1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên trường đại học sư phạm đại học đà nẵng

78 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Thời văn minh: Đã hình thành gia đình một vợ một chồng, đã xuất hiện tệ ngoại tình và nạn mại dâm” Nhà tâm lý học người Mỹ Tal Ben – shahar trong công trình nghiên cứu của mình về hạnh

Trang 1

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS HỒ THỊ THÚY HẰNG

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2019

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để có được kết quả như ngày hôm nay, em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến TS

Hồ Thị Thúy Hằng, người đã tận tình, hướng dẫn, chỉ bảo cho em trong quá trình thực hiện khóa luận

Em xin cảm ơn sâu sắc Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, Khoa Tâm

lý – Giáo dục Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng và các thầy cô giáo đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để em thực hiện khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng đã giúp em hoàn thiện khóa luận này

Em xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận án

Dù đã cố gắng song đề tài vẫn không tránh những thiếu sót rất mong nhận được

sự chỉ dẫn và góp ý của thầy cô, bạn bè để những để em có thể hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 1

4 Giả thuyết nghiên cứu 2

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 2

6 Các phương pháp nghiên cứu 2

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC VỀ HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH CỦA SINH VIÊN 4

1.1Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

1.2 Lý luận chung về nhận thức 8

1.3 Lý luận về hạnh phúc gia đình 12

1.4 Lý luận về nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên 23

Tiểu kết chương 1 30

Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 31

2.2 Tổ chức nghiên cứu 32

2.3 Phương pháp nghiên cứu 36

Tiểu kết chương 2 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

3.1 Thực trạng mức độ biết của sinh viên về hạnh phúc gia đình 41

3.2 Đánh giá mức độ hiểu của sinh viên về hạnh phúc gia đìnhError! Bookmark not defined. 3.3 Đánh giá mức độ vận dụng của sinh viên về hạnh phúc gia đình 54

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 59

1 Kết luận 59

2 Khuyến nghị 59

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC 63

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

1 Danh mục bảng

Bảng 2.1 Thông tin khách thể

Bảng 3.1 Nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên

Bảng 3.2 Mức độ biết của sinh viên về hạnh phúc gia đình

Bảng 3.3 Mức độ hiểu của sinh viên về hạnh phúc gia đình

Bảng 3.4 Mức độ vận dụng của sinh viên về hạnh phúc gia đình

Bảng 3.5 Mức độ biết của sinh viên về các yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình Bảng 3.6 Nhận thức về các yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình của sinh viên Bảng 3.7 Mức độ biết của sinh viên về vai trò của hạnh phúc gia đình

Bảng 3.8 Nhận thức của sinh viên về vai trò của hạnh phúc gia đình

Bảng 3.9 So sánh nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên theo giới tính

Bảng 3.10 So sánh mức độ biết của sinh viên về hạnh phúc gia đình theo giới tính Bảng3.11 So sánh mức độ hiểu của sinh viên về hạnh phúc gia đình theo giới tính Bảng 3.12 So sánh mức độ vận dụng của sinh viên về hạnh phúc gia đình theo giới tính

Bảng 3.13 So sánh nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên theo thứ tự con trong gia đình

Bảng 3.14 Thực trạng về việc đã làm của sinh viên để góp phần xây dựng hạnh phúc gia đình

Bảng 3.15 Thực trạng việc đã làm của sinh viên để góp phần xây dựng hạnh phúc gia đình

2 Danh mục biểu đồ

Biểu đồ 3 So sánh mức độ vận dụng của sinh viên về hạnh phúc gia đình

Biểu đồ 2 So sánh mức độ hiểu của sinh viên về hạnh phúc gia đình theo giới tính Biểu đồ 1 So sánh mức độ biết của sinh viên về hạnh phúc gia đình theo giới tính

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội tốt và xã hội tốt tạo điều kiện cho gia đình phát triển Đối với mỗi cá nhân, gia đình là môi trường xã hội đầu tiên mà con người tiếp xúc, được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và trưởng thành Có thể nói, gia đình là cái nôi nhân cách, cuộc sống gia đình làm nảy sinh những mầm sống ban đầu của nhân cách Những sở thích, suy nghĩ, ước mơ tình cảm của con người được nuôi dưỡng và thông qua gia đình, con người biết điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Quá trình xã hội hóa của mỗi cá nhân diễn ra thuận lợi chỉ với điều kiện cá nhân được sống trong một gia đình hạnh phúc, nơi mà mọi người thường quan tâm đến nhau và dành tình yêu thương cho nhau

Gia đình là “tổ ấm” thực sự cần thiết cho mỗi người, nó đáp ứng nhu cầu không chỉ về mặt vật chất mà về mặt tình cảm của con người Một gia đình hạnh phúc sẽ giúp cho cá nhân cảm thấy thoải mái, tạo sự cân bằng tâm lý sau những giờ lao động, làm việc, học tập, sau những áp lực, những lo toan, bộn bề của cuộc sống

Hiện nay, vấn đề ly hôn đang là vấn đề nóng toàn cầu, trong đó có Việt Nam, số

vụ ly hôn không ngừng tăng và độ tuổi ly hôn giảm dần Mà một trong những nguyên nhân của hiện tượng này là do mọi người chưa có nhận thức đúng về hạnh phúc gia đình Gia đình tan vỡ không chỉ ảnh hưởng đến những người trong cuộc mà còn ảnh hưởng đến mọi người xung quanh

Để có được hạnh phúc gia đình thì cơ sở đầu tiên là những người chủ gia đình trong tương lai (những thanh niên đến tuổi kết hôn) phải nhận thức đúng như thế nào

là một gia đình hạnh phúc, vai trò của hạnh phúc gia đình và những yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình Khi đã nhận thức đúng, trình bày nó ra được thì sẽ có những việc làm đúng đắn góp phần xây dựng hạnh phúc gia đình cho bản thân

Vấn đề này đối với sinh viên những người đang quá trình chuẩn bị bước vào đời, xây dựng gia đình cho riêng mình lại càng quan trọng Nhận thức đúng về hạnh phúc gia đình sẽ giúp sinh viên có những nền tảng vững chắc cho quá trình xây dựng hạnh phúc gia đình

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng” để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên Từ đó đề xuất các biện pháp giúp cho sinh viên có những nhận thức đúng đắn về hạnh phúc gia đình

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên

Trang 6

Khách thể nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên 200 sinh viên Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

4 Giả thuyết nghiên cứu

Nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên tương đối đầy đủ Sinh viên biết

và hiểu được hạnh phúc gia đình nhưng vận dụng ở mức thấp Nhận thức của sinh viên

có sự khác nhau trên cơ sở giới tính, và thứ tự con trong gia đình Vai trò của một gia đình hạnh phúc mà các bạn hướng tới cũng là các giá trị tinh thần hơn là các giá trị vật chất

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận về hạnh phúc gia đình, nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên

Nghiên cứu thực trạng nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên Đề xuất các biện pháp giúp sinh viên có nhận thức đúng đắn về hạnh phúc gia đình

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng nhận thức của sinh viên về hạnh phúc gia đình, được biểu hiện ở ba mức độ là hiểu, biết và vận dụng vào quá trình xây dựng hạnh phúc gia đình

- Phạm vi về khách thể: Sinh viên thuộc Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN

- Phạm vi về thời gian: Chúng tôi triển khai nghiên cứu từ tháng 1 năm 2019 đến cuối tháng 4 năm 2019

6 Các phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận nghiên cứu khoa học

Đề tài tiếp cận theo những nguyên tắc sau:

a Nguyên tắc thống nhất giữa tâm lý, ý thức và hoạt động

Dựa trên luận điểm của chủ nghĩa Mác: con người là sản phẩm hoạt động của

chính mình, tâm lí học chỉ rõ: Tâm lý con người được biểu hiện trong hoạt động và là

thành phần tất yếu của hoạt động, đóng vai trò định hướng và điều khiển hoạt động; đồng thời thông qua hoạt động, tâm lý, ý thức con người được nảy sinh, hình thành và phát triển Tâm lý, ý thức và hoạt động của con người là thống nhất trong mối quan hệ biện chứng

Nghiên cứu, xác định tâm lý người phải thông qua các biểu hiện trong hành vi và

Trang 7

trong hành vi và hoạt động là những bằng chứng khách quan giúp cho chúng ta đoán biết có căn cứ khoa học những diễn biến tâm lí, ý tưởng của từng con người cụ thể Tâm lý người được biểu hiện thông qua hoạt động, tính tích cực của hoạt động là yếu tố đóng vai trò quyết định trong việc hình thành và phát triển tâm lý con người Quan niệm về một gia đình hạnh phúc và mẫu người bạn đời lí tưởng thể hiện thông qua hoạt động của con người và sự tương tác của con người với gia đình, bạn bè và xã hội Chính vì lẽ đó nghiên cứu vấn đề quan niệm của sinh viên về một gia đình hạnh phúc và mẫu người bạn đời lí tưởng nhất thiết phải nghiên cứu dựa trên nguyên tắc hoạt động của sinh viên

6.2 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp nghiên cứu lý luận

Khái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức lý luận và thực tiễn có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xác định cơ sở lý luận cho vấn đề và định hướng nghiên cứu thực tiễn

b Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Để thực hiện đề tài chúng tôi cần định hướng sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong đề tài để thu thập thông tin về thực trạng nhận thức của của sinh viên về hạnh phúc gia đình Phương pháp này sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến được soạn thảo sẵn dựa trên mục đích đề tài nghiên cứu

Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp này sử dụng câu hỏi trực tiếp để phân tích sâu kết quả về thực trạng nhận thức của sinh viên về hạnh phúc gia đình

Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học : Sử dụng phần mềm thống kê SPSS 22.0 để phân tích số liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Trang 8

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC VỀ

HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH CỦA SINH VIÊN

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu nhận thức về hạnh phúc gia đình trên thế giới

1.1.1.1 Các nghiên cứu về hạnh phúc gia đình

Từ khoảng thế kỉ I đến thế kỉ IV, dân tộc Ấn Độ đã có tác phẩm Kama Sutra

của tác giả wll Durant viết về tình yêu, xây dựng gia đình như thế nào cho phù hợp Trong giai đoạn này, Ấn Độ đang diễn ra cuộc vận động thanh niên quan niệm đúng đắn trong tình yêu và hôn nhân Tác phẩm đã được đánh giá cao và được sử dụng trong đề tài nghiên cứu cấp quốc gia của Ấn Độ

C Mác và F Ăngghen trong cuốn “hôn nhân và gia đình”, đã đề cập đến các vấn

đề hôn nhân qua các thời kỳ phát triển lịch sử: “ Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người có 3 hình thức hôn nhân chính tương ứng với 3 giai đoạn chính trong sự phát triển của loài người :

- Thời mông muội: Hình thức hôn nhân là quần hôn, con người sống trong xã hội quan hệ tính giao bừa bãi

- Thời dã man: Chế độ quần hôn theo quan hệ huyết thống đã loại bỏ, không được lấy nhau trong dòng tộc Con người đến tuổi trưởng thành đều có một chồng hay một vợ chính

- Thời văn minh: Đã hình thành gia đình một vợ một chồng, đã xuất hiện tệ ngoại tình và nạn mại dâm”

Nhà tâm lý học người Mỹ Tal Ben – shahar trong công trình nghiên cứu của mình về hạnh phúc gia đình “ Learn the Secret of Daily Joy and Lasting Fulfillment” (tạm dịch là để hạnh phúc hơn hãy học những bí mật 7 niềm vui hàng ngày và hiện thức hóa lâu dài”,đã đề cập đến hạnh phúc và hạnh phúc gia đình như một ý nghĩa của cuộc đời, cách để có được hạnh phúc, và muốn có được hạnh phúc con người phải hành động như thế nào? Và công trình này sau khi xuất bản thành cuốn sách cùng tên

đã thu hút rất nhiều độc giả cũng như các nhà nghiên cứu về gia đình và xã hội học quan tâm, đánh giá cao

Trong những năm 90 ở Mỹ, các nhà tâm lý học Richard Stevens, Brett Kahn, nhà triết học kiêm kinh tế học Reveees, nhà hoạt động xã hội Andrew Mawson đã tiến hành công trình nghiên cứu “Trở thành người hạnh phúc như thế nào?”, công trình này được sự tài trợ của đài truyền hình BCC2 và đã kết thúc thành công Trong công trình này đã đề cập một cách cụ thể về hạnh phúc và hạnh phúc gia đình, con người sẽ trở thành hạnh phúc và có được hạnh phúc gia đình khi các cá nhân tích cực vì nhau, quan tâm chia sẻ với nhau

