NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Một số khái niệm cơ bản
Du lịch đã có mặt từ rất sớm trong lịch sử nhân loại, phản ánh sự tò mò và khát khao khám phá thế giới xung quanh của con người Ngay từ thời kỳ xa xưa, con người đã muốn tìm hiểu về các vùng đất khác, khám phá cảnh quan, các tộc người, nền văn hóa, cũng như hệ động - thực vật đa dạng ở những miền đất và quốc gia khác nhau.
Hoạt động du lịch đã tồn tại từ lâu và phát triển nhanh chóng, trở thành một phần quan trọng trong đời sống con người hiện đại Khái niệm du lịch ngày nay không chỉ đơn thuần là việc di chuyển từ nơi này đến nơi khác, mà còn bao gồm trải nghiệm văn hóa, khám phá thiên nhiên và giao lưu xã hội.
Du lịch được định nghĩa khác nhau ở mỗi quốc gia và từ nhiều góc độ khác nhau, cả trong nghiên cứu lẫn thực tiễn Theo nhà nghiên cứu Berneker, số lượng định nghĩa về du lịch tương ứng với số lượng tác giả nghiên cứu về lĩnh vực này.
Theo định nghĩa của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), du lịch bao gồm tất cả các hoạt động của con người diễn ra ngoài nơi cư trú thường xuyên trong khoảng thời gian không quá 12 tháng, nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, công vụ và nhiều lý do khác.
Tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch diễn ra tại Rome, Italia từ ngày 21/8 đến 5/9/1963, các chuyên gia đã định nghĩa du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và hoạt động kinh tế phát sinh từ những chuyến đi và lưu trú của cá nhân hoặc tập thể ở ngoài nơi cư trú thường xuyên hoặc ngoài lãnh thổ quốc gia, với mục đích hòa bình Nơi lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), du lịch bao gồm tất cả các hoạt động của những người đi du lịch tạm thời nhằm mục đích tham quan, khám phá, trải nghiệm hoặc nghỉ ngơi, giải trí và thư giãn Hoạt động này diễn ra liên tục nhưng không quá một năm ở nơi khác ngoài môi trường sống của họ, và không bao gồm các chuyến đi có mục đích chính là kiếm tiền.
Theo Tổng cục Du lịch, du lịch được định nghĩa là hoạt động của con người rời khỏi nơi ở thường xuyên để thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí và nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Khoa Ngữ văn - Đại học Sư phạm - ĐHĐN nghiên cứu tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và hoạt động kinh tế phát sinh từ hành trình và lưu trú tạm thời của du khách, nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng với mục đích hòa bình và hữu nghị.
Trong nghiên cứu, thực sự có những khó khăn nhất định trong việc đưa ra định nghĩa về du lịch vì những lí do cơ bản:
Thứ nhất do tồn tại các cách tiếp cận và dưới các góc độ khác nhau mà các tác giả có các định nghĩa khác nhau
Thứ hai do sự khác nhau về ngôn ngữ và cách hiểu về du lịch ở các nước khác nhau
Thứ ba do tính chất đặc thù của hoạt động du lịch
Du lịch là một hoạt động đặc thù, bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo nên một tổng thể phức tạp Nó vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế, vừa phản ánh những nét văn hóa xã hội đặc trưng.
Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội, thể hiện qua sự di chuyển và tạm thời lưu trú của cá nhân hoặc tập thể ngoài nơi ở thường xuyên, nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của họ.
Du lịch là một ngành kinh doanh đa dạng, phục vụ nhu cầu của cá nhân và tập thể trong các chuyến đi và lưu trú tạm thời Những hoạt động này không chỉ đáp ứng nhu cầu giải trí mà còn có mục đích hòa bình, tạo điều kiện cho mọi người khám phá và trải nghiệm những nền văn hóa khác nhau.
