Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu nhằm khảo sát và đánh giá chỉ số vượt khó của SV năm thứ nhất trường ĐHSP Đà Nẵng, từ đó đưa ra một số khuyến nghị cho SV và hoạt động đào tạo tại trường
Trang 1GVHD: TS Nguyễn Thị Trâm Anh Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Công Lớp: 15CTL
Đà nẵng, tháng 04 năm 2019
Trang 2GVHD: TS Nguyễn Thị Trâm Anh Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Công Lớp: 15CTL
Đà nẵng, tháng 04 năm 2019
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 1 Cơ sở khoa học AQ 28
Bảng 1 2 Mô hình chuỗi LEAD 35
Bảng 2 1 Số lượng SV năm thứ nhất khóa tuyển sinh 2018 các chuyên ngành đào tạo năm học 2018 - 2019 37
Bảng 2 2 Số lượng mẫu nghiên cứu chia theo nhóm ngành và giới tính 39
Bảng 2 3 Qúa trình nghiên cứu của đề tài 40
Bảng 2 4 Bảng điểm chỉ số AQ 41
Bảng 3 1 Bảng đánh giá mức độ khó khăn của SV năm thứ nhất trường ĐHSP – ĐHĐN dưới lát cắt các nhóm ngành 45
Bảng 3 2 Bảng đánh giá mức độ khó khăn của SV năm thứ nhất trường ĐHSP – ĐHĐN dưới lát cắt xuất thân 47
Bảng 3 3 Kết quả kiểm định phương sai đồng nhất và Kiểm định Anova giữa các nhóm khó khăn với các nhóm SV có xuất thân khác nhau 48
Bảng 3 4 Kết quả phân tích Post-hoc giữa các nhóm khó khăn với các nhóm SV có xuất thân khác nhau 49
Bảng 3 5 Điểm chỉ số vượt khó chung của SV năm thứ nhất trường ĐHSP – ĐHĐN 51
Bảng 3 6 Điểm AQ thành phần của SV năm thứ nhất trường ĐHSP – ĐHĐN 52
Bảng 3 7 Kết quả phân tích ANOVA và phân tích Post-hoc của các thành tố AQ 52
Bảng 3 8 Bảng đánh giá chỉ số vượt khó của SV năm thứ nhất trường ĐHSP – ĐHĐN với giới tính 53
Bảng 3 9 Kết quả Kiểm định phương sai đồng nhất và kiểm định Anova 54
Bảng 3 10 Kết quả phân tích Post-hoc 55
Bảng 3 11 Bảng đánh giá chỉ số vượt khó của SV năm thứ nhất trường ĐHSP – ĐHĐN với học tập 56
Bảng 3 12 Kết quả Kiểm định phương sai đồng nhất và kiểm định Anova 56
Bảng 3 13 Bảng đánh giá chỉ số vượt khó của SV năm thứ nhất trường ĐHSP – ĐHĐN với nhóm ngành 57
Bảng 3 14 Điểm các thành tố của chỉ số AQ với các nhóm ngành 58
Bảng 3 15 Kết quả Kiểm định phương sai đồng nhất và kiểm định Anova 58
Bảng 3 16 Kết quả phân tích Post - hoc 59
Bảng 3 17 Tương quan giữa chỉ số vượt khó và các khó khăn trong cuộc sống của SV năm thứ nhất 61
Bảng 3 18 Kết quả phân tích tương quan Pearson 62
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3 1 Đánh giá chung về các khó khăn trong cuộc sống của SV năm thứ nhất trường ĐHSP – ĐHĐN 44
Trang 5MỤC LỤC
NGHIÊN CỨU CHỈ SỐ VƯỢT KHÓ (AQ) CỦA SV NĂM THỨ NHẤT
TRƯỜNG ĐHSP – ĐHĐN
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Mục đích nghiên cứu 9
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 9
3.1 Đối tượng nghiên cứu: 9
3.2 Khách thể nghiên cứu: 9
4 Giả thuyết khoa học 9
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
6 Phạm vi nghiên cứu 10
6.1 Giới hạn về nội dung 10
6.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu 10
6.3 Giới hạn về khách thể nghiên cứu 10
7 Phương pháp nghiên cứu 10
8 Cấu trúc của đề tài 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỈ SỐ VƯỢT KHÓ 12
1.1 Tổng quan các nghiên cứu về chỉ số vượt khó của SV 12
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 12
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước 14
1.2 Đặc điểm tâm lý của sinh viên 15
1.2.1 Khái niệm sinh viên 15
1.2.2 Đặc điểm tâm lý của sinh viên 16
a Sự phát triển về mặt cơ thể 16
b Sự thích nghi của SV với cuộc sống và hoạt động mới 16
c Xu hướng phát triển nhân cách của SV 18
d Hoạt động học tập của SV 19
1.3 Cơ sở lý luận về Chỉ số vượt khó (Adversity Quotient - AQ) 20
1.3.1 Định nghĩa về khó khăn và đặc trưng khó khăn của SV năm nhất 20
a Định nghĩa về khó khăn 20
Trang 6b Các khó khăn của SV năm nhất 23
1.3.2 Khái niệm sự vượt khó 24
1.3.3 Định nghĩa Chỉ số vượt khó 26
1.3.4 Cấu trúc của chỉ số vượt khó 26
a Cơ sở lý thuyết để xây dựng chỉ số vượt khó 26
b Các thành tố của chỉ số vượt khó 32
- C = Control: Khả năng kiểm soát 32
- O = (Ownership): Khả năng nhận trách nhiệm 32
- R=(Reach): Khả năng khống chế mức độ và phạm vi ảnh hưởng của nghịch cảnh 33
- E(Endurance): Nhận thức về tính bền vững của nghịch cảnh 33
Tiểu kết chương 1 36
CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Tổ chức nghiên cứu 37
2.1.1 Mô tả khách thể và mẫu nghiên cứu 37
a Khách thể nghiên cứu 37
b Mẫu nghiên cứu 39
2.1.2 Qúa trình nghiên cứu 40
2.2 Phương pháp nghiên cứu 40
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 40
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 40
a Phương pháp Trắc nghiệm 40
b Phương pháp điều tra 41
c Phương pháp thống kê toán học 42
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CHỈ SỐ VƯỢT KHÓ CỦA SV NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐHSP – ĐHĐN 44
3.1 Đánh giá chung về các khó khăn trong cuộc sống của SV năm thứ nhất 44
3.1.1 Các khó khăn chung trong cuộc sống của SV năm thứ nhất 44
3.1.2 Mức độ khó khăn của SV năm thứ nhất trường ĐHSP – ĐHĐN dưới lát cắt các nhóm ngành 45
3.1.3 Đánh giá mức độ khó khăn của SV năm thứ nhất trường ĐHSP – ĐHĐN dưới lát cắt xuất thân 47
Trang 73.2 Chỉ số vượt khó của SV năm thứ nhất trường ĐHSP – ĐHĐN 50
3.2.1 Kết quả chỉ số vượt khó chung của SV năm thứ nhất 50
3.2.2 Điểm thành phần trong chỉ số vượt khó của SV năm thứ nhất 52
3.2.3 Sự khác biệt của chỉ số vượt khó xét theo góc độ giới, xuất thân, kết quả học tập và nhóm ngành 53
3.2.3.1 Sự khác biệt về giới tính của chỉ số vượt khó ở SV năm nhất 53
3.3.2.2 Sự khác biệt từ góc độ xuất thân của chỉ số vượt khó ở SV năm nhất 54
3.2.2.3 Chỉ số vượt khó với kết quả học tập 56
3.2.2.4 Chỉ số vượt khó với các nhóm ngành 57
3.2.2.5 Chỉ số vượt khó với khó khăn 61
3.2.2.6 Mối quan hệ giữa các thành tố trong chỉ số vượt khó của SV năm thứ nhất trường ĐHSP – ĐHĐN 62
Tiểu kết chương 3 63
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Khuyến nghị 66
PHỤ LỤC 1: PHIẾU HỎI 72
PHỤ LỤC 2: CÁCH XỬ LÝ THANG ĐO CHỈ SỐ VƯỢT KHÓ (AQ- ADVERSITY QUOTIENT) 81 PHỤ LỤC 3: CÁC BẢNG SỐ LIỆU SPSS
Trang 8NGHIÊN CỨU CHỈ SỐ VƯỢT KHÓ (AQ) CỦA SV NĂM THỨ NHẤT
TRƯỜNG ĐHSP – ĐHĐN
1 Lý do chọn đề tài
SV nói chung và SV năm nhất nói riêng phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình học tập, giao tiếp, các hoạt động xã hội và sinh hoạt cá nhân [4] Đứng trước những khó khăn như vậy, SV cần có thời gian nhất định để thích ứng Sự thích ứng này ở mỗi SV không hoàn toàn như nhau, tùy thuộc vào đặc điểm tâm lý cá nhân và môi trường sống cụ thể của các em quy định [11]
Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, sau thời gian học tập ở trường Đại học,
đa số SV đã chủ động vươn lên, tìm cách vượt qua khó khăn, nhanh chóng thích nghi với môi trường xã hội mới [11] [2] [1] Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một bộ phận không nhỏ
SV thiếu ý chí, dễ dàng buông xuôi, từ bỏ khi gặp các khó khăn trong học tập và cuộc sống Tình trạng SV năm nhất bỏ học, bị cảnh cáo học vụ, bị buộc rút tín chỉ, bị đuổi học, rơi vào các tệ nạn như bài bạc, game online…là thực trạng chung của nhiều trường Đại học hiện nay [27], gây tốn kẽm lãng phí cho nhà trường và xã hội
Trong các khó khăn mà SV năm nhất phải đối mặt, chúng tôi cho rằng các khó khăn do điều kiện khách quan như kinh tế, hoàn cảnh gia đình… là một thực tế Nhiều
em phải bỏ học vì gia đình không đủ khả năng Song, trong bối cảnh xã hội hiện nay, chúng tôi cho rằng các lý do như thế chưa phải là rào cản lớn nhất Rất nhiều các tấm gương SV có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập, đạt được các thành tích cao Nhiều em ngay từ năm nhất đã đi làm thêm, bên cạnh việc trãi nghiệm, học hỏi thêm các
kỹ năng, các em đã cùng với gia đình chi trả cho công việc học tập của mình Ngoài ra,
sự hỗ trợ của các tổ chức trong và ngoài nhà trường, các chương trình khuyến học, học bổng đầu năm, đầu kỳ…vẫn phần nào tạo điều kiện thuận lợi để SV có thể đến trường
Có nghiên cứu đã chỉ ra không tồn tại sự khác biệt đáng kể giữa học sinh trung học ở nông thôn và thành thị về khả năng vượt qua khó khăn [22]
Như thế, rõ ràng có một yếu tố quyết định tạo nên sự khác biệt giữa các SV trong việc vượt qua các khó khăn, nghịch cảnh Chúng tôi cho rằng, yếu tố ấy là ý chí Sỡ dĩ như vậy, vì ý chí là hình thức tâm lí điều chỉnh hành vi tích cực nhất của con người, cho phép con người vượt qua mọi khó khăn, trở ngại để thực hiện đến cùng mục đích đã xác
Trang 9định [13] Năng lực này không phải tự nhiên ai cũng có, mức độ ý chí ở mỗi người là khác nhau, thể hiện trong từng hoàn cảnh cụ thể
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung nghiên cứu khả năng ứng phó của SV trước các khó khăn có thể gặp phải Nỗ lực tìm ra sự khác biệt trong khuynh hướng hành