Trang 9

Trong tác phẩm “Bức tranh gia đình” (2004) của T.S Johan Goethe đã nghiên cứu về toàn bộ đời sống gia đình và ảnh hưởng của gia đình đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Đồng thời tác phẩm cũng đã đưa ra những phương thức để xây dựng một gia đình hạnh phúc Quan điểm và cách tiếp cận của Johan Goethe được các nhà nghiên cứu về gia đình đánh giá: “Đây là tác phẩm mà những gia đình trẻ cần đọc” Tác phẩm cũng đã được in và xuất bản nhiều lần, được đánh giá là một trong những quyển sách bán chạy nhất nước Mỹ lúc bấy giờ [7]

1.1.1.2 Nghiên cứu nhận thức về hạnh phúc gia đình

Với mục tiêu chứng minh giả thuyết hôn nhân là nơi mà phụ nữ có thể phơi bày một chút quyền lực của mình và những người chồng chấp nhận vợ là hôn nhân hạnh phúc Tác giả David Vogel và cộng sự đã tiến hành khảo sát trên 72 cặp vợ chồng có

độ tuổi trung bình 33 và đã kết hôn được khoảng 7 năm, thuộc các chủng tộc khác nhau như châu Á, châu Âu, châu Mĩ, châu Phi Và kết quả là những bà vợ hay đòi hỏi, yêu cầu chồng thay đổi thì thường đạt được mục đích của mình nhiều hơn các ông chồng Điều này xảy ra bất kể ai đã khơi mào cuộc nói chuyện Ngoài ra, phụ nữ không hề lắm lời hơn đàn ông Như vậy ta thấy rằng Không phải như mọi người nghĩ

là phụ nữ hay nêu ra vấn đề và không được lắng nghe, mà đàn ông thực sự theo dõi những gì họ nói Phụ nữ truyền đi những thông điệp mạnh mẽ và đàn ông đáp trả lại bằng cách chấp nhận hoặc quy phục Một lí do cho việc phụ nữ cầm trịch là bởi họ mang nặng trách nhiệm gìn giữ cho gia đình được êm ấm Có thể nói dấu hiệu của một cuộc hôn nhân lành mạnh là việc người đàn ông chấp nhận bị ảnh hưởng bởi người vợ

Tác giả David Niven sau nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy môn Tâm lý học tại Mỹ đã tổng kết những kinh nghiệm cũng như kiến thức của mình về “Bí quyết để

có một gia đình hạnh phúc” cùng với Giáo sư Steve Brukett ( người đã dành cả cuộc đời để nghiên cứu về con người ) viết thành cuốn sách mang tên : “ Bí quyết để có một gia đình hạnh phúc”, cuốn sách này đã được Công ty Fits News – Trí Việt mua bản quyền xuất bản, và được Nxb Trẻ 8 xuất bản năm 2007 Trong tác phẩm này David Niven đã viết “Cuộc sống gia đình hạnh phúc hay không là tùy thuộc vào ý thức xây dựng và gìn giữ của những người trong cuộc Dù sống trong hoàn cảnh gia đình như thế nào đi chăng nữa nhưng nếu bạn biết cách sắp xếp, vun vén và quan trọng hơn cả

là đối xử với nhau bằng con tim chân thành thì bạn hoàn toàn có thể được hưởng hạnh phúc gia đình” [12]

Trang 10

Theo nghiên cứu của đại học Harvard về định nghĩa hạnh phúc tiến hành trên

724 người nghiên cứu kéo dài 75 năm Mục sư Robert Waldinger – giáo sư chuyên ngành Tâm lý học tại Đại học Harvard chỉ ra rằng điều then chốt trong cuộc sống là nguyên tắc duy trì các mối quan hệ Những mối quan hệ không có tình cảm sẽ không

có lợi cho sức khỏe tâm lý và tinh thần của chúng ta Đặc biệt, là mối quan hệ hôn

nhân và gia đình “Các mối quan hệ gần gũi, thân thiết chính là liều thuốc chữa trị mọi

loại bệnh Tôi đã phỏng vấn nhiều người và họ khẳng định rằng cho dù đau đớn về thể chất nhưng tâm trạng vẫn sẽ vui vẻ khi được những người thân yêu quan tâm, chăm sóc Mặt khác, những người ở trong mối quan hệ không hạnh phúc lại không giống như vậy, họ trải qua nỗi đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần” [18]

Cũng theo nghiên cứu của mục sư Robert Waldinger – giáo sư chuyên ngành tâm lý học tại Đại học Harvard chứng minh rằng nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giảm trí nhớ sớm ở những người không có quan hệ xã hội bởi vì họ không cảm thấy tin cậy vào một ai đó những lúc cần thiết Theo lĩnh vực nghiên cứuvtâm lý học, nếu bạn nhận ra có một hoặc nhiều hơn một người mà bạn có thể dựa vào khi gặp khó khăn thì đó là mối quan hệ bền chặt Thực tế chứng minh có những cặp vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã nhưng điều đó không làm ảnh hưởng đến niềm tin của họ với đối phương Họ vẫn cảm thấy an toàn khi ở bên nhau [18]

1.1.2 Các nghiên cứu nhận thức về hạnh phúc gia đình ở Việt Nam

1.1.2.1 Nghiên cứu về hạnh phúc gia đình

Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1991 xuất bản cuốn “Người phụ nữ và gia đình Việt Nam hiện nay” của tác giả Vương Ngọc Học có bài viết: “suy nghĩ về những yếu tố cơ bản tạo độ bền vững của hạnh phúc gia đình” đó là sự hòa hợp tình cảm, hòa hợp tình dục, phong cách nuôi dạy con, cách tổ chức cuộc sống gia đình

Tác giả Ngô Công Hoàn với cuốn: “Tâm lý học gia đình”- 1993 đã đề cập đến những quan niệm đầy đủ về một gia đình và khả năng giữ gìn, bảo toàn và phát huy hạnh phúc trong gia đình [9]

Tác giả Nguyễn Đình Xuân với cuốn “Tâm lý học gia đình”- 1993; cuốn “Tuổi trẻ sự nghiệp tình yêu”- 1997; cuốn “Giáo dục đời sống gia đình”- 1997 Đã đề cập đến tình yêu giữa cha mẹ vợ chồng và mối quan hệ của nó đối với việc xây dựng hạnh phúc gia đình, bên cạnh đó tác giả cũng đề cập đến vấn đề bạn đời và chọn bạn đời, đến hôn nhân [16]

Trang 11

Trong báo cáo tại hội nghị “Người mẹ Việt Nam và vấn đề nuôi dạy con” của giáo sư Đặng Xuân Hoài đã đề cập đến sự cần thiết phải có kế hoạch, chương trình cụ thể nhằm giúp thanh niên có quan niệm đúng đắn về tình yêu, chọn bạn đời và có tâm thế nhất định cho việc làm cha làm mẹ sau này, và có hoạch định trong tương lai để xây dựng cuộc sống gia đình sau này

Trong cuốn “Hạnh phúc gia đình trẻ” (nhiều tác giả) Nxb Trẻ,1994 tập hợp một

số bài nghiên cứu về gia đình và hạnh phúc gia đình của những gia đình trẻ, trong đó

đã đề cập đến những vấn đề về như: Cách thức tổ chức cuộc sống gia đình, vai trò của người phụ nữ và đàn ông trong việc xây dựng, gìn giữ hạnh phúc gia đình, những xung đột trong gia đình… Trong công trình nghiên cứu về “Gia đình trẻ và việc thi hành nhân cách thanh niên” của tác giả Dương Tự Đam, đã bàn về vấn đề: xây dựng hạnh phúc gia đình không chỉ góp phần hình thành nhân cách của trẻ ngay từ bé mà còn góp phần tạo nên một xã hội phồn thịnh Đồng thời, công trình nghiên cứu cũng đã đề cập đến những cơ sở lý luận và thực tiễn cùng với những vấn đề cơ bản về nội dung, phương pháp giáo dục con cái góp phần hình thành nhân cách thanh niên thời đại mới Nội dung của công trình nghiên cứu đã được Nxb Thanh niên xuất bản thành cuốn sách “Gia đình trẻ và việc thi hành nhân cách thanh niên”- 2007 [18]

1.1.2.2 Nghiên cứu nhận thức về hạnh phúc gia đình

Khi cuộc sống được ấm no, có cái ăn, cái mặc thì con người luôn quan tâm đến vấn đề làm thế nào để được hạnh phúc và quan trọng hơn hết là xây dựng hạnh phúc gia đình

Theo nghiên cứu quan niệm của thanh niên về một gia đình hạnh phúc và một cuộc sống có ý nghĩa của tác giả Nguyễn Tuấn Anh (viện nghiên cứu thanh niên) đã chỉ ra rằng thanh niên hiện nay quan niệm về một gia đình hạnh phúc cũng như một cuộc sống có ý nghĩa phong phúc và đa dạng Thanh niên coi sự tôn trọng, yêu thương,

sự khỏe mạnh, tính dân chủ, bình đẳng của các thành viên trong gia đình là nền tảng tất yếu và quan trọng nhất để tạo nên một gia đình hạnh phúc [1]

Theo nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc chủ quan trong đời sống hôn nhân ở Đà Nẵng, tác giả Nguyễn Thị Thúy cho thấy tỉ lệ trên 80% đều cho rằng mối quan hệ vợ chồng của họ là tốt đẹp, bền vững và không bao giờ thay đồi Nhìn chung họ khá mãn nguyện với cuộc sống hôn nhân [9]

Trong nghiên cứu định hướng giá trị về mẫu người bạn đời của thanh niên theo đạo Thiên chúa, tác giả Bùi Phương Thanh chỉ ra những định hướng giá trị về phẩm chất của người bạn đời của thanh niên theo đạo Thiên chúa xuất phát từ giáo lý hôn nhân là rất đề cao tính chung thủy Họ cho rằng đó là nền tảng của cuộc sống gia đình hạnh phúc là kết hôn với những người cùng đạo

Trang 12

Nhìn chung các tác giả cũng nêu được vài thực trạng quan niệm về hạnh phúc gia đình của các đối tượng và lứa tuổi khác nhau Theo đó, đa số họ cho rằng mình có một gia đình hạnh phúc và khá mãn nguyện với cuộc sống hôn nhân

Khi so sánh mối quan hệ giữa cách thức giải quyết xung đột và hạnh phúc hôn nhân trong nghiên cứu “cách thức giải quyết xung đột tâm lý của vợ chồng tri thức Hà Nội và hạnh phúc hôn nhân của họ”, tác giả Nguyễn Thị Tình và Đặng Thị Thu Trang

đã chỉ ra rằng khi xay ra xung đột giữa vợ và chồng, việc sử dụng cách thức là hợp tác, tập trung và chủ động bộc lộ làm cho vợ và chồng cảm thấy hạnh phúc Như vậy ta thấy việc bày tỏ cảm xúc và quan điểm của mình cho đối phương hiểu sẽ tốt hơn là chấp nhận, chịu đựng và lảng tránh xung đột

Cũng trong một nghiên cứu khác về cảm nhận hạnh phúc vợ chồng và các yếu

tố liên quan, tác giả Đào Lan Hương đã chỉ ra có mối liên hệ tương quan mạnh cảm nhận hạnh phúc trong cuộc sống vợ chồng với các yếu tố tương tác trong đời sống hôn nhân Nghiên cứu cho thấy trong đời sống vợ chồng khi được cùng nhau chia sẻ tình cảm, cùng nhau vun đắp cho tổ ấm lứa đôi là điều khiến cho vợ chồng cảm thấy hạnh phúc nhất trong hôn nhân [9]

Tóm lại, vấn đề hạnh phúc gia đình và nhận thức về hạnh phúc gia đình đã được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm và nghiên cứu, tuy nhiên chưa thực sự rõ ràng Các nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở việc xem xét quan niệm về hạnh phúc gia đình mà chưa đi sâu vào phân tích biểu hiện, chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về hạnh phúc gia đình, đặc biệt là ở lứa tuổi sinh viên Việc nghiên cứu nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên sẽ giúp tìm hiểu thực trạng của vấn đề này,

từ đó đề ra các biện pháp nhằm nâng cao, tích cực hoá nhận thức, góp phần giúp sinh viên – những chủ nhân gia đình tương lai biết cách xây dựng một gia đình hạnh phúc

