1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tín ngưỡng thờ thiên hậu thánh mẫu của cộng đồng người việt gốc hoa ở hội an, quảng nam

91 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ngưỡng tâm linh, đặc biệt là tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu là một trong những nét văn hóa tinh thần tiêu biểu và phổ biến của cộng đồng cư dân người Việt gốc Hoa Trong bối cảnh toàn

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

LỜI CẢM ƠN 5

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục đích nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

4.1 Đối tượng nghiên cứu 10

4.2 Phạm vi nghiên cứu 10

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 10

5.1 Nguồn tư liệu 10

5.2 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Đóng góp của đề tài 11

7 Cấu trúc của đề tài 12

PHẦN NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT GỐC HOA Ở HỘI AN VÀ KHÁI QUÁT VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ THIÊN HẬU 13

THÁNH MẪU Ở VIỆT NAM 13

1.1 Khái quát chung về cộng đồng người Việt gốc Hoa ở Hội An 13

1.1.1 Quá trình nhập cư và phát triển 13

1.1.2 Đặc điểm dân cư 16

1.1.3 Đặc điểm kinh tế 18

1.1.3.1 Về ngoại thương 19

1.1.3.2 Về dịch vụ 22

1.1.3.3 Về nghề làm thuốc và chữa bệnh 23

1.1.3.4 Về thủ công nghiệp và một số ngành nghề khác 24

Trang 3

1.1.4 Tổ chức đời sống xã hội 26

1.1.5 Đặc điểm văn hóa 30

1.1.5.1 Văn hóa vật chất 30

1.1.5.2 Văn hóa tinh thần 32

1.2 Khái quát về tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở Việt Nam 34

1.2.1 Khái niệm 34

1.2.1.1 Khái niệm về tín ngưỡng 34

1.2.2 Đôi nét về tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở Việt Nam 36

1.2.2.1 Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở miền Bắc 37

1.2.2.2 Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở miền Trung 38

1.2.2.3 Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở miền Nam 39

Tiểu kết chương 1 41

CHƯƠNG 2: BIỂU HIỆN VÀ GIÁ TRỊ CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ THIÊN HẬU THÁNH MẪU CỦA NGƯỜI VIỆT GỐC HOA 42

Ở HỘI AN, QUẢNG NAM 42

2.1 Sự du nhập và phát triển của tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở Hội An, Quảng Nam 42

2.2 Những biểu hiện của tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở Hội An 43

2.2.1 Đối tượng thờ tự 43

2.2.2 Cơ sở thờ tự 45

2.2.2.1 Phạm vi cộng đồng 45

2.2.2.2 Phạm vi gia đình 57

2.2.3 Nghi thức thờ tự 57

2.3 Giá trị của tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở Hội An 60

2.3.1 Giá trị tâm linh 60

2.3.2 Giá trị văn hóa nghệ thuật 61

2.3.3 Giá trị lịch sử 62

2.2.4 Giá trị xã hội 62

Tiểu kết chương 2 63

Trang 4

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY 65

GIÁ TRỊ CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ THIÊN HẬU THÁNH MẪU 65

CỦA NGƯỜI VIỆT GỐC HOA Ở HỘI AN, QUẢNG NAM HIỆN NAY 65

3.1 Những biến đổi của tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở Hội An hiện nay 65

3.2 Quan điểm của người Việt gốc Hoa ở Hội An, Quảng Nam về việc duy trì tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu 66

3.3 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở Hội An 68

3.3.1 Bảo tồn, tôn tạo các cơ sở thờ tự 69

3.3.2 Tuyên truyền, phổ biến những giá trị tốt đẹp của tín ngưỡngThiên Hậu Thánh Mẫu 70

3.3.3 Gắn kết tín ngưỡng Thiên Hậu Thánh Mẫu với phát triển du lịch 71

Tiểu kết chương 3 71

KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 80

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu là vấn đề không mấy xa lạ Tuy nhiên, với niềm đam mê nghiên cứu về sự du nhập và phát triển của cộng đồng người Việt gốc Hoa ở Hội An Đồng thời, muốn tìm hiểu giá trị văn hóa trong đó có giá trị văn hóa tâm linh mà họ mang đến mảnh đất Hội An Do đó, tôi chọn đề tài khóa luận tốt

nghiệp là “Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu của cộng đồng người Việt gốc

Hoa ở Hội An, Quảng Nam.” Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã gặp rất nhiều

khó khăn trong việc tìm kiếm tư liệu cũng như điền dã và ngay cả trong việc viết bài Đôi lúc, chúng tôi cảm thấy chán nản và bế tắc Nhưng trong quá trình thực hiện bài khóa luận tốt nghiệp tôi đã đón nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, hỗ trợ, động viên, khuyến khích

Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến TS Lê Thu Hiền - giảng viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng Cô đã tận tâm chỉ bảo, góp ý và cung cấp nhiều tài liệu khoa học quý báu để chúng tôi có thể hoàn thành tốt bài nghiên cứu Cô thật sự rất nhiệt tình trong việc chỉ dẫn chúng tôi và cô cũng chính là người nhen nhóm, đốt lên ngọn lửa đam mê nghiên cứu cho chúng tôi Bằng sự nhiệt tình và tâm huyết của cô, chúng tôi đã có thể hoàn thành bài nghiên cứu một cách tốt nhất

Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã tạo điều kiện cho chúng tôi đi điền dã và đã trực tiếp góp ý cho tôi để giúp chúng tôi có một khóa luận hoàn chỉnh

Vì là một đề tài mới mà chưa ai nghiên cứu một cách rõ ràng nên còn nhiều thiếu sót, hạn chế Kính mong quý thầy cô tiếp tục chỉ dẫn để bài khóa luận tốt nghiệp đạt kết quả tốt hơn Xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 26 tháng 4 năm 2019

Sinh viên thực hiện

Võ Mỹ Ngọc

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một quốc gia có tiến trình lịch sử xuyên suốt hơn hàng nghìn năm lịch sử Là dân tộc có 54 người anh em cùng chung sống trên dải đất ngọc hình chữ S, hình thành nên một nền văn hóa vô cùng đa dạng và nhiều màu sắc Nền văn hóa ấy đã song hành với quá trình phát triển lâu dài của lịch sử dân tộc cùng với bao biến cố thăng trầm ở từng giai đoạn mà có sự tích hợp, giao thoa, tiếp biến với văn hóa Đông Tây Dẫu vậy, nền văn hóa Việt Nam vẫn luôn giữ được nét riêng, tiếp thu một cách có chọn lọc chứ không rập khuôn Chính vì thế, văn hóa Việt Nam luôn tỏa sáng trên trường quốc tế với những giá trị, những tinh hoa thuần túy mang đậm một nét rất Việt Nam, một nền văn hóa đa dạng trong thống nhất

“Văn hóa không phải là cái mà chúng ta đã học được, ấy là cái gì còn lại sau khi chúng ta đã quên tất cả những điều đã học: cái còn lại cho ta đó là tư tưởng, là đạo nghĩa, là thị hiếu và quan niệm, nó làm tăng gia và cao nhã cái ý thức của chúng ta về cuộc đời” Nền văn hóa Việt Nam chính là gốc rễ, là cái hồn, cái sức sống mãnh liệt

hệt như tinh thần của những người con sống trên mảnh đất có lịch sử dựng và giữ nước hàng nghìn năm này Trong nền văn hóa đa sắc ấy, thì phong tục, tín ngưỡng là nét văn hóa rất đặc trưng Nhắc đến tín ngưỡng là nói đến quá trình thiêng hóa một nhân vật, một lực lượng siêu nhiên nào đó Đặc biệt, phong tục, tín ngưỡng chứa đựng những triết lí sâu xa về tự nhiên, xã hội và con người, là nơi gửi gắm niềm tin, sợi dây kết nối giữa con người với con người, có tác dụng liên kết cộng đồng, tạo nên sức mạnh vô cùng to lớn trong cộng đồng cư dân Việt Nam nói chung

Hội An là một trong những đô thị cổ xưa của Việt Nam, có bề dày lịch sử lâu đời Nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, đây là vùng đất có nguồn dân cư đông đúc, đa dạng các tộc người Trong đó, phải nhắc đến cộng đồng người Việt gốc Hoa, là một cộng đồng cư dân góp phần làm nên một Hội An, một Việt Nam đầy màu sắc văn hóa như ngày nay

Đến Hội An từ đầu thế kỉ XVII, người Hoa đã mang theo những giá trị văn hóa đặc trưng nhất của dân tộc mình Với truyền thống văn hóa sẵn có cùng với sự tiếp thu một số sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng qua giao thương buôn bán và sự hòa huyết giữa hai tộc người, cộng đồng người Hoa đã từng bước xây dựng cho mình giá trị văn hóa riêng trên cả lĩnh vực vật chất cũng như tinh thần Trong đó, những tín

Trang 7

ngưỡng tâm linh, đặc biệt là tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu là một trong những nét văn hóa tinh thần tiêu biểu và phổ biến của cộng đồng cư dân người Việt gốc Hoa

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà

nước Việt Nam“Tiếp tục xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc

dân tộc, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại” [60], việc nghiên cứu về tín ngưỡng Thiên Hậu Thánh

Mẫu sẽ góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Bên cạnh đó, việc tìm hiểu về tín ngưỡng này, có thể góp phần cho cộng đồng người này cũng như các cấp chính quyền địa phương nhìn nhận đúng vai trò, chức năng và giá trị

mà tín ngưỡng này đem lại, từ đó, khơi dậy ý thức, trách nhiệm bảo tồn phát huy tín ngưỡng trong bối cảnh đô thị hóa của xã hội hiện nay Do đó, nghiên cứu về tín ngưỡng Thiên Hậu Thánh Mẫu của cộng đồng người Việt gốc Hoa ở Hội An, Quảng Nam có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc

Xuất phát từ những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Tín ngưỡng thờ Thiên

Hậu Thánh Mẫu của cộng đồng người Việt gốc Hoa ở Hội An, Quảng Nam” làm đề

tài khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực với nội dung nghiên cứu đa dạng Liên quan đến đề tài này có một số sách, bài nghiên cứu, bài báo của nhiều tác giả

+ Nhóm đề tài về tín ngưỡng Thiên Hậu Thánh Mẫu ở Việt Nam

Cuốn Tín ngưỡng của các dân tộc Việt Nam của GS.TS Ngô Đức Thịnh có giới

thiệu về Thiên Hậu Thánh Mẫu và khái quát về tín ngưỡng Thiên Hậu

Trang 8

Hay tạp chí Thiết chế văn hóa tâm linh qua tục thờ Thiên Hậu của người Hoa ở

Tây Nam Bộ: Truyền thống và biến đổi của tác giả Trần Hồng Liên, trên Tạp chí

Nghiên cứu tôn giáo, số 2, bài viết đề cập đến văn hóa tổ chức trong tín ngưỡng Thiên Hậu, từ cách thức tổ chức xã hội, cơ sở thờ tự, thờ cúng, đến những hoạt động văn hóa tại địa phương Đồng thời có so sánh tính truyền thống và những biến đổi trong xu thế Tây Nam Bộ ngày càng được đô thị hóa

Tục thờ Thiên Hậu ở làng Minh Hương và quá trình tiếp biến văn hóa của tác giả

Phan Thị Hoa Lý, trên Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 7 & 8, bài viết đề cập đến quá trình tiếp xúc văn hóa và hòa huyết nhiều đời đã khiến cho văn hóa của làng Minh Hương tại Huế biến đổi mạnh mẽ Tục thờ Thiên Hậu, một trong những hình thức tôn giáo dân gian nổi bật của người Hoa đã tiếp thu văn hóa Việt trên mọi phương diện và hình thành nhiều mô thức văn hóa mới

Tuy nhiên, có thể thấy, các nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu trên chỉ dừng lại ở phạm vi một vùng, miền nhất định

+ Nhóm đề tài về các tín ngưỡng ở Quảng Nam

Trong tác phẩm Tập tục lễ hội đất Quảng (tập 3) của Hội Văn nghệ dân gian

thành phố Đà Nẵng đã trình bày một cách có hệ thống các tập tục truyền thống của cư dân vùng đất Đà Nẵng: Tết cổ truyền, tục thờ cúng tổ tiên, tục cưới hỏi, thôi nôi… Bên cạnh đó tác phẩm cũng đã trình bày một số lễ hội khác ở Hội An như: Lễ tế cá ông, Lễ vía Quan Công, tục thờ Thần Tài, đặc biệt trong đó có Lễ vía Thiên Hậu… Tuy nhiên tác phẩm chưa nhắc nhiều đến các vị thần được thờ cúng trong gia đình người Việt gốc Hoa ở Hội An, chưa đi sâu vào tìm hiểu các biểu hiện của tín ngưỡng này cũng như cơ

sở thờ tự hay nghi thức thờ cúng

Tín ngưỡng Thiên Hậu ở Đà Nẵng của Nguyễn Xuân Hương trên Tạp chí Khoa

học Công nghệ Đại học Duy Tân Bài viết chỉ giới thiệu một cách khái quát về Thiên Hậu Thánh Mẫu và Lễ vía Thiên Hậu, chưa làm sáng tỏ được cơ sở thờ tự hay nghi thức thờ cúng, đồng thời cũng chưa đề cập đến những biến đổi của tín ngưỡng Thiên Hậu Thánh Mẫu

+ Nhóm đề tài về tín ngưỡng Thiên Hậu Thánh Mẫu ở Hội An

Cuốn Lễ, lệ - lễ hội Hội An của Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản văn hóa Hội

An phát hành (2008) đã nghiên cứu về vùng đất, con người, tín ngưỡng dân gian và lễ

Trang 9

hội cổ truyền ở Hội An, đồng thời tác phẩm cũng trình bày các đặc điểm liên quan đến đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng người Việt gốc Hoa ở nơi đây Trong cuốn sách này có giới thiệu những Lễ Tiết/tết - Lễ tục chính đang tồn tại trong cuộc sống hằng ngày của cư dân địa phương, trong đó có khái quát về Thiên Hậu Thánh Mẫu - vị

nữ hải thần có nguồn gốc từ Trung Hoa, cũng như giới thiệu sơ lược về Lễ vía Thiên Hậu tại Hội An

