Trong quá trình hoàn thành khóa luận tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô, Phòng Văn hóa - Thông tin UBND các cấp, các đơn vị quản lý các khu du lịch sinh thái tỉnh Quản
Trang 1CHUYÊN NGÀNH : Văn hóa - du lịch
Đà Nẵng, tháng 04/2019
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp đánh dấu kết quả cuối cùng trong quá trình học tập suốt bốn năm học của tôi tại trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng Là hành trang kiến thức sau khi tốt nghiệp và công tác tại một môi trường mới
Trong quá trình hoàn thành khóa luận tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô, Phòng Văn hóa - Thông tin UBND các cấp, các đơn vị quản lý các khu du lịch sinh thái tỉnh Quảng Nam, khách du lịch, người dân địa phương tại các khu du lịch và bạn bè
Trước tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến giảng viên Lê Thị Thu Hiền đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn Phòng thống kê UBND xã Duy Sơn, Phòng Văn hóa - thông tin UBND huyện Duy Xuyên, Phòng thống kê UBND tỉnh Quảng Nam, khách du lịch cùng người dân địa phương tại các khu du lịch sinh thái Rừng Dừa Bảy Mẫu, Hồ Phú Ninh và Thủy Điện Duy Sơn II đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp tư liệu và nhận xét đánh giá hết mình cho em trong quá trình nghiên cứu thực tế
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình đã luôn quan tâm, chăm sóc, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài của mình
Dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng với điều kiện và kiến thức còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo từ các quý thầy cô để em có thể nâng cao kiến thức, phục vụ cho quá trình làm việc về sau
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày 23 tháng 04 năm 2019
Sinh viên
Đoàn Cẩm Giang
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Nguồn tư liệu 5
5.2 Phương pháp nghiên cứu 5
5.2.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu 6
5.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 6
5.2.3 Phương pháp biểu đồ, bản đồ và bảng số liệu 6
5.2.4 Phương pháp khảo sát thực địa 6
5.2.5 Phương pháp điều tra, phỏng vấn 6
6 Đóng góp của đề tài 7
7 Bố cục của đề tài 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VÀ TỔNG QUAN VỀ TỈNH QUẢNG NAM 8
1.1 Cơ sở lý luận chung 8
1.1.1 Khái niệm 8
1.1.1.1 Khu du lịch 8
1.1.1.2 Du lịch sinh thái 8
1.1.1.3 Khu du lịch sinh thái 10
1.1.2 Khu du lịch sinh thái 10
1.1.2.1 Phân loại 10
Trang 41.1.2.2 Nguyên tắc hoạt động 11
1.1.2.3 Vai trò 12
1.2 Tổng quan về tỉnh Quảng Nam 14
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 14
1.2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình 14
1.2.1.2 Khí hậu 16
1.2.1.3 Tài nguyên 16
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển 19
1.2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 21
1.2.3.1 Điều kiện kinh tế 21
1.2.3.2 Đời sống xã hội 23
1.2.4 Đặc điểm văn hóa - dân cư 24
1.2.4.1 Dân cư 24
1.2.4.2 Văn hóa 25
1.2.5 Các khu du lịch sinh thái tỉnh Quảng Nam 27
1.2.5.1 Khu du lịch sinh thái Rừng Dừa Bảy Mẫu (Hội An) 28
1.2.5.2 Khu du lịch sinh thái Hồ Phú Ninh (Tam Kỳ) 29
1.2.5.3 Khu du lịch sinh thái Thủy Điện Duy Sơn 2 (Duy Xuyên) 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC KHU DU LỊCH TẠI TỈNH QUẢNG NAM 31
2.1 Hiện trạng phát triển du lịch tại một số khu du lịch sinh thái tỉnh Quảng Nam 31
2.1.1 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kĩ thuật 31
2.1.1.1 Cơ sở hạ tầng 31
2.1.1.2 Cơ sở vật chất - kĩ thuật 33
2.1.2 Tình hình khách du lịch và doanh thu 36
2.1.2.1 Tình hình khách du lịch 36
2.1.2.2 Doanh thu 39
Trang 52.1.3 Sản phẩm, dịch vụ 40
2.1.4 Cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực 47
2.1.5 Công tác tuyên truyền, quảng bá 51
2.1.6 Quản lý của chính quyền địa phương tại các KDL sinh thái tỉnh Quảng Nam 53
2.2 Đánh giá hiện trạng hoạt động của các KDL sinh thái tại Quảng Nam theo nguyên tắc của du lịch sinh thái 54
2.2.1 Mức độ đảm bảo giáo dục và thuyết minh môi trường 55
2.2.2 Phân tích hiện trạng hỗ trợ bảo tồn tự nhiên 57
2.2.3 Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương 58
2.2.4 Vấn đề bảo vệ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 60
2.3 Nhận xét chung 62
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC KHU DU LỊCH SINH THÁI TẠI QUẢNG NAM 65
3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp phát triển 65
3.1.1 Định hướng phát triển du lịch tại Quảng Nam 65
3.1.2 Định hướng phát triển du lịch của các huyện và thành phố 67
3.2 Một số giải pháp phát triển khu du lịch tại Quảng Nam 70
3.2.1 Giải pháp về quản lý 70
3.2.2 Tăng cường vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng, vật chất - kỹ thuật 71
3.2.3 Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch 72
3.2.4 Phát triển nguồn nhân lực 74
3.2.5 Thu hút cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch 76
3.2.6 Tăng cường xúc tiến quảng bá các khu du lịch sinh thái 77
3.2.7 Bảo vệ môi trường 79
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 89
Trang 6UBND : Ủy ban nhân dân
UN Habitat : Chương trình Nhân cư Liên Hiệp Quốc
UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc VCCI : Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
2.1 Số lượng khách du lịch đến các KDL sinh thái tỉnh Quảng
Nam năm 2018
37
2.2 Thang điểm hoạt động KDL tỉnh Quảng Nam được đánh giá
theo nguyên tắc của du lịch sinh thái
55
2.3 Mức độ đảm bảo giáo dục và thuyết minh môi trường tại các
KDL sinh thái tỉnh Quảng Nam
56
2.4 Mức độ hỗ trợ bảo tồn (Điểm) và hỗ trợ chi phí bảo tồn từ
doanh thu của các KDL tỉnh Quảng Nam năm 2018
57
2.5 Nguồn lực lao động (Người) và mức độ thu hút cộng đồng địa
phương theo nguyên tắc DLST (Điểm
59
2.6 Mức độ bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc theo
nguyên tắc DLST
61
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu
2.1 Bảng thống kê mức độ hài lòng về CSVC - KT của khách du
lịch tại 3 KDL tỉnh Quảng Nam
2.5 Dịch vụ tại các khu du lịch sinh thái tỉnh Quảng Nam 40-41
2.6 Sự hài lòng của khách du lịch đối với chất lượng dịch tại các
KDL sinh thái tỉnh Quảng Nam
42
2.7 Số lượng và độ tuổi lực lượng lao động tại các KDL sinh thái
tỉnh Quảng Nam năm 2018
49
2.8
Mức độ hài lòng về chất lượng phục vụ của đội ngũ nhân viên
tại 3 KDL sinh thái tỉnh Quảng Nam
50
2.9
Bảng thống kê số lượng khách du lịch đến tham quan KDL
sinh thái tỉnh Quảng Nam thông qua các nguồn thông tin
52
Trang 9vì vậy, du lịch đã nằm trong chiến lược phát triển của rất nhiều quốc gia, trở thành lĩnh vực kinh tế quan trọng có đóng góp lớn trong sự phát triển của các nước
Cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội, ngành du lịch Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ với các con số tăng trưởng ấn tượng và nhiều sự kiện đáng nhớ Lợi thế của Việt Nam là một đất nước có điều kiện kinh tế và chính trị ổn định, thiên nhiên ưu ái ban tặng nhiều danh lam thắng cảnh độc đáo và kì thú, giàu di sản văn hóa và có bề dày lịch sử lâu đời Hơn nữa, chính sự thân thiện, bình dị và hiếu khách của con người Việt Nam đã khiến những địa điểm du lịch ở nước ta ngày càng trở nên hấp dẫn đối với khách du lịch trong và ngoài nước Hiện nay, ngày càng có nhiều loại hình du lịch ra đời giúp khách du lịch có nhiều sự lựa chọn, trong
đó có một trào lưu rất đáng được quan tâm là xu hướng giải trí thân thiện với môi trường tự nhiên Họ muốn chiêm ngưỡng và trải nghiệm những nơi chưa có sự can thiệp quá nhiều của bàn tay con người như bãi biển cát trắng, các làng mạc nông thôn còn nguyên sơ thay vì những khu resort cao cấp, khám phá những khu rừng nguyên sinh, con người và văn hóa bản địa hấp dẫn Bởi vậy có rất nhiều khu du lịch sinh thái được hình thành, phục vụ cho nhu cầu của khách du lịch
Cùng với sự phát triển của ngành du lịch nói chung thì du lịch sinh thái đã và đang phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu và trở thành mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia trong chiến lược phát triển du lịch Ngày nay, trong bối cảnh khi nền công nghiệp bùng nổ kéo theo môi trường bị ô nhiễm nặng nề thì loại hình DLST có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với con người, gắn liền với sứ mệnh bảo vệ môi trường được nhiều người lựa chọn và trở thành xu hướng du lịch trên toàn thế giới DLST được xem như một giải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường sinh thái hướng tới sự phát triển bền vững thông qua quá trình làm giảm sức ép khai thác nguồn lợi tự
Trang 10về tài nguyên du lịch chưa đủ mà quan trọng hơn hết đó là chất lượng dịch vụ du lịch, chất lượng chương trình du lịch để thu hút khách đến miền Trung Hòa chung với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch nước nhà, du lịch tỉnh Quảng Nam cũng đang
có những bước tiến vững chắc và ngày càng khởi sắc