1.2 Lý luận chung về nhận thức

1.2.1 Khái niệm nhận thức

Tùy vào hướng tiếp cận mà các tác giả đưa ra các định nghĩa nhận thức khác nhau

Theo từ điển triết học do Nguyễn Đức Kiên (dịch) trong đó cho rằng “Nhận thức

là quá trình tái tạo về hiện thực ở trong tư duy của con người được quyết định bởi quy luật phát triển của xã hội và gắn liền cũng như không thể tách rời khỏi thực tiễn, nó phải là mục đích của thực tiễn và hướng tới chân lý khách quan

Theo tác giả Vũ Dũng trong “Từ điển thuật ngữ tâm lý học”: Nhận thức là hiểu được một điều gì đó, tiếp thu được những kiến thức về điều nào đó, hiểu biết những quy luật về những hiện tượng, quá trình nào đó…

Theo tác giả Trần Trọng Thủy, nhận thức là một quá trình tâm lý của con người, thường gắn với mục đích nhất định Hoạt động nhận thức gồm nhiều quá trình khác

Trang 13

nhau, thể hiện những mức độ phản ánh hiện thực khác nhau và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan Nhận thức bao gồm hai quá trình chính là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính [14]

Nhà tâm lý học người Đức cho rằng nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong ý thức của con người, nhận thức bao gồm nhận thức cảm tính và nhận thức

lý tính Chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau và cơ sở mục đích và tiêu chuẩn của nhận thức là thực tiễn xã hội [10]

Theo Bloom, nhận thức được hiểu là mức độ, trình độ nhận thức của con người trải qua các tầng lớp từ thấp đến cao Nhận thức bao gồm 6 cấp độ là nhớ, hiểu, vận

dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá Khi người học đạt được cấp độ nhận thức nhớ và

hiểu thì cũng đồng nghĩa với các mục tiêu kiến thức đã thỏa mãn Để đạt được các mục tiêu về kỹ năng, người học cần có được 2 cấp độ nhận thức cao hơn là vận dụng và phân tích Cuối cùng, để đạt được các mục tiêu cao nhất là có được nhận thức mới, thái độ mới người học cũng cần có được các cấp độ nhận thức cao nhất là khả năng đánh giá và khả năng sáng tạo [18]

Trong đề tài nghiên cứu “ Nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên Trường

Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng” chúng tôi quyết định chọn khái niệm: Nhận

thức là mức độ, trình độ nhận biết của con người theo các mức độ từ thấp đến cao

cụ thể là hiểu, biết và vận dụng

1.2.2 Vai trò của nhận thức đối với hoạt động sống của con người

Vai trò của nhận thức trong việc định hướng, điều chỉnh hành vi con người: Nhận thức đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống và hoạt động của con người,

là thành phần không thể thiếu trong sự phát triển của con người

Nhận thức là cơ sở để con người nhận biết thế giới và hiểu biết về thế giới đó, từ

đó con người có thể tác động vào thế giới đó một cách phù hợp nhất, để đem lại hiệu quả cao nhất cho con người [10]

Xem xét quá trình phát triển một cá thể của con người, khi một đứa trẻ khi được sinh ra, nếu nó không nhận biết được thế giới khách quan, thì đứa trẻ đó sẽ không có hiểu biết và không có nhận thức

Nhận thức đi từ mức độ nhận biết đơn giản, những thuộc tính đơn lẻ bên ngoài của sự vật hiện tượng đến hiểu những cái phức tạp, những thuộc tính bản chất bên trong Khi đã quen thuộc con người tiếp tục vận dụng, phân tích được thêm nhiều sự vật hiện tượng Từ đó, nhận thức tổng hợp được các thuộc tính đơn lẻ lại với nhau, xếp chúng thành một nhóm, tìm ra cái bản chất của một nhóm sự vật hiện tượng Khi đó, nhận thức của con người được mở rộng, tiến lên một bước cao hơn, tạo ra được những cấu tạo tâm lý mới

Trang 14

Tóm lại: nhận thức là cơ sở, là nền tảng cho mọi sự hiểu biết của con người Khi

có nhận thức ở mức độ cao cùng với nhu cầu và động cơ sẽ thúc đẩy hành vi con người

 Nhận ra, nhớ các khái niệm, biểu tượng, sự vật, hiện tượng hay một thuật ngữ

địa lý nào đó

Nhận dạng: hình thể, đại hình, vị trí…

 Liệt kê và xác định vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu tố,

các hiện tượng

 Các động từ tương ứng với các cấp độ biết có thể được xác định là: trình bày,

nêu, liệt kê, xác định

- Thông hiểu (comprehension)

Là khả năng hiểu được, giải thích và chứng minh được các sự vật và hiện tượng địa lý Học sinh có khả năng diễn đạt được kiến thức đã học theo ý hiểu của mình, sử dụng được kiến thức và kĩ năng trong tình huống quen thuộc Có thể cụ thể hóa mức

độ thông hiểu bằng các yêu cầu:

Diễn tả bằng ngôn ngữ cá nhân về khái niệm, tính chất của sự vật, hiện tượng

Biểu thị, minh họa, giải thích được ý nghĩa của các khái niệm, hiện tượng

 Lựa chọn, sắp xếp lại những thông tin cần thiết để giải quyết một vấn đề nào

đó

Sắp xếp lại các ý trả lời theo cấu trúc logic

 Các động từ tương ứng với cấp độ thông hiểu có thể được xác định là: phân

tích, giải thích, chứng minh, mô tả, phân biệt, so sánh

- Vận dụng (Application)

Là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể: vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin, biết sử dụng phương pháp, nguyên lý hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó Cụ thể bằng các yêu cầu sau:

 So sánh các phương án giải quyết vấn đề

 Phát hiện lời giải có mâu thuẫn, sai lầm và chỉnh sửa được

 Giải quyết được những tình huống mới bằng việc sử dụng các khái niệm, biểu tượng, đặc điểm đã biết

Trang 15

 Khái quát hóa, trừu tượng hóa từ tình huống quen thuộc, tình huống đơn lẽ sang tình huống mới, tình huống phức tạp hơn

họa, sử dụng, áp dụng, chứng minh, so sánh

- Vận dụng sáng tạo (High level)

Là khả năng sử dụng các khái niệm cơ bản, các kiến thức, kĩ năng để giải quyết một vấn đề mới chưa được trải nghiệm trước đây (sáng tạo) Vận dụng vấn đề đã học

để giải quyết vấn đề thực tiễn cuộc sống Ở cấp độ gồm 3 mức độ: phân tích, tổng hợp, đánh giá

 Phân tích: khả năng nhận biết chi tiết, phát hiện và phân biệt các bộ phận cấu thành của thông tin hay tình huống

 Tổng hợp khả năng hợp nhất các thành phần để tạo một tổng thể, sự vật lớn

 Đánh giá: khả năng phán xét giá trị sử dụng thông tin theo tiêu chí thích hợp

 Các hoạt động tương ứng ở vận dụng sáng tạo là: phận biệt, so sánh, chia nhỏ

các thành phần, thiết kế, rút ra kết luận, tạo ra sản phẩm mới

Thang đo BLOOM về các cấp độ tư duy được Benjamin Bloom - một giáo sư của Trường Đại học Chicago đưa ra vào năm 1956 [18] Trong đó, Bloom có nêu ra sáu cấp độ nhận thức (gọi là thang đo Bloom) Thang đo này đã được sử dụng trong hơn năm thập kỷ qua đã khẳng định ưu điểm của phương pháp dạy học nhằm khuyến khích

và phát triển các kỹ năng tư duy của sinh viên ở mức độ cao Trong đề tài nghiên cứu này chúng tôi sử dụng ba mức độ đầu tiên để nghiên cứu nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên

- Nhớ / Biết (Remembering)

Biết – là khả năng ghi nhớ và nhận diện thông tin, nhớ/ biết là mức độ cần thiết cho các mức độ tư duy Nhớ/ biết ở đây được hiểu là nhớ lại những kiến thức đã học một cách máy móc và nhắc lại

Để đánh giá mức độ nhớ của sinh viên, khi đặt câu hỏi kiểm tra thầy cô có thể dùng những động từ: liệt kê, gọi tên, định danh, giới thiệu/chỉ ra, xác định, nhận biết, nhớ lại, đối chiếu, phân loại, mô tả, định vị, phác thảo, lấy ví dụ, phân biệt quan điểm

từ thực tế…

- Hiểu (Understanding)

Thông hiểu là khả năng hiểu, diễn dịch, diễn giải, giải thích hoặc suy diễn Hiểu không đơn giản là nhắc lại cái gì đó Sinh viên phải có khả năng diễn đạt theo ý nghĩa của họ

Với mục đích đánh giá xem sinh viên hiểu bài đến đâu, thầy cô có thể dùng các động từ sau trong câu hỏi kiểm tra: diễn giải, phân biệt, chứng tỏ, hình dung, trình bày lại, viết lại, lấy ví dụ, tóm tắt, giải thích, diễn dịch, mô tả, so sánh, chuyển đổi, ước lượng…

- Vận dụng (Applying)

Trang 16

Vận dụng là khả năng sử dụng thông tin và chuyển đổi kiến thức từ dạng này sang dạng khác (sử dụng những kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới) Vận dụng là bắt đầu của mức tư duy sáng tạo Tức là vận dụng những gì đã học vào đời sống hoặc một tình huống mới Bao gồm việc ứng dụng các điều trừu tượng, những nguyên lý, định luật đã học vào các trường hợp đặc biệt, cụ thể Thí dụ áp dụng các định luật khoa học để giải thích các hiện tượng riêng rẽ

Để đánh giá khả năng vận dụng của sinh viên, thì câu hỏi mà các thầy cô sử dụng thường có những động từ sau: áp dụng, phân loại, sửa đổi, đưa vào thực tế, chứng minh, ước tính, vận hành, giải quyết, minh họa, tính toán, diễn dịch, thao tác, dự đoán, bày tỏ…

Để hiểu một cách hoàn chỉnh thế nào là hạnh phúc gia đình, trước hết cần phải hiểu khái niệm gia đình và hạnh phúc

1.3 Lý luận về hạnh phúc gia đình

1.3.1 Định nghĩa về gia đình

1.3.1.1 Khái niệm gia đình

Hiện nay, gia đình là một vấn để được rất nhiều nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực quan tâm nghiên cứu, vì vậy có nhiều định nghĩa khác nhau

Theo mỗi góc độ nghiên cứu sẽ có các khái niệm khác nhau

+ Ở góc độ kinh tế học, gia đình được nghiên cứu với tư cách là một đơn vị kinh tế, đơn vị tiêu dùng

+ Nhân chủng học nghiên cứu gia đình theo sự biến đổi đa dạng của các loại hình gia đình giữa các nền văn hóa

+ Sử học nghiên cứu các mô hình gia đình đã qua trong các thời kỳ lịch sử + Dân tộc học nghiên cứu đặc trưng gia đình ở các dân tộc khác nhau

Theo các nhà nghiên cứu xã hội học, dân tộc học thì gia đình từ thời nguyên thủy gồm một nhóm xã hội nhỏ cùng chung sống và đến nay nhóm xã hội này vẫn tồn tại với một số chức năng cơ bản của nó

Theo Mác – Ăngghen, gia đình là “mối quan hệ giữa chồng và vợ, giữa cha mẹ

đỡ lẫn nhau bằng tình cảm và trách nhiệm”

Trang 17

- Quan điểm thứ ba: “Gia đình hiện đại là một nhóm xã hội bao gồm bố mẹ, và con cái của một vài thế hệ, các thành viên trong gia đình có mối quan hệ ràng buộc về vật chất, tinh thần theo những nguyên tắc, mục đích sống như nhau về các vấn đề chủ yếu trong sinh hoạt, văn hóa, kinh tế, tình cảm, lao động vui chơi, học tập, sinh con và dạy con…”

Nhà triết học người Ý Galimberto cho rằng: theo quan niệm phổ biến nhất, gia đình là tế bào của xã hội, bao gồm hai cá thể khác giới và những người nối dõi của cả hai Nhà nghiên cứu về gia đình Levy Stranss lại cho rằng: “Gia đình là một nhóm xã hội được quy định bởi các đặc điểm: bắt nguồn từ hôn nhân, bao gồm vợ chồng con cái phát sinh từ hôn phối,các thành viên gắn bó với nhau bởi ràng buộc của pháp lý, bởi các nghĩa vụ và quyền lợi”[5]

Theo quan niệm của phương Đông thì gia đình thường được quan niệm như sau: “Gia” mang ý nghĩa là nhà ở, “Đình” có nghĩa là chỗ phát lệnh cho cả nước noi theo Nghĩa xưa của gia đình là một đơn vị kinh tế nhỏ, sống chung dưới một mái nhà trong cộng đồng xã hội

