Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này đề xuất một số biện pháp nhằm kích thích và nâng cao hứng thú cho trẻ từ 24 đến 36 tháng tuổi trong các hoạt động với đồ vật, từ đó cải thiện chất lượng tổ chức những hoạt động này tại trường mầm non.
Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu
Trẻ em thường gặp khó khăn trong việc duy trì sự chú ý do dễ bị xao lãng bởi các yếu tố bên ngoài, dẫn đến hứng thú không kéo dài Mặc dù giáo viên mầm non đã nhận thức được tầm quan trọng của việc tạo hứng thú cho trẻ, nhưng hiệu quả vẫn chưa đạt được như mong đợi Họ đã biết cách kích thích sự hứng thú, nhưng vẫn cần phát triển khả năng sáng tạo ra những tình huống mới và hấp dẫn hơn để thu hút trẻ em.
Cho đến nay, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng vẫn chƣa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề này
Chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài “Biện pháp kích thích hứng thú của trẻ 24-36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật tại trường mầm non” nhằm tìm ra những phương pháp hiệu quả để nâng cao sự hứng thú và phát triển kỹ năng cho trẻ nhỏ trong môi trường học tập.
2 Mục đích nghiên cứu Đề tài nghiên cứu nhằm đề xuất 1 số biện pháp kích thích, nâng cao hứng thú cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật, góp phần nâng cao chất lƣợng tổ chức hoạt động đó ở trường mầm non
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
Quá trình tổ chức hoạt động với đồ vật cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi ở trường mầm non
Biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật.
Giả thuyết khoa học
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú của trẻ em trong các hoạt động tại trường mầm non Hoa Ban và các trường mầm non khác Khi giáo viên áp dụng hiệu quả những biện pháp này, trẻ sẽ có thêm động lực tham gia vào các hoạt động học tập.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận của biện pháp kích thích nâng cao hứng thú cho trẻ
24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật ở trường mầm non
Bài viết điều tra thực trạng các biện pháp kích thích nâng cao hứng thú cho trẻ từ 24 đến 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật tại trường mầm non Hoa Ban, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng Nghiên cứu nhằm tìm hiểu hiệu quả của các phương pháp giáo dục hiện tại và đề xuất giải pháp cải thiện sự hứng thú của trẻ em trong các hoạt động tương tác với đồ vật.
- Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp kích thích nâng cao hứng thú cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật ở trường mầm non.
Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu phân tích và tổng hợp tài liệu liên quan đến đề tài là bước quan trọng để xây dựng cơ sở lý luận vững chắc Việc cụ thể hóa lý thuyết giúp làm rõ các khái niệm và định hướng cho nghiên cứu, từ đó tạo nền tảng cho các phát hiện và kết luận sau này.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Tại trường mầm non Hoa Ban, giáo viên áp dụng phương pháp quan sát kết hợp theo dõi, ghi chép, chụp ảnh và quay băng hình để ghi nhận những biểu hiện hứng thú của trẻ Đồng thời, giáo viên cũng tổ chức các hoạt động với đồ vật nhằm kích thích sự sáng tạo và khám phá của trẻ.
- Tiến hành dự giờ tổ chức hoạt động tự do với đồ vật của giáo viên ở một số lớp nhà trẻ tại trường
- Ghi chép, chụp ảnh và quay băng hình các biểu hiện hứng thú của trẻ và các biện pháp mà giáo viên đã sử dụng
- Xử lý các thông tin thu đƣợc
7.2.2 Phương pháp điều tra viết
Sử dụng phiếu điều tra đối với giáo viên mầm non nhằm thu thập các thông tin cần thiết liên quan đến đề tài nghiên cứu
Mẫu phiếu điều tra đƣợc trình bày trong phụ lục
Trao đổi với trẻ, với phụ huynh và giáo viên mầm non để tìm hiểu, làm sáng tỏ các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu
7.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sử dụng phương pháp thực nghiệm nhằm kiểm chứng hiệu quả của các biện pháp đề xuất và đối chiếu với giả thuyết khoa học đề xuất.
Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm MS Excel để xử lý các số liệu đã thu thập đƣợc.
Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, phần phụ lục, nội dung chính của đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật ở trường mầm non
Chương 2: Thực trạng hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật ở trường mầm non Hoa Ban quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Biện pháp kích thích hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật ở trường mầm non
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỨNG THÚ CỦA TRẺ 24-36 THÁNG TUỔI
Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
L.X.Vƣgôtxky từng nói “Đối với việc nghiên cứu, hầu nhƣ không có vấn đề nào rắc rối hơn vấn đề tìm hiểu hứng thú thực sự của một con người” Những công trình nghiên cứu về hứng thú ở trên thế giới xuất hiện tương đối sớm và ngày được phát triển
Năm 1944, tác giả A.F Bêliep đã thành công trong việc bảo vệ luận án tiến sĩ mang tên “Tâm lý học hứng thú”, trong đó trình bày những vấn đề lý luận tổng quát về hứng thú trong tâm lý học.
