Việc vận dụng trò chơi trong quá trình dạy học là rất cần thiết làm sao cho mỗi ngày đến trường là một ngày vui, trò chơi xuất phát từ nội dung bài học là hoạt động góp phần làm cho học
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Sinh viên thực hiện : Hoàng Thị Kim Chi
Đà Nẵng, tháng 1 năm 2019
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT 1
DANH MỤC CÁC BẢNG 2
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Giả thuyết nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
6.1.Phương pháp nghiên cứu tài liệu 6
6.2.Phương pháp nghiên cứu bằng Anket 6
6.3 Phương pháp quan sát sư phạm 6
6.4 Phương pháp điều tra 6
6.5 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động 7
7 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 7
7.1 Đối tượng nghiên cứu 7
7.2 Khách thể nghiên cứu 7
7.3 Phạm vi nghiên cứu 7
8 Cấu trúc đề tài: 7
PHẦN NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Cơ sở lí luận 8
1.1.1 Một số vấn đề về trò chơi học tập 8
1.1.1.1 Khái niệm 8
1.1.1.2 Tác dụng của trò chơi học tập 10
1.1.1.3 Đặc điểm trò chơi học tập 11
1.1.1.4 Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng trò chơi học tập 13
1.1.2 Tầm quan trọng của việc dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 14
1.1.3.Vai trò của trò chơi học tập đối với việc nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội 15
1.1.3.1.Vai trò của trò chơi học tập đối với sự phát triển trí tuệ của học sinh 15 1.1.3.2 Vai trò của trò chơi học tập đối với việc nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã
Trang 31.1.4 Phương pháp trò chơi học tập trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội 16
1.1.5 Đặc điểm tâm lý và quá trình nhận thức của học sinh tiểu học 17
1.1.5.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học 17
1.1.5.2 Quá trình nhận thức của học sinh tiểu học 20
1.2 Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1 Đặc điểm và cấu trúc chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 21
1.2.1.1 Đặc điểm môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học 21
1.2.1.2 Đặc điểm môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 22
1.2.1.3 Cấu trúc chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 24
1.2.2 Thực trạng của việc thiết kế và sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở lớp 2 26
1.2.2.1 Mục đích, yêu cầu khảo sát 26
1.2.2.2 Nội dung khảo sát 26
1.2.2.3 Đối tượng khảo sát 26
1.2.2.4 Phương pháp khảo sát 26
1.2.2.5 Đánh giá kết quả khảo sát 27
Tiểu kết chương 1 34
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 2 35
2.1.Nguyên tắc thiết kế trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả dạy học trong môn tự nhiên và Xã hội lớp 2 35
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu chương trình 35
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức của học sinh 35
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò tự giác, tích cực của học sinh và vai trò tổ chức, hỗ trợ của giáo viên 36
2.2 Quy trình thiết kế trò chơi học tập môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 36
2.2.1 Phân tích qui trình thiết kế trò chơi học tập 36
2.2.2 Ví dụ minh họa qui trình thiết kế trò chơi học tập 39
2.3 Thiết kế một số trò chơi học tập trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 40
2.3.1 Thiết kế trò chơi học tập chủ đề “ Con người và sức khoẻ” 40
2.3.2 Thiết kế trò chơi học tập chủ đề “ Xã hội ” 44
2.3.3 Thiết kế trò chơi học tập chủ đề “Tự nhiên” 47
Tiểu kết chương 2 50
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 51
3.1 Mục đích thực nghiệm 51
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 51
3.3 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 51
Trang 43.3.1 Chọn đối tượng thực nghiệm 51
3.3.2 Nội dung thực nghiệm 51
3.4 Kết quả 52
3.4.1 Tiêu chí đánh giá 52
3.4.2 Kết quả thực nghiệm 52
Tiểu kết chương 3 54
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
1 Kết luận 55
2 Kiến nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC 58
Trang 5Lời cảm ơn
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành và sâu sắc nhất đối với giáo viên hướng dẫn - Thạc Sĩ Nguyễn Phan Lâm Quyên đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy cô giáo trong trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã trang bị cho tôi những kiến thức, truyền đạt những kinh nghiệm quý giá trong quá trình tôi học tập tại trường và tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Tôi xin cảm ơn ban lãnh đạo nhà trường và các thầy cô giáo trong trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi và Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn khoá luận tốt nghiệp này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian nghiên cứu có hạn, trình độ năng lực của bản thân còn nhiều hạn chế nên khoá luận tốt nghiệp này không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Rất mong nhận được sự đóng, chỉ bảo, bổ sung của thầy cô và các bạn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn !
Đà Nẵng, tháng 1 năm 2019 Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Kim Chi
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Mức độ sử dụng trò chơi trong môn Tự nhiên và Xã hội 27
Bảng 2 Mức độ sử dụng trò chơi trong môn Tự nhiên và Xã hội 28
Bảng 3 Những khó khăn thường gặp khi thiết kế và tổ chức trò chơi 30
Bảng 5 Mong muốn của học sinh đối với trò chơi trong môn Tự nhiên và Xã
hội
32
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1 Nội dung được thiết kế trong TCHT môn Tự nhiên và Xã hội 28
Biểu đồ 2 Thái độ học sinh khi tham gia trò chơi 29
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dạy học là một quá trình mang tính nghệ thuật tạo sự kích thích, định hướng và hướng dẫn Dạy không chỉ là sự truyền đạt đơn thuần kiến thức mà là một quá trình tạo mối tương quan giữa người dạy, người học và tư liệu giảng dạy Thông thường con người chỉ nhớ 10% những gì họ đọc, 20% những gì họ nghe, 80% những gì họ nói và đến 90% những gì họ nói và làm, tức là khi họ tự khám phá cho chính họ Đặc biệt với cấp học Tiểu học phụ huynh và các em vẫn xem trọng môn Toán và Tiếng Việt, trong khi đó môn Tự nhiên và Xã hội cũng không kém phần quan trọng Chúng ta phải làm sao học sinh vẫn nắm bắt được những kiến thức về xã hội và thế giới tự nhiên trong tâm thế thoải mái và là vấn đề rất được quan tâm Trò chơi học tập chính là một chiếc cầu nối hữu hiệu thân thiện nhất, tự nhiên nhất giữa người dạy và người học trong việc
tự giải quyết nhiệm vụ chung đạt được mục đích đề ra làm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân Áp dụng hình thức dạy học trò chơi học tập là một phương pháp đổi mới đáp ứng yêu cầu dạy học lấy học sinh làm trung tâm phát huy tính tích cực tự giác của người học Việc vận dụng trò chơi trong quá trình dạy học là rất cần thiết làm sao cho mỗi ngày đến trường là một ngày vui, trò chơi xuất phát từ nội dung bài học là hoạt động góp phần làm cho học sinh hứng thú, ham học tập tạo không khí phấn khởi, tạo tâm thế thoải mái trong giờ học hay cũng cố nắm chắc kiến thức đã được học, kích thích tư duy sáng tạo và rèn kĩ năng Theo mục tiêu giáo dục hiện nay, giáo dục học sinh phát triển toàn diện cả Đức, Trí, Thể, Mỹ Các hoạt động dạy học ở trường tiểu học đang đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực sáng tạo, chủ động của học sinh Đối với học sinh tiểu học đây là lứa tuổi vừa học, vừa chơi, hiếu động và là vấn đề tạo nên sự hứng thú học tập cho các em rất quan trọng, trò chơi còn tác động toàn diện đến trẻ em vì nó dễ dàng xâm nhập vào xúc cảm tình cảm thúc đẩy mọi hành động của trẻ
Các công trình nghiên cứu về môn Tự nhiên và Xã hội các nguồn tư liệu như: Các sách thiết kế, sách giáo viên hướng dẫn soạn giáo án đã đưa ra rất nhiều trò chơi nhưng còn rời rạc từng trò chơi cho từng bài học mà chưa có tính hệ thống Một số trò chơi đòi hỏi cao về công tác chuẩn bị không phù hợp với đặc điểm cơ sở vật chất ở trường Với các chủ đề, sách giáo viên hay sách thiết kế, chỉ đưa ra các trò chơi chưa có tính phong
Trang 10phú chỉ có hai trò chơi Giáo viên rất khó áp dụng, đối với học sinh rất dễ gây nhàm chán làm giảm hiệu quả các tiết học, từ những lý do trên chúng tôi đã chọn đề tài