Tác giả Ngô Công Hoàn viết trong “Tâm lý học gia đình” như sau: “Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội Các thành viên trong nhóm có quan hệ gắn bó về hôn nhân hoặc huyết thống, tâm lý, cùng có chung các giá trị vật chất, tinh thần ổn định trong các thời điểm lịch sử nhất định” [8]

Theo tác giả Nguyễn Đình Xuân: Gia đình là một đơn vị, một nhóm nhỏ nhất của xã hội với số lượng thành viên ít nhất là hai người: vợ và chồng, sau đó sinh sôi nảy nở thêm con cái, trong đó mối quan hệ vợ chồng là giường cột” [16]

Theo tài liệu Giáo dục đời sống gia đình do tác giả Trần Trọng Thủy viết: Gia đình là một nhóm nhỏ liên kết với nhau với những mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hay nhận con nuôi, tạo thành một hệ riêng biệt, tác động qua lại và giao tiếp lẫn nhau qua vai trò xã hội của từng người: là chồng, là vợ, là cha, là mẹ, là con trai, con gái, anh em, tạo thành một nền văn hóa chung [Dẫn theo 8, Trang 5]

Như vậy có rất nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình, tùy thuộc vào cách tiếp cận của mỗi tác giả trong việc xem xét khái niệm về gia đình Từ những quan điểm trên, ở góc độ tâm lý học, chúng tôi rút ra định nghĩa chung nhất về gia đình làm công

cụ nghiên cứu của đề tài như sau: Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội, các thành viên

gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống (hoặc quan hệ nhận con nuôi), các thành viên cùng chung sống, có ngân sách chung, có trách nhiệm với nhau, thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần, tình cảm, vừa đáp ứng nhu cầu riêng tư của cá nhân, vừa thỏa mãn nhu cầu xã hội về tái sản xuất con người và duy trì nòi giống

Trang 18

1.3.1.2 Đặc trưng của gia đình

Để nhận thức đúng đắn về hạnh phúc gia đình thì cần phải tìm hiểu đặc trưng

cơ bản của gia đình

Thông qua việc nghiên cứu, phân tích và tổng hợp tài liệu, chúng tôi đã thống

kê có 4 đặc trưng cơ bản của gia đình, cụ thể:

- Gia đình là một nhóm nhỏ trong xã hội, nhất thiết phải có từ 2 người trở lên - Gia đình được hình thành và phát triển trên cơ sở quan hệ hôn nhân huyết thống - Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình là mối quan hệ ruột thịt, huyết thống - Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình có mối quan hệ mật thiết với xã hội 1.3.1.3 Chức năng của gia đình Gia đình Việt Nam hiện nay vẫn là mô hình gia đình truyền thống đa chức năng và để đạt được mục tiêu xây dựng hạnh phúc, ấm no hòa thuận thì gia đình cần phải thực hiện hàng loạt các chức năng của mình Vấn đề này cũng có nhiều quan điểm khác nhau Tác giả Mai Thúy Bích (1987) viết trong “Lối sống gia đình ngày nay” đã đưa ra 6 chức năng của gia đình:

1 Sinh đẻ duy trì nòi giống

2 Tổ chức sinh hoạt gia đình

3 Xã hội hóa (giáo dục) thế hệ trẻ

4 Tổ chức thời gian tự do cho các thành viên

5 Thỏa mãn những nhu cầu tình cảm

6 Chăm sóc người già và những thành viên không có khả năng lao động Theo tác giả Trần Trọng Thủy (1990), gia đình phải thực hiện các chức năng:

1 Sinh đẻ và nuôi dạy con

2 Tổ chức cuộc sống vật chất và văn hóa

3 Tổ chức kinh tế Theo tác giả Ngô Công Hoàn cho rằng gia đình gồm những chức năng sau: 1 Sinh đẻ

2 Chức năng giáo dục trẻ em

3 Chức năng tiêu dùng

4 Chức năng kinh tế

5 Chức năng thỏa mãn nhu cầu

6 Chức năng chăm sóc người già

Theo tác giả Nguyễn Khắc Viện (1990), trong cuốn “Bàn về tâm lý học gia

đình”, ông cho rằng có 7 chức năng gia đình như sau:

Trang 19

1 Sinh đẻ

2 Chức năng giáo dục trẻ

3 Chức năng tiêu dùng

4 Chức năng kinh tể

5 Chức năng thỏa mãn nhu cầu

6 Chức năng chăm sóc người già

7 Chức năng tình cảm đôi lứa vợ chồng

Các quan niệm trên đều là hợp lý Các chức năng mà các tác giả đã nêu ra là những nhiệm vụ cơ bản mà gia đình phải thực hiện và là những yếu tố tạo ra sự bền vững của gia đình trong cả quá trình phát sinh, phát triển xã hội loài người

1.3.2 Lý luận về hạnh phúc gia đình

1.3.2.1 Khái niệm hạnh phúc gia đình

Khái niệm hạnh phúc gia đình cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau tùy vào góc độ tiếp cận của các nhà nghiên cứu cũng như phụ thuộc vào từng thời kì lịch sử

+ L.Tolstoy đã khái quát về hạnh phúc chung trong đời sống con người: “Người

ta chỉ hạnh phúc thực sự khi nhận thức được những gì họ cần có và họ có tất cả những

gì cần cho họ” Vậy trong gia đình, mọi thành viên hạnh phúc khi họ nhận thức được cái họ cần và họ có được cái họ cần có Đó là mối quan tâm chung của toàn xã hội Nhưng mỗi người có hoàn cảnh, một thuộc tính tâm lý cá nhân khác nhau nên ước mơ nguyện vọng và quan niệm về hạnh phúc gia đình ở mỗi người là khác nhau Nếu sống chung trong môi trường xã hội nhất định có cùng sự nhận thức nhất định sẽ dễ dàng có

sự đồng nhất quan điểm với nhau về mọi khía cạnh trong cuộc sống xã hội và đời sống

cá nhân

+ Theo các nhà xã hội học thì hạnh phúc gia đình là một gia đình trong đó quan

hệ vợ chồng hòa thuận, quan tâm, yêu thương nhau, con cái vâng lời học giỏi, hiếu nghĩa Tiếp đó là vợ chồng có việc làm ổn định, đảm bảo đủ ăn, đủ tiêu, nhà cửa khang trang

+ Theo các nhà nghiên cứu gia đình và phụ nữ thì hạnh phúc gia đình là một gia đình mà trong đó các thành viên hòa hợp tình cảm với nhau, vợ chồng hòa thuận chưa

đủ mà đòi hỏi các thành viên cùng hộ khẩu, ông bà, con cháu, anh chị em, họ hàng nội ngoại hòa thuận Trong đời sống vợ chồng cần có sự “hòa hợp tình dục” và phải đảm bảo về các mặt vật chất và tinh thần cho mọi thành viên trong gia đình, thể hiện ở phong cách tổ chức đời sống gia đình một cách khoa học, đòi hỏi những người chủ trong gia đình phải có một trình độ tri thức, văn hóa nhất định Cả hai vợ chồng đều

Trang 20

bàn bạc thống nhất về nội dung và phong cách nuôi dạy con, phân công theo dõi tình hình, sức học… để nắm bắt diễn biến tình cảm nhận thức của trẻ khi chúng lớn lên trong môi trường và lối sống phức tạp như hiện nay

+ Theo các nhà tâm lý thì một gia đình hạnh phúc là một gia đình mà trong đó mọi người “biết cách hiểu nhau, chú ý đến nhau, quan tâm đến sở thích, khuynh hướng

và nguyện vọng của nhau”

+ Tác giả Nguyễn Đình Xuân, hạnh phúc gia đình là:

- Gia đình có vợ chồng hiểu biết lẫn nhau, thương yêu nhau hết mực, sống biết điều với nhau, cùng nhau bàn bạc một cách bình đẳng, dân chủ về mọi công việc trong gia đình Đồng thời hai bên cũng phải biết thông cảm, chia sẻ, tha thứ cho nhau

- Một gia đình hạnh phúc là gia đình gìn giữ được sự chan hòa, vui tươi, đoàn kết, êm ấm trong gia đình và với mỗi thành viên và giữ vững được các mối quan hệ trong gia đình theo một kỷ cương, trật tự nhất định [16]

Hạnh phúc gia đình là sự thỏa mãn lẫn nhau, sự cho và nhận đầy đủ giữa các thành viên sẽ tạo nên sự tồn tại bền vững và phát triển của gia đình Tuy nhiên, quan niệm hạnh phúc gia đình ở các thời điểm lịch sử, các thời đại khác nhau là khác nhau

vì từng giai đoạn lịch sử có trình độ kinh tế vật chất không giống nhau Sự khác nhau còn thể hiện trong từng giai đoạn phát triển của con người, điều này phụ thuộc vào vị trí, địa vị xã hội, trình độ văn hóa, nhận thức, nếp sống cụ thể của từng con người

Như vậy, hạnh phúc gia đình không phải là những cái trừu tượng khó hiểu mà

là những cái rất cụ thể, là miếng cơm manh áo, nhà cửa tiền bạc, là giây phút sung sướng, vui tươi, đầm ấm hàng ngày của từng thành viên trong gia đình

Gia đình chính là nơi phát sinh hạnh phúc cũng như đau khổ của con người Xây dựng gia đình hạnh phúc chính là tạo sự hòa hợp tâm lý giữa các thành viên trong gia đình Tình cảm nói chung và những mối quan hệ tốt đẹp nói riêng của những thành viên trong gia đình là nét đặc trưng nhất của nhân cách, nó biểu hiện ở các mức độ của các mối quan hệ giữa người với người Vì vậy bầu không khí hòa thuận đầm ấm trong gia đình là rất cần thiết trong cuộc sống vợ chồng Hạnh phúc gia đình chỉ có thể bền chặt khi vợ chồng yêu thương nhau dựa trên cơ sở hai người đã đạt đến sự chín muồi

về cơ thể và cấu trúc của nhân cách

Để có hôn nhân hạnh phúc thì nhất thiết phải dựa trên cơ sở tình yêu của hai phía Mặt khác, con người tìm thấy hạnh phúc của mình trong cuộc sống riêng, trong

Trang 21

hoạt động xã hội, trong lao động sáng tạo, trong thắng lợi của cuộc đấu tranh và trong

cả mái nhà ấm cúng của mình Hạnh phúc của các gia đình cụ thể là hạnh phúc của xã hội Điều kiện tiên quyết để xây dựng một gia đình hạnh phúc là có sự nhận thức đúng đắn về hạnh phúc gia đình

Tóm lại, dựa trên quan điểm khác nhau về hạnh phúc gia đình, trong phạm vi

của đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi cho rằng: Hạnh phúc gia đình là một trạng

thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn những nhu cầu mà mình mong muốn đạt được cho các thành viên trong gia đình

1.3.2.2 Biểu hiện về hạnh phúc gia đình

Theo Vũ Hiếu Dân, Ngân Hà trong cuốn “ Văn hóa tâm lý gia đình” thì biểu hiện của hạnh phúc gia đình bao gồm :

- Cuộc sống vợ chồng hòa hợp, các thành viên trong gia đình chia sẻ lẫn nhau, quan tâm tới nhau

- Kinh tế gia đình ổn định, đảm bảo cuộc sống thuận lợi cho mỗi thành viên, làm cho mỗi thành viên phát triển tài năng, nhân cách của mình

- Thực hiện tốt các quy định của pháp luật [4]

Theo tác giả John.M.Gottman trong cuốn “Hạnh phúc gia đình trẻ” Nxb Trẻ cho rằng, một gia đình hạnh phúc thì không thể thiếu các biểu hiện sau:

- Vợ chồng hòa thuận, cùng nhau có trách nhiệm quan tâm chăm sóc

con cái

- Tin cậy lẫn nhau, cùng giúp đỡ nhau, xây dựng hạnh phúc gia đình

- Kinh tế gia đình ổn định

- Con cái ngoan, học giỏi

Tổng kết các quan điểm của các nhà nghiên cứu, theo chúng tôi biểu hiện cơ bản của hạnh phúc gia đình như sau:

- Cuộc sống vợ chồng hòa thuận, yêu thương nhau, biết quan tâm đến nhu cầu,

sở thích, hứng thú… của nhau, các thành viên trong gia đình quan tâm chăm sóc giúp