Cuốn Người Hoa, người Minh Hương với văn hóa Hội An của tác giả Nguyễn

Ngọc Thơ cũng là một trong những công trình có đề cập đến tín ngưỡng Thiên Hậu Thánh Mẫu Tuy nhiên, bên cạnh các nội dung xoay quanh về người Hoa và người Minh Hương như lịch sử du nhập và hình thành cộng đồng người, hay các thiết chế tâm linh, cuốn sách này chỉ đề cập một cách khái quát về tín ngưỡng Thiên Hậu, chứ chưa khai thác, nghiên cứu sâu

Qua đó, có thể thấy, mặc dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về phong tục, tín ngưỡng đời sống văn hóa của người Việt gốc Hoa ở Hội An, nhưng vẫn chưa có một công trình nào đi sâu vào việc nghiên cứu tìm hiểu Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu của người Việt gốc Hoa ở Hội An một cách đầy đủ, toàn diện và hệ thống Những tài liệu trên tuy chưa đề cập cụ thể và trực tiếp đến tín ngưỡng thờ Thiên Hậu của người Việt gốc Hoa ở Hội An nhưng đó là những tư liệu quý để tham khảo, định hướng cho tôi thực hiện đề tài này

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu của cộng đồng người Việt gốc Hoa ở Hội An, Quảng Nam, từ các khái niệm, đặc điểm cũng như giá trị của loại hình tín ngưỡng này Qua đó, nhằm xây dựng một bức tranh tổng quát nhất về tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu của người Việt gốc Hoa ở Hội An, Quảng Nam

Đồng thời, thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu để thấy được thực trạng về công tác bảo tồn và khai thác các giá trị của tín ngưỡng thờ cúng này trong những năm gần đây, từ đó đề xuất những giải pháp bảo tồn cụ thể, hợp lí và hiệu quả

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng mà đề tài hướng đến là tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu của cộng đồng người Việt gốc Hoa tại vùng đất Hội An, Quảng Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về mặt không gian: Tập trung nghiên cứu sâu về tín ngưỡng thờ Thiên Hậu

Thánh Mẫu trong phạm vi phường Minh An, thành phố Hội An, Quảng Nam

Về mặt thời gian: Trong đề tài này tập trung nghiên cứu tín ngưỡng thờ Thiên

Hậu Thánh Mẫu của cộng đồng người Việt gốc Hoa từ khi người Hoa di cư vào vùng đất này mang theo tín ngưỡng của họ đến nay

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi khai thác tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau

Tư liệu thành văn: Đây là nguồn tư liệu quan trọng, cung cấp hệ thống kiến thức

cơ bản làm cơ sở nền tảng lý thuyết cho đề tài

+ Các sách chuyên ngành như: Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An; Tín ngưỡng

của các dân tộc Việt Nam của Ngô Đức Thịnh; Người Hoa, người Minh Hương với văn hóa Hội An của Nguyễn Ngọc Thơ; Lễ, lệ - lễ hội Hội An của Trung tâm Bảo tồn

Di sản văn hóa Hội An…

+ Các bài viết trên sách, báo, tạp chí như: Tục thờ Thiên Hậu ở làng Minh Hương

và quá trình tiếp biến văn hóa của tác giả Phan Thị Hoa Lý, trên Tạp chí Nghiên cứu

tôn giáo, số 7 & 8 (157); Thiết chế văn hóa tâm linh qua tục thờ Thiên Hậu của người

Hoa ở Tây Nam Bộ: Truyền thống và biến đổi của tác giả Trần Hồng Liên, trên Tạp

chí Nghiên cứu tôn giáo, số 2 (140),…

+ Ngoài ra còn các khóa luận tốt nghiệp, các công trình nghiên cứu khoa học của các khóa trước

+ Cuối cùng là các bài viết trên các website

Tư liệu thực địa: Chủ yếu là ý kiến của người dân địa phương, các vị bô lão có

vai trò, kinh nghiệm trong việc tổ chức thực hành tín ngưỡng và chính quyền địa

Trang 11

phương, các văn bản chép tay (sự tích, thần tích, văn tế…) Đây là nguồn tài liệu quan trọng góp phần không nhỏ vào sự thành công của đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, đó là:

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng nhằm phân

tích, tổng hợp các tư liệu, thông tin liên quan đến đề tài giúp khái quát hóa, mô hình hóa các vấn đề nghiên cứu, đạt được mục tiêu đề ra

Phương pháp thống kê: Các số liệu, tư liệu sưu tầm ở nhiều nguồn khác nhau và

thời gian dài ngắn cũng không giống nhau vì thế các tài liệu đó cần được thống kê lại

và xử lý có hệ thống, phục vụ cho quá trình nghiên cứu đạt hiệu quả cao

Phương pháp khảo sát thực địa: Sử dụng phương pháp này để lấy được các số

liệu, thông tin phục vụ cho việc trình bày luận cứ, đồng thời kiểm nghiệm độ chính xác

để kết quả nghiên cứu có tính thuyết phục Phương pháp này đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến độ chính xác của đề tài

Phương pháp phỏng vấn: Đưa ra những câu hỏi đối thoại liên quan đến tín

ngưỡng với cư dân tại địa phương, người sinh sống và làm việc trong Hội quán, chính quyền địa phương, phòng Văn hóa du lịch, Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản văn hóa Hội An… để thu thập thêm thông tin

Phương pháp so sánh, đối chiếu: Để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu, tôi sử dụng

phương pháp này để so sánh, đối chiếu các điểm tương đồng và dị biệt trong tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu của công đồng người Việt gốc Hoa ở các vùng miền

6 Đóng góp của đề tài

* Về mặt khoa học:

Đây là công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu của cộng đồng người Việt gốc Hoa tại vùng đất Hội An, nên đóng góp lớn nhất của đề tài là đã khảo cứu một cách khái quát hơn về tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu của cư dân người Việt gốc Hoa tại đây, góp phần làm phong phú thêm về giá trị văn hóa tín ngưỡng tại địa phương

Trang 12

Đề tài đã hệ thống hóa, đi sâu tìm hiểu những đặc điểm và giá trị của tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu Đặc biệt, góp phần làm sáng tỏ sự dung hợp của tín ngưỡng thờ Mẫu của Trung Hoa và thờ Mẫu của Việt Nam, trên chính vùng đất mang đậm sự giao thoa, tiếp biến của văn hóa Trung Hoa

* Về mặt thực tiễn:

Với kết quả nghiên cứu, đề tài sẽ giúp cho người dân hiểu rõ về giá trị cũng như

ý nghĩa của tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu của cộng đồng người Việt gốc Hoa tại vùng đất Hội An nói riêng và Việt Nam nói chung Để từ đó, có ý thức gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa ấy

Đồng thời, đề tài góp thêm cơ sở để các cấp quản lý văn hóa và chính quyền địa phương có định hướng giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tâm linh, tín ngưỡng của người dân địa phương

Bên cạnh đó, đề tài còn góp phần làm phong phú, đa dạng các nguồn tư liệu tham khảo cho quá trình học tập cũng như nghiên cứu về lịch sử - văn hóa tại địa phương

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu nội dung chính của khóa luận được chia làm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về cộng đồng người Việt gốc Hoa ở Hội An, Quảng Nam

và khái quát về tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở Việt Nam

Chương 2: Biểu hiện và giá trị của tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu của

người Việt gốc Hoa ở Hội An, Quảng Nam

Chương 3: Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy tín ngưỡng thờ Thiên Hậu

Thánh Mẫu của người Việt gốc Hoa ở Hội An, Quảng Nam

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT GỐC HOA Ở HỘI AN VÀ KHÁI QUÁT VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ THIÊN HẬU

THÁNH MẪU Ở VIỆT NAM 1.1 Khái quát chung về cộng đồng người Việt gốc Hoa ở Hội An

1.1.1 Quá trình nhập cư và phát triển

Hội An nằm ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, con sông lớn nhất của tỉnh Quảng Nam Hạ lưu sông Thu Bồn khi đổ ra biển Đông được chia thành nhiều nhánh Nhánh tiếp xúc với khu phố cổ mang tên sông Hội An, còn dòng chảy giữa hai cồn Cẩm Nam

và Cẩm Kim là dòng chính của sông Thu Bồn Hội An là cửa ngõ phía Đông của tỉnh Quảng Nam và là vùng có vị trí chiến lược quan trọng Nhờ những yếu tố địa lý và khí hậu thuận lợi, Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất và là cửa ngõ yết hầu,

là nơi gặp gỡ, giao lưu của những thuyền buôn trong và ngoài nước; hơn hết Hội An là gạch nối của hai nền văn hóa Đông - Tây

Chính vì thế, ở Hội An ngoài cư dân bản địa đã sinh sống từ lâu đời thì cộng đồng cư dân người Hoa cũng đã đến đây từ rất sớm, cùng định cư, sinh sống và làm ăn cho đến ngày nay Và có thể nói, hệ quả tất yếu của mối quan hệ trung tâm - ngoại vi

là sự hấp thu, tái tạo và lên khuôn trong một diện mạo mới với một cộng đồng khách thể mới Kết quả của sự giao thoa, tiếp biến cộng đồng tộc người Việt và Hoa tại Hội

An đã dần định hình nên cộng đồng người Việt gốc Hoa ở Hội An

Theo nhiều nguồn tư liệu thư tịch cũng như qua những kết quả khảo cổ ở địa phương đã phát hiện khá nhiều các hiện vật Hán như tiền ngũ thù, công cụ lao động bằng sắt, vò Hán,… Điều này cho chúng ta thấy người Hoa có mặt tại Hội An từ rất sớm, cụ thể là từ thời văn hóa Sa Huỳnh (thế kỉ II trước công nguyên), họ đã có sự giao lưu buôn bán với người bản địa

Di dân đến những “miền quê mới” trên thế giới nói chung, đặc biệt ở Đông Nam

Á và ở Việt Nam nói riêng là hiện tượng phổ biến, khá mạnh mẽ của người Trung Hoa Nó có lịch sử lâu dài, thường xuyên và có nhiều nguyên do, hoặc xuất phát từ hoạt động thương mại, hoàn cảnh kinh tế, hoặc gắn với quá trình xâm lược của các hoàng đế Trung Hoa hay mỗi khi đất nước này có biến động chính trị

Trang 14

Về quá trình nhập cư và hình thành khối cộng đồng người Việt gốc Hoa ở Hội

An có thể kể đến những nguyên sâu xa và trực tiếp chủ yếu sau:

Từ cuối triều Nguyên, chính quyền Trung Quốc ra sức tìm cách thiết lập hệ thống kiểm soát vùng Nam Trung Hoa, đó chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc ban hành chính sách cấm vận hàng hải của triều Minh (Trung Quốc) vào năm 1371 Từ đó, không một thương thuyền nào có thể đến Trung Quốc buôn bán nếu không có giấy phép chính thức của triều đình (ngoài những nước đã thần phục nhà Minh) và chỉ có những hạm đội xuất dương buôn bán của Trung Quốc đến các nước mà thôi Việc cấm vận của nhà Minh đối với các nước Đông Nam Á và Nhật Bản đã tạo nên nạn “Hải tặc” (Ngụy Khấu) trên biển Một số Hoa thương cũng không được trở lại Trung Quốc lục địa mà phải cư trú vĩnh viễn ở nước ngoài (vì ra đi bất hợp pháp) Nhưng đến cuối thế kỉ XVI, trước sự ồ ạt xâm chiếm thị trường của các thương nhân, thực dân phương Tây vào khu vực Á Đông và Đông Nam Á, năm 1567, triều Minh đã phải bãi bỏ lệnh cấm vận hàng hải, cho thương nhân xuất dương ra nước ngoài buôn bán (trừ Nhật Bản), làm cho hoạt động thương mại trên biển ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trở nên sôi động

Sự kiện trên dẫn đến hàng loạt thương nhân Trung Hoa đổ xuống khu vực Đông Nam Á để buôn bán với các nước trong khu vực, trong đó Hội An là điểm dừng chân, giao thương khá lý tưởng Bởi Hội An vốn là một mảnh đất “nhân hòa - địa lợi” bậc nhất của xứ Quảng lúc bấy giờ để phát triển kinh tế thương nghiệp - ngoại thương Chứng kiến các cảng khẩu ở Đàng Trong trong những năm 1618 - 1621, Bori đã viết:

“Một chuyện xứng đáng được làm ngạc nhiên là một bờ biển chỉ dài hơn một dặm

người ta đếm được hơn 60 nơi có thể đậu thuyền” Sử biên niên năm 1572 cũng ghi

nhận: “Chúa ở Trấn hơn 10 năm, chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân

đều an cư lập nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp thuyền buôn các nước đến nhiều, Trấn trở nên một nơi đô hội…” [11, tr 335]

Đô thị - thương cảng Hội An có vị trí hết sức thuận lợi, có điểm tiền tiêu (Cù Lao Chàm) để vào cửa Đại - cửa biển lớn nhất của Đàng Trong lúc bấy giờ và lại nằm trên một vùng hạ lưu rộng lớn của hệ thống sông Thu Bồn, điểm hợp lưu của 3 nguồn: Chiên Đàn, Thu Bồn, Vu Gia, nơi hội tụ sản vật của khắp xứ Quảng, thông với cửa Hàn bởi con sông Đế Võng - Lộ Cảnh Giang Đồng thời, Hội An cũng là nơi gặp gỡ, giao lưu của thương nhân các nước vốn đã có từ thời Vương quốc Champa với Chiêm

Trang 15

cảng - Lâm Ấp phố, kinh đô Trà Kiệu và được cư dân Việt kế thừa, khai thác, phát triển

Thời bấy giờ, chế độ gió mùa cũng là yếu tố dẫn đến các thương nhân Trung Hoa phải “lưu đông”, lấy vợ Việt làm cơ sở lưu trú, buôn bán lâu dài Việc giao thương trên biển bằng thuyền buồm nên phải phụ thuộc vào chế độ gió mùa Hàng năm, thuyền buôn từ Trung Quốc đến Hội An thường khởi hành vào mùa xuân, đến mùa hè họ giong buồm lên đường trở về nước Trong mỗi mùa mậu dịch, họ phải lưu trú lại Hội

An từ ba đến bốn tháng, trong khoảng thời gian này họ tiến hành thu gom hàng để chở

về nước Tuy nhiên, do điều kiện thiên nhiên, tốc độ sản xuất, cũng như khai thác, nên

họ thường không mua đủ lượng hàng như dự định, nên phải cử người ở lại đi vào những vùng sâu trong nội địa thu mua hàng chuẩn bị cho mùa mậu dịch năm sau Để tạo điều kiện thuận lợi cho họ, chúa Nguyễn đã cho phép họ được chọn đất, cất nhà, xây dựng đình, chùa, hội quán,…