“Thiết kế trò chơi học tập trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2” nhằm
phục vụ dạy học các chủ đề trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 hi vọng kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ mang lại nhiều kinh nghiệm dạy học khi áp dụng phương pháp sử dụng trò chơi và bổ sung phát triển vốn trò chơi thêm phong phú và đa dạng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trò chơi học tập là một phương pháp cũng như một hình thức dạy học được sử dụng phổ biến trong nhà trường phổ thông, nhất là đối với trường tiểu học, trò chơi học tập mang lại hiệu quả cao trong việc thu hút sự hứng thú học tập của học sinh góp phần củng cố bài học cho các em Chính vì vậy, đã có khá nhiều tài liệu chọn bàn về vấn đề này
Vào thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã có nhiều nhà nghiên cứu như: Phreben (Đức), M Mentori (Ý)… có ý tưởng trò chơi với dạy trẻ học, dùng trò chơi làm phương tiện dạy học Về sau, ý tưởng đó được tiếp tục phản ánh trong hàng loạt công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục Liên Xô: A.P.Radina, A.P.Vsova, A.NavanhesOva, A.L.Sovokia Trong quá trình đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học có rất nhiều nhà giáo dục đã nghiên cứu, tìm tòi thiết kế nên các trò chơi nhằm giáo dục toàn diện tạo hứng thú học tập cho các em như: Cuốn “ Tổ chức hoạt động vui chơi tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể lực cho học sinh” của Hà Nhật Thăng (chủ biên) hay cuốn “150 trò chơi thiếu nhi" của Bùi Sĩ Tụng, Trần Quang Đức (đồng chủ biên) Nhưng ở các tài liệu này thì các tác giả đã đề cập rất rõ vai trò của trò chơi, đưa ra những hoạt động vui chơi chung chung, chưa đi sâu vào ứng dụng của trò chơi trong môn học cụ thể Đối với môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học nói chung và trong mônTự nhiên và Xã hội lớp 2 nói riêng có các nghiên cứu sáng tác trò chơi trong dạy học cụ thể như: Cuốn “Học mà vui vui mà học” của tác giả Vũ Xuân Đỉnh; Trò chơi học tập Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3 Bùi Phương Nga (chủ biên); Dự án phát triển giáo viên tiểu học - NXB Giáo dục… [12].Tuy nhiên để có hệ thống, cụ thể từng trò chơi trong từng bài cho môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 thì chưa có Với đề tài này
sẽ đi vào chuyên sâu nghiên cứu “Thiết kế trò chơi học tập trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2" một cách cụ thể
Trang 113 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực trạng thiết kế và sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 Trên cơ sở đó thiết kế một số trò chơi học tập phục vụ các bài học trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 nhằm nâng cao hiệu quả dạy
học
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận nắm bắt được những nền tảng cơ sở ban đầu của việc vận dụng trò chơi vào dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
Tự nhiên và Xã hội lớp 2
- Đề xuất qui trình và thiết kế một số trò chơi học tập mới tạo nên tính hệ thống phục vụ trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
- Thực nghiệm sư phạm
5 Giả thuyết nghiên cứu
Trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 nếu giáo viên chú trọng việc thiết
kế và sử dụng các trò chơi học tập thì sẽ tạo hứng thú tích cực cho học sinh góp phần nâng cao hiệu quả dạy học
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ đề ra, các mục tiêu nghiên cứu thì không thể thiếu được các phương pháp nghiên cứu Có rất nhiều phương pháp trong nghiên cứu khoa học thường được áp dụng nhưng đối với đề tài này tôi sử dụng các phương pháp
sau:
6.1.Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Thông qua các giáo trình, tạp chí giáo dục và mạng Internet chúng tôi tiến hành
thu thập, nghiên cứu, phân tích các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu
6.2.Phương pháp nghiên cứu bằng Anket
Sử dụng phiếu Anket lấy ý kiến của HS và GV để thu thập thông tin cần thiết
6.3 Phương pháp quan sát sư phạm
- Quan sát học sinh: Trong giờ học Tự nhiên và Xã hội những hành động, lời nói, nét mặt, cử chỉ, thái độ…)
- Quan sát GV: Dự giờ và quan sát giờ dạy của GV
6.4 Phương pháp điều tra
Trang 12Điều tra thực trạng sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn Tự nhiên và Xã
hội lớp 2 ở trường tiểu học Sau mỗi tiết dạy, chúng tôi tiến hành thăm dò ý kiến giáo viên có thể bằng phiếu trưng cầu ý kiến và phỏng vấn trực tiếp nắm bắt số liệu
6.5 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu các kết quả đạt được sau khi tiến hành thực nghiệm giảng dạy để đánh giá được hiệu quả và tính khả thi của đề tài
7 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
7.1 Đối tượng nghiên cứu
- Việc thiết kế trò chơi học tập phục vụ các bài dạy trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
7.2 Khách thể nghiên cứu
- Quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
7.3 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
- GV và HS trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi và trường tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, thành phố Đà Nẵng
8 Cấu trúc đề tài:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của đề tài bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Thiết kế trò chơi học tập trong dạy học trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Trò chơi có chứa đựng chủ đề, nội dung nhất định, có những quy tắc nhất định
mà người tham gia phải tuân thủ Trò chơi vừa mang tính chất vui chơi giải trí, vừa có
ý nghĩa giáo dưỡng và giáo dục đối với con người
Thep Karin Eden Hamman Christina Wakhend (một nhà tâm lí học người Đức) thì: “Cũng như cuộc sống và tình yêu, vui chơi là một khái niệm không thể định nghĩa được vì nó là một quá trình, mà đã là quá trình thì nó luôn sống động, luôn luôn đổi thay và phát triển”
Còn Huizinga lại miêu tả như sau: “Vui chơi là một chức năng văn hóa, là một trong những nền tảng của nền văn minh, có tính chất toàn cầu và hòa nhập trong cuộc sống của con người cũng như loài vật Vì vậy, vui chơi là trọng tâm không những cho trẻ em mà còn cho người lớn và cả xã hội ta đang sống”
Nếu vui chơi là một thuật ngữ chỉ một dạng hoạt động giải trí tự nguyện của mọi người, tạo ra sự sảng khoái, thư giãn về mặt thần kinh, tâm lý, thì trò chơi là sự vui chơi có nội dung, có tổ chức của nhiều người, có quy định luật lệ Trò chơi vừa mang tính chất vui chơi giải trí, vừa có ý nghĩa giáo dưỡng và giáo dục đối với con người
Như vậy, trò chơi là một hoạt động rất quen thuộc, gần gũi với mọi người Thông qua trò chơi, học sinh có thể học hỏi được nhiều kiến thức, hình thành kỹ năng
Trang 14Vui chơi tạo ra cơ hội nhiều nhất để các em rèn luyện các kỹ năng và tích lũy tri thức đời sống
Các công trình nghiên cứu của A.N Leonchep, A.P.Uxova… thì trò chơi là sản phẩm sáng tạo của cá nhân thuần tư dưới ảnh hưởng trực tiếp của môi trường xung quanh Trò chơi đó được gọi là trò chơi học tập vì trò chơi đó gắn liền với một mục đích dạy học nhất định và đòi hỏi khi tổ chức phải có tài liệu dạy học kèm theo phù hợp với mục đích của trò chơi” [12]
Trong cuốn Tâm lý học trẻ em năm 1972 Theo Đ.V.Enconhin thì: “Trò chơi gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người và sự thay đổi vị trí của đứa trẻ trong các mối quan hệ xã hội" [12]
Theo cuốn Tuyển tập sư phạm toàn tập, Tập 6 :K.Đ.Usinxki, nhà Giáo dục người Nga cho rằng: “Trò chơi là một hoạt động không nhằm tạo ra sản phẩm kết quả vật chất mà chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu được chơi của đứa trẻ kết quả tinh thần ".[12
Trong cuốn “Giáo dục học trẻ em, Tập III, NXB ĐHQG Hà Nội - 1997" thì : “ Trò chơi là một hoạt động độc lập- tự do và tự nguyện của đứa trẻ " Trò chơi của trẻ không phải là thật mà là giả vờ giả vờ làm một cái gì đó Nhưng sự giả vờ ấy của trẻ lại mang tính chất thật.[12]
Các quan điểm này đều có một điểm chung là: Trò chơi học tập là tất cả những trò chơi có nội dung gắn với nội dung học tập, nó được sử dụng như một phương pháp, hình thức tổ chức và luyện tập cho học sinh Hay nói cách khác trò chơi học tập là dạng trò chơi có luật chặt chẽ mang tính định hướng đối với sự phát triển trí tuệ