Quảng Nam với hai di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận là Thánh địa Mỹ Sơn và Đô thị cổ Hội An cùng với nền văn hóa đa dạng, giàu bản sắc văn hóa, có tiềm năng lớn về phát triển du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng Khu du lịch sinh thái rừng dừa Bảy Mẫu (Hội An), Hồ Phú Ninh (Tam Kỳ) là những nơi du lịch tiêu biểu, có hệ sinh thái đa dạng và phong phú Bên cạnh đó, tại Quảng Nam còn có rất nhiều khu du lịch sinh thái khác như khu du lịch sinh thái Bồ
Bồ (Điện Bàn), Hà Gia (Điện Bàn), Hồ Phú Ninh (Tam Kỳ), Ao Xanh (Hội An),… Tuy vậy, những hoạt động tại các khu du lịch này vẫn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và tài nguyên vốn có Đóng góp của ngành du lịch Quảng Nam trong GDP còn khiêm tốn, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho kinh doanh du lịch chưa đồng bộ, nhiều khu du lịch tại Quảng Nam vẫn chưa được nhiều người biết đến
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, cần có những giải pháp để khắc phục những tồn đọng tại các khu du lịch, tạo điều kiện thuận lời cho sự phát triển du
lịch của tỉnh Chính vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển các khu du lịch sinh thái tại Quảng Nam” làm đề tài khóa luận của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, có nhiều đề tài nghiên cứu về phát triển khu du lịch và các loại hình du lịch Tuy nhiên, nghiên cứu về các thực trạng còn tồn đọng tại các khu du lịch, đặc biệt là các khu du lịch sinh thái tại Quảng Nam thì vẫn còn khá hạn chế
Có thể phân thành một số nhóm công trình sau:
- Nhóm công trình nghiên cứu về những vấn đề lý luận hoạt động dịch vụ du lịch tại các khu du lịch ở các địa phương tại Việt Nam:
Trang 113
+ Giáo trình “Tổng quan về du lịch và phát triển du lịch bền vững” do T.S
Nguyễn Bá Lâm chủ biên đã nghiên cứu, hệ thống các kiến thức cơ bản về vị trí của môi trường tự nhiên đối với sự phát triển du lịch bền vững và trách nhiệm Đồng thời đưa ra khái niệm về khu du lịch, những tác động của khu du lịch đến kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường và hiện trạng môi trường tại các khu du lịch ở nước
ta, đưa ra những giải pháp để khắc phục các hậu quả và bảo vệ môi trường
+ Luận văn Thạc sĩ “Nghiên cứu phát triển du lịch tại khu du lịch Suối Mỡ
(Bắc Giang) của Hoàng Đỗ Vân (2015) đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghiên
cứu, phát triển du lịch như đưa ra những nguyên tắc phát triển du lịch, điều kiện hình thành phát triển khu du lịch Bên cạnh đó, công trình này khái quát và đánh giá tiềm năng của khu du lịch Suối Mỡ và đánh giá thực trạng hoạt động phát triển của khu du lịch Suối Mỡ Từ đó đưa ra những bình luận kết quả và những mặt tồn tại của khu du lịch này và đưa ra một số giải pháp trước mắt và lâu dài cho khu du lịch Suối Mỡ
+ Khóa luận tốt nghiệp “Nghiên cứu, phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An - Ninh Bình” của sinh viên Nguyễn Thị Giang (2010), Đại học Dân
Lập Hải Phòng Công trình này đã điều tra, khảo sát và đánh giá khai thác tài nguyên du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp để phát huy những lợi thế, khắc phục những hạn chế còn tồn tại góp phần thúc đẩy khu du lịch Tràng An phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có tại nơi đây
+ Khóa luận tốt nghiệp “Đánh giá của khách du lịch về chất lượng dịch vụ các khu du lịch tại xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng” của sinh
viên Đặng Thị Mỹ Thật (2018), Khoa Lịch Sử - Đại học Sư Phạm Đà Nẵng Đây là công trình nghiên cứu về hoạt động du lịch và đánh giá của khách du lịch về chất lượng dịch vụ ở các khu du lịch tại xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng Trên cơ sở đó, đề xuất những định hướng và giải pháp cho việc phát triển du lịch tại các khu du lịch thuộc xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng Đồng thời kết quả nghiên cứu là cơ sở để các khu du lịch có định hướng, chính sách phát triển đúng đắn, điều chỉnh kịp thời những hoạt động của khu du lịch theo hướng bền vững, ngày càng thu hút khách du lịch hơn và đặc biệt đây cũng là công trình tham khảo cho sinh viên và những ai quan tâm tìm hiểu về các khu du lịch tại
xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Trang 124
- Nhóm công trình nghiên cứu về khu du lịch, khu du lịch sinh thái tại Quảng Nam:
+ Đề tài nghiên cứu khoa học “Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái vùng
Hồ Phú Ninh - Tỉnh Quảng Nam” của nhóm sinh viên Nguyễn Phú và Huỳnh Thị
Kim Ngân, Phan Thị Hồng Diên và Bùi Văn Quyết, Khoa Địa lý - Đại học Sư Phạm
Đà Nẵng thực hiện Công trình này của nhóm tác giả đã nghiên cứu về những thế mạnh để có thể phát triển du lịch Quảng Nam nói chung và du lịch sinh thái tại hồ Phú Ninh nói riêng Mặc dù giàu tiềm năng như vậy nhưng du lịch sinh thái ở hồ Phú Ninh vẫn chưa được đầu tư, khai thác một cách tương xứng với tiềm năng vốn
có của hồ Chính vì vậy, nhóm tác giả đã nghiên cứu những “Tiềm năng du lịch sinh thái vùng hồ Phú Ninh - tỉnh Quảng Nam”, trên cơ sở đó đưa ra những giải
pháp để có thể khắc phục những sai xót của công tình đang trong quy hoạch và góp một phần nhỏ vào việc giới thiệu về khu du lịch thuộc vùng hồ đến với khách du lịch trong và ngoài tỉnh
Ngoài ra, còn một số bài báo, bài viết trên các website giới thiệu về các khu
du lịch tại Quảng Nam như: Những điểm vui chơi không thể bỏ qua ở Quảng Nam, Yên bình rừng dừa ở Cẩm Thanh, Quảng Nam - Hồ Phú Ninh mùa nước cạn đjep như tranh vẽ, Du lịch Quảng Nam có gì, Tổng hợp những địa điểm du lịch ở Quảng Nam…
Tuy nhiên, trong các công trình đã công bố chưa có công trình nghiên cứu
hay đề tài nào liên quan trực tiếp đến “Thực trạng và giải pháp phát triển các khu
du lịch sinh thái tại Quảng Nam” Chính vì vậy đây là đề tài mới, không có sự trùng
lặp với các đề tài hay tài liệu, các công trình nghiên cứu trước đó Mặc dù vậy, những công trình nghiên cứu, luận văn, bài báo… là cơ sở để tôi có thể hoàn thành tốt đề tài của mình
Trang 135
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các khu du lịch sinh thái tại Quảng
Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi tại các khu
du lịch sinh thái tại Quảng Nam Bao gồm Khu du lịch sinh thái Rừng Dừa Bảy Mẫu (Hội An), Khu du lịch sinh thái Hồ Phú Ninh (Tam Kỳ), Khu du lịch sinh thái Thủy điện Duy Sơn II (Duy Xuyên)
Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng hoạt động du lịch và những
đánh giá của khách du lịch về chất lượng dịch vụ của các khu du lịch tại Quảng Nam từ năm 2014 đến năm 2018
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, tôi sử dụng các nguồn tư liệu sau:
- Tư liệu thành văn:
+ Sách chuyên ngành
+ Các bài viết trong sách báo, tạp chí
+ Luận văn thạc sĩ, tiến sĩ
+ Khóa luận tốt nghiệp, công trình nghiên cứu khoa học
+ Bài viết trên các trang web điện tử: google.com, dulichdanang.biz.vn, quangnamtourism.com, doc.edu.vn, quangnam.gov.vn, qso.gov.vn,…
- Tư liệu thực địa: Phỏng vấn ý kiến của người dân, quản lý khu du lịch,
chính quyền địa phương và số liệu thống kê tại khu du lịch là nguồn tài liệu đặc biệt quan trọng góp phần tạo nên thành công của đề tài Thông qua việc tìm hiểu thực tế tôi đã có cái nhìn chính xác và chân thực hơn những lý thuyết có trên tài liệu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu
sau:
Trang 146
5.2.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi sử dụng các phương pháp logic, lịch sử, địa lý liên quan đến đề tài, từ đó khái quát hóa, mô hình hóa các tư liệu có được để trình bày các vấn đề một cách thuyết phục và tốt nhất
5.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Sau khi thu thập các phiếu khảo sát, tôi tiến hành xử lý số liệu bằng phần mềm Excel, nhằm khẳng định các số liệu thu thập được đảm bảo tính khả thi, chính xác Đây là phương pháp giúp ta thành lập ngân hàng số liệu và nhận rõ những đánh giá của khách du lịch về các tiêu chí chất lượng dịch vụ tại các khu du lịch
5.2.3 Phương pháp biểu đồ, bản đồ và bảng số liệu
Phương pháp sử dụng biểu đồ, bản đồ, bảng số liệu là một phương pháp mang tính chất khoa học Đó là những con số cụ thể được biểu diễn dưới hình thức những bản số liệu chung, là những biểu đồ, bản đồ mang tính chất minh họa vấn đề Việc sử dụng biểu đồ, bản đồ, bảng số liệu sẽ góp phần đem lại tính trực quan, sinh động cho bài nghiên cứu Sử dụng các biểu đồ và bản đồ để khái quát, phân tích và nhận xét làm rõ vấn đề đặt ra trong đề tài Đồng thời, đây cũng chính là yếu tố mang tính chất minh chứng cho vấn đề đã đặt ra trong bài nghiên cứu, là cơ sở toán học giúp cho bài nghiên cứu đảm bảo tính chính xác, logic và khoa học
5.2.4 Phương pháp khảo sát thực địa
Đây là phương pháp nghiên cứu truyền thống để khảo sát thực tế, áp dụng việc nghiên cứu lý luận gắn với thực tiễn, bổ sung cho lý luận ngày càng hoàn chỉnh hơn Việc có mặt tại thực địa trực tiếp quan sát và tìm hiểu thông tin từ những người