1.1.2 Sản phẩm du lịch và sản phẩm du lịch văn hóa
Sản phẩm du lịch được định nghĩa là sự kết hợp giữa các dịch vụ và phương tiện vật chất, khai thác tiềm năng du lịch nhằm mang đến cho du khách trải nghiệm thú vị và trọn vẹn Theo từ điển du lịch tiếng Đức (NXB Berlin 1984), mục tiêu chính của sản phẩm du lịch là đảm bảo sự hài lòng cho du khách trong suốt thời gian họ tham gia các hoạt động du lịch.
Sản phẩm du lịch bao gồm dịch vụ, hàng hóa và tiện nghi dành cho du khách, được hình thành từ sự kết hợp giữa khai thác các yếu tố tự nhiên và xã hội cùng với việc sử dụng nguồn lực từ cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một địa điểm, khu vực hoặc quốc gia nhất định.
Sản phẩm du lịch bao gồm các yếu tố hữu hình như hàng hóa và vô hình như dịch vụ, nhằm phục vụ nhu cầu của khách du lịch Nó kết hợp hàng hóa, dịch vụ và tiện nghi để tạo ra trải nghiệm hoàn hảo cho du khách.
Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ và hàng hóa du lịch
Khoa Ngữ văn – Đại học Sư phạm - ĐHĐN 8
Dịch vụ vận chuyển là yếu tố thiết yếu trong ngành du lịch, bao gồm việc đưa đón khách đến các địa điểm tham quan bằng nhiều phương tiện giao thông hiện đại như ô tô, xe máy, xe đạp, máy bay, tàu hỏa và thuyền.
Tổng quan về du lịch thành phố Hội An
1.2.1 Tiềm năng và tốc độ phát triển du lịch
1.2.1.1 Các yếu tố tự nhiên và xã hội
Vị trí địa lý và lãnh thổ
Hội An là một thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam, có diện tích 61,71 km², nằm bên bờ Bắc hạ lưu sông Thu Bồn Thành phố cách quốc lộ 1A khoảng 9 km về phía Đông, cách Đà Nẵng 25 km về phía Đông Nam và cách Tam Kỳ 50 km về phía Đông Bắc.
Thành phố Hội An có diện tích đất liền 46,22 km², chiếm 74,9% tổng diện tích tự nhiên, với hình dạng gần giống hình thang cân Phía Nam giáp huyện Duy Xuyên qua sông Thu Bồn, phía Tây và Bắc giáp huyện Điện Bàn, còn phía Đông tiếp giáp biển Đông với bờ biển dài 7 km Khu phố cổ Hội An, diện tích khoảng 5 km², là trung tâm đô thị và đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào ngày 04/12/1999.
Cù Lao Chàm, cách đất liền 18 km, là cụm đảo với diện tích 15,49 km², chiếm 25,1% tổng diện tích tự nhiên của thành phố Bao gồm nhiều hòn đảo lớn nhỏ như Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Ông, Hòn Tai, Hòn Lá, Hòn Khô và Hòn Nồm, cụm đảo này tạo thành hình cánh cung hướng ra Biển Đông, đóng vai trò như bức bình phong bảo vệ đất liền Cù Lao Chàm đã được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới vào ngày 26/5/2009.
Hành chính: Hội An hiện tại phân chia thành 9 phường: Cẩm An, Cẩm Châu, Cẩm Nam, Cẩm Phô, Cửa Đại, Minh An, Sơn Phong, Tân An, Thanh
Hà và 4 xã: Cẩm Hà, Cẩm Kim, Cẩm Thanh, Tân Hiệp (xã đảo nằm trên Cù lao Chàm)
Hội An có địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam với độ dốc trung bình 0,015° Địa hình nơi đây được phân thành hai dạng chính: đồng bằng và hải đảo Các vùng đồng bằng của Hội An được chia thành ba khu vực khác nhau.
Vùng cồn cát nằm ở phía Tây Bắc, bắt đầu từ dốc Lai Nghi thuộc phường Thanh Hà, kéo dài qua xã Cẩm Hà và phường Cẩm An, sau đó chạy dọc theo bờ biển.
