1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu mô hình dạy học lớp học đảo ngược chương 5 lớp 9 nhằm nâng cao năng lực cho học sinh THCS

114 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 2,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Mô hình đổi mới PPDH lấy người học làm trung tâm 22 Hình 1.3 Lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược 25 Hình 1.6 Sơ đồ các chức năng của giáo viên trong dạy học

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA HÓA HỌC

-

VÕ THỊ NA

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH DẠY HỌC LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC

CHƯƠNG 5 LỚP 9 NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC

CHO HỌC SINH THCS

Khóa luận tốt nghiệp

Đà Nẵng, tháng 1 năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA HÓA HỌC

-

VÕ THỊ NA

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH DẠY HỌC LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC

CHƯƠNG 5 LỚP 9 NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC

CHO HỌC SINH THCS Chuyên ngành: Sư phạm Hóa học

Khóa luận tốt nghiệp NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Ngô Minh Đức

Đà Nẵng, tháng 1 năm 2019

Trang 3

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐHSP Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

KHOA HÓA NHIỆM VỤ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Họ và tên sinh viên: Võ Thị Na

Lớp : 15SHH

1 Tên đề tài: “Nghiên cứu mô hình dạy học lớp học đảo ngược chương 5 lớp

9 nhằm nâng cao năng lực cho học sinh THCS”

2 Nội dung nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về phương pháp dạy học đảo ngược

- Sử dụng phần mềm Ispring Suite thiết kế bài giảng E-Learning cho chương 5 sách giáo khoa lớp 9

3 Giáo viên hướng dẫn: TS Ngô Minh Đức

4 Ngày giao đề tài: 01/06/2018

5 Ngày hoàn thành: 09/01/2019

Chủ nhiệm Khoa Giáo viên hướng dẫn (Kí và ghi rõ họ, tên) (Kí và ghi rõ họ, tên)

Sinh viên đã hoàn thành và nộp báo cáo cho Khoa ngày 09 tháng 01 năm 2019 Kết quả điểm đánh giá …………

Ngày….tháng….năm 2019 CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG (Ký và ghi rõ họ, tên)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài khóa luận này, em đã nhận được nhiều sự hỗ trợ và giúp đỡ của ngượi khác Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy TS Ngô Minh Đức, người đã tận tình truyền đạt những kiến thức và trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo những kinh nghiệm quý báu để hoàn thành tốt bài khóa luận này

Tiếp theo, không ai hơn là thầy ThS Phan Văn An và cô ThS Nguyễn Thị Lan Anh cùng các thầy cô khác trong khoa Hóa, đã nhiệt tình giúp đỡ, tận tụy trong việc truyền kiến thức cho em mấy năm ngồi trên ghế nhà trường

Sau cùng em xin gửi lời chân thành đến các thành viên trong lớp 15SHH đã không ngần ngại giúp đỡ em trong việc tìm tài liệu, trả lời những khúc mắc để em có thể hoàn thành tôt khóa luận tốt nghiệp của mình

Trong quá trình làm khóa luận, em đã có thời gian ôn lại kiến thức cũ, nắm vững hơn những năm còn ngồi trên ghế cấp 3, đồng thời tạo điều kiện để em tổng hợp, củng

cố kiến thức và đúc kết lại các kinh nghiệm mà em có thể vận dụng sau khi tốt nghiệp Trong quá trình làm khóa luận, do trình độ cũng như kinh nghiệm còn hạn chế, nên không tránh khỏi sai sót Mong thầy cô sẽ có sự góp ý tận tình để giúp em có thêm kinh nghiệm cũng như trang bị cho nghề giáo sau này

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Khách thể nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết 3

6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4

6.3 Phương pháp xử lý thông tin 4

7 Đóng góp của đề tài 4

7.1 Về nghiên cứu lý luận 4

7.2 Về nghiên cứu ứng dụng 4

8 Giả thuyết khoa học 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5

1.1.1 Các vấn đề nghiên cứu 5

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về DH hướng tới bồi dưỡng NLTH 6

1.1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 6

1.1.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 7

1.2 Năng lực tự học 8

1.2.1 Khái niệm năng lực tự học 8

1.2.2 Bồi dưỡng năng lực tự học 9

1.3 Cơ sở lý luận về phương pháp dạy học 9

1.3.1 Phương pháp dạy học 9

1.3.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học 10

1.3.1.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học 10

Trang 6

1.3.2 Đổi mới phương pháp dạy học 10

1.3.2.1 Tầm quan trọng của đổi mới phương pháp dạy học 10

1.3.2.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học 11

1.3.2.3 Phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực 12

1.3.2.4.Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực 15 1.3.3 Đổi mới phương pháp với sự hỗ trợ của CNTT 20

1.4 Cơ sở lí luận về phương pháp dạy học đảo ngược 22

1.4.1 Khái niệm mô hình lớp học đảo ngược 23

1.4.2 Cơ sở khoa học của PPDH đảo ngược 24

1.4.3 Lợi điểm khi áp dụng mô hình dạy và học đảo ngược 25

1.4.4 Mô hình lớp học đảo ngược với việc bồi dưỡng năng lực tự học cho HS 27

1.4.4.1 Hình thành thói quen tự lực nghiên cứu tài liệu trước khi tới lớp 27

1.4.4.2 Hình thành thói quen đặt câu hỏi 27

1.4.4.3 Tạo nhu cầu trao đổi, tương tác với bạn, với thầy 27

1.4.4.4 Hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ 28

1.4.4.5 Hình thành thói quen vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề 29

1.4.4.6 Hình thành các kĩ năng khai thác, sử dụng các phương tiện CNTT và truyền thông hiện đại hiệu quả 30

1.5 Cơ sở lý luận về bài giảng E-Learning 30

1.5.1 Khái niệm về bài giảng E-Learning 30

1.5.2 Đặc điểm của E-Learning 31

1.5.3 Tầm quan trọng của E-Learning 32

1.5.3.1 Lợi ích E-Learning 32

1.5.3.2 Hạn chế của E-Learning 32

1.5.4 Cấu trúc của bài giảng E-Learning 33

1.5.5 So sánh giữa các phương pháp học tập truyền thống với phương pháp E- Learning 35

1.5.5.1 Các phương pháp học tập truyền thống 35

1.5.5.2 Phương pháp E-Learning 35

1.5.6 Các kiểu bài giảng khi dạy môn hóa học ở trường THCS 35

1.5.6.1 Bài giảng truyền thụ kiến thức mới 35

1.5.6.2 Bài luyện tập 36

Trang 7

1.5.6.3 Bài ôn tập 36

1.5.6.4 Bài thực hành 36

1.5.6.5 Bài kiểm tra 36

1.5.7 Các kiểu bài giảng của nhóm etilen 36

1.6 Các nghiên cứu xây dựng và sử dụng hệ thống E-Learning trong mô hình lớp học đảo ngược 37

1.6.1 Các nghiên cứu trên thế giới 37

1.6.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 39

CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG PHẦN MỀM ISPRING SUITE THIẾT KẾ BÀI LÊN LỚP CHƯƠNG 5 SÁCH GIÁO KHOA HÓA HỌC 9 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH 42

2.1 Vị trí nội dung và PPDH chương 5 giáo khoa hóa học 9 42

2.1.1 Vị trí và kế hoạch giảng dạy 42

2.1.1.1 Vị trí 42

2.1.1.2 Kế hoạch giảng dạy 42

2.1.2 Chuẩn kiến thức kĩ năng 43

2.1.2.1 Bài 44: Rượu etylic 43

2.1.2.2 Bài 45: Axit axetic 44

2.1.2.3 Bài 46: Mối liên hệ giữa etilen, rượu etylic và axit axetic 45

2.1.3 Nội dung cơ bản 46

2.1.3.1 Rượu etylic 46

2.1.3.2 Bài 45: Axit axetic 47

2.1.3.3 Bài 46: Mối liên hệ giữa etilen, rượu etylic và axit axetic 48

2.1.4 Nguyên tắc dạy học của chương 48

2.1.5 Phương pháp dạy học 49

2.2 Nguyên tắc lựa chọn và thiết kế bài giảng bằng phần mềm Ispring Suite 50

2.2.1 Nguyên tắc lựa chọn bài 50

2.2.2 Nguyên tắc thiết kế bài giảng điện tử (6 nguyên tắc) 50

2.3 Qui trình thiết kế bài giảng điện tử 51

2.3.1 Xác định mục tiêu bài học và năng lực cần hướng tới 51

2.3.2 Xác định trọng tâm và kiến thức cơ bản 51

2.3.3 Multimedia hóa kiến thức 52

Trang 8

2.3.4 Xây dựng thư viện tư liệu 52

2.3.5 Xây dựng và số hóa kịch bản 52

2.3.6 Chạy thử chương trình, sửa chữa và đóng gói 53

2.3.7 Lưu bài giảng 53

2.4 Hệ thống bài giảng E-Learning thiết kế với phần mềm Ispring Suite 53

2.5 Sử dụng câu hỏi trong hệ thống bài tập tương tác 53

2.5.1 Bài 44: Rượu etylic 53

2.5.1.1 Biết 53

2.5.1.2 Thông hiểu 54

2.5.1.3 Vận dụng bậc thấp 55

2.5.1.4 Vận dụng bậc cao 57

2.5.2 Bài 45: Axit axetic 59

2.5.2.1 Biết 59

2.5.2.2 Thông hiểu 60

2.5.2.3 Vận dụng bấc thấp 61

2.5.2.4 Vận dụng bậc cao 63

2.5.3 Bài 46: Mối liên hệ giữa etilen, rượu etylic và axit axetic 65

2.5.3.1 Biết 65

2.5.3.2 Thông hiều 66

2.5.3.3 Vận dụng bậc thấp 67

2.5.3.4 Vận dụng bậc cao 68

CHƯƠNG 3: SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ E- LEARNING HỔ TRỢ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC THEO MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC 71

