Vì giáo dục kĩ năng NBVTHCX giúp trẻ phát triển xúc cảm lành mạnh cho trẻ như: trẻ biết ý thức cảm xúc của bản thân, biết thể hiện tình cảm yêu thương hay đồng cảm với mọi người, mọi vật
Trang 1KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG NHẬN BIẾT VÀ
THỂ HIỆN CẢM XÚC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG GÓC Ở TRƯỜNG MẦM NON
Giảng viên hướng dẫn : ThS Mai Thị Cẩm Nhung
Sinh viên thực hiện : Hứa Lê Thiên Trang
Trang 2
Được sự đồng ý của Khoa Giáo dục Mầm non, trường Đại học Sư phạm, trường Mầm non Hoa Ban và giáo viên hướng dẫn ThS Mai Thị Cẩm Nhung chúng
tôi đã thực hiện đề tài: “Biện pháp giáo dục kĩ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc ở trường mầm non”
Để hoàn thành tốt luận văn này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Giáo dục Mầm non – trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã quan tâm, tạo điều kiện giúp chúng tôi hoàn thành tốt bài luận văn này
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và các cô giáo ở trường, Mầm non Hoa Ban đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình khảo sát, thu thập số liệu tại trường
Hơn hết, em xin gửi lời tri ân sâu sắc đến cô Mai Thị Cẩm Nhung, trong suốt thời gian qua cô đã luôn nhắc nhở và quan tâm đến em, cô luôn hỏi thăm và hướng dẫn bài luận văn rất nhiệt tình để em có thành quả như ngày hôm nay Cảm ơn những kiến thức mà cô đã tận tình truyền đạt cho em Đây cũng là hành trang quý báu cho em sau này trên bước đường tương lai, sự nghiệp
Bài khóa luận của chúng tôi tuy dã hoàn thành nhưng không tránh khỏi sự thiếu sót Kính mong quý thầy cô xem xét và đóng góp ý kiến để chúng tôi có được một bài khóa luận hoàn chỉnh hơn
Một lần nữa chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 01năm 2019
Tác giả Hứa Lê Thiên Trang
Trang 3Chúng tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng chúng tôi Các số liệu, kết quả trong khóa luận là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Đà nẵng, tháng 1 năm 2019
Tác giả
Hứa Lê Thiên Trang
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
3.1 Khách thể nghiên cứu: 4
3.2 Đối tượng nghiên cứu: 4
4 Giả thiết khoa học 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
5.1 Phạm vi không gian 4
5.2 Phạm vi thời gian 4
5.3 Phạm vi độ tuổi 4
5.4 Phạm vi nội dung 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 5
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
7.2.1 Phương pháp quan sát 5
7.2.2 Phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi Anket 5
7.2.3 Phương pháp đàm thoại 6
7.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 6
7.2.5 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm 6
7.3 Phương pháp thống kê toán học 6
8 Cấu trúc đề tài 6
NỘI DUNG 8
Trang 51.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 8
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 12
1.2 Các khái niệm chính của đề tài 15
1.2.1 Kĩ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc 15
1.2.2 Hoạt động góc 22
1.2.3 Giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc 23
1.3 Lý luận về kĩ năng NBVTHCX của trẻ 5 – 6 tuổi và việc giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi 24
1.3.1 Đặc điểm phát triển nhận thức, ý chí, cảm xúc – tình cảm của trẻ 5 – 6 tuổi 24
1.3.2 Nội dung giáo dục kĩ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi 29
1.3.3 Vai trò của việc giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi 31
1.3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non 32
1.4 Lý luận về hoạt động góc và việc tổ chức hoạt động góc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non 34
1.4.1 Ý nghĩa của hoạt động góc đối với sự phát triển của trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non 34
1.4.2 Nội dung hoạt động góc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non 35
1.4.3 Nguyên tắc, hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động góc cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non 36
1.4.4 Quá trình tổ chức hoạt động góc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non 39 1.5 Mối liên hệ giữa hoạt động góc và kĩ năng NBVTHCX của trẻ 5 – 6 tuổi 41
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 44
Trang 62.1 Khái quát về quá trình điều tra, khảo sát 45
2.1.1 Mục đích khảo sát 45
2.1.2 Đối tượng và thời gian khảo sát 45
2.1.3 Nội dung khảo sát 45
2.1.4 Phương pháp khảo sát 46
2.1.5 Tiêu chí và thang đánh giá 49
2.2 Khái quát về đối tượng khảo sát 50
2.2.1 Trường mầm non Hoa Ban 50
2.2.2 Trường mầm non 19/5 51
2.2.3 Trường mầm non Hoàng Yến 52
2.3 Kết quả khảo sát 52
2.3.1 Thực trạng nhận thức của BGH và GV về kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc ở trường mầm non 52
2.3.2 Thực trạng về hình thức giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi 56 2.3.3 Thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi 58
2.3.4 Thực trạng mức độ kĩ năng NBVTHCX của trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 63
2.3.5 Những khó khăn giáo viên gặp phải trong quá trình giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 67
2.3.6 Nguyên nhận thực trạng việc giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non 71
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 74
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG NBVTHCX CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GÓC Ở TRƯỜNG MẦM NON 76
Trang 73.2 Nguyên tắc xây dựng biện pháp 76
3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, liên tục, thường xuyên và lâu dài 76
3.2.2 Nguyên tắc tạo môi trường cảm xúc tích cực 76
3.2.3 Nguyên tắc tôn trọng trẻ 77
3.2.4 Nguyên tắc khả thi 77
3.3 Các biện pháp giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc ở trường mầm non 77
3.3.1 Biện pháp 1: Xây dựng góc cảm xúc 77
3.3.2 Biện pháp 2: Giáo viên làm mẫu hành vi cảm xúc cho trẻ noi theo 79
3.3.3 Biện pháp 3: Xây dựng kế hoạch tương tác trong quá trình tổ chức hoạt động góc nhằm giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 80
3.3.4 Biện pháp 4: Xây dựng môi trường kích thích cảm xúc tích cực cho trẻ trong quá trình tổ chức hoạt động góc 82
3.3.5 Biện pháp 5: Phối hợp giữa giáo viên và gia đình trong việc giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi 84
3.4 Thực nghiệm các biện pháp được đề xuất 85
3.4.1 Mục đích thực nghiệm 85
3.4.2 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 85
3.4.3 Nội dung thực nghiệm 85
3.4.4 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm 85
3.4.5 Kết quả thực nghiệm 86
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
Trang 8GVMN : Giáo viên Mầm non NBVTHCX : Nhận biết và thể hiện cảm xúc MNHB : Mầm non Hoa Ban
MNHY : Mầm non Hoàng Yến
GD : Giáo dục
ĐC : Đối chứng
TN : Thực nghiệm α=005 : Mức ý nghĩa
N : Tần số quan sát
Trang 9Bảng 2.3 Quan điểm của BGH và GV về kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi 52 Bảng 2.4 Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc 55 Bảng 2.5 Các hình thức giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi 57 Bảng 2.6 Thực trạng mức độ sử dụng biện pháp giáo dục kĩ năng NBVTHCX của một số trường mầm non 58 Bảng 2.7 Mức độ phát triển về kĩ năng NBVTHCX của trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non 63 Bảng 2.8 Mức độ nhận thức về kĩ năng NBVTHCX của trẻ 5 – 6 tuổi qua một số biểu hiện 64 Bảng 2.9 Nhận thức kĩ năng NBVTHCX của trẻ 5 – 6 tuổi thông qua sự đánh giá của GV 66 Bảng 2.10 Những khó khăn trong quá trình giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi 67 Bảng 3.1 Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm 87 Bảng 3.2 Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm 89
Trang 10NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi 56 Biểu đồ 2.3 Hình thức giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 58 Biểu đồ 3.1 Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm 88 Biểu đồ 3.2 Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm 89
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”
Trẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của mỗi dân tộc, đất nước.Trẻ em hôm nay là những công dân của thế giới mai sau Bảo vệ và chăm sóc trẻ em là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội và của mỗi gia đình Và việc chăm sóc và giáo dục trẻ là nhiệm vụ của bậc học mầm non với 5 mục tiêu: phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ, tình cảm và kĩ năng xã hội Bên cạnh đó, đi cùng với sự phát triển của xã hội, đòi hỏi con người hiện đại cần có kiến thức và kĩ năng xã hội để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống Và để đáp ứng nhu cầu ấy của xã hội, GDMN cần đẩy mạnh giáo dục tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ Vì giáo dục tình cảm và kĩ năng xã hội có ảnh hưởng to lớn đến các mặt giáo dục khác và ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của trẻ Một trong những kĩ năng cần giáo dục cho trẻ chính là kĩ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc Vì giáo dục kĩ năng NBVTHCX giúp trẻ phát triển xúc cảm lành mạnh cho trẻ như: trẻ biết
ý thức cảm xúc của bản thân, biết thể hiện tình cảm yêu thương hay đồng cảm với mọi người, mọi vật, hiện tượng xung quanh, hình thành thái độ tích cực với môi trường xung quanh và với cộng đồng, hình thành mối quan hệ bạn bè gần gũi, thân thiện; giáo dục cho trẻ một số hành vi và quy tắc ứng xử xã hội, phát triển một số tính cách cần thiết cho trẻ như: tự tin vào bản thân, biết tha thứ, chia sẻ, kiểm soát cảm xúc… Chính vì vậy, khi trẻ có kĩ năng NBVTHCX tốt trẻ sẽ tự tin, có quan hệ
xã hội với bạn bè tốt, biết cách thể hiện cảm xúc và có những cảm xúc tích cực trong cuộc sống… Ngược lại, trẻ có kĩ năng NBVTHCX kém hoặc thậm chí không
có sẽ rất tự ti, khó hòa nhập cùng bạn bè dẫn tới mối quan hệ xã hội bạn bè bó hẹp, hay tức giận, hay tiêu cực trong cuộc sống Chính vì vậy, GDMN cần giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ mầm non
Với trẻ mẫu giáo, sự phát triển nhận thức, thể chất, ngôn ngữ, thẩm mỹ, tình cảm và kĩ ăng xã hội của trẻ rất mạnh mẽ Trẻ 5 – 6 tuổi được sống trong môi trường ngày càng phong phú và đa dạng, ngôn ngữ của trẻ ngày một phát triển, mối
Trang 12quan hệ với bạn bè xung quanh càng được mở rộng, vậy nên đây chính là thời điểm thích hợp nhất để giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ Và nhà giáo dục Xô Viết vĩ đại Macarenco đã có câu: “Những gì không có được ở trẻ 5 tuổi thì sau này khó có thể hình thành và sự hình thành nhân cách ban đầu lệch lạc giáo dục lại rất khó khăn Chính vì vậy, trẻ cần học cách xác định cảm xúc, hiểu tại sao chúng xảy ra và làm thế nào để quản lí chúng một cách thích hợp Sự chuẩn bị tốt về mặt cảm xúc ở giai đoạn này sẽ giúp trẻ hình thành những kĩ năng quan trọng để hòa nhập vào môi trường mới một cách tự tin Hơn thế nữa, việc giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ
5 – 6 tuổi sẽ góp phần tạo tiền đề vững chắc cho trẻ bước vào lớp Một tự tin, mạnh dạn, thích ứng nhanh hơn Do đó, việc giáo dục kĩ năng NBVTHCx cho trẻ 5 – 6 tuổi là điều cần thiết và đáng quan tâm hiện nay
Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non “Trẻ học mà chơi, chơi mà học” Đối với trẻ mầm non thì vui chơi có vai trò quan trọng nhất đối với sự phát triển của trẻ, vui chơi ảnh hưởng mạnh đến sự hình thành tính chủ định của các quá trình tâm lý ở trẻ Vì thế cần tạo cho trẻ môi trường để trẻ được hoạt động, trải nghiệm, vui chơi, từ đó trẻ có thể tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên hơn Ở trường mầm non muốn trẻ phát triển tốt thì cô phải là người thể hiện tốt nhiệm vụ giáo dục của mình luôn linh động sáng tạo giúp trẻ thông qua chơi mà học, bằng cách thông qua giờ “Hoạt động góc” Vì khi chơi ở các góc của trẻ không phải thật mà là giả vờ, nhưng sự giả vờ ấy lại mang tính chất rất thật Cô cần phải biết dạy cho trẻ chơi cái gì? Chơi như thể nào để đem lại kiến thức phục vụ cho hoạt động học, phục vụ cho sự phát triển tư duy của trẻ Thông qua hoạt động chơi ở các góc sẽ tạo điều kiện cho trẻ được cung cấp, củng cố những khái niệm và kĩ năng đã học Ở trường mầm non, hoạt động góc chiếm thời gian phần lớn trong thời gian biểu của trẻ Nó được thiết kế và tổ chức theo các chủ đề phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ: Trẻ có nhu cầu chơi vì luôn mong muốn hiểu biết về cuốc sống xung quanh Và hoạt động chơi ở các góc còn có giá trị rất lớn và đã trở thành phương tiện để giáo dục trẻ phát triển nhận thức, phát triển thẩm mỹ, phát triển thể chất, phát triển ngôn ngữ và là phương tiện không thể thiếu nhằm phát triển toàn diện
Trang 13nhân cách, tình cảm và kĩ năng xã hội cho trẻ ở trường mầm non Hơn thế, khi vui chơi ở các góc trẻ sẽ có nhiều thời gian vui chơi và thể hiện cảm xúc của mình một cách tự nhiên nhất, từ đó giáo viên có thể phát hiện sớm và phát huy ưu điểm cũng như hạn chế nhược điểm của trẻ Do đó, việc giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc là phù hợp và cần thiết hiện nay
Đối với trẻ 5 – 6 tuổi, ở trẻ xuất hiện tình cảm bạn bè Đời sống xúc cảm, tình cảm ổn định hơn so với trẻ 4 - 5 tuổi, mức độ phong phú, phức tạp tăng dần theo các mối quan hệ giao tiếp với những người xung quanh Các sắc thái xúc cảm con người trong quan hệ với các loại lứa tuổi khác nhau, vị trí xã hội khác nhau, được hình thành như: Tình cảm mẹ con, ông bà, anh chị em, tình cảm với cô giáo, với người thân, người lạ Tuy nhiên đời sống xúc cảm của trẻ còn dễ dao động, mang tính chất tình huống Mặc dù sự phát triển tình cảm xúc cảm của trẻ đã ổn định hơn và trẻ sống rất tình cảm, cảm xúc Nhưng, phần lớn trẻ chưa biết cách nhận biết và thể hiện cảm xúc trong cuộc sống cách hay nói cách khác là trẻ thiếu kĩ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc Vì thế, trong chương trình giá dục mầm non cũng như trong bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi cũng đã có những nội dung đề cập đến việc giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi Và giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi cũng đã bắt đầu được lan tỏa trong giáo dục tại Việt Nam trong những năm gần đây Tuy nhiên, việc triển khai lựa chọn nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ trên thực tế vẫn còn gặp nhiều lúng túng
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Biện pháp giáo dục kĩ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc ở trường mầm non.”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu đi sâu tìm hiểu cơ sở lý luận và tiến hành khảo sát thực trạng giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non thông qua hoạt động góc Từ đó, đề xuất một số biện pháp phù hợp và khoa học nhằm giáo
Trang 14dục kĩ năng NBVHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc ở trường mầm non đạt hiệu quả toàn diện hơn
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Quá trình tổ chức hoạt động góc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc ở trường mầm non
4 Giả thiết khoa học
Kĩ năng NBVTHCX giúp trẻ phát triển tốt khả năng giao tiếp, biết quan tâm, chia sẻ, hòa đồng với bạn bè và dễ dàng thích ứng với cuộc sống Nếu đề tài đưa ra tiêu chí đánh giá khách quan và biện pháp phù hợp thì sẽ giúp trẻ 5 – 6 tuổi có kĩ năng NBVTHCX tốt hơn: tự tin hơn trong cuộc sống, hòa đồng với bạn bè, biết yêu thương mọi người, mọi vật, các hiện tượng xung quanh, biết đồng cảm, sẻ chia, biết kiểm soát cảm xúc của mình
Trang 156 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục kĩ năng NBVHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc ở trường mầm non
6.2 Khảo sát thực trạng giáo dục kĩ năng NBVHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc ở một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
6.3 Đề xuất biện pháp giáo dục kĩ năng NBVHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc ở trường mầm non
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc và phân tích, tổng hợp tài liệu có liên quan đến giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc ở trường mầm non để xây dựng khung lý thuyết của đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
Đề tài sử dụng phương pháp quan sát để quan sát cách tổ chức hoạt động góc của giáo viên và trẻ ở trường mầm non trong hoạt động góc để tìm hiểu mức độ kĩ năng NBVTHCX của trẻ
Ngoài quan sát để biết về mức độ kĩ năng của trẻ, đề tài còn quan sát thực trạng biện pháp giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc ở trường mầm non
7.2.2 Phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi Anket
Đề tài sử dụng phiếu hỏi Anket để thực hiện khảo sát ý kiến giáo viên về nhận thức của họ đối với tầm quan trọng của vệc giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc ở trường mầm non