vi hay nhận thức, cảm xúc của các SV có mức độ ý chí khác nhau từ đó dự báo mức độ thành công trong học tập của các em về sau Để làm được điều này, chúng tôi sử dụng lý thuyết về chỉ số vượt khó AQ của tác giả Paul G.Stoltz Đây là một lý thuyết đã được sử dụng phổ biến trên thế giới trong việc dự báo khả năng thành công tổng quát của một cá nhân hay tổ chức [23] Song tại Việt Nam, các nghiên cứu về chỉ số này còn rất hạn chế, cho đến hiện nay, các thông tin liên quan chủ yếu chỉ là các bài phân tích sơ lược trên một số trang báo mạng Các nghiên cứu trong lĩnh vực này về SV càng ít Như vậy, nghiên cứu này góp phần bổ sung một phần cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu khả năng vượt khó của SV năm thứ nhất dựa trên lý thuyết AQ, làm cơ sở cho các nhà giáo dục, giáo viên, và chính các bạn SV hiểu rõ hơn về khả năng vượt khó của mình
Từ đó đề xuất các biện pháp rèn luyện, nâng cao khả năng vượt khó, thích nghi với bối cảnh xã hội ngày càng có nhiều khó khăn, thách thức cho SV như hiện nay Phát xuất từ
thực tế xã hội và những lập luận nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Chỉ số vượt khó của SV năm thứ nhất trường ĐHSP ĐHĐN”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm khảo sát và đánh giá chỉ số vượt khó của SV năm thứ nhất trường ĐHSP Đà Nẵng, từ đó đưa ra một số khuyến nghị cho SV và hoạt động đào tạo tại trường ĐHSP giúp SV có khả năng vượt khó thấp nhanh chóng thích nghi với môi trường học tập của giáo dục đại học
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Chỉ số vượt khó của SV năm thứ nhất trường ĐHSP - ĐHĐN
3.2 Khách thể nghiên cứu:
SV năm thứ nhất trường ĐHSP - ĐHĐN
4 Giả thuyết khoa học
- Đa phần SV năm nhất trường ĐHSP – ĐHĐN có chỉ số vượt khó cao
Trang 10- Có sự khác biệt về kết quả của chỉ số vượt khó giữa các SV liên quan đến các yếu
tố về giới, ngành học, xuất thân gia đình
- SV có kết quả học tập tốt thường có chỉ số vượt khó cao hơn các SV có kết quả học tập thấp hơn
- SV gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống có chỉ số vượt khó cao hơn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xuất phát từ mục đích và các giả thuyết khoa học, đề tài xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận về chỉ số vượt khó của SV
- Khảo sát chỉ số vượt khó, phân tích, làm rõ mức độ, đặc điểm chỉ số vượt khó của
SV năm nhất Trường ĐHSP ĐHĐN và chỉ ra mối quan hệ giữa chỉ số vượt khó với các yếu tố liên quan
- Đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng vượt khó của SV năm nhất Trường ĐHSP ĐHĐN
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về nội dung
Phát xuất từ mục đích nghiên cứu, đề tài tập trung phân tích các đặc điểm về khả năng vượt khó của SV dựa theo các thành tố CORE của lý thuyết về chỉ số vượt khó
(AQ) của tác giả P.Stoltz
6.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
- Đề tài được tiến hành tại Trường ĐHSP, đại học Đà Nẵng
6.3 Giới hạn về khách thể nghiên cứu
- Đề tài tiến hành nghiên cứu trên mẫu đại diện gồm 318 SV năm nhất, đại diện cho hơn 1000 SV năm nhất của trường ĐHSP Đà Nẵng, niên khóa 2018 – 2022
7 Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu lý luận: phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra bằng phiếu hỏi (Anket), Phương pháp trắc nghiệm (Test)
- Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học (Sử dụng phần mềm SPSS 22.0)
8 Cấu trúc của đề tài
Trang 11Báo cáo tổng kết công trình nghiên cứu gồm các phần: Mở đầu; Nội dung; Kết luận; Khuyến nghị; Tài liệu tham khảo; Phụ lục
Phần nội dung có cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về chỉ số vượt khó của SV năm thứ nhất
Chương 2 Tổ chức nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu thực trạng chỉ số vượt khó của SV năm thứ nhất Trường ĐHSP, ĐHĐN
Trang 12CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỈ SỐ VƯỢT KHÓ 1.1 Tổng quan các nghiên cứu về chỉ số vượt khó của SV
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Khái niệm Chỉ Số Vượt Khó (AQ) lần đầu tiên được Paul Stoltz đưa ra vào năm
1997 trong cuốn sách “AQ – Chỉ số vượt khó: Biến khó khăn thành cơ hội” Từ đó đến
nay, lý thuyết về chỉ số này tiếp tục được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống và phổ biến trên toàn thế giới Số lượng ngày càng tăng của các nghiên cứu dựa trên lý thuyết này đã chứng minh AQ có thể được áp dụng
để nâng cao hiệu quả làm việc cũng như dự đoán khả năng phục hồi và vượt qua nghịch cảnh của mọi đối tượng từ cá nhân đến nhóm, tổ chức, cộng đồng…Kết quả của chỉ số này có thể dự báo hiệu quả hoạt động; khả năng học hỏi; sức khỏe tinh thần; lòng kiên trì;
sự tiến bộ theo thời gian…[23] Với ý nghĩa thiết thực của mình, trong nhiều đối tượng
áp dụng lý thuyết này, nghiên cứu về chỉ số vượt khó của SV nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này
Nhận thức được những khó khăn, mâu thuẫn mà một SV Đại học, đặc biệt là các
SV năm thứ nhất phải đối mặt Viện Công nghệ và Nhân văn Châu Á (FAITH) đã xây dựng một chương trình hỗ trợ, đồng hành cùng các SV dựa trên nền tảng của chỉ số vượt khó AQ, hầu giúp họ đối diện và vượt qua được những thách thức của cuộc sống đại học Trong chương trình này, giảng viên đóng vai trò là người cố vấn cho từng SV kiểm tra kết quả học tập của họ, để giúp giải quyết các mối quan tâm và nói chung giám sát sự phát triển của SV như một cá nhân và một chuyên gia thực sự Một công trình nghiên cứu
đã được thực hiện để kiểm chứng tính hiệu quả của mô hình này Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra có sự ảnh hưởng đáng kể trong việc nâng cao chỉ số AQ và khả năng vượt qua khó khăn của các SV sau khi họ tham gia chương trình cố vấn của nhà trường [19]
Nghiên cứu của Amparo, Maureen M tại Đại học Giáo dục, Nghệ thuật và Khoa học De La Salle Lipa đã chứng minh có mối quan hệ giữa chỉ số vượt khó với kỹ năng xã hội của các nhà lãnh đạo SV 105 lãnh đạo SV đại học, từ 15 đến 21 tuổi, trong đó 38 là nam và 67 là nữ đã tham gia thực hiện cuộc khảo sát Kết quả cho thấy có một mối quan
hệ đáng kể giữa chỉ số vượt khó và Kỹ năng xã hội Điều này có nghĩa là khi mức độ nghịch cảnh tăng, trình độ kỹ năng xã hội cũng tăng và ngược lại Khả năng của một cá
Trang 13nhân thích nghi với các tương tác xã hội giúp một cá nhân vượt qua những thử thách khác nhau trong cuộc sống [16]
Trong lĩnh vực giáo dục, các nghiên cứu nhằm mục đích kiểm chứng mối quan hệ giữa chỉ số vượt khó AQ và kết quả học tập chưa có sự nhất quán do có sự khác biệt về bối cảnh văn hóa, cỡ mẫu và các quốc gia khác nhau Một nghiên cứu được thực hiện với các SV Đại học Bách Khoa tại Malaysia cho thấy AQ của SV không ảnh hưởng nhiều đến thành tích học tập, tuy nhiên AQ có liên hệ tích cực đến thành tích học tập của họ [20]
Một số nghiên cứu khác lại chỉ ra mối liên hệ tích cực giữa chỉ số vượt khó AQ và kết quả học tập [17] [21] [24] Tuy nhiên, không hẳn cả 4 thành tố CORE của thang đo
AQ đều có sự ảnh hưởng như nhau Một nghiên cứu của Raymon P Espaňola đối với một nhóm các các SV năm ba và năm tư của trường Đại học bang Mindanao (MSU) cho
thấy chỉ có yếu tố “O-nguồn gốc và trách nhiệm” được chứng minh có ý nghĩa trong mối
quan hệ giữa AQ và kết quả học tập Những phát hiện này cho thấy sự khác biệt trong kết quả học tập của SV đại học sẽ được giải thích rõ hơn bởi xu hướng một người chịu trách nhiệm về nghịch cảnh cuộc sống chứ không phải bởi toàn bộ AQ như là một cấu trúc [17]
Một nghiên cứu khác được tiến hành với các SV đến từ Đại học Hồi giáo Negeri (UIN) Syarif Hida yatullah Jakarta, Indonesia cũng đã chỉ ra chỉ số vượt khó có khả năng
dự đoán cũng như có ảnh hưởng đáng kể đến thành tích học tập môn toán của SV Tuy nhiên, nghiên cứu cũng khẳng định ngoài kết quả AQ, vẫn còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến thành tích học tập môn toán như năng lực tự học; động cơ học tập; môi trường học tập; phong cách giáo dục của cha mẹ [24] Kết quả của nghiên cứu khá tương đồng
với nghiên cứu của (Espaňola, 2016) khi chỉ ra rằng yếu tố C – Kiểm soát và yếu tố O – Nguồn gốc và trách nhiệm là có ảnh hưởng đáng kể đến thành tích học tập môn toán của
SV, trong khi các yếu tố còn lại không đáng kể
Một nghiên cứu mới đây tại Đại học bang Bulacan-Bustos, Edwin A Estrella đã
sử dụng thang đo lòng tự trọng Rosenberg (RSES) và AQ Profile để nghiên cứu mối quan
hệ giữa chỉ số vượt khó và mức độ tự trọng của các SV năm ba Kết quả nghiên cứu cho thấy không có mối quan hệ đáng kể giữa mức độ tự trọng và nghịch cảnh cũng như các thành tố CO2RE của chỉ số này [18]
Trang 14Trong một nghiên cứu khác, tìm hiểu mối quan hệ giữa chỉ số vượt khó của giảng viên với kết quả học tập của SV đã chỉ ra tính hiệu quả của việc sử dụng thang đo chỉ số vượt khó trong việc kiểm tra và đánh giá năng lực của giáo viên Dựa trên các đánh giá này, các nhà hoạch định chính sách và quản lí giáo dục có thể đưa ra các cơ chế chuyên nghiệp nhằm hỗ trợ giáo viên một cách phù hợp và kịp thời Kết quả của nghiên cứu này
hỗ trợ nhận thức rằng phản ứng của giáo viên đối với nghịch cảnh là một yếu tố quan trọng trong kết quả học tập của SV Các SV của giáo viên có chỉ số nghịch cảnh cao có điểm trung bình cao so với những giáo viên có chỉ số nghịch cảnh thấp hơn Những dữ liệu này chỉ ra rằng chỉ số nghịch cảnh của giáo viên có ảnh hưởng đến kết quả học tập của SV [21]
