẻ tuổi, trong khi tranh luận với các ý kiến còn có những điểm khác biệt mấu chốt về quan điểm, Hải Triều vừa thể hiện sự thẳng thắn, rạch ròi và đề cao chân lý học thuật, mặt khác ông luôn luôn tôn trọng sự bình đẳng, dân chủ Trên lập trường mácxít được rèn luyện trong nhà tù đế quốc, Hải Triều hăm hở, tự nguyện gánh vác một sứ mệnh mới: “làm người chiến sĩ tiên phong, viên kiện tướng tả xung hữu đột đấu tranh với những quan điểm duy tâm về triết học, quan điểm tư sản về văn học nghệ thuật, rồi kế thừa truyền bá quan điểm cách mạng và cắm được ngọn cờ chiến thắng của tư duy lý luận mácxít trên lĩnh vực tư tưởng và nghệ thuật đương thời”[50, tr.25] Ngay trong năm 1933, tuy lúc đầu phải làm việc và hoạt động một mình vì nhiều đồng chí của ông vẫn phải ngồi trong tù, nhưng ông vẫn tự mình học hỏi và viết báo Hải Triều đã đăng trên báo Đông Phương và Tiếng Dân 24 bài, trong đó ông vận dụng triệt để học thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để biện giải một số vấn đề về kinh tế, chính trị trên thế giới và ở nước ta Qua các bài báo
về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, Hải Triều chủ động đứng trên lập trường mácxít để đấu tranh bảo vệ quyền độc lập chính đáng của mỗi quốc gia, quyền dân sinh dân chủ của người lao động lương thiện, phê phán thói ích kỷ tham tàn của các nhà cầm quyền khi họ đặt lợi ích của giai cấp hữu sản, của tầng lớp mình lên trên quyền lợi của đông đảo quần chúng Đặc biệt trong số những bài báo này ông có một bài bàn về triết học và một bài bàn về văn học thể hiện được bản lĩnh vững vàng, sắc sảo của nhà lý luận phê bình mácxít trẻ tuổi Từ đó ông trở nên nổi tiếng, thu hút được cảm tình của người đọc, gây thanh thế cho Đảng Cộng sản sau thời gian bị chính quyền thực dân kìm kẹp, khủng bố Với bản lĩnh của một người vững tin đi theo con đường của chủ nghĩa duy vật mác xít, với một nền tảng trí thức sở cậy có căn cứ khoa học và thực tiễn vững chắc, Hải Triều đã thổi một luồng sinh khí mới làm thay đổi tư duy về khoa học và nghệ thuật lúc bấy giờ Sự thẳng thắn, rạch ròi giữa đâu là những nguyên lý cơ bản thuộc học thuật cần làm sáng tỏ đúng sai với đâu là phương diện
Trang 17nhân cách cần được bảo trọng của người trí thức đang tranh luận với mình, bất kể vị thế, tuổi tác của họ như thế nào, mà ông biểu hiện đã nêu một tấm gương về việc trong tranh luận học thuật phải vừa đảm bảo việc tìm kiếm chân lý khoa học đích thực, vừa thể hiện sự tôn trọng người khác, dù cho họ còn có ý kiến khác mình
Đầu thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam diễn ra cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, về giai cấp lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc, thiếu một lý luận soi sáng dẫn đường Trong bối cảnh đó, vượt qua sự hạn chế của điều kiện lịch sử xã hội Việt Nam, vượt lên những hạn chế của các sĩ phu yêu nước đương thời, bằng thiên tài trí tuệ và bằng hoạt động thực tiễn của mình, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước để đáp ứng kịp thời đòi hỏi bức thiết đó, đã tìm ra giải pháp mới cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam
Bằng vốn kiến thức lý luận và từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú của mình Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo triết học Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, lãnh đạo cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Đầu thế kỉ XX, gần mười năm bôn ba khắp các châu lục (1911-1920), Người đến những nước thuộc địa và những nước đế quốc như Anh, Mỹ, Pháp… quan sát, nghiên cứu, suy nghĩ và đã phát hiện ra một chân lý: “chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa
đế quốc thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ của giai cấp công nhân với nhân dân
lao động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa” [22, tr.89] Năm 1917, Người
đến Pari và năm 1919 gia nhập Đảng Xã hội Pháp; tháng 6/1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam, với tên gọi mới là Nguyễn Ái Quốc, Người gửi bản yêu sách 8 điểm tới Hội nghị Vécxây; tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc “Đề cương
về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin và từ đó Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (tháng 12/1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam, đánh dấu bước chuyển quan trọng của con đường giải phóng dân tộc Việt Nam “Muốn cứu nước và giải phóng dân
tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” [22, tr.90] Trong quá
trình hoà mình vào cuộc đấu tranh sôi nổi của phong trào công nhân và Đảng Xã hội Pháp để tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã
Trang 18địa” của V.I.Lênin Người đón nhận những tư tưởng cách mạng của V.I.Lênin với niềm phấn khởi và tin tưởng của một người chiến sĩ cách mạng sau nhiều năm nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tiễn Tác phẩm đã giúp Nguyễn Ái Quốc tìm thấy lời giải đáp cho những câu hỏi lớn về vận mệnh dân tộc, soi sáng con đường giải phóng dân tộc: con đường cách mạng vô sản Từ đó, Người đã tích cực xúc tiến công tác chuẩn bị những điều kiện cần thiết, hướng phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam vào quỹ đạo của cách mạng vô sản Dưới ánh sáng của Cách mạng tháng Mười Nga, luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin và ảnh hưởng của cuộc đấu tranh thành lập Đảng cộng sản Pháp, chủ nghĩa Mác – Lênin đã sớm được khẳng định trong nhận thức tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc
Trong quá trình tiếp thu, Người đã từng nói rằng, bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất vẫn là chủ nghĩa Mác – Lênin Nguyễn
Ái Quốc coi triết học Mác – Lênin là cái “cẩm nang thần kỳ”, nhưng Người cũng luôn nhấn mạnh rằng cần phải vận dụng sáng tạo cái “cẩm nang thần kỳ” đó Khi trả lời phỏng vấn báo Nhân đạo (L’Humanite) vào ngày 15-07-1969, Người khẳng định: “Về phần chúng tôi, chính là do cố gắng vận dụng triết học Mác – Lênin một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được
những thắng lợi to lớn [22, tr.589] Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên cho rằng, cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng ở "chính quốc", nhân dân thuộc địa có thể đứng lên tự giải phóng chính mình, cuộc cách mạng có thể thắng lợi trước ở một nước thuộc địa Những luận điểm cách mạng của Nguyễn Ái Quốc đã giải quyết đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ giữa dân tộc
và giai cấp, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trong quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin Đó chính là logic của lịch sử, là niềm tin khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam trong định hướng đổi mới
vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Như vậy, quá trình tiếp thu triết học Mác – Lênin diễn ra mạnh mẽ, không chỉ
có Nguyễn Ái Quốc mà một số nhà yêu nước khác của Việt Nam cũng đã tiếp cận và tìm đến triết học Mác – Lênin để vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam
Trang 191.1.2 Quá trình truyền bá
Quá trình truyền bá triết học Mác – Lênin ở Việt Nam chủ yếu diễn ra theo hai
hình thức Một là, những nhà yêu nước của Việt Nam viết bài đăng trên tạp chí và chuyển về nước Hai là, thành lập các tổ chức để truyền bá Đây là một quá trình
chuyển từ bị động sang chủ động