Ovide Decroly (1871 – 1932) là một bác sĩ và nhà tâm lý học người Bỉ, nổi tiếng với nghiên cứu về khả năng đọc và làm tính của trẻ em Ông đã phát triển học thuyết về các trung tâm hứng thú và lao động tích cực, đóng góp quan trọng vào giáo dục trẻ nhỏ.
Năm 1955, A.P Ackhadop đã thực hiện một nghiên cứu quan trọng về mối quan hệ giữa tri thức của học viên và hứng thú học tập Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tri thức của học viên có sự liên kết chặt chẽ với hứng thú học tập Cụ thể, việc có hiểu biết nhất định về môn học được coi là yếu tố tiên quyết trong việc hình thành hứng thú đối với môn học đó.
Năm 1979, nhà tâm lý học người Pháp J.B Dupont đã xuất bản tác phẩm "Tâm lý học hứng thú", trong đó ông khám phá hứng thú như một khuynh hướng, nguyện vọng và xu hướng trong nghiên cứu tâm lý học.
Vào năm 1970, Lukin và Lêvitôp đã tiến hành nghiên cứu về “Hứng thú trong quan hệ với năng lực”, trong khi tác giả G.Isukina tập trung vào “Nghiên cứu hứng thú trẻ em ở các lứa tuổi” D.P.Xalônhisƣ đã khảo sát sự phát triển hứng thú nhận thức của trẻ mẫu giáo, và V.G Ivanôp phân tích sự phát triển và giáo dục hứng thú của học sinh lớn trong trường trung học Các công trình nghiên cứu này đã chỉ ra đặc điểm hứng thú của từng lứa tuổi, cùng với những điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú trong các giai đoạn phát triển của trẻ.
I.K Strong đã nghiên cứu “Sự thay đổi hứng thú cùng với lứa tuổi” Từ những năm 1931, ông đã đưa ra quan điểm và phương pháp nghiên cứu hứng thú bằng bảng câu hỏi
Năm 1966, N.I.Ganbiô đã bảo vệ luận án tiến sĩ với đề tài “Vận dụng tính hứng thú trong giảng dạy tiếng Nga” Ông nhấn mạnh rằng hứng thú học tập của học sinh là yếu tố quan trọng giúp nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Nga trong trường học.
Trong khi đó, V.N.Lepkhin nghiên cứu “ Sự hình thành hứng thú nhận thức cho học sinh trong công tác nghiên cứu địa phương”
L.I.Bôzôvitch đã nghiên cứu mối quan hệ giữa hứng thú và tính tích cực học tập của học sinh Trong công trình “Vấn đề hứng thú trong khoa học giáo dục” (1972), I.G.Sukina đã giới thiệu khái niệm hứng thú nhận thức cùng với các biểu hiện của nó, đồng thời chỉ ra rằng nguồn gốc cơ bản của hứng thú nhận thức là nội dung tài liệu và hoạt động học của học sinh.
J.Piaget (1896 – 1996) - nhà tâm lý học nổi tiếng người Thụy Sĩ có rất nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ trẻ em và giáo dục Ông rất chú trọng đến hứng thú của học sinh Ông viết: “Nhà trường kiểu mới đòi hỏi phải hoạt động thực sự, phải làm việc một cách chủ động dựa trên nhu cầu và hứng thú cá nhân” Ông nhấn mạnh, cũng giống như người lớn, trẻ em là một thực thể mà hoạt động cũng bị chi phối bởi quy luật hứng thú hoặc của nhu cầu Nó sẽ không đem lại hiệu suất đầy đủ nếu người ta không khêu gợi những động cơ nội tại của hoạt động đó Ông cho rằng mọi việc làm của trí thông minh đều dựa trên một hứng thú, hứng thú chẳng qua chỉ là một trạng thái chức năng động của sự đồng hóa
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú cụ thể nhƣ sau:
Năm 1972, tác giả Nguyễn Hải Khoát đã thực hiện nghiên cứu mang tên “Hứng thú học tập các bộ môn của học sinh” Năm năm sau, Phạm Huy Thụ cũng đã trình bày những quan điểm tương tự trong luận văn của mình.
Bài viết "Hiện trạng hứng thú học tập các môn học của học sinh cấp 2 một số trường tiên tiến" đã tiến hành khảo sát mức độ hứng thú học tập của học sinh tại ba trường tiên tiến Từ kết quả điều tra, bài viết đề xuất những biện pháp giáo dục nhằm nâng cao hứng thú học tập cho học sinh.
Năm 1994, Hoàng Hồng Liên đã khẳng định rằng dạy học trực quan là biện pháp hiệu quả nhất để nâng cao hứng thú học tập của học sinh trong nghiên cứu “Bước đầu nghiên cứu những con đường nâng cao hứng thú cho học sinh phổ thông” Ngoài ra, tác giả Lê Bá Chương cũng đã nghiên cứu về hứng thú và đề xuất hai biện pháp nhằm tác động tích cực đến sự quan tâm của học sinh trong luận văn của mình.