Qua việc trình bày một số công trình nghiên cứu nêu trên, có thể rút ra một vài kết luận sau đây:
- Các nghiên cứu về chỉ số vượt khó AQ đã và đang nhận được sự quan tâm tích cực của nhiều nhà nghiên cứu và tỏ ra có hiệu quả trong việc ứng dụng để giải quyết các vấn
đề thực tiễn trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục
- Xu hướng nghiên cứu phổ biến là đặt biến AQ trong mối quan hệ với các biến khác để kiểm định mức độ tương quan và sự ảnh hưởng
- Kết quả các nghiên cứu còn chưa có sự thống nhất trong một số trường hợp Sự khác biệt này có thể do nhiều yếu tố khách quan (cỡ mẫu, bối cảnh văn hóa, đối tượng nghiên cứu…) và các yếu tố chủ quan do trình độ chuyên môn và mục đích nghiên cứu của nhà khoa học
- Khả năng ứng dụng, nghiên cứu các vấn đề dựa trên nền tảng lý thuyết AQ còn rất rộng và đa dạng, điều này tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu tiếp tục nghiên cứu và phát triển lý thuyết này Điều này càng có ý nghĩa khi lý thuyết AQ được nghiên cứu, ứng dụng và phổ biến để phù hợp với bối cảnh xã hội và con người Việt Nam
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước
So với chỉ số IQ hay chỉ số EQ, chỉ số AQ là một khái niệm còn khá mới mẻ đối với nhiều người Việt Nam Tuy vậy, một số nhà nghiên cứu đã bước đầu tìm hiểu và thích nghi lý thuyết này
Bài báo “Bước đầu tìm hiểu khó khăn và biểu hiện vượt khó của người khuyết tật vận động để tiến tới xây dựng chỉ số vượt khó (AQ) của người khuyết tật vận động” do
Trang 15Nguyễn Quang Uẩn – Nguyễn Thị Thủy tiến hành đã xem xét chỉ số vượt khó của người
khuyết tật vận động (KTVĐ) trên 3 mặt là Nhận Thức về việc vượt khó – Thái độ với việc vượt khó - Hành vi vượt khó Kết quả nghiên cứu đã đưa ra một số thông tin ban đầu
về chỉ số vượt khó của người KTVĐ, song nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được mức độ vượt khó thể hiện chỉ số vượt khó (AQ) của người KTVĐ Tuy nhiên, nghiên cứu bước đầu đã cung cấp một số cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc tiếp tục nghiên cứu sâu rộng hơn tiến tới việc xây dựng chỉ số vượt khó cho người khuyết tật vận động [14]
Nghiên cứu khả năng vượt khó của SV thiệt thòi (SVTT) tại hai trường thuộc Đại học Huế, Trần Thị Tú Anh – Nguyễn Thị Diễm Hằng (2012) đã sử dụng trắc nghiệm chỉ
số AQ, phiên bản AQ Profile (AQP) QuickTake 1.0 của Stoltz làm phương pháp chủ đạo Kết quả nghiên cứu cho biết điểm trung bình AQ của SV thiệt thòi là 124, điểm số này thấp hơn mức trung bình của thế giới Tác giả cho rằng dù có thể phải đối diện với nhiều khó khăn hơn, mức độ khó khăn cao hơn so với những SV khác, khả năng vượt khó của SVTT lại hạn chế hơn Điều này gây bất lợi “kép”đối với SVTT, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống tinh thần, kết quả học tập và có thể cả sự thành công trong tương lai Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra chỉ số vượt khó của SVTT là nữ cao hơn các
SV nam, tuy nhiên sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê chỉ thể hiện ở chỉ số C và O2 Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra có sự khác biệt về khả năng vượt khó ở các SV theo năm học SV năm nhất và hai có chỉ số vượt khó cao hơn các SV năm 3 [1]
Bên cạnh các đề tài nghiên cứu, các bài viết về chỉ số AQ trên các trang web, báo mạng thì phổ biến hơn Các bài viết này thường nhắm đến đối tượng là các doạnh nhân, những người làm trong lĩnh vực kinh doanh, các bạn SV, thanh niên, hay là phụ huynh
mong muốn nâng cao chỉ số AQ cho con cái của mình Một số bài viết như “chỉ số AQ & bản lĩnh vào đời [26] nâng cao chỉ số vượt khó bằng thể thao[28]; chỉ số vượt khó AQ – yếu tố quyết định thành công của trẻ[31]…
Có thể thấy, so với nước ngoài, các công trình nghiên cứu về chỉ số AQ ở Việt nam là rất khiêm tốn cả về số lượng các nhà nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
1.2 Đặc điểm tâm lý của sinh viên
1.2.1 Khái niệm sinh viên
Thuật ngữ SV có nguồn gốc từ tiếng Latinh có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức [12]
Trang 16Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia “SV là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học Quá trình học của họ theo phương pháp chính quy, tức là họ đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học” [33]
Thanh niên SV là một tầng lớp xã hội quan trọng đối với mọi quốc gia Họ có tri thức, có trình độ chuyên môn và là nguồn dự trữ chủ yếu cho đội ngũ những chuyên gia theo các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau trong xã hội [7] 18 tuổi, SV đã là một công dân với đầy đủ quyền hạn và nghĩa vụ trước pháp luật Có thể nói, họ là những người trưởng thành Tuy nhiên, do đang ngồi trên ghế nhà trường, chưa tham gia trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất nên tính chất trưởng thành của người thanh niên SV có những nét đặc trưng riêng Họ vẫn được gia đình và xã hội chu cấp cho ăn học, chưa chính thức bắt đầu cuộc sống tự lập, dẫn đến trưởng thành về mặt xã hội muộn hơn so với những người đã đi làm [7]
Trong đề tài này, SV năm thứ nhất được hiểu là những người đang tham gia vào quá trình học tập ở năm học đầu tiên theo khung chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng
1.2.2 Đặc điểm tâm lý của sinh viên
a Sự phát triển về mặt cơ thể
Đa số SV năm nhất có độ tuổi dưới 20 tuổi Sự phát triển cơ thể của thanh niên –
SV trong thời kì này đã hoàn thành và ổn định sau những biến động sâu sắc của tuổi dậy thì Về mặt sinh học thì đây là giai đoạn hoàn tất sự thay da đổi thịt của những thanh niên còn có vẻ nam tính thành những thiếu niên nam, nữ riêng biệt do sự tăng hoocmon nam lên tới mức gấp 10-15 lần và ngược lại, hoocmon nữ trong cơ thể nữ cũng có số lượng nhiều để áp đảo tác dụng của một phần hoocmon nam còn sót lại trong cơ thể nữ
b Sự thích nghi của SV với cuộc sống và hoạt động mới
Bước vào môi trường đại học, một cuộc sống học tập và xã hội mới ngày càng mở rộng ra trước mắt SV Trong môi trường mới này, để hoạt động học tập có kết quả đòi hỏi
SV phải có sự thích nghi với các hoạt động diễn ra trong trường đại học Qúa trình thích nghi này chủ yếu tập trung ở các mặt [11]:
Nội dung học tập mang tính chuyên ngành
Trang 17Phương pháp học tập mới mang tính nghiên cứu khoa học
Môi trường sinh hoạt mở rộng
Nội dung và cách thức giao tiếp phong phú và đa dạng
Để có thể thích ứng với tất cả những vấn đề trên, SV cần có một khoảng thời gian nhất định Sự thích ứng này ở mỗi SV không hoàn toàn như nhau, tùy thuộc vào đặc điểm tâm lý cá nhân và môi trường sống cụ thể của các em quy định Có những SV dễ dàng và nhanh chóng hòa nhập với môi trường xã hội mới, nhưng lại gặp khó khăn trong việc thích ứng với phương pháp và cách học mới Có người cảm thấy ít khó khăn trong việc tiếp thu tri thức, dễ vượt qua cách học chuyên sâu ở đại học nhưng lại lúng túng, thiếu tự tin trong việc hòa nhập với bạn bè và các nhóm hoạt động trong lớp, trong trường Một số
SV hòa đồng, cởi mở còn một số khác lại thận trọng, khép kín [11]
Trong số các khó khăn mà SV có thể gặp phải, khó khăn có tính chất bao trùm hơn
cả là việc thích nghi được với nội dung, phương pháp học tập mới có tính chất nghiên cứu khoa học và học nghề đối với những chuyên gia tương lai Mức độ thích nghi này có ảnh hưởng trực tiếp tới thành công trong học tập của SV Tuy nhiên, có thể nhận thấy, mức độ thích nghi đối với hoạt động học tập của các em SV năm nhất còn nhiều hạn chế [11]
Một nghiên cứu được thực hiện với khách thể nghiên cứu là các em SV là người dân tộc thiểu số học tập ở Trường Đại học Tây Nguyên cho thấy khả năng thích ứng của các em đối với hoạt động học tập ở đại học là chưa cao Ở SV còn nhiều đặc điểm gây khó khăn cho sự thích ứng với hoạt động học tập [8] Nghiên cứu đánh giá Sự thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của SV Trường Đại học Luật Hà Nội được tiến hành khảo sát trên 355 SV Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn SV (76,1%) thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ biểu hiện ở mức trung bình Rất ít SV (20,8%) thích ứng ở mức độ khá với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ Mức độ thích ứng của SV với các hình thức học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ không đồng đều [10]
Để hoạt động học tập bậc đại học đạt kết quả tốt, thanh niên SV phải thích nghi với hoạt động học tập, hoạt động xã hội và môi trường sống mới Mặc dù sự thích ứng này diễn ra rất khác nhau đối với những SV khác nhau, nhưng nhìn chung, sau một thời gian học tập và sinh hoạt ở môi trường đại học, với lòng nhiệt tình, sức trẻ, tinh thần vượt
Trang 18khó và tình bạn chân thành của tuổi thanh niên, phần lớn SV nhanh chóng hòa nhập vào môi trường mới của giảng đường đại học [7]
c Xu hướng phát triển nhân cách của SV
Nhân cách là tổng hòa những đặc điểm, những thuộc tính tâm lí cá nhân quy định hành vi xã hội và giá trị xã hội của cá nhân đó Nhân cách SV là nhân cách con người trẻ đang được chuẩn bị để thực hiện chức năng người chuyên gia có trình độ nghiệp vụ cao trong một lĩnh vực hoạt động nào đó của xã hội