Đầu tiên, truyền bá triết học Mác – Lênin được thực hiện bởi một số nhà yêu nước như: Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Đào Duy Anh, Nguyễn Ái Quốc v.v Trong thời gian ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc cùng sinh hoạt và liên lạc với các ông Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền, và được người đương thời gọi là "nhóm Ngũ Long” Trong thời gian hoạt động tại Pháp, Nguyễn Thế Truyền gia nhập Đảng Xã hội Pháp rồi Đảng Cộng sản Pháp (1922) và chính ông là người giới thiệu Nguyễn Ái Quốc đến với chính giới Đảng Xã hội Pháp và Đảng Cộng sản Pháp Nguyễn Thế Truyền từng làm Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Thuộc địa năm 1925 Ông đã đóng góp bài vở và từng làm chủ bút (năm 1925) cho báo Le Paria của Đảng Cộng sản Pháp nhưng sau ông từ bỏ chủ thuyết Cộng sản và cho ra một tờ báo riêng mang tên Việt Nam hồn (ra được 8 số từ Tháng Giêng đến Tháng Tám 1926), rồi Hồn Việt Nam (4 số), L'Ame Annamite, La Nation Annamite và tờ Phục quốc vào cuối năm 1926 đòi hỏi chính quyền Pháp đáp ứng nguyện vọng tự do của dân Việt Nam Sau lại thêm tờ Việt Nam xuất bản vào Tháng Chín năm 1927 Những tờ báo này là tụ điểm của nhiều người Việt có cùng chí hướng
ở Pháp, khai sinh ra An Nam Độc lập Đảng này Bên cạnh đó, Phan Văn Trường cũng
có đóng góp lớn trong việc truyền bá triết học Mác – Lênin, ông từng cộng tác với Nguyễn Ái Quốc và Phan Chu Trinh để khởi thảo ra bản yêu sách Tám điều do Nguyễn Ái Quốc mang tới Hội nghị Vécxai năm 1919 Sau này (năm 1926), ông cùng với Nguyễn Thế Truyền lập ra tờ Việt Nam Hồn và giới thiệu chủ nghĩa Cộng sản trên
tờ báo này Trong những năm giữa thập niên 1920, Nguyễn An Ninh liên tiếp có những chuyến đi về liên tục từ Pháp đến Việt Nam và với tài hùng biện của mình ông
đã nhiều lần tổ chức diễn thuyết, khơi gợi tình yêu nước trong thanh niên và quần chúng và nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân Từ cuối năm 1925, Nguyễn An Ninh đã cho đăng khá đều đặn những bài của một số lãnh tụ Quốc tế cộng sản hồi đó
Trang 20Ái Quốc tiếp tục duy trì mối quan hệ đã có từ trước với báo chí cánh tả Pháp, đặc biệt những tờ báo, những tạp chí có lập trường dứt khoát theo đường lối của Quốc tế Cộng sản Cũng từ thời kỳ này, Người hầu như hoàn toàn đoạn tuyệt với những tờ báo đã chuyển sang lập trường chính trị khác, chẳng hạn như tờ Le Populaire de Paris của Lôngghê Người tập trung những bài viết của mình cho hai tờ báo có ảnh hưởng rộng lớn nhất trong công nhân và những người lao động Pháp và hải ngoại là tờ L’Humanité
và La Vie ouvrière Từ năm 1921 đến hết tháng 2-1923 có ít nhất trên 20 bài của Nguyễn Ái Quốc đăng trên hai tờ báo trên và một bài cho tờ báo Journal du Peuple số
ra ngày 9-8-1922 [35, tr.67]
Những nhà yêu nước “xuất dương” sang Trung Quốc và Pháp tiếp thu triết học thông qua việc dự các lớp huấn luyện và tiếp xúc với nguồn tài liệu phong phú trong thời kì khủng bố mạnh mẽ của thực dân Pháp Họ kiếm được những sách báo cộng sản qua con đường bí mật, rồi người hiểu trước giảng lại cho những người chưa hiểu Sau cách mạng tháng Tám, truyền bá triết học Mác – Lênin còn qua những con đường khác nữa, chính quy hơn: các trường Đảng được mở, một số Đảng viên được đi học lý luận
ở các trường Đảng Trung Quốc và Liên Xô Nhiều sách báo được dịch ra từ tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Hán và được xuất bản với những số lượng lớn, và cả một số nhà lý luận của Liên Xô, Trung Quốc được mời vào giảng dạy triết học Mác – Lênin ở các
trường, lớp trong nước (chủ yếu là trường Nguyễn Ái Quốc) [36, tr.147]
Trong những nhà yêu nước trên thì Nguyễn Ái Quốc là người đi tiên phong trong việc truyền bá triết học Mác Việc truyền bá của Người diễn ra liên tục từ năm
1921 đến năm 1930 Sự truyền bá tư tưởng cách mạng vô sản của Người không phải là một hiện tượng nhất thời tự phát, mà là một quá trình không dứt đoạn có mục đích Năm 1919 Người đã thành lập hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp Ra tờ báo
“Người cùng khổ”, là cơ quan ngôn luận của tổ chức này và là người chủ bút tờ báo Ngoài báo chí, Nguyễn Ái Quốc còn sử dụng những hình thức khác như diễn thuyết, viết kịch để truyền bá tư tưởng cách mạng của mình Những hoạt động này của Người thường tập trung ở Câu lạc bộ ngoại ô Phôbua do Lêô Pôndét, một trí thức tiến bộ tổ chức và lãnh đạo Tiếp tục truyền thống dân chủ từ cách mạng 1789, câu lạc bộ này thường sinh hoạt vào thứ năm và thứ bảy hằng tuần Đề tài khá rộng bao gồm khoa học tự nhiên lẫn chính trị - xã hội, văn học - nghệ thuật Trên trang nhất báo Le Paria,
Trang 21số 1 ngày 1-4-1922 có thông báo: Nguyễn Ái Quốc trình bày đề tài: “Sân khấu Việt Nam'' có biểu diễn tiết mục minh họa Cũng tại Câu lạc bộ này vào chiều chủ nhật ngày 11-6-1922 vở kịch Con rồng tre, hài kịch ba màn của Nguyễn Ái Quốc, được công diễn lần đầu tiên Những hình thức truyền bá này tuy không đến được với đồng bào bên Tổ quốc nhưng cũng góp phần tác động mạnh đến một bộ phận Việt kiều sống tại Pháp, hướng họ nghĩ về đất nước và thôi thúc hành động cách mạng Đặc biệt, Người viết tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” Tất cả các bài viết của Người đều có nội dung tố cáo tội ác của thực dân Pháp, kêu gọi nhân dân các nước thuộc địa đứng lên chống lại thực dân Pháp xâm lược Với nội dung mang tính chiến đấu cao, phương tiện tuyên truyền chủ yếu tư tưởng cách mạng cho các dân tộc bị áp bức, chiếm được sự mến mộ của nhân dân lao động ở các thuộc địa Vậy nên, không chỉ có những người hiện đang sống trên đất Pháp, mà có cả những người từ trong nước đặt mua báo dài hạn Để báo chí và thư từ trao đổi đến được với những độc giả đặt báo, toà soạn đã sử dụng đường đây bưu điện thông thường Đây là con đường công khai đưa báo chí từ Pháp về nước ta Ảnh hưởng của báo chí cánh tả, đặc biệt là tờ Le Paria cũng được mở rộng theo đó Bởi thế mà bọn thực dân bí mật kiểm duyệt thư tín, bưu phẩm từ Pháp gửi về nước, tịch thu các ấn phẩm không có lợi cho nền thống trị của chúng Ý thức được điều đó từ trước, nên đồng thời với việc sử dụng đường dây liên lạc công khai, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động xây dựng một đường dây bí mật thông qua những thuỷ thủ yêu nước, có tâm huyết làm việc trên tuyến đường vận tải biển Pháp – Đông Dương “Khởi đầu của đường dây bí mật ấy là việc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam dưới dạng truyền đơn về nước vào quý IV năm 1919 cho hành khách hồi hương tại cảng Mácxây Từ đó về sau, con đường đó được xây dựng hoàn chỉnh và bí mật với một hệ thống các trạm tiếp nhận như Le Havrơ, Mácxây, Sài Gòn, Hải Phòng Với những thuỷ thủ làm giao thông bí mật như Bùi Lâm, Nguyễn Viết Ty, Hoàng Đình Lộc” [20, tr.149]
Việc truyền bá triết học Mác – Lênin qua con đường thứ nhất ngày càng phát triển Số lượng các bài viết đăng trên tạp chí ngày càng nhiều và được chuyển hết về nước Chính vì vậy nhiều người dân trong nước có thể tiếp cận triết học Mác một cách thuận tiện, nhanh chóng và hiệu quả
Trang 22Thứ hai, những người yêu nước đã thành lập các tổ chức để truyền bá triết học Mác – Lênin vào Việt Nam Năm 1923 Nguyễn Ái Quốc hoạt động trong phong trào Quốc tế cộng sản Tại Liên Xô Người dành nhiều thời gian để nghiên cứu triết học Mác – Lênin Nghiên cứu chế độ Xô Viết Người viết bài cho các tờ báo ở Liên Xô như tờ báo “Tia lửa” hoặc viết bài cho Tạp chí Thư tín quốc tế Ngoài ra Người còn tham gia các đại hội quốc tế Đại hội quốc tế thanh niên, phụ nữ, nông dân Trong Đại hội Quốc tế nông dân 10/1923, Người được bầu vào ban chấp hành quốc tế nông dân Thời gian hoạt động ở Liên Xô tuy ngắn ngủi nhưng lý luận cách mạng của Người không ngừng nâng cao Tại Đại hội thứ 5 của Quốc tế Cộng sản 7/1924 tại Matxcơva, Người đã trình bày bản tham luận về một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa Người đã nêu lên mối quan hệ giữa cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa với cuộc cách mạng vô sản ở chính quốc Đồng thời Người kêu gọi các Đảng Cộng sản ở các nước trên thế giới hãy ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa Tại đây, Người được đào tạo căn bản, có hệ thống tại trường đại học Phương Đông Do vậy, trên phương diện truyền bá triết học Mác – Lênin vào Việt Nam thời kì này được nhân lên gấp bội