có trách nhiệm là rất cần thiết Quá trình thực địa giúp cho tài liệu thu thập được phong phú hơn, giúp cho việc học tập nghiên cứu đạt hiệu quả cao và có một tầm nhìn khách quan để nghiên cứu đề tài Đây là phuơng pháp vô cùng quan trọng để thu thập đuợc những thông tin xác thực cho đề tài tăng tính thuyết phục
5.2.5 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Phương pháp này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nghiên cứu đề tài Sử dụng phương pháp này để phỏng vấn trực tiếp một số du khách tham gia du lịch tại khu du lịch và những người có trách nhiệm quản lý khu du lịch, những người cung cấp dịch vụ cho khách du lịch Từ đó có thể biết được tính hấp dẫn của
Trang 157
khu du lịch, tâm tư nguyện vọng của khách du lịch cũng như của người dân địa phương Vì vậy, tôi chọn phương pháp này nhằm tổng hợp ý kiến của các bên có liên quan một cách khách quan nhất để đề tài hoàn thiện của mình
6 Đóng góp của đề tài
- Về mặt khoa học:
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về thực trạng của các khu du lịch sinh thái tại Quảng Nam Đồng thời nghiên cứu về hoạt động du lịch cũng như mức độ hài lòng của khách du lịch tại các khu du lịch sinh thái tỉnh Quảng Nam
+ Là công trình tham khảo cho sinh viên và những ai quan tâm tìm hiểu về
các khu du lịch sinh thái tại Quảng Nam
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung và tổng quan về tỉnh Quảng Nam
Chương 2: Thực trạng hoạt động của các khu du lịch tại tỉnh Quảng Nam Chương 3: Định hướng và một số giải pháp phát triển khu du lịch tại Quảng
Nam
Trang 168
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VÀ TỔNG QUAN VỀ TỈNH
QUẢNG NAM 1.1 Cơ sở lý luận chung
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Khu du lịch
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay, không chỉ ở nước ta, nhận thức về nội dung du lịch, khách
du lịch hay khu du lịch vẫn chưa thống nhất Do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc
độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu về khu du lịch khác nhau Do vậy có bao nhiêu tác giả nghiên cứu về khu du lịch thì có bấy nhiêu định nghĩa
Dưới cái nhìn của các nhà kinh doanh du lịch, khu du lịch được khái niệm
như sau: “Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút khách du lịch, lấy hoạt động du lịch làm chức năng; có diện tích cần thiết (vài trăm hoặc vài ngàn héc ta) để xây dựng các công trình cơ sở dịch vụ du lịch phù hợp với cảnh quan, môi trường của khu du lịch; có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật
du lịch đảm bảo phục vụ khách du lịch phù hợp với đặc điểm của khu du lịch” [20]
Theo TS Nguyễn Bá Lâm: “Khu du lịch là đơn vị cơ bản của công tác quy hoạch và quản lý du lịch, là không gian có môi trường đẹp, cảnh vật tương đối tập trung, là tổng thể về địa lý lấy chức năng du lịch làm chính” [56]
Như vậy, có thể nói: “Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với
ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường” [17]
1.1.1.2 Du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái là một khái niệm tương đối mới và đã mau chóng thu hút được thu hút sự quan tâm của nhiều người, thuộc các lĩnh vực khác nhau Đây là khái niệm rộng, được hiểu khác nhau từ những góc độ khác nhau Đối với một số
người, “du lịch sinh thái” đơn giản được hiểu là sự kết hợp ý nghĩa của 2 từ “du lịch” và “sinh thái” vốn đã quen thuộc Song đứng ở góc nhìn rộng hơn, tổng quát
Trang 179
hơn thì một số người quan niệm DLST là du lịch thiên nhiên, là khái niệm mà trong
thực tế đã xuất hiện từ đầu những năm 1800 (Ashton, 1993) Với khái niệm này,
mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như biển, núi,… đều được hiểu
là DLST Dưới nhiều góc độ khác nhau, DLST là loại hình du lịch thiên nhiên, hỗ trợ các hoạt động bảo tồn và được quản lí bền vững về mặt sinh thái [29]
Định nghĩa của Hiệp hội DLST, 1993: " Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm tại các điểm tự nhiên, kết hợp với bảo vệ môi trường và cải thiện phúc lợi của người dân địa phương" [29].
Theo Ceballos - Lascurorin, 1996: "Du lịch sinh thái là tham quan và du lịch
có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hoá đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra, và tạo ra ích lợi cho những người dân địa phương tham gia tích cực” [29]
Theo Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN): “DLST là loại hình du lịch và tham quan có trách nhiệm với môi trường tại những vùng còn tương đối nguyên sơ để thưởng thức và hiểu biết thiên nhiên (có kèm theo các đặc trưng văn hoá - quá khứ cũng như hiện tại) có hỗ trợ đối với bảo tồn, giảm thiểu tác động từ
du khách, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của nhân dân địa phương.” [58]
Theo Tổng cục du lịch: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
[18]
Như vậy, DLST là loại hình du lịch sinh thái có trách nhiệm đối với môi trường ở các khu thiên nhiên còn tương đối hoang sơ với mục đích thưởng ngoạn thiên nhiên và các giá trị văn hóa kèm theo, thúc đẩy công tác bảo tồn, ít tác động tiêu cực đến môi trường và tạo các ảnh hưởng tích cực về mặt kinh tế - xã hội cho cộng đồng địa phương
Trang 1810
1.1.1.3 Khu du lịch sinh thái
Từ khái niệm khu du lịch và du lịch sinh thái, có thể hiểu khu du lịch sinh thái là khu vực có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển gắn với văn hóa bản địa và có sự tham gia vào hoạt động du lịch của cộng đồng địa phương, giáo dục con người về bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ môi trường đồng thời đem lại hiệu quả về kinh tế cho cộng đồng địa phương đó
1.1.2 Khu du lịch sinh thái
1.1.2.1 Phân loại
Dựa theo phân loại của DLST, có thể phân chia KDL sinh thái thành hai loại
theo quy mô:
* Khu du lịch quốc gia
- Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn với ưu thế về cảnh quan thiên nhiên,
có khả năng thu hút nhiều khách du lịch
- Có diện tích tối thiểu là một nghìn héc ta
- Có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất một triệu lượt khách du lịch một năm
- Có quy hoạch phát triển khu du lịch được cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Có mặt bằng, không gian đáp ứng yêu cầu của các hoạt động tham quan,
nghỉ ngơi, giải trí trong khu du lịch
- Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch và dịch vụ đạt tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành
- Có cơ sở lưu trú du lịch, khu vui chơi giải trí, thể thao và các cơ sở dịch vụ
đồng bộ khác
* Khu du lịch địa phương
- Có tài nguyên du lịch hấp dẫn
- Có diện tích tối thiểu là hai trăm héc ta
- Có khả năng bảo đảm phục vụ tối thiểu một trăm nghìn lượt khách du lịch
một năm [61]
Trang 1911
1.1.2.2 Nguyên tắc hoạt động
Hiện nay, khi đưa các hoạt động vào KDL sinh thái, các nhà kinh doanh KDL sinh thái hầu như đều xem xét các hoạt động trong kdl sinh thái theo nguyên tắc của DLST để vừa đáp ứng được nhu cầu khi đi du lịch của khách du lịch, vừa bảo vệ môi trường cũng như cảnh quan tại KDL sinh thái
Thứ nhất, KDL sinh thái tác động tối thiểu lên tài nguyên tự nhiên, bảo vệ
môi trường và duy trì hệ sinh thái
Cũng như hoạt động DLST, hoạt động của các khu du lịch luôn tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với môi trường và tự nhiên KDL sinh thái là nơi có tài nguyên thiên nhiên hấp dẫn và thu hút khách du lịch dựa vào cảnh quan môi trường Mặt khác, hoạt động trong KDL sinh thái gắn với hoạt động DLST thì phải dựa vào tài nguyên tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình Vì vậy, sự xuống cấp của nguồn tài nguyên, sự suy thoái của hệ sinh thái đồng nghĩa với sự đi xuống của KDL
Thứ hai, KDL sinh thái thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương vào
hoạt động du lịch Đồng thời, thu hút khách du lịch sinh thái đến tham quan với mục đích trải nghiệm với thiên nhiên thông qua các nhà điều hành tour
KDL sinh thái luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương, như đảm nhiệm vai trò hướng dẫn viên, chỗ ở, cung ứng các nhu cầu về thực phẩm, hàng lưu niệm cho khách,… thông qua đó sẽ tạo thêm việc làm tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương
Thứ ba, KDL sinh thái bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá cộng đồng
Đây được xem là một trong những nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động DLST trong KDL, bởi các giá trị văn hoá bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của các giá trị môi trường của hệ sinh thái ở một khu vực cụ thể
Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục, sinh hoạt văn hoá truyền thống của cộng đồng địa phương dưới tác động nào đó sẽ làm mất đi sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của khu vực và vì vậy sẽ làm thay đổi hệ sinh thái đó Hậu quả của quá trình này sẽ tác động trực tiếp đến KDL Chính vì vậy, việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá cộng đồng địa phương có ý nghĩa quan trọng và là nguyên tắc hoạt động của KDL