Ta có thể hình dung quá trình phát triển nhân cách SV trong quá trình học tập ở trường đại học như sau:
Năm thứ nhất SV chưa có những phẩm chất nghề nghiệp thuộc một ngành nhất định Họ là con em thuộc các dân tộc, các tầng lớp xã hội khau nhau ở nông thông và thành thị Do đó, các yếu tố bẩm sinh di truyền được biến đổi dưới ảnh hưởng của giáo dục gia đình, của trường phổ thông, các phong tục, tập quán địa phương, các điều kiện sống…khi vào trường đại học, SV đã có một số phẩm chất tương đối ổn định đại diện cho lối sống của tầng lớp, giai cấp và của địa phương mình Cho nên, trong tập thể SV năm thứ nhất thường có sự va chạm mạnh do tính độc lập của nhân cách con người trẻ Trong quá trình làm quen với cuộc sống tập thể đầu tiên ở trường đại học, SV thường có hành vi bắt chước lẫn nhau thể hiện bước đầu sự đồng nhất xã hội Ở đây SV chưa có quan điểm phân hóa đối với vai trò của mình
Sang năm thứ hai, SV đã quen với hầu hết các hình thức giảng dạy và giáo dục ở trường đại học Qúa trình thích ứng với hoạt động học tập đã cơ bản hoàn thành Do tích lũy được tri thức chung mà các nhu cầu văn hóa được hình thành rộng rãi
Năm thứ ba SV sẽ có hứng thú với hoạt động khoa học và học tập chuyên môn được phát triển theo chiều hẹp và sâu của nghề nghiệp đã chọn những phẩm chất có lien quan và phù hợp với nghề nghiệp tương lai được phát triển mạnh
Năm cuối cùng (năm học thứ tư/năm) SV thực sự tập làm công việc của người lao động tương lai khi đi thực tập ở các cơ sở thuộc lĩnh vực nghề nghiệp của mình Khi đi thực tập, SV được thể nghiệm mình trong đời sống, đối chiếu, đánh giá lại các giá trị có liên quan tới nghề nghiệp của mình, tích cực tìm tòi các thông tin liên quan tới nghề nghiệp và rèn luyện các kỹ năng cần thiết
Trang 19Xu hướng chung của sự phát triển nhân cách SV là phát triển tính toàn vẹn, các chuẩn mực ứng xử của SV được biến đổi từ nước đôi, cứng nhắc và tự cho mình là trung tâm trở thành các chuẩn mực:
- Ứng xử có nhân tính (quan tâm đến những sở thích của người khác)
- Cá nhân hóa (khẳng định những giá trị cốt yếu của mình trong khi vẫn tôn trọng những người khác)
- Thích hợp (làm cho những chuẩn mực ứng xử của cá nhân mình tương xứng với những hành vi có trách nhiệm về mặt xã hội)
Như vậy, có thể nhận thấy, xu hướng phát triển nhân cách của SV là đi từ cái riêng
lẻ đến cái toàn vẹn, nhân cách của SV được bộc lộ, hình thành và phát triển trong hoạt động và thông qua hoạt động [12]
d Hoạt động học tập của SV
Hoạt động học tập, sáng tạo là hoạt động cơ bản và quan trọng của thanh niên SV Tuy nhiên, nó có những tính chất và sắc thái mới, khác so với việc học ở phổ thông Hoạt động học tập trong các trường đại học mang tính chuyên ngành, phạm vi hẹp hơn, sâu sắc hơn nhằm đào tạo những chuyên gia thuộc các lĩnh vực ngành nghề cho đất nước [7]
Hoạt động học tập ở đại học là một loại hoạt động tâm lí được tổ chức một cách độc đáo của SV nhằm mục đích có ý thức là chuẩn bị trở thành người chuyên gia phát triển toàn diện sáng tạo và có trình độ nghiệp vụ cao Những nét đặc trưng cho hoạt động này là sự căng thẳng mạnh mẽ về trí tuệ, trong đó bao gồm các quá trình tâm lí cao, các hoạt động khác nhau và nhân cách người SV nói chung [12]
Hoạt động học tập ở SV có một số đặc điểm chung như sau:
- Có tính chất độc đáo về mục đích và kết quả hoạt động: hoạt động học tập làm thay đổi chính bản thân người SV SV học tập để tiếp thu các tri thức khoa học, hình thành những kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp, phát triển những phẩm chất nhân cách người chuyên gia tương lai
- Hoạt động diễn ra trong điều kiện có kế hoạch vì nó phụ thuộc vào nội dung chương trình, mục tiêu, phương thức và thời hạn đào tạo
- Phương tiện hoạt động là các thư viện với sách vở, phòng thực nghiệm với các thiết bị bộ môn…
Trang 20- Tâm lí diễn ra trong hoạt động học tập của SV với nhịp độ căng thẳng mạnh mẽ về trí tuệ Họ phải chịu một sự quá tải và điều đó thể hiện rất rõ qua các kì kiểm tra, thi, bảo
vệ khóa luận, luận văn
- Hoạt động của SV mang tính độc lập, trí tuệ cao
Từ những đặc điểm trên cho thấy nét đặc trưng trong hoạt động học tập của SV là
sự căng thẳng mạnh mẽ về trí tuệ trong đó bao gồm việc thực hiện các quá trình tâm lí cao (tư duy, xúc cảm, ý chí), các động cơ khác nhau và có thể nói về toàn bộ nhân cách người SV [20] Tri thức lý luận và thực tiễn thu được từ những năm tháng SV có thể chiếm phần lớn tri thức con người có được trong cả cuộc đời [7]
Qua 2 định nghĩa nêu trên có thể hiểu “Khó khăn” là nói đến những trở ngại, cản trở đòi hỏi phải có sự cố gắng, nỗ lực để vượt qua
Tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể mà có thể kể ra nhiều loại khó khăn khác nhau: khó khăn về kinh tế, khó khăn về sức khỏe, xã hội, tâm lý…
Nghiên cứu về các khó khăn của con người, Paul G.Stoltz (2017) cho rằng “AQ ngày càng trở nên quan trọng hơn trong bối cảnh hiện nay, khi khó khăn mỗi ngày một nhiều hơn Lãnh đạo doanh nghiệp, trẻ em, doanh nhân, giáo viên, người làm nghề chuyên môn, các bậc cha mẹ, thanh thiếu niên…đều nhận thấy những thách thức ngày càng lớn – những khó khăn, trở ngại không ngừng trong cuộc sống Cho dù con người có giải quyết những thách thức này tốt đến đâu đi chăng nữa, thì cường độ và tần suất của chúng vẫn không ngừng tăng lên Khó khăn ngày càng nhiều, xuất hiện sớm hơn và dai dẳng hơn bao giờ hết” [23]
Để dễ hình dung, G.Stoltz đã đưa ra mô hình “Ba cấp độ khó khăn” để mô tả các khó khăn chính mà chúng ta gặp phải Mô hình giới thiệu 3 cấp độ khó khăn theo hình tháp, với đỉnh trên cao là các khó khăn thuộc về xã hội, tiếp đến là các khó khăn thuộc về nơi làm việc, ở tầng đáy của tháp là các khó khăn thuộc về cá nhân (chủ thể) Mô hình
Trang 21này diễn tả thực tế ngày càng rõ rệt, rằng khó khăn là một phần phổ biến, thực sự và không thể tránh khỏi của cuộc sống Mô hình này cũng cho thấy những thay đổi tích cực
ở cả ba cấp độ phải bắt đầu từ chính chủ thể, với tư cách là cá nhân, rồi phát triển lên để tác động tới nơi làm việc, và cuối cùng là cấp độ rộng nhất – xã hội Muốn tạo ra thay đổi, chủ thể phải luôn kiên cường vượt qua mọi khó khăn thách thức để tiến lên phía trước Để làm được điều đó, chủ thể cần phát triển một chỉ số AQ đủ cao
Các nghiên cứu xã hội học, tâm lý học, giáo dục học…và nhiều nghiên cứu liên quan đã chứng minh không chỉ người lớn mà giới trẻ cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn trong cá nhân và học tập, trong đó hoạt động học tập là một trong những nguồn gây căng thẳng chính và tạo ra một số loại nghịch cảnh nhất định Họ phải chiến đấu với các cuộc thi, quá nhiều bài tập, thất bại và mối quan hệ kém với các SV hoặc giảng viên khác, phải chịu một áp lực lớn để đạt điểm số cao và thể hiện tốt nhất trong các kỳ thi, nhận xét bất lợi của giáo viên và phụ huynh, và các khía cạnh khác liên quan đến môi trường giáo dục của họ Bên cạnh đó các chương trình giảng dạy, thời gian học không phù hợp, môi trường học tập không thích hợp, sự ít quan tâm của giáo viên, các quy tắc
kỷ luật phi lý, công việc học tập quá mức hoặc không cân bằng, phương pháp giảng dạy, thái độ thờ ơ của giáo viên luôn tạo ra những khó khăn ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc
sống của SV.(Dẫn theo[22])
Không chỉ việc học, các căng thẳng trong gia đình như ly hôn, mâu thuẫn cá nhân
và trầm cảm của cha mẹ cũng dẫn đến căng thẳng ở thanh thiếu niên làm suy giảm các chức năng tâm lý và xã hội Nếu SV không thể xử lý các điều kiện này, họ có thể rơi vào một số bệnh tâm thần với những rối loạn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thể chất và tinh thần của họ Nếu mức độ của rối loạn quá cao vượt quá sự chịu đựng của họ, những
SV như vậy thường có xu hướng tự tử như một sự giải thoát Tất cả các nhóm tuổi học
sinh phải đối mặt với các tình huống bất lợi khác nhau.(Dẫn theo[22])
Trong quá trình hoạt động chủ thể có thể gặp những trở ngại làm cho hoạt động đó không thể tiếp tục hay không đạt được hiệu quả hoặc giảm hiệu quả của hoạt động thì những vấn đề đó được xem là các yếu tố gây nên khó khăn Những yếu tố đó có thể là những yếu tố bên ngoài như: điều kiện, phương tiện hoạt động,…; có thể là những yếu tố bên trong xuất phát từ bản thân mỗi cá nhân khi tham gia hoạt động như: nhận thức, tình cảm, thái độ, năng lực, vốn kinh nghiệm, thao tác kỹ năng tiến hành hoạt động,… Trong
Trang 22đó, yếu tố bên trong ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình và kết quả hoạt động của con người Yếu tố này có thể chia ra làm hai loại: yếu tố sinh học và yếu tố tâm lý Trong đó, những khó khăn do yếu tố tâm lý như: nhận thức, thái độ, tình cảm, năng lực riêng của cá nhân, vốn kinh nghiệm sống của chủ thể,…tạo nên gọi là những khó khăn tâm lý [15]
Hiện nay, trong tâm lý học, chưa có một khái niệm thống nhất về vấn đề “khó khăn tâm lý” Theo tác giả Cao Xuân Liễu, “Khó khăn tâm lý là tổ hợp các thuộc tính, các trạng thái, các đặc điểm nhân cách không phù hợp với đối tượng hoạt động làm cho quá trình hoạt động gặp khó khăn, làm cho chủ thể không phát huy được khả năng của