Ngoài ra, phiếu Anket còn được sử dụng để khảo sát ý kiến giáo viên về nội dung, hình thức tổ chức, những thuận lợi, khó khăn và đề xuất biện pháp giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc ở trường mầm non
Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng bài tập tình huống qua tranh để đánh giá mức độ nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi về kĩ năng NBVTCX
Trang 167.2.3 Phương pháp đàm thoại
Phương pháp trao đổi, đàm thoại với giáo viên dạy trẻ lớp 5 – 6 tuổi được sử dụng trong đề tài này nhằm làm rõ hơn về nhận thức của giáo viên đối với tầm quan trọng của giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ ở trường mầm non và nội dung, hình thức tổ chức giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ thông qua hoạt động góc ở trường mầm non
Ngoài đàm thoại với giáo viên, chúng tôi còn đàm thoại với trẻ nhằm hiểu rõ thực trạng trẻ đã hiểu biết về kĩ năng NBVTHCX ở mức độ nào để có cơ sở đề xuất một số biện pháp phù hợp với trẻ 5 – 6 tuổi
Kết quả thu được sẽ được dùng để đối chiếu, so sánh với kết quả từ khảo sát Anket
7.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm các biện pháp đã đề xuất nhằm kiểm nghiệm hiệu quả
áp dụng các biện pháp giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc ở trường mầm non
7.2.5 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu kế hoạch tổ chức hoạt động, kế hoạch ngày, kế hoạch tuần của giáo viên để đánh giá quá trình thực hiện của giáo viên trong việc giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phép tính thống kê phần (%) để xử lý và phân tích các số liệu thu thập được
8 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về việc giáo dục kĩ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc ở trường mầm non
Trang 17Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ
5 – 6 tuổi trong hoạt động góc ở một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Biện pháp giáo dục kĩ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ
5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc ở trường mầm non
Trang 18
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC GIÁO DỤC KĨ NĂNG NHẬN BIẾT
VÀ THỂ HIỆN CẢM XÚC CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT
ĐỘNG GÓC Ở TRƯỜNG MẦM NON 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Giáo dục cảm xúc có nguồn gốc từ phong trào “giáo dục tình cảm” những năm 1960 Khi đó người ta cho rằng về tâm lí và động cơ, trẻ em sẽ học tập tốt hơn khi chúng áp dụng ngay những gì chúng đã học tại neuva shool một trường tư thục
ở Francisco, đã có những chương trình giáo dục trí tuệ cảm xúc thông qua quá trình self-science ( tự hiểu mình) Giáo trình này nói tới xúc cảm đòi hỏi giáo viên và học sinh phải đặc biệt chú trọng tới bối cảnh của cuộc sống phương pháp này đòi hỏi
về những căng thẳng và chấn thương trong cuộc sống của trẻ em [8]
Giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ là đề tài được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm Trong đó có thể thấy, các nghiên cứu trên của các nhà khoa học trên thế giới chia ra thành ba hướng nghiên cứu chính Cụ thể:
Hướng thứ nhất nghiên cứu về phương pháp giáo dục kĩ năng NBVTHCX
Điển hình cho hướng nghiên cứu này là Mar Gordon Chương trình Roots of empathy (ROE) – Nguồn gốc của sự đồng cảm, đc sáng lập bởi bà Mary Gordon đây là một chương trình có ý nghĩa đối với sự phát triển nhân cách của trẻ các nhà nghiên cứu tại viện nghiên cứu giáo dục Ontario tại đại học Toronto đã đánh giá ROE là một chương trình hiệu quả để phát triển ĩnh vực học tập tình cảm xã hội chương trình hướng tới thúc đẩy sự phát triển đồng cảm ở trẻ, giảm mức độ hành vi, hung hang và bắ nạt ở trẻ, giúp trẻ tăng cường hành vi ủng hộ xã hội ( biết chia sẽ, giúp đỡ) tăng kiến thức về tình cảm xã hội chương trình dành cho trẻ từ mẫu giáo đến lớp 8 Hiện nay chương trình đc phát triển ở các nước như Canada, Hoa Kì, Anh, Châu Âu New Zealand [35]
Trang 19Như vậy, có thể thấy giáo dục cảm xúc hay kĩ năng NBVTHCX đã đc phát triển ở rất nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt chương trình không chỉ dành cho lứa tuổi học sinh mà còn dành cho trẻ em lứa tuổi mầm non
Ngoài ra một số giáo trình như “phát trển xã hội”, giáo trình “năng lực sống” hoặc giáo trình “tập luyện xúc cảm xã hội” cũng được áp dụng ở các trường học tại Mỹ các chương trình này đều nhằm mục đích khuyến khích sự phát triển trí tuệ cảm xúc và xã hội của trẻ em trong khuôn khổ giảng dạy truyền thống [8]
Hướng thứ hai nghiên cứu về nội dung, biện pháp giáo dục trẻ kĩ năng NBVTHCX cho trẻ mầm non
Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này gồm có Marilou Hyson, Dan Gartrell, J
M Gottman, Ann S.Epstein Chẳng hạn như, Marilou Hyson khi nói về giáo dục kĩ năng NBVTHCX, Marilou Hyson đã đi sâu vào việc tìm biện pháp giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ mầm non Chẳng hạn, cuốn sách “Teaching Emotional Intelligence to Children” (Phát triển cảm xúc cho trẻ) của tác giả Marilou Hyson đã cung cấp một số hoạt động giúp trẻ thể hiện cảm xúc thông qua bài hát , nghệ thuật hoặc trò chơi Trong cuốn sách “The emotional development of young children” (Phát triển cảm xúc cho trẻ) của tác giả Marilou Hyson đã cung cấp những thông tin
bổ ích cho GV và PH về những đặc điểm phát triển cảm xúc ở trẻ mầm non và những phương pháp, mục tiêu, chiến lược và những ví dụ thực tế để nâng cao nhận thức và thể hiện cảm xúc thích hợp của trẻ em lứa tuổi mầm non
Cuốn sách “The Power of Guidance: Teaching Social- Emotional skills in Early Childhood Classrooms” Sức mạn của sự hướng dẫn: Dạy kĩ năng cảm xúc
xã hội trong lớp học mầm non) của tác giả Dan Gartrell ăm 2013, đã cung cấp những thong tin bổ ích để giáo viên thúc đẩy sự phát tiển và tương tác với tre Đặc biệt là trẻ trai, thường có những xung đột ở mức độ nhẹ hoặc nghiêm trọng với bạn ngoài ra cuốn sách còn cung cấp những chiến lược giúp giáo viên quản lí lớp học tốt hơn mà không sử dụng sự trừng phạt đối với trẻ
Cuốn sách “The Heart of Parenting: Raising an Emotionally Intelligent Child” (Trái tim của cha mẹ : nâng cao trí thông minh cảm xúc cho trẻ ) của nhà
Trang 20tâm lí học John M Gottman , năm 1998, cuốn sách là nguồn tư liệu quí giá để cha
mẹ và giáo viên hướng dẫn trẻ hiểu thế giới cảm xúc của mình Tác giả nhấn mạnh nâng cao trí tuệ cảm xúc sẽ giúp trẻ trở nên tự tin, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, đạt hiệu quả tốt hơn trong học tập Đặc biệt, ông đưa ra 5 bước huấn luyện cảm xúc cho trẻ “Nhận biết cảm xúc của trẻ, công nhận cảm xúc của trẻ xem đó là
cơ hội để gần gũi và giảng dạy trẻ, đồng cảm và xác nhận cảm xúc của trẻ, giúp trẻ dán nhãn cảm xúc, luôn hỗ trợ trẻ đưa ra những cách thích hợp để giải quyết một vấn đề hoặc tình huống khi trẻ gặp phải những cảm xúc khó chịu.”
Hơn nữa, phát triển kĩ năng NBVTHCX nằm trong lĩnh vực phát triển tình cảm – xã hội đây là lĩnh vực rất được quan tâm và phát triển mạnh ở các nước trong giáo trình Me, You, Us Social-Emotional learning in preschool của tác ỉa Ann S.Epstein đã cung cấp những nội dung và phương pháp giúp giáo viên có đc nguồn
tư liệu quý giá để giáo dục trẻ những kĩ năng cảm xúc xã hội quan trọng chẳng hạn như sự nhận thức bản thân, phát triển sự đồng cảm, kiểm soát hành vi và các năng lực xã hội cần thiết
Hướng thứ ba đi sâu nghiên cứu xúc cảm, tâm lý của trẻ
Chẳng hạn như E.L.Thorndike, Walter Mischel, Josep Ledoux,… Cụ thể là: Cuối những năm 1930, E.L.Thorndike quan niệm trí tuệ xã hội là năng lực hiểu và điều khiển mà những người đàn ông, đàn bà, con trai và con gái sử dụng để hành động một cách khôn ngoan, sáng suốt trong các mối quan hệ của con người Đây cũng là một quan niệm thể hiện khả năng kiểm soát của cá nhân đối vs người khác [27]
Năm 1960, Walter Mischel đã tến hành trắc nghiệm để đo năng lực chế ngự cảm xúc tại 1 nhà trẻ ở trường Đại học Stanford Trắc nghiệm này cho phép thăm dò tâm lý một đứa trẻ xung đột giữa các xung lực và sự kiềm chế, giũa ham muốn và
sự chế ngự bản thân, giữa niềm thích thú tức khắc và sự mong đợi [18]
Bên cạnh đó nhiều công trình ngiên cứu của các nhà thần kin học có liên quan đến cảm xúc và bộ não cũng xuất hiện Các công trình này một lần nữa giúp con người khám phá ra sự liên hệ đặc biệt của não bộ đối với cảm xúc Chẳng hạn,
Trang 21vào năm 1992 nhà thần kinh học Josep Ledoux khẳng định mọi cảm xúc vui, buồn, giận dữ đều được sinh ra từ hệ thống viền (limbic) [18]