Cuối năm 1924 Người về Quảng Châu – Trung Quốc Tại đây Người đã gặp một nhóm người Việt Nam yêu nước trong tổ chức Tâm Tâm Xã Người ca ngợi tinh thần yêu nước của họ nhưng cũng phê phán họ chưa hiểu gì về chính trị, lại càng không biết về tổ chức Trên cơ sở tổ chức này người chọn ra những hội viên ưu tú đồng thời cử người về nước chọn những thanh niên Việt Nam yêu nước chưa tham gia bất kì một tổ chức chính trị nào Trên cơ sở hai nguồn lực lượng đó người đã thành lập
ra Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội tháng 6/1925 là nòng cốt cho cơ sở Đoàn Mục đích của hội là tuyên truyền Chủ nghĩa Mác – Lênin, triết học Mác – Lênin vào Việt Nam có hệ thống và tổ chức Nhằm thực hiện sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân, phong trào yêu nước để tiến tới ra đời một chính đảng ở Việt Nam Để hội hoàn thành sứ mệnh lịch sử đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã cho xuất bản tờ báo Thanh Niên Đồng thời mở các lớp giảng dạy ngắn hạn về triết học Mác – Lênin để đào tạo cán bộ cách mạng có hiểu biết về triết học Mác - Lênin Từ năm 1925-1927, hội đã đào tạo được hơn 200 hội viên Số hội viên xuất sắc được gửi đi học
ở các trường đại học của Liên Xô và Trung Quốc Số còn lại được đưa về nước hoạt
Trang 23động trong phong trào công nhân, phong trào yêu nước Tất cả các bài giảng của Lãnh
tụ Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện được tập trung lại và in thành một cuốn sách “Đường Cách Mệnh” (xuất bản 1927) đã nêu được tư tưởng cơ bản về chiến lược, sách lược về một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
Bên cạnh việc viết bài đăng trên các tạp chí, Nguyễn Ái Quốc đã xây dựng các
tổ chức chính trị làm nền tảng cho việc truyền bá Sau nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi với các chiến sĩ chống thực dân thuộc nhiều nước khác nhau đang sống ở Pari, ngày 26-6-
1921, Nguyễn Ái Quốc tổ chức cuộc họp bàn việc thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa Tại cuộc họp đầu tiên ấy, những người tham dự đã xây dựng chương trình, điều lệ và
cử một ban chấp hành Tối ngày 20-7-1921, Ban Chấp hành tổ chức cuộc họp tại tiệm
cà phê số 5, đường Gay Luytsác, trước nhà ga Luýchxămbua, thông qua lần cuối của các văn kiện chính thức của Hội
Triết học Mác – Lênin được truyền bá vào Việt Nam từ rất sớm và qua những con đường khác nhau, ngay từ khi mới được truyền bá vào thì đã kết hợp chặt chẽ với thực tiễn cách mạng, nhanh chóng được vận dụng trong thực tế, đem lại cho những người cộng sản Việt Nam một phương pháp tổ chức lực lượng đối với bản thân mình
và đối với quần chúng đông đảo rất có hiệu quả
1.2 Những nội dung cơ bản của triết học Mác – Lênin
1.2.1 Nội dung của phép biện chứng duy vật
Trong lịch sử triết học đã xuất hiện ba hình thức của phép biện chứng: phép biện chứng tự phát thời cổ đại, phép biện chứng duy tâm thời cận đại, phép biện chứng duy vật mácxít, trong đó chỉ có phép biện chứng duy vật mácxít mới thực sự khoa học
Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật được phản ánh trong hai nguyên lý: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển; sáu cặp phạm trù: cái chung và cái riêng, nguyên nhân và kết quả, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, khả năng và hiện thực; ba quy luật: quy luật chuyển hóa
từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, quy luật phủ định của phủ định Phép biện chứng duy vật phản ánh đúng sự liên hệ, sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, xã
Trang 24hội và tư duy Tùy theo nhu cầu thực tiễn và trình độ nhận thức của con người mà phạm vi các vấn đề được bao quát trong phép biện chứng duy vật ngày càng được phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu
Đứng trên quan điểm duy vật khoa học, phép biện chứng duy vật khẳng định rằng, cơ sở của sự liên hệ là ở tính thống nhất vật chất của thế giới Các sự vật, hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng, khác nhau như thế nào chăng nữa thì chúng cũng chỉ
là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất Ngay cả
tư tưởng, ý thức của con người vốn là những cái phi vật chất, cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc của con người, nội dung của chúng cũng chỉ là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất khách quan Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính phổ biến, tính khách quan của sự liên hệ, mà còn chỉ
ra tính đa dạng của nó Có mối liên hệ bên trong - bên ngoài; bản chất – không bản chất; tất yếu – ngẫu nhiên; chủ yếu - thứ yếu; trực tiếp – gián tiếp… Các loại liên hệ khác nhau có vai trò khác nhau đối với sự vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng Chẳng hạn sự vật, hiện tượng nào cũng có mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, nhưng vai trò của chúng đối với sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng là khác nhau Mối liên hệ bên trong bao giờ cũng giữ vai trò quyết định, còn mối liện hệ bên ngoài không có ý nghĩa quyết định, vả lại nó thông qua mối liện hệ bên trong mà phát huy tác dụng đối với sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Tuy nhiên sự phân loại các mối liên hệ chỉ có ý nghĩa tương đối Các loại liên hệ khác nhau có thể chuyển hóa lẫn nhau Sự chuyển hóa như vậy có thể diễn ra, hoặc do thay đổi phạm vi bao quát qua xem xét, hoặc do kết quả vận động khách quan của chính sự vật, hiện tượng
Như vậy, sự liên hệ tác động qua lại cuả sự vật, hiện tượng trên thế giới không những là vô cùng, vô tận mà còn rất phong phú, đa dạng và phức tạp Đặc biệt trong lĩnh vực đời sống xã hội, tính phức tạp của sự liên hệ được nhân lên do sự đan xen, chồng chéo, chằng chịt của vô vàn các hoạt động có mục đích, có ý thức của con người Chính vì vậy mà quá trình nhận thức và phân loại các mối liên hệ trong xã hội trở nên khó khăn hơn nhiều so với trong giới tự nhiên Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng, quan điểm toàn thể hiện
ở một số yêu cầu Phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ phổ biến, mối liên
Trang 25hệ vốn có của nó Sự vật, hiện tượng, bản chất của sự vật, hiện tượng được hình thành, biến đổi và bộc lộ thông qua mối lên hệ giữa chúng với các sự vật, hiện tượng khác Vì vậy, để nhận thức đúng đắn sự vật, hiện tượng không chỉ xem xét bản thân nó, mà còn phải xem xét mối liên hệ giữa nó với các sự vật, hiện tượng khác Chẳng hạn, kinh tế
và chính trị tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau Xem xét vấn đề chính trị
mà không tính đến các vấn đề kinh tế, hoặc ngược lại sẽ dẫn tới những sai lầm cực đoan
Nguyên lý mối liên hệ phổ biến đã chỉ ra sự vật, hiện tượng tồn tại trong vô vàn mối liên hệ, do đó trong mỗi điều kiện lịch sử nhất định con người không thể nhận thức được tất cả các mối liện hệ Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vật cũng chỉ là tương đối, không đầy đủ, không trọn vẹn Ý thức được điều đó, chúng ta sẽ tránh được việc tuyệt đối hóa những tri thức đã có về sự vật, coi những tri thức đó là những chân lý bất biến, tuyệt đối, không thể sửa đổi, bổ sung và phát triển Vì vậy, trong cuộc sống đòi hỏi sự cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc Khi xem xét toàn diện các mối liên hệ của sự vật phải đánh giá đúng vị trí, vai trò của chúng, tránh xem xét một cách dàn trải, “bình quân” Bởi sự vật tồn tại trong mối liên hệ phổ biến, nhưng vị trí, vai trò của các mối liên hệ không