mình, dẫn đến kết quả hoạt động bị hạn chế”(Dẫn theo [15])
Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn – Nguyễn Thị Thủy, “Khó khăn tâm lý là toàn bộ những nét tâm lý của cá nhân nảy sinh ở chủ thể trong quá trình hoạt động không phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, gây ảnh hưởng không có lợi cho quá trình và kết quả của hoạt động” [14]
Nhìn chung, hiện nay có ba nhóm ý kiến sau về khái niệm khó khăn tâm lý [9]: Nhóm ý kiến thứ nhất cho rằng: Khó khăn tâm lý là tổ hợp các thuộc tính, các trạng thái, các đặc điểm nhân cách không phù hợp với đối tượng hoạt động làm cho quá trình hoạt động gặp khó khăn, làm cho chủ thể giao tiếp không phát huy được khả năng của mình dẫn đến kết quả hoạt động bị hạn chế
Nhóm ý kiến thứ hai quan niệm: Khó khăn tâm lý là các trạng thái tâm lý cá nhân thể hiện tính thụ động lúng túng của chủ thể khi gặp những tình huống, những điều kiện làm thay đổi, cản trở quá trình hoạt động và làm sai lệch kết quả hoạt động
Nhóm ý kiến thứ ba thì xem khó khăn tâm lý là sự thiếu thích ứng, thiếu linh hoạt của chủ thể trong quá trình hoạt động và trong việc thực hiện mục tiêu Điều này làm cho chủ thể không kịp thời huy động được những đặc điểm cá nhân cho phù hợp với yêu cầu, nội dung, đối tượng và hoàn cảnh công việc
Trong các dạng khó khăn tâm lý, Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập là một một hiện tượng tâm lý phức tạp, nảy sinh trong quá trình học tập của người học và có thể được xem là khó khăn có tính chất bao trùm nhất đối với SV [11] Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập có thể được hiểu là những đặc điểm tâm lý cá nhân nảy sinh trong quá trình học tập của người học, gây ra những cản trở làm ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình
và hiệu quả hoạt động của chủ thể đó [15]
Trang 23b Các khó khăn của SV năm nhất
Khó khăn trong cuộc sống của SV được hiểu là những vấn đề nảy sinh trong quá trình sống và hoạt động của SV Những vấn đề này gây nhiều bất lợi và cản trở các dạng hoạt động đa dạng của SV, trong đó nổi bật nhất là các dạng hoạt động học tập, giao tiếp, hoạt động xã hội và sinh hoạt cá nhân Đó là những vấn đề chứa đựng nhiều mâu thuẫn
và luôn đòi hỏi SV phải nỗ lực vượt qua để giải quyết chúng một cách hiệu quả nhằm thích nghi với đời sống của SV [4]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Tứ và Đào Thị Duy Duyên (2013) tại trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh cho thấy những lĩnh vực mà SV gặp nhiều khó khăn nhất là hoạt động xã hội (ĐTB = 3,58), tiếp theo là khó khăn trong sinh hoạt (ĐTB = 3,52), ở vị trí thứ 3 là khó khăn trong học tập (ĐTB = 3,50) Ba dạng hoạt động này SV đều đánh giá gặp khó khăn ở mức độ cao Điều này có thể giải thích là do đặc điểm các dạng hoạt động này ở bậc đại học rất khác biệt so với bậc học phổ thông Bắt đầu từ năm nhất đại học,
SV phải tích cực tham gia các hoạt động xã hội nhiều hơn để khẳng định vai trò, vị trí của mình đối với xã hội Việc thích ứng với nội dung và phương pháp học mới ở đại học cũng là một thử thách lớn Hơn nữa, trong sinh hoạt SV phải độc lập, tự chủ về tài chính
và nhiều phương diện khác nên cũng dễ nảy sinh những khó khăn nhất là đối với SV ở các tỉnh xa về trọ học tại thành phố [4]
Một khó khăn phổ biến đối với SV là việc thích nghi với hoạt động học tập theo
hệ thống tín chỉ Kết quả nghiên cứu “Thực trạng khó khăn của SV học kì 3 trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình học tập theo hệ thống tín chỉ”, do Đoàn Văn Điêu (2013) tiến hành cho biết các em SV năm 2 đánh giá rằng họ gặp nhiều khó khăn ở những vấn đề mang tính thủ tục, về chi phí học tập và về mặt tâm lí, kế đến là những khó khăn thuộc về phương pháp giảng dạy và học tập, về thời gian [5]
Trong cuốn sách Tôi tài giỏi – Bạn cũng thế, Adam Khoo (2018) đã chỉ ra SV ở các nước trên thế giới đều có chung 16 vấn đề khó khăn phổ biến sau đây: Trí nhớ kém; Thích trì hoãn công việc; Lười biếng; Nghiện trò chơi điện tử, xem tivi, internet ;Gặp khó khăn trong việc hiểu bài giảng; Dễ dàng bị xao nhãng; Khả năng tập trung ngắn hạn;
Mơ màng trong lớp; Sợ thi cử; Hay phạm lỗi do bất cẩn; Chịu áp lực từ gia đình; Có quá nhiều thứ để học và có ít thời gian; Không có động lực học; Dễ dàng bỏ cuộc; Thầy cô dạy không lôi cuốn; Không có hứng thú đối với môn học [30]
Trang 24Trong bài viết “Common Problems College Freshmen Might Face”, tác giả Patricia Gorden Neill (2013) đã nêu lên một số khó khăn mà SV năm nhất có thể gặp phải, các khó khăn này không chỉ xảy ra ở SV năm nhất mà chúng có thể xuất hiện trong suốt quá trình học đại học của SV, các khó khăn bao gồm: Vấn đề với bạn cùng phòng; Giữ sức khỏe; Quản lý thời gian; Khó khăn về tài chính; Căng thẳng (stress) [32]
Trong đề tài này, chúng tôi chia các khó khăn mà SV năm nhất có thể gặp phải thành 4 nhóm khó khăn chính, bao gồm:
- Nhóm các khó khăn về hoạt động học tập: khó khăn trong việc đọc hiểu giáo
trình các môn học; khó khăn với các hình thức kiểm tra – đánh giá môn học; khó khăn khi sử dụng các trang thiết bị của nhà trường (máy chiếu, micro, dụng cụ thí nghiệm, máy tính ở phòng thực hành tin học…)…
- Nhóm các khó khăn về hoạt động giao tiếp: gặp khó khăn khi giao tiếp với
những người bạn nói giọng địa phương (Nghệ An, Quảng Trị, Huế, Phú Yên…); gặp khó khăn khi giải quyết các mâu thuẫn với bạn cùng lớp; gặp khó khăn trong việc tìm một ai
đó để tâm sự; gặp khó khăn khi giao tiếp với cán bộ, nhân viên của các phòng ban (phòng đào tạo, Công tác SV, Tài chính, Phòng nước…)…
- Nhóm các khó khăn về việc tham gia các hoạt động xã hội: gặp khó khăn trong
việc tiếp cận các thông tin về các hoạt động xã hội (thời gian, địa điểm…); gặp khó khăn
do thiếu các phương tiện cần thiết để tham gia các hoạt động xã hội (xe cộ, laptop,…); gặp khó khăn do bản thân còn rụt rè, thiếu tự tin khi tham gia các hoạt động xã hội…
- Nhóm các khó khăn về sinh hoạt: gặp khó khăn khi tìm kiếm chỗ ở phù hợp; gặp
khó khăn trong việc quản lí chi tiêu cá nhân; gặp khó khăn khi xây dựng thời gian biểu sinh hoạt hàng ngày; gặp khó khăn trong việc thích ứng với môi trường thành thị…
1.3.2 Khái niệm sự vƣợt khó
Về phương diện tâm lý học, vượt khó là một hành động ý chí thể hiện ở việc nhận thức ra các khó khăn, có thái độ đúng trước những khó khăn, có những hành vi nỗ lực để vượt lên trên khó khăn, đảm bảo cuộc sống bình thường [14]
Khi nói đến sự vượt khó của con người thì ý chí đóng một vai trò đặc biệt quan trọng Sở dĩ ý chí đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự vượt khó của con người là bởi
vì ý chí là mặt năng động của ý thức, ý chí là hình thức tâm lí điều chỉnh hành vi tích cực nhất của con người, là năng lực tâm lý cho phép con người vượt qua mọi khó khăn, trở
Trang 25ngại để thực hiện đến cùng mục đích đã xác định Sở dĩ như vậy là vì ý chí kết hợp được trong mình cả mặt năng động của trí tuệ lẫn mặt năng động của tình cảm đạo đức [13]
Một khái niệm khác cũng cần được quan tâm khi bàn đến sự vượt khó là khái niệm thích nghi và thích ứng Thích nghi là một khái niệm trọng tâm của sinh vật học, được áp dụng rộng rãi trong những quan điểm lý thuyết, ví dụ như: tâm lý học Gestal và thuyết phát triển trí tuệ của nhà tâm lý học Thụy sĩ J.Piaget giải thích các mối quan hệ qua lại giữa cá nhân và môi trường xung quanh như một quá trình cân bằng nội tại Thích nghi là
sự thích ứng của cấu trúc và các chức năng, các cơ quan và tế bào của cơ thể đối với những điều kiện của môi trường, hướng tới duy trì sự cân bằng nội tại Có nhiều loại thích nghi, như Thích nghi cảm giác; thích nghi tâm lý; thích nghi văn hóa xã hội; thích nghi xã hội…[3]
Thích ứng là phản ứng của cơ thể với những thay đổi của môi trường Về nguyên tắc, có hai phương thức thích ứng khác nhau của cơ thể đối với những thay đổi của điều kiện môi trường:
1) Thích ứng bằng cách thay đổi cấu tạo và hoạt động của các cơ quan Đây là phương thức phổ biến đối với động vật và thực vật
2) Thích ứng bằng cách thay đổi hành vi mà không thay đổi tổ chức Phương thức này chỉ đặc trưng cho động vật và gắn liền với sự phát triển tâm lý [3]
Trong nghiên cứu của mình, G.Stolz (2017) cho rằng “con người sinh ra với động lực cốt lõi là tiến lên” Hành trình đi lên hay hành trình vượt khó này “không chỉ hạn chế
ở mỗi cá nhân mà mọi tổ chức và nhóm làm việc đều cố gắng tiến lên phía trước và lên cao hơn” Để minh họa cho điều này, ông đã chỉ ra 3 nhóm người mà chúng ta có thể bắt gặp trên hành trình leo núi của mình “Những cá nhân này có cách phản ứng khác nhau đối với chuyến đi, và do đó dẫn đến nhiều mức độ thành công và vui sướng khác nhau trong cuộc đời họ”
Người bỏ cuộc: “Họ là những người lựa chọn không tham gia, trốn tránh, rút lui
và từ bỏ Đây là những người bỏ cuộc Họ từ bỏ việc leo núi, từ chối cơ hội mà ngọn núi đem lại Họ phớt lờ, ngụy tạo, hoặc từ bỏ động lực cốt lõi của con người là tiến lên và cùng với đó là rất nhiều điều mà cuộc sống ban cho họ.”