Mặt khác, do nhu cầu về nhân tài, vật lực để khai phá đất phương Nam, tạo thế

về kinh tế - chính trị - quân sự chống lại chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, các chúa Nguyễn

đã thực hiện chính sách “nhu viễn nhân” (mềm mỏng, khoan hòa đối với những người

từ phương xa đến), cho phép họ được miễn quân dịch và lao dịch nhằm mục đích thu phục, biến người Hoa trở thành một bộ phận dân cư của chúa Nguyễn

Các yếu tố trên đã tạo nên những cư dân đầu tiên của cộng đồng người Hoa ở Hội An ngay từ cuối thế kỉ XVI

Đến đầu thế kỉ XVII, triều đình nhà Minh (Trung Quốc) đã đến giai đoạn suy tàn, nạn quan lại nhũng nhiễu khắp nơi và phong trào nông dân khởi nghĩa liên tiếp xảy ra Các bộ tộc người Mãn ở phương Bắc đã liên kết lại với nhau lật đổ nhà Minh, lập nên nhà Thanh và bắt buộc nhân dân trong toàn quốc phải cạo tóc, thắt bím, ăn mặc như người Mãn Trước tình cảnh này, thương nhân, thợ thủ công và cả nông dân Trung

Quốc đã rời bỏ đất nước tránh sự đàn áp của nhà Thanh, ồ ạt đi tìm con đường “tha

phương cầu thực” Chủ yếu họ di cư xuống phương Nam, trong đó có Hội An - nơi

vốn đã có người Hoa cư trú Rồi với sự thất bại của triều đình nhà Minh trước sự xâm

chiếm của người Mãn Thanh (1645), “Người nhà Minh” bất phục nhà Thanh, đã kéo

cả bộ thuộc ra đi tạo nên một làn sóng di dân khác, bao gồm các “thần dân” nhà Minh (di thần) và quan lại triều đình nhà Minh (cựu thần) xuống phương Nam - Hội An cũng là điểm dừng chân quan trọng của đoàn người di cư tránh nạn này Với sự tiếp

Trang 16

tục gia nhập mạnh mẽ của nhóm di dân mới, xuất phát từ nguyện vọng của một bộ phận di dân người Hoa do nhiều hoàn cảnh khác nhau đã quyết định lưu trú vĩnh viễn

ở Hội An - Đàng Trong Đồng thời, với sự ưu đãi mọi mặt của chúa Nguyễn, họ đã định cư và hòa nhập vào đời sống của những người Hoa đến trước, hình thành nên những tổ chức làng xã của cộng đồng người Hoa ở Hội An

Sau những làn sóng di cư chính ở trên, còn có các đợt di cư khác của người Trung Hoa đến Hội An trong các thế kỉ tiếp theo như: năm 1715, đợt di cư ào ạt của người Minh dưới sự chỉ huy của Mạc Cửu; năm 1840, sau thất bại bởi chiến tranh nha phiến của nhà Thanh; năm 1851, sau phong trào Thái Bình Thiên Quốc thất bại, hay năm 1911 sau cuộc Cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc diễn ra,… Nhìn chung, cho đến thế kỉ XIX, tình hình di dân của người Hoa đến với vùng đất Hội An vẫn tiếp tục được diễn ra Đến năm 1949, khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thành lập, người nhập

cư Trung Hoa đến với Hội An gần như bị đình chỉ

Như vậy, cũng như người Hoa ở các nước Đông Nam Á khác, người Hoa đến với vùng đất Hội An đã trải qua một quá trình sinh sống và buôn bán lâu dài, họ đã lập nên những làng, những phố của mình, hình thành nên những cộng đồng người Hoa ổn định và phát triển, trở thành một bộ phận cư dân của cộng đồng dân tộc Việt

1.1.2 Đặc điểm dân cư

Về thành phần dân cư, cộng đồng người Hoa ở Hội An là một cộng đồng gồm nhiều tộc họ, những tộc họ này có quê gốc ở nhiều tỉnh, nhiều địa phương khác nhau của vùng duyên hải Hoa Nam - Trung Quốc

Vào nửa cuối thế kỉ XVII, ở Trung Quốc, nhà Minh bị diệt, nhà Thanh lên cầm quyền Tình hình Trung Quốc biến động, các di thần - nạn nhân nhà Minh chạy sang đất Việt, trong đó có 10 vị đại lão là Ngụy, Trang, Ngô, Thiệu, Hứa và Ngũ đều là cựu thần của nhà Minh giấu quan tước, họ tên chạy sang nước Nam lập thành làng Minh Hương - có nghĩa là người duy trì hương hỏa nhà Minh Bên cạnh những người có quan hệ triều chính với nhà Minh, còn có bộ phận lớn người Hoa khác, mà đa số là thương nhân giàu có thuộc các tỉnh Triều Châu, Phúc Kiến, Gia Ứng, Hải Nam, Quảng Đông và hạng người dân nghèo khó đi tìm nơi lập nghiệp…

Có thể thấy, xuất phát điểm của cộng đồng cư dân người Việt gốc Hoa khi đến định cư ở Hội An bao gồm nhiều nghề nghiệp, giai tầng khác nhau trong xã hội Điều đáng chú ý là trong thành phần cư dân người Việt gốc Hoa khi đến với vùng đất Hội

Trang 17

An, họ không đem theo vợ con, mà sau một thời gian cư trú tại đây, với những chính sách thương mại rộng mở, đặc biệt là vùng đất lành chim đậu, sản vật lại dồi dào nên nhiều người đã quyết định lấy vợ là người bản địa để giúp việc trông coi buôn bán, tài sản, nuôi dạy con cái, mua nhà cửa và mở hiệu buôn tại Hội An

Dần dần về sau, cộng đồng người Việt gốc Hoa giữ vai trò quan trọng trong diễn trình phát triển của vùng đất Hội An Thực trạng này được Thomas Bowyear - người của Công ty Đông Ấn Anh đến đàm phán với chúa Nguyễn về việc xây dựng một khu

cư trú tại Hội An đã viết: “Khu phố Faifo này đã có một con đường nằm sát với sông

Hai bên đường có khoảng 100 ngôi nhà xây dựng san sát nhau Ngoại trừ khoảng bốn năm ngôi nhà là của người Nhật còn lại toàn bộ là của người Hoa Trước kia, người Nhật đã từng là cư dân chủ yếu của khu phố này và là chủ nhân phần lớn của các hoạt động thông thương ở bến cảng Hội An Bây giờ, vai trò thương nghiệp chính chuyển sang cho người Hoa…” [31, tr 35]

Hòa Thượng Thạch Liêm Thích Đại Sán, người Trung Hoa khi đến Hội An năm

đó cũng ghi trong “Hải ngoại ký sự”: “Hội An là một mã đầu lớn, nơi tập trung khách

hàng các nước Thẳng bờ sông là hai con đường dài ba bốn dặm, gọi là Đại Đường Nhai, hai bên là phố khít rịt Chủ phố là người Phước Kiến ăn mặc theo kiểu tiền triều” [31, tr 32]

Đặc biệt, người Hoa nhập cư ở Hội An đã dần dần xây dựng nên hệ thống làng

xã, phố thị của mình Đáng chú ý là Phố Khách, được ra đời khoảng năm 1608 đến

1616, bởi năm 1618, giáo sĩ người Ý là Christoforo Bori đến Hội An đã nhìn thấy cả

Phố Nhật lẫn Phố Khách Trong ký sự của phái đoàn đã viết: “Thành phố Hội An khá

lớn, chúng ta có thể nói có hai thành phố, một của người Trung Hoa, một của người Nhật Bản, hai thành phố tách riêng, người Trung Hoa sống theo luật lệ riêng của người Trung Hoa, người Nhật Bản sống theo luật lệ riêng của người Nhật Bản” [31,

tr.33] Dân cư ở đây phần lớn là người Phước Kiến, mọi người ăn vận theo trang phục của nhà Minh

Nhìn chung, cộng đồng người Hoa tại đây được chia làm hai bộ phận: những

người Hoa giữ quốc tịch Trung Hoa gọi là “Khách trú” còn những người Hoa nhập quốc tịch Việt Nam gọi là “Minh Hương”

Về địa bàn cư trú, người Hoa sống chủ yếu ở những con sông hoặc trên các tụ điểm giao hợp, hợp lưu của sông, cửa biển Điều đặc biệt hơn cả là họ sống không biệt

Trang 18

lập, mà xen kẽ với cư dân bản địa Việt trong các làng xã, thôn xóm và hòa nhập một cách tự nhiên nhất Trong suốt thế kỉ XVIII, địa điểm tập trung cư trú của người Việt gốc Hoa ở Quảng Nam, ngoài phố Hội An còn có các thị tứ lớn như: Phú Chiêm, Kim Bồng, Trà Nhiêu, Bàn Thạch, Quá Gián,…

Địa bàn cư trú của họ mặc dù hẹp nhưng phạm vi mở rộng ở các cửa ngõ của sông Thu Bồn, Vu Gia cho đến cù lao ven biển như Cù Lao Chàm Chính vì đặc điểm này cùng với mối quan hệ hôn nhân Hoa - Việt mà khẳng định thêm sự quan trọng của cộng đồng người Việt gốc Hoa đối với cộng đồng cư dân của vùng đất Hội An nói

riêng và vùng đất Quảng Nam - Đàng Trong nói chung Sách Minh Hương có viết:

“Có thể nhận thấy rằng địa bàn cư trú của người Việt gốc Hoa có đặc điểm là phân

tán thành từng nhóm nhỏ ở từng địa phương, nhiều phủ huyện đan xen, thậm trí là một căn hộ trong làng xã người Việt Địa điểm họ chọn qua các thời kì là các thị tứ, bến trọ ở đồng bằng, trung du và miền núi, những nơi có vị trí thuận lợi về giao thông đường thủy, đường bộ, nơi hợp lưu của các con sông, các dải đất bồi ven sông… Đây

là vị trí thuận lợi cho việc gom góp, vận chuyển hàng hóa, phát triển kinh doanh và các nghề thủ công, y dược…” [3, tr 18-19]

Ngày nay, người Việt gốc Hoa ở Hội An cư trú chủ yếu ở 5 phường: Minh An, Cẩm Phô, Sơn Phong, Cẩm Châu và Tân An

Nhìn chung, có thể thấy, cộng đồng người Việt gốc Hoa là một bộ phận cư dân quan trọng của Hội An Trong lịch sử, họ đã đóng góp phần tích cực vào việc thúc đẩy

sự phát triển của thương cảng Hội An và đóng vai trò rất lớn đối với quá trình hình thành sắc thái văn hóa của khối cộng đồng cư dân Hội An cho đến ngày nay

1.1.3 Đặc điểm kinh tế

Như chúng ta đã biết, người Hoa đến Hội An chủ yếu với mục đích đó là tị nạn

và buôn bán Thực tế, tại Hội An cho thấy từ những đặc thù về cộng đồng dân cư cùng với sở trường nghề nghiệp, người Việt gốc Hoa đã thiết lập cho mình một cơ cấu kinh

tế phù hợp đó là thương nghiệp - dịch vụ - tiểu thủ công nghiệp và các ngành nghề khác, trong đó nổi trội hơn cả vẫn là thương nghiệp Khoảng từ cuối thế kỉ XVII, vai trò của thương nhân Nhật Bản tại Hội An đã được chuyển giao dần cho thương nhân Trung Hoa, đến đầu thế kỉ XVIII, người Hoa gần như nắm giữ phần lớn trong việc kinh doanh, buôn bán và quan hệ thương mại tai thương cảng Hội An

Trang 19

1.1.3.1 Về ngoại thương

Từ cuối thế kỷ XVI, Hội An đã là một trong những thương cảng có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên các con đường giao thương quốc tế trên biển nổi danh lúc bấy giờ như “con đường tơ lụa”, “con đường hương liệu”, “con đường gốm sứ” Thương thuyền từ Trung Hoa, Nhật Bản, Anh, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Siam, Campuchia đổ xô đến buôn bán Hàng hóa từ khắp các miền nam, bắc, từ cao nguyên đến biển khơi, và từ nhiều vùng lãnh thổ, quốc gia khác đều đổ về (hoặc trung chuyển qua) Hội An, biến nơi đây thành một “vựa hàng” khổng lồ của Đàng Trong và

cả khu vực Đông Nam Á Vì vậy, các thương nhân Trung Hoa sinh sống ở Hội An hoặc ở chính quốc đều muốn khai thác nguồn lợi này Cho nên, những hoạt động kinh

tế của họ đã có những đóng góp vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển của cảng thị Hội An

Khoảng nửa đầu thế kỷ XVII, do chính sách “bế quan tỏa cảng” của chính phủ Nhật Bản nên người Nhật ở Hội An suy giảm dần, lúc này thương nhân Trung Hoa tận dụng sự sa sút của người Nhật nên tràn sang khu vực cư trú của người Nhật trước đây

và dần dần làm chủ thị trường thương mại ở thương cảng Hội An Thuyền buôn của họ không chỉ “tung hoành ngang dọc” trên khắp các vùng biển của Đại Việt mà còn vươn đến nhiều cảng thị ở khu vực Đông Nam Á Ngày 18/8/1695, thương nhân người Anh

là Thomas Bowyear đến Hội An, ông thấy: “Các thuyền mua (đem đến Đường Trong)

từ Quảng - Đông: tiền đúc được lãi rất nhiều, cũng như hàng tơ lụa hoa các kiểu, lĩnh lụa, đồ gốm Trung Quốc, chè, kẽm, thủy ngân, nhân sâm, long não và các vị thuốc khác; từ Xiêm: lá trầu không, gỗ đỏ (dùng để nhuộm), sơn, xà cừ, ngà voi, thiếc, chì, gạo; từ Campuchia: thư hoàng (dùng làm thuốc vẽ), cánh kiến trắng, sa nhân, sáp, sơn, xà cừ, gỗ đỏ, nhựa thông, da trâu, da và gân hươu, ngà voi, sừng tê v.v…; từ Ba- ta-vi-a: bạc, bạch đàn, trầu không, vải cát bá đỏ và trắng, thuốc màu đỏ; từ Ma-ni: bạc, diêm sinh, gỗ đỏ, vỏ sò, thuốc hút, sáp, gân hươu Còn “Đường Trong” bán ra: vàng, sắt, tơ và hàng dệt như lĩnh, lụa… kỳ nam, trầm hương, đường, đường phèn,… yến sào, hạt tiêu, bông…” [37, tr.227 ]