Thứ tư,tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương
Trang 2012
Đây vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng tới của KDL gắn với hoạt động DLST Nếu như các loại du lịch thiên nhiên khác ít quan tâm đến vấn đề này và phần lớn lợi nhuận từ các hoạt động đều thuộc về các Công ty du lịch thì ngược lại hoạt động DLST trong KDL sẽ dành một phần đáng kể lợi nhuận để đóng góp nhằm
cải thiện môi trường sống của cộng đồng địa phương
Thứ năm, giáo dục nâng cao nhận thức và hiểu biết khả năng hưởng thụ của
khách du lịch và tăng cường sự tham gia của họ vào công tác bảo tồn
Nguyên tắc hoạt động của KDL có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường Qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa
KDL với các loại hình du lịch dựa vào tự nhiên khác
Khách du lịch khi rời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ phải có được sự hiểu biết cao hơn về các giá trị của môi trường tự nhiên về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hoá bản địa Với những hiểu biết đó, thái độ cư xử của khách du lịch sẽ thay đổi, được thể hiện bằng những nỗ lực tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển những giá trị về tự nhiên, sinh thái và văn hoá du lịch
Cuối cùng, KDL sinh thái mang lại trải nghiệm thú vị cho khách về thiên nhiên và văn hóa bản địa Đây là một trong những nguyên tắc khá quan trọng trong việc quay trở lại của khách du lịch Để có thể thu hút khách du lịch, KDL sinh thái đưa vào các hoạt động vui chơi trải nghiệm đặc sắc và những giá trị văn hóa truyền thống từ cộng đồng địa phương
1.1.2.3 Vai trò
Điểm du lịch hay khu du lịch đều là điểm đến du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch của một đất nước và một địa phương Không có điểm đến du lịch sẽ không phát triển du lịch, vì thế KDL nói chung và KDL sinh thái nói riêng có những vai trò cơ bản sau:
- Về mặt kinh tế:
Thứ nhất, KDL sinh thái thu hút khách du lịch đến tham quan và du lịch
KDL sinh thái không hấp dẫn thì sức thu hút khách du lịch sẽ bị hạn chế Các doanh nghiệp lữ hành sẽ không có cơ sở để xây dựng các chương trình du lịch liên kết với KDL sinh thái và không thể giới thiệu văn hóa bản địa đến khách du lịch Điều này
Trang 2113
khiến cho việc thu nhập kinh tế không đạt hiệu quả cao Vì vậy, KDL sinh thái đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác các giá trị thiên nhiên, đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch, thu hút khách du lịch, góp phần phát triển kinh tế của vùng
Thứ hai, KDL sinh thái là nơi xuất khẩu vô hình và xuất khẩu tại chỗ với giá trị kinh tế cao Các giá trị tự nhiên và giá trị văn hóa, đặc biệt là các giá trị văn hóa
vật thể và phi vật thể là tài sản của quốc gia, địa phương và cộng đồng cần được gìn giữ Những giá trị này không thể mang ra thị trường bán được mà chỉ có thể thu hút khách du lịch đến tham quan chiêm ngưỡng Nếu người làm du lịch có trí tuệ và sức sáng tạo ra những ý tưởng phù hợp với nhu cầu của khách du lịch để khai thác các giá trị văn hóa này thì sẽ thu được nhiều ngoại tệ thông qua việc thu vé tham quan
và dịch vụ hướng dẫn tham quan Sau khi khách tham quan và cảm thụ các giá trị văn hóa và thiên nhiên này không mất đi, mà ngày càng được tôn tạo và gìn giữ tốt
hơn Nguồn thu từ vé tham quan bằng ngoại tệ, các nhà kinh tế gọi là “xuất khẩu vô hình” Các sản phẩm này khi được sản xuất ra sẽ được tiêu thụ tại chỗ, tiết kiệm
được rất nhiều khoản chi phí khi xuất khẩu hàng hóa này ra thị trường như chi phí
về vận chuyển, chi phí bảo quản, chi phí lưu kho, lưu bãi, chi phí hao hụt trong quá trình vận chuyển nhưng lại bán được giá cao hơn giá thị trường
Thứ ba, KDL sinh thái là nơi thực hiện tái phân chia nguồn thu nhập giữa các
địa phương, giữa các tầng lớp dân cư và làm tăng giá trị của hàng hóa Khách du lịch nội địa đem tiền kiếm được từ một địa phương này sang địa phương khác tiêu dùng, như vậy địa phương đón khách sẽ có thu nhập và dân cư ở địa phương này cũng có thu nhập từ việc bán hàng hóa và dịch vụ cho khách Hàng hóa và dịch vụ này nếu bán cho cư dân của địa phương thì giá sẽ rẻ, nhưng khi bán cho khách du lịch tại các khách sạn, nhà hàng giá sẽ cao hơn dẫn đến làm gia tăng giá trị của hàng hóa và dịch vụ
Thứ tư, KDL sinh thái giữ vai trò quan trọng trong việc liên kết các ngành
nghề lại với nhau Phát triển điểm đến du lịch nói chung và khu du lịch nói riêng là động lực để thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển
Để có thể tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu đa dạng cho khách du lịch thì KDL sinh thái sẽ phải nhập về nhiều sản phẩm từ các ngành nông nghiệp, thủy hải sản, công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, công nghiệp hàng tiêu dùng,
Trang 22+ Giới thiệu về truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc, đất nước và con người đến khách du lịch nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, xây dựng tình đoàn kết hữu nghị, hòa bình với các dân tộc khác nhau trên thế giới
+ Bảo tồn và khai thác những giá trị di sản văn hóa, lịch sử truyền thống của dân tộc, phục vụ cho khách du lịch
+ Bảo vệ và phát triển các loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian truyền thống bởi mục tiêu của con người khi đi du lịch là tìm hiểu văn hóa và phong tục tập quán của địa phương thông qua các làn điệu dân ca, múa, kịch đặc sắc và độc đáo
+ Thúc đẩy việc nâng cao nhận thức cho người dân thông qua việc mở rộng tầm nhìn, tăng cường sự hiểu biết, nâng cao lòng tự hào dân tộc, truyền thống lịch
sử, văn hóa của địa phương
- Về mặt xã hội:
KDL tạo công ăn, việc làm, xóa đói, giảm nghèo ở những vùng sâu, vùng xa,
vùng nghèo đói Du lịch là một ngành dịch vụ nên cần rất nhiều người phục vụ, không chỉ những người trực tiếp phục vụ mà cả những người gián tiếp phục vụ Mặt khác, các khu du lịch, các khu nghỉ dưỡng, các sân golf thường được xây dựng ở
những vùng ven biển, vùng núi, vùng dân cư vẫn còn nghèo sẽ làm thay đổi diện mạo của khu vực và tạo ra thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm của địa phương
giúp người dân có việc làm, có thu nhập
1.2 Tổng quan về tỉnh Quảng Nam
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình
Trang 23Quảng Nam cũng được xem là trung tâm của Đông Nam, tiếp giáp với Đà Nẵng và Thừa Thiên - Huế ở phía Đông Bắc và Bắc, tiếp giáp với Quảng Ngãi và Kon Tum ở Nam và Đông Nam, phía Tây giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, phía Đông giáp với biển Đông rộng lớn Quảng Nam có ba tuyến đường xuyên Việt đi qua là quốc lộ 1A dài 85km, đường Hồ Chí Minh và tuyến đường sắt Bắc Nam Ngoài ra, còn có tuyến QL14 nối với Tây Nguyên Vị trí gần với đường biển quốc tế (cách 198km) Đồng thời, Quảng Nam thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, là ngã ba của khu vực miền Trung - Tây Nguyên, nằm trên hành lang kinh tế Đông - Tây, và là một phần quan trọng trên Con đường di sản miền Trung Chính vì vậy, vị trí địa lý của Quảng Nam rất thuận lợi cho việc phát triển ngành du lịch
*Đặc điểm địa hình
Theo Tổng cục thống kê (2017), diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Nam là 1.057,5 nghìn ha với địa hình tỉnh Quảng Nam tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông đã hình thành ba vùng sinh thái: vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng và ven biển; bị chia cắt theo các lưu vực sông Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ có mối quan hệ bền chặt về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái đa dạng với các hệ sinh thái đồi núi, đồng bằng, ven biển
Địa hình Quảng Nam có thể được chia thành 2 khu vực địa hình: Khu vực trung du miền núi phía Tây và khu vực đồng bằng ven biển ở phía Đông
+ Khu vực trung du, miền núi chiếm diện tích lớn nhất, 8006,1 km2, chiếm 76,7% diện tích, được chia thành hai khu vực gồm địa hình núi cao và trung du Trong đó, khu vực núi cao có các huyện Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Bắc và Nam Trà My Độ cao chủ yếu trên 1000m với hệ thống rừng nguyên sinh có hệ động, thực vật phong phú, nơi bắt nguồn hầu hết các con sông
Trang 2416
lớn Nơi đây có điều kiện phát triển du lịch sinh thái, văn hóa cộng đồng, phát triển cây công nghiệp, các cây ăn quả, chăn nuôi gia súc tạo nguồn sản phẩm phục vụ du lịch
+ Khu vực đồng bằng ven biển nằm hạ lưu của sông Thu Bồn với 2425,8
km2 chiếm 23,3% diện tích toàn tỉnh, có địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ, dân
cư đông đúc, nền văn hóa đa dạng [33] Khu vực này tập trung hầu hết các làng nghề truyền thống, các di tích lịch sử văn hóa, di sản, các bãi biển, các cơ sở vật chất phục vụ du lịch
Ngoài ra, còn có dạng địa hình ven biển với chiều dài đường bờ biển trên