3.1 Tiến trình chung cho bài học trên lớp theo mô hình lớp học đảo ngược 71

3.2 Chuẩn bị 73

3.2.1 Giáo viên 73

3.2.2 Học sinh 73

3.3 Minh họa giáo án bài học trên lớp trong mô hình lớp học đảo ngược 73

3.3.1 Bài 44: Rượu etylic 74

3.3.2 Bài 45: Axit axetic 79

3.3.3 Bài 46: Mối liên hệ giữa etilen, rượu etylic và axit axetic 85

Trang 9

3.4 Một số hình ảnh minh họa bài giảng điện tử E-Learning 92

3.4.1 Bài 44: Rượu etylic 92

3.4.2 Bài 45: Axit axetic 94

3.4.3 Bài 46: Mối liên hệ giữa etilen, rượu etylic và axit axetic 97

KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Đổi mới phương pháp dạy và học bằng CNTT 21

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Mô hình đổi mới PPDH lấy người học làm trung tâm 22

Hình 1.3 Lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược 25

Hình 1.6 Sơ đồ các chức năng của giáo viên trong dạy học truyền thống 36 Hình 1.7 Sơ đồ các chức năng của phương pháp E-Learning 36 Hình 3.1 Tiến trình bài học trên lớp theo mô hình lớp học đảo ngược 72

Hình 3.12 Trang bìa bài mối liên hệ giữa etilen, rượu etylic và axit axetic 97 Hình 3.13 Kiểm tra bài cũ mối liên hệ giữa etilen, rượu etylic và axit axetic 97 Hình 3.14 Mối liên hệ giữa etilen, rượu etylic và axit axetic 98 Hình 3.15 Câu hỏi về mối liên hệ giữa etilen, rượu etylic và axit axetic 98 Hình 3.16 Sơ đồ mối liên hệ giữa etilen, rượu etylic và axit axetic 99

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh thời đại công nghệ thông tin phát triển nhanh đến chóng mặt, thì

nó đã tạo nên nhiều thay đổi lớn trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của nước ta

Từ đó đã tạo ra nhiều điều kiện vô cùng thuận lợi trong quá trình học tập của học sinh nhưng cũng đem lại thách thức đối với sự giảng dạy của người giáo viên Điều này đỏi hỏi cần có sự thay đổi về phương pháp trong công tác giảng dạy của người giáo viên

và học tập đối với học sinh Người giáo viên lúc này không chỉ có nhiệm vụ truyền đạt kiến thức mà còn phải là người hướng dẫn cho học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu để bắt kịp sự phát triển của xã hội

Hiện nay, để nâng cao chất lượng dạy học ngành giáo dục đang ráo riết thực hiện nội dung đổi mới giáo dục, với phương pháp chuyển từ tiếp cận nội dung (học sinh học được gì) sang tiếp cận năng lực của người học (học sinh làm được gì thông qua việc học), lấy học sinh làm trung tâm và người thầy, cô giáo giữ vị thí quan trọng trong triển khai phương pháp đổi mới đó Điều này đã được Bộ giáo dục và Đào tạo xác định cụ thể trong định hướng phát triển Giáo dục và Đào tạo đến năm 2020: “Cần tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về phương pháp giáo dục, tiếp tục đổi mới chương trình, đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều; phát huy PPDH tích cực, sáng tạo, hợp tác, giảm thời gian giảng dạy lý thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh”

Để đạt được mục tiêu dạy học, thì việc đổi mới PPDH của các môn nói chung

và môn Hóa học nói riêng theo mô hình lớp học đảo ngược giúp học sinh đạt được các phẩm chất năng lực cần thiết Điều này đã được khẳng định trong dự thảo chương trình giáo dục tổng thể mới nhất hiện nay

Muốn vậy, phải có những cách thức và phương pháp dạy học thích hợp để truyền đạt cho học sinh những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, một cách đầy đủ và chính xác, phù hợp với mục tiêu bài dạy

Ở nước ta, trong những năm gần đây, E-Learning thu hút sự quan tâm của các tổ chức giáo dục, các đơn vị nghiên cứu triển khai CNTT, đặc biệt là sự quan tâm của các trường Đại học và Cao đẳng Việc triển khai dạy học E-Learning ở Việt Nam rất cần thiết Hiện nay phương pháp này dùng để thiết kế các bài giảng điện tử áp dụng trong

Trang 14

phổ thông cũng được biết đến E-Learning như một phương thức dạy học mới, bổ sung

và hỗ trợ cho các phương thức đào tạo truyền thống, tạo thêm cơ hội được học cho đông đảo tầng lớp dân chúng, đặc biệt góp phần hiện đại hóa và nâng cao chất lượng dạy học Bởi đây là một PPDH bằng việc minh họa bài giảng bằng các hình ảnh, video, các hiệu ứng sinh động làm cho học sinh tiếp thu bài giảng một cách dễ dàng Học sinh sẽ chủ động hơn trong quá trình lĩnh hội kiến thức của mình, vai trò của GV sẽ

bị ẩn đi, vô hình chung người học sẽ trở thành trung tâm

Tuy nhiên trong thực tiễn dạy học hiện nay ở các nhà trường, bộ môn hóa học còn nhiều hạn chế: giáo viên ngại đổi mới về phương pháp, vận dụng theo phương pháp dạy học truyền thống, lấy người thầy làm trung tâm, cung cấp kiến thức, kỹ năng đến học sinh theo cách áp đặt, một chiều, dẫn đến không hình thành được các năng lực cần thiết cho người học

Trước những ý nghĩa và sự cần thiết của yêu cầu đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng thiết kế bài giảng, cũng như mở rộng thêm khả năng ứng dụng CNTT vào dạy học hóa học ở trường THCS hiện nay, là một sinh viên trường Đại Học Sư Phạm – Đại Học Đà Nẵng, được lĩnh hội những kiến thức chuyên sâu, bổ ích từ thầy cô giáo và sự

hỗ trợ của CNTT, nay cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa hóa học, đặc biệt là thầy Ngô Minh Đức, em đã lựa chọn vấn đề “Nghiên cứu mô hình dạy học lớp học đảo ngược chương 5 lớp 9 nhằm nâng cao năng lực cho học sinh THCS” làm

đề tài nghiên cứu của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược vào dạy học chương 5 nhằm phát triển năng lực hợp tác, tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

Nghiên cứu việc sử dụng công nghệ thông tin nói chung và việc sử dụng phần mềm Ispring Suite để thiết kế bài giảng điện tử cho bộ môn hóa học, qua đó:

- Giúp cho HS bước đầu tiếp cận với giáo án E-Learning, tiếp cận với cách dạy

Trang 15

Xây dựng một số bài giảng có sử dụng Ispring Suite trong dạy học chương 5 SGK lớp 9

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Lý thuyết về mô hình lớp học đảo ngược

- Việc sử dụng phần mềm Ispring Suite trong dạy và học chương 5 SGK lớp 9

3.2 Khách thể nghiên cứu

- Là quá trình dạy và học chương 5 SGK lớp 9

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, đề tài cần giải quyết các vấn đề nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu tổng quan vấn đề

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài:

+ Cơ sở lý luận về phương pháp dạy học, xu hướng đổi mới cùng với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

+ Nghiên cứu mô hình lớp học đảo ngược, vai trò của mô hình lớp học đảo ngược đối với việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh

+ Cơ sở bài giảng điện tử

- Sử dụng phần mềm Ispring Suite thiết kế hệ thống một số bài lên lớp chương 5 SGK Hóa học lớp 9

5 Phạm vi nghiên cứu

Chương 5 SGK Hóa học lớp 9

6 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phối hợp các nhóm nghiên cứu sau:

6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Thu thập, đọc và phân tích, tổng hợp các tài liệu về lý luận dạy học và các tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài

- Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa, … trong nghiên cứu các tài liệu có liên quan tới việc đổi mới PPDH và kỹ thuật dạy học hiện đại, mô hình lớp học đảo ngược

- Phân tích mục tiêu, cấu trúc nội dung một số bài chương 5 để vận dụng dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược phù hợp và hiệu quả

Trang 16

6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Quan sát hoạt động học tập của học sinh, trao đổi với giáo viên, dự giờ, …

- Điều tra cơ bản thực trạng vận dụng các PPDH tích cực, PPDH theo mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Hóa học ở trường THCS trên địa bàn

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm, đánh giá hiệu quả việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược ở trường THCS trên địa bàn

6.3 Phương pháp xử lý thông tin

Dùng phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục để xử lý phân tích các kết quả thực nghiệm sư phạm

7 Đóng góp của đề tài

7.1 Về nghiên cứu lý luận

- Đề xuất một mô hình bồi dưỡng năng lực tự học trong thế kỉ XXI là mô hình lớp học đảo ngược với phương tiện học tập là E-Learning

- Đề xuất tiến trình chung cho các bài học trên lớp trong mô hình lớp học đảo ngược với sự hỗ trợ của E-Learning nhằm bồi dưỡng năng lực cho học sinh

E-8 Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng lớp học đảo ngược cùng với sử dụng hợp lý một số phương pháp

và kỹ thuật dạy học cũng như kỹ thuật đánh giá và sử dụng phần mềm Ispring Suite thiết kế được hệ thống bài giảng E-Learning với nội dung đầy đủ, chính xác, khoa học, hình thức mới mẻ, hấp dẫn, sinh động vào soạn bài chương 5 thì sẽ phát triển được năng lực hợp tác, tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học Hóa học ở trường THCS