“ngang bằng” nhau Vì vậy, có xác định được vị trí, vai trò của các mối liên hệ mới nhận thức được bản chất của sự vật, mới thấy được khuynh hướng vận động, phát triển của nó Ngoài ra, phải nhận thức sự vật trong tính chỉnh thể của nó, trong tính nhiều mặt và sự tác động qua lại quy định lẫn nhau, chi phối lẫn nhau của chúng “Sự vật trong thực tế tồn tại với tư cách như một chính thể, nó không phải là tổng số đơn giản các mối liên hệ, mối liện hệ giữa sự vật đó với các sự vật khác, mối liên hệ giữa các mặt của sự vật, các yếu tố cấu thành sự vật, mà là tổng số các mối liên hệ hữu cơ, có
sự tác động qua lại, quy định, chi phối lẫn nhau Có nhận thức sự vật trong tính chỉnh
thể thì mới nhận thức được sự vật, nhận thức được bản chất của sự vật” [18, tr.102]
Các nhà triết học nói chung (cả duy vật, cả duy tâm, cả biện chứng lẫn siêu hình) từ cuối thế kỷ XIX đến nay đều thừa nhận nguyên tắc về sự phát triển Tuy vậy, chỉ trong nguyên lý về sự phát triển và sự lý giải về quá trình phát triển mới thực sự khoa khoa học Những người theo quan điểm siêu hình trước đây phủ nhận sự phát
Trang 26mãi mãi vẫn là như thế, không có sự phát triển Trước những thành tựu của khoa học
tự nhiên từ cuối thế kỉ XIX và thực tiễn lịch sử xã hội, những người theo quan điểm siêu hình phải thừa nhận sự phát triển Song, đối với họ phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi thuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất Tính muôn vẻ về chất của sự vật và hiện tượng trên thế giới là sự nhất thành bất biến trong toàn bộ quá trình tồn tại của nó Sự phát triển chỉ là thay đổi về mặt lượng của từng loại đang có, không
có sự nảy sinh những loại mới với những tính quy định mới về chất, có sự thay đổi về chất chăng nữa thì đó cũng chỉ diễn ra theo một vòng tròn khép kín Phép biện chứng duy vật không những có quan niệm khoa học về phạm trù phát triển mà còn khẳng định tính khách quan của sự phát triển Khi đề cập đến nguồn gốc của sự phát triển, những người theo quan điểm duy tâm thường tìm những nguồn gốc đó ở các lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức của con người Theo quan điểm duy vật biện chứng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, do mâu thuẫn của sự vật quy định Phát triển là quá trình tự thân của mọi sự vật, hiện tượng, là một quá trình khách quan, độc lập với ý thức của con người
Quan điểm biện chứng duy vật về sự phát triển phản ánh đúng đắn về sự phát triển, quá trình phát triển trong thực tế và do đó mới thấy được sự phát triển là xu hướng phổ biến “Cũng như nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển là một trong những cơ sở, nền tảng của phép biện chứng và đồng thời là cơ sở lý luận của quan điểm phát triển – một quan điểm phương pháp luận khoa học trong nhận thức và thực tiễn Với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận khoa học để nhận thức
và cải tạo thế giới, quan điểm phát triển thể hiện ra ở một số yêu cầu Các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy tồn tại trong quá trình vận động và phát triển không ngừng Bản chất khách quan của quá trình đó đòi hỏi chúng ta phản ánh đúng đắn hiện thực, phải xem xét sự vật, hiện tượng trong sự vận động và phát triển của nó Ngoài ra, sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng diễn ra rất phức tạp, theo những
xu hướng khác nhau, trong đó phát triển là xu hướng phổ biến, đó là xu hướng mà con người quan tâm” [18, tr.107] Chính vì vậy, nhận thức một cách tích cực sự vật, đòi hỏi phải phát hiện được xu hướng phát triển của nó Thiếu quan điểm khoa học về phát triển, người ta rất dễ bi quan, dao động khi mà tiến trình cách mạng nói chung và sự tiến triển của từng lĩnh vực xã hội gặp khó khăn, trắc trở Hơn nữa, phải thấy được tính
Trang 27phức tạp của quá trình phát triển thì mới khắc phục được tình trạng chủ quan, giản đơn
khi đề ra con đường, biện pháp thúc đẩy sự vật, hiện tượng phát triển
Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việc nhận thức thế giới và cải tạo thế giới Xem xét sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển cần phải đặt quá trình đó trong nhiều giai đoạn khác nhau, trong mối quan hệ biện chứng giữa quá khứ, hiện tại và tương lai trên cơ sở khuynh hướng phát triển đi lên Đồng thời, phải phát huy vai trò nhân tố chủ quan của con nguời để thúc đẩy quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng theo đúng qui luật
Trong triết học, các cặp phạm trù đóng vai trò hết sức quan trọng Chúng được xem là các quy luật không cơ bản và cùng với các quy luật cơ bản tạo nên bức tranh tổng quát nhất về các mối liên hệ trong thế giới khách quan Các cặp phạm trù này không chỉ có ý nghĩa bản thể luận mà còn có ý nghĩa phương pháp luận to lớn đối với hoạt động của con người Chính vì vậy triết học Mác coi các cặp phạm trù là một nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật Theo quan niệm của phép biện chứng duy vật, nhận thức bắt đầu từ sự phản ánh những sự vật, hiện tượng cụ thể của thế giới Nhưng trong quá trình so sánh những sự vật, hiện tượng này với những sự vật, hiện tượng khác; phân biệt chỗ giống nhau và khác nhau giữa chúng, nhận thức đi đến sự phân biệt cái riêng, cái chung Cái riêng là phạm trù dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng nhất định Cái chung là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng [18, tr.119] Mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng
là mối quan hệ phổ biến nhất Trong thế giới khách quan, con người tiếp xúc với những sự vật, hiện tượng cụ thể và từ các sự vật cụ thể ấy người ta tìm thấy những cái giống nhau, những cái được lặp lại của các sự vật, hiện tượng khác nhau Khi con người tìm thấy sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật là họ đã thấy được mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung Chủ nghĩa Mác khẳng định cái riêng
và cái chung đều tồn tại khách quan và có mối quan hệ biện chứng với nhau Thứ nhất, cái chung là một bộ phận của cái riêng, nằm trong cái riêng và không bao quát hết cái riêng hay chỉ bao quát gần hết những cái riêng Thứ hai, cái riêng phong phú hơn cái chung và không gia nhập hết vào cái chung vì trong cái riêng, ngoài cái chung còn có những cái đặc thù, cái đơn nhất Thứ ba, cái riêng và cái chung có thể chuyển hóa lẫn
Trang 28động của con người.Việc nhận thức cái chung là nhu cầu thiết yếu của con người Nắm được cái chung con người có thể nắm được bản chất của sự vật, có thể tìm ra quy luật vận động của chúng, từ đó hình thành những phương pháp để nhận thức và cải tạo thế giới bên ngoài Nhưng vì cái chung nằm trong cái riêng nên muốn nhận thức cái chung phải nắm bắt cái riêng, cái cụ thể, phải nghiên cứu, phân tích cái riêng một cách khách quan, tránh quan liêu xa rời thực tế
Nhận thức về sự tác động qua lại, tương ứng giữa các mặt, các yếu tố, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau dẫn đến sự xuất hiện các sự vật, hiện tượng mới, đó là
do mối liên hệ nguyên nhân và kết quả “Nguyên nhân là sự tương tác qua lại giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây nên những biến đổi nhất định Kết quả là những biến đổi xuất hiện do sự tương tác qua lại giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau”
[18, tr.127] Mối quan hệ nhân quả liên quan tới mọi mặt của đời sống con người Mối
quan hệ này đã được nhận thức từ sớm và được đưa vào nhiều học thuyết của thời cổ đại Một trong những mối quan hệ cơ bản của nguyên nhân và kết quả là nguyên nhân bao giờ cũng sinh ra kết quả Để sinh ra kết quả, nguyên nhân phải có trước, kết quả phải có sau Nói nguyên nhân sinh ra kết quả nhưng không phải cứ một nguyên nhân thì có một kết quả Có những nguyên nhân sản sinh ra nhiều kết quả và có kết quả lại