Bài viết "Bước đầu tìm hiểu về dạy học Tâm lý học để xây dựng hứng thú học tập bộ môn" nhấn mạnh việc trang bị tri thức mới và cách nhìn mới về Tâm lý học, đồng thời đề xuất phương pháp dạy học nhằm kích thích sự quan tâm và hứng thú của học sinh đối với môn học này.
Nghiên cứu về "Hứng thú học tập của học sinh cấp 2 đối với các môn học cụ thể" của tổ Nhân cách, khoa Tâm lý – Giáo dục, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã chỉ ra sự không đồng đều trong hứng thú học tập giữa các môn học của học sinh.
Các khái niệm chính của đề tài
Hứng thú có thể được định nghĩa theo nhiều khuynh hướng khác nhau, và cho đến nay, vẫn chưa có một khái niệm chung duy nhất về nó.
Theo I.P Pavlov, hứng thú là yếu tố làm tăng trương lực và kích thích hoạt động của vỏ não Trong khi đó, Nguyễn Khắc Viện định nghĩa hứng thú là biểu hiện của nhu cầu, tạo ra khoái cảm và là mục tiêu để huy động sinh lực cả về thể chất lẫn tâm lý nhằm thực hiện một công việc cụ thể.
Các nhà tâm lý học Xô Viết đã đưa ra nhiều cách giải thích về hứng thú, trong đó có quan điểm cho rằng hứng thú thể hiện qua khuynh hướng lựa chọn và sự chú ý của con người (T.Ribô, N.Ph.Đô-brư-nhin), cũng như tư tưởng và ý định của họ (X.L.Rubinstein).
Hứng thú còn đƣợc xem là biểu hiện của tính tích cực hoạt động trí óc và tình cảm (E.K.Strong; X.L.Rubinstein)
Hứng thú được định nghĩa là động lực cho nhiều cảm xúc khác nhau và thể hiện tính nhạy cảm đặc biệt của trẻ em Theo L.A.Gô-đon, hứng thú là sự kết hợp độc đáo giữa các quá trình tình cảm, ý chí và trí tuệ, đồng thời nâng cao tính tích cực trong nhận thức và hoạt động của con người.
A.G.Kovaliep lại định nghĩa: “Đó là thái độ riêng của cá nhân đối với đối tƣợng, ý thức đƣợc ý nghĩa của cuộc sống và sự hấp dẫn về tình cảm gây ra” [15]
Các tác giả đều nhất trí rằng hứng thú là thái độ cá nhân, được thúc đẩy bởi động cơ và liên quan đến nhu cầu của con người, đồng thời có cách thức biểu hiện riêng biệt.
Các nhà tâm lý học phương Tây cho rằng hứng thú là một thuộc tính bẩm sinh của con người, như I.PH Shecbac đã chỉ ra Theo S Klaparet, hứng thú phản ánh nhu cầu bản năng cần được thỏa mãn của cá nhân Trong khi đó, E.K Strong, W James và Beaumgasten lại xem hứng thú như một trường hợp riêng của thiên hướng, thể hiện qua xu thế hoạt động của con người và là một nét tính cách đặc trưng E.K Strong nhấn mạnh rằng hứng thú được thể hiện qua sự khao khát học hỏi về các đối tượng cụ thể, yêu thích một số loại hoạt động và có định hướng tích cực vào những hoạt động đó.
Hứng thú, theo từ điển Tâm lý, là nhu cầu nhận thức giúp nhân cách ý thức được mục đích hoạt động Nó tạo điều kiện cho việc định hướng, làm quen với những sự việc mới, và phản ánh hiện thực một cách đầy đủ và sâu sắc hơn.
PGS.TS Trần Trọng Thủy đã nhấn mạnh rằng hứng thú phản ánh cảm xúc liên quan đến nhu cầu nhận thức của con người Cùng với Phạm Minh Hạc, ông đã làm rõ tầm quan trọng của hứng thú trong việc thúc đẩy quá trình học tập và phát triển tri thức.
Lê Khanh và các tác giả cho rằng, khi chúng ta có hứng thú với một điều gì đó, chúng ta sẽ luôn nhận thức và hiểu ý nghĩa của nó đối với bản thân Đồng thời, hứng thú tạo ra một tình cảm đặc biệt, thu hút chúng ta hướng về đối tượng đó, từ đó hình thành tâm lý khao khát tìm hiểu sâu hơn.
Hứng thú được định nghĩa trong cuốn Đề cương bài giảng Tâm lý học trẻ em và Tâm lý học sư phạm là sự định hướng có chọn lọc của cá nhân vào các hiện tượng xung quanh Đặc trưng của hứng thú là sự khao khát không ngừng hướng tới nhận thức và kiến thức mới, ngày càng phong phú và sâu sắc hơn.
Hứng thú được định nghĩa bởi nhóm tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Luỹ, Đinh Văn Vang là “thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động” Định nghĩa này không chỉ phản ánh bản chất của hứng thú mà còn liên kết nó với hoạt động của cá nhân Hứng thú thể hiện qua sự tò mò và chú ý tới đối tượng, khao khát tìm hiểu sâu hơn, cũng như cảm giác thỏa mãn khi được tương tác với đối tượng Xúc cảm là yếu tố quan trọng thúc đẩy con người tích cực nhận thức, chiếm lĩnh tri thức và khám phá chân lý.