Đến thế kỷ XVIII, Hội An vẫn là nơi tập trung hàng hóa của cả khu vực và người Hoa vẫn là một trong những thương nhân chính, điều phối mọi hoạt động thương mại

ở cảng thị Hội An Theo lời một thương gia họ Trần, người Quảng Đông thì số lượng

hàng hóa từ khắp nơi đổ về Hội An ngày càng phong phú: “Những thuyền từ vùng Sơn

Trang 20

- Nam trở về (Sơn Nam tức vùng Nam - Định), người ta chỉ mua được một món hàng - hóa là củ - nâu mà thôi Thuyền từ kinh - thành Thuận - Hóa về, cũng chỉ mua được một thứ hàng là vị hồ tiêu mà thôi Còn thuyền từ miền Quảng - Nam về, thì trăm thứ hàng hóa, thứ gì cũng có Các thuyền từ các phiên - bang trở về, cũng không có nhiều hàng - hóa bằng thuyền từ Quảng - Nam về Đại - phàm những hóa - vật được sản xuất từ các phủ Thăng - hoa, Điện - bàn, Qui - nhân, Quảng - nghĩa, Bình - khang cùng dinh - sở Nha Trang, chỗ thì người ta chuyên chở hàng hóa bằng thuyền theo đường thủy, hay chở bằng ngựa theo đường bộ, đều đổ xô dồn về phố cổ Hội - An cả

Ở nơi đây, vì các khách buôn Trung Quốc đều tới mua hàng đưa về Tàu, nên buổi trước hàng hóa rất nhiều, dẫu có 100 chiếc thuyền lớn chuyên chở hàng hóa trong một lúc cũng không thể chở hết được” [12, tr.72-73]

Để tăng lợi nhuận, người Hoa tiến hành mua tận gốc, bán tận ngọn Bên cạnh các

cơ sở đại lý buôn bán giao dịch tại phố, thương nhân Hoa kiều còn đặt trạm thu mua lâm hải sản tận các địa phương chuyên sản xuất, khai thác các mặt hàng mà họ cần như: trầm hương, sừng tê giác, ngà voi, xương hổ, gỗ; các hải sản có giá trị như ngọc trai, đồi mồi, ốc hương, yến sào, xà cừ, hải sâm, đường, tiêu, vàng, đá quí, hổ phách,…

và cử bà con trong tộc đến trông nom, phụ trách Hiện nay ở một số địa phương trong tỉnh Quảng Nam như Tam Kỳ, Quế Sơn, Thăng Bình, Duy Xuyên,… vẫn còn dấu vết của các tộc họ Minh Hương, mà trước đây những nơi này từng là điểm thu mua hàng

từ vùng cao chuyển xuống, từ hai miền Nam Bắc để chuyển về cảng thị Hội An Một

số gia đình người Hoa ở tận Quảng Ngãi, Bình Định, Huế, vẫn còn lưu giữ gia phả cho rằng trước đây, ông bà của họ từng là một trong những người đại diện thu mua hàng cho các thương nhân người Hoa ở Hội An

Do có những thuận lợi về ngôn ngữ, tài ngoại giao và khả năng làm kinh tế nên một số thương nhân người Hoa ở Hội An được chúa Nguyễn giao nhiều trọng trách như: quản lý Ty Tàu vụ ở cảng thị Hội An, làm quan Cai bộ tàu để kiểm soát tàu thuyền nhập cảng, xuất cảng, thu thuế, cân đo, định giá hàng hóa, làm phiên dịch…

Năm 1750, Robert Kirsop của công ty Đông Ấn Anh tới Hội An đã nhận xét: “Đại đa

số công chức là con cháu của nạn dân Trung Quốc, chạy loạn qua đấy, từ hồi đại lục

bị người Thanh chiếm cứ” [40, tr.15] Cho đến thời Tây Sơn, người Hoa vẫn giữ vai

trò quan trọng trong hoạt động thương nghiệp, xây dựng lực lượng và hậu cần của quân đội Trong bản kê khai dân đinh xã Minh Hương ở Hội An năm 1788 hiện còn

Trang 21

lưu giữ tại Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di tích Hội An thì một số người Hoa đã từng nắm giữ các chức vụ chủ chốt dưới thời Tây Sơn như: Tây Sơn Công bộc Đô đốc lý chiến tàu Mỹ Thiện hầu Lý Mỹ; Thuộc Nội cai bộ Ty Tàu vụ Lộc Đình hầu Hứa Hiến Thụy; Thuộc Nội cai cơ Thuần Miên hầu Trương Thuần Đức; Thuộc Nội khâm sai cai đội Tri Lễ hầu Thái Tri Lễ; Thuộc Nội cai phủ tàu Tại Đức bá Trương Cảnh Tại

Các Hoa thương còn được triều đình nhà Nguyễn ủy nhiệm mua một số mặt hàng quý như thuốc Bắc, kinh sách, đồ sứ, các loại giấy, vải vóc, thuốc nhuộm màu, đồ mỹ nghệ ở Trung Hoa, Nhật Bản, Siam, Indonesia, Philippines… Trong các văn bản của

xã Minh Hương vào đầu thế kỷ XIX cho biết, một số thương gia người Hoa ở Hội An

đã được triều đình Huế cử ra kinh đô để nhận chức “phố hộ” phụ trách việc buôn bán

Sự kiện này cho thấy vai trò của thương gia Hoa kiều trong việc phát triển cảng thị Hội

An và một số thị tứ khác ở Đàng Trong trong những thế kỷ trước

Có thể thấy, từ một “Chiêm cảng” bị suy tàn, Hội An mau chóng phục hưng và trở thành trung tâm thương mại quốc tế phát triển thịnh đạt bậc nhất của cả nước và khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, bên cạnh việc bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh và những rối ren của thời cuộc, ở thế kỉ XIX, Hội An còn bị một số yếu tố bất lợi của tự nhiên tác động Hệ thống sông nước biến động dữ dội, Cửa Đại di chuyển vị trí thường xuyên, ngày càng nông và có xu hướng hẹp dần theo thời gian, làm cho các thương thuyền có trọng tải lớn khó có thể vào ra Trong khi đó, sông Cổ Cò bị bồi lấp nhiều đoạn và chỉ còn là những chấm dải lờ mờ trong bản đồ người Pháp vẽ về Hội An vào năm 1893, làm cho sự thông thương giữa Hội An và cảng Đà Nẵng bị ách tắc Do vậy, Hội An gần như nằm trong thế cô lập trong khi khối lượng hàng hóa vẫn còn phong phú, dồi dào Lúc này, tàu lớn chỉ vào được cửa Hàn - Đà Nẵng Như vậy, khu trung tâm thương mại Hội An với thương cảng san sát tàu thuyền, phố xá sầm uất chất ngất hàng hoá đi vào quá khứ để chuyển giao vai trò lại cho Đà Nẵng - một “cảng thị cơ khí” đang vươn lên

Dựa trên kết quả phỏng vấn một số người dân, có thể thấy, trong bối cảnh hiện nay tình hình ngoại thương ở Hội An không còn nhộn nhịp như trước, kể cả nguồn sản phẩm để cung ứng cho việc giao thương với các nước cũng không còn đa dạng và chất lượng như các thế kỉ trước Người dân nơi đây cho biết, điển hình như các sản phẩm trầm hương, xà cừ,… hiện nay, các mặt hàng này bày bán cho người nước ngoài hầu hết có nguồn gốc nhập từ các địa phương khác đến chứ không được người Việt gốc

Trang 22

Hoa ở Hội An khai thác tại gốc Hoặc trong lĩnh vực xuất khẩu yến sào, nếu trước đây được các thương nhân người Việt gốc Hoa đem xuất khẩu đi các nước Đông Nam Á

và trên thế giới thì hiện nay việc khai thác và kinh doanh yến sào được Nhà nước quản

lý chặt chẽ Hoặc có chăng, ngoại thương của người Việt gốc Hoa ở Hội An chỉ còn tồn tại hình thức trao đổi, buôn bán nhỏ lẻ với thương nhân, du khách các nước

1.1.3.2 Về dịch vụ

Cùng với ngoại thương, một số hoạt động kinh tế khác liên quan đến thương nghiệp như dịch vụ cho thuê cửa hàng, cho thuê nhà trọ, cho thuê đất, cho vay lấy lãi, đóng bao bì, dịch vụ giấy tờ, dịch vụ ăn uống, vui chơi giải trí… của người Hoa cũng rất thịnh hành

Những thương nhân người Hoa thường mua đất ở vùng ven Hội An như Cẩm Phô, Thanh Hà, sau đó cho người dân địa phương thuê để canh tác Còn trong nội thị phố Hội, họ xây dựng nhiều ngôi nhà để làm khách sạn hoặc cho những người Hoa mới từ đại lục sang thuê làm kho chứa hàng hoặc mở cửa kinh doanh hàng buôn bán Những ngôi nhà này chủ yếu là nhà một tầng, hai tầng, hoặc một tầng có gác, được bố trí không gian nội thất hợp lý cho việc ăn, ở, sinh hoạt, thờ tự, làm kho chứa hàng, mở

cửa hàng Giữa thế kỷ XVIII, Pière Poivre đến Hội An, ông thấy ở đây “có rất nhiều

khách sạn cho thuê, bao nhiêu cái cũng được Những nhà to nhất thường cho thuê 100 đồng bạc trong suốt mùa mua bán” [42, tr.13]

Ngoài ra, người Hoa còn tham gia vào hoạt động kinh doanh mua bán bất động sản Ghi chép trong các sổ điền địa của người Hoa vào cuối thế kỷ XVIII cho biết, đất của xã Minh Hương vào thời gian này có khoảng 11 mẫu, 1 sào, 7 thước ruộng đất tư Nhưng đến cuối thế kỷ XIX, con số này đã tăng lên 30 mẫu, 8 sào, 11 thước, 1 tấc, trong đó đa phần là đất tư điền, tư thổ Như vậy, dưới tác động của quá trình đô thị hóa

và cơ chế thị trường, một số thương gia giàu có đã chuyển nhượng, mua bán đất đai của các làng ven Hội An thành đất riêng của cá nhân mình Nó càng chứng tỏ có một thị trường buôn bán bất động sản rất phát triển ở Hội An trong những thế kỷ trước Ngoài ra, các thương nhân Bồ Đào Nha khi đến Hội An buôn bán, họ không thành lập thương điếm, phần vì họ thiếu người, phần vì không thông hiểu ngôn ngữ của cư dân địa phương nên họ sử dụng đội ngũ Hoa thương vào công việc trung gian, môi giới, hoặc làm đại diện cho công ty để giao thương với người bản xứ Bởi các Hoa

Trang 23

thương vốn thông thạo ngôn ngữ và họ có vợ người Việt nên nắm rõ nhu cầu của thị trường cũng như nguồn hàng của Đàng Trong

Qua kết quả phỏng vấn, có thể nói rằng, về lĩnh vực dịch vụ ở Hội An hiện nay vẫn được cộng đồng người Việt gốc Hoa kế thừa và phát huy Đặc biệt là thị trường mảng dịch vụ cho thuê nhà, thuê đất, thuê cửa hàng ở Hội An từ trước đến nay vẫn diễn ra rất sôi động và có thể nói chi phí cho thuê hiện nay rất đắt đỏ Theo lời ông Kiểm soát viên ở Hội quán Phước Kiến cho hay:

“Hiện nay, hầu hết các ngôi nhà của người Việt gốc Hoa ở Hội An, đặc biệt

trong phường Minh An thì đều tập trung kinh doanh, buôn bán với các hình thức: Một

là họ tự đứng ra kinh doanh Hai là họ cho người khác thuê, còn gia đình họ sinh sống

ở phía sau hoặc bán hẳn nhà để đi nước ngoài hoặc trở về quê hương” [Ông Kiểm

soát viên tại Hội quán Phước Kiến, 54 tuổi, sinh sống tại phường Minh An, Hội An, Quảng Nam]

1.1.3.3 Về nghề làm thuốc và chữa bệnh

Khi nói đến hoạt động ngành nghề ở Hội An chúng ta không thể không nói đến nghề y cổ truyền của các gia đình người Hoa tại đây Đồng thời, với giai đoạn phát triển hưng thịnh của thương cảng Hội An, bên cạnh các nghề buôn, nghề thủ công… Nghề làm thuốc và chữa bệnh của người Hoa ở Hội An cũng rất thịnh hành, họ mở nhiều hiệu buôn thuốc Bắc khá lớn và có những thầy thuốc giỏi Cách bốc thuốc, chữa bệnh của họ khác so với người phương Tây nhưng đạt hiệu quả cao, trong khi một số bệnh các thầy thuốc Châu Âu không chữa khỏi thì họ khám và chữa hết một cách dễ

dàng Christophoro Borri đã nhận xét: “Còn về thầy thuốc và cách chữa các bệnh

nhân, tôi phải nói là có rất nhiều, người Bồ cũng như người bản xứ, và người ta thường thấy nhiều bệnh vô danh và các thầy thuốc châu Âu không chữa được thì đã được khám phá và được các lương y bản xứ chữa khỏi một cách dễ dàng Không ít lần các thầy thuốc người Bồ đã chê một bệnh nhân, coi như xong rồi, thế nhưng bệnh nhân này sẽ được chữa lành một cách dễ dàng nếu gọi được một lương y bản xứ” [10,

tr.92]

Mỗi khi tàu buôn từ đại lục sang, họ thường mua lại sâm, nhung, tam thất… dùng

để sử dụng hoặc bán lại cho thương nhân phương Tây và các khu vực lân cận Họ thu mua các loại dược liệu quí của Đàng Trong như: quế, sa nhân, thảo quả, đậu khấu, gạc

Trang 24

nai, mật gấu… để bán cho tàu buôn nước ngoài Thuốc Bắc mua ở Thuận Hóa không

có thì người ta tìm mua ở đây

Đặc biệt, trong thời kỳ này, trên các đường phố chính như các đường Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Hoàng Văn Thụ, Lê Lợi ngày nay đều tập trung nhiều tiệm thuốc Bắc như: Triều Phát hiệu, Chi Thảo đường, Xuân Sanh đường, Hòa Xuân đường, Duy Ích đường, Minh Đức đường… Sự đa dạng về chủng loại thuốc cùng với sự có mặt của các thầy nổi tiếng đã góp phần đáng kể vào việc phát triển nghề y cổ truyền ở Hội

