1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của người cơtu ở huyện đông giang, tỉnh quảng nam

82 63 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng bào Cơ Tu ở huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam có nhiều nét văn hóa độc đáo, phong phú và đa dạng như: lễ hội cồng chiêng, lễ hội đâm trâu, lễ hội cúng cơm mới, dệt thổ cẩm, múa tung t

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ - -

Trang 2

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

CỦA NGƯỜI CƠTU Ở HUYỆN ĐÔNG GIANG TỈNH QUẢNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi với sự hướng dẫn của cô T.S Trần Thị Mai An Các số liệu sử dụng phân tích trong khóa luận

có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác Nếu không đúng như

đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình

Người cam đoan

A Lăng Núp

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc đến cô giáo TS Trần Thị Mai An, người đã trực tiếp, nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ em

có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình

Em xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị - Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và trong quá trình thực hiện đề tài

Xin được gửi lời cảm ơn đến tập thể lớp 15 SGC, gia đình và bạn bè đã cung cấp tài liệu và luôn chia sẻ, động viên em trong suốt thời gian em làm khóa luận này

Do khả năng bản thân và thời gian có hạn nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Mong quý thầy cô và các bạn đánh giá, góp ý kiến để khóa luận được hoàn chỉnh hơn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5

2.1 Mục tiêu: 5

2.2 Nhiệm vụ: 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

3.1 Đối tượng: 6

3.2 Phạm vi nghiên cứu: 6

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Bố cục của đề tài 6

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 6

CHƯƠNG 1: 8

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 8

1.1 Cơ sở lý luận về văn hóa truyền thống, văn hóa truyền thống tộc người, bảo tồn và phát huy 8

1.2 Tổng quan về huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam 10

1.2.1 Đặc điểm địa lí, tự nhiên 10

1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 14

1.2.3 Điều kiện lịch sử - dân cư 19

1.3 Khái quát về tộc người Cơtu ở huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam 22

1.3.1 Nguồn gốc và lịch sử người Cơtu 22

1.3.2 Tên gọi, dân số 25

1.3.3 Quá trình sinh sống và phát triển của người Cơtu ở Đông Giang 27

Tiểu kết chương 1 30

CHƯƠNG 2: 31

VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG TỘC NGƯỜI CƠTU 31

Ở HUYỆN ĐÔNG GIANG TỈNH QUẢNG NAM 31

2.1 Cơ sở hình thành văn hóa truyền thống người Cơ tu ở huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam 31

2.2 Văn hóa truyền thống tộc người Cơtu ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam 31 2.2.1 Văn hoá vật chất 31

2.2.1.1 Sinh hoạt kinh tế 31

Trang 6

2.2.1.2 Làng, nhà cửa 33

2.2.1.3 Ẩm thực 40

2.2.1.4 Phương tiện đi lại 44

2.2.1.5 Trang phục 45

2.2.2 Văn hoá tinh thần 48

2.2.2.1 Lễ hội 48

2.2.2.2 Tín ngưỡng – tôn giáo 50

2.2.2.3 Văn hoá nghệ thuật 52

2.2.3 Văn hóa xã hội 55

2.2.3.1 Hôn nhân 55

2.2.3.2 Gia đình 58

2.2.3.3 Dòng họ 60

2.2.3.4 Ma chay 60

Tiểu kết chương 2 62

CHƯƠNG 3: 63

ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HOÁ 63

TRUYỀN THỐNG NGƯỜI CƠ TU Ở HUYỆN ĐÔNG GIANG 63

TỈNH QUẢNG NAM 63

3.1 Thực trạng văn hoá truyền thống của người Cơtu ở huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam hiện nay 63

3.2 Một số giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá dân tộc Cơtu ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam 67

Tiểu kết chương 3 72

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC ẢNH 75

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa của một dân tộc trước hết thể hiện ở bản sắc của dân tộc ấy Và bản sắc dân tộc không phải là cái nhất thành bất biến, mà là một sản phẩm gắn với từng bước phát triển của cộng đồng dân tộc, tức là luôn có xu thế hướng tới hiện đại

Đồng bào Cơ Tu ở huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam có nhiều nét văn hóa độc đáo, phong phú và đa dạng như: lễ hội cồng chiêng, lễ hội đâm trâu, lễ hội cúng cơm mới, dệt thổ cẩm, múa tung tung da dã… Các giá trị văn hóa truyền thống ấy