Người cắm trại: “Họ là những người chấp nhận tham gia, nhưng chỉ đi đến một
mức nhất định và nói “Đây là nơi xa nhất tôi có thể (hoặc muốn) đến” Không còn hứng
Trang 26thú leo núi, họ quyết định từ bỏ hành trình đi lên và tìm một vùng đất bằng phẳng, dễ chịu để trốn tránh khó khăn Và đó là nơi họ lựa chọn để sống nốt những năm tháng còn lại của đời mình Một số người coi việc đi lên được phần nào này đã là một thành công, theo ý nghĩa cuối cùng của từ đó Đây là một nhận thức sai lầm rất phổ biến ở những người coi thành công là một điểm đến cụ thể, trái với mục đích thực sự của chuyến đi.”
Người leo núi: “Họ là những người trung thành với hành trình đi lên suốt đời Bất
kể xuất thân là gì, có lợi thế hay chịu bất lợi, may mắn hay bất hạnh, họ vẫn tiếp tục tiến lên Người leo núi là những người luôn nghĩ đến khả năng, không bao giờ cho phép tuổi tác, giới tính, sắc tộc, khó khăn về thể chất và tinh thần hay bất kỳ trở ngại nào khác làm ảnh hưởng đến hành trình của mình.”
Trong cuốn sách “AQ – Chỉ số vượt khó, biến khó khăn thành cơ hội” G.Stolz
(2017) định nghĩa chỉ số vượt khó (Adversity Quotient – AQ) gồm hai phần chính: các lý luận khoa học và ứng dụng thực tế
Chỉ số này được hiểu trong 3 dạng thức sau đây:
Thứ nhất, AQ là một khái niệm mới để thấu hiểu và thúc đẩy tất cả các khía cạnh của thành công
Thứ hai, AQ là thước đo cách thức phản ứng của cá nhân đối với nghịch cảnh Thứ ba, AQ là một bộ công cụ có cơ sở khoa học vững chắc giúp nâng cao khả năng phản ứng với nghịch cảnh
Từ các định nghĩa nêu trên có thể hiểu, “Chỉ số vượt khó AQ là hệ số biểu thị khả năng và cách ứng phó của một người đối với những khó khăn trong cuộc sống”
1.3.4 Cấu trúc của chỉ số vượt khó
a Cơ sở lý thuyết để xây dựng chỉ số vượt khó
Chỉ số vượt khó AQ được xây dựng từ ba khối căn bản: Tâm lý học nhận thức – Khoa học về sức khỏe – Thần kinh học [23]
Trang 27 Tâm lý học nhận thức:
Khối căn bản này bao gồm một bộ các nghiên cứu tổng quát và ngày càng phát triển liên quan đến nhu cầu kiểm soát hoặc làm chủ cuộc sống của con người Một số lý thuyết nổi tiếng của Tâm lý học nhận thức đã được sử dụng để xây dựng nền móng cho
AQ như Lý thuyết bất lực do kinh nghiệm: Lý thuyết này giải thích tại sao nhiều người bỏ
cuộc hoặc nhanh chóng dừng lại khi phải đối mặt với những thách thức của cuộc sống Vì
thế, nó là yếu tố quan trọng nhất hình thành nên AQ; Lý thuyết quy kết, kiểu giải thích,
và tính lạc quan: Seligman và các nhà nghiên cứu khác phát hiện ra rằng những người
nhận thức về khó khăn là lâu dài, do bản thân, và có khả năng lan tỏa sang các lĩnh vực khác của cuộc sống thường phải chịu đau khổ trong tất cả các khía cạnh của cuộc đời, trong khi đó những người giải thích các sự kiện nghịch cảnh là do bên ngoài, tạm thời và
có giới hạn thường nhận được nhiều lợi ích, từ hiệu quả hoạt động cho đến sức khỏe Một
số các nghiên cứu khác đề cập đến Sức chịu đựng và khả năng chống chọi với nghịch cảnh; Hiệu quả bản thân, tâm điểm kiểm soát Các nghiên cứu này chỉ ra sức chịu đựng
và tính kiên cường là các yếu tố dự đoán chính xác hiệu quả làm việc và sức khỏe Sức chịu đựng có nền tảng là ý thức về cam kết, thách thức và kiểm soát Những người có khả năng chịu đựng và/hoặc sự kiên cường có thể giải quyết khó khăn tốt hơn những người khác Các nghiên cứu này cũng chỉ ra thành công chịu ảnh hưởng đáng kể của ý thức về kiểm soát hoặc làm chủ cuộc sống Thành công chịu ảnh hưởng lớn và có thể dự đoán được từ cách phản ứng và giải thích nghịch cảnh Cá nhân phản ứng với nghịch cảnh theo những cách thức nhất định và nếu không được kiểm soát, các cách thức phản ứng này sẽ duy trì như vậy cho đến suốt cuộc đời Các cách thức phản ứng này nằm trong tiềm thức
và bởi vậy chúng hoạt động ngoài tầm nhận thức [23]
Khoa học về sức khỏe
AQ và sức khỏe tinh thần có mối quan hệ mật thiết với nhau Từ các nghiên cứu liên quan đến sức khỏe của con người, đặc biệt là bệnh trầm cảm, G.STolz đã chứng minh những người phải chịu đau khổ do hậu quả của khó khăn gây ra thường có xu hướng cảm thấy tuyệt vọng và kết quả là trở nên trầm cảm [23] Các nghiên cứu về tính kiên cường, bền bĩ cũng biểu thị thêm rằng những người có khả năng vượt qua khó khăn
sẽ có sức khỏe tốt hơn Những nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý thần kinh, miễn dịch học
đã chứng minh được rằng tồn tại mối liên hệ trực tiếp, có thể đo lường được giữa cách
Trang 28nghĩ, cảm giác và những gì diễn ra trong cơ thể Theo đó, cảm xúc và cách suy nghĩ có vai trò lớn lao đối với sức khỏe thể chất và tinh thần Từ nhiều nghiên cứu nêu trên,
G.Stolz đã đi đến nhiều kết luận quan trọng: Cách phản ứng với nghịch cảnh và sức khỏe thể chất, tinh thần có mối quan hệ trực tiếp với nhau; Kiểm soát là nhân tố thiết yếu đối với sức khỏe và tuổi thọ; Cách phản ứng với nghịch cảnh (AQ) có ảnh hưởng đến chức năng miễn dịch, khả năng phục hồi sau phẫu thuật, và khả năng mắc các bệnh nguy hiểm đến tính mạng; Phản ứng tiêu cực với nghịch cảnh có thể dẫn đến trầm cảm
Thần kinh học
Dựa trên nghiên cứu của các nhà thần kinh học, cách thức AQ được hình thành cũng như các phương pháp để có thể thay đổi và phát triển khả năng vượt khó của con người đã được chứng minh Dựa trên các nghiên cứu này, G.Stolz đã đi đến các kết luận:
Não bộ được trang bị hoàn hảo để hình thành thói quen; Thói quen được quy định bởi vùng tiềm thức của não bộ; Các thói quen thuộc tiềm thức như AQ có thể được thay đổi ngay lập tức, sẵn sàng hình thành những thói quen mới sẽ được cũng cố dần theo thời gian
Như vậy, ba khối căn bản – tâm lý học nhận thức, tâm lý thần kinh, miễn dịch học, bệnh học thần kinh – đã cấu thành nên AQ
Mô tả một cách cụ thể, Chỉ số AQ được xây dựng dựa trên kết quả của nhiều nghiên cứu trong nhiều ngành khoa học khác nhau Các nghiên cứu ấy được mô tả một cách khái quát trong bảng dưới đây:
Bảng 1 1 Cơ sở khoa học AQ
Cơ sở khoa học AQ [36]
Nhân sinh học H Sinh học của con
người
Có những phản ứng sinh học cá nhân
và tập thể, cả mang tính xây dựng và phá hoại, phát sinh từ những kiểu phản ứng cụ thể đối với các sự kiện
Sinh học S, P Đời sống Hầu hết các sinh vật có một mức cơ
bản của khả năng phục hồi vốn có
Trang 29Sinh học H Tương tác của cuộc
sống trong môi trường
Môi trường là nguồn gốc của những thách thức và nghịch cảnh không thể đoán trước - một lực lượng quan trọng trong tuổi thọ và sức khỏe
Hóa sinh P
Làm thế nào các nguyên tử, được tạo thành từ hạt nhân và electron, và các cấu trúc mà chúng hình thành tương tác và phản ứng trong các dạng sống
Các mẫu phản ứng với nghịch cảnh