An, cũng như ở Quảng Nam Với số lượng đông đúc của các tiệm thuốc Bắc, với sự có

mặt của nhiều thầy thuốc giỏi có tài, Hội An trở thành “một trung tâm khám chữa

bệnh” bằng y học cổ truyền, thậm chí triều đình đôi khi cũng phải cho người vào mua

thuốc tại đây

Nhiều tư liệu cho biết, ngay tới tận đầu thế kỷ XX, khi ngành Tây y chưa phổ biến, người dân khắp nơi đã đổ về phố Hội An cắt thuốc, chữa bệnh rất đông đảo Trải qua bao biến đổi của thời gian, và thay đổi thói quen của con người, ngày nay ngành Đông y cổ truyền ở Hội An vẫn được trân trọng, duy trì, ngày càng có xu hướng phát triển và có uy tín lớn không những đối với nhân dân địa phương mà còn đối với khá nhiều du khách từng bắt mạch bốc thuốc chữa bệnh tại đây

Theo kết quả phỏng vấn, hiện nay, nghề y của cộng đồng người Việt gốc Hoa chỉ một số ít vẫn được kế thừa Người dân nơi đây cho biết, các hiệu thuốc trên các đường phố chính như các đường Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Hoàng Văn Thụ, Lê Lợi không thuộc về người Việt gốc Hoa nữa Có chăng cũng chỉ lấy lại “cái tên”, “cái hiệu” chứ không được kế thừa từ các thế kỉ trước Theo kết quả phỏng vấn ông Tùng, người Việt gốc Quảng Đông, hiện đang sinh sống tại phường Minh An và làm việc tại Hội quán Quảng Triệu, ông cho biết:

“Các hiệu thuốc Bắc của người Việt gốc Hoa hiện nay hầu hết đều không còn

được kế thừa, trong khu vực phường Minh An hiện nay, chỉ còn một số ít nhà vẫn còn bán thuốc Bắc, trong đó có nhà ông” [Ông Tùng, 48 tuổi, người Việt gốc Quảng

Đông, đang làm việc tại Hội quán Quảng Triệu, sinh sống tại phường Minh An, Hội

An, Quảng Nam]

1.1.3.4 Về thủ công nghiệp và một số ngành nghề khác

Người Hoa cũng tham gia tích cực trong lĩnh vực đóng thuyền trong các Chu tượng (thợ đóng thuyền), điều này thể hiện qua trác văn năm 1760 của Công đường

Trang 25

quan Quảng Nam như sau: “truyền cho Hương trưởng xã Minh Hương cùng các

Khách ở hội quán được biết rõ hiệp chọn 3 người tài công giỏi về việc tu bổ tàu gấp gấp đến trạm Bãi ứng hầu Nay truyền” [30, tr.37] Trong tờ truyền đóng mới tàu

chiến năm 1780 quan Đốc lý chiến tàu Công bộ Tây Sơn cũng đã huy động xã Minh Hương một lúc 15 thợ đóng thuyền

Một số gia đình người Hoa còn tham gia hoạt động trong nghề khai thác yến sào tại Hội An như Xán Tinh yến thuế công ty, hiệu Triều Phát, hiệu Tân Lập… Họ tham gia bằng hình thức đấu thầu khai thác rồi nộp thuế cho triều đình Việt Nam, phần còn lại thì họ cho gia công rồi bán cho tàu buôn các nước và chở về bán tại Trung Hoa Bên cạnh lĩnh vực hoạt động thương nghiệp - ngoại thương và một ngành nghề nêu trên, một bộ phận người Hoa ở Hội An cũng sinh sống bằng các nghề thủ công khác như họ làm thợ trong các Chú tượng (thợ đúc), Diêm hộ (làm muối), Kim hộ (làm vàng), Ngân tượng (thợ bạc), Nhiễm tượng (thợ nhuộm)… cũng như một số nghề nhỏ lẻ mang tính gia đình như chạm trổ, làm lịch, làm đồ vàng mã… và họ đã có sự đóng góp đáng kể vào việc phát triển các nghề thủ công truyền thống của địa phương Bên cạnh đó, một bộ phận cư dân người Hoa còn sinh sống bằng các nghề thủ công như: thợ đóng tàu thuyền, thợ đúc đồng, thợ bạc, làm muối, chế biến thực phẩm, làm đồ gốm, làm nhà, chế tác nông cụ, thợ dệt lụa Hàng năm, một số thợ thủ công người Hoa được chính quyền trung ương huy động vào việc đóng tàu chiến, làm doanh trại, sửa chữa cung điện, nấu nướng…

Những người Hoa thông thạo nghề trồng dâu nuôi tằm thì xây dựng các cơ sở dệt lụa dọc theo hai bên bờ sông Thu Bồn Họ tiếp nhận một số người Việt vào trong cơ sở sản xuất; và để trả ơn sự giúp đỡ của chính quyền sở tại, một số người Hoa đã truyền

kỹ thuật sản xuất lụa trơn và lụa hoa lại cho người Việt, góp phần phát triển nghề dệt ở

Quảng Nam

Năm 1688, nhà thám hiểm Anh là W Dampier trên đường đến Đàng Ngoài, ông được nghe một vài tin tức về những người dân Trung Hoa chạy loạn đến Quảng Nam:

“Bọn nạn dân Trung Quốc này là những kẻ từ đại-lục trốn ra hải ngoại vào dịp người

Tartares (người Thanh) chinh phục Trung Quốc Vì họ được người bản xứ hoan nghênh, vả lại trong bọn họ có nhiều thợ công nghệ nên họ vui lòng truyền dạy các môn công - nghệ có ích cho các tướng quân mà họ đã nhờ cậy đến” [40, tr.12] Chính

sự giúp đỡ tận tình của thợ thủ công Hoa kiều, làm cho nghề dệt ở một số địa phương

Trang 26

như: Gò Nổi, Phong Thử, Thanh Quýt (Điện Bàn), Duy Xuyên, Đại Lộc… trong tỉnh Quảng Nam phát triển Bên cạnh những vải thô bền chắc, họ còn dệt nhiều loại vải sợi nhỏ mịn, các thứ the đoạn, lụa là hoa hòe, tinh xảo chẳng kém gì tơ lụa được sản xuất

từ Trung Quốc Chính nguồn tơ lụa được sản xuất ở Quảng Nam nên giá thành hạ hơn

so với tơ lụa đem từ Trung Quốc đến, thuận tiện trong việc vận chuyển đến các quốc gia ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, nên đã đem lại cho các thương nhân Trung Hoa nguồn lợi nhuận khổng lồ Có thể nói, kỹ nghệ dệt nhuộm người Hoa đã đóng góp rất lớn cho truyền thống làng nghề Hội An nói riêng, xứ Quảng nói chung, đóng góp không nhỏ cho nền thương nghiệp cảng thị

Trong những thế kỷ trước, người Hoa ở Hội An còn xây dựng nhiều lò nấu đường dọc theo hai bên bờ sông Năm 1633, những thương gia người Hoa đã chở bốn ghe đường với tải trọng 76.205 kg rời bến Hội An để đến Nhật Bản Đến thế kỷ XVIII, người Hoa vẫn nhập về Trung Quốc hơn 150 lít đường trắng từ Hội An mỗi năm và thu lợi nhuận khoảng 400% từ mặt hàng này Năm 1822, người Hoa chở từ Hội An khoảng 1.000 - 3.000 tấn đường đến Trung Hoa và khoảng 250 tấn được chở tới các căn cứ của người Châu Âu ở eo biển Malacca [42] Tuy nhiên, dưới thời Tây Sơn, do chiến tranh tàn phá kéo dài nhiều năm, nên việc sản xuất bị đình trệ, sản lượng đường làm ra chỉ hơn số tiêu thụ ở trong nước một ít Nên thời gian này, việc mua bán đường đối với thương nhân Trung Hoa giảm sút nghiêm trọng

Theo kết quả phỏng vấn, hiện nay các ngành nghề thủ công nghiệp của người Việt gốc Hoa tại Hội An không còn được quan tâm như ở các thế kỉ trước Người dân cho biết, trước năm 1975, các ngành nghề thủ công vẫn còn được cộng đồng người Việt gốc Hoa kế thừa và phát huy Tuy nhiên, sau năm 1975 đến nay, các ngành nghề thủ công dần bị mai một, điển hình như nghề dệt vải, nhuộm vải thủ công của người Việt gốc Hoa không còn được kế thừa

1.1.4 Tổ chức đời sống xã hội

Cuộc chiến tranh của người Mãn Châu nhằm tiêu diệt nhà Minh ở Trung Quốc xảy ra dữ dội và đến năm 1644, nhà Minh chính thức bị thay thế bởi nhà Thanh Vì vậy, một số quan tướng sau khi chống nhà Thanh thất bại không chịu quy phục đã tìm cách di tản ra nước ngoài, điều này đã tạo nên một làn sóng di cư ồ ạt của người Hoa đến các nước Đông Nam Á, trong đó có Đàng Trong từ những năm 1640 đến 1862

Trang 27

Khi đến với Hội An, cộng đồng người Hoa đã nhanh chóng hòa nhập vào thương trường quốc tế đang diễn ra hết sức sôi động ở nơi đây, đồng thời họ tự lập thành những tổ chức xã hội riêng của mình, trên cơ sở giữ gìn quan hệ huyết thống và dân

tộc hết sức chặt chẽ như các tổ chức của các “Bang” hay tổ chức “Minh Hương xã”

Về vấn đề sáng lập Minh Hương xã, cũng giống như việc thành lập Phố Khách, hiện nay vẫn còn thiếu sử liệu để xác minh một cách chính xác niên đại thành lập

Nhưng, về ý nghĩa của từ “Minh Hương”, đây là tổ chức của cộng đồng người Hoa di

dân đến Hội An và tự nguyện nhập quốc tịch Việt Nam Theo Gustave Huê cho rằng

“Minh Hương là những người Trung Quốc trung thành với nhà Minh, đến Việt Nam ngay từ khi nhà Thanh tiếm quyền” [40, tr.13] Theo sự giải thích của A.Schreiner,

Minh Hương là những “người lai” do sự thông hôn giữa đàn bà Việt và di dân nhà Minh chạy sang Cochinchine vào cuối thế kỉ XVII, và nguyên nghĩa Minh Hương có thể giải thích là “những người duy trì hương hỏa cho nhà Minh”

Về cơ cấu của Minh Hương xã, theo như tài liệu của Hội An Minh Hương tam

bảo vụ thì những vị sáng lập ra làng Minh Hương đầu tiên gồm mười vị lão gia có uy

tín trong cộng đồng người Minh Hương mà đứng đầu là Trung Lương Hầu Khổng Thiên Như, gọi là Thập lão Do Minh Hương xã có tính chất như là một làng xã của người Việt nên về cơ cấu tổ chức quản lí điều hành làng xã cơ bản và đơn giản giống như cơ cấu tổ chức làng xã của người Việt, nhưng hiệu quả nhờ vào bộ ba quyền lực văn hóa là vương quyền, thần quyền và quan hệ gia tộc Cụ thể là bộ máy hành chính của Minh Hương xã thường gồm 1 cai xã, 4 hương lão (Tứ trụ) với một số hương

trưởng Đứng đầu là cai xã, người giữ vai trò như người trung gian giao dịch giữa xã

với chính quyền sở tại Do vậy, cai xã thường là những người đang làm quan ở các nha, sở hoặc ty tàu vụ

Dưới tổ chức xã có nhiều đơn vị trực thuộc gọi là lân Theo Trần Kinh Hòa [40]

và Nguyễn Phước Tương [34, tr.162 - 163], Hội An xưa có 10 lân1 Đứng đầu các lân giúp cho các hương trưởng quản lý xã dân là các giáp Về sau có thêm Chính trưởng,

Phụ trưởng Đến thời Minh Mệnh, để quản lý phố hộ, buôn bán (phường buôn - hàng

phố) có thêm các chức Chánh Trưởng hàng, Phó Trưởng hàng và Thư ký

1 Gồm Hương Long, Hương Kỳ, Hương Thuận, Hương Thăng, Hương Hóa, Hương Định, Hương Khánh, Hương Thịnh, Hương Hưng Một lân trong số 10 lân chưa tìm ra được tên gọi

Trang 28

Ngoài Minh Hương xã, ở Hội An còn có tổ chức các Bang của các kiều cư người Hoa ở Hội An do họ cư trú không ổn định hoặc nhiều lý do khác về thế lực kinh tế,

chính trị họ không nhập vào Minh Hương xã mà họ tự tổ chức riêng trong Dương

Thương Hội quán (hay sau này gọi là Trung Hoa Hội quán) Dương Thương Hội quán

là một tổ chức tự quản của người Hoa kiều nhằm giúp đỡ lẫn nhau trên thương trường

và quan hệ giao dịch với chính quyền cấp trên cũng như sở tại Đây còn là trung tâm tín ngưỡng, thờ tự thần thánh của nhóm cộng đồng này

Trước đây Dương Thương Hội quán vừa là nơi sinh hoạt chung của cộng đồng người Hoa sinh sống tại Hội An mà đồng thời cũng là nơi “tạm trú dừng chân” của

thương khách Để đảm bảo tình hình an ninh trật tự cũng như quy định những vấn dề liên quan đến Hoa kiều ở Hội An, họ đã soạn thảo một bản điều lệ gồm 10 điều và khắc bia dựng tại Dương Thương hội quán vào năm Vĩnh Hựu triều Lê (năm 1741),

bản điều lệ đó gọi là “Dương Thương Hội quán công nghị điều lệ” Bản điều lệ này có thể nói là “bản hương ước” duy nhất của cộng đồng người Hoa - Minh Hương được

tìm thấy tại Hội An

Sau này do tình hình phát triển dòng người từ các tỉnh ở Trung Quốc sang cư trú

mà đã hình thành nên các Bang riêng, gồm 5 Bang: Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông, Hải Nam, Gia Ứng, gọi tắt là Ngũ Bang Trong Ngũ bang thì người Phúc Kiến chiếm số lượng đông hơn cả và Hội quán của họ cũng được lập sớm vào năm 1697, sau đó là Hội quán Triều Châu năm 1845, Hội quán Quảng Đông hay Hội quán Quảng Triệu năm 1885, tiếp sau là Hội quán Hải Nam hay Quỳnh Phủ Hội quán của người Hải Nam lập năm 1891 Riêng người Gia Ứng, vì số lượng ít nên không có Hội quán riêng, cùng sinh hoạt tại Hải Nam Hội quán Trong Hội quán các Bang đều thờ cúng các vị thần bảo trợ của Bang mình, đồng thời đây cũng là nơi sinh hoạt của hội đồng hương tại Hội An