Khoa Ngữ văn – Đại học Sư phạm - ĐHĐN 11 phường Cửa Đại, kết nối với vùng cát phía Đông huyện Điện Bàn (giáp các xã Điện Nam, Điện Dương)
Thứ hai, vùng thấp trũng gồm các phường Cẩm Phô, Minh An, Sơn
Phong, Cẩm Nam, Cẩm Châu và xã Cẩm Kim ở bờ Nam sông Thu Bồn
Vùng mặt nước và sông ngòi ở xã Cẩm Thanh chiếm diện tích lớn, bao gồm các cồn nổi dọc hạ lưu sông Thu Bồn Địa hình của hải đảo Cù Lao Chàm chủ yếu là đồi núi thấp, với các đảo nhỏ có hình chóp cụt, độ cao từ 70 đến 517m so với mặt biển Hòn Lao, đảo lớn nhất, có dãy núi hình cánh cung từ Tây Bắc đến Đông Nam, chia thành hai sườn khác nhau: sườn Đông dốc lớn và hiểm trở với đá tảng, trong khi sườn Tây dốc thoải, ít đá tảng và có nhiều bãi bồi ven biển.
Hội An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa của Nam Hải Vân, được bảo vệ bởi dải Bạch Mã ở phía Bắc và khối núi Bắc tỉnh Kon Tum ở phía Tây Điều này tạo ra một khí hậu ven biển Miền Trung đặc trưng với đặc điểm nóng ẩm, mưa nhiều theo mùa, nền nhiệt độ cao và nhiều nắng, ít bị ảnh hưởng bởi gió mùa đông.
Theo số liệu của Đài khí tượng thuỷ văn Quảng Nam, đặc điểm các yếu tố thời tiết thành phố Hội An như sau:
Hội An không trải qua mùa đông lạnh, với mùa khô từ tháng 2 đến tháng 8 và mùa mưa từ tháng 9 đến tháng Giêng năm sau Nhiệt độ trung bình năm ở Hội An là 25,6℃, với mức cao nhất đạt 39,8℃ và thấp nhất là 22,8℃ Độ ẩm trung bình hàng năm là 83%, trong đó mùa khô có độ ẩm 75% và mùa mưa là 85% Khí hậu tại Hội An đặc trưng bởi sự nóng ẩm với hai mùa rõ rệt: mùa mưa bão và mùa nắng nóng, kết hợp với đặc điểm khí hậu của khu vực duyên hải Miền Trung.
Lượng mưa, bão: Tổng lượng mưa bình quân 2.504,57 mm/năm, lượng mưa cao nhất vào tháng 10, 11 (550 - 1000 mm/tháng), thấp nhất vào các tháng 1, 2,
3, 4 (23 - 40 mm/tháng) Bão ở Hội An thường xuất hiện vào các tháng 9, 10, 11 hằng năm; các cơn bão thường kéo theo những trận mưa lớn gây lũ lụt toàn khu vực
Về thủy văn, Hội An là vùng cửa sông - ven biển, nơi hội tụ của các con sông lớn của xứ Quảng:
Nguồn Thu Bồn - Vu Gia được hình thành bởi hai dòng sông Thu Bồn và
Vu Gia hợp lại Hệ thống này gồm 78 con sông có chiều dài từ 10 km trở lên
Hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia dài khoảng 200 km và có lưu vực khoảng 8.850 km², bắt nguồn từ các nhánh như sông Khang, sông Trường và Vu Gia Tại ngã ba Giao Thủy, sông Thu Bồn hợp lưu với Vu Gia, sau đó chia thành hai nhánh: một chảy về phía Nam và một chảy về phía Đông Tại Bến Giá, hai dòng chảy chính hợp nhất, tạo thành khu Gò Nổi trù phú Dòng chính của sông Thu Bồn chảy 14 km đến Cửa Đại, trước đây được gọi là sông Chợ Củi Đoạn cuối của sông, trước khi đổ ra biển, bị ảnh hưởng bởi thủy triều và phù sa, tạo thành nhiều nhánh phụ.