Trò chơi không chỉ là một “công cụ” dạy học mà nó còn là con đường sáng tạo xuyên suốt quá trình học tập của học sinh, phương pháp tổ chức trò chơi học tập không chỉ là sự đánh giá trong quá trình dạy và học của thầy và trò mà nó còn tạo cho ta cảm giác thoải mái, tự tin, có sự sáng tạo, nhanh trí, có óc tư duy, tưởng tượng của học
Trang 15sinh Dạy kết hợp với tổ chức trò chơi chính là việc giáo viên hướng dẫn học sinh hoàn thành tốt phẩm chất của con người
1.1.1.2 Tác dụng của trò chơi học tập
Cũng như lao động, học tập, trò chơi là một trong những hoạt động sống của con người Trò chơi có chứa đựng những chủ đề, nội dung nhất định, có những quy chế nhất định mà người chơi phải tuân thủ Trò chơi vừa mang tính chất vui chơi, giải trí song đồng thời lại có ý nghĩa giáo dưỡng và giáo dục lớn lao Đặc biệt đối với trẻ
em chơi có nghĩa là học, là khám phá thế giới muôn màu xung quanh, là khơi dậy trong mình những cảm giác và ước mơ, là cố gắng để thực hiện những ước mơ đó Đúng như nhận định của nhà giáo dục hàng đầu thế giới Arngoroki: "Trò chơi là con đường để trẻ em nhận thức thế giới, là nơi chúng đang sống và là cái chúng nhận thấy cần phải thay đổi”
Thật vậy, TCHT không chỉ dừng lại ở việc giúp cho GV có thêm một hình thức dạy học mới, thu hút được sự chú ý của người học và tạo không khí lớp học thoải mái vui vẻ Nó còn có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với người học nói chung, HSTH nói riêng
Sử dụng TCHT trong dạy học, giúp HS tiếp thu kiến thức tự giác và tích cực hơn Giờ học trở nên sinh động hơn, điều đó làm cho HS thấy vui hơn, nhanh nhẹn và cởi mở hơn, tinh thần vì thế mà thoải mái và thể lực khỏe mạnh hơn
TCHT có thể là trò chơi đầu giờ, giữa giờ hoặc cuối giờ Với từng thời điểm sử dụng khác nhau mà nó mang lại hiệu quả khác nhau Có thể giúp HS hứng thú hơn, tò
mò hơn với bài học Hay giúp thư giãn đồng thời giúp GV chuyển tiếp bài hấp dẫn cũng như khơi gợi sự suy luận, sáng tạo cho các em khi trò chơi được sử dụng giữa giờ Và TCHT là một trò chơi có nội dung gắn liền với các bài học, nên nó giúp HS vừa chơi mà cũng vừa học, thông qua trò chơi để củng cố, hệ thống hóa kiến thức, hay cũng có thể đồng thời phát triển vốn kinh nghiệm mà các em đã tích lũy được thông qua các hoạt động của bài học
Bên cạnh đó, TCHT còn giúp HS rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo, hoạt động trí tuệ và các giác quan vì thế mà phản ứng nhanh nhạy hơn, rèn luyện và nâng cao các tố
Trang 16chất nhanh, mạnh, bền, khéo, giúp HS phát triển thể lực Hơn nữa, TCHT còn giúp HS phát triển óc sáng tạo, lòng kiên trì và tinh thần tập thể, tính tự lực được rèn luyện
Tóm lại, TCHT giúp cho HS rèn luyện trí tuệ lẫn phẩm chất
1.1.1.3 Đặc điểm trò chơi học tập
Trò chơi học tập là một dạng hoạt động vì vậy nó mang trong mình những đặc điểm chung của các loại hoạt động: Có phương hướng, có mục đích, có ý thức và có dặc điểm chung của trò chơi Đặc điểm của trò chơi nói chung là mang lại cảm xúc chân thực, mạnh mẽ, đa dạng Trò chơi bao giờ cũng mang đến cho trẻ em niềm vui sướng, thoả mãn, bằng lòng Chơi mà không có niềm vui sướng thì không còn là chơi nữa Ngoài ra trò chơi học tập còn có những đặc điểm sau:
- Trò chơi học tập được qui định rõ ràng bởi luật chơi, do người lớn nghĩ ra và nhằm mục đích giáo dục phát triển tuệ nhân cách
- Trò chơi học tập bao giờ cũng có kết quả nhất định Kết quả đó phải được thực hiện trong việc giải quyết nhiệm vụ của trò chơi học tập, đồng thời phải mang lại niềm vui, sự thoả mãn cho những người tham gia trò chơi Kết quả của trò chơi học tập thể hiện sự cố gắng trong suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo trong việc nắm kiến thức và trong tính hợp tác của nhóm trẻ
- Trong trò chơi học tập, vị trí của mọi thành viên tham gia trò chơi đều như nhau và được xác định bằng luật chơi Việc thực hiện luật chơi là tiêu chuẩn khách quan để đánh giá khả năng của trẻ em
- Trong trò chơi học tập, sự thống nhất giữa hành vi thật và hành vi chơi rõ ràng Trong quá trình chơi nếu trẻ không tuân thủ theo luật chơi thì sẽ không đạt được mục đích của trò chơi Vì thế trong trò chơi học tập, việc kiểm tra lẫn nhau dễ dàng hơn và có hiệu quả hơn vì luật chơi được quy định rõ ràng
- Trò chơi học tập có cấu trúc chặt chẽ, bao gồm các yếu tố: Nhiệm vụ chơi;Hành động chơi; Luật chơi và tổ chức chơi
+ Nhiệm vụ chơi hay còn gọi là nhiệm vụ nhận thức là nét đặc trưng của trò
chơi học tập Đây chính là nội dung có tính chất như một bài toán mà học sinh phải giải dựa trên các điều kiện đã cho Nhiệm vụ chơi gợi hứng thú của học sinh, kích thích tình tích cực và nguyện vọng chơi của trẻ Mỗi một trò chơi học tập có một nhiệm vụ nhận thức của mình, chính điều đó làm trò chơi này khác với trò chơi kia
Trang 17+ Hành động chơi chính là những động tác học sinh phải làm trong lúc chơi và
nó thành phần quan trọng của trò chơi học tập các hành động chơi là thành phần chính của trò chơi học tập, thiếu chúng thì không còn là trò chơi nữa “các hoạt động chơi như là họa tiết của chủ đề chơi” Hành động chơi phụ thuộc vào luật chơi Những hành động ấy càng phong phú, càng đa dạng thì càng thu hút được sự tích cực tham gia của trẻ bấy nhiêu và bản thân trò chơi càng lí thú hấp dẫn
+Luật chơi là yếu tố cơ bản của trò chơi học tập, nó quyết định người chơi phải
làm gì, làm như thế nào trong một trò chơi Luật chơi quyết định trò chơi và nếu phá
vỡ chúng thì trò chơi học tập cũng bị phá vỡ theo Có thể nói luật chơi có vai trò xác định tính chất phương thức hoạt động, tổ chức và điều khiển hành vi cùng mối quan hệ giữa trẻ với nhau trong khi chơi Những luật chơi này cũng là tiêu chuẩn đánh giá hành động chơi đúng hay sai, việc trẻ lĩnh hội luật chơi, tuân theo luật có tác dụng giáo dục tính độc lập, khả năng tự kiểm tra - đánh giá lẫn nhau Nhờ có luật chơi nhà giáo dục
có thể điều khiển hành vi của trẻ Luật chơi càng chính xác bao nhiêu thì trò chơi càng căng thẳng và quyết liệt bấy nhiêu”
- Trò chơi học tập luôn có một kết quả nhất định, lúc kết thúc trò chơi, học sinh giải quyết xong một nhiệm vụ nhận thức nào đó mà trò chơi yêu cầu Kết quả của trò chơi học tập thường làm thỏa mãn cả nhu cầu nhận thức lẫn nhu cầu chơi của các em
Trò chơi có tính biểu trưng độc đáo: Sự hiện diện khởi đầu của sáng tạo Một
trò chơi thực sự bao giờ cũng có liên quan tới sáng kiến, sáng tạo Trong trò chơi, tư duy và óc tưởng tượng của trẻ hoạt động rất tích cực
trò chơi có thể xuất hiện cả những cảm xúc tiêu cực, nhưng trò chơi bao giờ cũng mang đến cho trẻ niềm sung sướng, thoả mãn, bằng lòng Trò chơi mà không có niềm vui thì không còn là chơi nữa
Tóm lại, trò chơi là một hoạt động tự nhiên và cần thiết thỏa mản nhu cầu giải
trí đa dạng của con người, ngoài những đặc điểm chung của bất cứ các hoạt động xã hội khác (như có phương hướng, có mục đích, có sự tham gia tích cực của cá nhân ), thì trò chơi trẻ em còn mang những đặc điểm chuyên biệt sau :
Động cơ của trò chơi không nằm ở kết quả mà nằm ở ngay trong bản thân hành động chơi Trong trò chơi, trẻ em không bị phụ thuộc vào nhu cầu thực tiễn, chúng chơi xuất phát từ những nhu cầu và hứng thú trực tiếp của bản thân
Trang 18Trò chơi là hoạt động tự lập của trẻ em và mang tính tự do, tự nguyện hay nói cách khác nó thoát khỏi những phương thức hành động bắt buộc Tình tự do và tính tự lập của trẻ trong các loại trò chơi khác nhau được biểu hiện cũng khác nhau Nếu chơi
mà bị ép buộc thì lúc ấy không còn là trò chơi nữa
móng sáng tạo Những sáng kiến của trẻ trong các trò chơi thuộc nhiều thể loại khác nhau được biểu hiện cũng khác nhau
trò chơi đứa trẻ sống hết mình và dấu vết của cuộc sống tuyệt vời đó sẽ lắng đọng sâu sắc trong tâm hồn chúng hơn cả dấu vết của cuộc sống thực Trò chơi giống như niềm vui sướng hay là sự hứng thú, trong trò chơi các chức năng tâm lí được phát huy hết sức mình
1.1.1.4 Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng trò chơi học tập
Trò chơi học tập là một hình thức, phương pháp dạy học bằng hoạt động, hấp dẫn HS do đó duy trì tốt hơn sự chú ý của HS vào bài học cũng như qua trò chơi có nhiều HS tham gia tạo được cơ hội rèn luyện kỹ năng cho các em Nhưng bên cạnh những mặt tích cực này không thể không chú ý đến các mặt hạn chế, nhược điểm của trò chơi học tập Vì vậy, để sử dụng trò chơi học tập một cách hiệu quả nhất, chúng ta cần chú ý đến một số điểm như sau: Trong lựa chọn hoặc thiết kế trò chơi học tập cần lưu ý:
- Mục đích của trò chơi phải thể hiện được mục tiêu của bài học hoặc một phần của chương trình
- Trò chơi phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí và lứa tuổi của HS
- Hình thức trò chơi đa dạng, phong phú giúp HS thay đổi các hoạt động học tập trên lớp, giúp HS phối hợp được hoạt động trí tuệ với hoạt động vận động
- Luật chơi đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện để HS nắm rõ
- Cần đưa ra các cách chơi có nhiều HS tham gia để phát triển kĩ năng hợp tác của HS
- Dụng cụ chơi đơn giản, dễ làm hoặc dễ tìm kiếm tại chỗ, thân thiện với môi trường và gần gũi với HS
- Hình thức khen, phạt rõ ràng, lành mạnh, phù hợp với lứa tuổi HS
Người quản trò:
Trang 19- Có năng lực phù hợp với trò chơi
- Hiểu rõ yêu cầu và cách chơi để có thể hướng dẫn kĩ cho HS
- Lời nói, hành động cần đúng mực, có ý nghĩa trong sáng
- Luôn động viên, khuyến khích các HS tham gia
- Công bằng, nghiêm túc trong khi tổ chức trò chơi
Ngoài ra, cần tổ chức trò chơi vào thời gian thích hợp của bài học để vừa làm cho HS hứng thú học tập vừa hướng HS tiếp tục tập trung các nội dung khác của bài học một cách hiệu quả
1.1.2 Tầm quan trọng của việc dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
Trong chương trình Giáo dục Tiểu học hiện nay, môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 cùng với các môn học khác có vai trò quan trọng trong việc phát triển toàn diện cho học sinh Môn học Tự nhiên và Xã hội là môn học về môi trường tự nhiên xã hội gần gũi, bao quanh học sinh, vì vậy có rất nhiều nguồn cung cấp trí thức cho các em lĩnh
vực này, các em có thể thu nhận kiến thức từ nhiều nguồn khác
Môn Tự nhiên và Xã hội là môn học tích hợp kiến thức của khoa học tự nhiên
và khoa học xã hội trong đó tỉ trọng kiến thức khoa học tự nhiên nhiều hơn so với kiến thức khoa học xã hội Vì vậy môn Tự nhiên và Xã hội là môn học có tầm quan trọng trong sự đổi mới giáo dục ở mỗi nước nói chung, ở Việt Nam nói riêng đó là việc coi trọng thực hành và vận dụng kiến thức, quan tâm đến năng lực tự học, tự khám phá kiến thức của học sinh
Môn Tự nhiên và Xã hội được dạy ở các lớp 1,2,3 ( giai đoạn 1), lớp 4,5 ( giai đoạn 2) phát triển thành môn Khoa học, môn Lịch sử và Địa lí
Môn Tự nhiên và Xã hội là môn học bắt buộc trong chương trình, thông qua môn học cung cấp cho học sinh hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người Học sinh có những hiểu biết cơ bản, ban đầu về các sự vật hiện tương, mối quan hệ giữa chúng trong tự nhiên, xã hội và con người là nền tảng để các em học ở các lớp trên
Môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học không chỉ đơn thuần cung cấp cho học sinh một khối lượng tri thức cần thiết, mà còn tập cho học sinh làm quen với các tư duy khoa học, rèn kỹ năng liên hệ kiến thức với thực tế và ngược lại, giúp các em có được những phẩm chất và năng lực cần thiết thích ứng với cuộc sống, hình thành thái độ khám phá, tìm tòi thực tế…qua đó hình thành nhân cách cho học sinh, phát triển trí
Trang 20thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo và góp phần hình thành và phát triển các năng lực cốt lõi cho HSTH
1.1.3.Vai trò của trò chơi học tập đối với việc nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội
1.1.3.1.Vai trò của trò chơi học tập đối với sự phát triển trí tuệ của học sinh
Học trong quá trình vui chơi là quá trình lĩnh hội tri thức, vốn kinh nghiệm xã hội nhẹ nhàng, tự nhiên, không bị gò bó, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí ở học sinh Học bằng chơi sẽ khơi dậy hứng thú tự nguyện, làm giảm sự căng thẳng thần kinh ở các em, giữ được nét hồn nhiên trẻ thơ Trong quá trình chơi, để thực hiện chức năng của hoạt động chơi, giải quyết nhiệm vụ chơi, học sinh phải sử dụng các giác quan để tiếp nhận thông tin ngôn ngữ, phải tự phân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại và khái quát hoá, tuỳ theo nhiệm vụ nhận thức của trò chơi, làm cho các giác quan của trẻ linh hoạt hơn, ngôn ngữ mạch lạc hơn, tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh, các thao tác trí tuệ được hình thành Qua trò chơi học tập, học sinh lĩnh hội, tiếp thu và khắc sâu được nhiều tri thức, nhiều khái niệm và hình thành được những biểu tượng rõ rệt về các sự vật, hiện tượng xung quanh Trên cơ sở đó, các phẩm chất trí tuệ của các
em được hình thành như: Sự nhanh trí, tính linh hoạt, sáng tạo, tính kiên trì… Trò chơi học tập còn là phương tiện rất tốt để khắc phục những mặt khó khăn trong quá trình tư duy của học sinh Trong quá trình chơi, học sinh bộc lộ những sai lầm trong những tình huống mới, giáo viên hoặc bạn bè trong nhóm sẽ phát hiện và giúp đỡ các em giải quyết các tình huống đó Qua đó, các em sẽ tích luỹ được kinh nghiệm, kịp thời sửa chữa sai sót trong tư duy
Trò chơi học tập có ảnh hưởng sâu sắc tới việc giáo dục đạo đức cho học sinh
Nó góp phần giáo dục cho các em tính thật thà, tính tổ chức, tính tự lực, tính đoàn kết Tóm lại: Trò chơi nói chung và trò chơi học tập nói riêng giúp học sinh phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần Trò chơi làm cho học sinh phát triển các năng lực một cách tự nhiên, giúp các em trao đổi kinh nghiệm, tương tác lẫn nhau từ
đó các em tiếp thu kiến thức được dễ dàng Trò chơi học tập có ý nghĩa rất quan trọng đối với học sinh tiểu học Trò chơi gây hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em lĩnh hội kiến thức về môn học Vui chơi là một hoạt động không thể thiếu được của con người ở mọi lứa tuổi, đặc biệt ở lứa tuổi tiểu học Bởi lẽ, nó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi này nên trò chơi học tập được đánh giá cao trong giảng dạy
Trang 211.1.3.2 Vai trò của trò chơi học tập đối với việc nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội
Môn Tự nhiên và Xã hội là môn học được học sinh yêu thích Nó giúp cho học
sinh hiểu biết thêm phần nào xã hội và thế giới tự nhiên bổ trợ thêm cho một số môn học khác Môn học nhẹ nhàng, mang tính chất “ Học mà chơi, chơi mà học” Thế nên giờ học Tự nhiên và Xã hội phải diễn ra thoải mái nhưng hiệu quả, kích thích sự tư duy sáng tạo của học sinh một cách tự nhiên, không gò ép Muốn vậy ngoài phương pháp dạy học thông thường giáo viên cần tổ chức trò chơi trong giờ dạy Tự nhiên và
Xã hội
Cùng với học, chơi là nhu cầu không thể thiếu được của học sinh Nếu biết tổ chức cho trẻ vui chơi một cách hợp lí, đúng đắn thì đều mang lại hiệu quả dạy học
hội một cách nhẹ nhàng, tự nhiên không gò bó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý học sinh
Học bằng chơi sẽ khơi dậy hứng thú tự nguyện, làm giảm sự căng thẳng thần kinh các em, giữ được sự hồn nhiên của trẻ thơ Chính vì vậy, việc vận dụng trò chơi
sẽ nâng cao hiệu quả dạy học và giáo dục trẻ Thông qua trò chơi rất dễ làm thay đổi thái độ và hành vi của học sinh Cũng như, qua trò chơi học sinh được luyện tập những
kĩ năng những thao tác hành vi đúng đắn, giúp các em thể hiện hành vi một cách đúng đắn và tự nhiên Qua trò chơi, học sinh có cơ hội thể hiện những chuẩn mực hành vi học tập Chính nhờ sự thể hiện này, sẽ hình thành được ở học sinh niềm tin về những
chuẩn mực hành vi đã học, tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi của mình
1.1.4 Phương pháp trò chơi học tập trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội 1.1.4.1.Khái niệm
Trò chơi học tập là trò chơi có nội dung gắn với hoạt động học tập của học sinh 1.1.4.2.Tác dụng của trò chơi học tập
Trong tiết học Tự nhiên và Xã hội, việc tổ chức cho HS chơi vào bất cứ phần nào của bài học đều rất quan trọng vì các lí do:
- Làm thay đổi hình thức học tập;
- Làm cho không khí học tập trong lớp học được thoải mái và dễ chịu hơn;
- Làm cho quá trình học tập trở thành một hình thức vui chơi hấp dẫn;
- HS thấy vui, nhanh nhẹn và cởi mở hơn;
Trang 22- HS tiếp thu tự giác và tích cực hơn;
- HS được củng cố và hệ thống hoá kiến thức
1.1.4.3.Các yêu cầu của trò chơi học tập
- Các trò chơi phải thú vị để HS thích được tham gia;
- Phải thu hút được đa số ( hay tất cả ) HS tham gia;
- Các trò chơi phải đơn giản, dễ thực hiện;