do nhiều nguyên nhân gây ra Mối quan hệ nhân quả có tính khách quan và tính phổ biến, nghĩa là không có sự vật, hiện tượng nào trong thế giới vật chất lại không có nguyên nhân Nhưng không phải con người có thể nhận thức ngay được mọi nguyên nhân, nhiệm vụ của nhận thức khoa học là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, tư duy để giải thích được những hiện tượng đó Muốn tìm nguyên nhân phải tìm trong thế giới hiện thực, trong bản thân các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất chứ không được tưởng tượng ra từ đầu óc của con người, tách rời thế giới hiện thực Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đấy cần tìm trong những sự kiện những mối liên
hệ xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra Những nguyên nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả
Vì vậy trong hoạt động thực tiễn, chúng ta cần phải phân loại các nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên
Trang 29ngoài, nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan Đồng thời phải nắm được chiều hướng tác động của các nguyên nhân, từ đó có biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân cùng chiều hoạt động và hạn chế nguyên nhân có tác động tiêu cực Kết quả có tác động trở lại nguyên nhân Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn, chúng ta cần phải khai thác, tận dụng các kết quả đã đã đạt được để tạo điều kiện thúc đẩy nguyên nhân phát huy tác dụng, nhằm đạt mục đích
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại một cách khách quan, có mối liên hệ hữu cơ với nhau, có vai trò quan trọng trong sự phát triển của tự nhiên cũng như của xã hội “Tất nhiên do mối liên hệ bản chất, do những nguyên nhân cơ bản bên trong sự vật, hiện tượng quy định và trong những điều kiện nhất định phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác Ngẫu nhiên do mối liên
hệ không bản chất, do những nguyên nhân, hoàn cảnh bên ngoài quy định, có thể xuất
hiện, có thể không xuất hiện, có thể xuất hiện thế này hoặc thế khác” [18, tr.136] Vì
cái tất nhiên là cái trong những điều kiện nhất định dứt khoát phải xảy ra và phải xảy
ra đúng như thế này chứ không thể thế khác, còn cái ngẫu nhiên là cái có thể xảy ra cũng có thể không xảy ra, có thể xảy ra thế này, cũng có thể xảy ra thế khác Cho nên, trong hoạt động thực tiễn, ta cần dựa vào cái tất nhiên chứ không thể dựa vào cái ngẫu nhiên Nhưng không phải vì thế mà có thể bỏ qua cái ngẫu nhiên, vì tuy cái ngẫu nhiên không chi phối sự phát triển của sự vật, nhưng nó có ảnh hưởng đến sự phát triển ấy, đôi khi có thể làm cho tiến trình phát triển bình thường của sự vật đột nhiên biến đổi
Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn cần có các phương án hành động dự phòng cho trường hợp các sự biến ngẫu nhiên xuất hiện Có như vậy mới tránh được bị động trong các hoạt động thực tiễn Vì cái tất nhiên bao giờ cũng biểu lộ ra ngoài thông qua cái ngẫu nhiên, vạch đường đi cho mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên, cho nên muốn nhận thức cái tất nhiên cần bắt đầu từ nghiên cứu rất nhiều cái ngẫu nhiên Cái ngẫu nhiên là hình thức trong đó ẩn nấp cái tất nhiên, cho nên trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn không nên bỏ qua cái ngẫu nhiên, mà bao giờ cũng phải chú ý tìm ra cái tất nhiên ẩn giấu đằng sau những cái ngẫu nhiên đó Cái ngẫu nhiên không chỉ là hình thức biểu hiện của cái tất nhiên, mà còn là cái bổ sung cho tất nhiên, do đó, ta phải nghiên cứu cái ngẫu nhiên để có thể biết cách ngăn ngừa hạn chế
Trang 30nào cũng đồng thời là cái tất nhiên, cho nên vạch ra được cái chung chưa có ý nghĩa là
đã vạch ra được cái tất nhiên Đó mới chỉ là một bước trên con đường vạch ra cái tất nhiên mà thôi Trong những điều kiện nhất định, cái tất nhiên có thể biến thành cái ngẫu nhiên, và ngược lại, cho nên cần chú ý tạo ra những điều kiện cần thiết hoặc để tạo điều kiện, hoặc để ngăn trở sự chuyển hoá đó diễn ra tùy theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn
Nội dung và hình thức có mối quan hệ biện chứng với nhau “Nội dung là tổng hợp tất cả các mặt, những yếu tố tạo nên sự vật, hiện tượng Hình thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền
vững giữa các yếu tố của sự vật, hiện tượng” [18, tr.141] Sự gắn bó này thể hiện trước
hết ở sự thống nhất giữa chúng Bất kỳ sự vật nào cũng có cả nội dung và hình thức Nội dung và hình thức luôn gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình hoạt động và phát triển của sự vật Do vậy, trong nhận thức không được tách rời giữa nội dung và hình thức, cần chống lại mọi khuynh hướng tách rời nội dung với hình thức Ở đây, cần chống lại cả hai thái cực sai lầm: Hoặc là tuyệt đối hoá hình thức, xem thường nội dung sẽ rơi vào chủ nghĩa hình thức Hoặc ngược lại tuyệt đối hoá nội dung, xem thường hình thức Vì cùng một nội dung trong tình hình phát triển khác nhau có thể có nhiều hình thức, và ngược lại, cùng một hình thức có thể thể hiện những nội dung khác nhau nên cần sử dụng một cách sáng tạo mọi loại hình thức có thể có (mới cũng như cũ) để phục vụ có hiệu quả cho việc thực hiện những nhiệm vụ nhất định tuỳ theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn Nội dung quyết định hình thức nên để xét đoán sự vật nào đấy, cần căn cứ trước hết vào nội dung của nó, và nếu muốn làm biến đổi sự vật cần tác động để thay đổi trước hết nội dung của nó Hình thức có tác động ngược trở lại nội dung, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nội dung, cho nên trong hoạt động thực tiễn cần luôn luôn theo dõi mối quan hệ giữa hình thức và nội dung của sự vật, để kịp thời can thiệp vào tiến trình phát triển của nó, tạo ra những hình thức phù hợp nhằm biến đổi nội dung, hay những hình thức không phù hợp để kìm hãm sự phát triển đó tùy theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn
Bản chất và hiện tượng thống nhất với nhau, sự thống nhất này trước hết thể hiện ở chỗ bản chất luôn luôn được bộc lộ ra qua hiện tượng, còn hiện tượng nào cũng
là sự biểu hiện của bản chất ở mức độ nhất định “Bản chất là cái tất nhiên, tương đối
Trang 31ổn định ở bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật, còn hiện tượng là sự biểu hiện của bản chất ra bên ngoài, là cái không ổn định và biến đổi nhanh hơn so với bản chất, nên trong nhận thức, để hiểu đầy đủ và đúng đắn về sự vật,
không nên dừng lại ở hiện tượng mà phải đi sâu tìm hiểu bản chất của nó” [18, tr.146]
Trong hoạt động thực tiễn cần dựa vào bản chất chứ không phải dựa vào hiện tượng Nếu trong hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn nắm được bản chất và dựa vào bản chất của sự vật, thì nhiệm vụ của nhận thức nói chung và của nhận thức khoa học nói riêng là phải vạch ra được cái bản chất đó Bản chất tồn tại khách quan ngay ở trong bản thân sự vật nên chỉ có thể tìm ra bản chất của sự vật ở trong chính sự vật chứ không thể ở ngoài nó, và khi kết luận về bản chất của sự vật cần tránh những nhận định chủ quan, tùy tiện Bản chất không tồn tại dưới dạng thuần tuý mà bao giờ cũng bộc lộ ra ngoài thông qua các hiện tượng tương ứng của mình nên chỉ có thể tìm
ra cái bản chất trên cơ sở nghiên cứu các hiện tượng Hiện tượng bao giờ cũng biểu hiện bản chất dưới dạng đã cải biến, nhiều khi xuyên tạc bản chất, nên trong quá trình nhận thức bản chất của sự vật phải xem xét rất nhiều hiện tượng khác nhau, và từ nhiều góc độ khác nhau Nhưng trong cùng một hoàn cảnh và một phạm vi thời gian nhất định không bao giờ có thể xem xét hết được mọi hiện tượng biểu hiện bản chất của sự vật Do vậy, phải ưu tiên cho việc xem xét trước hết các hiện tượng điển hình trong hoàn cảnh điển hình Dĩ nhiên, kết quả của một sự xem xét như vậy chưa thể phản ánh đầy đủ bản chất của sự vật, mà chỉ mới phản ánh một cấp độ nhất định của