Trẻ nhỏ từ khi mới sinh đã có nhu cầu khám phá thế giới xung quanh, và nhu cầu này càng gia tăng khi trẻ lớn lên Tuy nhiên, do thiếu kinh nghiệm sống, trẻ cần sự hỗ trợ từ người lớn để tham gia vào các hoạt động khám phá Việc tổ chức và hướng dẫn trẻ tham gia vào những hoạt động này không chỉ giúp trẻ làm quen với môi trường mà còn tích lũy vốn sống, kiến thức và kỹ năng về tự nhiên và xã hội, từ đó góp phần vào sự phát triển toàn diện của trẻ về các mặt: Đức, Trí, Thể, Mỹ và Lao.
Để hình thành và phát triển hứng thú cho trẻ, cần tạo cơ hội cho trẻ tự hoạt động, nâng cao nhận thức về đối tượng và đáp ứng nhu cầu cá nhân Việc tổ chức các hoạt động phù hợp và kích thích xúc cảm tích cực trong quá trình hoạt động là rất quan trọng.
Kích thích, theo từ điển bách khoa toàn thư, là sự nâng cao mức năng lượng so với trạng thái năng lượng cơ bản Trong vật lý, khái niệm này được định nghĩa cụ thể liên quan đến nguyên tử khi nó được nâng lên trạng thái kích thích Từ góc độ khoa học, kích thích có thể hiểu là tác động vào giác quan hoặc hệ thần kinh, nhằm thúc đẩy và làm tăng cường hoạt động.
1.2.3 Hoạt động với đồ vật
Lý luận về hứng thú của trẻ mầm non
1.3.1 Ý nghĩa của hứng thú đối với con người
Usinxki nhấn mạnh rằng việc học tập thiếu hứng thú và chỉ dựa vào sự cưỡng bức sẽ tiêu diệt lòng ham muốn học hỏi của người học Điều này không chỉ làm suy giảm khả năng sáng tạo mà còn khiến người học trở nên thờ ơ với quá trình học tập.
Hứng thú đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người, đặc biệt là ở trẻ em, vì nó khơi dậy khát vọng hoạt động Động lực này không chỉ thúc đẩy sự say mê trong các hoạt động mà còn khuyến khích sự sáng tạo, nâng cao sức lực và hiệu quả công việc.
Hứng thú là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả công việc; khi thiếu hứng thú, chúng ta thường làm việc một cách uể oải và không đạt được kết quả cao Ngược lại, khi có hứng thú, chúng ta cảm thấy thoải mái và sẵn sàng nỗ lực tìm kiếm các phương thức để hoàn thành công việc, bất kể độ khó của nó Như vậy, hứng thú không chỉ giúp tăng cường sự tích cực trong hoạt động mà còn nâng cao hiệu suất làm việc.
Hứng thú đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của con người Theo A.P.Uxôva, trẻ em chỉ có thể tiếp thu kiến thức và kỹ năng một cách có hệ thống khi giờ học tạo ra sự hứng thú và mang lại cảm xúc tích cực.
Hứng thú là động lực quan trọng giúp con người tự giác hành động, học tập và làm việc hiệu quả, từ đó dễ dàng tiếp thu tri thức và cải thiện chất lượng công việc Nó mang lại niềm vui và sự thoải mái tinh thần, đồng thời khuyến khích sự sáng tạo thông qua việc tìm tòi và khám phá bản chất cũng như các mối quan hệ giữa các đối tượng Đối với trẻ mầm non, hứng thú giúp các em tham gia hoạt động một cách tích cực và tự giác, phát huy khả năng sáng tạo trong quá trình khám phá và tham gia các hoạt động.
Hứng thú đóng vai trò quan trọng trong việc tự giáo dục, đặc biệt là ở trẻ mầm non Khi trẻ được khuyến khích phát triển hứng thú, chúng sẽ có cơ hội tự trải nghiệm, thực hành và khám phá thế giới xung quanh Điều này không chỉ giúp trẻ hình thành nhân cách mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện của trẻ.
1.3.2 Cấu trúc của hứng thú
Theo M.G.Marozova, có 3 yếu tố đặc trƣng cho hứng thú, cụ thể là:
Thứ nhất : Chủ thể có xúc cảm đúng đắn với đối tƣợng hoạt động
Thứ hai: Có khía cạnh nhận thức của xúc cảm này (đƣợc gọi là niềm vui tìm hiểu và nhận thức)
Thứ 3: Có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động Nghĩa là bản thân hoạt động tự nó lôi cuốn và kích thích hứng thú Những động cơ khác không trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động, chỉ có tác dụng hỗ trợ cho sự nảy sinh và duy trì hứng thú chứ không xác định bản chất của hứng thú [8]
Cách phân tích này tập trung vào yếu tố xúc cảm và thái độ của nhận thức đối với đối tượng, mà chưa chú trọng đến nội dung nhận thức trong sự hứng thú.