- Các trò chơi không được tốn nhiều thời gian, sức lực để không ảnh hưởng đến các hoạt động tiếp theo của tiết học hoặc ảnh hưởng đến các tiết học khác;
- Quan trọng hơn, trò chơi phải thể hiện rõ mục đích học tập, không đơn thuần
1.1.5 Đặc điểm tâm lý và quá trình nhận thức của học sinh tiểu học
1.1.5.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học
Trang 23Học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng Ở mỗi trẻ
em tiềm tàng khả năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã hội để đạt một trình độ nhất định về lao động nghề nghiệp, về quan hệ giao lưu và chăm
lo cuộc sống cá nhân, gia đình Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là thực thể đang hình thành
và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội các em đang từng bước gia nhập vào xã hội thế giới của mọi mối quan hệ Do đó, học sinh tiểu học chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã hội, mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của gia đình, nhà trường và xã hội Học sinh tiểu học dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tương lai Nhưng cũng thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ định chưa được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét Trẻ nhớ rất nhanh và quên cũng nhanh
trong quá trình dạy học Nếu chúng ta tác động vào đối tượng mà không hiểu tâm lí của đối tượng thì cũng như chúng ta đập búa trên một thanh sắt nguội vậy Do đó trong quá trình dạy học tiểu học, giáo viên cần phải căn cứ vào những đặc điểm tâm lí lứa tuổi để lựa chọn và xây dựng những phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học phù hợp, có như vậy phương pháp dạy học mới đem lại hiệu quả như mong muốn
học sinh tiểu học được biểu hiện ở những nét như trầm lặng, sôi nổi, mạnh dạn, nhút nhát song những nét tính cách này mới được hình thành, chưa ổn định có thể thay đổi dưới tác động của giáo dục nhà trường, gia đình, xã hội Hành vi của trẻ có tính xung đột, các em có khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới ảnh hưởng kích thích bên ngoài hay bên trong Do đó hành vi của trẻ dễ có tính bộc phát
Phần lớn cũng có những nét tính cách tốt như vị tha, lòng thương người, hồn nhiên trong quan hệ với người lớn, thầy cô, bạn bè Hồn nhiên nên cả tin, tin vào mọi điều sách vở, người lớn, khả năng bản thân Bên cạnh đó một đặc điểm cần chú ý là các em hay bắt chước nên khi xây dựng câu hỏi giáo viên nên chia tối thiểu 2 đề để học sinh
tự làm bài
Trang 24Và đặc biệt nhân cách của trẻ em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt Vì thế mà nhân cách của trẻ em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình thông qua các câu hỏi theo định hướng phải phát triển năng lực phải yêu cầu các em bộc lộ suy nghĩ hay ý kiến cá nhân để đưa ra câu trả lời hợp lí
Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lí của học sinh tiểu học,
vì nó là khâu quan trọng gắn liền với nhận thức với hành động của trẻ em Từ đặc điểm này trong dạy học và giáo dục cần khơi dậy những cảm xúc tự nhiên của học sinh
Ý chí của học sinh tiểu học sẽ bị chi phối bởi tình cảm Tình cảm có thể thúc đẩy ý chí hoặc kìm hãm ý chí Tính độc lập của các em tương đối còn kém Vì vậy kiểm tra dưới nhiều hình thức viết khác nhau sẽ giúp các em tự suy nghĩ, làm hết khả năng của mình, không phụ thuộc bạn
nhiệm vụ học tập Mặt khác nhu cầu tự khẳng định mình là thành viên của xã hội, của nhóm, tập thể là nhu cầu cơ bản của con người muốn được mọi người thừa nhận vị trí của mình, được khen ngợi, muốn giúp đỡ người khác và được người khác giúp đỡ khi cần thiết Trong giáo dục đạo đức cần tận dụng tác động tâm lí của nhóm, tập thể Tôn trọng sự tự quản của các em học sinh để phát triển sáng kiến, góc tổ chức, trên tinh thần cộng đồng trách nhiệm xây dựng nhóm, tập thể Trên cơ sở đó, hình thành cho học sinh biết tự rèn luyện, tự giáo dục Đây là hình thức cao nhất của giáo dục đạo đức
khẳng định ở các lớp sau, nhờ cơ chế “thầy tổ chức, trò hoạt động” Do đó các nhà sư
phạm hiện đại cho rằng bắt đầu từ lớp 1, cách học vừa là tiền đề, vừa là công cụ, phương tiện vừa là mục đích của dạy học Tri thức và cách học dần được hình thành trong quá trình học tập ở bậc tiểu học Khi nó được hình thành thì nó trở thành công
cụ, phương tiện tiếp thu các khái niệm khoa học ở các lớp trên Cách học không thể được hình thành nhờ khuyên răn và trừng phạt Nó chỉ được hình thành trong quá trình học sinh tự mình khám phá ra một cái mới
Trang 25Tóm lại trên cơ sở các kết quả nghiên cứu tâm lí học sư phạm của học sinh tiểu học, chúng ta có thể kết luận Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh tiểu học, hoạt động này hình thành và phát triển trong lòng hoạt động vui chơi, giao lưu giữa các học sinh Vì vậy theo nhận xét trên khi vận dụng các phương pháp dạy học cần có những thiết kế sư phạm cho nội dung dạy học phù hợp với phát triển tâm lí của học sinh nhằm mang lại hiệu quả cao cho việc hình thành và phát triển nhận thức, nhân cách của học sinh tiểu học
1.1.5.2 Quá trình nhận thức của học sinh tiểu học
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, toàn bộ, ít đi sâu vào chi tiết (lớp 1, lớp 2), tuy nhiên trẻ cũng bắt đầu có khả năng phân tích để tách biệt dấu hiệu, chi tiết nhỏ của một đối tượng nào đó Ví dụ: Trẻ khó phân biệt cây mía và cây sậy Tri giác thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn: Trẻ phải cầm nắm, sờ mó
sự vật thì tri giác sẽ tốt hơn Tri giác và đánh giá không gian, thời gian còn hạn chế: Tri giác chưa xác định được độ lớn của những vật quá lớn hoặc quá nhỏ Tri giác thời gian còn hạn chế hơn
đặc điểm bên ngoài Nhờ hoạt động học tập, tư duy dần mang tính khái quát Khi khái quát, học sinh tiểu học thường dựa vào các chức năng và công dụng của sự vật hiện tượng, trên cơ sở này chúng tiến hành phân loại, phân dạng Hoạt động phân tích tổng hợp còn sơ đẳng Việc học Tự nhiên và Xã hội sẽ giúp học sinh biết phân tích và tổng hợp Trẻ thường gặp khó khăn trong việc thiết lập mối quan hệ nhân quả
Chú ý không chủ định vẫn phát triển, chú ý có chủ định vẫn còn yếu và thiếu bền vững Sự phát triển chú ý gắn liền với sự phát triển của hoạt động học tập Nhu cầu, hứng thú có thể kích thích và duy trì được được sự chú ý không chủ định cho nên
GV cần làm cho giờ học hấp dẫn và lí thú
Vì sự chú ý của học sinh, học sinh biết ghi nhớ các thông tin một cách có hệ thống, biết dựa vào các điểm tựa ghi nhớ trong học tập
tiểu học còn chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa mà có khuynh hướng phát triển trí nhớ máy móc Ghi nhớ gắn với mục đích sẽ giúp trẻ nhớ nhanh hơn, lâu hơn và chính xác hơn
Trang 26Vì trí nhớ của học sinh tiểu học còn mang tính trực quan nên việc ghi nhớ còn dựa vào các điểm tựa của ghi nhớ, chưa biết xây dựng dàn bài tài liệu cần ghi nhớ Tưởng tượng của học sinh tiểu học được hình thành và phát triển trong hoạt động học và các hoạt động khác của các em Tưởng tượng của các em còn tản mạn, hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững Trong dạy học giáo viên cần hình thành biểu tượng thông qua mô tả bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ của giáo viên được xem
là biểu tượng tượng trực quan
Nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học đã phát triển khá rõ nét: Từ nhu cầu tìm hiểu những sự vật, hiện tượng riêng lẻ (lớp 1 và lớp 2) đến nhu cầu phát hiện những nguyên nhân, quy luật và các mối liên hệ, quan hệ phụ thuộc giữa các hiện tượng (lớp 3, lớp 4, đặc biệt là lớp 5)
Vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên, người GV nên chỉ đóng vai trò quan sát, không nên can thiệt quá nhiều vào quá trình hoạt động của các em GV chỉ nên đưa ra sự giúp đỡ khi thực sự cần thiết, tránh để các em phụ thuộc vào GV
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Đặc điểm và cấu trúc chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
1.2.1.1 Đặc điểm môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học
Tự nhiên và Xã hội là môn học bắt buộc ở các lớp 1, 2, 3, tích hợp những kiến thức về thế giới tự nhiên và xã hội Môn học đóng vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh học tập các môn Khoa học, Lịch sử và Địa lí ở các lớp 4, 5 của cấp tiểu học, đồng thời góp phần đặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội ở các cấp học trên Môn học coi trọng việc tổ chức cho học sinh trải nghiệm thực tế, tạo cho học sinh cơ hội tìm tòi, khám phá thế giới tự nhiên và xã hội xung quanh; vận dụng kiến thức vào thực tiễn, học cách ứng xử phù hợp với tự nhiên