nó Quá trình đi vào nắm bắt các cấp độ tiếp theo, ngày càng sâu sắc hơn trong bản chất của sự vật là một quá trình hết sức khó khăn, lâu dài, công phu, không có điểm dừng
Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, luôn luôn chuyển hoá lẫn nhau, vì hiện thực được chuẩn bị bởi khả năng, còn khả năng hướng tới biến thành hiện thực “Khả năng là cái hiện chưa xảy ra, nhưng sẽ xảy ra khi có các điều kiện thích hợp Hiện thực là cái đang có, đang tồn tại thực sự” [18, tr.146] Vì hiện thực là cái tồn tại thực sự, còn khả năng là cái hiện chưa có nên trong hoạt động thực tiễn, cần dựa vào hiện thực chứ không thể dựa vào khả năng Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là có thể bỏ qua, xem thường khả năng Khả năng
Trang 32khả năng, nhưng ta phải tính đến các khả năng để có thể đề ra chủ trương, kế hoạch hành động cho sát đúng Vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức nói chung, của nhận thức khoa học nói riêng là phải tìm ra, xác định cho được khả năng phát triển của sự vật Các phạm trù của phép biện chứng duy vật có tính biện chứng, nội dung mà phạm trù phản ánh luôn vận động, phát triển; các phạm trù có thể thâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau và là công cụ nhận thức, đánh dấu trình độ nhận thức của con người
Nội dung của phép biện chứng duy vật còn được biểu hiện qua ba quy luật Quá trình lượng đổi dẫn đến chất đổi thực chất là quá trình tích tụ về lượng dẫn đến một thời điểm nào đó sẽ làm cho chất chuyển hóa Đặc điểm của quá trình này là không gây ra những chấn động mạnh, thậm chí còn dễ chịu nhưng kết quả thì nhiều khi to lớn, bất ngờ Tuy nhiên, trong sự biến đổi của thế giới không phải chỉ có lượng đổi dẫn đến chất đổi, mà còn có quá trình ngược lại, thực chất của quá trình ngược lại này là khi chất đổi sẽ làm cho lượng biến đổi với tốc độ nhanh hơn và với quy mô lớn hơn Trong thế giới khách quan, ứng với một chất xác định chỉ có một lượng xác định Trong khuôn khổ chất ấy, lượng có giới hạn tối đa và tối thiểu, nhưng lượng không thể vượt giới hạn đó Quy luật lượng đổi dẫn đến chất đổi chỉ rõ phương thức vận động, biến đổi của thế giới khách quan nên nó cũng có ý nghĩa đối với việc hình thành phương thức hoạt động của con người “Trước hết, trong đời sống cũng như trong công việc, muốn tạo ra sự biến đổi về chất nào đó phải có sự tích lũy về lượng Tùy thuộc vào những hoàn cảnh cụ thể mà sự tích lũy này có thể nhanh chóng, nhưng có những trường hợp phải lâu dài Mọi tư tưởng nôn nóng, vội vàng, đốt cháy giai đoạn đều chỉ có thể đưa tới thất bại Trên thế giới, nhiều cuộc cách mạng nóng vội mà không thành công Tuy nhiên điều đó hoàn toàn khác với tư tưởng bảo thủ, trì trệ Sự phát triển là phải đi đến sự biến đổi về chất, vì vậy phải tạo mọi điều kiện để thực hiện mục tiêu đó sao cho khi lượng đã biến đổi đến điểm giới hạn thì có thể thực hiện được
sự biến đổi về chất một cách kịp thời Chỉ lo biến đổi về lượng mà không chú ý đến những điều kiện cho sự biến đổi về chất là sai lầm và khi lượng đã đến điểm giới hạn
mà vẫn không thực hiện được sự biến đổi về chất thì tất yếu sẽ đưa tới khủng hoảng, thậm chí có thể làm cho những mầm mống, những tiền đề đã hình thành đứt đoạn càng lớn, ảnh hưởng tới tiến trình biến đổi của sự vật” [18, tr.176-177]
Trang 33Trong lịch sử xã hội loài người, do sự thay đổi về chất, chế độ chiếm hữu nô lệ
đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất so với giai đoạn cộng sản nguyên thủy Tuy nhiên, cách thức tổ chức của xã hội ấy làm cho sản xuất chỉ có thể phát triển ở một giới hạn nào đó Khi đã đến giới hạn này, muốn sản xuất phát triển được, xã hội lại phải chuyển sang hình thái mới Chính vì thế mà những cuộc cách mạng trong lịch
sử đã có thể tạo ra sự phát triển “một ngày bằng hai mươi năm” so với giai đoạn lịch
sử trước khi cách mạng nổ ra Sở dĩ phải có sự thay đổi về chất mới tạo ra bước phát triển mới về lượng vì mỗi chất đều được tạo từ một kết cấu xác định của một sự vật, hiện tượng hay một hệ thống sự vật, hiện tượng Các nhân tố và phương thức kết hợp với các nhân tố của sự vật quyết định sự biến đổi của lượng Vì vậy, nếu không thay đổi các nhân tố và cách sắp xếp giữa chúng không thể tạo ra sự tăng đột biến về lượng
Đó chính là ý nghĩa to lớn của những sự thay đổi mang tính cách mạng
Những điều trên cho thấy, phương thức biến đổi và phát triển của mọi sự vật trong thế giới khách quan phải từ sự biến đổi về lượng đi tới sự biến đổi về chất Trong chất mới lượng lại tăng dần từ thấp đến cao, nhưng đến một giới hạn nào đó nó bị dừng lại Muốn lượng tiếp tục biến đổi, chất mới phải ra đời thay thế chất cũ Đó là quy luật vận động và phát triển của thế giới khách quan Quy luật làm cho sự biến đổi
và phát triển vừa liên tục vừa gián đoạn, vừa tiệm tiến, vừa nhảy vọt, chúng tạo ra những chu kì của sự phát triển không ngừng trong thế giới khách quan
Nếu quan hệ lượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại, thông qua sự quan sát trực tiếp con người đã biết được ít nhiều, thì quy luật mâu thuẫn lại được con người nhận thức nhiều hơn và sâu sắc ngay từ thời cổ đại Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là quy luật có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt động của con người Do mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và phát triển nên muốn hiểu
rõ sự vật hoặc cải tạo nó phải nhận thức được mâu thuẫn “Trong xã hội, xác định được mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản sẽ có cơ sở để đề ra đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, xác định rõ mâu thuẫn chủ yếu sẽ có các giải pháp tập trung để giải quyết những vấn đề trọng yếu nhất, tạo ra khả năng phát triển của xã hội trong từng giai đoạn phát triển của nó Đặc biệt khi có những vấn đề bức xúc nảy sinh thì việc phân rõ mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng
Trang 34thích hợp Tuy nhiên, muốn nhận thức mâu thuẫn phải căn cứ vào các mặt đối lập, không dựa trên các mặt đối lập và những mối quan hệ cơ bản của chúng, không thể xác định rõ loại hình mâu thuẫn cũng như trình độ phát triển của mâu thuẫn” [18, tr.185] Việc phân tích và giải quyết mâu thuẫn không phải chỉ đòi hỏi sự nhiệt tình, hăng hái mà phải có sự hiểu biết, có tri thức khoa học, có vốn sống nhất định Thiếu tri thức và vốn sống cần thiết sẽ không nhận thức đúng được bản chất của mâu thuẫn, do
đó cũng không thực sự hiểu biết được thế giới khách quan, không đề ra được những phương thức giải quyết các vấn đề đặt ra một cách có hiệu quả
Quy luật phủ định của phủ định là quy luật của sự phát triển nên muốn phát triển được phải biết phủ định Điều đó đòi hỏi trước hết phải tìm ra những cái đã lỗi thời, những cái còn hạn chế, những thiếu sót, những khuyết điểm để phê phán, loại bỏ Mặt khác, trong quá trình phủ định lại phải luôn chú ý đến sự kế thừa, đặc biệt là kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa của nhân loại
Như vậy, các nguyên lý là những nguyên tắc tổng quát của thế giới khách quan