Trang 17

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Các vấn đề nghiên cứu

Để đáp ứng công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển nền

kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, ngành giáo dục nước nhà cần phải đào tạo nên những sản phẩm giáo dục có uy tín và chất lượng, đó là những người lao động có tính sáng tạo, tích cực, chủ động và thích ứng nhanh với sự phát triển phong phú và đa dạng của

xã hội Vì vậy, thế hệ lao động mới ngoài những yêu cầu trước đây còn cần phải có các phẩm chất sau: Chủ động, năng động và sáng tạo trong công việc, dám nghĩ, dám làm Sẵn sàng tiếp nhận thông tin và xử lí thông tin Biết phê phán, tiếp thu, biết tự khẳng định mình Có năng lực tự học, tự tìm hiểu thực tiễn, biết đúc kết và tự rút kinh nghiệm Có khả năng giao tiếp, ứng xử, tham gia các hoạt động xã hội Có khả năng hợp tác, tính kỉ luật cao, hiểu biết pháp luật

Các phương pháp dạy học truyền thống tuy đã khẳng định được những thành công nhất định nhưng vẫn còn nhiều hạn chế Phổ biến nhất là thuyết trình, thiên về truyền thụ kiến thức một chiều, áp đặt không đáp ứng được các yêu cầu đã đưa ra ở trên Bên cạnh đó, kiến thức cần trang bị cho học sinh tăng nhanh do thành tựu các cuộc cách mạng công nghệ, trong khi đó thời lượng dạy học có giới hạn và luôn có sức

ép giảm tải vì nhu cầu của cuộc sống hiện đại Do đó, cần có sự đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy cách học, dạy cách suy nghĩ, dạy phương pháp tư duy theo hướng: Phát huy tính chủ động sáng tạo trong quá trình nhận thức, vận dụng Tạo điều kiện cho học sinh tự lực phát hiện, tìm hiểu, đặt và giải quyết vấn đề Tăng cường trao đổi, đối thoại để tìm ra chân lí Tạo điều kiện hoạt động hợp tác trong nhóm Tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau Tận dụng tri thức thực tế của học sinh để xây dựng kiến thức mới

CNTT ngày nay đang thâm nhập và làm thay đổi căn bản nội dung, công cụ, phương thức và hiệu quả lao động của hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội, trong đó,

có ngành giáo dục Hiện nay, trong giáo dục, việc ứng dụng CNTT đã được áp dụng rộng rãi ở cả người giáo viên và học sinh Đối với người làm công tác giáo dục, việc

Trang 18

ứng dụng CNTT để làm công cụ nghiên cứu, đặc biệt như soạn bài giảng, lưu trữ, tìm kiếm, trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm Việc tăng cường ứng dụng và phát triển CNTT trong GD - ĐT tất yếu dẫn tới việc phải xúc tiến xây dựng nền “Giáo dục điện tử” Cùng với việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa thì việc đổi mới phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng giáo dục là hết sức cần thiết Hiện nay ngoài các phương pháp dạy học truyền thống, việc ứng dụng CNTT trong dạy học sẽ góp phần làm cho giờ học trở nên sinh động, hiệu quả, kích thích được tính tích cực, sáng tạo của học sinh Có CNTT thì hoạt động dạy và học được diễn ra mọi lúc mọi nơi Học sinh vẫn được làm nghe thầy cô giảng, làm bài tập, … bằng việc học tập trực tuyến tại nhà Mô hình học tập này là theo mô hình đảo ngược Một trong những công

cụ cần thiết cho việc dạy và học đó là bài giảng điện tử E-Learning - một công cụ đa phương tiện

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về DH hướng tới bồi dưỡng NLTH

1.1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Trong lịch sử giáo dục, vấn đề bồi dưỡng NLTH cho HS đã được quan tâm từ rất sớm, với tư tưởng giáo dục của Khổng Tử, R.R.Sing ở Phương Đông cổ đại hay Socrate ở Phương Tây Các ông đều đề cao vai trò của cá nhân trong quá trình học tập, người học phải tích cực, chủ động trong quá trình học, tự tìm ra kiến thức cho mình và trách nhiệm của nhà giáo dục là phải khơi gợi những kiến thức tiềm ẩn bên trong mỗi

HS, phải dạy cho HS biết cách tự học

Đến thời kì Phục Hưng ở Châu Âu, J.A Komenxki (1592-1670), ông tổ của nền giáo dục cận đại, đã nêu ra những nguyên tắc, những PPDH nhằm bồi dưỡng NLTH như xây dựng hoài bão, tạo động cơ để người học có động lực vượt qua những khó khăn, trở ngại trong quá trình chiếm lĩnh tri thức,… Cral Roger - nhà tâm lý học người

Mỹ với quan điểm cho người học tự ý thức, an toàn và tự do để lựa chọn cách học và phải có trách nhiệm đầy đủ về quyết định và kết quả học tập của họ Nhiệm vụ của GV

là xây dựng môi trường học tập tin cậy, an toàn trở thành người cùng học, chuẩn bị sẵn sàng các nguồn lực và kỹ thuật học tập Robert Fisher trong tác phẩm Dạy trẻ học

đã đưa ra 10 chiến lược rất hiệu quả trong việc hướng dẫn cách học, đặc biệt là bồi dưỡng NLTH cho HS là: tư duy để học, đặt câu hỏi, lập kế hoạch, lập dàn ý, vẽ sơ đồ nhận thức, thảo luận, tư duy đa hướng, học tập hợp tác, kèm cặp, xây dựng cộng đồng

tự học rất hiệu quả

Trang 19

Ở Liên Xô (cũ), N.A Rubakin trong tác phẩm “Tự học như thế nào”, đã tổng kết những kinh nghiệm cá nhân trong công tác dạy học và bồi dưỡng năng lực tự học Theo ông, việc tự tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học

I.F.Kharlamov trong cuốn “Phát huy tính tích cực của HS như thế nào”; R.Retzke trong cuốn “Học tập hợp lý” đã khẳng định vai trò của TH, bồi dưỡng NLTH, tự nghiên cứu trong việc nâng cao tính tích cực hoạt động trí tuệ của HS khi thông hiểu

và tiếp thu tri thức mới

Từ những năm 30 của thế kỷ XX, nhiều nhà giáo dục châu Á cũng đã quan tâm đến lĩnh vực TH và bồi dưỡng NLTH Nhà sư phạm người Nhật T Makiguchi trong tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” đã cho rằng giáo dục chính là quá trình hướng dẫn TH mà động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt đến hạnh phúc của bản thân và cộng đồng Thời gian này còn có rất nhiều quan điểm

đề cao sự hoạt động tích cực của HS, khuyến khích hình thành và bồi dưỡng NLTH cho HS qua việc chú trọng cá thể hóa, để HS tự do phát triển theo những năng khiếu riêng biệt như O.Decroly, J.Piajet, C.Freinel…

Từ cuối thế kỷ XX đến nay, chủ trương giáo dục toàn cầu, định hướng mục tiêu dạy học lấy HS làm trung tâm, coi trọng TH, tự đào tạo, với quan điểm rằng con người

có thể thích ứng với đòi hỏi của xã hội hiện đại như hiện nay chỉ khi họ học được cách học Học cách học chính là học cách tự học, tự đào tạo

Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của TH, bồi dưỡng NLTH Các tác giả đều khẳng định vai trò to lớn của hoạt động TH cũng như nhiệm vụ của người thầy là phải tổ chức, hướng dẫn, bồi dưỡng cho HS năng lực TH Hoạt động dạy học chính là hoạt động đồng thời của cả thầy và trò, nhằm dạy cho trò biết cách tự học được xem là hoạt động dạy - tự học

1.1.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Từ những năm cuối thế kỉ XIX trở lại đây, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu với mục đích nâng cao chất lượng DH theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS Các tác giả đều thống nhất với quan điểm dạy học phải bao hàm cả dạy TH, bồi dưỡng NLTH, tiêu biểu như Nguyễn Hiến Lê trong tác phẩm “Tự học để thành công”; Lê Khánh Bằng với “Tổ chức quá trình dạy học Đại học”; Đinh Quang Báo với bài viết “Tự học, tự đào tạo tư tưởng chiến lược trong phát triển giáo dục Việt Nam (Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của tự học trong đào tạo ở bậc đại học)”;

Trang 20

Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1997 - 2000 cho giáo viên Trung học cơ sở của Trần Bá Hoành,… Nguyễn Cảnh Toàn và đồng sự cũng có nhiều bài viết về cơ sở khoa học, tính cấp thiết và khả thi của TH và dạy TH, như “Quá trình dạy - tự học”,

“Học và dạy cách học”,…và nhiều nghiên cứu khác xoay quanh nội dung nâng cao hiệu quả đào tạo, các biện pháp bồi dưỡng NLTH, tự nghiên cứu cho HS

Cho đến nay có rất nhiều quan điểm về TH đã được các tác giả trong và ngoài nước đề cập dưới nhiều góc độ và hình thức khác nhau:

- Theo từ điển Giáo dục học, TH là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV và

sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo

- Theo Nguyễn Hiến Lê: “Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm Có thầy hay không, ta không cần biết Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tuỳ ý, muốn học lúc nào cũng được: đó mới là điều kiện quan trọng”

- Theo Lê Khánh Bằng: “TH là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ

và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một số lĩnh vực khoa học nhất định”

- Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “TH là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (so sánh, quan sát, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”