Theo Đại Nam thực lục chính biên (quyển 1 và 2), năm 1790, triều đình ra chỉ dụ

yêu cầu ngũ bang mỗi bang phải có một tổ chức riêng, có người đứng đầu quản lý Mỗi bang đều bầu một Bang trưởng, có nhiệm vụ trông coi việc đi lại, sinh hoạt, buôn bán của dân trong Bang mình và làm việc với chính quyền sở tại Trong Bang, để giúp việc cho Bang trưởng có Phó Bang trưởng và các ủy viên phụ trách các công việc khác nhau gọi là Hội đồng Bang trưởng (số lượng tùy thuộc vào mỗi Bang quy định), và các thành viên đảm nhiệm nhiều chức vụ khác nhau như thư ký, thủ quỹ, đối ngoại… Dân

Trang 29

các Bang phần lớn sống rải rác, xen kẽ trong các cộng đồng người Việt và người Hoa Minh Hương Họ phải nộp thuế kiều với số thuế gấp 2-3 lần dân đinh người Minh Hương và người Việt

Như đã nói trên, đứng đầu Bang là Bang trưởng do các thành viên bô lão bầu chọn Bang trưởng luôn phải giữ vị trí trung gian kết nối giữa thành viên trong Bang với nhau, giữa Bang với cộng đồng người Việt và với chính quyền địa phương Bang trưởng chịu trách nhiệm thu và nộp thuế trong phạm vi toàn Bang Thuế tức đối với người Hoa thời bấy giờ phân làm hai hạng, gồm những người có nhà cửa, tài sản phải đóng hai nén bạc/năm; những người không có tài sản có mức thuế thấp hơn và có thể đóng trong ba năm Về mặt xã hội, Bang trưởng có quyền và trách nhiệm hòa giải tranh chấp nội bộ; nếu không hòa giải được thì trình đến phủ/huyện

Tại Trung Hoa Hội quán người ta cũng có Ban trị sự là Trung Hoa Hội quán Lý

sự hội do toàn thể Hoa kiều sinh sống tại Hội quán bầu ra, những thành viên trong Ban

trị sự này là đại diện của cả 5 Bang Trong đó, họ bầu ra một Bang trưởng chung, sau

này gọi là Trung Hoa Lý sự trưởng và các ủy viên cũng cơ cấu ít nhất mỗi Bang phải

có một người để trông coi điều hành chung cho cả 5 Bang, trụ sở được đặt tại Trung

Hoa Hội quán (sau này còn gọi là Chùa Ngũ Bang), đây cũng là nơi sinh hoạt chung

của cả 5 Bang Ngoài ra, tại Trung Hoa Hội quán còn có tổ chức khác là “Đổng sự

hội” để điều hành trường học, chăm lo công tác giáo dục - đào tạo cho con em Hoa

kiều ở Hội An Tại đây có trường Lễ Nghĩa dạy học cho con em trong Bang, chính vì thế, chùa Ngũ Bang còn gọi là chùa Lễ Nghĩa Ngoài những môn học chung theo quy định của Nhà nước Việt Nam từng thời kỳ, họ còn dạy tiếng Hoa

Tựu trung lại, lịch sử hình thành và phát triển của cộng đồng người Việt gốc Hoa gắn liền với sự phát triển của thương cảng Hội An từ thế kỉ XVII - XIX Cộng đồng người Việt gốc Hoa ở Hội An tương đối điển hình cho các hình thức liên kết của cộng đồng người Việt gốc Hoa tại Việt Nam Trong những thế kỷ qua, với đặc điểm là một làng - xã hoạt động chủ yếu bằng thương nghiệp, cộng đồng người Việt gốc Hoa nói riêng và ở mọi miền trên đất nước Việt Nam nói chung đã góp phần đáng kể làm nên

sự phồn thịnh của thương cảng Hội An cũng như tạo nên bức tranh đa màu sắc trong nền văn hóa Việt Đặc biệt, họ đã để lại những dấu ấn văn hóa sâu sắc trong diện mạo văn hóa Đô thị cổ Hội An ngày nay

Trang 30

1.1.5 Đặc điểm văn hóa

Biết đến Hội An từ rất sớm, cho đến khi đặt những bước chân đầu tiên trên mảnh đất “nhân hòa, địa lợi” này, cộng đồng người Hoa nhập cư đã để lại dấu ấn của văn minh Trung Hoa khá rõ nét Đáng chú ý hơn cả là sự hòa nhập mà không hòa tan của nền văn minh Trung Hoa Cộng đồng người Việt gốc Hoa vẫn giữ lại nét văn hóa riêng biệt, hòa chung vào nền văn hóa bản địa, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho bức tranh đa màu sắc ở Hội An

1.1.5.1 Văn hóa vật chất

Về ẩm thực: Người Hoa nhập cư đã mang theo và phổ biến những món ăn của

nền văn hóa Trung Hoa đến với mảnh đất Hội An Các lễ vật dâng lên các quan chức hằng năm thường là các sản vật quý như yến sào, tơ lụa,… ngoài ra còn có các món ăn khác như: bánh vân phiến (vân phiến cao), bánh hoa quế, bánh nếp, bánh đậu xanh, bánh hồng quy, bánh khô Phước Kiến, đường cát, đường trắng, đậu Xiêm, nấm hương, nho khô, bột đậu Trường Sơn, mì sợi, táo đen,… Bên cạnh đó, các món ăn được kê trong các bảng kê lễ hằng năm tại các công trình di tích công cộng thường có bánh hộp, bánh xốp thành giá, bánh thiên địa, xôi ngũ sắc, bánh trôi nước, tam sinh, ngũ sinh, canh bún, tiệc chay,…

Một trong số những món ăn của người Hoa đã được cải biến thành món ăn đặc sản của địa phương như bánh in đậu xanh, bánh nướng ông Xưởng, bánh quai vạc, phở phố… Đặc biệt, một số món đã để lại ảnh hưởng cho đến ngày nay, làm nên nét đặc trưng cho con người và mảnh đất nơi đây như hoành thánh, mì xào, các loại bánh nướng, bánh nếp,…

Một số món ăn được thay đổi ở tên gọi như lục tàu xá (chè tàu xá), chí mà phù (xí mà), lục phấn (lường phảnh)… Việc tiếp thu, thay đổi không chỉ dừng lại ở tên gọi

mà còn có sự thay đổi cả trong cách chế biến Họ chỉ giữ lại cho mình “những gì phù

hợp với khẩu vị, hợp với thói quen ẩm thực và tình trạng nguyên liệu sẵn có tại chỗ”

[2, tr.125]

Tiếp thu các món ăn của người Hoa, người Việt còn tiếp thu các món ăn gắn chặt với các lễ, các phong tục từ đó có sự biến đổi hình thành nên những món ăn đặc trưng của Hội An Hàng năm, vào dịp Tết Đoan Ngọ (5-5 âm lịch), cộng đồng Hoa nhập cư

và người bản xứ thường làm bánh ú tro để cúng tổ tiên hoặc mang đi bán Bánh ú tro

Trang 31

cũng là kết quả của sự tiếp thu ẩm thực người Hoa song nó phát triển theo hướng phù hợp với bối cảnh, phong tục và phong cách ẩm thực của cư dân Hội An

Hay đối với các dịp tết người Hoa thường làm các món ăn truyền thống như: cơm Dương Châu, canh bát bửu… Ngày nay, thường chỉ có dịp lễ tết người Hoa mới làm các món ăn truyền thống, còn ngày bình thường họ cũng giống như người Việt ở Hội

An

Không chỉ có những món ăn độc đáo mà người Việt gốc Hoa ở Hội An còn rất tài tình, khéo léo trong việc chế biến các món ăn, cũng như trong việc tổ chức bày biện, bài trí các buổi lễ tiệc, sắp xếp cỗ bàn một cách đẹp mắt và trang trọng

Cùng với các món ăn là thức uống, người Việt gốc Hoa đặc biệt rất thích uống trà Trước đây, uống trà đối với họ là thú chơi tao nhã và là cả một nghệ thuật Ở các gia đình khá giả hơn thì họ thường dùng các loại trà ướp hương như trà Phương Thái, trà Ô Long, trà Mai Hạc,… còn đối với các gia đình bình dân, cũng như các cư dân ở Hội An thì thích các loại chè lá phơi khô như chè đen, chè Biển Hồ,…

Trong ẩm thực người Việt có yếu tố Hoa, trong ẩm thực Hoa có chứa yếu tố Việt,

“nếu ai không rành khó có thể phân biệt được đâu là đặc sản của người Việt và đâu là

đặc sản của người Hoa” [56, tr.84 - 85] Đó cũng là quá trình hai nhóm cộng đồng tiến

lại gần nhau hơn Chính việc “giao lưu văn hóa ẩm thực này là mối dây liên kết các

gia đình Việt - Hoa trên mảnh đất Hội An và ngày càng làm giàu thêm cho nền văn hóa cộng đồng mình, dân tộc mình” [56, tr.84 - 85]

Ẩm thực là một phần của nguồn sống thường nhật, nơi đó con người vừa kế thừa truyền thống và lựa chọn cái có lý và phù hợp với thực tại, và do vậy văn hóa ẩm thực

ở Hội An (cả người Việt, người Minh Hương và người Hoa) thể hiện đậm nét sự giáo lưu đa văn hóa Có thể thấy, người Hoa nhập cư đã có sự giao lưu rất lớn với nền ẩm thực bản địa Trên cơ sở đó, hiện nay, việc nâng tầm ẩm thực trở thành hàng hóa để phục vụ cho du khách thập phương đến với Hội An đã được cả người Việt gốc Hoa lẫn người bản xứ xúc tiến từ bao đời nay và rất hiệu quả Các dịch vụ liên quan đến ẩm thực của Hội An vì thế cũng đã sớm có sự phát triển và tác động mạnh mẽ đến việc hoàn thiện nét truyền thống trong văn hóa ẩm thực Hội An

Về trang phục: Việc sử dụng trang phục nhiều màu sắc là đặc điểm nổi trội trong

nếp mặc trước đây của người Hội An, trong đó có người Việt gốc Hoa Bên cạnh các loại vải thường sử dụng như bạch bố (vải trắng) còn có các mặt hàng quý nhiều màu

Trang 32

như sa (vải mỏng trơn, có màu xanh hoặc đen), đoạn (vải có hoa hoặc trơn), địa (vải dày có hoa), nhung, thao… Ngoài ra còn một số mặt hàng ngoại nhập như Hồ sa, Thượng Hải hồng nhung, Mật Địa hoa sa, Sơn Đông thao,… cùng một số loại vải sản

xuất tại xứ Quảng Dương Văn An đã từng nhận xét: “Kẻ hơn người kém xống áo toàn

màu đỏ, màu hồng” [1] hay như Lê Quý Đôn phản ánh trong Phủ biên tạp lục:

“…Những sắc mục ở dân gian cũng mặc áo đọa hoa bát ty và áo sa, lương, địa làm đồ

mặc ra vào thưởng, lấy áo vải, áo mộc làm hổ thẹn… Đàn bà con gái thì toàn mặc áo the và hàng hoa thêu cổ tròn…” [11, tr 335]

Người Việt gốc Hoa sử dụng loại áo dài, tay rộng và cùng với nó là thói quen mặc áo nhiều lớp, từ năm đến sáu lớp, với nhiều màu sắc khác nhau Ngoài ra, với những người Hoa giàu có và quan chức còn sử dụng một số vật dụng như: quạt, giày ủng, bít tất, đồ trang sức vàng, bạc hay đồng ,… Trong đó quạt và giày ủng là hai loại vật dụng thường được cộng đồng cư dân này làm lễ vật dâng tặng các quan chức địa phương

Ngày nay, trang phục của người Việt gốc Hoa ở Hội An cũng giống như trang phục của cư dân bản địa, họ chỉ mặc trang phục truyền thống vào các ngày lễ tết quan trọng

Về ở: Nét nổi bật trong nếp ở của người Việt gốc Hoa là họ rất chú trọng đến việc

phong thủy, trong mọi công việc, từ việc chọn nơi cất đất đến việc xây dựng nhà cửa, phố xá hay các công trình tôn giáo, tín ngưỡng Nhà ở của người Việt gốc Hoa có hai loại chủ yếu Đối với người Việt gốc Hoa sống ở các vùng ven, vùng nông thôn thì sử dụng loại nhà ngói ba gian hai chái, với kiểu nhà này nổi bật nhất là luôn có chai Đây

là kiểu kiến trúc truyền thống của người Việt mà người Việt gốc Hoa đã tiếp thu hoặc mua bán chuyển nhượng với cư dân địa phương Đối với những người Việt gốc Hoa sống trong trung tâm thành phố Hội An thì họ chủ yếu sử dụng loại nhà phố, với những ngôi nhà không có chái và gồm nhiều lớp, hẹp về chiều ngang và dài về chiều sâu

1.1.5.2 Văn hóa tinh thần

Không gian sống của người Việt và người Hoa tại Hội An là sự đồng tâm về văn hóa Thế cho nên, những nét trong sinh hoạt tinh thần của cộng đồng này đều có sức hấp dẫn đối với cộng đồng kia tạo nên sự tiếp xúc giao lưu, nhất là ở phương diện tôn giáo, tín ngưỡng và lễ hội

Trang 33

Về tôn giáo, tín ngưỡng: Tôn giáo ở Hội An ngoài được người Việt ở vùng Bắc

Trung bộ mang đến, còn chịu ảnh hưởng bởi vai trò to lớn của các nhà sư Trung Hoa Nhiều nhà sư chính là người khai sáng nên các dòng Phật giáo ở Hội An và Đàng Trong như Lâm Tế, Tào Động Cho nên, tín ngưỡng, tôn giáo giữa hai cộng đồng Việt