được truyền nối từ đời này sang đời khác là tài sản vô giá mà tổ tiên đồng bào đã để lại cho bao thế hệ con cháu, trở thành niềm tự hào của tộc người

Tuy nhiên, do tác động của cơ chế thị trường và quá trình hội nhập, một số nét bản sắc văn hóa truyền thống như trang phục, nếp sống văn hóa, phong tục tập quán đang bị pha tạp và dần mai một Đặc biệt, thế hệ trẻ ngày nay đã tiếp cận với nền văn hoá hiện đại nên thái độ giữ gìn, bảo lưu văn hóa truyền thống khá nhạt Nguy cơ thất truyền văn hoá đồng bào tộc người đang là vấn đề rất cấp thiết Do đó, việc tiếp tục khôi phục, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Cơ tu là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược cần phải thực hiện thường xuyên và rất cần các giải pháp nhằm bảo tồn văn hoá tộc người Với vai trò là một người con của quê hương, tôi mạnh dạn chọn đề tài

cho khoá luận tốt nghiệp ra trường của mình là “Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của người Cơ tu ở huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam” nhằm đóng góp một

phần công sức cá nhân vào công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mình

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Để thực hiện được mục đích trên, đề tài có những nhiệm vụ sau:

- Khái quát bức tranh văn hóa truyền thống của Cơ tu ở huyện Đông Giang, tỉnh

Quảng Nam

Trang 8

- Chỉ rõ thực trạng văn hóa truyền thống tộc người đang được bảo lưu ở mức độ

nào, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng:

Giá trị văn hóa truyền thống của người Cơtu và các giải pháp bảo tồn

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Người Cơ tu ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Phép biện chứng duy vật là phương pháp nghiên cứu chủ đạo của đề tài, bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng các phương pháp cụ thể hữu hiệu như điền dã dân tộc học, phân tích - tổng hợp, so sánh – đối chiếu

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận gồm có

3 chương (7 tiết)

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Liên quan đến đề tài của tôi đã có các công trình nghiên cứu sau:

Trong công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Thông, cuốn Katu- kẻ sống đầu nguồn nước (Nxb Thuận Hóa, năm 2005), đã lý giải về nguồn gốc hình thành tộc

người, phạm vi cư trú và tộc danh của người Cơtu, đồng thời tác giả cũng nêu một số phong tục, tập quán, lễ hội của dân tộc này

Trong cuốn “Tiếng thông dụng C’tu-Kinh và văn hóa làng C’tu”, tác giả Bh’ríu

Liếc (2006), NXB sở Văn hóa thông tin Quảng Nam, nghiên cứu, sưu tầm và ghi chép một cách công phu, chi tiết từng nội dung văn hóa dân tộc Cơtu để lưu truyền cho thế

hệ sau

Trong cuốn “Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân huyện Đông Giang”, (2015)

NXB Chính trị quốc gia, Nghiên cứu quá trình đấu tranh giữ nước giữ làng, quá trình xây dựng và phát triển huyện Đông Giang

“Kỉ yếu Đông Giang 10 năm một chặng đường” (2013), NXB Sở Văn hóa và Thông tin Quảng Nam đã nói lên những thành tựu và hạn chế trong quá trình xây

dựng, phát triển quê Đông Giang

Nhìn chung những công trình được liệt kê ỏ trên bước đầu cũng chỉ mang tính khái quát, không đi sâu vào việc phân tích văn hóa truyền thống của người Cơ tu ngay

Trang 9

tại huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam theo hướng nghiên cứu của khóa luận Tuy

nhiên, các công trình này vẫn là nguồn tài liệu hết sức quý báu nghiên cứu này

Trang 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận về văn hóa truyền thống, văn hóa truyền thống tộc người, bảo tồn và phát huy

Từ “Văn hóa” có rất nhiều nghĩa Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa), theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn) … Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống, lao động, … Theo GS Trần Ngọc Thêm, “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên” [18, Tr.10]

"Truyền thống", theo gốc từ Latinh được viết là "Tradio", gồm động từ

"Tradere (traditus) nguyên nghĩa của nó là "truyền lại", "nhường lại", "giao lại" và

"phân phát" Do vậy, hiểu theo nghĩa đơn giản nhất của từ này, truyền thống là sự kế thừa di sản xã hội có giá trị được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Theo GS Trần Văn Giàu, "… truyền thống là những đức tính hay những thói tục kéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện có nhiều tác dụng, tác dụng đó có thể tích cực, cũng có thể tiêu cực" [17, Tr.3]