và xã hội
Trong chương trình Tự nhiên và xã hội ở tiểu học được chia thành 2 giai
đoạn: Giai đoạn các lớp 1, 2, 3 và giai đoạn các lớp 4, 5
- Giai đoạn I (lớp 1,2,3) được cấu trúc thành các chủ đề (môn Tự nhiên và Xã hội)
- Giai đoạn II (lớp 4,5) được cấu trúc theo chủ đề (môn Khoa học) và
theo phân môn (môn Lịch sử và Địa lí)
Trang 27Căn cứ vào quan điểm, mục tiêu, yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực, kế hoạch giáo dục và định hướng về nội dung giáo dục được nêu trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và đặc trưng của môn học, chương trình môn Tự nhiên và Xã hội cấp tiểu học được xây dựng theo một số quan điểm sau đây:
đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của con người là cầu nối giữa tự nhiên và xã hội
đồng địa phương, Thực vật và động vật, Con người và sức khoẻ, Trái Đất và bầu trời Các chủ đề này được phát triển theo hướng mở rộng và nâng cao từ lớp 1 đến lớp 3 Mỗi chủ đề đều thể hiện mối liên quan, sự tương tác giữa con người với các yếu tố tự nhiên và xã hội trên cơ sở giáo dục giá trị và kĩ năng sống, giáo dục các vấn đề liên quan đến việc giữ gìn sức khoẻ, bảo vệ cuộc sống an toàn của bản thân, gia đình và cộng đồng, bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai ở mức độ đơn giản và phù hợp
- Tăng cường sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình học tập bằng cách giúp các em biết đặt câu hỏi, tham gia vào những hoạt động trải nghiệm có ý nghĩa để tìm kiếm câu trả lời; tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi điều tra, khám phá; hướng dẫn học sinh thể hiện việc học tập của cá nhân và nhóm thông qua các sản phẩm học tập; khuyến khích học sinh vận dụng được những điều đã học vào đời sống
Môn Tự nhiên và Xã hội góp phần giúp học sinh hình thành và phát triển tình yêu con người, thiên nhiên; tính chăm chỉ; ý thức bảo vệ sức khoẻ thể chất và tinh thần của bản thân, gia đình, cộng đồng; ý thức tiết kiệm, giữ gìn, bảo vệ tài sản; tinh thần trách nhiệm với môi trường sống Môn học đồng thời góp phần giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực nhận thức về tự nhiên và xã hội; năng lực tìm tòi và khám phá các sự vật, hiện tượng và mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng thường gặp trong tự nhiên và xã hội; năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ứng xử phù hợp với tự nhiên và xã hội
1.2.1.2 Đặc điểm môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
Môn Tự nhiên và Xã hội là môn học chứa đựng những kiến thức gắn với đời sống con người các sự vật hiện tượng trong thực tế cuộc sống rất gần gũi với học sinh tiểu học Môn Tự nhiên và Xã hội là môn học tích hợp kiến thức của khoa học tự nhiên
và khoa học xã hội trong đó tỉ trọng kiến thức khoa học tự nhiên nhiều hơn so với kiến thức khoa học xã hội MônTự nhiên và Xã hội lớp 2 được xây dựng theo quan điểm
Trang 28tích hợp xem xét tự nhiên con người và xã hội trong một thể thống nhất có quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau, các kiến thức trong chương trình là kết quả tích hợp kiến thức của nhiều ngành Khoa học, Sinh học, Vật lý, Địa lý, Lịch sử, Môi trường Nội dung chương trình có cấu trúc đồng tâm, hợp lý Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp
2 sẽ tiếp tục phát triển mở rộng các kiến thức các em đã học ở lớp 1 theo 3 chủ đề: Con người- sức khỏe, Xã hội, Tự nhiên Sau khi học xong các chủ đề học sinh cần đạt được mục tiêu đề ra biết sơ lược về hoạt động của cơ quan vận động và cơ quan tiêu hóa ở cơ thể người, phòng chống cong vẹo cột sống, giữ vệ sinh ăn uống phòng nhiễm giun Biết về công việc của các thành viên trong gia đình, nhà trường và một số nghề nghiệp trong xã hội, ở địa phương, giữ sạch nhà ở, trường học, giữ an toàn khi ở nhà, ở trường và khi đi đường Biết cây cối và các con vật có thể sống được ở khắp nơi trên cạn, dưới nước, trên không biết quan sát bầu trời ban ngày và đêm có hiểu biết sơ lược
về hình dạng đặc điểm của Mặt trời, Mặt trăng và các vì sao qua 10 bài học cụ thể
bản thân, ứng xử hợp lý trong đời sống để phòng chống một số bệnh tật và tai nạn Quan sát, nhận xét, nếu thắc mắc,đặt câu hỏi, biết cách diễn đạt những hiểu biết của mình về các sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội Hình thành và phát triển những thái độ và hành vi: Cố ý khi thực hiện các quy tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng Yêu thiên nhiên, gia đình, trường học, quê hương Môn Tự nhiên và Xã hội là môn học về môi trường tự nhiên và xã hội gần gũi, bao quanh học sinh, vì vậy có rất nhiều nguồn cung cấp kiến thức cho các em Do đó không chỉ có giáo viên cung cấp trí thức cho các em lĩnh vực này mà các em có thể thu thập kiến thức từ nguồn khác
chiếm vị trí quan trọng cùng các môn học khác có vai trò tích cực trong việc phát triển toàn diện của học sinh Việc coi trọng thực hành và vận dụng kiến thức, quan tâm đến năng lực tự học, tự khám phá kiến thức của học sinh rất được quan tâm Việc tự khám phá để hiểu biết và tiếp thu kiến thức mới hay củng cố kiến thức đã học rất hữu ích so với sự rập khuôn, bắt chước Trò chơi làm cho quá trình học tập trở thành một hình thức vui chơi hấp dẫn học sinh học mà chơi - chơi mà học nâng cao hiệu quả tiết học
Trang 291.2.1.3 Cấu trúc chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng đều có 3 chủ đề lớn đó là : (1)Con người và sức khoẻ; (2) Xã hội ;(3) Tự nhiên được cấu trúc đồng tâm và mở rộng dần theo nguyên tắc từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể đến trừu tượng Nội dung 3 chủ đề là sự tích hợp của nhiều kiến thức giúp học sinh có cách nhìn toàn diện về con người, thiên nhiên và cuộc sống xung quang Tự nhiên và
Xã hội là môn học giúp học sinh có một kiến thức cơ bản ban đầu về con người và sức khỏe, về một số sự vật hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội Môn học cũng rất chú trọng đến việc hình thành và phát triển kỹ năng trong học tập như : Quan sát, nêu nhận xét, thắc mắc, đặt câu hỏi và diễn đạt hiểu biết của bản thân về các sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và trong xã hội Ngoài việc hình thành những kiến thức,
kĩ năng cần thiết môn học còn góp phần giáo dục thái độ, thói quen và hành vi đúng đắn của học sinh với cuộc sống xung quanh Sự phong phú, đa dạng của các đối tượng trong nhóm chủ đề tạo cho trẻ hứng thú được tìm hiểu khám phá đối tượng Song những đối tượng đó cũng là những sự vật hiện tượng gần gũi gắn với cuộc sống hàng ngày của trẻ Qua đó giúp trẻ có cơ hội được liên hệ, vận dụng kiến thức với thực tiễn cuộc sống Mặt khác, quá trình nhận thức của học sinh lớp đầu tiểu học mang tính trực quan của thể, tư duy gắn liền với hoạt động trực tiếp, hình ảnh cụ thể Để tiếp thu được kiến thức tổng hợp trên thì giáo viên phải tổ chức cho học sinh được hoạt động trực tiếp sử dụng các giác quan trực tiếp sờ, mó, nghe, nhìn, ngửi, nếm… Thông qua quá trình học tập chủ động, tích cực đó mà các năng lực cá nhân học sinh được bộc lộ và phát triển
Cụ thể như sau :
Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 gồm 1 tiết/tuần 35 tuần = 35 tiết
Con người và sức khoẻ Bài 1 :Cơ quan vận động
Bài 2 : Bộ xương Bài 3 : Hệ cơ Bài 4 : Làm gì để xương và cơ phát triển tốt ? Bài 5 : Cơ quan tiêu hóa
Bài 6 : Tiêu hóa thức ăn
Trang 30Bài 7 : Ăn uống đầy đủ Bài 8 : Ăn uống sạch sẽ Bài 9: Đề phòng bệnh giun Bài 10: Ôn tập: Con người và sức khoẻ
Xã hội
Bài 11: Gia đình Bài 12: Đồ dùng trong gia đình Bài 13: Giữ sạch môi trường xung quanh nhà ở Bài 14: Phòng tránh ngộ độc khi ở nhà
Bài 15 : Trường học Bài 16 : Các thành viên trong nhà trường Bài 17: Phòng tránh ngã khi ở trường Bài 18: Thực hành: Giữ trường học sạch đẹp Bài 19 : Đường giao thông
Bài 20 : An toàn khi đi các phương tiện giao thông Bài 21 : Cuộc sống xung quanh
Bài 22 : Cuộc sống xung quanh ( tiếp theo ) Bài 23 : Ôn tập: Xã hội
Tự nhiên
Bài 24 : Cây sống ở đâu Bài 25 : Một số loài cây sống trên cạn Bài 26 : Một số loài cây sống dưới nước Bài 27 : Loài vật sống ở đâu ?