125 km bờ biển và nhiều bãi tắm sạch cùng với 15 hòn đảo lớn nhỏ ngoài khơi Đây
là một trong những tiềm năng lớn để phát triển du lịch Quảng Nam
1.2.1.2 Khí hậu
Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, chỉ có 2 mùa là mùa khô và mùa mưa, ít chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc Nhiệt độ trung bình năm 20 - 210C, không có sự cách biệt lớn giữa các tháng trong năm Lượng mưa trung bình 2.000 - 2.500 mm nhưng phân bố không đều theo thời gian
và không gian, mưa ở miền núi nhiều hơn đồng bằng, mưa tập trung vào các tháng 9
- 12, chiếm 80% lượng mưa cả năm [38] Mùa mưa trùng với mùa bão, nên các cơn bão đổ vào miền Trung thường gây ra lở đất, lũ quét ở các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang và ngập lụt ở các huyện đồng bằng
Tại Quảng Nam, thời gian hợp lí nhất để khai thác du lịch là từ tháng 1 đến tháng 8 vì vào thời điểm này thời tiết tại Quảng Nam ấm áp và khô ráo Tuy vào tháng 7, nhiệt độ có đạt giá trị cao nhưng vì địa phương ở ven biển nên hơi nước từ biển thổi vào cũng làm nhiệt độ được giảm bớt, vẫn phù hợp cho việc tham quan du lịch của khách du lịch Ngoài ra những tháng này thuộc thời điểm sau mùa mưa nên các nguồn thủy văn của địa phương cũng sẽ dồi dào, làm cho nhiều cảnh quan thiên nhiên như suối, hồ thêm đẹp, hùng vĩ
1.2.1.3 Tài nguyên
- Tài nguyên đất:
Tổng diện tích tự nhiên của Quảng Nam là 1.057,5 nghìn ha được hình thành
từ chín loại đất khác nhau gồm cồn cát và đất cát ven biển, đất phù sa sông, đất phù
Trang 2517
sa biển, đất xám bạc màu, đất đỏ vàng, đất thung lũng, đất bạc màu xói mòn trơ sỏi đá, Nhóm đất phù sa ven sông là nhóm đất quan trọng nhất trong phát triển cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày Nhóm đất đỏ vàng vùng đồi núi thuận lợi cho trồng rừng, cây công nghiệp và cây ăn quả dài ngày Nhóm đất cát ven biển đang được khai thác cho mục đích nuôi trồng thủy sản
Trong tổng diện tích đó, diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất (63,1%), kế tiếp là đất dành cho sản xuất nông nghiệp, đất thổ cư và đất chuyên dùng
Bảng 1.1: Tài nguyên đất của Quảng Nam
STT Loại đất Tổng diện tích (nghìn ha) Tỷ lệ (%)
[Nguồn: Theo Tổng cục thống kê năm 2016]
Tỉnh Quảng Nam có 671.997 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên là 455 506 ha, rừng trồng là 216 419 ha, tỷ lệ che phủ đạt 40,9%, khai thác gỗ rừng trồng tập trung 2.357 ha với tổng trữ lượng gỗ khoảng 150 m3 [41]
- Tài nguyên nước:
Quảng Nam có trên 125 km bờ biển thuộc các huyện: Điện Bàn, Hội An, Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ, Núi Thành Ngoài ra còn có 15 hòn đảo lớn nhỏ ngoài khơi, 10 hồ nước với 6000 ha mặt nước Có 941 km sông ngòi tự nhiên, đang quản lý và khai thác 307 km sông, chiếm 32,62% gồm 11 sông chính [52] Hệ thống sông hoạt động chính gồm 2 hệ thống: sông Thu Bồn và sông Trường Giang, hai hệ thống sông này đều đổ ra biển Đông theo 3 cửa sông: sông Hàn, Cửa Đại và Kỳ Hà
Theo kết quả nghiên cứu của Đề tài khoa học cấp tỉnh “Giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”, do Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng Trường Đại học Mỏ - Địa chất thực hiện từ năm 2014 - 2016, lượng nước mưa rơi trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Nam khoảng 30,7 tỉ m3/năm, trong khi đó tổng lượng bốc hơi trên toàn diện tích bề mặt của tỉnh là 8,8 tỉ m3/năm, nên trữ lượng nước tiềm năng dưới
Trang 26cùng hệ thống kênh mương tương đối hoàn chỉnh, đã chủ động tưới trên 80% diện tích cây trồng [50]
Trong hệ thống sông suối ở Quảng Nam, sông Thu Bồn được xem là dòng
“sông mẹ”, có vai trò đặc biệt trong quá trình phát triển đời sống của người dân đất Quảng Sông Thu Bồn được ví như là dòng sông văn hóa - dòng sông di sản Sông Thu Bồn có vai trò rất lớn trong quá trình hình thành Mỹ Sơn và Hội An Hai bên sông Thu Bồn từ thượng nguồn đến hạ du là hệ thống các làng nghề truyền thống, làng quê, các di tích lịch sử, các di sản, các lễ hội có giá trị cho phát triển du lịch Trong khi đó, Trường Giang là một dòng sông đặc biệt Sông có hai cửa, phía Bắc
đổ ra Cửa Đại tại Hội An, phía Nam đổ ra vịnh An Hòa Sông chạy dọc theo bờ biển tạo thành những dạng địa hình sông nước - cồn cát hết sức đặc trưng với nhiều giá trị văn hóa, sinh thái được hình thành hai bên bờ sông
Quảng Nam có nhiều hồ kết hợp thủy điện và thủy lợi có cảnh quan đẹp có
thể khai thác cho phát triển du lịch như: Hồ Phú Ninh, hồ Việt An, hồ Thạch Bàn,
hồ Phước Hà, Đắk Mi, hồ Duy Sơn Hệ thống các hồ có hệ sinh thái đa dạng, cảnh quan đẹp là tiền đề quan trọng để phát triển các loại hình DLST, nghỉ dưỡng, thể thao Mỗi hồ nước có tiềm năng trở thành những điểm du lịch hấp dẫn Trong đó,
hồ Phú Ninh đã trở thành điểm du lịch hấp dẫn ở Quảng Nam và vùng Nam Trung
Bộ
Trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn của tỉnh Quảng Nam phát triển nhiều công trình thủy điện vừa và nhỏ Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 42 dự án thủy điện vừa và nhỏ được phê duyệt, trong đó có 17 công trình đã phát điện với tổng công suất 1.030,96 MW; điện lượng bình quân năm 3.921,85 triệu kWh/năm, 09 công trình đang xây dựng và 16 công trình đang rà soát chuẩn bị đầu tư [50]
Trang 2719
- Tài nguyên khoáng sản:
Quảng Nam là tỉnh có tiềm năng tương đối lớn về khoáng sản, vừa phong phú về chủng loại vừa đa dạng về nguồn gốc, đặc biệt là tài nguyên quặng phóng xạ
đi kèm trong 1 số khoáng sản như đất hiếm, than, graphit, photphat, pegmatit, đa kim… với trữ lượng quặng nhiều nhất và chất lượng quặng tốt nhất cả nước Hiện nay, toàn tỉnh có khoảng 45 loại khoáng sản, một số khoáng sản có giá trị được phát hiện có trữ lượng lớn, đã được thăm dò và đưa vào khai thác
Hiện nay, Quảng Nam có 726 điểm mỏ với tổng diện tích là 5.914,95ha,
trong đó: một số mỏ vàng có trữ lượng lớn đang được khai thác như Bồng Miêu (trữ lượng khoảng 12.388 kg), Đăk Sa (trữ lượng khoảng 7.210 kg) [54] Than đá có 3
mỏ đang được khai thác là Nông Sơn, Ngọc Kinh, An Điềm với tổng trữ lượng
khoảng 13 triệu tấn Uran đã phát hiện và ghi nhận 4 mỏ với trữ lượng khoảng trên
14 ngàn tấn và phân bố tập trung ở Thạnh Mỹ Felspat có 3 mỏ là Đại Lộc, Đại An, Lộc Quang với trữ lượng khoảng 1,84 triệu tấn Cát thủy tinh hiện đã ghi nhận 5 mỏ
là Hương An (Quế Sơn), Bình Tú, Tân An, Khương Đại, Liễu Trì (Thăng Bình) và
1 điểm khoáng sản Tam Anh (Núi Thành) với tổng trữ lượng trên 160 triệu tấn Đá xây dựng phân bố ở nhiều nơi trên địa bàn tỉnh, một số mỏ đã được thăm dò và đang khai thác như granit Núi Kiến - Đa Hàm (Quế Sơn), granittogneis (Núi Thành) và
một số mỏ đã và đang được điều tra, tổng trữ lượng có thể trên 100 triệu m3
Đá vôi
có 2 mỏ là A Sờ và Thạnh Mỹ với trữ lượng trên 600 triệu tấn; Cát, cuội, sỏi thường
phân bố ở bãi bồi ven hệ thống các sông của tỉnh với trữ lượng khá lớn [34]
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Theo dòng lịch sử, Quảng Nam từng là đất đóng đô của một vương quốc cổ
có thời gian tồn tại 15 thế kỷ Đất Quảng Nam xưa kia thuộc lãnh thổ Chiêm Thành Năm 1306, vua Chiêm Thành là Chế Mân dâng đất này cho Đại Việt để làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân Người Việt bắt đầu đến đây khai phá, mở mang bờ c i Thời vua Lê Thánh Tông, đất Quảng Nam thuộc phủ Hoài Nhơn, thừa tuyên Quảng Nam Năm 1490, thừa tuyên Quảng Nam đổi thành xứ Quảng Nam Năm Giáp Tý
1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát đổi xứ Quảng Nam thành dinh Quảng Nam Năm
1832, vua Minh Mạng đổi dinh Quảng Nam thành tỉnh Quảng Nam
Trang 2820
Thời Việt Nam Cộng Hoà, tỉnh Quảng Nam được chia thành hai đơn vị hành chính: tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Tín Tỉnh Quảng Nam ở phía Bắc, bao gồm các quận: Hoà Vang, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Đức Dục, Hiếu Nhơn, Quế Sơn, Hiếu Đức, và Thường Tín Tỉnh Quảng Tín ở phía Nam, bao gồm các quận: Thăng Bình, Tiên Phước, Hậu Đức, Lý Tín, Hiệp Đức và Tam Kỳ
Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975, tỉnh Quảng Nam, tỉnh Quảng Tín và thành phố Đà Nẵng hợp nhất thành tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng Ngày 01/01/1997, tại kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khoá X, tỉnh Quảng Nam được tái lập từ việc chia tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thành hai đơn vị hành chính trực thuộc trung ương: thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam Tỉnh Quảng Nam có 12 huyện gồm Giằng, Hiên, Đại Lộc, Phước Sơn, Duy Xuyên, Điện Bàn, Quế Sơn, Thăng Bình, Hiệp Đức, Tiên Phước, Trà My, Núi Thành và 2 thị xã: Tam Kỳ, Hội
An
Ngày 16/08/1999, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số
71/1999/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập phường, xã thuộc thị xã Hội
An, huyện Hiên và đổi tên huyện Giằng, tỉnh Quảng Nam
Ngày 20/06/2003, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số