Về bản chất, các quan điểm TH ở trên đều có các điểm chung: TH là hoạt động độc lập của người học nhằm chiếm lĩnh tri thức, KN, kỹ xảo, những kinh nghiệm lịch

Trang 21

sử xã hội để hoàn thiện nhân cách của bản thân; TH do bản thân ý thức được nhiệm vụ học tập, tự đưa ra kế hoạch học tập và làm chủ trong việc xác định mục đích, nội dung, cách thức học; TH có thể diễn ra cả ở trên lớp và ngoài lớp Tùy thuộc vào đối tượng người học mà TH có các cấp độ khác nhau từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp

Từ các nhận định trên, theo tôi: TH là hình thức học tập mang đậm màu sắc cá nhân, là quá trình mà người học tự ý thức nhiệm vụ học tập, tự đưa ra kế hoạch và làm chủ trong việc xác định mục đích, nội dung, cách thức học, tác động một cách tích cực, chủ động vào đối tượng học nhằm chuyển hóa chúng thành tri thức riêng của mình, vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập; rèn luyện và phát triển KN, làm cho người học thay đổi và ngày càng phát triển

Với cách hiểu như trên về quá trình TH, trong luận án này tôi sử dụng khái niệm năng lực tự học với nội hàm như sau: NLTH là khả năng huy động tri thức, kĩ năng sẵn có, kinh nghiệm bản thân, động cơ, hứng thú để tự lực chiếm lĩnh tri thức mới, rèn luyện kĩ năng mới và hoàn thiện phẩm chất của mỗi cá nhân

1.2.2 Bồi dưỡng năng lực tự học

Mục tiêu của dạy - tự học là HS biết cách tự học, hình thành và phát triển NLTH Trong dạy - tự học, GV chỉ đóng vai trò là tác nhân hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho

HS tự học và học cách TH Muốn vậy, GV phải luôn luôn yêu cầu HS phải tự lực học tập, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức, khuyến khích HS nỗ lực tham gia hoạt động nhóm, mạnh dạn đưa ra các ý kiến, các đề xuất, các phê phán của bản thân GV cần sử dụng các PPDH tích cực như nêu vấn đề; các câu hỏi tình huống; phương pháp thực nghiệm,… nhằm tạo động cơ, hứng thú học tập, rèn luyện kĩ năng, thói quen ý chí TH cho HS để từ đó, tự bản thân các em tìm kiếm, khám phá tri thức mới chất lượng và hiệu quả cao hơn

1.3 Cơ sở lý luận về phương pháp dạy học

1.3.1 Phương pháp dạy học

Đối tượng của phương pháp dạy học gồm lí luận dạy học và phương pháp dạy học Đó là một khoa học nghiên cứu quá trình dạy học hóa học ở trường phổ thông, tìm ra những quy luật của nó và xây dựng những cơ sở lí luận để nâng cao chất lượng của quá trình này, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển nguồn nhân lực

Trang 22

1.3.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học

Theo Nguyễn Ngọc Quang, trong cuốn “Lý thuyết dạy học hóa học”, tập 1, NXB Giáo dục Hà Nội, năm 1994, trang 69 có nêu “phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy làm cho trò

tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích học tập

Theo B Meier thì phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hành động, thông qua đó và bằng cách đó GV và HS lĩnh hội được những hiện thực tự nhiên

và xã hội xung quanh trong những điều kiện học tập cụ thể

Theo tôi, phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học

- Phương pháp dạy là cách thức hoạt động của thầy trong việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động nhận thức của trò

- Phương pháp học là hoạt động của trò trong việc chủ động chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng

Tóm lại, “Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của thầy trong việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động nhận thức của trò nhằm giúp trò chủ động đạt được các mục tiêu dạy học”

1.3.1.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học

PPDH là một khái niệm rất phức hợp, có nhiều bình diện, phương diện khác nhau PPDH có nhiều đặc trưng như:

- PPDH được định hướng bởi mục đích dạy học

- PPDH có sự thống nhất giữa phương pháp dạy và phương pháp học

- PPDH thực hiện thống nhất chức năng đào tạo và giáo dục

- PPDH có sự thống nhất của logic nội dung dạy học và logic tâm lí nhận thức

- PPDH có mặt bên ngoài và bên trong, có mặt khách quan và chủ quan

- PPDH có sự thống nhất của cách thức hành động và phương tiện dạy học

1.3.2 Đổi mới phương pháp dạy học

1.3.2.1 Tầm quan trọng của đổi mới phương pháp dạy học

Một thời gian dài chúng ta được trang bị phương pháp để truyền thụ tri thức cho

HS theo quan hệ một chiều: thầy truyền đạt, trò tiếp nhận Với phương pháp dạy học này, HS như một cái kho và thầy cô đem những điều tốt đẹp của khoa học để chất đầy cái kho đó Kết quả là HS học tập một cách thụ động, thiếu tính độc lập sáng tạo trong quá trình học tập

Trang 23

Theo quan điểm giáo dục hiện đại, dạy học là một quá trình tương tác (GV- HS,

HS - HS, HS - GV, HS với những người hiểu biết hơn…), trong đó, “học” là một hoạt động trung tâm Người học - đối tượng của hoạt động “dạy”, là chủ thể của hoạt động

“học” – được lôi cuốn vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua

đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ, chưa có chứ không phải thụ động tiếp nhận những tri thức do GV sắp đặt

Để đạt được điều ấy, trong quá trình dạy học, người thầy cần phải biết đánh thức trong tâm hồn HS tính ham muốn hiểu biết, dạy các em biết suy nghĩ, phân tích và hành động tích cực Vì thế, việc đổi mới phương pháp dạy học để HS chủ động, tích

cực, sáng tạo trong học tập là một vấn đề cần thiết và không thể thiếu được Bởi vì, chỉ

có đổi mới PPDH, chúng ta mới góp phần khắc phục những biểu hiện trì trệ, nghiêm trọng trong giáo dục hiện nay; chỉ có đổi mới PPDH chúng ta mới góp phần quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo và chỉ có đổi mới PPDH chúng ta mới tham gia được và “sân chơi” quốc tế trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và tiếp cận phương pháp giáo dục mới theo quan điểm giáo dục hiện đại Vì những lẽ đó, việc

đổi mới PPDH hiện nay không chỉ là phong trào mà còn là một yêu cầu bắt buộc đối với mỗi GV

1.3.2.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học

Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12/1996), được

thể chế hóa trong Luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo

dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 14 (4-1999) Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và

học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động

Đổi mới PPDH ở trường phổ thông nên được thực hiện theo các định hướng sau:

- Bám sát mục tiêu giáo dục PT

- Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể

- Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh

- Phù hợp với cơ sở vất chất, các điều kiện dạy học của nhà trường

- Phù hợp với việc đổi mới, kiểm tra đánh giá kết quả dạy – học

- Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả các PPDH tiên tiến, hiện đại với việc khai thác những yếu tố tích cực của các PPDH truyền thống

- Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, thiết bị dạy học và đặc biệt lưu

Trang 24

- Phương pháp nhận thức khoa học hóa học là thực nghiệm, nên PPDH hóa học phải tăng cường thí nghiệm thực hành và sử dụng thật tốt các thiết bị dạy học giúp mô hình hóa, giải thích, chứng minh các quá trình hóa học

1.3.2.3 Phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực

a Tính tích cực

Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội, khác với động vật con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động tạo ra cơ sở vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, sáng tạo

ra những giá trị văn hoá tinh thần, chủ động cải biến môi trường

Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo những con người năng động thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực như là một điều kiện đồng thời là một kết quả của

sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục

b Tính tích cực học tập

Tính tích cực hoạt động của con người được biểu hiện trong hoạt động chủ động của chủ thể Tính tích cực học tập là tính chủ động nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Quá trình nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện ra những điều mà loài người chưa biết

mà nhằm lĩnh hội những điều loài người đã tích luỹ được Tuy nhiên, học sinh phải khám phá những hiểu biết mới đối với bản thân Học sinh sẽ hiểu và ghi nhớ những gì nắm được qua hoạt động chủ động của chính mình Khi tới một trình độ nhất định sự học tập tích cực sẽ mang tính chất nghiên cứu khoa học

Các dấu hiệu của tính tích cực học tập là:

- Hăng hái trả lời câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích

phát biểu ý kiến của mình trước những vấn đề được nêu ra

Trang 25

- Hay thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ

- Chủ động vận dụng kiến thức, kỹ năng để nhận thức những vấn đề mới

- Tập trung chú ý vào những vấn đề đang học

- Kiên trì hoàn thành công việc, không nản chí trước khó khăn

- vv

Tính tích cực học tập được các nhà lí luận đánh giá theo cấp độ từ thấp đến cao như sau:

- Bắt chước: gắng sức làm theo những mẫu hành động của thầy, của bạn

- Tìm tòi: độc lập giải quyết những vấn đề được nêu ra, tìm kiếm những cách

giải quyết khác nhau về một vấn đề

- Sáng tạo: tìm ra những cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu

- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học, đây cũng là mục tiêu dạy

học

- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

- Kết hợp sự đánh giá của thầy và sự đánh giá của trò

Phương hướng đổi mới PPDH hoá học đã thể hiện rõ được các nét đăc trưng của các PPDH tích cực

d Dạy và học tích cực – Một số phương pháp dạy học tích cực

* Dạy và học tích cực

“Học” là một quá trình chủ động Chỉ có những thông tin nào được người học

“sắp xếp, cấu trúc và tổ chức” mới có thể chuyển thành trí nhớ lâu dài Quá trình “sắp xếp, cấu trúc và tổ chức” này được thực hiện bởi việc người học “làm” hơn là người học nghe Thông tin chỉ tồn tại trong trí nhớ lâu dài nếu nó được sử dụng hoặc nhắc lại thường xuyên Học hiệu quả hơn nếu động cơ của nó là ham muốn được thành công