Hứng thú được định nghĩa là sự kết hợp của ba thành tố: xúc cảm, nhận thức và hoạt động Đầu tiên, hứng thú thể hiện thái độ và tình cảm đặc biệt của cá nhân đối với một đối tượng Theo M.G Marozova, xúc cảm với đối tượng là yếu tố quan trọng nhất trong cấu trúc hứng thú, phản ánh sự thích thú và ham muốn chiếm lĩnh đối tượng Thái độ này là cái nhìn đầu tiên của chủ thể, nhưng để trở thành một dấu hiệu không thể thiếu của hứng thú, cảm xúc đó cần phải là “cảm xúc tích cực, bền vững” của cá nhân với đối tượng.
Hứng thú luôn gắn liền với khía cạnh nhận thức; không có nhận thức, hứng thú sẽ không tồn tại Khi trẻ em cảm thấy thích thú với một đối tượng, chúng sẽ có xu hướng tìm hiểu và khám phá sâu hơn về nó Sự nhận thức càng sâu sắc và chi tiết, cùng với trải nghiệm trực tiếp, sẽ làm cho hứng thú của trẻ trở nên bền vững hơn.
Có rất nhiều cách phân loại hứng thú theo các chiều hướng khác nhau:
Từ điển tâm lý phân loại hứng thú thành hai loại: hứng thú trực tiếp, xuất phát từ sức hấp dẫn của đối tượng, và hứng thú gián tiếp, liên quan đến đối tượng và công cụ phục vụ cho việc đạt được mục tiêu hoạt động.
Chúng ta cũng có thể phân loại theo các mức độ của hứng thú:
Có hai loại hứng thú: hứng thú rộng, thể hiện sự quan tâm đến nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng không sâu, và hứng thú hẹp, thể hiện sự đam mê đi sâu vào một hoặc một vài lĩnh vực cụ thể.
Hứng thú được chia thành hai loại chính: hứng thú sâu và hứng thú nông Hứng thú sâu thể hiện sự quan tâm đến bản chất và mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng, và được biểu hiện qua sự chủ động, tích cực trong hoạt động Ngược lại, hứng thú nông không đi sâu vào bản chất của đối tượng, dẫn đến sự không tích cực, thiếu sáng tạo và hoạt động mang tính đơn điệu.
Hứng thú có thể được phân loại theo độ bền vững thành hai loại: hứng thú bền vững, tồn tại lâu dài và không phụ thuộc vào điều kiện bên ngoài, và hứng thú không bền vững, chỉ kéo dài trong thời gian ngắn và bị chi phối bởi các yếu tố ngoại cảnh Ngoài ra, theo mức độ hiệu lực, hứng thú được chia thành hứng thú tích cực, tạo ra phản ứng tích cực và dẫn đến hành động, và hứng thú thụ động, chỉ dừng lại ở việc chiêm ngưỡng mà không hành động, như trong thể thao hay âm nhạc.
1.3.4 Đặc điểm hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi
Ngay từ những tháng đầu đời, trẻ đã bộc lộ bản năng khám phá và nhu cầu hòa nhập vào môi trường xã hội Qua quá trình phát triển thể chất và tâm lý, trẻ dần thích nghi và làm chủ cuộc sống, chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội để tồn tại và phát triển Để hỗ trợ quá trình này, người lớn cần khơi dậy hứng thú cho trẻ, khuyến khích trẻ tìm tòi và khám phá thế giới xung quanh một cách tự nhiên Theo PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, hứng thú của trẻ thường xuất hiện nhanh chóng nhưng cũng dễ dàng thay đổi Mặc dù hứng thú thực sự bắt đầu hình thành ở tuổi mẫu giáo, nhưng ngay từ giai đoạn ấu nhi, trẻ đã bắt đầu nảy sinh và hình thành những hứng thú đầu tiên.
Các nghiên cứu đã cho thấy, hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi có một số những đặc điểm sau:
Lý luận về hoạt động với đồ vật của trẻ 24 – 36 tháng tuổi
1.4.1.Ý nghĩa của hoạt động với đồ vật đối với sự phát triển của trẻ
Hoạt động với đồ vật là hoạt động chủ đạo của trẻ ấu nhi, thể hiện qua việc khám phá thế giới đồ vật mới mẻ Trong giai đoạn hài nhi, trẻ thực hiện những hành động phức tạp với đồ vật, nhưng chủ yếu chỉ là hành động vu vơ (manipulation) mà chưa khám phá chức năng hay cách sử dụng chúng Vì vậy, việc trẻ chơi nghịch với thìa không khác gì so với bút hay que.
Khi trẻ bước vào giai đoạn ấu nhi, mối quan hệ của trẻ với đồ vật thay đổi rõ rệt Đồ vật không chỉ đơn thuần là đối tượng để chơi mà còn mang trong mình chức năng cụ thể và cách sử dụng tương ứng.