72/2003/NĐ-CP, về việc chia tách huyện Hiên thành các huyện Đông Giang và Tây Giang, huyện Trà My thành các huyện Bắc Trà My và Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam
Ngày 29/09/2006, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 113/2006/NĐ-CP, nâng cấp thị xã Tam Kỳ lên thành phố Tam Kỳ trên cơ sở toàn
bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Tam Kỳ với 9.263,56 ha diện tích tự nhiên
và 123.662 nhân khẩu, có 13 đơn vị Hành chính, gồm các phường: An Mỹ, An Sơn, Hoà Hương, Phước Hoà, An Xuân, An Phú, Trường Xuân, Tân Thạnh, Hoà Thuận
và các xã: Tam Thăng, Tam Thanh, Tam Phú, Tam Ngọc
Ngày 29/01-2008, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số
10/2008/NĐ-CP, thành lập thành phố Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam trên cơ sở toàn bộ diện tích
tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Hội An Thành phố Hội An có 6.146,88 ha diện tích tự nhiên và 121.716 nhân khẩu, có 13 đơn vị hành chính, gồm các phường: Minh An, Sơn Phong, Cẩm Nam, Cẩm Phô, Thanh Hà, Tân
Trang 2921
An, Cẩm Châu, Cẩm An, Cửa Đại và các xã: Cẩm Hà, Cẩm Thanh, Cẩm Kim, Tân Hiệp
Ngày 08/04/2008, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số
42/2008/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thuộc huyện Quế Sơn, huyện Phước Sơn; điều chỉnh địa giới hành chính huyện Quế Sơn để thành lập huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam Theo đó, thành lập huyện Nông Sơn thuộc tỉnh Quảng Nam trên cơ sở điều chỉnh 45.592 ha diện tích tự nhiên và 34.524 nhân khẩu của huyện Quế Sơn (bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của các xã: Quế Lộc, Quế Trung, Quế Ninh, Quế Phước, Quế Lâm, Sơn Viên, Phước Ninh)
Ngày 11/03/2015, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Quyết định số 889/NQ-UBTVQH13 về việc nâng cấp huyện Điện Bàn thành thị xã Điện Bàn tỉnh Quảng Nam
Như vậy, sau nhiều lần tách, sáp nhập và điều chỉnh, theo Tổng cục thống kê năm 2017 đến nay, địa giới hành chính tỉnh Quảng Nam gồm thị xã Điện Bàn, 2 thành phố là Tam Kỳ và Hội An, 15 huyện: Duy Xuyên, Đại Lộc, Phước Sơn, Quế Sơn, Thăng Bình, Tiên Phước, Bắc Trà My, Nam Trà My, Hiệp Đức, Núi Thành, Nông Sơn, Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang và Phú Ninh, 25 phường, 12 thị trấn và 207 xã
1.2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.2.3.1 Điều kiện kinh tế
Quảng Nam là một trong 5 tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung theo Quyết định 1874/QĐ-TTg ngày 13/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ, có diện tích lớn, dân số đông, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và vị trí địa lý thuận lợi để kết nối các tỉnh, thành phố khác của Việt Nam cũng như trong khu vực
và trên thế giới Quảng Nam có nhiều danh lam thắng cảnh, có nền văn hóa đa dạng,
có nguồn lao động cần cù, chịu khó… Đặc biệt, Quảng Nam có Khu kinh tế mở Chu Lai - khu kinh tế ven biển đầu tiên của Việt Nam, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực; có Khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc là một trong những khu công nghiệp thành công nhất miền Trung Việt Nam
Những tiềm năng, thế mạnh hiện có đang tạo cho Quảng Nam một nền tảng vững chắc, thuận lợi để tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác kinh tế trong nước và
Trang 3022
liên kết, hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế Quảng Nam cũng là một trong những địa phương tích cực cải cách hành chính, tạo môi trường thuận lợi cho thu hút đầu tư, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2015, 2016 đứng trong Top
10 cả nước và đứng thứ 2 khu vực miền Trung - Tây Nguyên (sau thành phố Đà Nẵng)
Sau 20 năm nỗ lực kể từ khi chia tách khỏi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, đến nay tỉnh Quảng Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, từ một tỉnh thuần nông, nghèo nhất nhì cả nước đã trở thành một tỉnh công nghiệp khá Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng Công nghiệp, giảm nhanh tỷ trọng Nông - Lâm - Ngư nghiệp Tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh đạt 12,7%; trong đó, Công nghiệp - Xây dựng đóng góp mức tăng trưởng cao nhất (6,57%/12,7%), kế đến là khu vực Thương mại - Dịch vụ (5,9%/12,7%) [60] Nông nghiệp chỉ còn chiếm gần 12% trong cơ cấu kinh tế, tự chủ ngân sách và đóng góp 10% về Trung ương [52]
Năm 2015 - 2017, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam có những chuyển biến tích cực, đạt kết quả khá toàn diện trên các lĩnh vực Có 09/14 chỉ tiêu trong kế hoạch 2017 đạt và vượt kế hoạch Kinh tế tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, du lịch và dịch vụ tăng trưởng cao Cải cách thủ tục hành chính được tăng cường và môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện
Bên cạnh những kết quả đạt được trên lĩnh vực kinh tế, các hoạt động văn hóa, thể thao du lịch, thông tin truyền thông cũng được đẩy mạnh Đời sống nhân dân tiếp tục được nâng cao, các chính sách đối với người có công và an sinh xã hội được quan tâm thực hiện tốt An ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững, công tác đối ngoại được tăng cường
Theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư, năm 2017, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh GRDP tăng 5,09% Ngoại trừ ngành sản xuất và lắp ráp ô tô sụt giảm, các ngành công nghiệp khác đều tăng trưởng khá, góp phần hoàn thành vượt chỉ tiêu thu nội địa trên 14.200 tỷ đồng Đặc biệt, du lịch và dịch vụ tăng cao; tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng hơn 13,8%; tổng lượt khách tham quan và lưu trú đạt hơn 6,1 triệu lượt, tăng 22,7% [35]
Cơ cấu GRDP năm 2017 chuyển dịch theo hướng tích cực Tỷ trọng nông, lâm, thủy sản xuống còn 11,6%; tỷ trọng khu vực phi nông nghiệp chiếm 88,4%
Trang 3123
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 23.750 tỷ đồng, tăng 8,3% so với năm trước và chiếm 28,5% GRDP Đến nay, toàn tỉnh có 72 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 35,29%; bình quân số tiêu chí đạt chuẩn NTM của 204 xã còn thấp (12,06 tiêu chí/xã) [35]
Môi trường đầu tư được cải thiện, cải cách hành chính được tăng cường Trong đó, Trung tâm Hành chính công của tỉnh được đưa vào hoạt động từ ngày 01/01/2017, đến nay nhiều TTHC đã được giải quyết tại Trung tâm, rút ngắn tối thiểu 30% thời gian giải quyết
Cũng trong năm qua, Quảng Nam có 1.260 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 20%, nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh gần 6.000 doanh nghiệp Toàn tỉnh đã tuyển sinh, đào tạo nghề cho hơn 35.570 lượt người Tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 55%, vượt chỉ tiêu đề ra; tăng thêm 16 nghìn lao động có việc làm mới; có 605 lao động làm việc theo hợp đồng tại nước ngoài [35]
Trong sáu tháng đầu năm 2018, tổng sản phẩm trên địa bàn tăng khá, 7,1% Những tháng còn lại của năm, với sự tập trung quyết liệt, trong điều kiện không gặp phải những trở ngại lớn, kinh tế Quảng Nam tiếp tục phát triển khá, nhất là lĩnh vực công nghiệp Kết quả cả năm ước tính GRDP Quảng Nam tăng 5,09% so với năm
2016, đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra, giá trị tuyệt đối của 1% tăng trưởng trong năm
Năm 2018, các cấp, ban ngành xây duựng nhiều hoạt động phong trào được nhân dân hưởng ứng Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tiếp tục được coi trọng, việc bình xét các danh hiệu văn hóa ngày càng đi vào thực chất, khắc phục được tình trạng chạy theo thành tích, số lượng; Công tác gia đình được các cấp, các ngành tiếp tục quan tâm triển khai thực hiện ở từng ngành, địa phương,
Trang 3224
cơ sở Đến nay, toàn tỉnh có 353.725/396.889 hộ gia đình được công nhận gia đình văn hoá, tỷ lệ 89%; 1.461/1.719 thôn - khối phố văn hoá, tỷ lệ 85%; 76/207 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới, tỷ lệ 36.7%; 19/37 phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị, tỷ lệ 51.35%; 2.059/2.197 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hoá, tỷ lệ 93.7% [9]
Phong trào thể dục thể thao quần chúng có sức lan tỏa lớn, góp phần phát triển phong trào tập luyện thể dục thể thao nâng cao sức khỏe của người dân, có 216/244 xã, phường, thị trấn tổ chức phát động “Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2018”, Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Quảng Nam lần thứ VIII tổ chức thành công tốt đẹp thu hút 3.353 vận động viên đến từ 18 huyện, thị xã, thành phố
và 28 sở, ban, ngành, đoàn thể trong tỉnh tham gia tranh tài ở 21 môn thể thao [9]
Tham gia Đại hội Thể thao toàn quốc đạt kết quả tốt với 4HCV, 7HCB, 12HCĐ và được Bộ VHTTDL tặng cờ tổ chức tốt Đại hội Thể dục thể thao cấp tỉnh
Đặc biệt, Thể thao trong trường học ngày càng được tổ chức thường xuyên