Trang 26

hơn là lo sợ thất bại HS cần có trách nhiệm tối đa đối với việc học tập, đánh giá và đạt tiến bộ Do đó, bản chất của quá trình dạy và học tích cực là:

- Khai thác động lực tích cực của người học để phát triển chính họ

- Cần coi trọng nhu cầu của cá nhân người học, đảm bảo cho họ thích ứng với

đời sống xã hội

Trong dạy và học tích cực, người GV cần:

- Thiết kế và tạo môi trường cho phương pháp học tích cực

- Khuyến khích, ủng hộ, hướng dẫn hoạt động của HS

- Thử thách và tạo động cơ cho HS

- Khuyến khích đặt câu hỏi và đặt ra những vấn đề cần giải quyết

Trong dạy và học tích cực, người học cần:

- Chủ động trao đổi, xây dựng kiến thức

- Khai thác tư duy, liên hệ

- Kết hợp kiến thức mới với kiến thức đã có từ trước

Do đó, không có một phương pháp dạy học nào phù hợp với mọi HS Điều GV cần là sử dụng những phương pháp dạy học khác nhau, vận dụng sáng tạo trong từng điều kiện cụ thể để có thể kích thích được nhiều mặt khác nhau trong trí thông minh của học sinh

* Một số phương pháp dạy học tích cực

Trên thế giới hiện nay có một số PPDH, ví dụ: Dạy học theo mục tiêu; Dạy học phân hoá; Dạy học theo dự án; Dạy học giải quyết vấn đề; Dạy học tương tác; Dạy học khám phá; Dạy học tình huống

Theo định hướng đổi mới đặt ra mục tiêu của việc đổi mới PPDH nhằm:

- Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh

- Bồi dưỡng phương pháp tự học

- Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống

- Tác động đến tình cảm, mang lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS

Nói tóm lại là đổi mới phương pháp dạy học là hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Do đó để đáp ứng với yêu cầu thực tế, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nước ta việc đổi mới phương pháp dạy học tích cực cần:

- Sử dụng yếu tố tích cực của các PPDH nêu vấn đề, đàm thoại tìm tòi, thí

nghiệm, nghiên cứu…

Trang 27

- Sử dụng các phương pháp trực quan, phương pháp thuyết trình… theo hướng

tích cực

- Vận dụng một cách sáng tạo có chọn lọc một số quan điểm dạy học trên thế

giới, ví dụ: dạy học hợp tác, dạy học kiến tạo, dạy học theo dự án…

- Sử dụng phối hợp các PPDH đã có với thiết bị dạy học hiện đại một cách linh

hoạt, sáng tạo giúp HS tự học theo cá nhân và nhóm để thu thập và xử lý thông tin

* Sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học

- Khai thác yếu tố tích cực trong từng phương pháp dạy học và các phương

pháp dạy học đặc thù của hóa học để tạo điều kiện cho học sinh được hoạt động nhiều hơn

- GV cần tăng cường sử dụng các PPDH nêu và giải quyết vấn đề, đàm thoại

tìm tòi nghiên cứu

- Kết hợp với TN, phương tiện nghe nhìn hiện đại

- Các TN chủ yếu do HS thực hiện theo hướng nghiên cứu

- Hoạt động đàm thoại tìm tòi được thực hiện bằng phiếu học tập

1.3.2.4 Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực

Chiến lược phát triển giáo dục (2001-2005) đã chỉ rõ: Một trong những giải pháp

thực hiện mục tiêu giáo dục là đổi mới phương pháp giáo dục “Đổi mới và hiện đại hóa

phương pháp giáo dục, chuyển việc truyền đạt tri thức thụ động: Thầy giảng, trò ghi sang hướng người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích tổng hợp phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của HS…” Như chúng ta đã biết: “Tự học, tự đào tạo là một con đường phát triển suốt đời của mỗi con người trong điều kiện kinh tế, xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau” Đó cũng là giáo dục được hình thành trong quá trình giáo dục

a Dạy học bằng hoạt động của người học

Thực chất của dạy học bằng hoạt động của người học là chuyển từ lối dạy cũ

(thầy nặng về truyền đạt, trò tiếp thu một cách thụ động) sang lối dạy mới, trong đó vai trò chủ yếu của thầy là tổ chức, hướng dẫn hoạt động, trò chủ động tìm hiểu, phát hiện ra kiến thức

Có thể nhấn mạnh những điểm quan trọng của việc dạy học bằng hoạt động của người học như sau:

Trang 28

- Về mục tiêu dạy học: Chuẩn bị cho HS thích nghi với đời sống xã hội Tôn

trọng nhu cầu, hứng thú, khả năng và lợi ích của HS

- Về nội dung: Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện kĩ năng thực hành, vận dụng

kiến thức, năng lực giải quyết vấn đề học tập và thực tiễn, hướng vào sự chuẩn bị thiết thực cho HS hoà nhập với xã hội

- Về phương pháp: Coi trọng rèn luyện cho HS PP tự học, tự khám phá và giải

quyết vấn đề, phát huy sự tìm tòi tư duy độc lập sáng tạo của HS thông qua hoạt động học tập HS chủ động tham gia các hoạt động học tập GV là người tổ chức, điều khiển động viên, huy động tối đa vốn hiểu biết, kinh nghiệm của từng HS trong việc tiếp thu

kiến thức và xây dựng bài học

- Về hình thức tổ chức: Không khí lớp học thân mật tự chủ, bố trí lớp học linh

hoạt phù hợp với hoạt động học tập và đặc điểm của từng tiết học Giáo án bài dạy cấu

trúc linh hoạt và có sự phân hoá, tạo điều kiện cho sự phát triển năng khiếu của từng

cá nhân

- Về kiểm tra đánh giá: GV đánh giá khách quan, HS tham gia vào quá trình

nhận xét đánh giá kết quả học tập của mình (tự đánh giá), đánh giá nhận xét lẫn nhau Nội dung kiểm tra chú ý đến các mức độ: tái hiện, vận dụng, suy luận, sáng tạo

Kết quả đạt được: Tri thức thu được vững chắc bằng con đường tự tìm tòi, HS

được phát triển cao hơn về nhận thức, tình cảm, hành vi, tự tin trong cuộc sống

* Ý nghĩa, tác dụng của dạy học bằng hoạt động của người học:

- Dạy học bằng hoạt động của người học là một nội dung của dạy học hướng vào người học HS chỉ có thể phát triển tốt khả năng giải quyết vấn đề, thích ứng với cuộc sống…nếu như họ có cơ hội hoạt động

- Đó là một trong những con đường dẫn đến thành công của người GV

- Có thể làm tăng hiệu quả dạy học

* Những biện pháp cơ bản để tăng cường hoạt động của HS trong giờ học:

- GV gợi mở, nêu vấn đề cho HS suy nghĩ, tìm hiểu kiến thức mới

- Sử dụng nhiều câu hỏi dưới các dạng khác nhau từ thấp đến cao

- GV yêu cầu HS nêu thắc mắc về những vấn đề mà bản thân HS chưa rõ

- Đưa ra bài tập vận dụng hay yêu cầu HS hoàn thành một nhiệm vụ học tập trong giờ học

- GV hướng dẫn HS làm việc với SGK và phiếu học tập (nếu có)

Trang 29

- Hướng dẫn cho HS làm một vài thí nghiệm nhỏ trong bài học

- Thảo luận nhóm theo yêu cầu của GV

- Thuyết trình các nội dung do GV đưa ra cho từng bài học cụ thể

- Tổ chức cho HS nhận xét, góp ý, tham gia bổ sung vào quá trình đánh giá lẫn nhau

Như vậy việc dạy học hướng vào người học đặt vị trí người học vừa là chủ thể vừa là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học, phát huy tối đa tiềm năng của từng người học Do đó vai trò tích cực, chủ động, độc lập sáng tạo của người học được phát huy Người GV đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, động viên các hoạt động độc lập của HS, đánh thức các tiềm năng của mỗi HS giúp họ chuẩn bị các hành trang bước vào cuộc sống Tuy nhiên lí thuyết coi HS là trung tâm chịu sự chi phối của ý thức hệ tư sản nên đã đi sâu vào việc tuyệt đối hoá hứng thú, nhu cầu, hành vi biệt lập của cá nhân HS nên khi áp dụng cần đề phòng khuynh hướng tuyệt đối hoá nhu cầu nguyện vọng của HS

b Dạy học bằng sự đa dạng phương pháp

Dạy học bằng sự đa dạng phương pháp nghĩa là sử dụng một cách hợp lí nhiểu phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học khác nhau trong một giờ, một buổi lên lớp hay trong một khóa học để đạt hiệu quả dạy học cao

* Tác dụng của dạy học bằng sự đa dạng các phương pháp

- Phát huy những mặt mạnh, khắc phục những mặt yếu của mỗi PPDH

- Thay đổi cách thức hoạt động tư duy của HS, thay đổi sự tác động vào các giác quan, giúp học sinh không thấy mệt mỏi

- Tạo điều kiện thích ứng cao nhất giữa phương pháp dạy của GV với phương pháp học của trò, tạo sự tương tác tốt nhất giữa GV và HS cả lớp

- Mỗi lần thay đổi phương pháp là GV đã một lần tạo ra “cái mới”, như thế sẽ tránh được sự đơn điệu, nhàm chán

- Giờ học sẽ sinh động, hấp dẫn, HS sẽ hứng thú và có cơ hội hoạt động tích cực hơn