Ngoài ra, còn có một số nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu chỉ số cảm xúc, phương pháp giáo dục hiệu quả cho vấn đề này Tiêu biểu là:
Trong tạp chí khoa học năm 1997 nhóm tác giả Denham, Susanne A; Mitchell-Copeland, Jennifer; Strandberg, Katherine; Auerbach, Sharon; Blair, Kimberly đã nghiên cứu về sự ảnh hưởng của cha mẹ một cách trực tiếp và gián tiếp đến năng lực cảm xúc của trẻ mầm non Kết quả cho thấy, cách mà cha mẹ thể hiện
và phản ứng với cảm xúc là những dự báo quan trọng về năng lực cảm xúc của trẻ Trẻ em có cha mẹ thể hiện cảm xúc tích cực sẽ có xu hướng thể hiện cảm xúc tích cực với bạn bè Trong khi trẻ em có ba mẹ thể hiện cảm xúc một cách tiêu cực thì trẻ có năng lực thể hiện cảm xúc thấp hơn Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với những nghiên cứu trước đó, chỉ ra rằng cha mẹ đều có những tác động đến năng lực cảm xúc – xã hội của trẻ ở nhà cũng như ở trường
Năm 2007, trong tạp chí giáo dục mầm non nhóm tác giả C.Hansen & D.Zambo đã đề cập đến vấn đề “Loving and Learning with Wemberly and David: Fostering Emotional Development in Early Childhood Education” (Yêu thương và học tập với Wemberly và David: Thúc đảy sự phát triển cảm xúc trong giáo dục mầm non) Nhóm tác giả chia sẻ những phương pháp, cách thức giúp giáo viên phát triển năng lực cảm xúc cho trẻ trong những năm mẫu giáo
Năm 2010, nhóm tác giả H Elif Daglioglu, Umit Deniz, Adnan Kan thuộc trường đại học Gazi ở Ankara Thổ Nhĩ Kỳ đã công bố những nghiên cứu về chỉ số cảm xúc của trẻ 5 – 6 tuổi thông qua các tranh vẽ hình người Dựa vào 5 loại chỉ số cảm xúc của Koppitz Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ trai thể hiện cảm xúc: tính bốc đồng, bất an, lo lắng, nhút nhát, rụt rè và tức giận nhiều hơn trẻ gái Ở Nga, Belarus và các nước cộng hòa thuộc Liên Bang Nga, trí tuệ cảm xúc đã được sử dụng như một lựa chọn mới trong nội dung phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội [3]
Ngoài ra, cách đây khoảng 8 thập kỷ trước nhà tâm lý LevVygotxki đã chú ý đến lĩnh vực này là “Trí tuệ hóa cảm xúc” Theo luận điểm của ông, trẻ học cách ý
Trang 22thức bản thân qua việc tương tác về người khác Sau đó nhiều học trò của ông tiếp tục công việc của ông nhưng tất cả họ đều đi theo những hướng khác nhau Kết quả
là ý nghĩa của trí tuệ cảm xúc chỉ được chú trọng ở Mỹ cách đây khoảng 10 năm [3]
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam trong 10 năm trở lại, vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non rất được quan tâm, trong đó, giáo dục kĩ năng NBVTHCX cũng là một đề tài được quan tâm và đi sâu nghiên cứu Cụ thể liệt kê sau đây một số tác giả bàn về giáo dục kĩ năng NBVTHCX như:
- Tác giả Lê Ngọc Bích với cuốn giáo trình “Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
từ 5 đến 6 tuổi” [4] Trong lĩnh vực này tác giả tập trung vào hai nội dung giáo dục
kĩ năng này cho trẻ bao gồm: kĩ năng thể hiện sự đồng cảm và kĩ năng thể hiện cảm xúc với những người xung quanh
Bên cạnh đó, kĩ năng NBVTHCX cũng được nói tới trong “Chương trình giáo dục giá trị sống dành cho trẻ từ 3 đến 7 tuổi” Bênh cạnh các lĩnh vực khác, tác giả tập trung giáo dục trẻ các bước giải quyết xung đột, giáo dục trẻ thể hiện sự yêu thương, hạnh phúc và khoan dung thông qua các trò chơi và câu chuyện [9]
- Tác giả Lương Thị Bình và Phan Lan Anh cũng đóng góp trong giáo trình
“Các hoạt động giáo dục tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ mầm non” Giáo trình này cung cấp cho GV các trò chơi và phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục tình cảm, xã hội cho lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo [5]
- Tác giả Lương Thị Bình với “Dự án tăng cường khả năng sẵn sang đi học cho trẻ mầm non về lĩnh vực giáo dục phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội” Bài viết cung cấp nội dung, cách thức cũng như phương pháp để hỗ trợ GV giáo dục kỹ năng này cho trẻ Đặc biệt trong lĩnh vực phát triển tình cảm tác giả chú trọng phát triển 3 khía cạnh: nhận biết và thể hiện cảm xúc, hiểu và đáp lại cảm xúc của người khác, kiểm soát cảm xúc của bản thân [6]
- Bên cạnh các chương trình và giáo trình kể trên cũng có nhiều tác phẩm hữu ích hỗ trợ trẻ phát triển kĩ năng NBVTHCX Chẳng hạn như cuốn sách “Thế giới cảm xúc của trẻ thơ” đã chia sẻ những thông tin hữu ích, đặt biệt là những cách
Trang 23cha mẹ có thể giúp con vượt qua những cảm xúc khó chịu chẳng hạn như: sự đau khổ, cơn giận hay sự sợ hãi Ngoài ra, cuốn sách còn đưa ra những gợi ý giúp cha
mẹ tăng hứng thú và niềm vui, hạnh phúc sống cùng con cái [15]
- Cuốn sách “Bí quyết phát triển cảm xúc cho trẻ khám phá tiềm năng nâng cao EQ” của Trần Đại Vi đã hướng dẫn trẻ các bí quyết để nâng cao chỉ số EQ, trong đó gồm có 5 chương: “Tự hiểu mình”, Tự quản mình, Học để biết tự động viên khuyến khích mình, Học để biết giao tiếp với mọi người”, Làm cao thủ EQ bên cạnh đó, cuốn sách còn cung cấp những bài tập thực hành thú vị để trẻ luyện tập
và nâng cao chỉ số EQ của mình [31]
- Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề năng lực cảm xúc.Chẳng hạn:
Năm 2013 công trình nghiên cứu “Khảo sát năng lực cảm xúc của trẻ 4 – 5 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” của Lê Thị Ngọc Thương Trên cơ sở phân tích các mô hình về năng lực trí tuệ cảm xúc, nhóm tác giả tập trung nghiên cứu 4 yếu tố phát triển năng lực cảm xúc cho trẻ 4 – 5 tuổi bao gồm: Khả năng nhận biết, đánh giá và thể hiện cảm xúc của bản thân; Khả năng nhận biết và đánh giá cảm xúc của người khác; Khả năng điều chỉnh cảm xúc của bản thân và người khác; Khả năng sử dụng cảm xúc để định hướng hành động Bằng phương pháp trò chuyện và phương pháp quan sát, nhóm tác giả đã đo năng lực cảm xúc của trẻ 4 – 5 tuổi đạt ở mức độ trung bình Ngoài ra, nhóm tác giả khảo sát các biện pháp mà giáo viên sử dụng để giáo dục trẻ Trong đó có 3 biện pháp được giáo viên sử dụng nhiều nhất, bao gồm: biện pháp dùng tình cảm, biện pháp sử dụng trò chơi và biện pháp làm gương, khen phạt đúng mực, đúng lúc Tuy nhiên, đề tài chỉ dừng lại ở nghiên cứu các mức độ và khảo sát biện pháp GV sử dụng mà chưa có những tác động sâu về những biện pháp nhằm thúc đẩy năng lực cảm xúc cho trẻ[29]
Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu “Kĩ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc của trẻ 5 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh” của Ngô Thị Thạch Thảo đã có những kết luận sau: Kĩ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc của trẻ đạt
Trang 24mức độ chưa cao Ngoài ra, GV chưa chú trọng phát triển kĩ năng này, hầu hết được rèn luyện lồng ghép trong các hoạt động khác Tác giả đã đề xuất một số biện pháp giáo dục trẻ và khảo sát tính khả thi, trong đó biện pháp được giáo viên lựa chọn nhiều nhất là “Yêu thương, quan tâm đến trẻ bằng hành vi cụ thể” Tuy nhiên, đề tài cũng chưa có những biện pháp tác động nhằm thúc đẩy kỹ năng này cho trẻ [25]
Ngoài những công trình nghiên cứu khoa học được đề cập ở trên thì vấn đề nghiên cứu biện pháp giáo dục kĩ năng NBVTHCX đã được một số tác giả đề cập trong một số tạp chí Chẳng hạn như:
Năm 2003, tác giả Ngô Công Hoàn với bài viết: “Xúc cảm và giáo dục xúc cảm đối với trẻ em lứa tuổi mầm non” Bài viết này tác giả đưa ra 4 nội dung giáo dục cảm xúc cho trẻ em lứa tuổi mầm non Bao gồm: giáo dục tự ý thức cho trẻ, làm chủ được các xúc cảm của mình, giáo dục khả năng đồng cảm với người khác, giáo dục khả năng hợp tác với mọi người Ở mỗi nội dung tác giả đều đi sâu phân tích và nêu lên ý nghĩa của chúng [13]
Năm 2005, tác giả Trần Thị Hồng Sương cũng đã đề cập đến “Một số giờ học phát triển xúc cảm cho trẻ 4 – 5 tuổi” trên tạp chí thông tin KH – GD Mầm non Thông qua 4 giờ học, tác giả đã tổ chức phát triển cảm xúc vui, buồn, giận dữ, sợ hãi Bên cạnh đó, tác giả đã tổ chức một số trò chơi và hoạt động để trẻ nhận biết và thể hiện cảm xúc [23]
Ngoài ra năm 2006, tác giả Nguyễn Thu Hà với bài viết “Sự phát triển của cảm xúc xấu hổ ở lứa tuổi mầm non”, tác giả đã phân tích sự phát triển cảm xúc xấu
hổ của trẻ ngày càng tăng theo lứa tuổi đặc biệt là trẻ từ 3 tuổi trở lên Sự phát triển cảm xúc xấu hổ của trẻ có liên quan đến tình cảm khác như trách nhiệm, lòng nhân
ái Đặc biệt là nó ảnh hưởng đến sự hình thành đạo đức cho trẻ Vì vậy, GV và người lớn cần có sự quan tâm, chú ý giáo dục cảm xúc này cho trẻ [11]