và có nề nếp Số trường học thực hiện nội khóa đạt 100%, số trường học thực hiện ngoại khóa đạt 85,5% [9] Việc triển khai thí điểm một số môn thể thao trong trường học được các trường hưởng ứng tích cực
Các chính sách lớn của tỉnh trên lĩnh vực văn hóa - xã hội như khuyến khích thoát nghèo bền vững và đào tạo nghề cho người lao động được các cấp, các ngành quan tâm ban hành, chỉ đạo và triển khai thực hiện đã tạo được sự hưởng ứng tích cực trong nhân dân, góp phần an sinh xã hội, công bằng dân chủ - văn minh
1.2.4 Đặc điểm văn hóa - dân cư
1.2.4.1 Dân cư
Theo Tổng cục thống kê tỉnh Quảng Nam năm 2016, Quảng Nam có 1.487,7 nghìn người với mật độ dân số trung bình là gần 141 người/km² Dân cư phân bố chủ yếu ở Tam Kỳ, Hội An và Điện Bàn và rất thưa thớt ở các huyện miền núi phía Tây Mật độ dân số trung bình của 6 huyện miền núi gồm Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Bắc Trà My và Nam Trà My là dưới 20 người/km2
[53] Hiện nay tại Quảng Nam có 34 tộc người cùng sinh sống trên địa bàn với 396.889 hộ gia đình trong đó đông nhất là người Kinh rồi đến người CơTu, người
Xơ Đăng và người Gié Triêng…
Trang 3325
Các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam chủ yếu phân bố tại các huyện như sau: huyện Nam Giang có các CơTu, Giẻ - Triêng là đông nhất Còn huyện Đông Giang và Tây Giang thì chủ yếu 95% là dân tộc Cơ Tu [57]
Huyện Phước Sơn có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống nhất bao gồm 15 dân tôc như: Bh'noong, Kinh, Ca Dong, Giẻ, Tày, Nùng, Mường, Sán Dìu, CơTu, Bru-Vân Kiều, Pacô, Giá Rai, Hơ Rê, Co và Ve Và người Bh'noong chiếm 59% dân số trong huyện [57]
Bên cạnh đó huyện Nam Trà My từ thời điểm chia tách địa giới hành chính chỉ còn gồm các dân tộc Ca Dong (Xê Đăng), M'Nông, Co… Còn ở Bắc Trà My chủ yếu là Kinh, Kadong, Kor cùng sinh sống trên địa bàn huyện
1.2.4.2 Văn hóa
Quảng Nam là vùng đất giàu truyền thống văn hoá Trên vùng đất này đã tìm thấy dấu tích văn hoá thời đại kim khí ở thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên Đó là nền văn hoá Sa Huỳnh, sau đó được người Chăm kế thừa và tạo ra nền văn hoá Chăm Pa Những công trình mà người Chăm để lại trên đất Quảng là dấu ấn không thể phai mờ của một thời kỳ rực rỡ trong đời sống văn hoá
Quảng Nam nổi tiếng là vùng đất “Ngũ phụng tề phi”, quê hương của những danh nhân tài hoa lỗi lạc Là vùng văn hóa được hình thành trong tổng thể vùng văn hóa miền Trung Điều đặc biệt là Quảng Nam vẫn còn lưu giữ được những công trình văn hóa vật thể và phi vật thể có giá trị cao Trong đó, có 2 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận, đó là Đô thị cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn và trên 260 di tích văn hóa, lịch sử cách mạng, trong đó có 15 di tích xếp hạng quốc gia Giá trị văn hóa của Quảng Nam không chỉ là những công trình kiến trúc cổ mà còn được tạo nên bởi những sắc màu văn hóa độc đáo ẩn chứa trong phong tục, tập quán, lễ hội của các dân tộc cùng sinh sống trên mảnh đất này
Về văn hóa vật thể, tỉnh Quảng Nam có các di tích, bảo tàng và các danh lam
thắng cảnh như đô thị cổ Hội An - một đô thị thương cảng cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thịnh vượng trong các thế kỷ XVII - XVIII, suy tàn vào cuối thế kỷ XIX
và thánh địa Mỹ Sơn - tổ hợp nhiều đền đài Chămpa tọa lạc trong một thung lũng có đường kính khoảng 2 km, bao quanh bởi đồi núi Đây từng là nơi diễn ra lễ cúng tế của các vương triều Chămpa xưa, cũng như là lăng mộ của các vị vua Chămpa hay
Trang 3426
hoàng thân, quốc thích Thánh địa Mỹ Sơn được xem là một trong những trung tâm đền đài chính của Ấn Độ giáo ở khu vực Đông Nam Á, và là di sản duy nhất của thể loại này tại Việt Nam, cả 2 di tích này được công nhận là di sản văn hóa thế giới
vào năm 1999 Ngoài ra còn có Phế tích kinh thành Trà Kiệu (Duy Sơn - Duy
Xuyên), là nơi đặt kinh đô của nước Lâm Ấp từ khoảng năm 605 đến năm 757, với
tên gọi là Simhapura và Tháp Chiên Đàn, Tháp Bằng An và tháp Khương Mỹ
Cùng với kho tàng di sản văn hóa vật thể phong phú, Quảng Nam còn gìn
giữ, bảo lưu một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể hết sức to lớn, tiềm ẩn trong
đời sống dân gian, tạo nên dấu ấn riêng của vùng văn hóa xứ Quảng Trong đó có nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam được UNESCO công nhận đại diện nhân loại vào năm 2018 Thời gian gần đây, những giá trị, tinh hoa của văn hóa Chămpa như trích đoạn lễ hội Chăm, diễn xướng nghệ thuật dân gian với điệu múa Chàm rông, kèn saranai, trống paranưng, dân ca, trò chơi đội nước, ẩm thực, trang phục Chăm là những sản phẩm độc đáo được phục hồi ngay bên khu đền tháp Mỹ Sơn
mà bất kỳ du khách nào cũng say mê, yêu thích Hoặc vào những dịp lễ hội ở Hội
An, xuất hiện áo bà ba, áo dài, khăn đóng, các làn điệu dân ca như hát hò khoan, hô bài chòi và nghệ thuật ẩm thực với cao lầu, mỳ Quảng, bánh đập, bánh ít, bánh tét, bánh chưng,… là sản phẩm dân gian bình dị và đặc sắc của xứ Quảng
Bên cạnh đó, ở các làng quê, phố thị xứ Quảng vẫn duy trì nhiều lễ hội truyền thống gắn với đời sống tâm linh, tín ngưỡng của cư dân đó là lễ hội Bà Thu Bồn, lễ hội Cầu ngư miền biển, lễ Cầu bông… Ngoài ra, còn có kho tàng di sản văn hóa phi vật thể của nhiều dân tộc thiểu số ở miền núi như Katu, Xơđăng, Giẻ - Triêng, Cor với kiến trúc nhà làng truyền thống, nghề dệt và trang phục, ẩm thực,
nghệ thuật diễn xướng, lễ hội, múa tâng tung ya ýa, hát lý, kiến trúc, tạc tượng nhà
mồ, nhà gươl;… lễ hội liên quan đến chu kỳ canh tác nương rẫy; lễ nghi vòng đời
người; lễ hội cộng đồng như lễ ăn mừng lúa mới (cha haroo têmê), lễ kết nghĩa giữa hai làng (cha bhoi), lễ mừng nhà gươl mới
Người Quảng Nam có những phong tục tập quán biểu hiện cụ thể của bản
sắc dân tộc, phản ánh và bộc lộ những tính chất, tính cách, đường nét, màu sắc, ý thức tâm linh, sự tôn trọng thiêng liêng trước con người và vạn vật hữu linh như trong tập tục hôn nhân, gia đình, sinh đẻ, ma chay, cúng giỗ tổ tiên, tế thần, cầu phước cầu tài, xuống đồng, chăn nuôi, làm rừng, đi biển, học hành, thi cử, ăn uống,
Trang 35Ngoài ra, nền văn hóa của Quảng Nam cũng biểu hiện qua các lễ hội gồm
các lễ hội của người dân miền núi, miền biển, lễ hội nông nghiệp, lễ hội tôn giáo… Tất cả đều mang yếu tố tín ngưỡng, tâm linh, được tổ chức đều đặn hàng năm để cầu mong cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an; để ngợi ca những bậc tiền nhân; hướng về cội nguồn, truyền thống của dân tộc và thể hiện khát vọng vươn tới chân, thiện, mỹ của con người nơi đây như: Lễ hội Bà Thu Bồn, Lễ hội Long Chu, Lễ hội Cầu Bông, Lễ vía Bà Thiên Hậu, Lễ Nguyên tiêu, Lễ tế cá Ông
Bên cạnh các lễ hội đa dạng và phong phú, ở Quảng Nam có nhiều làng và làng nghề truyền thống như: làng gốm Thanh Hà (Hội An), làng mộc Kim Bồng (Hội An), làng đúc đồng Phước Kiều (Điện Bàn), làng dệt Mã Châu (Duy Xuyên), làng dâu tằm Đông Yên (Duy Xuyên), làng dệt chiếu cói Bàn Thạch (Duy Xuyên), làng rau Trà Quế (Hội An), làng trống Lam Yên (Đại Lộc)… Những làng nghề này hiện vẫn đang hoạt động và sản xuất bằng những quy trình kỹ thuật truyền thống
Có thể nói, giá trị văn hoá đặc trưng của vùng văn hoá Quảng Nam được lắng đọng trong lễ hội, trong phong tục tập quán, tâm lý truyền thống Được kết tinh
từ quá trình lao động sáng tạo, lối suy nghĩ, lối ứng xử của cộng đồng các dân tộc anh em cùng chung sống trên mảnh đất này, mang đậm bản sắc văn hoá dân gian truyền thống và rất đa dạng, phong phú, đặc sắc
1.2.5 Các khu du lịch sinh thái tỉnh Quảng Nam
Quảng Nam là tỉnh nằm ở trung tâm của Việt Nam, thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung Việt Nam Có tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng với các
hệ sinh thái điển hình, các khu di tích lịch sử và các giá trị văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc Đồng thời, nơi đây có 125 km bờ biển cát trắng, nắng vàng, nhiều bãi biển với cảnh quan đẹp nổi tiếng, được tạp chí Forbes bình chọn là
Trang 3628
một trong những bãi biển đẹp nhất hành tinh nên thuận lợi để phát triển du lịch
Quảng Nam với các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng như Khu du lịch sinh thái Khe Lim, Nước Mát, Suối Tiên, Nhà Vườn Triêm Tây, Vạn Dừa, Ao Xanh,…
và không thể không nhắc đến các KDL sinh thái Rừng Dừa Bảy Mẫu, KDLST hồ Phú Ninh cũng như KDLST Thủy điện Duy Sơn II
1.2.5.1 Khu du lịch sinh thái Rừng Dừa Bảy Mẫu (Hội An)
Rừng Dừa Bảy Mẫu hay còn gọi là Căn cứ địa Cách mạng Rừng Dừa Bảy Mẫu hiện, có diện tích hơn 120 ha, nằm ở thôn Thanh Nam Đông và thôn Thanh Nhứt xã Cẩm Thanh, cách trung tâm thành phố Hội An về phía Đông Nam khoảng 5km Đây là nơi hội thủy của ba con sông lớn ở Quảng Nam là sông Thu Bồn, sông Trường Giang và sông Đế V ng trước khi đổ ra Cửa Đại