- Góp phần đáng kể trong việc nâng cao hiệu quả dạy học

* Một số căn cứ để lựa chọn phương pháp dạy học

Sử dụng PPDH với từng hoàn cảnh cụ thể Mỗi PPDH chỉ phát huy tác dụng cao nhất khi được sử dụng phù hợp với thực tế dạy học Một số căn cứ để lựa chọn PPDH:

Trang 30

- Mục đích dạy học chung và mục tiêu môn học

- Đặc trưng của môn học

- Nội dung dạy học

- Đặc điểm lứa tuổi và trình độ HS

- Điều kiện cơ sở vật chất (phòng ốc và trang thiết bị)

- Thời gian cho phép và thời điểm dạy học

- Người học trong phương pháp dạy học của mình, cung cấp đều đặn thông tin cho người dạy hoặc bằng lời, bằng bình luận, bằng suy nghĩ, câu hỏi hoặc bằng thái

độ, cử chỉ hay cách ứng xử Người dạy phản ứng bằng cách cung cấp cho người học thông tin phụ, câu trả lời cho câu hỏi do người học đặt ra hoặc động viên người học Qua đó người dạy nắm được thông tin của người học để có những điều chỉnh trong phương pháp dạy học Như vậy người dạy và người học đã tác động qua lại, một mối liên hệ qua lại mà phương pháp sư phạm rất quan tâm

- Người dạy, trong phương pháp sư phạm của mình, gợi ý cho người học hướng đi thuận lợi, các phương tiện cần sử dụng và kết quả cần đạt được Nếu người học cảm thấy sung sướng và thỏa mãn, họ dễ dàng có cảm tình với người dạy, ngược lại họ sẽ cảm thấy nản lòng và thiếu hứng thú Lúc này, chính người dạy đã hành động còn người học thì phản ứng Sự tác động qua lại khá tinh tế giữa hai tác nhân này đã góp phần tạo nên mối quan hệ rất đáng chú ý của phương pháp dạy học tương tác

* Các dạng tương tác trong dạy học

- Tương tác thầy - trò: là tương tác thường gặp nhất và được nêu lên như một quy luật cơ bản của quá trình dạy học Trong các tài liệu sư phạm, người ta đang tìm cách hoàn thiện mối quan hệ này theo hướng:

+ Giải phóng người học

Trang 31

+ Hợp tác

+ Lấy học sinh làm trung tâm

+ Thầy thiết kế, trò thi công

+ Tăng cường tính tích cực, chủ động của trò…

+ Giáo dục hiện đại đang cố gắng làm sao để hoạt động của trò giữ vai trò chủ yếu trong giờ học

- Tương tác môi trường - trò: Tác dụng của môi trường đến HS là vô cùng quan trọng Chất lượng giáo dục phụ thuộc rất lớn vào môi trường, trong nhiều trường hợp

do môi trường quyết định Về thời gian môi trường tác động đến các em từng giây, từng phút, từng giờ Về không gian, môi trường tác động đến các em ở mọi nơi Môi trường tác động đến các em qua đủ mọi phương tiện, qua đủ năm giác quan… Nhưng trong thực tế, người ta quên đi tác dụng của môi trường đối với giáo dục Vì vậy, việc đưa ra sơ đồ “Bộ ba Người dạy- Người hoc- Môi trường” của J M Denomme’ và M Roy có ý nghĩa rất quan trọng

- Tương tác môi trường - thầy - trò: Một ngày người thầy nhận ra rằng sự học phải là sự vận động nội tại Nếu thầy tích cực mà học sinh thờ ơ thì dù có giảng giải thế nào cũng không có hiệu quả và rơi vào tình trạng “nước đổ lá khoai” Vì vậy, họ phải thay đổi chiến lược, tổ chức cho các em tự học và nắm bắt kiến thức Người thầy phải tìm hiểu môi trường dạy học và phải tìm cách phát huy thế mạnh của nó qua những tác động và xử lí khéo léo của mình Hoạt động sáng tạo của người thầy đa dạng như:

+ Tổ chức cho học sinh hệ thống những kinh nghiệm đã có và đúc kết thành lý luận bằng cách ra những bài tập và tổ chức để họ báo cáo trước lớp Đó là một dạng tương tác giữa môi trường và người học nhờ sự khơi dậy, tổ chức của giáo viên theo

cơ chế: môi trường- thầy- trò Nếu không có vai trò của người thầy thì kinh nghiệm của họ không thể hệ thống hóa thành hệ thống kiến thức và không có gía trị phổ biến + Tổ chức cho họ khai thác các nguồn thông tin thông qua: thư viện, mạng internet…

+ Giao cho người học tiến hành điều tra, khảo sát bằng cách trao đổi, tọa đàm, phỏng vấn…những vấn đề phù hợp với nội dung và điều kiện học tập của họ

- Tóm lại, nếu thầy giáo khéo léo tổ chức cho học sinh khai thác ảnh hưởng của môi trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học thì đó là một nguồn tiềm năng vô tận

Trang 32

và đa dạng Việc dạy học sẽ trở nên gắn liền với cuộc sống, có khả năng nâng cao hứng thú học tập của học sinh và có kết quả khả quan

1.3.3 Đổi mới phương pháp với sự hỗ trợ của CNTT

Đổi mới PPDH bằng CNTT là truyền thông là một chủ đề lớn được UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình của thế kỉ XXI Hiện nay CNTT và truyền thông

đã ảnh hưởng sâu sắc đến giáo dục và đào tạo nói chung, đến việc đổi mới PPDH nói riêng, góp phần phát triển giáo dục Việt Nam, đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực cho một nền kinh tế tri thức như chỉ thị 58-CT/TW của Bộ chính trị đã khẳng định “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học” Trong báo cáo về “CNTT trong giáo dục” ngày 02/11/2005, Cục trưởng Cục CNTT Quách Tuấn Ngọc đã đưa ra một số vấn đề về đổi mới PPDH và dạy học với sự hỗ trợ của CNTT:

Bảng 1.1: Đổi mới phương pháp dạy và học bằng CNTT

Sang multimedia với hình ảnh,

âm thanh, video, tiếng nói, sinh động

Vai trò của GV Từ độc thoại, người dạy dỗ Sang vai trò hướng dẫn, tổ chức

các hoạt động để HS tự suy nghĩ, thảo luận…

Thầy soạn bài, giáo án bằng máy tính…

Vai trò của HS Thụ động Chủ động, tự học, giao lưu

quốc tế, …

Trang 33

Ta nói, phương tiện dạy học có sử dụng CNTT là một bước thay đổi về chất, làm thay đổi cách thức dạy học theo hướng “nhảy vọt” Việc đổi mới phương pháp dạy học bằng CNTT nói chung và đổi mới bằng việc sử dụng bài giảng E-Learning trong giảng dạy nói riêng là việc cần thiết trong thời đại CNTT phát triển Phương pháp này gọi là phương pháp đảo ngược Phương tiện dạy học lúc này được phân loại thành hai tầng cơ bản: tầng 1 là các đa phương tiện (multmedia) mang thông tin về nội dung học tập Tầng 2 là các dịch vụ Internet để truyền tải thông tin tới người học như Thư điện tử, trang web, diễn đàn, tin nhắn, xem phim trực tuyến, mạng xã hội, hội nghị trực tuyến… Nếu như trong dạy học truyền thống, người giáo viên sẽ truyền tải nội dung học tập trực tiếp thì theo phương pháp dạy học mới, phương tiện dạy học sẽ vừa chứa đựng nội dung học tập, vừa thay thế chức năng truyền tải nội dung của giáo viên tới người học như mô tả hình dưới đây

Hình 1.1: Mô hình đổi mới PPDH lấy người học làm trung tâm

Trong hình trên, có thể thấy người học ở vị trí trung tâm, là chỗ giao nhau của mọi con đường kiến thức Các kiến thức đến người học không chỉ trực tiếp từ các GV

mà có thể từ hệ thống mạng máy tính, qua E-Learning, sách vở (sách điện tử), hoạt động nghệ thuật, môi trường tự nhiên, xã hội, gia đình, các phương tiện nghe nhìn Đặc biệt bài giảng của GV có thể được quay thành video và thông qua hệ thống máy tính interrnet để đến người học Như vậy, để có kiến thức, người học không nhất thiết phải đến lớp nghe GV giảng mà có thể thông qua các phương tiện khác nhau để thu nhận kiến thức

Trang 34

1.4 Cơ sở lí luận về phương pháp dạy học đảo ngược

Sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số đã tạo điều kiện chuyển hình thức DH trực tiếp trong không gian lớp học sang hình thức học tập cá nhân (bằng các video DH) Việc bỏ qua hình thức DH trực tiếp đã cho phép GV có thể dành nhiều thời gian trên lớp tổ chức cho HS hợp tác với các bạn đồng lứa trong các dự án, hiểu sâu hơn nội dung bài học, rèn luyện các kĩ năng thực hành và nhận được phản hồi về sự tiến bộ của

họ FLN cho rằng, các chữ cái đầu tiên trong thuật ngữ F-L-I-P là những yếu tố chủ yếu của lớp học đảo ngược bao gồm:

- Môi trường linh hoạt (FLEXIBLE ENVIRONMENT): bài giảng được đưa lên Internet cho phép HS truy cập, TH ở nhà nên GV có thể tận dụng tối đa thời gian ở lớp

tổ chức cho HS hoạt động nhóm hoặc nghiên cứu độc lập HS có thể tự chọn không gian, địa điểm và học tập theo tốc độ riêng của mình