có thể được phát hiện ở cấp độ tế bào
và phân tử, với các hóa chất tích cực
và tiêu cực được xác định dựa trên các mẫu cụ thể
Tế bào học P Các tế bào sống
Các tế bào được kích thích bởi và phải phát triển thông qua những thách thức hoặc nghịch cảnh Môi trường không có nghịch cảnh có xu hướng kìm hãm sự tăng trưởng và phát triển
Công thái học S Ảnh hưởng của công
việc đối với con người
Kiểm soát nhận thức về cách công việc của một người tương quan trực tiếp với thời gian một người có xu hướng sống
Miễn dịch học P Bệnh và miễn dịch
Những người có AQ cao hơn thường
ít bị bệnh hơn và họ có sức khỏe tổng thể cao hơn
Khoa tự nhiên S Tâm lý của một người
Mọi người không phải lúc nào cũng
là những thẩm phán tốt nhất về khả năng phục hồi hoặc khả năng đối nghịch của chính họ hoặc của người khác Hầu hết mọi người đánh giá
Trang 30Sinh học thần
kinh P Giải phẫu hệ thần kinh
Các phản ứng căng thẳng có một tác động toàn diện, hệ thống Hậu quả rất khác nhau giữa các cá nhân và các kiểu phản ứng độc đáo của họ đối với nghịch cảnh
Thần kinh học H Mối liên quan giữa não
và hành vi
Neuropeptide có thể được phát hiện trong tất cả các hệ thống của cơ thể, ảnh hưởng triệt để đến năng lượng, hiệu suất và khả năng ở cấp độ tế bào
Vật lý P Tính chất của vật chất
và năng lượng
Năng lượng, cả tích cực và tiêu cực, trao đổi giữa các cá nhân dựa trên tương tác của họ không phụ thuộc vào sự gần gũi
Sinh lý P Quá trình của cuộc
sống
Nghịch cảnh là một lực lượng quan trọng trong sự tiến hóa của sự sống, thúc đẩy các hệ thống nội bộ vào một trạng thái cao
Tâm lý học H Sinh học của tâm trí
Quét não cho thấy rằng trực quan tập trung các phản ứng với các sự kiện bất lợi, khi so sánh với thực tế trải nghiệm sự kiện, tạo ra các phản ứng giống hệt nhau trong não
Trang 31Tâm sinh lý H Trạng thái nội tâm
hoặc tinh thần
Hạnh phúc có một thành phần di truyền mạnh mẽ, nhưng có ảnh hưởng lớn trong một phạm vi nhất định
Tâm lý học S Tâm tính, tính cách
hay tính cách
Sự lạc quan, giống như những đặc điểm tính cách cụ thể, có một thành phần di truyền nhỏ, nhưng phần lớn được rèn luyện trong tuổi trẻ
Neuropeptide có thể ảnh hưởng triệt
để đến hệ thống miễn dịch của một người và dễ bị tổn thương với bệnh tật
Xã hội học H Cơ sở sinh học của
hành vi con người
Các tế bào gương trong não tạo ra sự đồng cảm tự nhiên giữa con người, thực sự cho phép một người trải nghiệm trạng thái cảm xúc của người khác
Thần học S Tín ngưỡng tôn giáo
Nghịch cảnh, và những bài học mà nó dạy chúng ta, là một chủ đề trung tâm trong tất cả các văn bản và giáo lý tôn
Trang 32giáo chính Nghịch cảnh đóng vai trò then chốt trong sự phát triển tâm linh
b Các thành tố của chỉ số vƣợt khó
Xét về cấu trúc của thang đo AQ, khả năng vượt qua nghịch cảnh được phân tích dựa trên 4 đại lượng là: CORE, trong đó:
- C = Control: Khả năng kiểm soát
Mức độ chúng ta gây ảnh hưởng đến tình huống một cách tích cực và mức độ chúng ta kiểm soát được phản ứng của mình trước một tình huống hay một sự kiện nào
đó Đây chính là tiêu chuẩn rõ ràng để đánh giá tính kiên cường và sức mạnh Chỉ mục này nhằm trả lời câu hỏi:
+ Mức độ tác động của cá nhân làm thay đổi tình huống?
+ Cá nhân đánh giá khả năng kiểm soát của họ ở mức độ nào?
Nhà tâm lý học xã hội Ellen Langer và Judith Rodin đã tiến hành một nghiên cứu chứng minh rằng, trong số những người sống ở viện dưỡng lão, người nào có cơ hội tương tác với những thứ họ có thể kiểm soát được sẽ có tuổi thọ cao hơn Trong khoảng thời gian một năm rưỡi, những người được giao cây do y tá chăm sóc có tỷ lệ tử vong cao gấp đôi so với những người được giao cây và tự chịu trách nhiệm chăm sóc một mình Ý thức kiểm soát, hay làm chủ, là một yếu tố vô cùng quan trọng để tránh rơi vào tình trạng
bất lực do kinh nghiệm, phát triển khả năng chịu đựng, và nâng cao AQ (Dẫn theo[23])
Một thực nghiệm khác do Walter Mischel tiến hành trong vòng 10 năm đối với một nhóm trẻ tham dự thực nghiệm “Qùa tặng bị trì hoãn” Ông thấy rằng tự kiểm soát là một đặc tính bền vững Những trẻ không thể trì hoãn việc chờ đợi quà tặng trong tuổi tiền tiểu học thường được bố mẹ mô tả là không kiên nhẫn và có hành động bột phát Những trẻ biết chờ đợi được bố mẹ mô tả là có kỹ năng xã hội, trầm tĩnh và có thể vượt qua Stress Những trẻ có khả năng tự kiểm soát tốt nhất được điểm số cao nhất trong kì thi
đánh giá phổ thông (SAT – Scholastic Assessment Test) (Dẫn theo[6])
- O = (Ownership): Khả năng nhận trách nhiệm
Mức độ chúng ta nắm giữ, chịu trách nhiệm về nguyên nhân của sự việc và về việc thay đổi, cải thiện tình hình đã xảy ra, bất chấp kết quả của nó như thế nào Chỉ mục này xác định hai vấn đề:
Trang 33+ Mức độ cá nhân tự nhận trách nhiệm để cải thiện tình huống
+ Mức độ đóng góp trách nhiệm của cá nhân trong việc làm cho mọi việc tốt hơn
G.Stolz (2017) cho rằng “Khi chúng ta nhận trách nhiệm giải quyết hậu quả, thì cũng là lúc ngay lập tức chúng ta tăng cường được ý thức kiểm soát của bản thân đối với
sự kiện, tạo thêm sức mạnh cho bản thân để hành động, và phá vỡ cái vòng luẩn quẩn bất lực và tuyệt vọng có nguy cơ xảy ra Nhận trách nhiệm chính là tiếng gọi để hành động.”
“Chỉ cần một chút ít trách nhiệm, chứ không phải nhận lỗi, là đã góp phần quan trọng giúp chúng ta học hỏi, rút kinh nghiệm hoặc giải quyết bất kì vấn đề gì, cũng như phục hồi sau bất kì khó khăn nào, dù là lớn hay nhỏ.”[23]
- R=(Reach): Khả năng khống chế mức độ và phạm vi ảnh hưởng của nghịch cảnh
Mức độ chúng ta cho phép một nghịch cảnh nào đó ảnh hưởng, tác động đến các khía cạnh khác của đời sống và công việc Chỉ mục này tập trung vào hai vấn đề:
+ Mức độ ảnh hưởng của sự thất bại trong tình huống này đến các khía cạnh khác của công việc và cuộc sống
+ Phạm vi ảnh hưởng của nghịch cảnh ra ngoài tình huống hiện tại
Đứng trước một nghịch cảnh, chúng ta thường có xu hướng làm trầm trọng hóa vấn đề và thường tự cho rằng mình bất lực trước vấn đề xảy ra Tuy nhiên, thật ra không
có bằng chứng nào cho thấy điều đó là đúng sự thật, mọi nhận định của chúng ta đều là phỏng đoán Trên thực tế, chúng ta luôn có thể kiểm soát vấn đề ở một mức độ nào đó
Những người có AQ thấp thường biện hộ cho cái gọi là “Hiệu ứng đomino” ám chỉ rằng một sự kiện xấu chắc chắn sẽ dẫn đến những sự kiện không hay khác Một lời khuyên cần được lưu tâm là phải tách biệt giả định ra khỏi những điều mà chúng ta đã biết
- E(Endurance): Nhận thức về tính bền vững của nghịch cảnh
Mức độ chúng ta nhận thức về sự tồn tại của một nghịch cảnh Chỉ mục này nhằm trả lời câu hỏi:
+ Nghịch cảnh này kéo dài bao lâu?