Bài 28 : Một số loài vật sống trên cạn Bài 29 : Một số loài vật sống dưới nước Bài 30 : Nhận biết cây cối và các con vật Bài 31 : Mặt Trời
Bài 32 : Mặt Trời và các phương hướng Bài 33 : Mặt trăng và các vì sao
Bài 34-35 : Ôn tập : Tự nhiên
Trang 311.2.2 Thực trạng của việc thiết kế và sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở lớp 2
1.2.2.1 Mục đích, yêu cầu khảo sát
Tìm hiểu thực trạng thiết kế và sử dụng trò chơi học tập trong giờ Tự nhiên và
Xã hội lớp 2 Từ đó, thiết kế trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học các
môn Tự nhiên và Xã hội
1.2.2.2 Nội dung khảo sát
+ Cảm nhận của HS khi được chơi trò chơi trong giờ học
+ Mong muốn của các em về các trò chơi
+ Một số trò chơi các em thường được tham gia
1.2.2.3 Đối tượng khảo sát
Đề tài khảo sát 315 HS và 21 GV làm công tác chủ nhiệm và giảng dạy các lớp khối lớp 2 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi và trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, thành phố Đà Nẵng
1.2.2.4 Phương pháp khảo sát
• Sử dụng phương pháp đàm thoại, phương pháp điều tra bằng Anket với giáo viên và học sinh ở trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi và trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ
• Sử dụng phương pháp quan sát để thu thập thông tin khi tham gia dự giờ của giáo viên ở trường Tiểu học
• Sử dụng phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Phân tích và đánh giá, phiếu học tập của học sinh các lớp đầu cấp Tiểu học
• Phương pháp xử lí số liệu: Phương pháp tính tỉ lệ phần trăm
Trang 321.2.2.5 Đánh giá kết quả khảo sát
1 Đối với GV:
Khi tiến hành thăm dò ý kiến của 21 GVở khối lớp 2 ở trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi và trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, chúng tôi thu nhận được kết quả sau:
a, Mức độ sử dụng trò chơi trong môn Tự nhiên và Xã hội
Theo kết quả khảo sát mực độ sử dụng trò chơi học tập trong giờ học môn Tự nhiên và xã hội của 21 GV ở trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi và Huỳnh Ngọc Huệ được kết quả trong bảng sau:
Bảng 1 Mức độ sử dụng trò chơi trong môn Tự nhiên và Xã hội
Qua số liệu trên có thể thấy, tất cả các giáo viên đều sử dụng trò chơi học tập trong môn Tự nhiên và Xã hội Tuy nhiên, việc sử dụng trò chơi trong giờ học chưa được thường xuyên, phần lớn giáo viên chỉ thỉnh thoảng mới đưa trò chơi học tập vào trong các tiết học, số lượng đó chiến 57,2% Có khoảng 6 giáo viên trong tổng số 21GV, chiếm 28,5% thường xuyên sử dụng các trò chơi học tập trong giờ dạy.Và có 3
GV chiếm 14,3% là ít khi sử dụng trò chơi trong dạy học Như vậy trò chơi học tập là một hình thức, phương pháp quen thuộc đối với mọi giáo viên Nó được sử dụng phổ biến trong các giờ học Tự nhiên và Xã hội
b, Nội dung thường được thiết kế trong TCHT
Qua trao đổi với các thầy cô về nội dung được sử dụng trong trò chơi học tập, thu được kết quả trong biểu đồ sau:
Trang 33Biểu đồ 1 : Nội dung được thiết kế trong trò chơi học tập môn Tự nhiên và Xã hội
c, Mục đích sử dụng trò chơi trong môn Tự nhiên và Xã hội
Trò chơi học tập là phương pháp, hình thức dạy học mang lại nhiều hiệu quả trong các giờ học Đặc biệt là đối với HS tiểu học, trò chơi là hình thức giúp các em vừa học nhưng cũng vừa chơi Chính vì vậy, có nhiều cách tổ chức trò chơi khác nhau
và mỗi cách có các mục đích riêng Khi được hỏi về mục đích sử dụng trò chơi trong môn Tự nhiên và Xã hội thu được kết quả trong bảng sau:
Bảng 2 : Mục đích sử dụng trò chơi trong môn Tự nhiên và Xã hội
Từ bảng số liệu thu được sau khi thăm dò ý kiến của các GV, có thể thấy hầu hết các GV đều sử dụng trò chơi nhằm mục đích củng cố bài học cho HS, mục đích này chiếm 100% Sử dụng trò chơi nhằm mục đích giới thiệu kiến thức mới cho HS chiếm 57,1%, các giáo viên cho biết việc tổ chức trò chơi đầu tiết học tốn nhiều thời gian và khó có thể ổn định lại lớp học để bắt đầu tiết học Có một số ít GV sử dụng trò chơi khoảng 42,8% nhằm mục đích giảm áp lực cho học sinh sau giờ học tập căng thẳng Và có 71,4% các giáo viên sử dụng trò chơi với tất cả mục đích trên Như vậy, việc sử dụng trò chơi trong giờ Tự nhiên và Xã hội có nhiều mục đích khác nhau,
Trang 34nhưng tất cả mục đích đó đều hướng tới cung cấp kiến thức về môi trường xung quanh, rèn luyện kĩ năng một cách phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý HS tiểu học
d, Đánh giá của GVvề thái độ HS khi tham gia trò chơi
Biểu đồ 2 : Thái độ học sinh khi tham gia trò chơi
Khi tổ chức trò chơi trong giờ lên lớp, tất cả các GV đều nhận thấy HS rất hứng thú và tích cực tham gia trò chơi, không khí lớp học sôi nổi và vui tươi hơn Bên cạnh
đó, GV còn đánh giá một số em có thái độ bình thường 4% và không nhiệt tình tham gia 1% Qua tìm hiểu được biết hầu hết các em đó là HS học hòa nhập hoặc là HS tính trầm lặng không thích sự ồn ào Ngoài ra, có 1% ý kiến GV đánh giá thái độ HS là lúc ban đầu hăng hái tham gia nhưng sau đó giảm dần và tỏ ra thiếu quan tâm, GVcho biết thêm có thể là do trò chơi không thể tạo điều kiện cho cả lớp cùng tham gia, hoặc là trò chơi này các em đã được chơi nhiều lần Tóm lại, HS đa phần rất vui vẻ, hào hứng, nhiệt tình tham gia các trò chơi do GVtổ chức
e, Những khó khăn thường gặp khi thiết kế và tổ chức trò chơi
Tiến hành thăm dò ý kiến của các GV ở trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi và Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ về những khó khăn các GV hay gặp khi thiết kế và tổ chức trò chơi, thu được kết quả bảng sau:
Trang 35Bảng 3 : Những khó khăn thường gặp khi thiết kế và tổ chức trò chơi
và cả chủ quan
Trang 362 Đối với HS:
Ngoài thăm dò ý kiến và trao đổi với GV, đề tài còn lấy ý kiến của 315 học sinh khối lớp 2 học tại trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi và Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, thành phố Đà Nẵng
a, Mức độ hứng thú của học sinh đối với môn Tự nhiên và Xã hội
Biểu đồ 3: Mức độ hứng thú của HS
Khi được hỏi “Các em có yêu thích môn Tự nhiên và Xã hội hay không ?” thì tất cả các học sinh đều trả lời rất thích Hầu hết các em đều có ý kiến học môn Tự nhiên và Xã hội rất bổ ích, cung cấp cho các em nhiều kiến thức xung quanh cuộc sống môn học này giúp các em rèn luyện các kĩ năng sống cần thiết
b, Mức độ hiểu biết của học sinh về môn học Tự nhiên và Xã hội lớp 2
Qua quan sát, hầu hết học sinh đều nắm rõ các nội dung được học trong môn Tự nhiên và Xã hội Trong môn Tự nhiên và Xã hội có các nội dung chính: Con người và sức khoẻ; Xã hội; Tự nhiên Các nội dung này được sắp xếp theo chủ đề và phù hợp với từng giai đoạn phát triển của học sinh
c, Thái độ của học sinh khi tham gia trò chơi học tập