Năm 2009, tác giả Nguyễn Minh Anh có bài viết “Trí tuệ cảm xúc với nội dung phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội của trẻ trong chương trình giáo dục mầm non mới” Trong bài viết , tác giả nhấn mạnh đến sự phát triển trí tuệ cảm xúc ở trẻ mẫu giáo lớn gồm những thành tố sau:
Trang 25- Định hướng chú ý: thế giới con người
- Định hướng quan tâm: người khác
- Tính đến cảm xúc của người khác trong hoạt động của mình
1.2 Các khái niệm chính của đề tài
1.2.1 Kĩ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
a Kĩ năng
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng Quan niệm thứ nhất cho rằng
kỹ năng là mặt kỹ thuật thao tác
Tác giả Trần Trọng Thủy cho rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng [26] Theo tác giả N.D.Levitovxam cho rằng kỹ năng gắn liền với kết quả hành động Người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Ông nhấn mạnh, muốn hình thành kỹ năng con người vừa phải nắm vững lý thuyết về hành động, vừa phải vận dụng lí thuyết đó vào thực tế [14]
Theo T.A.Ilina, “Kỹ năng là những hành động thực hành mà trẻ có thể thực hiện được trên cơ sở những kiến thức thu nhận được và về sau những hành động thực hành này lại giúp trẻ thu nhận những kiến thức mới” [24, tr.5]
Từ điển Tâm lý học (1983) của Liên Xô (cũ) định nghĩa “kỹ năng là giai đoạn giữa của việc nắm vững một phương thức hành động mới – cái dựa trên một quy tắc (tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng với tri thức đó, nhưng còn chưa đạt đến mức độ kỹ xảo” [19, tr.376]
Quan niệm thứ hai là xem kĩ năng như là một năng lực của con người:
A.V.Petrovski cho rằng kỹ năng là “Năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định” [22, tr.18]
Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã
Trang 26có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép [21]
Tác giả Vũ Dũng đã định nghĩa: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [10]
Như vậy, theo các quan niệm trên chúng ta thấy rằng:
- Kỹ năng giúp con người làm việc đạt hiệu quả hơn
- Để có kỹ năng con người cần phải nắm vững lý thuyết, có mục đích hành động và có khả năng vận dụng nó vào thực tiễn
- Kỹ năng không tự nhiên mà có, nó phải thông qua luyện tập thường xuyên mới có được
Với những quan niệm trên chúng tôi cho rằng: Kỹ năng là khả năng vận dụng tri thức, kinh nghiệm con người có được để hành động có kết quả và hành động đó phải phù hợp với điều kiện cho phép
b Cảm xúc
Bàn về khái niệm cảm xúc đã có rất nhiều ý kiến khác nhau
Theo từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng, “Cảm xúc là sự phản ánh tâm
lý về mặt ý nghĩa sống động của các hiện tượng và hoàn cảnh, tức mối quan hệ giữa các thuộc tính khách quan của chúng với nhu cầu của cơ thể, dưới hình thức những rung động trực tiếp” [10]
Từ điển tâm lý học của tác giả Nguyễn Khắc Viện đưa ra như sau “Cảm xúc là
sự phản ứng rung chuyển của con người trước một kích động vật chất hoặc một sự việc gồm hai mặt: những phản ứng sinh lý do thần kinh thực vật như tim đập nhanh , toát mồ hôi, nội tiết tăng hay giảm, cơ bắp co thắt hoặc run rẩy, lối loạn tiêu hóa Phản ứng tâm lý qua những thái độ, lời nói, hành vi và cảm giác dễ chịu, khó chịu, vui sướng, buồn khổ có tính bột phát, chủ thể kiềm chế khó khăn” [32]
Theo giáo trình tâm lý học đại cương tác giả Huỳnh Văn Sơn (chủ biên)
“Xúc cảm là những rung động của con người đối với từng sự vật, hiện tượng riêng
lẻ có liên quan đến nhu cầu, động cơ của người đó trong những tình huống nhất định” [20]
Trang 27Theo Caroll.E.Jzard định nghĩa về cảm xúc một cách đầy đủ phải chú ý 3 khía cạnh sau:
- Cảm giác này được thể nghiệm hay là được ý thức về cảm xúc
- Các quá trình diễn ra trong hệ thần kinh, hệ nội tiết, hô hấp, tiêu hóa và các hệ khác của cơ thể
- Các phức hợp biểu cảm, cảm xúc được đưa ra quan sát, đặc biệt là những phức hợp phản ánh trên bộ mặt [7]
Như vậy, có thể thấy cảm xúc là một quá trình tâm lý, được thể hiện về mặt rung động của con người, mang tính bản năng, gắn liền với phản xạ không điều kiện, nó bị gây nên bởi những tác động của sự vật hiện tượng xung quanh
Trong đề tài này, người nghiên cứu sử dụng khái niệm cảm xúc theo từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng “Cảm xúc là sự phản ánh tâm lý về mặt ý nghĩa sống động của các hiện tượng và hoàn cảnh, tức mối quan hệ giữa các thuộc tính khách quan của chúng với nhu cầu của cơ thể, dưới hình thức những rung động trực tiếp”
*Phân loại cảm xúc
Theo R.Plutchik con người có tám loại cảm xúc cơ bản: vui – buồn, ngạc nhiên – đề phòng, chấp nhận – ghê tởm, sợ hãi – giận dữ Các cảm xúc cơ bản kết hợp với nhau tạo ra các cảm xúc khác đa dạng hơn Các cảm xúc cơ bản có thể dễ phân biệt khi có cường độ cao và khó phân biệt khi có cường độ thấp [8]
C.Izard đưa ra mô hình gồm mười cảm xúc: vui, buồn, ngạc nhiên, giận dữ, chán ghét, coi khinh, sợ hãi, hổ thẹn, tội lỗi, quan tâm Các cảm xúc này khi tổ hợp với nhau cũng tạo ra các cảm xúc khác [8]
Theo Lưu Hồng Khanh người Việt Nam theo truyền thống phương Đông có bảy mối cảm xúc là “mừng, giận, buồn, sợ, ghét, yêu, thèm muốn” Những cảm xúc tích cực gồm: vui mừng, yêu thương, thèm muốn Những cảm xúc tiêu cực gồm: giận, buồn, sợ , ghét [28]
* Sự biểu hiện của một xúc cảm, tình cảm
Xúc cảm, tình cảm thường biểu hiện trên ba phương diện: sinh lý, hành vi,
Trang 28cử chỉ, điệu bộ và nhận thức
- Những biểu hiện trên phương diện sinh lý
Là những thay đổi về thể chất, sinh lý hoặc thay đổi thành phần các chất hóa học của máu, thần kinh, thể dịch trong cơ thể Ví dụ: khi sợ hãi con người thường biểu hiện: tim đập nhanh, toát mồ hôi, hơi thở ngắn, dạ dày co thắt mạnh Hoặc khi tức giận bàn tay nắm lại, tim đập nhanh, hơi thở gấp, mặt nóng lên…Có thể tùy vào hoàn cảnh, cường độ cảm xúc mạnh nhẹ mà con người thể hiện phản ứng cảm xúc
có liên quan đến phương diện sinh lý, thể chất như trên Những thay đổi này cũng chính là kết quả phản ứng của hệ thần kinh tự động điều khiển hoạt động của các tuyến nội tiết cơ và máu Và khi con người ý thức được những thay đổi bên trong cơ thể thì có thể điều chỉnh được
- Những biểu hiện trên phương diện hành vi, cử chỉ, điệu bộ
Biểu hiện trên hành vi, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ chẳng hạn như khi vui mừng
có thể nhẫy cẫng lên, cười nhiều, khi buồn nét mặt chảy xệ, vai xệ xuống, nói chậm lại, khi tức giận thì mím chặt môi, tay co lại, những thể hiện xúc cảm nét mặt thường mang tính chất bẩm sinh, tuy nhiên nó cũng ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa
- Những biểu hiện trên phương diện nhận thức
Ngoài những thay đổi về thể chất và hành vi ra con người trải nghiệm xúc cảm, tình cảm thông qua việc có thể ý thức được về nó và dùng ngôn ngữ để mô tả lại những trải nghiệm đó của mình [36]
Theo William Hinds, có 8 loại cảm xúc chính yếu và thường có các biểu hiện sau: [15, tr.82]
Cảm xúc Điều cảm xúc thực hiện Điều gì xảy ra trên
khuôn mặt
Các câu trả lời cảm xúc bị kích thích Nỗi buồn –
sự thống khổ
Dấu hiệu rút lui để bảo
vệ Tìm kiếm sự giúp đỡ
Lông mày sẽ chùn xuống và cùng nhau, tạo thành một “tam giác
lo lắng”;gò má căng,
Quan tâm, sợ hãi
Trang 29Miệng và quai hàm rắn chắc, môi mỏng mắt thu hẹp, nhìn khó chịu, gầm gừ,môi kéo về phía sau
để lộ răng nanh
Sợ hãi, đau buồn, giận dữ
mở
Sợ hãi, khinh miệt
Tội lỗi – tủi
thẹn
Bảo vệ chúng ta cho thấy
sự quy phục
Đầu cúi, mắt chùng xuống, đỏ mặt, ngượng ngùng
Ghê tởm, khinh miệt
Thích thú –
bất ngờ
Tập trung chú ý, định hướng chúng ta
Thích thú: chăm chú chú ý, tập trung
Quan tâm, yêu thương
Hạnh phúc –
hân hoan
Giải tỏa, căng thẳng Cười mỉm chi, cười lớn,
lỗ mũi nở, gò mà nhô, kiểu “chân quạ”
Hạnh phúc – hân hoan
Quan tâm –
yêu thương
Phục hồi lại chúng ta, ủng hộ, quan tâm, khiến chúng ta tập trung vào những điều bên ngoài
Cái nhìn ngôi sao, nhìn vào mắt người khác, đôi mắt dịu dàng
Quan tâm yêu thương
Trang 30Việc nắm rõ những phương diện đặc điểm, biểu hiện về cảm xúc sẽ là sẽ đóng vai trò quan trọng là cơ sở để giáo viên giáo dục trẻ nhận biết cảm xúc của bản thân cũng như người khác trong công tác hoạt động giáo dục của mình
c Kĩ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
Có thể thấy một trong những yếu tố không thể thiếu trong việc phát triển năng lực cảm xúc là khả năng trẻ nhận thức được cảm xúc của bản thân mình và người khác, biết được bản thân đang có cảm xúc gì? Nên làm gì để đối phó với chúng? Những điều trẻ làm sẽ mang lại cho người khác cảm xúc gì?