đỡ lẫn nhau, biết tôn trọng nhau và cư xử lễ độ với nhau

- Vợ chồng sống chung thủy với nhau

- Kinh tế gia đình đầy đủ, đảm bảo cuộc sống thuận lợi cho mỗi thành viên, đáp ứng được nhu cầu phù hợp và chính đáng của mỗi thành viên, làm cho các thành viên được học hành đầy đủ, có điều kiện phát triển về mọi khả năng của mình

Trang 22

- Gia đình luôn luôn gắn bó với xã hội, hòa nhập với xã hội, thực hiện tốt pháp luật đóng góp tích cực vào việc xây dựng xã hội phát triển

- Gia đình thực hiện tốt việc chăm sóc giáo dục con cái, hiếu thảo với cha mẹ già và anh chị em nội ngoại, chức năng tái sản xuất ra con người,

- Gia đình hạnh phúc là kết quả của hôn nhân tự nguyện, được xây dựng trên cơ

sở tình yêu sâu nặng và tinh thần trách nhiệm với nhau [18]

Như vậy, những yếu tố quan trọng nhất đảm bảo hạnh phúc gia đình là:

1 Thu nhập gia đình ổn định, đảm bảo cuộc sống gia đình tồn tại và phát triển

2 Mọi người yêu thương chăm sóc nhau

9 Con cái được chăm sóc, giáo dục chu đáo

10 Có cả con trai và con gái trong gia đình

1.3.2.3 Vai trò của hạnh phúc gia đình

- Gia đình hạnh phúc tạo điều kiện cho mỗi thành viên tự phát triển mình, hoàn thiện mình và gắn bó hơn với gia đình

- Hạnh phúc gia đình mang lại sự an toàn, lành mạnh và hạnh phúc của cả xã hội

- Hạnh phúc gia đình chỉ có được khi gia đình thực hiện tốt các chức năng của mình, đồng thời gia đình hạnh phúc lại tạo điều kiện cho việc thực hiện các chức năng được thuận lợi hơn

- Hạnh phúc gia đình sẽ tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy định hướng tương lai cho mỗi cá nhân Con người ta sẽ không phải lo lắng hay sợ hãi bất cứ điều gì vì bạn biết gia đình luôn ở bên mình, luôn là điểm tựa vững chắc và là mái ấm che chở cho mình trước những chông gai của cuộc đời Điều đó làm động lực thúc đẩy mỗi người vươn lên vì người thân của mình

- Hạnh phúc gia đình sẽ giúp các thành viên sống trong môi trường an toàn, lành mạnh hạn chế được các tệ nạn xã hội

Trang 23

- Sống trong gia đình hạnh phúc sẽ tạo nền tảng cho các thành viên trong quá trình xây dựng hạnh phúc của bản thân Cha mẹ sẽ là tấm gương cho con cái noi theo, con cái sẽ học theo những tấm gương đó để tự xây dựng hạnh phúc cho bản thân mình

- Sống trong gia đình hạnh phúc con người sẽ cảm thấy tự tin hơn vì phía sau luôn có hậu phương vững chắc luôn che chở bản thân mỗi khi mình vấp ngã Gia đình hạnh phúc sẽ giúp hạn chế được những nguy cơ tìm ẩn cho các thành viên trong gia đình, giúp cho các thành viên thoải mái chia sẻ

1.3.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình

Hạnh phúc gia đình không phải tự nhiên, tình cờ mà có Hạnh phúc gia đình luôn phụ thuộc vào sự phấn đấu, nỗ lực và đấu tranh của các thành viên trong gia đình

“Hạnh phúc là đấu tranh” Các Mác nói luôn đúng trong mọi trường hợp

Trên thực tế, người ta chỉ có thể hạnh phúc trong một điều kiện nhất định, khi mọi người làm tròn chức năng của mình trong mối quan hệ rất chặt chẽ Như vậy, xây dựng hạnh phúc gia đình là cả một nghệ thuật và phải dựa trên những nguyên tắc sau:

- Xây dựng hạnh phúc gia đình phải dựa trên nền tảng ý thức trách nhiệm, tình yêu, tình thương và thực hiện tốt các chức năng của gia đình Tình yêu làm cho gia đình có hương vị ngọt ngào, đầy thi vị, cảm xúc sung sướng, êm ấm, mặn nồng giữa

vợ chồng, cha mẹ với con cái, ông bà với cháu Thiếu tình yêu là thiếu đi một phần của hạnh phúc gia đình Tình thương làm cho tình cảm gia đình thêm phần sâu sắc, đậm

đà, nhân ái, làm cho các mối quan hệ gia đình thêm khăng khít Thiếu tình thương sẽ thiếu độ bền chặt và vững chắc của hạnh phúc gia đình Ý thức trách nhiệm là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt trong cả tình yêu và tình thương Nó làm cho gia đình có sự ổn định theo một kỷ cương nhất định, bảo đảm bầu không khí tự do, bình đẳng êm ấm và hạnh phúc trong bất kỳ tình huống nào cho mọi thành viên trong gia đình

- Mỗi thành viên trong gia đình phải biết điều hòa hạnh phúc của mình sao cho phù hợp với hạnh phúc gia đình, biết hi sinh nhường nhịn lẫn nhau Chẳng hạn, chồng yêu vợ hết mực thì vợ phải yêu chồng nồng thắm, cha mẹ thương yêu con cái, nuôi nấng tận tình, dạy dỗ đến nơi đến chốn thì con cái có nghĩa vụ và trách nhiệm đền đáp lại bằng sự thương yêu, kính trọng cha mẹ, khi cha mẹ già cả, ốm yếu, con cái phải chăm sóc ân cần, hiếu nghĩa

- Muốn có hạnh phúc gia đình thì mỗi thành viên phải biết chấp nhận, nghĩa là thích nghi cao độ với hoàn cảnh sống Ước muốn của con người là vô bờ, nhưng thực

Trang 24

tại khách quan lại có hạn, bởi vậy người thông minh là người biết hài lòng, khôn khéo thích ứng với hoàn cảnh của mình mà sống.Trong cuộc sống vợ chồng, hai người phải biết chấp nhận nhau, chấp nhận những may rủi do thời thế tạo ra để mà vui sống Song chấp nhận không phải là hoàn toàn bị động, mà mỗi người phải biết khắc phục khó khăn thành hoàn cảnh thuận lợi Trong đó khó khăn nhất là giải quyết xung đột gia đình, Đó là một nghệ thuật và bí quyết thành công trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình

- Trong cuộc sống vợ chồng, vợ chồng phải bình đẳng với nhau trên mọi phương diện, không nên tranh giành quyền lực trong gia đình Việc lớn cùng bàn, cùng

có trách nhiệm, để thực hiện trên cơ sở thống nhất với nhau một cách có ý thức

- Ngoài ra để có hạnh phúc gia đình thì mỗi người phải tôn trọng, quan tâm đầy

đủ đến nhu cầu chính đáng của nhau, biết động viên nhau khi vui, an ủi nhau khi buồn, luôn sát cánh để giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống, luôn sống lạc quan, yêu đời, biết tạo niềm vui và làm dày thêm tiếng cười trong cuộc sống ấy là hạnh phúc gia đình và cũng là cách làm vơi đi những khó khăn vốn có

- Vấn đề hạnh phúc gia đình và giữ gìn hạnh phúc gia đình không hẳn phải có

sự áp đặt giống nhau cho mọi người Có điều cần với gia đình này, nhưng lại không cần nhấn mạnh với gia đình khác Song cho dù như vậy thì bản thân nó cũng đã chứa đựng những yếu tố đã nêu mà nếu thiếu một trong các yếu tố ấy thì cũng sẽ rất khó khăn

Như vậy, hạnh phúc gia đình là ước mơ của mọi người từ bao đời nay và việc gìn giữ hạnh phúc gia đình là trách nhiệm không chỉ của riêng ai.Để gia đình luôn êm

ấm, hạnh phúc thì mỗi thành viên cần có ý thức làm tròn trách nhiệm đối với gia đình, trong đó nổi bật lên là vai trò trách nhiệm của người vợ và người chồng, điều này liên quan chặt chẽ đến hành vi chọn bạn đời “tâm đầu ý hợp” từ đó hai người có ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình trong việc tạo dựng hạnh phúc gia đình

* Trách nhiệm của người vợ:

- Dù ở trong bất kì thời kỳ nào thì trách nhiệm nặng nề nhất của người vợ là nội trợ, quản lý toàn bộ gia đình về kinh tế Đó là người biết quán xuyến mọi việc, từ sắp xếp nhà cửa cho gọn gàng đến việc tính toán chi tiêu trong nhà sao cho hợp lý

- Trách nhiệm thứ hai của người vợ là giúp chồng thành công trong sự nghiệp

Để làm được nhiệm vụ này, người vợ cần tìm hiểu những ước mơ, hoài bão của người

Trang 25

chồng để cùng chồng cảm thông, vui sướng, đau khổ và lo lắng với sự nghiệp của chồng khi thắng lợi, lúc thất bại hay khó khăn, người vợ biết lắng nghe, chia sẻ với mình những chuyện rắc rối trong làm ăn hay va chạm bạn bè đồng nghiệp Đồng thời người vợ phải là người biết tôn trọng tự do của chồng, biết tha thứ nếu chồng mắc lỗi

- Trách nhiệm thứ ba của người vợ là cùng chồng chăm sóc, phụng dưỡng cha

mẹ của cả hai bên nội ngoại, và chăm sóc nuôi dạy con cái ngay từ tấm bé ñến khi khôn lớn Người vợ còn phải tổ chức cuộc sống gia ñình một cách hợp lý và khoa học

ñể thỏa mãn nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần và mang lại hạnh phúc cho mọi thành viên trong gia đình

Xuất phát từ vị trí quan trọng của mình trong gia đình và trong mối quan hệ với chồng, người phụ nữ phải ý thức rõ được trách nhiệm và bổn phận của mình, hiểu được những mong muốn sở thích cụ thể của người chồng và hoàn cảnh của gia đình, của bản thân để phấn đấu vươn lên, xứng đáng là người phụ nữ đẹp trong mắt chồng mình Đó là yếu tố quan trọng để bảo vệ được hạnh phúc gia đình Người phụ nữ phải

có được những đức tính “công, dung, ngôn, hạnh” phù hợp trong thời đại mới Để có được gia đình hạnh phúc, người phụ phải phấn đấu vươn lên trong cuộc sống, sắp xếp hợp lý công việc xã hội và việc gia đình, dịu dàng, thùy mị, vị tha nhưng không yếu đuối, nhu nhược và cam chịu; Quyết đoán mạnh mẽ nhưng không đanh đá, chua ngoa; Biết làm đẹp nhưng không diêm dúa, đua đòi; Sống giản dị nhưng phải tao nhã không lôi thôi luộm thuộm; Biết khéo léo trong ứng xử với mọi người và gương mẫu trước con cái

Với những trách nhiệm kể trên người phụ nữ cần phải biết trau dồi, tìm hiểu để luôn biết cách học hỏi nâng cao ý thức trách nhiệm, vai trò của mình trong gia đình để giữ gìn hạnh phúc gia đình

* Trách nhiệm của người chồng:

Người đàn ông thể hiện cho sự mạnh mẽ che chở cho mọi người trong gia đình,

là trụ cột của gia đình Hạnh phúc gia đình đầm ấm hay không phần lớn do người phụ

nữ nhưng không thể thiếu vắng người đàn ông

Trong gia đình truyền thống xưa kia, người chồng đóng vai trò làm chủ gia đình, hứng mũi chịu sào, lo toan các công to việc lớn trong gia đình như khởi xướng – bàn bạc cùng vợ và quyết định việc làm nhà, dựng vợ gả chồng cho con cái Lo công việc làm ăn và kiếm tiền cho cả gia đình… Ra xã hội, người chồng là người đại diện

Trang 26

cho gia đình trong quan hệ với họ hàng, hàng xóm, dòng tộc, là người chịu trách nhiệm về các thành viên trong gia đình Vì vậy, người chồng rất gia trưởng và tỏ ra quyết đoán, dũng cảm, độc lập, và đôi khi trở nên độc đoán, chuyên quyền thiếu dân chủ với vợ con

Trong thời đại mới, quan hệ vợ chồng là dân chủ, bình đẳng Song trong mọi trường hợp nào, mọi hoàn cảnh muốn gia đình hạnh phúc thì người chồng phải là trụ cột của gia đình

Người chồng hiện nay cần phải biết tôn trọng, giúp đỡ vợ những công việc gia đình khi cần thiết, sẵn sàng làm nội trợ giúp vợ như lúc vợ quá bận rộn, vất vả, ốm đau…