Sông An, hay còn gọi là sông Cái hoặc sông Hội An, có chiều dài 8,5 km và rộng từ 120m đến 240m, với diện tích lưu vực lên tới 3.510 km² Một nhánh nhỏ của sông Hội An, được biết đến với tên gọi sông Hoài, chảy sát bên Phố Hội.
Hội An có tổng diện tích đất lâm nghiệp lên tới 739,53 ha, bao gồm rừng đặc dụng và rừng phòng hộ Khu rừng tại đây nổi bật với hệ động thực vật phong phú, được công nhận là có giá trị đa dạng sinh học cao và giá trị dự trữ sinh quyển đáng kể.
Rừng đặc dụng Cù Lao Chàm có diện tích 453,9 ha, là rừng hỗn giao với đặc điểm của rừng nhiệt đới Nơi đây tập trung nhiều loại cây ưu thế như mật, gụ, lim, chò đen, xoan, huỷnh và hàng trăm loài cây thuộc các họ thực vật bậc cao, trong đó nhiều loài được xác định trong danh mục cây dược liệu quý.
Rừng phòng hộ tập trung tại các khu vực như Cẩm Thanh (84,69 ha), Cửa Đại (38,02 ha), Cẩm Kim (37,29 ha), Thanh Hà (17,57 ha), Cẩm An (17,43 ha) và Cẩm Nam (9,62 ha) Những khu rừng này chủ yếu phân bố dọc theo sông và ven biển, không chỉ có giá trị về cảnh quan mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc chắn sóng, chắn cát và ngăn chặn sạt lở.
Lịch sử hình thành và phát triển
Do có đặc điểm địa lý thuận lợi nên từ 3.000 năm trước, trên vùng đất Hội
Ngày nay, Hội An đã xuất hiện những lớp cư dân đầu tiên, với các di chỉ khảo cổ cho thấy sự tồn tại của hai loại tiền đồng Ngũ Thù và Vương Mãng từ thời Hán, cùng với các hiện vật gốm.
Khoa Ngữ văn – Đại học Sư phạm - ĐHĐN đã phát hiện nhiều hiện vật quý giá như hiện vật sắt kiểu Tây Hán, hiện vật đồng mang ảnh hưởng văn hóa Đông Sơn, và các đồ trang sức tinh xảo có nguồn gốc từ Ấn Độ và Trung Quốc Những phát hiện này chứng minh sự tồn tại và phát triển của nền văn hóa Sa Huỳnh muộn, đánh dấu đỉnh cao của thời kỳ tiền - sơ sử trước thế kỷ II Đồng thời, điều này cũng khẳng định rằng vào đầu công nguyên, nền ngoại thương đã bắt đầu hình thành tại Hội An.
Quá trình hình thành và phát triển Công viên văn hóa Ấn tƣợng Hội
Dự án Công viên văn hóa chủ đề “Ấn tượng Hội An” (Gami Hội An) do Công ty cổ phần Gami Hội An làm chủ đầu tư, được khởi công vào tháng 3/2008 sau khi được Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam phê duyệt Dự án có tổng diện tích quy hoạch hơn 11,3 ha, bao gồm một cồn bãi lớn, một cồn nhỏ trên sông Hoài và một phần trên bờ thuộc phường Cẩm Nam và phường Cẩm Châu, thành phố Hội An.
Dự án bao gồm tổ hợp dịch vụ du lịch và trung tâm hội nghị đa chức năng diện tích 16.000m², phục vụ 800 - 950 người, cùng chuỗi khách sạn 5 sao với 200 phòng Ngoài ra, còn có khu phố thương mại, biệt thự cao cấp và các hạng mục cây xanh, cảnh quan, bến du thuyền Tổng vốn đầu tư ban đầu ước tính khoảng 43 triệu USD.