- Hoa sớm chịu ảnh hưởng lẫn nhau Người Việt với khả năng và sự khéo léo của mình sớm tham gia việc xây dựng nên những ngôi chùa của người Hoa do đó những ngôi chùa này mang đậm phong cách Việt tiêu biểu là hiện tượng chùa Quan Âm Ngôi chùa là sản phẩm của người Minh Hương kết hợp với người Việt xây dựng Sau khi xây dựng, chùa được đặt tên xuất phát từ ý nghĩa của cây chiên đàn của người Việt là chốn thơm tho để thờ Phật Vì thế, chùa Quan Âm còn có danh xưng là chùa Chiên

Đàn Thực tế cho thấy rằng, tín ngưỡng thờ Phật của người Hoa khi đến Hội An “đã có

sự chuyển hóa mạnh mẽ yếu tố Trung Hoa sang màu sắc dân tộc” [33, tr.267] Biểu

hiện của nó chính là sự kết hợp tín ngưỡng truyền thống với Đạo Lão, Nho giáo Trong

các ngôi chùa, nhất là chùa làng xuất hiện hiện tượng “phối thờ: các chư Phật Bồ Tát

bên cạnh thờ Thập Điện Diêm Vương, Ngọc Hoàng thượng đế có cả Nam Tào, Bắc Đẩu; Quan Thánh Đế quân có Châu Thương theo hầu” [33, tr.267] Hành động thờ

này vẫn được duy trì ở chùa Hải Tụy Ngay trong nội Phật giáo cũng không còn có sự

tách biệt, thuần nhất mà “kết hợp với Thiền tông, Mật tông ( ) để có nghi thức biến

hóa cho phù hợp với tâm thức truyền thống” [33, tr.267 - 268]

Qua các nguồn tư liệu thư tịch cũng như từ thực tế cho thấy cộng đồng người Hoa ở Hội An vẫn theo khuôn khổ Nho giáo (Khổng giáo), tức là luôn có tinh thần tôn trưởng kính lão, tôn ty thượng hạ, xem việc thờ cúng ông bà tổ tiên là nghĩa vụ thiêng liêng cùa mỗi người, mỗi gia đình Vì vậy, nơi thờ cúng tổ tiên của họ bao giờ cũng được đặt ở vị trí trang trọng nhất trong ngôi nhà, bàn thờ, khám thờ luôn được bày biện rất trang nghiêm, rực rỡ Hằng năm, đến các dịp Thanh Minh, Đông Chí họ đều tổ chức thăm viếng, tảo mộ và cúng tế ông bà

Bên cạnh tục thờ cúng gia tiên, một số ít người Hoa còn thờ Ngũ tự gia đường gồm năm vị thần: thần bếp (Táo quân), thần giữ cổng (Môn thần), thần bổn mạng (Hộ thần), thần giếng (Tỉnh thần) và Trung lưu thần Một số gia đình thay thần Trung lưu bằng Cửu Thiên huyền thần Khám thờ Ngũ tự gia đường được đặt trang trọng ngay giữa nhà, trên bàn thờ gia tiên

Trang 34

Trải qua quá trình giao lưu - hội nhập, một số vị thần Trung Hoa đã từng bước gia nhập vào hệ thống thờ tự của cộng đồng dân cư bản địa Những vị thần thánh được

họ thờ phổ biến là Quan Thánh đế quân, Thiên Hậu thánh mẫu, Huyền Thiên đại đế, Thần tài,… Tuy nhiên, khi du nhập vào Hội An thì bản sắc văn hóa Trung Hoa trong tín ngưỡng cũng có nét pha trộn, nhằm phù hợp với các cộng đông dân cư tại đây Một điểm đáng chú ý là ở Hội An, sự giao lưu và hòa nhập tín ngưỡng giữa người Hoa với người Việt, người Chăm được thể hiện rõ nét qua việc thờ cúng ở các đền miếu Tại các di tích của cộng đồng người Việt gốc Hoa ở Hội An cũng có xuất hiện bài vị, án thờ của các vị thần gốc Chăm như thờ Chúa Lồi, Chúa Ngọc (Thiên Y A Na),… Ngoài

ra, bài vị, trang thờ bà Chúa Tiên, bà Phường Chào, những vị thần gốc Việt vốn rất được cư dân địa phương kính ngưỡng cũng xuất hiện trong các bàn thờ tại miếu Quan Công, miếu Hy Hòa của cộng đồng người Việt gốc Hoa Hằng năm, người Việt gốc Hoa tại phố Hội cũng tổ chức lễ cúng đất, treo xả lét, thả long chu không khác gì người Việt

Về lễ hội: Lễ hội của người Việt gốc Hoa ở Hội An rất phong phú, đa dạng gồm

nhiều hình thức tổ chức và liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau gắn liền với những mục đích khác nhau đối với những thành phần cư dân khác nhau, trong đó có một số lễ hội chung lớn trong năm như: tết Nguyên Đán, Nguyên Tiêu, Đoan Ngọ, Trung Thu,…

Bên cạnh những văn hóa trong nếp ăn, nếp ở, tôn giáo tín ngưỡng,… cộng đồng

người Việt gốc Hoa còn có nhiều lễ hội truyền thống mang “màu sắc Trung Hoa” như

lễ vía Quan Công, lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu, vía Lục Tánh Vương Gia,…

Giá trị truyền thống của kho tàng tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội, lễ tết được cộng đồng cư dân người Việt gốc Hoa trao đổi, tiếp thu lẫn nhau làm phong phú thêm sắc thái văn hóa Hội An Tất cả đều hướng đến những giá trị đặc sắc, hướng con người vào chân - thiện - mỹ

1.2 Khái quát về tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở Việt Nam

1.2.1 Khái niệm

1.2.1.1 Khái niệm về tín ngưỡng

Hiện nay, trong giới nghiên cứu ở Việt Nam tồn tại khá nhiều các quan điểm khác nhau về tín ngưỡng

Trang 35

Trước nhất, không thể không tìm hiểu tín ngưỡng ở phương diện từ nguyên

Theo Từ điển Hán- Việt của học giả Đào Duy Anh, tín ngưỡng được giải thích: “Lòng

ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” [5, tr.283] Tương tự,

trong quyển Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân (chủ biên), tín ngưỡng nghĩa là: “Tin

tưởng vào một tôn giáo: Tự do tín ngưỡng” [22, tr.1209] Như vậy, ở nghĩa từ nguyên,

tín ngưỡng chính là niềm tin tôn giáo ở mỗi con người

Các học giả như Toan Ánh, Phan Kế Bính… xem tín ngưỡng là tín ngưỡng dân gian với các nghi lễ thờ cúng thể hiện qua lễ hội, tập quán, phong tục truyền thống của dân tộc Việt Nam

Theo Ngô Đức Thịnh, “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào cái

gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin ngưỡng vọng vào

“cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được

Có nhiều loại niềm tin mà ở đây là niềm tin vào “cái thiêng” Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng như giống với đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm…” [26,tr.34]

Hiện nay, Nhà nước ta cũng phân biệt rõ ràng giữa tín ngưỡng và tôn giáo Điều này thể hiện ngay trong Pháp lệnh trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2016), Luật

số: 02/2016/QH14 có quy định như sau: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được

thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thờ cúng tổ tiên, các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người

có công với đất nước, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội” [63]

Tuy nhiên, khi bàn đến tín ngưỡng người ta đồng thời bàn đến tôn giáo Theo quan điểm truyền thống, người ta có ý thức phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng, thường coi tín ngưỡng là sản phẩm của xã hội ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo

Có quan điểm cho rằng tín ngưỡng là cái nền của tôn giáo, một yếu tố cấu thành của tôn giáo Loại quan điểm khác lại đồng nhất giữa tôn giáo và tín ngưỡng và đều gọi chung là tôn giáo, tuy có phân biệt tôn giáo dân tộc, tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo địa phương, tôn giáo thế giới

Trang 36

Như vậy, có thể hiểu, tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng mộ đối với một đối

tượng siêu nhiên nào đó có ảnh hưởng, chi phối đến đời sống sinh hoạt của con người

Tín ngưỡng là một sản phẩm văn hóa do con người quan hệ với tự nhiên, xã hội mà chính bản thân mà hình thành Tín ngưỡng là niềm tin về những điều linh thiêng, những sức mạnh huyền bí, vĩ đại mà con người chỉ cảm nhận được mà khó có thể nhận

thức được

1.2.2 Đôi nét về tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở Việt Nam

Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu là một trong những thành tố văn hóa tinh thần của cộng đồng người Hoa ở Hội An, Quảng Nam nói riêng và của người Việt Nam nói chung Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu có nguồn gốc từ Trung Hoa và được du nhập vào Việt Nam bởi người Hoa nhập cư Hình tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu vì thế

đã được những đoàn người Hoa mang theo trong những chuyến hải trình đi khắp nơi Trong quá trình du nhập, cộng đồng người Hoa đã làm cho tín ngưỡng này phù hợp với văn hóa truyền thống lâu đời của Việt Nam và lâu dần nó trở thành thành tố quan trọng đời sống tâm linh của cả cộng đồng người Hoa và người Việt

Đối với những người đi biển, cư dân vùng ven biển, họ coi Thiên Hậu Thánh Mẫu là vị hải thần bảo hộ của mình, xin Bà phù hộ bình an, làm ăn phát đạt Bà trở thành vị Nữ thần của biển cả - Thủy thần, Hải Thần, phù hộ che chở cho các ngư dân

và thương khách trên biển Hiện nay, cả cộng đồng người Việt gốc Hoa và người Việt xem Bà là vị thần phù trợ cho việc kinh doanh, có nơi còn xem Bà như nữ thần che chở cho những người phụ nữ sinh nở, hộ mệnh cho trẻ sơ sinh,

Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu là một trong những loại hình tín ngưỡng khá quan trọng, biểu hiện giá trị văn hóa tinh thần của người Trung Hoa Tín ngưỡng Thiên Hậu là một sinh hoạt tín ngưỡng mang tính khu vực, gắn liền với vùng lục địa

và hải đảo Trung Hoa và sự di dân của người Hoa ra các vùng khác ở Đông Á, Đông Nam Á

Theo các nguồn tư liệu, ngôi miếu lớn nhất thờ Thiên Hậu ở cực Bắc là Thiên Tân, điểm giao thương đường biển giữa miền Giang Nam với miền Bắc, nơi mà người

dân Thiên Tân thường có câu nói cửa miệng: “Có Thiên Hậu mới có Thiên Tân”

Vùng biển phía đông là nơi dày đặc các đền miếu thờ Thiên Hậu, đặc biệt là ở Đài Loan, nơi vừa có nhiều đền miếu lớn thờ Bà, vừa là một hòn đảo mang tên Bà, đó là đảo Mã Tổ, nơi giáp giữa Đài Loan và Đại Lục

Trang 37

Xuống vùng phía nam là Phúc Kiến, Hạ Môn, Quảng Đông, Triều Châu, Hải Nam cũng là địa bàn thờ Thiên Hậu, trong đó Phúc Kiến được coi là quê hương của

Bà Ở đây có miếu thờ Thiên Hậu ở cảng My Châu Ở Thâm Quyến có Nam Sa Thiên Hậu cung Tại Hồng Kông có ngôi miếu thờ bà cổ xưa nhất (năm 1266) ở New Territore Ở Ma Cao, tên Bà được đặt tên cho một hải cảng, gọi là Cảng Bà, nơi đây có trung tâm nghiên cứu văn hóa Mã Tổ, giống như ở Thiên Tân, nơi miếu thờ Bà nay trở thành Bảo tàng Văn hóa Thiên Hậu

Xuống vùng Hải đảo phía Đông Nam Á, cũng có rất nhiều đền thờ Thiên Hậu, trong đó đền thờ Thiên Hậu lớn nhất ở ngay trung tâm thủ đô Kuala Lămpua Ở Nhật Bản (Yakoyama) hay Hàn Quốc, nơi có người Hoa sinh sống thì đều có đền thờ Bà Người Hoa định cư ở các nước Âu - Mỹ cũng có tục thờ Bà Thiên Hậu Như vậy, có thể nói, đây được xem là hiện tượng tín ngưỡng - văn hóa xuyên quốc gia

Ở Việt Nam, đền thờ Thiên Hậu có cả ở miền Bắc (Phố Hiến, Hưng Yên), miền Trung (Hội An, Huế, Nha Trang) và miền Nam (Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ) Tuy nhiên, có thể nói, miền Nam là nơi có đền thờ Thiên Hậu nhiều nhất cả nước Hiện nay, căn cứ vào tư liệu khảo sát của Nguyễn Ngọc Thơ, toàn vùng Nam Bộ có 60 cơ

sở thờ tự thờ Bà Với chừng ấy cơ sở thờ tự, ta cũng thấy rất rõ độ phủ của hình tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu là rất lớn Theo Nguyễn Ngọc Thơ thì tuy rằng trải qua chiều dài lịch sử hơn 300 năm - kể từ khi cộng đồng người Hoa bắt đầu có mặt ở vùng đất Nam Bộ, thế nhưng dạng thức thờ Bà Thiên Hậu chỉ mới phát triển đến đỉnh cao cả trong hai cộng đồng Việt, Hoa trong khoảng hai thập niên cuối thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI Bởi lẽ trước đó, trong giai đoạn phong kiến nhà Nguyễn và thời Pháp thuộc lẫn thời chống Mỹ, dạng thức thờ Bà Thiên Hậu chỉ tồn tại âm thầm trong cộng đồng người Hoa mà thôi

1.2.2.1 Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở miền Bắc

Ở miền Bắc, nơi thờ Bà ít hơn ở Nam Bộ, như ở Hà Nội có đền thờ Bà ở phố Mã Mây, nơi xưa kia người Hoa cư trú nhiều Tại Phố Hiến (Hưng Yên), bên cạnh rất nhiều các di tích thờ phụng của người Hoa thì có hai ngôi đền thờ Thiên Hậu, đó là

đền Thượng và đền Hạ Ở đây, bà được tôn xưng là Nam Hải Phúc Thần Đền Hạ

được xây dựng từ trước, cạnh di tích Đông Đô Quảng Hội, khi người Hoa mới đến đây định cư Đến năm 1640, người Hoa mới xây dựng đền Thiên Hậu Thượng, tọa lạc bên

bờ hồ trung tâm Phố Hiến, tức thị xã Hưng Yên Tại chánh điện nơi thờ linh tượng

Trang 38

Thiên Hậu Thánh Mẫu, hai bên thờ Thiên Lý Nhãn và Thuận Phong Nhĩ Hằng năm, ngày 23 tháng 3 âm lịch, người ta mở hội Thiện Hậu, có đám rước giữa đền Thượng và đền Hạ