Là chỗ dựa vững chắc cho người vợ, người vợ nào cũng muốn có một người chồng yêu thương, thông cảm, chăm sóc, tạo điều kiện cho vợ phát triển về mọi mặt Sống có bản lĩnh với những ước mơ cao đẹp, dám mạo hiểm để tạo ra sức mạnh làm chỗ dựa cho phái yếu và cho gia ñình

Biết cách thỏa mãn đời sống tình dục của vợ sao cho hòa hợp, vì phái yếu rất ngại ngùng thổ lộ tâm tình Và phải sống chung thủy

Có trách nhiệm trong việc chăm sóc, dạy dỗ con cái

Hiểu được những điều mà người vợ mong muốn để khéo léo ứng xử phù hợp

Từ sự phân tích, chúng tôi rút ra kết luận về sự xây và gìn giữ hạnh phúc gia đình như sau:

+ Chăm lo xây dựng, gìn giữ hạnh phúc gia đình là trách nhiệm của cả vợ và chồng

+ Do đặc điểm về giới tính, sức khỏe, vị trí trong gia đình, mà nhiệm vụ cụ thể

có thể có những điểm khác nhau giữa vợ và chồng

+ Điều quan trọng nhất là cả vợ và chồng cùng chung tay gánh vác công việc trong gia đình

Tóm lại: Hạnh phúc gia đình không phải là cái gì tình cờ, ngẫu nhiên mà có, hạnh phúc gia đình là cái hiện hữu, muốn xây dựng được hạnh phúc gia đình bản thân mỗi thành viên trong gia đình cần phải cố gắng, nỗ lực đặc biệt là người chồng, người

vợ phải luôn luôn nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình đối với gia đình, đồng thời cũng cần phải trau dồi kiến thức về nuôi dạy con cái, chăm sóc gia đình, thỏa mãn những nhu cầu cần thiết cho nhau

Trang 27

Đây là vấn đề rất quan trọng, mỗi bạn trẻ phải nhận thức được đầy đủ, từ đó mới định hướng được hành vi đúng đắn cho bản thân mình khi bước vào cuộc sống hôn nhân và đây cũng là cơ sở để lựa chọn người bạn đời “tâm đầu ý hợp” với mình Thực hiện được điều đó, chắc chắn sẽ xây dựng được hạnh phúc gia đình trong tương lai

1.4 Lý luận về nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên

1.4.1 Vài nét về sinh viên

1.4.1.1 Khái niệm về sinh viên

Sinh viên theo từ gốc trong tiếng Latinh là những người làm việc, học tập, tìm hiểu và khai thác tri thức

Theo nghĩa thông thường, sinh viên là người học tập ở bậc trung cấp, cao đẳng

và đại học

1.4.1.2 Đặc điểm tâm lý của sinh viên

Sinh viên là những thanh niên học trong các trường đại học, cao đẳng hoặc nghề phải thích nghi với môi trường mới, học tập khác hoàn toàn với học phổ thông, chi phí tốn kém, môi trường giao tiếp mở rộng, mới mẻ, nhiều thanh niên sống trong hoàn cảnh xa nhà, phải hoàn toàn độc lập, làm chủ bản thân Vì vậy thời gian đầu bước vào giai đoạn học nghề, sinh viên gặp nhiều khó khăn

Một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới cho thấy cần có một thời gian nhất định để để sinh viên làm quen, thích ứng với những vấn đề trên Sự thích ứng này đối với các sinh viên không hoàn toàn như nhau còn phụ thuộc vào đặc điểm tâm lý cá nhân và môi trường sống cụ thể của họ quy định

 Đời sống xúc cảm, tình cảm của sinh viên

Với sinh viên, nhiệm vụ học tập nặng nề, tương lai còn phía trước, họ không thể kết hôn sớm như thanh niên nông thôn Tuy nhiên, môi trường giao tiếp phong phú, tầm hiểu biết mở rộng, đời sống tình cảm của họ rất phong phú mang những sắc thái riêng

Theo B.G.Anahev và một số nhà tâm lý học khác, tuổi sinh viên là thời kì phát triển tích cực nhất của những loại tình cảm cao cấp tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ Những tình cảm này biểu hiện rất phong phú trong hoạt động và trong đời sống của sinh viên Đặc điểm của nó là tính hệ thống và bền vững hơn so với thời kỳ trước

Tình bạn cùng giới hoặc khác giới ở tuổi sinh viên phát triển theo chiều sâu Bên cạnh tình bạn thì tình yêu trai gái cũng là một nét đặc trưng trong đời sống tình cảm ở tuổi sinh viên, nó mang một sắc thái hoàn toàn mới Sinh viên bước vào tình yêu trai gái với một tư thế hoàn toàn khác do vị thế xã hội, trình độ và tuổi tác Nhìn chung

Trang 28

tình yêu ở lứa tuổi sinh viên đẹp, lãng mạn, đầy thi vị và trách nhiệm Tuy nhiên không ít sinh viên vẫn còn mạo hiểm, không có trách nhiệm trong tình yêu Một vấn

đề nổi cộm hiện nay là vấn đề sống thử ở sinh viên

Đa số là những người con sống xa nhà, các bạn sinh viên phải tập quen với cuộc sống không có gia đình ở bên, rời xa vòng tay gia đình đòi hỏi các bạn phải tự lập Tuy nhiên sinh viên vẫn luôn hướng về gia đình và có trách nhiệm đối với gia đình mình

 Sự phát triển một số phẩm chất nhân cách ở sinh viên

Thanh niên sinh viên không chỉ quan tâm nhiều đến vẻ đẹp hình thức mà còn đi sâu vào nhận thức những phẩm chất, giá trị nhân cách Họ không chỉ trả lời câu hỏi tôi

là ai? Tôi là người như thế nào? Tôi có những phẩm chất gì? Tôi có xứng đáng hơn không? Hơn thế họ còn có khả năng đi sâu lý giải câu hỏi: Tại sao tôi là người như thế?

Một số nghiên cứu cho thấy: Mức độ phát triển của phẩm chất nhân cách này liên quan đến học lực cũng như kế hoạch sống trong tương lai của sinh viên Những sinh viên có kết quả học tập cao thường chủ động, tích cực trong sự tự đánh giá, tự kiểm tra hành động, thái độ cư xử, cử chỉ giao tiếp để hướng tới những thành tựu khoa học, lập

kế hoạch học tập, nghiên cứu khoa học một cách cụ thể nhằm hoàn thiện ngày càng cao Còn những sinh viên có thành tích học tập thất thường tự đánh giá mình quá cao thường bị động trong học tập, nhu cầu giao tiếp thường mạnh hơn nhu cầu nhận thức Hoạt động của họ hướng chủ yếu vào quan hệ Ngược lại một số sinh viên đánh giá mình quá thấp sẽ thường bi quan trước kết quả hoạt động và thụ động trong quan hệ với bạn bè Họ ít phấn đấu vươn lên trong cuộc sống

1.4.1.3 Đặc điểm nhận thức của sinh viên

Nhận thức của sinh viên có những biến đổi về chất so với tuổi thiếu niên, sinh viên có mong muốn dùng tri thức của mình để cải tạo thế giới và đã bước đầu tìm cách giải quyết các vấn đề thực tiễn do cuộc sống đặt ra Có thể nói sự phát triển trí tuệ của thanh niên phát triển đến mức cao so với những giai đoạn trước đó Nhiều nhà khoa học, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên đã đạt được những thành tựa đáng ghi nhận ở tuổi sinh viên

Tuy nhiên, trong những năm đầu, nhận thức của sinh viên vẫn còn mang tính khuôn mẫu và cứng nhắc Lí do là các em vẫn quen với phương thức học tập dập khuôn ở thời phổ thông và chưa có những trải nghiệm thực tế Đến cuối giai đoạn này, nhận thức của họ mới trở nên linh hoạt và mền dẻo hơn

Năm 1970, W.Perry đã tiến hành cuộc nghiên cứu về những biến đổi các quá trình tư duy ở sinh viên trường đại học trong 4 năm học ở trường Cho thấy:

Trang 29

- Sinh viên năm đầu thường nhìn nhận thế giới và hiểu các tri thức thu được một cách cứng nhắc, hơi thái quá Họ luôn có xu hướng tìm kiếm chân lý và những tri thức tuyệt đối

- Năm tiếp theo, sinh viên không tránh khỏi việc phải đối mặt với những quan điểm và lí thuyết khác nhau, họ có cảm giác những tri thức tiếp nhận từ giảng viên rất lộn xộn và không rõ ràng Nguyên nhân có thể là do các giảng viên đã giới thiệu các tài liệu với những quan điểm khác nhau nhằm khuyến khích các sinh viên tự tìm ra quy luật cũng có thể là do các giảng viên không có những giải đáp một cách rõ ràng, đầy đủ cho một số vấn đề

- Năn sau nữa, sinh viên bắt đầu chấp nhận và đánh giá cao một thực tế là luôn có những quan điểm khác nhau thậm chí mâu thuẫn nhau về cùng một vấn đề Họ bắt đầu hiểu được rằng con người có quyền đưa ra những ý kiến khác nhau, và họ đi đến kết luận rằng có thể nhìn nhận sự việc theo các cách khác nhau phụ thuộc vào hoàn cảnh

- Dần dần sinh viên hiểu được rằng họ phải lựa chọn các giá trị, các phương án

và các quan điểm nhất định và có trách nhiệm về chúng, mặc dù bước đầu họ chỉ mới thực hiện điều đó trên phương diện lí thuyết, trong các nghiên cứu hay các kì thi trắc nghiệm

Như vậy, từ năm thứ nhất tới năm thứ 4, sinh viên đã chuyển từ quan điểm tuyệt đối (chỉ có đúng hoặc sai) sang quan điểm tương đối (chấp nhận nhiều quan điểm cạnh tranh nhau) và tiếp theo là tự mình lựa chọn các quan điểm, ý tưởng và niềm tin phù hợp với mình Perry coi khía cạnh phát triển trí tuệ đó là đặc điểm đặc trưng trong nhận thức của tuổi thanh niên

1.4.1.4 Hình thành thế giới quan ở sinh viên

Thế giới quan là cái nhìn về thế giới nói chung, là hệ thống tri thức về các nguyên lí và cơ sở của tồn tại, là triết lí sống của con người

Thế giới quan, đó không phải là hệ thống quan điểm, niềm tin, thể hiện thái độ con người đối với thế giới và định hướng giá trị cơ bản của họ

Sinh viên là giai đoạn quyết định đối với sự hình thành thế giới quan của con người vì chính vào giai đoạn này, sự phát triển thể chất, nhận thức và tình cảm cá nhân

đã đạt đến độ chín mồi Mặc dù trình độ phát triển nhận thức, năng lực tư duy trừu tượng và phạm vị hứng thú của thanh niên là khác nhau, nhưng nhìn chung họ đều có

xu hướng suy ngẫm về thế giới và hình thành quan điểm của riêng mình

Đa số họ hành động theo quan điểm của riêng mình, ít bị ảnh hưởng bởi ý kiến của những người xung quanh Những tri thức đã tích lũy được về thế giới, về bản thân

và xã hội tích hợp lại thành hệ thống, gắn bó chặt chẽ tạo nên thế giới quan tương đối bền vững, ổn định Quan điểm về thế giới của thanh niên có thể mang tính duy vật,

Trang 30

cũng có thể mang tính duy tâm, hoặc dựa trên quan điểm của nhóm xã hội hay tôn giáo nhất định

Không phải người thanh niên nào cũng đã hình thành được thế giới quan ổn định, hình thành hệ thống niềm tin rõ ràng và vững chắc của mình Theo Ericson, việc lựa chọn thế giới quan ở tuổi thanh niên có vai trò vô cùng quan trọng Sự bất ổn trên hệ thống các quan điểm về thế giới, về bản thân và xã hội không cho phép con người tìm được vị trí của mình trong các mối quan hệ phức tạp và không tạo ra sự phát triển nhân cách toàn diện

Tóm lại, tuổi sinh viên là giai đoạn ổn định dần về nhân cách Đó là giai đoạn hình thành hệ thống những quan điểm bền vững đối với bản thân và thế giới Cấu trúc tâm lý mới quan trọng của tuổi sinh viên là tự xác định bản thân và hình thành thế giới quan