Sau một thời gian triển khai dự án, chủ đầu tư đã tiến hành nghiên cứu và tham vấn ý kiến từ các đơn vị liên quan, nhận thấy rằng mô hình hiện tại chưa phù hợp và hiệu quả với sự phát triển của thành phố Hội An Đồng thời, quá trình xây dựng kéo dài nhiều năm cũng gây ra những khó khăn nhất định.
Dự án Công viên Văn hóa Chủ đề “Ấn tượng Hội An” của công ty cổ phần Gami Hội An đã gặp nhiều khó khăn, dẫn đến việc chủ đầu tư không thể tiếp tục xây dựng và phải trả lại dự án vào năm 2015 Tuy nhiên, đến tháng 8 năm 2016, tập đoàn đã chuyển hướng đầu tư sang mô hình mới và nhận được giấy chứng nhận đầu tư từ Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam.
Chủ đầu tư dự án khẳng định rằng việc phát triển Công viên văn hóa chủ đề “Ấn tượng Hội An” là hợp lý và cần thiết, sau khi đã nghiên cứu kỹ lưỡng về kinh tế, môi trường và sinh kế của người dân địa phương Dự án này sẽ tạo ra một sản phẩm du lịch độc đáo với quy mô lớn, hứa hẹn mang lại diện mạo mới và dấu ấn đặc sắc cho Hội An, đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách.
Mặc dù dự án nằm ngoài vùng đệm khu đô thị cổ Hội An, quy trình phê duyệt đã được thực hiện một cách cẩn thận Chủ đầu tư đã tham vấn các cơ quan chuyên môn để đánh giá tác động đến môi trường, cảnh quan đô thị, dòng chảy và áp lực nước, đặc biệt trong mùa lũ, khi mà Hội An thường xuyên phải đối mặt với tình trạng này Lãnh đạo thành phố cũng đã có những góp ý cụ thể nhằm hoàn thiện quy hoạch và thiết kế của công trình.
Dự án đã gây ra nhiều ý kiến lo ngại về nguy cơ xói lở và tác động đến môi trường Hội An Việc phê duyệt và cấp phép cho dự án không phải là quyết định vội vàng, mà là kết quả của quá trình thảo luận kỹ lưỡng, tính toán các yếu tố chủ quan và khách quan Điều này cho thấy dự án không phải là quyết định của một cá nhân mà là sự đồng thuận và nghiên cứu từ một tập thể, với sự cân nhắc kỹ lưỡng về các yếu tố văn hóa và cảnh quan trước khi được phê duyệt.
Tại Hội An và tỉnh Quảng Nam, nhiều cuộc họp đã diễn ra nhằm xem xét các dự án Nếu có sai sót hoặc không phù hợp, các dự án sẽ được điều chỉnh Ủy ban Nhân dân tỉnh khẳng định luôn lắng nghe ý kiến đóng góp và sẽ rà soát để xác định các vấn đề cần sửa đổi.
Vào ngày 18/03/2018, chương trình diễn thực cảnh “Kí ức Hội An” chính thức ra mắt, thu hút sự chú ý của đông đảo người dân địa phương và du khách quốc tế Đây là một chương trình biểu diễn ngoài trời với sân khấu hoành tráng và hệ thống âm thanh ánh sáng hiện đại, tạo nên không gian biểu diễn sống động Chương trình quy tụ gần 500 diễn viên, được xem là sự kiện biểu diễn quy mô lớn nhất tại Việt Nam.
Khoa Ngữ văn – Đại học Sư phạm - ĐHĐN 39
Ngày 28/7/2018, Công viên văn hóa Ấn tượng Hội An chính thức được khánh thành mở cửa đón khách du lịch đến tham quan
Khoa Ngữ văn – Đại học Sư phạm - ĐHĐN 40