Trò chơi học tập là một hình học tập phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học Vì thế, hầu hết học sinh tiểu học đều rất thích trò chơi Qua khảo sát ý kiến của 315 học sinh khối lớp 2 phần lớn các em đều rất thích chơi trò chơi học tập và cảm thấy thoải mái và vui vẻ hơn khi ngồi học những giờ học nhàm chán Hơn nữa, qua trò chơi giúp các em hiểu thêm nhiều kiến thức xung quanh cuộc sống mà trong sách không có Bên cạnh đó, cũng còn một số học sinh không thích chơi trò chơi bởi vì
72%
Thích Không thích
Ý kiến khác
Trang 37những trò chơi do giáo viên tổ chức đa phần các em đã được chơi và hầu hết trò chơi không thể cho tất cả các bạn trong lớp đều tham gia được
d, Mức độ sử dụng trò chơi trong giờ học Tự nhiên và Xã hội
Bảng 4 : Mức độ sử dụng trò chơi trong dạy học
Từ bảng trên có thể thấy, trò chơi không xuất hiện thường xuyên trong các giờ học Tự nhiên và Xã hội Có thể do nhiều lí do khách quan và chủ quan nên trò chơi chưa được sử dụng thường xuyên mặc dù hiệu quả từ trò chơi mang lại rất lớn
e, Mong muốn của học sinh đối với trò chơi trong môn Tự nhiên và Xã hội
sinh có thể nói chơi là hoạt động các em hăng hái và tích cực hơn hẳn Chính vì vậy,
để thiết kế được các trò chơi vừa giúp các em hứng thú và vui vẻ, vừa giúp các em có thể có thêm những kiến mới hay củng cố lại kiến thức cũ, trong phần khảo sát tôi có đưa ra câu hỏi : “Em mong muốn gì trong giờ học môn Tự nhiên và Xã hội, em sẽ được chơi những trò chơi như thế nào? ” nhằm hiểu được các mong muốn của các em,
từ đó thiết kế được các trò chơi phù hợp với các em, giúp các em vừa học vừa chơi
Bảng 5: Mong muốn của học sinh đối với trò chơi trong môn Tự nhiên và Xã hội
xung quanh cuộc sống
Trang 38Từ kết quả khảo sát, đề tài nhận thấy các em có rất nhiều mong muốn về một trò chơi trong môn Tự nhiên và Xã hội Qua khảo sát, có đến (77,8%) HS đều mong muốn có thể chơi một trò chơi có nhiều hình ảnh và âm thanh sinh động, gần gũi Như vậy, có thể nhận định rằng tâm lí, nhận thức của HS tiểu học phần lớn bị chi phối bởi các hình ảnh, âm thanh sinh động, hấp dẫn Ngoài ra, đối với trò chơi các em có nhiều mong muốn khác, muốn có nhiều câu hỏi về động vật, thực vật trong cuộc sống (21,7%); muốn cả lớp có thể cùng tham gia (88,3%); muốn trò chơi có sự hợp tác giữa các bạn trong nhóm (14,3%); thích các câu hỏi có yếu tố chinh phục, vượt chướng ngại vật (20,7%);các câu hỏi đố, mẹo (11,1%) Các em có những mong muốn, những yêu cầu khác nhau về trò chơi mà mình muốn tham gia Tuy nhiên, có đặc điểm chung là tất cả các em đều muốn trò chơi có thể có nhiều các hình ảnh, âm thanh sinh động, có thêm nhiều kiến thức về cuộc sống xung, mang tính thách thức và đặc biệt hơn, các em thích chơi và hoạt động với các bạn của mình
3 Nhận xét
Sau khi khảo sát thăm dò và trò chuyện với các thầy cô, học sinh, tôi nhận thấy rằng, trò chơi là một hình thức, phương pháp quen thuộc đối với GV và cả HS Tuy nhiên, các trò chơi đó không được tổ chức thường xuyên trong các tiết học Tự nhiên
và Xã hội, các trò chơi được thiết kế một cách đơn giản ít chú trọng nhiều đến hình ảnh, màu sắc và dạng trò chơi Qua khảo sát, tôi thấy rằng các GV tiểu học gặp nhiều khó khăn khi thiết kế các trò chói có đủ các yếu tố như : Nội dung, mục tiêu, hình thức…Một số khó khăn các thầy cô hay gặp phải khi thiết kế trò chơi là:
- Thiết kế tốn thời gian;
- Thời gian cho một tiết học ngắn;
- Trò chơi không đa dạng;
- Khó khăn trong thiết kế trò chơi nhiều màu sắc, hấp dẫn;
- Khó khăn trong việc lựa chọn nội dung phối hợp với học sinh;
- Trò chơi không thể cho tất cả học sinh tham gia;
- Phần mền thiết kế trò chơi khó, yêu cầu chuyên môn cao;
- Học sinh không nhiệt tình tham gia;
Đối với HS, hầu hết các học sinh đều thích chơi trò chơi trong giờ học Và các
em có những mong muốn, những ý thích về các trò chơi như :
- Có nhiều hình ảnh và âm thanh sinh động, gần gũi;
Trang 39- Có nhiều câu hỏi về các loại động vật, thực vật xung quanh cuộc sống ;
- Có nhiều câu hỏi để cả lớp cùng tham gia;
- Có sự hợp tác làm việc của các bạn trong một nhóm;
- Có yếu tố chinh phục, vượt chướng ngại vật;
- Có các câu hỏi đố, mẹo;
Kết quả thăm dò ý kiến của GV và HS, có thể thấy cần có một phần mềm không đòi hỏi chuyên môn cao giúp GV có thể thiết kế được những trò chơi sinh động, hấp dẫn và bổ ích đối với HS Từ đó, giúp các em cảm thấy mỗi ngày đến trường thật vui và ý nghĩa
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, đề tài đã đưa ra những cơ sở lí luận về trò chơi học tập, những yếu tố tâm lí của HSTH Hơn nữa, trong chương 1, đề tài đã tiến hành khảo sát nội dung và đánh giá thực trạng của việc dạy học Tự nhiên và Xã hội lớp 2 tại 2 trường tiểu học trên địa bàn thành phố- Đà Nẵng Đây cũng là cơ sở để chúng tôi tiến hành thực hiện chương 3
Trang 40CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG MÔN TỰ NHIÊN VÀ
XÃ HỘI LỚP 2 2.1.Nguyên tắc thiết kế trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả dạy học trong môn tự nhiên và Xã hội lớp 2
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu chương trình
Trong chương trình tiểu học nói chung và môn Tự nhiên và Xã hội nói riêng, mỗi một tiết học, giờ học diễn ra theo hình thức, phương pháp nào thì cũng nhằm đi tới một mục tiêu nhất định, đó là mục tiêu của bài học và nội dung bài học hướng đến nhằm cung cấp cho học sinh nhưng hiểu biết ban đầu về con người, sức khỏe và một
số kiến thức cơ bản các sự vật, hiện tượng đơn giản xung quanh cuộc sống của các em
Vì vậy, khi thiết kế hoạch trò chơi học tập trong môn Tự nhiên và Xã hội, đầu tiên người giáo viên cần chú ý tới mục tiêu và nội dung của bài học đó thể hiện trong trò chơi Việc đảm bảo mục tiêu bài học là điều quy định Trong tổ chức dạy học, học sinh được học trong môi trường thực tế, thực hành là chủ yếu, do đó không chỉ học sinh mà
cả giáo viên cũng có thể bị cuốn hút bởi sự đa dạng của sự vật, hiện tượng xung quanh cũng như dễ bị sa đà vào quá trình thực hành Vì vậy, bám sát mục tiêu bài học là một yêu cầu quan trọng cần đặt ra trong quá trình thiết kế, tổ chức dạy học theo hướng phát
triển năng lực cho học sinh tiểu học
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức của học sinh
Trong tiến trình dạy học, khi lựa chọn trò chơi, phương pháp và hình thức tổ chức, việc nâng cao dần mức độ dạy học phải đảm bảo tính vừa sức của học sinh Những yêu cầu và nhiệm vụ học tập đề ra, mọi học sinh trong lớp đều có thể thực hiện được với sự nỗ lực cao nhất về trí tuệ và thể lực Nguyên tắc này đòi hỏi khi xây dựng
kế hoạch dạy học Tự nhiên và Xã hội người giáo viên cần cân nhắc, thiết kế nội dung, cách thức tiến hành phù hợp với trình độ trung bình chung học sinh trong lớp, đồng thời cũng phải phù hợp với trình độ của từng đối tượng học sinh để có thể phát triển tối
đa khả năng, sức sáng tạo của mỗi học sinh Mỗi trò chơi học tập phải giúp học sinh đạt được mục tiêu của bài học, phải gây được hứng thú và nhu cầu học tập của học sinh, đảm bảo tính chính xác, đảm bảo tính vừa sức với học sinh cũng như nội dung bài học, đồng thời phát huy được sự sáng tạo, tư duy phát hiện ra kiến thức mới và cũng cố kiến thức đã học