Rừng Dừa Bảy Mẫu có hệ sinh thái ngập mặn gần biển trù phú, là nơi sinh sống của các loài động vật có giá trị như cá, tôm, cua, các loại thân mềm và một số loài chim Nơi đây còn đóng vai trò như một máy lọc sinh học, giúp làm trong sạch nguồn nước Trước đây, Rừng Dừa Bảy Mẫu là nơi thuận lợi để lập căn cứ địa cho phong trào kháng chiến chống thực dân và đế quốc trong cuộc chiến tranh vệ quốc, trở thành nơi nuôi giấu và bảo tồn lực lượng cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ Trong kháng chiến chống Pháp, mặc dù thực dân Pháp đã nhiều lần đưa quân đến càn quét, nhằm ý đồ san bằng căn cứ này, thế nhưng với ý chí chiến đấu và mưu trí trong việc lợi dụng địa hình địa vật của các lực lượng vũ cách mạng của ta ở khu căn cứ rừng dừa, đã làm cho ý đồ xâm chiếm của Pháp không thể thực hiện được Bước sang thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Rừng Dừa Bảy Mẫu lại một lần nữa được sử dụng làm căn cứ địa của quân và dân Hội An Rừng Dừa Bảy Mẫu từ đó gắn liền với những sự kiện cách mạng, những chiến công vang dội của quân và dân Quảng Nam nói chung, Hội An nói riêng
Sau này Rừng Dừa Bảy Mẫu trở thành một địa điểm rất thu hút khách du lịch
nhưng mang tính tự phát Đến ngày 01/12/2017, chính quyền xã Cẩm Thanh triển
khai công tác bán vé tham quan du lịch di tích lịch sử văn hóa Rừng Dừa Bảy Mẫu theo chủ trương cho phép của HĐND tỉnh Quảng Nam, chính thức đi vào hoạt
động
Trang 3729
Đến với khu du lịch sinh thái Rừng Dừa Bảy Mẫu, sẽ là dịp để khách du lịch hòa mình vào không gian trong lành và tham gia nhiều hoạt động thú vị như: tự lái thúng hay hái dừa nước, xem ngư dân trình diễn lắc thúng, múa hát bả trạo, thử trổ tài câu cua, chơi kéo co, đi cầu khỉ hay thửa làm ruộng cùng nông dân xứ Quảng như cưỡi trâu cày bừa, xay bột làm bánh,… và rất nhiều các trò chơi thú vị thu hút
khách du lịch trong nước và nước ngoài
1.2.5.2 Khu du lịch sinh thái Hồ Phú Ninh (Tam Kỳ)
Nằm cách thành phố Tam Kỳ khoảng 7 km về phía tây, hồ Phú Ninh thuộc địa phận 2 huyện Phú Ninh, Tam Xuân và thành phố Tam Kỳ, có tổng diện tích hơn
24 nghìn hecta Công trình được khởi công vào năm 1977 và hoàn thành sau gần 10 năm xây dựng Ngoài các ưu thế để phát triển thuỷ lợi, thuỷ sản, thuỷ điện, nông lâm nghiệp, cung cấp nước sinh hoạt , hồ Phú Ninh còn là một khu du lịch sinh thái lý tưởng, khí hậu luôn luôn mát mẻ và hệ động thực vật rất đa dạng, trong đó có
14 loại động vật được ghi vào sách đỏ cần bảo tồn
Diện tích mặt nước hồ Phú Ninh khá rộng, chiếm đến hơn 3.400 hecta, muốn tham quan hết lòng hồ, du khách chỉ còn cách thuê canô chạy quanh hồ Trên đường
đi, có thể ghé thăm đảo chim, đảo khỉ… Toàn hệ thống hồ Phú Ninh có hơn 30 đảo lớn, nhỏ khác nhau, từ đảo Rùa, đảo Su, đến hố Ba Trăng, hố Khế Hệ thống động, thực vật ở đây khá phong phú Đặc biệt, trong hồ Phú Ninh còn có mỏ nước khoáng thiên nhiên phun trào từ lòng đất
Tại đây rất thu hút khách du lịch bởi có các hoạt động vui chơi giải trí như tổ chức câu cá, thưởng thức đêm lênh đênh trên sóng nước và ngủ giữa mây trời Ngoài ra, khách du lịch có dịp tham quan tìm hiểu chiến thắng “Đồi đá đen” lừng lẫy trong kháng chiến chống Pháp; xem mô hình tổng thể toàn bộ khu sinh thái Phú Ninh; đến với đảo Rùa, đảo Su, hố Khế, hố Ba Trăng… rồi bến Đợi Chờ, mỏ nước khoáng thiên nhiên phun trào từ lòng đất… tất cả đều để lại một ấn tượng khó quên trong lòng những ai đã từng một lần đặt chân đến
1.2.5.3 Khu du lịch sinh thái Thủy Điện Duy Sơn 2 (Duy Xuyên)
Khu du lịch sinh thái Thuỷ Điện Duy Sơn II nằm trên địa bàn xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, cách di tích kinh thành Trà Kiệu khoảng 5 km về phía Nam
với tổng diện tích trên 200 ha
Trang 3830
Công trình thuỷ điện Duy Sơn II được khởi công xây dựng sau năm 1975 Bằng sự cần cù sáng tạo, người anh hùng lao động Lưu Ban phát hiện và khai thác thành công dòng nước bắt nguồn từ dãy Hòn Tàu chảy về trên ngọn đồi cao Nơi đây, nước được chia làm hai dòng: một dòng chảy phục vụ thủy lợi, còn một dòng được đưa qua máy lọc để chuyển thành nước sinh hoạt Đây là công trình thủy điện nhỏ, không hùng vĩ như các thủy điện khác nhưng Duy Sơn II lại mang một giá trị tinh thần vô giá Bởi đây là công trình thủy điện đầu tiên xây dựng bằng sức dân, thể hiện tinh thần đoàn kết, sáng tạo và nghị lực phi thường của nhân dân Duy Sơn
Từ đó, lượng du khách đến tham quan du lịch ngày càng nhiều Đến năm
1995, hợp tác xã Duy Sơn hình thành Khu du lịch sinh thái Thủy Điện và được quy hoạch đầu tư với 14 hạng mục như khu vui chơi thiếu nhi, khu nghỉ mát cao cấp, vườn thú, khu tâm linh… đưa vào hoạt động tạo nguồn thu cho tập thể Ngày 15/11/2006, UBND huyện Duy Xuyên có Quyết định số 1633/QĐ-UBND giao nhiệm vụ cho UBND xã Duy Sơn quản lý Khu du lịch sinh thái Thủy điện Duy Sơn
II Tháng 3/2008, UBND xã Duy Sơn có quyết định thành lập Ban quản lý khu du lịch sinh thái Thủy điện Duy Sơn và giao cho cá nhân quản lý cho đến nay
Trang 3931
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC KHU DU LỊCH TẠI
TỈNH QUẢNG NAM 2.1 Hiện trạng phát triển du lịch tại một số khu du lịch sinh thái tỉnh Quảng Nam
Sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp du lịch phụ thuộc rất lớn vào việc khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn lực như vốn, cơ sở vật chất, tiến bộ khoa học kỹ thuật, người lao động,… Các yếu tố này có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau, là nền tảng để có thể thu hút khách du lịch Việc phát triển du lịch sẽ phụ thuộc vào quá trình khai thác sử dụng nguồn lực có hiệu quả tại các khu du lịch nói chung và một số KDL sinh thái tỉnh Quảng Nam nói riêng
2.1.1 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kĩ thuật
2.1.1.1 Cơ sở hạ tầng
Nếu lấy mốc từ ngày chia tách tỉnh Quảng Nam vào năm 1997, ngành du lịch dịch vụ Quảng Nam khá đơn điệu bởi cơ sở hạ tầng gần như chẳng có gì Nắm bắt kịp thờixu thế chung, tỉnh Quảng Nam đã định hướng phát triển ngành du lịch theo hướng bền vững, dựa trên các nền tảng di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, mở rộng
ra các địa bàn Phát triển các loại hình DLST gắn với cộng đồng và đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch từ chỗ không có gì đến đủ sức kết nối các tuyến du lịch chính
Trước đây, khách du lịch từ mọi miền muốn đến KDL sinh thái Rừng Dừa Bảy Mẫu nằm ở xã Cẩm Thanh thì phải đi vào con đường nhỏ vòng qua phố cổ Hội
An Tham quan KDL sinh thái Hồ Phú Ninh sẽ đi vào con đường quốc lộ 1A, con đường rẽ vào KDL đi rất khó khăn Nhưng hiện nay, tỉnh Quảng Nam đã đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng các tuyến đường huyết mạch để phát triển du lịch Trong đó, phải kể đến tuyến đường nối từ Đà Nẵng - cầu Cửa Đại với những hạng mục quan trọng như cầu Đế V ng và cầu bắc qua sông Cổ Cò và đường dẫn lên cầu Cửa Đại Trong đó, tuyến đường nối cầu Cửa Đại và cầu Đế V ng có chiều dài 4,2 km, mặt đường rộng 38m và các hạng mục phụ trợ, vận tốc thiết kế đạt 70 km/h Tuyến đường này nối liền KDL sinh thái Rừng Dừa Bảy Mẫu và khu phức hợp Vinpearl Nam Hội An của tập đoàn Vingroup, trở thành đầu mối quan trọng giúp giảm áp lực giao thông đi qua phố cổ Hội An và tạo ra một lộ trình vô cùng thuận tiện, dễ dàng cho khách du lịch tiết kiệm thời gian di chuyển
Trang 4032
Ngoài ra, dự án tuyến đường cầu Cửa Đại - Tam Kỳ sắp hoàn thành nối liền KDL sinh thái Rừng Dừa Bảy Mẫu và KDL sinh thái Hồ Phú Ninh lại với nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và thu hút khách du lịch thông các lộ trình Đà Nẵng - Hội An - Tam Kỳ và dự án nút giao vòng xuyến 2 tầng giữa quốc lộ 1 và đường sắt Bắc - Nam với đường trục chính từ cảng Chu Lai đến cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi cũng là một trong những điểm nhấn hạ tầng tại Quảng Nam
Mặc dù những tuyến đường huyết mạch tại Quảng Nam đạt nhiều hạng mục nhưng theo đánh giá của khách du lịch đối với một số KDL sinh thái tỉnh Quảng Nam, cơ sở hạ tầng trong các KDL sinh thái còn khá hạn chế, chưa được đầu tư phát triển Dưới đây là một số nhận xét của khách du lịch khi đến tham quan tại các KDL
- Tại KDL sinh thái Hồ Phú Ninh:
+ Chị Hà cho biết: “Mình đi lối phụ nhưng đường rẽ từ quốc lộ 1 đi vào KDL Hồ Phú Ninh khó đi, mặt đường xuống cấp trầm trọng”
[Chị Hà, 25 tuổi, thành phố Đà Nẵng]
+ Anh Quí chia sẻ: “Anh không nhìn thấy biển chỉ dẫn từ lúc đi, chỉ gần đến KDL tầm 6km thì có một biển, toàn dùng google maps với hỏi người dân thôi.”
[Anh Quí, 24 tuổi, tỉnh Quảng Nam]
- Tại KDL sinh thái Rừng Dừa Bảy Mẫu:
+ Nguyễn Thị Thu Hà nhận xét: “Khách đến đông nhưng hình như cơ sở hạ tầng ở đây chưa phát triển, con đường trong KDL nhỏ mà khách đông đi rất bất tiện”
[Chị Nguyễn Thị Thu Hà, 32 tuổi, tỉnh Quảng Nam]
- Tại KDL sinh thái Thủy điện Duy Sơn 2:
+ Chị Huyền chia sẻ: “Tuy mình đi với nhóm bạn vào đây nhưng khá sợ vì đoạn đường rất hoang vu và vắng Nói về cơ sở hạ tầng thì mọi thứ ổn, chỉ có đường chạy xe máy lên gần suối khó đi nhưng bảng chỉ dẫn đến KDL rất ít vì thực chất chỉ đi mãi một con đường là đến thôi”
[Chị Thanh Huyền, 22 tuổi, tỉnh Quảng Nam]