và nó cũng là nguyên tắc tổng quát nhất của phép biện chứng duy vật Các quy luật, các cặp phạm trù là những mối liện hệ cơ bản trong thế giới ấy Tất cả các nguyên lý, các quy luật, các cặp phạm trù tạo thành một chỉnh thể, một bức tranh tổng quát về thế giới Với tư cách là một lý luận phản ánh chân thực thế giới khách quan, phép biện chứng duy vật có vai trò hết sức to lớn Nó là công cụ để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới Vì vậy khi vận dụng phép biện chứng phải vận dụng tổng thể Mặt khác, vai trò của phép biện chứng duy vật là vai trò phương pháp luận chung nhất Vì vậy, muốn vận dụng được phép biện chứng phải có các kiến thức chuyên ngành Thiếu phép biện chứng, người ta không thể có được cái nhìn tổng quát và do đó sẽ không thể có một phương pháp thật sự khoa học Ngược lại, nếu chỉ có phép biện chứng duy vật thuần túy, con người cũng không thể hoàn thành tốt được công việc cụ thể của mình
Triết học Mác – Lênin nói chung và phép biện chứng nói riêng là một hệ thống
mở Các nhà kinh điển của triết học Mác – Lênin đã phê phán hệ thống triết học đóng kín của Hêghen và cho rằng, trong một thời đại cụ thể nào đó con người chỉ có thể nhận thức được một phần của thế giới khách quan C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đều nhấn mạnh, học thuyết của các ông không phải là cái gì đã xong xuôi hẳn Học
Trang 35thuyết này đòi hỏi trong quá trình vận dụng nó phải căn cứ vào tình hình cụ thể, “phải biết phân tích cụ thể một tình hình cụ thể” [25, tr.25-26]
1.2.2 Nội dung của chủ nghĩa duy vật lịch sử
Xã hội không thể tồn tại được nếu không có quá trình sản xuất và tái sản xuất
xã hội Trong quá trình sản xuất xã hội, con người quan hệ với nhau nhưng chính là để quan hệ với giới tự nhiên, nhằm biến đổi tự nhiên, trên cơ sở đó biến đổi đời sống xã hội và biến đổi chính bản thân mình Để sản xuất ra của cải vật chất, con người phải quan hệ với giới tự nhiên Quan hệ này được biểu hiện thành lực lượng sản xuất Đồng thời con người phải liên hệ với nhau trong quá trình sản xuất, quan hệ này được biểu hiện thành quan hệ sản xuất Đây là quan hệ “kép” khách quan, phổ biến trong lịch sử sản xuất vật chất của loài người Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt thống nhất của một phương thức sản xuất
Mỗi quá trình sản xuất vật chất đều được tiến hành theo những phương thức nhất định trên hai mặt – đó là phương thức kĩ thuật, công nghệ của quá trình sản xuất
và phương thức tổ chức kinh tế của quá trình sản xuất ấy, trong đó, phương thức tổ chức kinh tế phụ thuộc tất yếu vào trình độ phương thức kĩ thuật, công nghệ hiện có của xã hội Như vậy, suy đến cùng thì chính trình độ phát triển của phương thức kĩ thuật, công nghệ nói riêng và trình độ phát triển nói chung của toàn bộ lực lượng sản xuất là nhân tố quyết định trình độ phát triển của nền sản xuất vật chất của xã hội, và
do đó nó cũng chính là nhân tố quyết định trình độ phát triển của toàn bộ đời sống xã hội trên tất cả các mặt khác nhau của nó Tương ứng với quá trình chuyển từ phương thức sản xuất nông nghiệp truyền thống sang phương thức sản xuất công nghiệp là quá trình biến đổi và cách mạng của hàng loạt các quan hệ giữa con người với con người trên các lĩnh vực tổ chức chính trị, pháp luật, văn hóa, đạo đức, tôn giáo… Đúng như Mác nhận định: “Việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp và chính mỗi một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định của một dân tộc hay một thời đại tạo ra một cơ sở, từ đó mà người ta phát triển các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật và thậm chí cả những quan niệm tôn giáo của con người ta” [25, tr.500]
Trang 36Khi sản xuất còn ở trình độ công cụ thủ công thì lực lượng sản xuất mang tính chất cá nhân Nó thể hiện trình độ tư liệu sản xuất là thủ công, tính chất của lao động
là riêng rẽ, cá nhân, tách rời nhau Khi sản xuất bằng máy thì trình độ tư liệu sản xuất
là sản xuất công nghiệp và tính chất của lực lượng sản xuất là xã hội hóa Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là không thể tách rời Một tình trạng nhất định của lực lượng sản xuất nói lên cả tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Trình độ lực lượng sản xuất quy định tính chất cua lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất tác động qua lại theo yêu cầu của sản xuất vật chất, tạo nên sự phù hợp biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất
Dù phù hợp hay không phù hợp với lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất luôn thể hiện tính độc lập tương đối với lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất Quy định mục tiêu xã hội của sản xuất, khuynh hướng phát triển của quan hệ lợi ích, từ đó hình thành hệ thống những yếu tố hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Tác dụng thúc đẩy và kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất chỉ có ý nghĩa tương đối Với sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất không còn phù hợp cuối cùng cũng sẽ bị thay thế bằng một kiểu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất Tuy vậy, khi mâu thuẫn khách quan giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã bộc lộ gay gắt và đòi hỏi phải giải quyết, nhưng con người không phát hiện được, hoặc phát hiện
mà không giải quyết được, hoặc do sai lầm chủ quan trong quá trình giải quyết mâu thuẫn thì tác dụng kìm hãm của quan hệ sản xuất sẽ trở thành nhân tố phá hoại đối với lực lượng sản xuất và cuối cùng quy luật vẫn tự vạch đường đi cho nó
Trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất bao giờ cũng thông qua các quy luật kinh tế - xã hội khác, đặc biệt là quy luật kinh tế cơ bản “Trong chủ nghĩa xã hội, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là khách quan, dó đó yêu cầu phát hiện mâu thuẫn
và giải quyết mâu thuẫn cũng là khách quan Khi lực lượng sản xuất phát triển thay đổi về chất, mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất hiện có, dẫn đến đòi hỏi khách quan là thay đổi quan hệ sản xuất hiện có bằng một quan hệ sản xuât mới Quan hệ sản xuất thay đổi thì toàn bộ các quan hệ xã hội khác cũng thay đổi” [17, tr.47] Như vậy,
Trang 37phương thức sản xuất thay đổi, các quan hệ xã hội về chính trị, tinh thần cũng thay đổi của cả hình thái kinh tế - xã hội
Bằng phương pháp lịch sử - logic, C.Mác đã phân tích thực tiễn những nước tư bản phát triển cao, điển hình và từ đó phân tích thực tiễn toàn nhân loại để rút ra quy luật chung nhất, cơ bản nhất của xã hội loài người C.Mác vạch rõ, lịch sử loài người bắt đầu từ sản xuất ra của cải vật chất, vận động theo những quy luật khách quan của
xã hội Như thế, điểm chọn đầu tiên, cơ bản với tính cách là điểm xuất phát khoa học
để nghiên cứu lịch sử toàn nhân loại là lực lượng sản xuất C.Mác đi từ tồn tại tư duy,
từ kinh tế đến chính trị, từ sản xuất vật chất đến sản xuất tinh thần Đó là phương pháp duy vật khoa học
Quan hệ sản xuất được hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất tạo thành quan hệ vật chất của xã hội Trên cơ sở quan hệ sản xuất hình thành nên các quan hệ về chính trị và tinh thần của xã hội Hai mặt đó của đời sống xã hội được khái quát thành cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội C.Mác viết: “Toàn
bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó” [25, tr.15]
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt thống nhất biện chứng trong một hình thái nhất định Về thực chất đây là sự thống nhất của hai mặt kinh tế và chính trị của một hình thái xã hội Trong sự tác động biện chứng giữa cơ sở hạ tầng thì cơ sở
hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng (kinh tế quyết định chính trị) và đồng thời kiến trúc thượng tầng thường xuyên có sự tác động trở lại cơ sở hạ tầng Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng trước hết thể hiện ở chỗ: Mỗi cơ
sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thượng tầng phù hợp, có tác dụng bảo vệ cơ
sở hạ tầng đó Những biến đổi trong cơ sở hạ tầng tạo ra nhu cầu khách quan phải có