Hoạt động với đồ vật là yếu tố chi phối cuộc sống của trẻ, tạo ra những biến đổi tâm lý quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách Trẻ thường say sưa nghịch với đồ vật và lặp lại các hành động hàng ngày, cho thấy thời gian của trẻ chủ yếu dành cho việc khám phá thế giới đồ vật Khi trẻ hiểu biết về các đồ vật và cách sử dụng chúng, chúng cũng tiếp nhận kinh nghiệm xã hội lịch sử của nhân loại Hoạt động với đồ vật còn là nền tảng cho trò chơi đóng vai, giúp trẻ phát triển kỹ năng thao tác và khả năng bắt chước hành động của người lớn, từ đó tạo điều kiện cho việc thể hiện vai trò trong các trò chơi này.
Hoạt động với đồ vật là phương tiện giáo dục quan trọng cho trẻ lứa tuổi ấu nhi, giúp phát triển thể chất và các giác quan như thị giác, thính giác và xúc giác Các hoạt động này không chỉ rèn luyện vận động thô thông qua các dụng cụ thể thao mà còn phát triển vận động tinh qua việc cầm, nắm, xếp hạt và chơi lô tô.
Hoạt động với đồ vật đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nhận thức cho trẻ ấu nhi Khi trẻ bắt đầu khám phá đồ vật, khả năng tri giác và tư duy của trẻ được cải thiện rõ rệt Ban đầu, trẻ chỉ nhận biết một số đặc điểm của đồ vật, nhưng qua thời gian, tri giác trở nên tinh vi hơn, giúp trẻ nắm bắt hình dạng, kích thước, màu sắc và mối quan hệ giữa các đồ vật Ví dụ, trẻ 3 tuổi có thể nhận diện 5 hình khối và 8 màu sắc khác nhau Dưới sự hướng dẫn của người lớn, trẻ học cách thiết lập mối quan hệ giữa các đồ vật để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, như lấy que để chọc quả bóng hay dùng dây để xâu hạt Điều này không chỉ hình thành tư duy trực quan – hành động mà còn tạo nền tảng cho tư duy trực quan – hình tượng ở lứa tuổi mẫu giáo.
Hoạt động với đồ vật không chỉ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ nhanh chóng qua việc nghe hiểu và hình thành ngôn ngữ nói, mà còn dạy trẻ cách bảo quản và giữ gìn đồ vật Thông qua những hoạt động này, trẻ cũng nắm vững các quy tắc ứng xử với đồ vật trong cuộc sống hàng ngày.
1.4.2 Quá trình trẻ hoạt động với đồ vật
Trẻ em khám phá và học hỏi về đồ vật thông qua phương pháp "Thử và sai", lặp đi lặp lại nhiều lần Nhờ vào quá trình này, trẻ nhận thức và tìm hiểu những tính chất mới lạ của các đồ vật xung quanh.
Theo nhà tâm lý học nổi tiếng Đ.B.Elcônhin, hoạt động với đồ vật của trẻ trải qua các giai đoạn sau:
Trong giai đoạn đầu tiên, trẻ tham gia vào các hoạt động với đồ vật dưới sự hướng dẫn của người lớn Ví dụ, người lớn có thể đặt thìa vào tay trẻ, cùng trẻ xúc cơm và đưa thìa lên miệng trẻ Quan trọng là người lớn cần thực hiện từng thao tác một cách đồng bộ với trẻ, giúp trẻ dần trở nên thuần thục và chính xác hơn trong các hành động này, cho đến khi trẻ có thể tự thực hiện mà không gặp khó khăn nào.
Trong giai đoạn đầu, người lớn có thể cùng trẻ thực hiện một phần của hành động, tạo điều kiện cho trẻ học hỏi Khi trẻ đã nắm vững kỹ năng hành động với đồ vật, chúng có thể tự mình hoàn thành các bước còn lại Đây là bước quan trọng trong quá trình phát triển kỹ năng độc lập của trẻ.
Trong giai đoạn thứ ba, trẻ em bắt đầu tự thực hiện các hành động dưới sự hướng dẫn của người lớn Lúc này, trẻ tự ngồi vào bàn ăn và quan sát người lớn làm mẫu các thao tác Sau đó, trẻ sẽ tự mình thực hiện các thao tác này theo mẫu đã được hướng dẫn.
Trong giai đoạn thứ tư, trẻ em bắt đầu tự thực hiện các thao tác hành động một cách độc lập, trong khi người lớn hướng dẫn từng bước Ví dụ, người lớn chỉ dẫn trẻ cách cầm thìa đúng tay, xúc cơm một ít và từ từ đưa lên miệng để tránh bị rơi.