1.4.2 Nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên

1.4.2.1 Khái niệm

Trong gia đình, để xây dựng hạnh phúc không phải chuyện may rủi, kết quả ngẫu nhiên của những thuận lợi hay bất lợi đưa đến Hạnh phúc gia đình luôn luôn phụ thuộc vào sự phấn đấu, nỗ lực và đấu tranh của các thành viên trong gia đình

Trên thực tế người ta chỉ có thể hạnh phúc trong một điều kiện nhất định, khi mọi người làm tròn chức năng của mình trong mối quan hệ rất chặt chẽ Do đó hạnh phúc gia đình là kết quả đấu tranh giành giật chứ không phải từ trên trời rơi xuống, cũng không ai ban phát cho ta

Hơn hết để có thể xây dựng được hạnh phúc gia đình, bản thân mỗi người nhất là những người đang trong giai đoạn chuẩn bị tạo lập gia đình cần có nhận thức đúng đắn, đầy đủ về hạnh phúc gia đình là như thế nào

Tóm lại, Nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên là khả năng nhận

biết của sinh viên về những nhu cầu mà một gia đình cần có để dựa vào đó có những việc làm nhằm đem lại hạnh phúc cho bản thân và cho các thành viên trong gia đình

1.4.2.2 Biểu hiện nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên

 Mức độ biết

Sinh viên biết được hạnh phúc gia đình là hạnh phúc của toàn bộ các thành viên trong gia đình Các thành viên trong gia đình sống hòa thuận, vui vẻ và có trách nhiệm với nhau Tôn trọng và sẵn sàng hi sinh cho nhau tạo ra bầu không khí tâm lý trong gia đình vui vẻ, kính trên nhường dưới, vợ chồng chung thủy với nhau Đồng thời trong gia đình phải có thu nhập ổn định, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của các thành viên trong gia đình

Biết được vai trò của hạnh phúc gia đình với bản thân và với các thành viên như

Trang 31

- Tạo điều kiện cho mỗi thành viên tự phát triển mình và gắn bó chặt chẽ hơn với gia đình;

- Mang lại sự an toàn lành mạnh, tạo cảm giác tin tưởng bản thân;

- Là điểm tựa vững chắc cho cho các thành viên tìm về khi có những khó khăn, thử thách;

- Tạo ra bầu không khí tâm lý vui vẻ, dễ chịu khiến cho mọi người muốn được trở về nhà sau những giờ làm việc vất vả, căng thẳng;

- Là nơi tạo điều kiện cho các thành viên thực hiện đầy đủ chức năng của mình Sinh việt nắm được các yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình như yếu tố vật chất, tình thần và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình

Hiểu rằng cần chia sẻ với nhau về quan điểm sống với mọi người Việc chia sẻ quan điểm sống với các thành viên trong gia đình sẽ giúp mọi người hiểu nhau hơn Cần có sự tin tưởng giữa các thành viên trong gia đình với nhau Không phải ai sinh ra đã hoàn hảo, cần có sự tin tưởng giữa mọi người với nhau để các thành viên nhìn vào đó mà cố gắng

Hiểu rằng các buổi tiệc, chuyến dã ngoại sẽ làm tăng sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình

Hiểu rằng vợ chồng cần có sự đồng đều về trình độ học vấn Đây là điều kiện để hai vợ chồng có chung tiếng nói với nhau trong gia đình và trong việc nuôi dạy con cái

Hiểu rằng ai cũng có trách nhiệm trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình Nhiều người thường nghĩ việc gia đình đa số là trách nhiệm của người phụ nữ Nhưng tất các mọi người đều có trách nhiệm ngang nhau trong việc này

Hiểu rằng bạo lực không thể có trong gia đình Không có bạo lực gia đình thể hiện một gia đình lành mạnh và tôn trọng lẫn nhau

Hiểu rằng phải luôn bảo vệ gia đình trước những khó khăn, thử thách

 Mức độ vận dụng

Trang 32

Sau khi nhận biết, hiểu được hạnh phúc gia đình là gì thì sinh viên sẽ có những hành vi như thế nào để cùng mọi người xây dựng hạnh phúc gia đình cho bản thân mình Áp dụng những điều mình biết và hiểu để tạo ra bầu không khí tích cực cho gia đình

Trong những tình huống cụ thể, thường xuyên xảy ra trong gia đình đòi hỏi các thành viên cần có những cư xử khéo léo để không làm rạn nứt các mối quan hệ trong gia đình Để cư xử được một cách khéo léo như vậy đòi hỏi bản thân mỗi người, mỗi thành viên phải hiểu được đặc điểm tính cách cũng như dự đoán trước được mọi tình huống có thể xảy ra nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những những vấn đề của gia đình

1.4.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên

* Yếu tố chủ quan

 Hoàn thiện đặc điểm thể chất

Khối lượng não đã đạt đến mức tối đa, số lượng neuron thần kinh cũng lên tới mức độ cao nhất với chất lượng hoàn hảo Số lượng xinap của các tế bào thần kinh đảm bảo cho sự liên lạc rộng khắp, chi tiết, tinh tế và linh hoạt giữa vô số kênh làm cho hoạt động của não bộ trở nên nhanh nhạy, chính xác hơn so với các lứa tuổi khác Đây là giai đoạn ổn định, phát triển ổn định và đồng đều của hệ xương, cơ bắp, tạo ra nét hoàn mỹ của người sinh viên Các tố chất về thể lực như sức mạnh, sức bền,

sự linh hoạt đều phát triển mạnh nhờ các sự phát triển ổn định của các tuyến nội tiết tố cũng như sự tăng trưởng của các hooc – môn nam và nữ Tất các các yếu tố đó tạo điều kiện cho những thành công rực rỡ của thể thao và những hoạt động nghệ thuật

 Sự thay đổi về hoàn cảnh sống

Sinh viên đa số là những bạn sống xa gia đình, mỗi năm ít có dịp được về quê chỉ khi có dịp lễ tết hoặc nghỉ hè Đây cũng chỉ là cơ hội để các bạn thể hiện bản lĩnh của mình bằng cách tự lập Tuy nhiên, cũng gặp không ít khó khăn, thử thách, thiếu thốn tình cảm gia đình, khi buồn chán, thất vọng, ốm đau thì càng tủi thân hơn Không có

bố mẹ ở bên, gánh nặng về tiền sinh hoạt, tiền học phí sẽ khiến cho sinh viên nhiều khi cảm thấy mình bất lực, một nhóm sinh viên hiểu được hoàn cảnh gia đình nên tự kiếm thêm thu nhập trang trải cuộc sống, một nhóm khác quay sang trách móc gia đình mình

Khi rời xa vòng tay gia đình, sinh viên càng thấy trân trọng hơn những giây phút

ở bên gia đình mình và tận dụng mọi dịp để ở bên gia đình mình Cố gắng tạo không khí vui vẻ, hạnh phúc trong gia đình mình

 Trách nhiệm của sinh viên đối với gia đình

Là sinh viên, trên 18 tuổi đã có quyền công dân, các bạn ý thức hơn về trách nhiệm của mình đối với bản thân, gia đình và xã hội Sinh viên không chỉ quan tâm

Trang 33

đến vẻ đẹp hình thức mà còn đi sâu vào nhận thức những phẩm chất, giá trị của nhân cách

Cái tôi lớn các bạn đòi hỏi được tôn trọng, góp ý kiến của mình trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình Khi một vấn đề xảy ra trong gia đình, các bạn khao khát được góp phần giải quyết vấn đề đó tạo không khí vui vẻ trong gia đình mình

Chưa ra trường nhưng sinh viên nhận thức rằng mình phải học tập thật tốt để sau này đỡ đần được một phần kinh tế cho gia đình Luôn lắng nghe chia sẻ của mọi người

và hơn hết luôn đưa ra cách giải quyết của bản thân

*Yếu tố khách quan

 Yếu tố gia đình

Trong mỗi gia đình, vai trò của cha mẹ có vị trí tối quan trọng Theo truyền thống Việt Nam, người đàn ông là chủ gia đình, là biểu hiện của nhân cách cao đẹp nhất để con cái có thể học theo Còn mẹ là chổ dựa tính thần, là hạt nhân tâm lý chủ đạo, nguồn lữa sưởi ấm yêu thương trong gia đình, nguồn tình cảm

vô tâm cho các con

 Yếu tố giáo dục

Giáo dục giữ một vai trò quan trọng, mà theo quan điểm của tâm lý học và giáo dục học hiện đại, giaos dục giữ vai trò chủ đạo trong việc hình thành nhân cách Những tác động của giáo dục bắt đầu khi con người có ý thức và tự có ý thức Ngay từ nhỏ, chúng ta đã được cha mẹ và các thầy cô dạy rằng phải biết lễ phép với ông bà, cha mẹ, phải biết kính trên nhường dưới, phải ngoan ngoãn, lễ phép, chào hỏi và biết yêu thương, đoàn kết, giúp đỡ bạn bè và những người xung quanh Đó chính là những tác động của giáo dục trong việc hình thành, phát triển nhân cách cũng như những nhận thức về hạnh phúc gia đình Giáo dục bước đầu định hình và xây dựng những giáo trị, chỉ những hành động, những lối ứng xử từ đó dần dàn tạo nên nhận thức của con người

 Yếu tố xã hội

Ngày nay, xã hội công nghiệp hóa – hiện đại hóa của nước ta đang phát triển nước ta sẽ bị du nhập những tư tưởng và nền văn hóa của các nước mà chúng ta hợp tác và giao lưu Ngày nay, hạnh phúc gia đình không còn được mọi người coi trọng các giá trị như trước

Trang 34

và tinh thần, tình cảm, vừa đáp ứng nhu cầu riêng tư của cá nhân, vừa thỏa mãn nhu cầu xã hội về tái sản xuất con người và duy trì nòi giống

Gia đình thực hiện nhiều chức năng của mình, việc thực hiện tốt các chức năng này sẽ đảm bảo sự bền vững của hạnh phúc gia đình

Hạnh phúc gia đình là hạnh phúc của toàn bộ các thành viên trong gia đình Một gia đình hạnh phúc là mọi thành viên sống hòa thuận, vui vẻ, êm ấm, yêu thương và có trách nhiệm với nhau hết mực, từ đó chăm sóc cho nhau, tôn trọng nhau và khi cần thiết biết hi sinh cho nhau nhường nhịn nhau tạo ra bầu không khí gia đình vui vẻ, kính trên nhường dưới, vợ chồng chung thủy với nhau, con cái ngoan ngoãn, vâng lời cha

mẹ Đồng thời gia đình đó phải có thu nhập ổn định đảm bảo sự tồn tại và phát triển của các thành viên trong gia đình

Nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên là khả năng nhận biết của sinh viên về vai trò, các yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình để từ đó có những việc làm nhằm xây dựng hạnh phúc cho bản thân và cho các thành viên trong gia đình

Trang 35

Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu

Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng (tiếng Anh: The University of Da

Nang - University of Science and Education) là trường thành viên thuộc Đại học Đà

Nẵng, chuyên đào tạo các chuyên ngành sư phạm và cử nhân khoa học, được xếp vào nhóm các trường Đại học Sư phạm trọng điểm quốc gia Việt Nam Trường đồng thời

là trung tâm nghiên cứu khoa học giáo dục và triển khai công nghệ phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh, thành phố miền Trung và Tây Nguyên

Tháng 12 năm 1975, để xây dựng một nền giáo dục mới trên địa bàn Quảng Nam

- Đà Nẵng, UBND tỉnh đã quyết định thành lập Trường Trung học Sư phạm Quảng Nam Đà Nẵng

Ngày 03 tháng 11 năm 1976, Cơ sở Cao đẳng Sư phạm Quảng Nam - Đà Nẵng trực thuộc trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn được thành lập

Ngày 27 tháng 2 năm 1978, Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Nam - Đà Nẵng tách khỏi Đại học Sư phạm Quy Nhơn trở thành đơn vị độc lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo

Tháng 09 năm 1990, Trường Trung học Sư phạm Quảng Nam - Đà Nẵng (lúc này đã bao gồm Trường Sư phạm Mẫu giáo Quảng Nam Đà Nẵng sáp nhập vào tháng

08 năm 1985, Trường Nuôi dạy trẻ Quảng Nam Đà Nẵng sáp nhập tháng 10 năm 1987

và Trường Bồi dưỡng cán bộ quản lý và Nghiệp vụ giáo dục Quảng Nam Đà Nẵng sáp nhập tháng 07 năm 1988) được UBND tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng ra quyết định sáp nhập vào Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Nam Đà Nẵng