Theo hội đồng khoa học quốc gia – phát triển trẻ em (2005) Những đặc điểm chính của phát triển cảm xúc bao gồm khả năng nhận diện và hiểu cảm xúc của bản thân, để nhận ra và hiểu một cách chính xác trạng thái cảm xúc của người khác, quản lý những cảm xúc mạnh mẽ và thể hiện việc điều chỉnh hành vi, để phát triển
sự đồng cảm với người khác và thiết lập duy trì các mối quan hệ [36]
Theo Salovey và John Mayer thì: Sự hiểu biết về cảm xúc đó là sự ý thức về bản thân – có thể nhận biết cảm xúc của mình Những người biết chắc về cảm giác của mình sẽ có thể sống tốt hơn, cảm nhận chân thực và đúng đắn hơn về các quyết định của mình [8]
Sự nhận biết cảm xúc có mối liên quan đến sự dán nhãn cảm xúc Đây là sự diễn đạt ngôn từ về cảm xúc có tác động xoa dịu đối với hệ thần kinh của trẻ Phát hiện này đã được đo lường trong phòng thí nghiệm [16]
Ví dụ: Khi một đứa trẻ đang rơi vào trạng thái thất vọng và tỏ ra hậm hực, khó chịu khi bạn nó nhanh tay lấy món đồ chơi yêu thích của nó Cô giáo đến bên và nói “Cô biết rằng con đang rất thất vọng khi bạn lấy đồ chơi yêu thích của con Đây là một cảm xúc rất khó chịu phải không nào?”
Việc gọi tên và dán nhãn cảm xúc này có liên quan đến sự kết nối hệ thần kinh Đó là sự kết nối giữa hai hệ thần kinh giao tiếp ngôn từ và phi ngôn từ Trí não của trẻ kết nối hai hệ thống này chưa thật tốt Cơ thể của trẻ có thể cảm nhận được nỗi sợ hãi, gớm ghiếc và cả niềm vui trước khi bộ não nói về chúng Điều này có nghĩa là trẻ sẽ trải nghiệm những đặc tính sinh lý học cảm xúc trước khi
Trang 31biết được cảm xúc ấy là gì Như vậy, trẻ cần phải kết nối hai thần kinh này lại với nhau Các nhà nghiên cứu tin rằng học cách dán nhãn cảm xúc sẽ tạo ra sợi dây kết nối Sự kết nối này diễn ra càng sớm thì chúng ta sẽ chứng kiến những lợi ích của chúng cũng như chứng kiến những hành vi tự xoa dịu của trẻ [16]
Theo Higgs và Dulewicz, nhận biết cảm xúc là “Khả năng tự thấu hiểu cảm xúc của một người và khả năng nhận ra cũng như kiểm soát những cảm xúc này theo cách mà người đó cảm nhận và có thể kiểm soát được Yếu tố này bao gồm cả mức độ niềm tin của họ vào tác động của xúc cảm trong môi trường làm việc” Theo chúng tôi, nhận biết cảm xúc là khả năng hiểu cảm xúc của chính mình tại bất kỳ thời điểm nào và nhận thức một cách đầy đủ cảm xúc đó tác động đến mình và mọi người ra sao Đó còn là khả năng điều chỉnh cảm xúc, khả năng nhận ra và hiểu rằng cảm xúc có thể thay đổi và vì sao lại như vậy Nhận biết cảm xúc cũng là khả năng biết được suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của bản thân mình và nhận ra được cảm xúc của người khác [34, tr.27]
Từ những phân tích trên theo chúng tôi “Kỹ năng nhận biết cảm xúc là khả năng trẻ nhận diện và gọi tên cảm xúc phù hợp với ngôn ngữ để mô tả trạng thái
cảm xúc của bản thân và người khác ra bên ngoài”
Việc dạy trẻ nhận biết cảm xúc có ý nghĩa rất lớn đối với cuộc sống của trẻ Nghiên cứu cho thấy cảm xúc có tác động đến hành vi xã hội của trẻ Ví dụ khả năng dự đoán các vấn đề về cảm xúc có ý nghĩa trong cuộc sống của trẻ Khi trẻ gặp phải những vấn đề (chẳng hạn sự trêu chọc của bạn bè) Lúc này trẻ nhận thức chính xác những cảm xúc đang xuất hiện và kiểm soát những kích động về cảm xúc đó một cách hiệu quả Sau đó trẻ bắt đầu suy nghĩ thấu đáo về vấn đề Sẽ cho trẻ những lựa chọn phù hợp và kiểm soát hành vi của mình Điều này sẽ giúp trẻ thể hiện cảm xúc một cách hiệu quả Hơn nữa nhận biết cảm xúc sẽ giúp trẻ ứng phó với cảm xúc người khác một cách phù hợp đặc biệt là khả năng đồng cảm biết đặt mình vào vị trí của người khác Nghiên cứu cho thấy trẻ hiểu và điều chỉnh cảm xúc của bản thân, sẽ ứng xử phù hợp với cảm xúc của người khác, học tập và hòa nhập với cộng đồng tốt hơn [8]
Từ những phân tích trên theo chúng tôi “Kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc là
Trang 32khả năng nhận diện và hiểu cảm xúc của bản thân và người khác, trên cơ sở đó có những thái độ và hành vi thể hiện ra bên ngoài phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cho phép”
Hoạt động góc trong trường mầm non được người lớn tổ chức, hướng dẫn giúp
đỡ trẻ tái tạo lại những kiến thức trẻ đã được học, được nhìn thấy, nghe thấy và sờ thấy Trong giờ học những sự vật hiện tượng xảy ở môi trường sống gần gũi trẻ, thông qua đó trẻ học được mẫu nhân cách phù hợp với xã hôi loài người
Hoạt động góc là các hoạt động của trẻ được diễn ra tại các góc chơi ở trong nhóm lớp, trẻ có thể tự làm việc một mình hoặc trong nhóm theo hứng thú và nhu cầu riêng, trẻ được thực hành, trải nghiệm, khám phá những điều mới lạ nhằm củng
cố và phát triển các kĩ năng trong các lĩnh vực giáo dục, trong các chủ đề, trẻ được tích cực hoạt động giao lưu cảm xúc, kích thích sự phát triển các giác quan và các chức năng tâm-sinh lý
Trẻ chơi chủ yếu do nhu cầu và khả năng của trẻ, nhu cầu muốn bắt trước, muốn làm người lớn, nhưng khả năng và sức lực của trẻ chưa đủ để làm người lớn
do đó trẻ giải tỏa mâu thuẫn đó dưới một hình thức cực kì độc đáo đó là hoạt động góc
- Trẻ tham gia vào xã hội người lớn theo cách riêng của mình Trẻ tưởng tượng mình là người lớn và cũng đóng một cương vị xã hội như: người mẹ, cô giáo, chú công nhân, bác sỹ…Với những vai đó trẻ tái tạo lại cuộc sống của người lớn một cách tổng quát trong hoàn cảnh tưởng tượng Hoạt động góc có một đặc trưng rất riêng vì hoạt động chơi của trẻ không phải là thật mà là giả vờ, nhưng sự giả vờ ấy mang tính chất rất thật
- Hoạt động góc là tổng hợp các loại trò chơi, trong quá trình chơi trẻ có thể tự
Trang 33bổ sung để mở rộng chủ đề chơi, nội dung chơi, nội dung hoạt động Chính vì vậy đặc trưng cơ bản của trò chơi là quá trình tưởng tượng biểu hiện rất rõ nét, trẻ được
tự do nghĩ ra nội dung chơi…Vì vậy mỗi nội dung chơi luôn phụ thuộc vào vốn kinh nghiệm của trẻ Hoạt động góc là phương tiện giáo dục nhận thức Trong quá trình thực hiện các trò chơi, trẻ phải sử dụng các phương tiện, đồ dùng, nhờ sự tiếp xúc đó mà vốn hiểu biết của trẻ được mở rộng như: tên gọi, màu sắc, kích thước, hình dạng, những thuộc tính không gian của đồ vật Khi hoạt động góc có tác dụng hình thành tính mục đích, tính tổ chức, tính sáng tạo, tính cần cù, khả năng tư duy, ngôn ngữ, tính đồng đội, tính hợp tác, tính nhường nhịn, tương thân tương ái…đây chính là những phẩm chất cần thiết cho trẻ trong cuộc sống sau này
1.2.3 Giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động góc
Trong từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý thì biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể Như vậy, để giải quyết một vấn đề cần phải chú
ý đến các yếu tố bao gồm phương pháp, phương tiện, hình thức cách thức thực hiện
mà vấn đề đặt ra [33]
Giáo dục (theo nghĩa rộng) là sự hình thành nhân cách được tổ chức một cách