sự biến đổi tương ứng trong kiến trúc thượng tầng Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị về mặt chính trị và đời sống tinh thần của xã hội Các mâu thuẫn trong kinh tế, xét đến cùng, quyết định các mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị tư tưởng, cuộc đấu tranh giai cấp về chính trị tư tưởng là biểu hiện những đối kháng trong đời sống kinh tế Tất cả các yếu tố của kiến trúc
Trang 38thượng tầng nhà nước, pháp quyền, triết học, tôn giáo… đều trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng, do cơ sở hạ tầng quyết định Vai trò quyết định của cơ sở
hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng còn thể hiện ở chỗ: Cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn, kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo C.Mác viết: “Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh
chóng” [25, tr.15] Quá trình đó diễn ra không chỉ trong giai đoạn thay đổi từ hình thái
kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác, mà còn diễn ra ngay trong bản thân mỗi hình thái kinh tế - xã hội
Xã hội tư bản chủ nghĩa phát triển cao tạo tiền đề kinh tế - xã hội để cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa được tự giác hình thành sau cách mạng
xã hội chủ nghĩa thành công Chủ nghĩa duy vật mác xít cho rằng: kiến trúc thượng tầng độc lập tương đối với cơ sở hạ tầng Nó không phải là sản phẩm thụ động mà tác động mạnh mẽ đối với cơ sở hạ tầng theo hai hướng: hợp và không hợp quy luật Cơ
sở hạ tầng và kiến trúc tượng tầng là hai mặt thống nhất biện chứng trong một hình thái nhất định Về thực chất đây là sự thống nhất của hai mặt kinh tế và chính trị của một hình thái xã hội Phép biện chứng giữa kinh tế và chính trị khẳng định kinh tế quyết định chính trị, chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế Vì vậy, khi vận dụng quan điểm biện chứng này phải xuất phát từ kinh tế, từ những quy luật kinh tế khách quan, không lấy ý muốn chủ quan áp đặt, thay thế các quy luật khách quan, đồng thời phải coi trọng vai trò của chính trị trong việc vận dụng các quy luật kinh tế khách quan Tuyệt đối hóa một mặt nào đó đều dẫn đến sai lầm của chủ nghĩa duy vật kinh tế và chủ nghĩa duy tâm chủ quan duy ý chí
Nghiên cứu một xã hội là để vạch ra quy luật vận động nội tại của nó Xã hội là một chỉnh thể cấu thành từ nhiều yếu tố, mối quan hệ tạo nên một hệ thống, cấu trúc Việc tiếp cận lịch sử của C.Mác đi từ lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất đến kiến trúc thượng tầng và quy luật vận động giữa chúng bằng lý luận hình thái kinh tế - xã hội có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, là một học thuyết về xã hội có giá trị khoa học và thời đại không thể vượt qua Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống, sự vận động và phát triển của xã hội không tuân theo ý chí chủ quan của con người mà tuân theo các quy luật khách quan, đó là quy luật của chính bản thân cấu trúc hình thái kinh
tế - xã hội, là hệ thống các quy luật xã hội thuộc các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn
Trang 39hóa, khoa học… mà trước hết và cơ bản nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng Nguồn gốc sâu xa của sự vận động phát triển của xã hội là ở sự phát triển của lực lượng sản xuất Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất đã quyết định làm thay đổi quan hệ sản xuất Đến lượt mình, quan hệ sản xuất thay đổi sẽ làm cho kiến trúc thượng tầng thay đổi theo, và do đó mà hình thái kinh tế - xã hội cũ được thay thế bằng hình thái kinh tế - xã hội mới cao hơn, tiến bộ hơn Quá trình đó diễn ra một cách khách quan chứ không phải theo ý muốn chủ quan V.I.Lênin viết: “Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan
hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ
sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên” [47, tr.163]
Hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở lý luận về thế giới quan duy vật biện chứng
và phương pháp luận khoa học nghiên cứu lịch sử phát triển của xã hội là một hệ thống toàn vẹn của các phương diện đời sống xã hội tồn tại trong một cấu trúc thống nhất chặt chẽ, sự tác động qua lại lẫn nhau của các quan hệ xã hội, qua đó khẳng định sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định các phương diện sinh hoạt vật chất và tinh thần nói chung Chính vì vậy, không thể xuất phát từ ý thức, tư tưởng, ý chí của con người để giải thích đời sống xã hội, ngược lại, phải tìm cơ sở sâu xa của các hiện tượng xã hội từ sản xuất vật chất, từ phương thức sản xuất Sự thắng lợi của xã hội này đối với xã hội khác, suy đến cùng là xây dựng một phương thức sản xuất tiến bộ hơn, năng suất lao động xã hội cao hơn Lịch sử phát triển của của các hình thái kinh tế - xã hội là một tiến trình lịch sử tự nhiên Quá trình phát triển lịch sử tự nhiên của xã hội có nguồn gốc sâu xa từ sự phát triển của lực lượng sản xuất Đó là quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Do đó xét đến cùng lực lượng sản xuất quyết định quá trình vận động
và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội như quá trình lịch sử tự nhiên Cố nhiên, sự tác động đến quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội như một quá trình lịch sử tự nhiên còn thể hiện sự tác động trực tiếp, quan trọng của qui luật về mối quan
hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Tuy nhiên, sự vận dụng các
Trang 40dân tộc tạo nên tính đặc thù trong sự vận động phát triển các các hình thái kinh tế - xã hội nhất định
1.3 Vai trò cơ bản của triết học Mác – Lênin
1.3.1 Vai trò thế giới quan
Cũng như các ngành khoa học khác, triết học Mác – Lênin thực hiện vai trò nhận thức, giải thích, dự báo, giáo dục v.v Trong đó, vai trò thế giới quan là vai trò quan trọng nhất
Từ điển Triết học giải thích: “Thế giới quan là toàn bộ những nguyên tắc, quan
điểm và niềm tin quy định hướng hoạt động và quan hệ của từng người, của một tập đoàn xã hội, của một giai cấp hay của một xã hội nói chung đối với thực tại” [24,
tr.906] Như vậy, hiểu theo nghĩa khái quát nhất, thế giới quan được hình thành trên cơ
sở gồm những yếu tố thuộc về tất cả hình thái ý thức xã hội Trong thế giới quan thì các quan điểm về triết học, khoa học, chính trị, đạo đức, thẫm mỹ và đôi khi quan điểm tôn giáo đóng một vai trò to lớn Theo cách hiểu này, chúng ta có thể thấy rằng, xét về mặt nội dung, thế giới quan thường đề cập đến những vấn đề cụ thể, và có cấu trúc phức tạp bao gồm tri thức, tư tưởng, lý tưởng, niềm tin… thể hiện trong các lĩnh vực: chính trị, đạo đức, triết học, khoa học và tôn giáo Tuy nhiên khi thực hiện chức năng của mình, ở tất cả các thành phần của thế giới quan đều có xu hướng giản lược hóa, lý tưởng hóa những dạng thức phong phú của văn hóa lịch sử trong đời sống xã hội hiện thực thành những khuôn mẫu cơ bản để giải thích và định hướng hoạt động cho con người Nói cách khác, quan điểm, quan niệm sống, lý tưởng cao đẹp hay ý chí của con người, niềm tin, tín ngưỡng… được con người tự định ra cho mình một cách
lý tưởng hóa, thành những khuôn mẫu điều chỉnh hành vi của con người Đây cũng là đặc điểm để nhận thức thế giới quan, khác với những kiến giải, lý tưởng thông thường hằng ngày chưa đạt đến trình độ khái quát hóa
Thế giới quan chính là biểu hiện của cách nhìn bao quát (bức tranh) về thế giới, bao gồm cả thế giới bên ngoài, con người và các mối quan hệ của người – thế giới (tức
là mối quan hệ của người đối với thế giới Nó quy định thái độ của con người đối với thế giới và là kim chỉ nan cho hành động của con người Thế giới quan ra đời từ cuộc sống, là kết quả trực tiếp của quá trình con người nhận thức thế giới, phản ánh thế giới,