1.4.3 Nội dung hoạt động với đồ vật cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non Đối với trẻ ấu nhi, nội dung hoạt động với đồ vật đƣợc tiến hành theo các chủ đề gần gũi nhƣ chủ đề bản thân, gia đình, thế giới thực vật, thế giới động vật, nghề nghiệp… Một số nội dung hoạt động với đồ vật chủ yếu của trẻ ấu nhi bao gồm:
+ Trò chơi thao tác với đồ vật, đồ chơi bao gồm một số nội dung nhƣ:
- Xếp chồng các khối gỗ lên nhau, theo chủ đề: cái bàn, cái nhà…
- Xếp các khối gỗ cạnh nhau, theo chủ đề: đường đi, tàu hỏa, cái ghế, cái giường…
- Xếp các khối gỗ cách nhau theo chủ đề: hàng rào, cái cầu,cái cổng,
Nhận biết, phân biệt: Hình dạng: tròn, vuông; màu sắc: xanh, đỏ, vàng; kích thước: to, nhỏ
Xâu hạt: xâu hạt thành chuỗi; xâu hạt thành chuỗi theo mẫu
Nặn: làm quen với đất nặn và các thao tác lăn tròn, ấn dẹt
Các trò chơi vận động đa dạng như bịt mắt bắt dê, mèo và chim sẻ, cũng như các trò chơi theo thời tiết như trời nắng hay trời mưa, mang lại niềm vui cho mọi lứa tuổi Bên cạnh đó, còn có các trò chơi vận động không có chủ đề cụ thể và những hoạt động sử dụng dụng cụ thể thao, giúp phát triển kỹ năng và sức khỏe cho người chơi.
Trò chơi sinh hoạt, hay còn gọi là trò chơi mô phỏng, giúp trẻ phát triển kỹ năng sử dụng đồ dùng và đồ chơi thông qua các hoạt động như ru em ngủ, cho em ăn, nấu ăn, bán hàng và khám bệnh Những trò chơi này không chỉ mang tính giải trí mà còn góp phần rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ.
Mỗi loại trò chơi đều có nét đặc thù riêng của nó và mức độ phát triển của từng loại trò chơi ở độ tuổi cũng khác nhau
1.4.4 Hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động với đồ vật cho trẻ 24-
36 tháng tuổi ở trường mầm non
Hoạt động với đồ vật cho trẻ ấu nhi tại trường mầm non diễn ra qua hai hình thức chính: một là hoạt động có sự hướng dẫn chủ đích từ giáo viên, hai là hoạt động tự do với đồ vật tại các góc chơi.
Hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật
1.5.1 Vai trò của hứng thú đối với hoạt động với đồ vật của trẻ 24- 36 tháng tuổi
Hứng thú không chỉ là động lực thúc đẩy con người tham gia vào hoạt động mà còn là yếu tố quan trọng giúp gia tăng tính tích cực và sự say mê trong công việc Hiệu quả và kết quả cao trong hoạt động thường gắn liền với sự hứng thú Ngay cả khi người lớn có thể sử dụng ý chí để hoàn thành nhiệm vụ, sự hiện diện của hứng thú sẽ chắc chắn mang lại kết quả tốt hơn.
Để đạt được mục tiêu trong hoạt động với đồ vật của trẻ ấu nhi, hứng thú là yếu tố quan trọng Hứng thú càng cao thì hoạt động với đồ vật càng phát huy ý nghĩa, giúp trẻ phát triển toàn diện và hình thành nhân cách Ngay từ khi sinh ra, trẻ đã bị thu hút bởi thế giới đồ vật xung quanh với màu sắc, hình dạng và âm thanh phong phú Khi trẻ gần một tuổi, các thao tác với đồ vật trở nên phong phú hơn, trẻ thường xuyên lặp lại các hành động như đóng nắp chai hay nghịch ổ chìa khóa, và có xu hướng thích một số đồ vật nhất định như búp bê hay bóng bay.
Hứng thú với đồ vật giúp trẻ trải nghiệm nhiều hơn, chiếm lĩnh kinh nghiệm lịch sử - xã hội, và phát triển khả năng nhận thức, ngôn ngữ cũng như thiết lập mối quan hệ Khi trẻ tham gia vào các hoạt động với đồ vật, trẻ cảm thấy vui vẻ và hào hứng hơn, từ đó chăm chú và tích cực hoàn thành sản phẩm của mình Đặc biệt, vào cuối tuổi ấu nhi, khi trẻ chuẩn bị chuyển sang hoạt động vui chơi, hứng thú trong hoạt động với đồ vật trở nên vô cùng quan trọng Chất lượng hoạt động này phụ thuộc vào mức độ hứng thú, với mục đích cuối cùng là trẻ nắm được Cái và Cách Những kinh nghiệm tích lũy từ việc tương tác với đồ vật sẽ giúp trẻ thiết lập các mối quan hệ mới trong quá trình chơi ở lứa tuổi mẫu giáo.
1.5.2 Đặc điểm hứng thú của trẻ 24- 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật
Trong giai đoạn tuổi ấu nhi, trẻ khám phá thế giới đồ vật đầy bí ẩn, từ đó trải nghiệm những niềm vui và sự thích thú khi tiếp xúc với đồ chơi màu sắc, âm thanh và chuyển động Những ánh mắt chăm chú của trẻ cho thấy sự say mê với các thuộc tính bên ngoài và bên trong của đồ vật Qua đó, trẻ học cách sử dụng công cụ một cách tự nhiên, và sự hứng thú này được duy trì và phát triển nhờ sự hướng dẫn, khích lệ từ người lớn.