1.2.2.2 Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở miền Trung

Lùi xuống phía nam, có Huế, Hội An, Đà Nẵng và Nha Trang là những nơi thờ Thiên Hậu Ở Huế, có Tại làng Minh Hương, cung này do Hoa thương xây dựng lên ở thời kỳ đầu họ đến đây lập phố buôn bán, vào khoảng năm 1685 nhưng người dân ở đây thường gọi là chùa Bà Cung nằm ở phía Bắc của làng, quay mặt ra sông Hương, hướng Đông Nam Cung thờ Thiên Hậu với tư cách là thần chính và phối thờ Ba bà chúa sinh thai, 12 bà Mụ, Văn Xương, Phúc Đức cùng chư vị các quan Ngoài ra, trong khuôn viên của chùa còn có nhà Tiên hiền thờ những người đời trước có công với làng, thờ Phật Quan Âm ở đầu hồi nhà Hương hội Hằng năm tổ chức Lễ vía vào ngày

23 tháng 3 âm lịch

Hội An cũng giống như Phố Hiến (Hưng Yên), từ thế kỉ XVI đã có người Hoa đến định cư, buôn bán, lập thành các Bang Nay có Hội quán Phúc Kiến, Hội quán Trung Hoa và Hội quán Quảng Triệu thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu Lễ vía Thiên Hậu cũng được tổ chức vào ngày 23 tháng 3 âm lịch hằng năm

Ở Đà Nẵng có Thiên Hậu Cung, vốn trước đây thuộc Trung Hoa Hội quán - một

thiết chế văn hóa của người Hoa Đà Nẵng, chùa Bà/ Thiên Hậu Cung được xây dựng vào những năm 60 của thế kỷ trước, hiện tọa lạc tại số 407 đường Phan Châu Trinh, quận Hải Châu Gian giữa chánh điện Thiên Hậu Cung thờ Thiên Hậu, tả gian thờ Quan Công, hữu gian thờ Thần Tài Các đệ tử tại Thiên Hậu Cung gọi Thiên Hậu

Thánh Mẫu là Thiên Y Thánh Mẫu Đại Từ Tôn; ngày vía Thiên Hậu là ngày vía Thiên

Yana (có lẽ do ngày vía Thiên Hậu trùng ngày vía Thiên Yana chăng?) Quan niệm này được xác tín bằng sự xuất hiện kinh Địa Mẫu - bộ kinh của Đạo Tiên Thiên Thánh giáo/Đạo thờ Thiên Yana trên bàn thờ Bà Thiên Hậu Lễ vía Bà được tổ chức thường niên vào ngày 23 tháng 3 âm lịch, nhằm tưởng niệm, tri ân công đức của Bà Lễ diễn

ra trong 3 ngày, trong đó ngày 23 là ngày chính vía

Ở Nha Trang, tại khóm Phước Triều, phường Ngọc Hiệp, có miếu thờ Thiên Hậu, vốn do người Hoa thuộc Bang Phước Triều lập nên từ thời Tự Đức năm 1875 Gọi là miếu nhưng thực ra nó kết hợp vừa là chùa, vừa là hội quán Tuy gọi là chùa, nhưng nơi đây không thờ Phật, chỉ thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu

Trang 39

Trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, tại xã Phan Rí Thành, huyện Bắc Bình, cách thành phố Phan Thiết trên 70km về phía bắc có ngôi chùa thờ Thiên Hậu, do người Hoa xây dựng năm 1725 Ở Bình Thuận còn có ngôi chùa khác thờ Thiên Hậu, ở cửa biển Phú Hải, lập vào thế kỉ XVIII Nhân dân nơi đây kể lại sự tích giống trong sách vở, tuy nhiên cũng có dị bản, Bà biến thành khúc gỗ trầm hương, trôi vào cửa sông Lũy và được nhân dân vớt lên rồi lập đền thờ Rõ ràng ở đây có sự giao thoa về huyền thoại giữa Thiên Y A Na và Thiên Hậu, cũng như sự nhầm lẫn giữa Thiên Hậu và Tống Hậu

ở miền Bắc

1.2.2.3 Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở miền Nam

Có thể nói, Nam Bộ là nơi Thiên Hậu Thánh Mẫu được thờ nhiều nhất Tại miền Đông Nam Bộ, Bình Dương là nơi có nhiều miếu/cung thờ Thiên Hậu: Thiên Hậu Cung (thị xã Thủ Dầu Một), được dựng từ giữa thế kỉ XIX, ngoài thờ chính là Thiên Hậu còn phối thờ các vị thần Việt như Ngũ Hành nương nương, ông Bổn, bà Bổn, Ngũ thổ Long thần, Môn quan Thổ địa, Bà Hỏa… Ngoài ra còn có Thiên Hậu Cung ở thị trấn An Thạnh, Thuận An, xây dựng vào năm 1879; Thiên Hậu Miếu ở đường Châu Văn Tiếp, thị trấn Lái Thiêu; Thiên Hậu Miếu ở thị trấn Dầu Tiếng, huyện Bến Cát Trong các chùa/miếu kể trên, ngày lễ Bà vào hai dịp là 23/3 âm lịch và mồng 9 tháng

9 Tại Biên Hòa, có miếu Thiên Hậu tại phường Bửu Long, nơi phối thờ Thiên Hậu, Quan Thánh Đế và Ngũ Đăng tổ sư (tổ sư các nghề chạm đá, mộc và rèn)

Tại thành phố Hồ Chí Minh, có Miếu Thiên Hậu tại số 710 đường Nguyễn Trãi, quận 5 Là ngôi miếu do người Hoa huyện Tuệ Thành, tỉnh Quảng Đông xây dựng vào

năm 1760 và đã trải qua nhiều lần trùng tu Sách Đại Nam nhất thống chí đã ghi sự

kiện này Đây có thể coi là ngôi chùa/miếu thờ Thiên Hậu lớn nhất ở Nam Bộ

Trên địa bàn các tỉnh Tây Nam Bộ, Thiên Hậu được thờ khắp nơi, có miếu/chùa

Bà được thờ như là vị thần chủ, có nơi Bà được phối thờ với các vị thần khác, trong đó đáng chú ý là ngôi Chùa Bà ở thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp của cộng đồng người Hoa gốc Phúc Kiến, được xây dựng trên 100 năm tính đến nay Còn có Miếu Thiên Hậu (Thiên Hậu cổ miếu) là ngôi miếu cổ nổi tiếng ở Sóc Trăng, được công nhận là Di tích văn hóa cấp tỉnh

Gần cụm di tích Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc, An Giang, có ngôi miếu thờ Thiên Hậu ở xã Vĩnh Mỹ Tại Bạc Liêu, cách ngày nay hơn 100 năm có ngôi miếu thờ Thiên

Hậu với tên gọi là Bà Mã Châu Tại tỉnh Cà Mau, theo sưu tầm của Phạm Văn Tú, có

Trang 40

nhiều cung/miếu thờ Thiên Hậu hình thành từ trên địa bàn cư trú của người Hoa thuộc nhóm Mạc Cửu đến vào thế kỉ XVII - XVIII Có thể kể một số như: Thiên Hậu Cung tại đường Lê Lợi, Cà Mau; Thiên Hậu Cung ở thị trấn sông Ông Đốc; cung thờ Thiên Hậu ở xã Phú Hưng, huyện Cái Nước… [55, tr.45]

Nhìn chung, có thể thấy, tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở Việt Nam trên

cả ba miền đều có những điểm tương đồng và sự khác biệt nhất định Về cơ sở thờ tự Thiên Hậu có nhiều tên gọi, cung/miếu/chùa/Hội quán Về cách bài trí các gian thờ, có nơi Thiên Hậu được thờ chính, có nơi được phối thờ với Phật Quan Âm, các vị thần, các vị tiền hiền Tuy nhiên, về ngày Lễ vía chính, trên cả ba miền đều là ngày 23 tháng

3 âm lịch hằng năm Ở mỗi nơi, có mỗi quy định và trình tự tổ chức lễ vía khác nhau Ngày 23 tháng 3 âm lịch hằng năm, lễ vía Bà được tổ chức ở khắp nơi trên mọi miền đất nước, ngày sum họp đối với con cháu người Việt gốc Hoa và thu hút đông đảo người Việt tham gia Đặc biệt, ở Nam Bộ tổ chức lễ vía Bà rất long trọng và quy mô lớn hơn so với các cơ sở thờ Thiên Hậu ở miền Bắc và Trung

Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu là tín ngưỡng nhằm biểu hiện cho tinh thần trung nghĩa, đồng thời biểu hiện cho tấm lòng luôn hướng về quê hương cố cựu, không để bị mất đi truyền thống, mai một văn hóa của mình ở nơi đất khách của cộng đồng người Việt gốc Hoa

Đồng thời, thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu cũng là một hình thức tín ngưỡng mà thông qua các nghi thức thờ cúng con người muốn gửi gắm niềm tin, khát vọng của mình đến thế giới tâm linh, thiêng liêng huyền bí

Trong tiến trình phát triển, người Hoa nói chung và người Hoa ở Hội An nói riêng đã góp phần tạo nên những sắc màu cho bức tranh văn hóa thống nhất mà đa dạng của nước ta Nhiều tín ngưỡng truyền thống Trung Hoa, trong đó có tín ngưỡng Thiên Hậu, đã trở thành biểu tượng văn hóa tộc người trong hệ biểu tượng văn hóa Việt Nam, trong nền cảnh văn hóa Việt Nam Thông qua việc phụng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, người Hoa hướng về cội nguồn, tri ân tổ tiên, nêu cao tinh thần coi trọng vai trò người phụ nữ trong gia đình; đồng thời muốn ký thác vào Bà những ước vọng thiêng liêng của cuộc sống

Qua điều này có thể thấy, cộng đồng người Việt gốc Hoa đã mang đến cho vùng đất Hội An nói riêng và Việt Nam nói chung một nền văn hóa mới, một nét rất Trung Hoa Để rồi sau đó, giữa nền văn hóa nhập cư và nền văn hóa bản địa đã hòa

Ngày đăng: 08/05/2021, 14:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Văn An (1961), Ô Châu Cận Lục, Nxb Văn hóa Á Châu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô Châu Cận Lục
Tác giả: Dương Văn An
Nhà XB: Nxb Văn hóa Á Châu
Năm: 1961
2. Trần Văn An (2002), Văn hóa ẩm thực ở Phố cổ Hội An, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ẩm thực ở Phố cổ Hội An
Tác giả: Trần Văn An
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
3. Trần Văn An (2005), Di sản văn hóa văn nghệ dân gian Hội An, Trung tâm quản lí và bảo tồn di tích Hội An, Hội An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hóa văn nghệ dân gian Hội An
Tác giả: Trần Văn An
Năm: 2005
4. Trần Văn An, Tống Quốc Hƣng (2018), Sinh hoạt văn hóa người Hoa ở Hội An, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh hoạt văn hóa người Hoa ở Hội An
Tác giả: Trần Văn An, Tống Quốc Hƣng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2018
5. Đào Duy Anh (1996), Từ điển Hán - Việt, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán - Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1996
6. Lê Duy Anh (2004), Lần giở lịch sử văn hóa miền Thuận - Quảng” , Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lần giở lịch sử văn hóa miền Thuận - Quảng”
Tác giả: Lê Duy Anh
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2004
7. Lê Duy Anh (2010), Lễ hội và văn hóa dân gian xứ Quảng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội và văn hóa dân gian xứ Quảng
Tác giả: Lê Duy Anh
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2010
8. Toan Ánh (1992), Tín ngưỡng Việt Nam, Quyển thƣợng, Nxb thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
9. Võ Thanh Bằng (2005), “Tín ngưỡng dân gian của người Hoa Nam Bộ”, Luận án tiến sĩ Lịch sử, Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng dân gian của người Hoa Nam Bộ”, "Luận án tiến sĩ Lịch sử, Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ
Tác giả: Võ Thanh Bằng
Năm: 2005
10. Cristophoro Borri (1998), Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Đàng Trong năm 1621
Tác giả: Cristophoro Borri
Nhà XB: Nxb thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
11. Lê Quý Đôn (1977), Phủ Biên tạp lục, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ Biên tạp lục
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1977
12. Lê Quý Đôn (1973), Phủ biên tạp lục, Tập 2, (Lê Xuân Giáo dịch), Nxb Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ biên tạp lục, Tập 2
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb Sài Gòn
Năm: 1973
13. Hội Văn nghệ dân gian thành phố Đà Nẵng (2008), Tập tục lễ hội đất Quảng (tập 3), Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập tục lễ hội đất Quảng (tập 3)
Tác giả: Hội Văn nghệ dân gian thành phố Đà Nẵng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2008
14. Tống Quốc Hƣng (2004), Khảo sát Lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu, Trung tâm Quản lý và bảo tồn di tích Hội An, Hội An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát Lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu
Tác giả: Tống Quốc Hƣng
Năm: 2004
15. Nguyễn Xuân Hương (2011), Tín ngưỡng thờ Nữ thần của người Việt ở xứ Quảng, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng thờ Nữ thần của người Việt ở xứ Quảng
Tác giả: Nguyễn Xuân Hương
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2011
16. Vũ Ngọc Khánh (2001), Tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng dân gian Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2001
17. Trần Hồng Liên (2005), Văn hóa người Hoa ở Nam Bộ tín ngưỡng và tôn giáo, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa người Hoa ở Nam Bộ tín ngưỡng và tôn giáo
Tác giả: Trần Hồng Liên
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2005
18. Trần Hồng Liên (2006), “Nghi lễ và lễ hội Bà Thiên Hậu ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế”, trong: Giá trị và tính đa dạng của Folklore châu Á trong quá trình hội nhập, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi lễ và lễ hội Bà Thiên Hậu ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế"”, trong: "Giá trị và tính đa dạng của Folklore châu Á trong quá trình hội nhập
Tác giả: Trần Hồng Liên
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2006
19. Hồ Ngận (2004), Quảng Nam xưa và nay, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Nam xưa và nay
Tác giả: Hồ Ngận
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2004
20. Thích Đại Sán (1963), Hải ngoại kỷ sự, Ủy ban phiên dịch Sử liệu - Viện Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải ngoại kỷ sự
Tác giả: Thích Đại Sán
Năm: 1963

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w