Nhìn nhận tích cực là một kỹ năng cần thiết để duy trì sự hy vọng Những người
có chỉ số AQ cao thường để những khó khăn qua mau, duy trì hy vọng và sự lạc quan Những người có chỉ số AQ thấp nhìn nghịch cảnh kéo dài bất định
Trang 34- Người có chỉ số AQ thấp gọi là dạng người Quitter- là những người chọn cách
không đối đầu với nghịch cảnh, dễ buông xuôi, đặc điểm của họ là quyết định không tham gia, trốn tránh trách nhiệm, lui về phía sau và bỏ ngang nửa chừng Họ dễ nản chí,
dễ dàng từ bỏ việc theo đuổi công việc, dự định và cao hơn là mục đích sống Kết quả là thường bỏ dỡ, nhận thất bại hoặc kết quả không như ý
-Người có chỉ số AQ trung bình gọi là dạng người Camper- là những người
ngừng đối đầu với những thách thức khi họ nhận thức "nấc thang" tiến đến thành công trở nên quá khó hoặc họ tự quyết định rằng cái đích thành công, ý nghĩa thành công với họ chỉ ngang mức ấy Tuy chịu khó, làm việc chăm chỉ, có ý thức phấn đấu rèn luyện bản thân nhưng họ dễ hài lòng và thỏa hiệp với bản thân nên không thể tiếp tục vượt lên được chính mình
- Người có chỉ số AQ cao gọi là dạng người Climber- là những người mà cho dù
cuộc đời cho họ những gì thì họ vẫn tiếp tục "leo lên đỉnh núi", rồi hết đỉnh này đến đỉnh khác Họ không cho phép bất cứ trở ngại nào chặn đường họ Với sự kiên định và hoài bão lớn, họ luôn học hỏi, rèn luyện bản thân, nỗ lực cố gắng để đạt tới những mức độ tốt nhất có thể trong khả năng Họ cũng là loại người không chấp nhận một tình thế sẵn có,
và tìm cách xoay sở để cải thiện nó tốt hơn
Trong cuốn sách AQ-chỉ số vượt khó – biến khó khăn thành cơ hội, G.Stolz đã giới
thiệu một công cụ hữu ích giúp cá nhân phản ứng với nghịch cảnh theo cách tích cực nhất
và có thể chuyển hướng sang thực hiện những hành động tích cực Phương pháp ấy được ông gọi là Chuỗi LEAD Các thành tố trong chuỗi LEAD giúp làm sáng tỏ hơn 4 đại lượng CO2RE đã được đề cập ở trên
Khi có một nghịch cảnh xảy ra, chúng ta sẽ L(listen): lắng nghe cách phản ứng của mình với nghịch cảnh (và thường cách phản ứng của chúng ta có phần tiêu cực) Tiếp đến chúng ta sử dụng E: Tìm hiểu nguồn gốc và xác định trách nhiệm của mình đối với kết quả (từ đó chúng ta biết rằng chúng ta thường có khuynh hướng đổ lỗi quá mức lên bản thân và không nhận đầy đủ trách nhiệm đối với kết quả của vấn đề) Tiếp theo, chúng ta
sẽ A: phân tích bằng chứng (và phát hiện ra rằng không có hoặc có ít bằng chứng chứng minh cho những kết luận thể hiện AQ thấp của chúng ta) và cuối cùng là D(Do): Làm gì
đó để cải thiện tình hình
Mô hình này được thể hiện qua bảng dưới đây:
Trang 35Bảng 1 2 Mô hình chuỗi LEAD
L (Listen): Lắng nghe cách phản ứng của mình với nghịch cảnh
Cách phản ứng đó thể hiện AQ cao hay thấp?
Cách phản ứng đó có đại lượng nào là cao nhất và thấp nhất?
E (Explore): Tìm hiểu nguồn gốc và trách nhiệm của bạn đối với kết quả
Or
Những nguồn gốc có thể có của nghịch cảnh này là gì?
Với những nguồn gốc này, thì phần lỗi của tôi là gì?
Cụ thể, có những việc nào mà đáng lẽ tôi đã có thể làm tốt hơn?
Ow
Tôi nên nhận lấy trách nhiệm ở những khía cạnh nào của kết quả?
Những khía cạnh tôi không nên nhận?
A (Anlyze): Phân tích bằng chứng
Bằng chứng nào cho thấy tôi không có khả năng kiểm soát được?
Bằng chứng nào cho thấy nghịch cảnh phải có tác động đến các lĩnh vực khác trong cuộc sống của tôi?
Bằng chứng nào cho thấy nghịch cảnh sẽ phải kéo dài lâu hơn cần thiết?
D (Do): Hãy làm gì đó?
Tôi cần có thêm thông tin gì khác?
Tôi có thể làm gì để ít nhất là có một chút kiểm soát đối với tình huống này?
Tôi có thể làm gì để hạn chế phạm vi ảnh hưởng của nghịch cảnh này?
Tôi có thể làm gì để hạn chế thời gian ảnh hưởng của nghịch cảnh này?
Trang 36Tiểu kết chương 1
Qua việc trình bày một số công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước, chúng tôi nhận thấy các nghiên cứu về chỉ số vượt khó AQ đã và đang nhận được sự quan tâm tích cực của nhiều nhà nghiên cứu và tỏ ra có hiệu quả trong việc ứng dụng để giải quyết các vấn đề thực tiễn trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục Khả năng ứng dụng, nghiên cứu các vấn đề dựa trên nền tảng lý thuyết AQ còn rất rộng và đa dạng, điều này tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu tiếp tục nghiên cứu và phát triển lý thuyết này Điều này càng có ý nghĩa khi lý thuyết AQ được nghiên cứu, ứng dụng và phổ biến để phù hợp với bối cảnh xã hội và con người Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy số lượng các nghiên cứu về chỉ số vượt khó AQ ở Việt Nam hiện nay còn rất khiêm tốn
Để nghiên cứu chỉ số vượt khó của SV năm thứ nhất trường ĐHSP ĐHĐN, đề tài
đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản, trong đó sử dụng lý thuyết nền tảng về chỉ số vượt khó AQ của tác giả Paul G.Stoltz Đây là một lý thuyết đã được sử dụng phổ biến trên thế giới trong việc dự báo khả năng thành công tổng quát của một cá nhân hay tổ
chức Khái niệm cơ bản của đề tài là: “Chỉ số vượt khó AQ là một thang đo biểu thị khả năng và cách ứng phó của một người đối với những khó khăn trong cuộc sống”
SV năm nhất là những người đang tham gia vào quá trình học tập ở năm học đầu tiên theo khung chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng Bước vào môi trường đại học, một cuộc sống học tập và xã hội mới ngày càng mở rộng ra trước mắt
SV Trong môi trường mới này, để hoạt động học tập có kết quả đòi hỏi SV phải có sự thích nghi với các hoạt động diễn ra trong trường đại học Bên cạnh những khó khăn liên quan đến hoạt động học tập, các khó khăn mà SV năm nhất có thể phải đối mặt bao gồm các khó khăn về giao tiếp; khó khăn trong hoạt động xã hội; khó khăn trong đời sống sinh hoạt
Trang 37CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tổ chức nghiên cứu
2.1.1 Mô tả khách thể và mẫu nghiên cứu
a Khách thể nghiên cứu
Trường ĐHSP Đà Nẵng (The University of Danang, University of Science and Education) là một trường thành viên của ĐHĐN, trường được thành lập theo Nghị định 32/CP ngày 04/04/1994 của Chính Phủ, từ những cơ sở giáo dục – đào tạo tiền thân sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Với 100% giảng viên có trình độ sau đại học, trong đó có 35% là GS, PGS, TSKH và TS được đào tạo trong và ngoài nước
Hệ thống cơ sở hạ tầng trang thiết bị hiện đại, đáp ứng tốt nhu cầu của người học Chương trình đào tạo tiên tiến, thường xuyên được cập nhật đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội
Trong năm học 2018 – 2019, chỉ tính riêng số lượng SV năm nhất (K18), trường ĐHSP – ĐHĐN có 1560 SV đang theo học, trong đó có 451 nam và 1109 nữ
Bảng 2 1 Số lượng SV năm thứ nhất khóa tuyển sinh 2018 các chuyên ngành đào tạo
năm học 2018 - 2019
2 Tin học Công nghệ thông tin
Trang 38Hóa dược chất lượng cao 18CHDC 8
5 Sinh - Môi trường
Quản lý tài nguyên và môi
Ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp – dược liệu – môi trường
Trang 39Tâm lý chất lượng cao 18CTLC 11
11 Giáo dục – tiểu học Giáo dục tiểu học 18STH 69
12 Giáo dục – mầm non Giáo dục mầm non 18SMN 70
b Mẫu nghiên cứu
Sau khi đã xác định được tổng thể mẫu nghiên cứu, chúng tôi tiến hành chọn mẫu phù hợp với phạm vi nghiên cứu theo công thức:
Với độ tin cậy là 95%, sai số tiêu chuẩn là
Như vậy số lượng SV được chọn tham gia vào nghiên cứu là 318 SV Chúng tôi
chia số SV này theo 4 khối ngành đào tạo là khoa học giáo dục (sư phạm toán, sư phạm vật lý, sư phạm mầm non…); khoa học tự nhiên (cử nhân hóa dược, cử nhân công nghệ sinh học, cử nhân quản lý tài nguyên môi trường); khoa học xã hội và nhân văn (tâm lý học, công tác xã hội, việt nam học, báo chí…); công nghệ thông tin Trong mỗi khối,
chúng tôi lựa chọn mẫu ngẫu nhiên, đảm bảo đủ số lượng mẫu cần thiết, đại diện cho
tổng mẫu nghiên cứu
Bảng 2 2 Số lượng mẫu nghiên cứu chia theo nhóm ngành và giới tính
Trang 40Công nghệ thông tin 70 21.9 44 25
2.1.2 Qúa trình nghiên cứu
Bảng 2 3 Qúa trình nghiên cứu của đề tài
1 Hình thành ý tưởng, xác định vấn đề nghiên cứu
2 Xây dựng đề cương nghiên cứu
Xây dựng khung lý thuyết cho đề tài nghiên cứu
3 Xác định phương pháp và thiết kế công cụ nghiên cứu
Thu thập số liệu nghiên cứu thực tiễn và xử lý số liệu
4 Viết báo cáo
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tìm đọc, phân tích và khái quát các tài liệu, các công trình có liên quan đến đề tài nghiên cứu Qua đó xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu và thiết kế bảng hỏi điều tra
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a Phương pháp Trắc nghiệm
Chúng tôi đã sử dụng trắc nghiệm chỉ số vượt khó AQ phiên bản AQ Profile QuickTake 1.0 của Stoltz làm công cụ nghiên cứu Phiên bản này đã được Việt hóa ban đầu và sử dụng thử nghiệm trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Diễm Hằng và Trần Thị Tú Anh [4] Trắc nghiệm được xây dựng dưới dạng bảng hỏi tự đánh giá, theo kiểu thang đo,
để phát hiện và khám phá cách thức ứng phó với các tình huống khó khăn hoặc thử thách của mỗi người AQP QuickTake 1.0 gồm 20 tình huống giả định với câu hỏi kèm theo cho mỗi tình huống 20 tình huống này phản ánh 4 thành phần của AQ (AQ thành phần)
là C(Control: Khả năng kiểm soát), O (Ownership: Khả năng nhận trách nhiệm), R (Reach: Khả năng khống chế mức độ và phạm vi ảnh hưởng của nghịch cảnh) và E