Ngày 04 tháng 04 năm 1994, Trường Đại học Sư phạm trực thuộc Đại học Đà Nẵng được thành lập theo Nghị định 32/CP của Chính phủ trên cơ sở tổ chức và sắp xếp lại các đơn vị: Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Nam - Đà Nẵng, cơ sở Đại học

Sư phạm Ngoại ngữ Đà Nẵng, bộ môn cơ bản của trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng,

bộ môn văn hóa của Trường Công nhân kỹ thuật Nguyễn Văn Trỗi

Cơ sở vật chất của trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng hiện đại, phụ vụ cho công tác giảng dạy và học tập của sinh viên hiện nay Bao gồm một hệ thống các giảng đường, phòng học với hàng trăm phòng khác nhau với tổng diện tích 10.000 m²,

6 phòng multimedia với 300 máy vi tính (laptop) nối mạng, 1 phòng máy chủ, 3 phòng sản xuất giáo trình điện tử Hệ thống 39 phòng thí nghiệm Lý, Hoá, Sinh, Địa phòng thực hành Âm nhạc với nhiều thiết bị hiện đại Hội trường lớn có sức chứa trên 600 chỗ Thư viện tổng hợp với hàng vạn bản sách Tất cả các phòng, khoa, đơn vị trực thuộc đều được kết nối mạng cáp quang nội bộ Đại học Đà Nẵng và trong khuôn viên nhà trường có thể kết nối mạng Internet không dây

Trang 36

Hiện trường có quan hệ hợp tác đào tạo với nhiều trường Đại học, viện nghiên cứu khác trong nước Ngoài ra, trường còn liên kết với các trung tâm giáo dục thường xuyên và các trường cao đẳng trong cả nước, bồi dưỡng, nâng chuẩn giáo viên các cấp

từ mầm non đến trung học phổ thông, đào tạo các ngành cử nhân khoa học, trung cấp tin học (trong danh mục hệ chính quy của trường) Đào tạo và cấp chứng chỉ nghiệp

vụ sư phạm cho sinh viên tốt nghiệp cử nhân khoa học có nguyện vọng làm giáo viên

và chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm bậc 1, bậc 2 cho giáo viên các trường trung học chuyên nghiệp

Trong khuôn khổ hợp tác quốc tế của Đại Học Đà Nẵng, trường có quan hệ hợp tác với các trường Đại học, viện nghiên cứu thuộc các nước Đông Âu, Nga và các nước SNG, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Canada, Úc, Ấn Độ và các nước thuộc khối ASEAN Qua 4 năm thực hiện liên kết đào tạo quốc tế, nhà trường đã tiếp nhận đào tạo cho trên

500 lưu học sinh thuộc các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, CHDCND Lào Hiện tại, đang có trên 150 lưu học sinh nhiều nước đang theo học tiếng Việt và các chuyên ngành tại trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng

Qua hơn 40 năm xây dựng, phát triển và gần 25 năm hội nhập Đại học Đà Nẵng, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã đào tạo được hàng trăm thạc sĩ và tiến sĩ, hơn 15.000 cử nhân sư phạm và cử nhân khoa học, hơn 14.000 cử nhân cao đẳng sư phạm, 17.500 trung cấp sư phạm tiểu học và mầm non Chuẩn hoá gần 18.000 giáo viên các cấp, đào tạo gần 5.000 cán bộ quản lý giáo dục

Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã được Chủ tịch Nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba (1985), Huân chương Lao động hạng Nhì (2002), Huân chương Lao động hạng Nhất (2015) cùng nhiều Cờ, Bằng khen khác của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục & Đào tạo và Uỷ ban Nhân dân Thành phố Đà Nẵng

Trường là cơ sở giáo dục Đại học đầu tiên của Việt Nam được kiểm định và công nhận đạt chất lượng bởi một tổ chức kiểm định độc lập

2.2 Tổ chức nghiên cứu

Việc tổ chức nghiên cứu thực trạng nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên tại trường đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng được chia thành 3 giai đoạn chính Giai đoạn 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận;

Giai đoạn 2: Nghiên cứu thực tiễn;

2.2.1 Giai đoạn 1: Nghiên cứu lý luận

2.2.1.1 Mục đích

- Mục đích của giai đoạn này là xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp luận cho toàn bộ quá trình nghiên cứu bao gồm:

Trang 37

+ Tổng quan những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về các vấn đề gia đình, hạnh phúc gia đình, nhận thức về hạnh phúc gia đình;

+ Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản có liên quan đến nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên;

+ Xây dựng khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu, trên cơ sở đó xác lập quan điểm chỉ đạo trong nghiên cứu thực tiễn về nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên

- Thời gian thực hiện: từ ngày 10/2/2019 đến ngày 30/3/2019

2.2.2 Giai đoạn 2: Nghiên cứu thực trạng

2.2.2.1 Mục đích

Khảo sát thực trạng nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng gồm các mức độ là hiểu, biết, vận dụng

2.2.2.2 Nhiệm vụ

- Xây dựng công cụ nghiên cứu bao gồm: bảng hỏi, dàn ý phỏng vấn sâu

- Điều tra thử và phân tích độ tin cậy của thang đo;

- Điều tra thực trạng nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên Trường Đại học Sư phạm – Đại Học Đà Nẵng;

- Phân tích kết quả điều tra thực trạng nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên Trường Đại học Sư phạm – Đại Học Đà Nẵng

- Đề xuất biện pháp giúp sinh viên có nhận thức đầy đủ về hạnh phúc gia đình

2.2.2.3 Quy trình nghiên cứu thực tiễn

Giai đoạn nghiên cứu thực tiễn được tiến hành theo trình tự sau: xây dựng công

cụ nghiên cứu, điều tra thử, điều tra thực tiễn, xử lí kết quả

 Xây dựng công cụ nghiên cứu

Trang 38

Việc xây dựng công cụ nghiên cứu nhằm xác lập bộ công cụ phục vụ thu thập dữ liệu thực tiễn Quá trình này được tiến hành như sau:

- Tìm hiểu, tổng hợp cơ sở lý luận là đề cương cho việc xây dựng bảng hỏi

+ Mục đích: nghiên cứu tìm ra cái chuẩn nhất của khái niệm, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng của hạnh phúc gia đình;

+ Khách thể nghiên cứu: các tài liệu, luận văn có liên quan;

+ Nội dung nghiên cứu: khái niệm, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình;

+ Tiến hành: Đọc tất cả tài liệu liên quan đến hạnh phúc gia đình sau đó sàng lọc,

so sánh để lựa chọn ra những biểu hiện có tình khái quát nhất;

- Thiết kế bảng hỏi để khảo sát thực trạng nhận thức về hạnh phúc gia đình của sinh viên

+ Mục đích: Hình thành bảng khảo sát về mức độ biết hiểu vận dụng của sinh viên về hạnh phúc gia đình Khảo sát vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình của sinh viên

+ Nội dung nghiên cứu: khảo sát mức độ biết, hiểu, vận dụng của sinh viên về hạnh phúc gia đình

+ Tiến hành xây dựng bảng hỏi và phiếu phỏng vấn sâu: xây dựng bảng hỏi gồm các item để đo mức độ biết, hiểu và vận dụng của sinh viên

 Giai đoạn điều tra thử

- Mục đích: Xác định độ tin cậy của bảng quan sát, bảng hỏi, tiến hành sửa chữa

những câu hỏi không đạt yêu cầu;

- Khách thể nghiên cứu: gồm 30 bạn sinh viên năm nhất của lớp sư phạm toán

và với độ tin cậy đủ điều kiện để sử dụng bảng hỏi;

- Nội dung nghiên cứu: Khảo sát thử bằng bảng hỏi, tính độ tin cậy, độ giá trị

của các công cụ điều tra;

- Xử lý số liệu: Số liệu thu được sau điều tra được xử lý bằng chương trình

SPSS phiên bản 20.0

* Bảng hỏi dành cho sinh viên

Bảng hỏi dành cho sinh viên gồm 2 phần, nhằm tìm hiểu thực trạng biểu hiện

nhận thức của sinh viên về hạnh phúc gia đình Kết quả phân tích độ tin cậy của cả

Trang 39

thang đo với hệ số Alpha = 0.64 (xem phụ lục 3) Kết quả này cho phép chúng tôi sử dụng bảng hỏi trong điều tra chính thức

 Giai đoạn điều tra chính thức

- Mục đích: Khảo sát thực trạng nhận thức của sinh viên về hạnh phúc gia đình

được thể hiện qua từng mức độ biết, hiểu và vận dụng; Tìm hiểu vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình theo quan điểm của sinh viên

+ Đối với sinh viên tiến hành điều tra bằng bảng hỏi Mỗi sinh viên trả lời một

phiếu hỏi về nhận thức hạnh phúc gia đình Các điều tra viên cũng được lưu ý tránh đưa

ra những câu hỏi gợi ý hoặc những câu hỏi có thể gây ra phản ứng tiêu cực ở khách thể

 Xử lý kết quả

- Mục đích: Xử lý số liệu thu được từ bảng hỏi Phân tích các kết quả xử lý để

nhận biết được toàn bộ thực trạng nhận thức của sinh về hạnh phúc gia đình của sinh viên

- Nội dung: Thực trạng nhận thức hạnh phúc gia đình của sinh viên

- Tiến hành: Nhập và xử lý số liệu trên phần mềm SPSS 22

*Phiếu phỏng vấn sinh viên

Mục đích: Phiếu phỏng vấn sinh viên gồm 3 câu hỏi nhằm đi sâu vào tìm hiểu

nhận thức của sinh viên về hạnh phúc gia đình

Khách thể phỏng vấn:

Gồm 10 sinh viên đến từ các lớp 18ST, 17CNTT, 17CNTUD và 15CTL Cụ thể: 2 sinh viên lớp 18ST, 2 sinh viên lớp 17 CNTT, 2 sinh viên lớp 17CTUD và 4 sinh viên lớp 15CTL

Cách tiến hành:

Ngày đăng: 08/05/2021, 14:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Dale Carnege (2008) – Tâm lý vợ chồng – Thư viện tổng hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý vợ chồng
3. Stephen R. Covey (2015) – 7 thói quen tạo gia đình hạnh phúc – NXB tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: 7 thói quen tạo gia đình hạnh phúc
Nhà XB: NXB tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
4. Vũ Hiến Dân, Ngân Hà (2010) – Văn hóa tâm lý gia đình – Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm lý gia đình
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội
5. GS.TS. Trần Thị Minh Đức (2016), Các thực nghiệm trong tâm lý học xã hội. Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thực nghiệm trong tâm lý học xã hội
Tác giả: GS.TS. Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
6. Dương Tự Đam (2007) Gia đình trẻ và việc thực thi nhân cách thanh niên – NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình trẻ và việc thực thi nhân cách thanh niên
Nhà XB: NXB Thanh niên
7. TS Johan Goethe (2004) – Bức tranh và gia đình. NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức tranh và gia đình
Nhà XB: NXB giáo dục
8. Ngô Công Hoàn (1993) – Tâm lý học gia đình. NXB Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học gia đình
Nhà XB: NXB Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
11. Đăng Khoa - Thúy Uyên (2011) Từ điển tiếng việt thông dụng. NXB thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng việt thông dụng
Nhà XB: NXB thanh niên
12. David Niven (2013), Bí quyết để có gia đình hạnh phúc. Sách khai tâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bí quyết để có gia đình hạnh phúc
Tác giả: David Niven
Năm: 2013
13. Trần Đình Tuấn (2018), Tham vấn tâm lý học cá nhân và gia đình. NXB quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham vấn tâm lý học cá nhân và gia đình
Tác giả: Trần Đình Tuấn
Nhà XB: NXB quốc gia Hà Nội
Năm: 2018
14. Nguyễn Văn Trường, Theo tâm lý học nhận thức. Trung tâm viện nghiên cứu trẻ em Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo tâm lý học nhận thức
15. Nguyễn Quan Uẩn (chủ biên) – Trần Hữu Luyến – Trần Quốc Thành (2009), Tâm lý học đại cương, NXB đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quan Uẩn (chủ biên) – Trần Hữu Luyến – Trần Quốc Thành
Nhà XB: NXB đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
16. Nguyễn Đình Xuân (1997). Tâm lý học tình yêu và gia đình. NXB Giáo dục. TÀI LIỆU INTERNET Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học tình yêu và gia đình
Tác giả: Nguyễn Đình Xuân
Nhà XB: NXB Giáo dục. TÀI LIỆU INTERNET
Năm: 1997
10. H. Neisser Tâm lý học nhân thức in trên tạp chí tâm lý học nhận thức Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w