Các nghiên cứu đã cho thấy, hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật có một số những đặc điểm sau:
Trẻ em trong giai đoạn này thường rất nhanh chóng tìm thấy hứng thú với đồ vật, nhưng sự hứng thú đó lại không kéo dài lâu Chúng cảm thấy vui mừng khi được cầm nắm và khám phá đồ vật, nhưng khi sự tò mò đã được thỏa mãn, đồ vật trở nên nhàm chán và trẻ lập tức chuyển sang tìm kiếm đối tượng khác Tính không chủ định trong hoạt động với đồ vật của trẻ thể hiện rõ khi đồ vật thiếu hấp dẫn và các kích thích không đủ mới lạ hoặc mạnh mẽ.
Trẻ em thường bị thu hút bởi vẻ bề ngoài của đồ vật, đặc biệt là những món đồ sặc sỡ, có nhiều chi tiết bắt mắt và hình dáng độc đáo Theo A.V.Daparozet, sự hứng thú ban đầu này sẽ nhanh chóng phai nhạt và được thay thế bằng những hứng thú sâu sắc hơn liên quan đến các đặc điểm quan trọng của đồ vật Trẻ nhỏ thường thích thú với quá trình chơi, trong khi trẻ lớn lại quan tâm đến cả kết quả của sản phẩm Đặc biệt, trẻ em rất tò mò với những đồ vật mới lạ, độc đáo và có khả năng chuyển động, khiến chúng muốn tìm hiểu nguyên lý hoạt động và chức năng của những món đồ này.
1.5.3 Biểu hiện hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật
Ngay từ những tháng đầu đời, trẻ đã thể hiện sự tò mò bằng cách với tay lấy những đồ vật treo trên nôi Khi phát triển hơn, trẻ bắt đầu sờ mó, cầm nắm và tương tác với các đồ vật xung quanh, như ném, gõ xuống sàn hay va chạm chúng với nhau Trẻ rất thích thú với thế giới đầy màu sắc và âm thanh, thường xuyên lặp lại các hành động như ném bóng hay đập xắc xô Nhiều trẻ còn ném mọi đồ vật được đưa cho và thể hiện niềm vui thích Những hành động này không chỉ là dấu hiệu của sự hứng thú mà còn là bước khởi đầu cho việc khám phá và tương tác với thế giới xung quanh.
Trẻ ấu nhi từ 24 đến 36 tháng tuổi thường thể hiện sự hứng thú mạnh mẽ trong việc tương tác với đồ vật Hoạt động tự do với đồ vật không chỉ là hoạt động chủ đạo mà còn phản ánh đặc điểm phát triển và sở thích của trẻ trong giai đoạn này.
- Thái độ xúc cảm của trẻ:
Trẻ em thể hiện sự háo hức và mong chờ khi tham gia vào các hoạt động với đồ vật, cho thấy sự quan tâm và không có thái độ thờ ơ khi bắt đầu.
+ Thái độ của trẻ trong quá trình hoạt động: Trẻ tỏ ra hào hứng, phấn chấn trong suốt quá trình hoạt động
+ Sau khi thông báo kết thúc hoạt động: Trẻ tỏ ra luyến tiếc, chƣa muốn kết thúc hoạt động ngay khi có yêu cầu của giáo viên
Trẻ em bắt đầu tham gia hoạt động với sự gợi ý từ giáo viên, nhưng theo thời gian, chúng trở nên chủ động hơn trong việc tham gia các góc chơi quen thuộc Sự hứng thú của trẻ cũng tăng lên, cho phép chúng khám phá và chơi ở nhiều góc khác nhau.
Độ bền vững của hứng thú ở trẻ em cho thấy khả năng tập trung và chú ý vào hoạt động trong thời gian dài, thường là trên 2/3 thời gian mà không cần sự động viên từ giáo viên Tuy nhiên, ở mức độ thấp hơn, hứng thú của trẻ có thể bị gián đoạn và không liên tục trong quá trình hoạt động tự do với đồ vật.
Trẻ em thường xuyên tham gia vào các hoạt động với nhiều loại đồ vật mà không cần sự hướng dẫn từ giáo viên Sự hứng thú trong việc khám phá các đồ vật không chỉ tăng cường khả năng giao tiếp với người lớn mà còn giúp trẻ hiểu rõ hơn về cách sử dụng các đồ vật xung quanh.
Kết quả hoạt động của trẻ ấu nhi chủ yếu thể hiện qua quá trình chơi, không chỉ là thành quả cuối cùng Nếu giáo viên biết cách tận dụng những thành quả này, sẽ khích lệ trẻ hứng thú hơn trong các hoạt động tiếp theo Khi trẻ có hứng thú, khả năng hoàn thành kết quả hoạt động có thể đạt trên 70%.
Các biểu hiện này là cơ sở để xác định tiêu chí đánh giá mức độ hứng thú của trẻ em trong hoạt động tự do với đồ vật tại trường mầm non.
1.5.4 Quá trình hình thành hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật Đối với trẻ ấu nhi, bản thân thế giới đồ vật với sự đa dạng, phong phú về màu sắc, kích thước, hình dạng… đã kích thích trí tò mò và nâng cao hứng thú cho trẻ Chúng tôi cho rằng, quá trình hình thành hứng thú cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi trải qua các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Hình thành những xúc cảm ban đầu