- Học tập nhân văn (LEARNING CULTURE): DH theo định hướng lấy HS làm trung tâm HS phải có trách nhiệm học tập và tích cực hoạt động để tự tìm lấy kiến thức Trong các hoạt động tương tác với bạn học, HS có thể mở rộng, khám phá sâu hơn về chủ đề bài học đồng thời có cơ hội trao đổi 1:1 với GV khi có vấn đề thắc mắc

- Nội dung có chủ ý (INTENTIONAL CONTENT ): GV cung cấp các học liệu cần thiết, theo định dạng phù hợp cho HS tự học, tự nghiên cứu ở nhà Khi đến lớp,

HS có đủ kiến thức nền để tham gia, học tập hợp tác với bạn học, mở rộng, đào sâu kiến thức

- Chuyên gia giáo dục (PROFESSIONAL EDUCATOR): GV đóng vai trò rất quan trọng trong một lớp học đảo ngược: quan sát, đánh giá, cung cấp hỗ trợ, phản hồi kịp thời trong suốt thời gian lên lớp thay vì chỉ thuyết giảng đơn thuần GV chỉ thành công với FCM khi tạo ra được kết nối tốt với từng cá nhân HS và bao quát, kiểm soát toàn bộ hoạt động trong lớp theo chủ đích

Như vậy, lớp học đảo ngược (FCM) là một hình thức dạy học hỗ trợ cho lớp học giáp mặt Giờ học ở lớp không dùng để giảng bài (vì HS đã xem các bài giảng video, các học liệu đa phương tiện ở nhà qua mạng), mà để tổ chức cho HS thực hiện dự án, hợp tác, làm việc nhóm,…giúp hiểu sâu hơn nội dung bài giảng, bồi dưỡng và rèn luyện các NLTH GV có thêm thời gian tìm hiểu thực trạng học tập của HS (sai lầm, thắc mắc) mà kịp thời trao đổi, hỗ trợ, giúp HS nắm vững kiến thức theo đúng tốc độ

Trang 35

tiếp thu riêng

1.4.1 Khái niệm mô hình lớp học đảo ngược

Hình 1.2: Sơ đồ giáo dục hỗn hợp

Qua sơ đồ trên, ta thấy mô hình giáo dục hỗn hợp bao gồm: mô hình vòng xoay,

mô hình uốn cong, mô hình A La Carte, mô hình lớp học ảo Trong đó, mô hình lớp học đảo ngược thuộc một trong những mô hình giáo dục hoán đổi

Mô hình lớp học đảo ngược là một trong những dạng thức của học tập kết hợp (blended-learning/b-learning) được quan tâm trong những năm gần đây Sở dĩ mô hình lớp học đảo ngược được quan tâm bởi những kết quả tích cực mang lại Trong mô hình này, bài giảng của giáo viên được chuyển tải để người học nghiên cứu trước khi tới lớp, do vậy thời gian cho các hoạt động tích cực của người học được nhiều hơn Ngoài

ra, các kỹ năng giao tiếp, độc lập của người học được tăng cường Aliye và cộng sự tổng hợp 62 bài báo trong lĩnh vực kỹ thuật liên quan tới mô hình FCM từ năm 2000-

2015 cho thấy mô hình FCM tạo ra môi trường học tập linh hoạt và uyển chuyển, các

kỹ năng để học tập suốt đời, suy nghĩ sâu (critical thinking) và các phẩm chất tích cực khác So sánh với dạng lớp học truyền thống, sự tham gia của người học với bài giảng được nhiều hơn ở dạng FCM

Mô hình FCM có thể áp dụng cho nhiều trình độ khác nhau: từ giáo dục phổ thông cho tới giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, trong nhiều chủ đề và lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực CNTT và truyền thông và STEM (khoa học-kỹ thuật- công nghệ và toán học) Công nghệ được sử dụng chủ yếu trong các nghiên cứu được

Trang 36

nhóm Giannakos phân tích đối với mô hình FCM là sử dụng video bài giảng, ngoài ra còn sách điện tử và mô phỏng Với sự phát triển của công nghệ, thông qua môi trường web, các công cụ hỗ trợ như wiki, weblogs, e-portfolios (hồ sơ điện tử cá nhân), càng tạo điều kiện cho FCM phát triển

1.4.2 Cơ sở khoa học của PPDH đảo ngược

Hình 1.3: Lớp học truyền thống và đảo ngược

Với cách dạy học truyền thống: 90% thời gian nghe giảng và 10% thời gian làm bài trên lớp Với cách dạy này, bắt buộc HS đến lớp nghe giảng, về nhà làm bài tập và tất cả HS trong một lớp phải tuân theo lịch học chung

Đối với GV, một buổi lên lớp sẽ bắt đầu với việc giáo viên chuẩn bị bài giảng lên lớp và học sinh chuẩn bị làm bài tập về nhà buổi trước Bài mới sẽ được giảng trong giờ trên lớp và thừa một chút thời gian sẽ làm làm bài tập luyện tập tại lớp Như vậy, hầu hết việc giảng và nghe giảng ước chừng đã ngốn 90% thời gian, 10% còn lại là luyện tập trên lớp của cả giáo viên và học sinh Và khi ứng dụng lý thuyết làm bài tập hoặc các hoạt động học, học sinh sẽ ở trạng thái tư duy cấp độ cao Nghĩa là khi người học đang bị động tiếp thu kiến thức thì phần lớn sẽ khó suy nghĩ, tưởng tượng, đào sâu vào kiến thức ngay trong lúc nghe giảng Vì vậy nên mỗi khi nghe giảng một kiến thức nào đó mà sử dụng nó để giải quyết bài tập, hoặc nghĩ lan man các vấn đề khác ngay thì sẽ mất toàn bộ phần cô giáo giảng sau đó

Nhờ CNTT, đặc biệt là phần mềm E-Learning, GV có thể thực hiện việc dạy học theo mô hình đảo ngược Nghĩa là: GV sử dụng phần mềm thu bài giảng để thu video clip bài giảng, HS học ở nhà qua E-Learning và có thể thảo luận nhóm cùng bạn bè,

Trang 37

còn việc thực hành và làm bài tập sẽ diễn ra trên lớp, từ đó hình thành phương pháp dạy học mới: các HS tự học thông qua các video do GV soạn (hoặc tự tìm hiểu qua các phương tiện nghe nhìn) và làm bài tập ở nhà theo chỉ định của GV Thời gian đến lớp thay vì nghe GV giảng bài, GV sẽ hướng dẫn HS thảo luận, giải bài tập khó và giáo viên kiểm tra trình độ tiếp thu của người học để hướng dẫn nội dung học tiếp Về nhà,

HS sẽ kiểm tra lại những kiến thức của mình và tự tìm hiểu mở rộng thêm Tức là hình thức tổ chức hoạt động dạy học thay đổi: “Học ở lớp, làm bài tập ở nhà” chuyển thành

“Tự học ở nhà qua bài giảng trực tuyến cùng trao đổi qua internet, đến lớp làm bài tập, giải đáp thắc mắc và thảo luận”

Như vậy, công việc trên lớp của thầy và trò sẽ chỉ còn ở dừng ở việc giải đáp các nghi vấn về bài học, thầy giáo hướng dẫn học sinh đào sâu kiến thức, thực hành, thực hiện các hoạt động nhóm phù hợp cũng như dành nhiều thời gian hơn trong việc luyện tập và tư duy… quá hấp dẫn và hứng thú cho cả thầy lẫn trò

Đây chính là phương pháp “Dạy học đảo ngược” đang được nghiên cứu ứng dụng trên thế giới

Hình 1.4: Mô hình lớp học đảo ngược

1.4.3 Lợi điểm khi áp dụng mô hình dạy và học đảo ngược

Với mô hình lớp học đảo ngược, có thể phân biệt rõ thời gian trên lớp chỉ luyện tập

và ôn tập, hỏi đáp kiến thức, không bị lẫn với thời gian nghe giảng như phương pháp truyền thống Giảm được thời gian dành cho những khái niệm mà học sinh dễ dàng nắm bắt để tập trung vào các vấn đề khó hơn, đào sâu hơn Lý do này xuất phát từ việc đôi khi giáo viên khó xác định chính xác khái niệm nào học sinh dễ nắm bắt và khái

Trang 38

niệm nào thì khó khăn Đôi khi, giảng kĩ một khái niệm cho nhóm học sinh này sẽ lấy

đi thời gian của các nhóm học sinh đã hiểu còn lại Vậy cách để giải quyết là học sinh chỉ cần tua video xem lại đoạn chưa hiểu

- Hướng vào dạy học cá thể GV có nhiều thời gian trên lớp hơn để tiếp cận các học sinh yếu kém

- Học sinh có thể thu lại hoặc xem đi xem lại đoạn video bài giảng chưa hiểu

- Học sinh vắng mặt sẽ không bỏ lỡ bài giảng

- Có được nhiều thời gian hơn cho các hoạt động học trên lớp

- Phụ huynh có thể phối hợp cùng giáo viên trọng việc hướng dẫn học tập của học sinh

Học sinh hiện nay vẫn thường sử dụng máy ảnh ghi lại những bài giảng của thầy

cô để về xem lại, hoặc đơn giản chỉ là lười ghi chép Đây cũng chính là cơ sở, có chút chủ quan để tin tưởng rằng phương pháp này khá phù hợp với điều kiện hiện nay, khi

mà điều kiện tiếp cận với những ứng dụng công nghệ càng ngày càng dễ dàng và tiện lợi