có mục đích, có tổ chức thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà giáo dục với người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người [37]
Theo Nguyễn Quan Uẩn GD (theo nghĩa rộng) là toàn bộ tác động của gia đình, nhà trường, xã hội bao gồm cả dạy học và các tác động GD khác đến con người Theo nghĩa hẹp thì GD có thể xem như là quá trình tác động đến tư tưởng, đạo đức, hành vi của người học (GD đạo đức, GD lao động, GD lối sống, hành vi ) [30]
Biện pháp GD là cách thức tác động của người thầy lên người trò nhằm mục đích thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của họ Biện pháp GDMN được hiểu là cách làm cụ thể trong HĐ hợp tác cùng nhau giữa GV với trẻ nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ GD đã đặt ra ở lứa tuổi MN [13]
Trang 34Theo từ điển giáo dục học biện pháp giáo dục “là cách tác động có định hướng, có chủ đích, phù hợp với tâm lý đến đối tượng giáo dục nhằm bồi dưỡng hoặc làm thay đổi những phẩm chất và năng lực của đối tượng Những biện pháp giáo dục thường được áp dụng là giáo dục cá thể, giáo dục tập thể, giáo dục phối hợp, giáo dục đồng đội, giáo dục đồng đẳng… Mỗi biện pháp giáo dục đều có ưu điểm riêng của mình” [12]
Dựa vào cách hiểu trên, chúng tôi xác định khái niệm “Biện pháp giáo dục
kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động góc” như sau:
Biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX là cách thức cụ thể mà giáo viên sử dụng để tác động đến trẻ nhằm giáo dục trẻ khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm để nhận diện và hiểu cảm xúc của bản thân và người khác từ đó thể hiện những thái độ và hành vi một cách phù hợp vào trong thực tiễn nhằm đạt kết quả mong đợi”
1.3 Lý luận về kĩ năng NBVTHCX của trẻ 5 – 6 tuổi và việc giáo dục kĩ năng NBVTHCX cho trẻ 5 – 6 tuổi
1.3.1 Đặc điểm phát triển nhận thức, ý chí, cảm xúc – tình cảm của trẻ 5 –
6 tuổi
a Đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi
Theo quy luật phát triển thông thường tâm lý con người có ba mặt và có mối liên hệ phát triển chặt chẽ với nhau đó là tình cảm – nhận thức và ý chí Thông thường nhận thức sẽ dẫn đến tình cảm sau đó sẽ dẫn đến hành động ý chí
Ý chí cũng tác động ngược lại lĩnh vực tình cảm như kiềm hãm hoặc thúc đẩy con người hành động [28]
Chính vì vậy, mọi tác động giáo dục lên lĩnh vực tình cảm của trẻ chỉ đạt hiệu quả khi các nhà giáo dục nắm được đặc điểm tâm lý nói chung cũng như khả năng nhận thức và mặt ý chí của trẻ nói riêng theo từng độ tuổi Như vậy, các biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi chỉ đạt hiệu quả khi các nhà giáo dục nắm được đặc điểm tâm lý cũng như khả năng nhận thức và mặt ý chí của trẻ ở độ tuổi này
Trang 35Trí nhớ
Trí nhớ của trẻ 5-6 tuổi phát triển mạnh hơn so với lứa tuổi trước Vào cuối tuổi mẫu giáo trẻ hoạt động phức tạp hơn, giáo viên thường đưa ra những yêu cầu cao buộc trẻ không chỉ định hướng vào hiện tại mà phải định hướng vào tương lai cũng như quá khứ.Vì vậy, trí nhớ có chủ định của trẻ cũng bắt đầu được hình thành
và phát triển Sự phát triển có chủ định đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp Một Vì vậy, khi tổ chức hoạt động giáo dục giáo viên cần tạo điều kiện cho trẻ suy nghĩ, tìm hiểu về nội dung, ôn lại hành động và những từ được ghi nhớ
Ngoài ra, trí nhớ của trẻ mang tính trực quan hình tượng rõ nét Những tài liệu bằng học cụ trực quan được trẻ ghi nhớ tốt hơn so với tài liệu chỉ bằng ngôn ngữ Tuy nhiên, giai đoạn này trí nhớ ngôn ngữ của trẻ bắt đầu được hình thành Nhưng trẻ chỉ nhớ được những từ cụ thể hơn là những từ trừu tượng Đặc biệt trẻ ghi nhớ tốt những từ mô tả hình tượng hoặc mô tả có tính chất diễn cảm Chẳng hạn như những từ giàu hình tượng, nhịp điệu rõ ràng, giọng truyền cảm thì trẻ có khả năng nhớ nhanh và lâu bền hơn Bên cạnh đó, trẻ bắt đầu hình thành trí nhớ logic Trẻ không chỉ ghi nhớ máy móc mà còn có khả năng ghi nhớ có ý nghĩa
Tư duy
Tư duy của trẻ 5-6 tuổi đã có một bước ngoặc thay đổi lớn Bắt đầu chuyển từ
tư duy trực quan hình tượng sang tư duy logic Trẻ sử dụng loại tư duy này để giải các bài toán không chỉ được thực hiện bằng phép thử bên ngoài mà được thực hiện bằng cả những phép ngầm trong óc dựa vào những hình ảnh, những biểu tượng ở trong đầu, hay kinh nghiệm trẻ có được Loại tư duy này đặc biệt phát triển ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ Và là điều kiện thuận lợi làm nảy sinh những yếu tố ban đầu của kiểu tư duy trừu tượng được phát triển ở giai đoạn sau
Ngoài ra, tư duy trực quan sơ đồ cũng bắt đầu xuất hiện ở trẻ 5-6 tuổi Loại tư duy này vẫn giữ tính hình tượng của sự vật nhưng chỉ giữ lại những nét chủ yếu mang tính khái quát Việc phát triển tư duy này rất có ý nghĩa với trẻ Giúp trẻ đi sâu vào những mối quan hệ phức tạp của sự vật và mở ra khả năng nhìn thấy mặt
Trang 36bản chất của sự vật mà loại tư duy trước không có được Đặc biệt, khi trẻ biết sử dụng thành thục các vật thay thế, khi phát triển tốt chức năng kí hiệu của ý thức Trẻ
sẽ hiểu rằng có thể biểu thị một sự vật hay một hiện tượng nào đó bằng từ ngữ hay
kí hiệu khác, khi giải những bài toán tư duy độc lập Sự phát triển này đóng vai trò quan trọng để xuất hiện một kiểu tư duy mới khác về chất đó là tư duy logic, kiểu tư duy này sẽ được hình thành và phát triển mạnh mẽ ở giai đoạn học sinh
Ngôn ngữ
Ngôn ngữ của trẻ MG ngày càng phát triển : ngữ âm ngày càng hoàn thiện, vốn từ được mở rộng tăng lên cả số lượng và chất lượng, trẻ sử dụng tương đối đúng ngữ pháp tiếng mẹ đẻ Nếu ngôn ngữ của trẻ ấu nhi sử dụng liên quan đến cái đang tri giác thì trẻ 5-6 tuổi đã bắt đầu hiểu nghĩa các từ, biết sử dụng tiếng mẹ đẻ thành thạo trong sinh hoạt hằng ngày Vì vậy, trẻ có khả năng sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp làm thế nào để nói về điều trẻ cảm thấy và nhận được sự giúp đỡ của người khác
Bên cạnh đó, ngôn ngữ tình huống dần mất đi, trẻ bắt đầu xây dựng cho mình một kiểu ngôn ngữ khác ít phụ thuộc vào tình huống hơn Kiểu ngôn ngữ này đòi hỏi trẻ phải nói năng sao cho người khác hiểu, hình dung được những điều mình định mô tả mà không dựa vào tình huống trước mắt Đây là ngôn ngữ ngữ cảnh Ngoài ra, ngôn ngữ giải thích của trẻ cũng phát triển mạnh Trẻ có mong muốn giải thích cho người lớn hiểu những điều trẻ muốn nói Như vậy, trẻ phải trình bày ý kiến theo một trình tự nhất định, nêu bật những điểm chủ yếu và những mối quan hệ liên kết các sự vật và hiện tượng một cách hợp lí và điều này cũng đã dẫn đến sự phát triển của ngôn ngữ mạch lạc Loại ngôn ngữ này có ý nghĩa quan trọng đối với
sự phát triển trí tuệ của trẻ Vì khi sử dụng ngôn ngữ mạch lạc thì những điều trẻ định nói ra cần được suy nghĩ rõ ràng, rành mạch ngay từ trong đầu Như vậy, cần phải có sự hỗ trợ của tư duy Ngược lại, chính ngôn ngữ mạch lạc là phương tiện cho tư duy của trẻ phát triển lên một chất lượng mới, đó là nảy sinh các yếu tố của