Tóm lại, về môi trường và đối tượng tham gia: Vì định hướng của mô hình lớp học đảo ngược là lấy người học làm trung tâm, nên mô hình lớp học đảo ngược tạo ra môi trường học tập linh hoạt Người học được lựa chọn cách thức, thời gian, địa điểm học tập phù hợp với mình Người dạy được linh hoạt trong đánh giá, đánh giá quá trình

và đánh giá kết quả

Về phương pháp và hình thức tổ chức: Thời gian dành cho người học nhiều hơn trong lớp nên có thể sử dụng nhiều phương pháp tích cực hóa hoạt động người học như hoạt động nhóm, giải quyết vấn đề… để nghiên cứu vấn đề sâu sắc hơn

Về nội dung: Nội dung được người dạy thiết kế có định hướng nhằm giúp người học có thể tự nghiên cứu trong thời gian ngoài lớp học

Về kỹ thuật và phương tiện: mô hình lớp học đảo ngược hoạt động dựa trên môi trường e-learning nên những nội dung được thiết kế được hỗ trợ bởi các phần mềm ngày càng đa dạng về chủng loại và tính năng, phục vụ biên tập nội dung và tư liệu đa phương tiện (video, mô phỏng, tương tác…) và nền tảng web để quản lý và tổ chức dạy học (thông qua blog, wiki, mạng xã hội, hệ thống quản lý học tập (LMS)…) nên thông tin tương tác có thể được cập nhật nhanh chóng

Trang 39

1.4.4 Mô hình lớp học đảo ngược với việc bồi dưỡng năng lực tự học cho HS

Trong các lớp học truyền thống, vai trò của người thầy được đặt định quá cao, thầy giảng, trò nghe một phần cũng vì áp lực thời gian và quan niệm DH đơn thuần là chuyển giao tri thức Mô hình lớp học đảo ngược có sự hỗ trợ của E-Learning đã tạo điều kiện giải phóng người thầy khỏi áp lực về thời gian, có nhiều cơ hội tương tác, động viên và thách thức để HS tiến bộ hơn

1.4.4.1 Hình thành thói quen tự lực nghiên cứu tài liệu trước khi tới lớp

Hoạt động TH ở nhà trên E-Learning sẽ giúp HS hình thành thói quen tự lực nghiên cứu tài liệu trước khi đến lớp Để hình thành được thói quen này, HS cần phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét

từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những lý luận và hiểu biết đã có mà tự mình lĩnh hội kiến thức Đây là bước khởi đầu để rèn luyện thói quen tích cực khám phá, tìm tòi mọi nơi, mọi lúc, mọi trường hợp và với nhiều đối tượng khác nhau, nâng cao dần lên HS sẽ chủ động, tự lực nghiên cứu, độc lập tự giác trong học tập và tăng dần là học được nề nếp làm việc khoa học

Để TH đạt hiệu quả thì HS cần kiên trì, có thái độ học tập nghiêm túc, phải tự giác và có quyết tâm Khi đã thành thói quen thì HS sẽ thích thú với TH, từ đó biết cách TH HS tự học bằng hành động của chính mình, “hành để học, học để hành”, qua quan sát mà học các phân tích, tư duy, tự mình biết cách phát hiện ra tính chất, bản chất sự vật/hiện tượng Cuối cùng là học cách tổng hợp, khái quát và diễn đạt ra bằng lời kiến thức đã học

1.4.4.2 Hình thành thói quen đặt câu hỏi

Bằng cách tự chịu trách nhiệm với việc học của mình và nguồn học liệu sẵn sàng trên E-Learning, HS hoàn toàn có thể xem lại khi cần hoặc sử dụng các trợ giúp cá nhân có sẵn để tìm ra câu trả lời đúng đắn Với những vấn đề chưa hiểu, HS chủ động hỏi thầy về những gì mình có nhu cầu Khi biết mình cần hỏi gì, hỏi đúng trọng tâm chính là HS đã biết cách đặt câu hỏi

1.4.4.3 Tạo nhu cầu trao đổi, tương tác với bạn, với thầy

Tri thức ban đầu qua TH của HS có thể chưa hoàn toàn đúng vì vậy, trong học tập HS cần bộc lộ sản phẩm học của mình qua thảo luận, biện luận, phản biện về các sản phẩm mới kiến tạo, để mỗi HS được chia sẻ thông tin, học hỏi lẫn nhau; qua diễn

Trang 40

đạt (lập luận) và hỏi lại (phản biện) tự soi xét lại sản phẩn mới học được của mình, bổ sung, chỉnh sửa và rút kinh nghiệm về cách học Theo tháp nhu cầu Maslow, HS sẽ hào hứng, có nhiều động lực tham gia học tập hơn khi được thể hiện trước mọi người Ngoài ra, khi tham gia làm việc nhóm hiệu quả sẽ tác động tốt đến nhân cách cũng như năng lực của chính HS đó bao gồm: biết cách cùng nhau suy nghĩ, có khả năng tự điều chỉnh, có khả năng hợp tác, biết cách tranh luận và thuyết phục, học cách tôn trọng người khác, biết lắng nghe quan điểm của người khác, tích lũy kinh nghiệm làm việc nhóm Chú ý rằng hoạt động nhóm chỉ có thể đạt hiệu quả tốt nếu GV phân chia công việc, nhiệm vụ hợp lý Mỗi cá nhân HS phải hoàn thành nhiệm vụ của mình trong chuỗi nhiệm vụ chung của cả nhóm cộng tác Từng nhiệm vụ nhỏ của từng người là một mô đun đã được phân chia sẵn chờ người học hoàn chỉnh Qua đó, không

có hiện tượng người làm ít, người làm nhiều mà là sự phối hợp nhau cùng hoàn thành công việc chung

Thông qua thảo luận nhóm, HS biết cách tự thể hiện mình, bộc lộ suy nghĩ của bản thân, nuôi dưỡng tự tin Qua trao đổi, thảo luận, GV kịp thời phát hiện được lỗi, thiếu sót trong quá trình tư duy, lập luận của HS để kịp thời chấn chỉnh, rèn luyện cho các em cách tư duy khoa học đồng thời cũng hướng dẫn cả cách diễn đạt, trình bày vấn

đề Do đó, HS thay vì chỉ học từ thầy mà còn học từ bạn, từ tài liệu sách vở

1.4.4.4 Hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ

Trong mô hình lớp học đảo ngược, giờ học ở lớp sẽ được GV tận dụng tối đa tổ chức cho HS vận dụng, thực hành kiến thức, thảo luận nhóm hoặc triển khai các dự án, giải quyết các vấn đề mở Trong các hoạt động này, HS được rèn luyện các kĩ năng phát biểu ý kiến trước nhiều người (nhóm học tập, lớp, các GV), kĩ năng tham gia, trao đổi ý kiến trong học tập dưới hình thức thảo luận, xemina, thực hành theo nhóm, biết

sử dụng các nghi thức ngôn ngữ và giao tiếp với từng cá nhân khác nhau với tư cách

cá nhân hay tư cách là người đại diện cho nhóm Trong hoạt động nhóm, HS sẽ học được các kĩ năng đối thoại, thương lượng và giải quyết những bất đồng, xung đột quan điểm, học được kĩ năng biểu đạt bằng ngôn ngữ và hành động, biết thông cảm, đồng cảm, biết lắng nghe người khác Ngoài ra, HS có thể học thêm các kĩ năng biểu thị tính thân thiện và ân cần với bạn bè trong học tập, tự phê bình và phê bình, kĩ năng làm việc cùng nhau trong nhóm hợp tác Khi được rèn luyện các kĩ năng trên, HS sẽ dần hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ

Ngày đăng: 08/05/2021, 14:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Phan Văn An, Giáo trình bài tập và thực hành giảng dạy bộ môn hóa học, trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bài tập và thực hành giảng dạy bộ môn hóa học
[4] Trần Thị Sang, Nghiên cứu dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh chương 5 – Halogen sách giáo khoa hóa họ 10 nâng cao, Trường Đại Học Sư phạm – Đại Học Đà Nẵng, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh chương 5 – Halogen sách giáo khoa hóa họ 10 nâng cao
[5] Phan Văn An, Giáo trình Lý luận dạy học đại cương môn Hóa học, trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận dạy học đại cương môn Hóa học
[6] Trương Thị Phương Chi, xây dựng và sử dụng e-learning vào dạy học các kiến thức hạt nhân nguyên tử vật lí 12 thpt theo mô hình lớp học đảo ngược, luận văn tiến sĩ khoa học giáo dục, trường Đại Học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: xây dựng và sử dụng e-learning vào dạy học các kiến thức hạt nhân nguyên tử vật lí 12 thpt theo mô hình lớp học đảo ngược
[8] Nguyễn Hoài nam và Vũ Thái Giang, mô hình lớp học đảo trình trong bồi dưỡng kĩ năng CNTT cho sinh viên sư phạm, Khoa Sư phạm Kỹ thuật và Khoa Công nghệ Thông tin, trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: mô hình lớp học đảo trình trong bồi dưỡng kĩ năng CNTT cho sinh viên sư phạm
[9] Sở GD- ĐT Đà Nẵng, Tài liệu tập huấn xây dựng bài giảng điện tử theo chuẩn E - Learning, Chương trình tập huấn triển khai E-learning, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn xây dựng bài giảng điện tử theo chuẩn E - Learning
[10] Chu Minh Thông, Giới thiệu và hướng dẫn sư dụng phần mềm hỗ trợ soạn giảng theo chuẩn E - learning, Ngành GD và ĐT Ba Vì, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu và hướng dẫn sư dụng phần mềm hỗ trợ soạn giảng theo chuẩn E - learning
[7] Sáng kiến kinh nghiệm vận dụng mô hình lớp học đảo ngược giảng dạy bài vật liệu Polime nhằm phát triển năng lực tự học và giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w