tư duy logic, nhờ đó trẻ 5-6 tuổi phát triển mới, cao hơn so với lứa tuổi trước
Trang 37b Đặc điểm phát triển ý chí của trẻ 5 – 6 tuổi
Sự phát triển ý chí của trẻ 5-6 tuổi xuất hiện như là sự điều chỉnh có ý thức đối với hành vi của bản thân Trẻ đã biết chủ động điều khiển hành vi, hoạt động tâm lý của mình từ chỗ không chủ định sang chủ định Chẳng hạn, trẻ đã biết tập trung quan sát sự vật hiện tượng nào đó, im lặng nghe cô kể chuyện, không đánh bạn hoặc gây ồn ào trong lớp học
Đặc biệt, sự phát triển ý chí của trẻ có quan hệ mật thiết với sự biến đổi các động cơ hành vi Nó có sự tác động qua lại của 3 mặt: đầu tiên là đặt ra mục đích của hành động hoặc chấp nhận mục đích do người khác đặt ra; Thứ hai là xác lập quan hệ giữa mục đích hành động và động cơ; Thứ ba là tăng cường vai trò điều chỉnh của ngôn ngữ trong việc thực hiện những hành động
Ví dụ: Em bé biết hôm nay là sinh nhật mẹ, mục đích em bé đặt ra là muốn mua một món quà tặng mẹ Động cơ khiến em bé làm việc này chính là tình yêu dành cho mẹ Để đạt mục đích nhất định em bé luôn nghĩ thầm trong óc là mình sẽ mua tặng mẹ món quà để mẹ vui Như vậy em bé đã dùng ngôn ngữ
Trang 38c Đặc điểm phát triển cảm xúc – tình cảm của trẻ 5 – 6 tuổi
So với lứa tuổi trước, tình cảm của trẻ 5-6 tuổi thể hiện ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc Trẻ luôn mong muốn được người thân và bạn bè quan tâm, yêu thương và cũng rất sợ khi mọi người xa lánh Đồng thời, trẻ đã biết thể hiện sự quan tâm, chăm sóc khi người thân bị ốm Biết đồng cảm và quan tâm tới bạn Khi bạn buồn thể hiện sự an ủi bằng cách sẵn sàng chia sẻ, nhường đồ chơi cho bạn Đặc biệt, trẻ
đã bắt đầu tự ý thức về bản thân, có thể lĩnh hội các chuẩn mực, quy tắc hành vi trong cuộc sống Trẻ nhận ra những hành vi sai trái khi bị người lớn la mắng Trẻ có thể biết rằng mọi cảm xúc đều có thể được chấp nhận ví dụ: tức giận Nhưng một hành động không phù hợp thì không thể (ví dụ: đánh bạn) và trẻ có thể lựa chọn cách tốt hơn để giải quyết vấn đề, có thể sử dụng lời nói để diễn tả cảm xúc và giải quyết vấn đề của mình
Theo V.X.Mukhina: “Một trong những phương hướng phát triển chủ yếu tình cảm ở lứa tuổi mẫu giáo là sự tăng cường “tính hợp lý” của chúng gắn liền với sự phát triển trí tuệ của trẻ em Trẻ em mới bắt đầu nhận thức thế giới xung quanh, tìm hiểu những hậu quả của những hành vi của mình, hiểu được cái gì là tốt cái gì là xấu” [17, tr.117]
Trẻ ở lứa tuổi ấu nhi, cảm xúc thường gắn liền với cơ chế bẩm sinh của não, còn mang tính không chủ định Ngược lại, trẻ 5-6 tuổi đã biết kiềm chế những cảm xúc mạnh mẽ và đột ngột của mình Trẻ có thể điều khiển những cảm xúc bột phát, đôi khi trẻ còn biết sử dụng tình cảm của mình để tác động đến mọi người xung quanh nhằm thông báo cho họ biết về thái độ của mình về việc làm đó Ngoài ra, trẻ
có khả năng bắt chước những biểu cảm tinh tế của người lớn để vận dụng vào cuộc sống của mình Biết nói những lời làm vui lòng người thân, biết dùng lời khen ngợi
và cỗ vũ bạn bè, hỏi thăm cha mẹ, tặng quà cho người trẻ yêu mến
Có thể thấy trẻ 5-6 tuổi thể hiện tình cảm phong phú và đa dạng Đây cũng là thời điểm mà nhân cách trẻ đang hình thành và phát triển Đặc biệt ở tuổi này trẻ thường trải nghiệm nhiều cảm xúc khác nhau nhưng không phải luôn xác định và kiểm soát được chúng Vì vậy, giáo dục kỹ năng NBVTHCX có ý nghĩa quan trọng
Trang 39giúp trẻ nhận biết, thể hiện và đối phó với cảm xúc một cách lành mạnh Đồng thời phát triển kỹ năng này sẽ tạo cho trẻ có những mối quan hệ tốt đẹp với bạn bè xung quanh, ổn định về mặt tâm lý và có khả năng học tập tốt hơn ở những bậc học tiếp theo
1.3.2 Nội dung giáo dục kĩ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi
Theo Dự án tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non về lĩnh vực giáo dục tình cảm và kỹ năng xã hội Phát triển tình cảm bao gồm các nội dung sau:
- Nhận biết và thể hiện cảm xúc
- Hiểu và đáp lại cảm xúc của người khác
- Kiểm soát cảm xúc của bản than
Nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX trong chương trình chăm sóc giáo dục mầm non [1]
- Nhận biết một số trạng thái cảm xúc (vui, buồn, sợ hãi, tức giận, ngạc nhiên, xấu hổ) qua nét mặt, cử chỉ, giọng nói, tranh ảnh, âm nhạc
- Bày tỏ tình cảm phù hợp với trạng thái cảm xúc của người khác trong các tình huống giao tiếp khác nhau
- Mối quan hệ giữa hành vi của trẻ và cảm xúc của người khác
Nội dung phát triển kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ trong Tài liệu hướng dẫn sử dụng bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi [2]
Chuẩn 9: Trẻ biết thể hiện cảm xúc
Chỉ số 35 Nhận biết các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận, xấu hổ của người khác
Nhận ra và nói được các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận, xấu hổ của người khác qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ khi tiếp xúc trực tiếp hoặc qua tranh, ảnh
Chỉ số 36.Bộc lộ cảm xúc của bản thân bằng lời nói, cử chỉ và nét mặt
Thể hiện những trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận, xấu hổ phù hợp với tình huống qua lời nói, cử chỉ, nét mặt
Trang 40Chỉ số 37 Thể hiện sự an ủi, chia vui với người thân và bạn bè
- Nhận ra tâm trạng của người thân, bạn bè (buồn hay vui)
- Biết an ủi, chia vui phù hợp với họ
- An ủi người thân hay bạn bè khi họ ốm, mệt hoặc buồn rầu bằng lời nói, cử chỉ
- Chúc mừng, động viên, khen ngợi hoặc reo hò, cỗ vũ bạn, người thân khi
có niềm vui : ngày sinh nhật, có em bé mới sinh, có quần áo mới, chiến thắng trong cuộc thi, hoàn thành một sản phẩm tạo hình
Chỉ số 40 Thay đổi hành vi và thể hiện cảm xúc phù hợp với hoàn cảnh
- Tự điều chỉnh hành vi, thái độ cảm xúc phù hợp với hoàn cảnh, ví dụ trẻ đang nô đùa vui vẻ nhưng khi thấy bạn bị ngã đau trẻ sẽ dừng chơi , chạy lại hỏi han, lo lắng, đỡ bạn vào lớp, hoặc trẻ đang thích thú chơi một đồ chơi mới ở ngoài sân nhưng khi vào nhà trẻ sẽ đi lại nhẹ nhàng, không nói to vì mẹ bị ốm
Chỉ số 41 Biết kiềm chế cảm xúc tiêu cực khi được an ủi, giải thích
- Trấn tĩnh lại, hạn chế cảm xúc và những hành vi tiêu cực (như đánh bạn, cào cấu, cắn, gào khóc, quăng quật đồ chơi…) khi được người khác an ủi, giải thích, chia sẻ
- Biết sử dụng lời nói diễn tả cảm xúc tiêu cực (khó chịu, tức giận )của bản thân khi giao tiếp với bạn bè, người thân
Trên đây là một số nội dung của các chuẩn mà trẻ 5 tuổi cần đạt trong lĩnh vực phát triển tình cảm và quan hệ xã hội
Trong đề tài này, chúng tôi nghiên cứu KNNBVTHCX cho trẻ MG 5-6 tuổi
ở những biểu hiện sau:
+ Nhận biết các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận, xấu hổ của người khác
+ Nhận biết các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận, xấu hổ của bản thân
+ Thể hiện sự an ủi với người thân và bạn bè + Thể hiện sự chia vui với người thân và bạn bè