Vậy ta có thể hiểu rằng văn hóa truyền thống là những giá trị vật chất và tinh

thần do con người tạo ra, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Văn hoá truyền thống thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau: vật chất và tinh thần, vật thể và phi vật thể, cả trong cơ sở hạ tầng lẫn kiến trúc thượng tầng của xã hội Văn hoá tinh thần thể hiện ở tư tưởng, tâm lý, tính cách, qua lối sống, thói quen của cộng đồng, dân tộc Văn hoá là sản phẩm của con người, gắn liền với sự vận động của thực tiễn xã hội, có tính lịch sử Trong văn hoá truyền thống có yếu tố giá trị cả trong quá khứ lẫn hiện tại; có yếu tố giá trị trong lịch sử nhưng không giá trị trong hiện tại (lạc hậu, tiêu cực, không phù hợp với những đổi thay của thời cuộc); có yếu tố giá trị trong quá khứ và hiện tại nhưng cần được phát triển hơn Văn hoá truyền thống có tính phổ biến, ổn định, được kết tinh trong đời sống của một cộng đồng Như vậy đề tài này sẽ đi theo quan điểm

Trang 11

xem văn hóa truyền thống là những giá trị văn hóa tinh thần và vật chất của dân tộc đã được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Tộc người theo nghĩa rộng là một loại hình cộng đồng người

Tộc người theo nghĩa hẹp là tổng hợp những con người được hình thành về mặt

lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, dưới một cái tên tự gọi (tộc danh), có những đặc điểm chung tương đối bền vững về văn hóa và tâm lí (trong đó nổi trội là ngôn ngữ);

có ý thức về sự thống nhất của họ cũng như sự khác nhau giữa họ với các tộc người khác (nói ngắn gọn là ý thức tộc người) Văn hóa có vai trò vô cùng lớn lao đối với sự hình thành và phát triển các cộng đồng tộc người

Thông thường, mỗi tộc người bao giờ cũng cư trú trên một khu vực địa lý nhất định gọi là lãnh thổ tộc người Tộc người sử dụng một ngôn ngữ riêng, khác so với ngôn ngữ của các tộc người khác Trong quá trình tộc người, các thế hệ đã tạo dựng nên các đặc trưng văn hóa chung mang tính ổn định tạo thành bản sắc văn hóa tộc người Vì thế, tộc người có tính bền vững, có sự thống nhất và mối liên hệ chặt chẽ bên trong nội bộ tộc người, có bản sắc riêng để phân biệt với các tộc người khác

Văn hoá truyền thống tộc người được hiểu theo nghĩa rộng nhất là tập hợp

những phương thức hoạt động riêng biệt với những kết quả cụ thể của một cá nhân cũng như của cả một cộng đồng tộc người

Có nhiều khái niệm, định nghĩa về thuật ngữ “bảo tồn” và “phát huy” nhưng để làm rõ hơn khái niệm về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, ta có thể hiểu như sau: Bảo tồn di sản được hiểu như là các nỗ lực nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó Phát huy di sản có nghĩa là những hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội

Đối với bảo tồn thì có hai quan điểm như sau: Bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa

Bảo tồn nguyên vẹn là bảo vệ những sản phẩm của quá khứ một cách nguyên vẹn, như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cũng như cố gắng cách ly di sản khỏi môi trường xã hội đương đại để tránh mọi tác động bên ngoài làm phương hại đến chúng Khuynh hướng này giúp sản phẩm lưu giữ

Trang 12

được nhiều sắc thái văn hóa dân tộc Tuy nhiên, văn hóa nói chung trong đó có văn hóa phi vật thể luôn gắn bó với đời sống, con người, với môi trường xã hội Do đó, nó luôn biến đổi để phù hợp với mọi thay đổi của cuộc sống Bởi vậy, bảo tồn theo khuynh hướng này bộc lộ hạn chế là làm khô cứng các sản phẩm văn hóa [20, Tr.2]

Bảo tồn trên cơ sở kế thừa là mỗi văn hóa cần phải được thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể Khi văn hóa ấy tồn tại ở thời gian và không gian hiện tại, văn hóa ấy cần phát huy giá trị phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại bỏ đi những gì không phù hợp với xã hội ấy Sản phẩm văn hóa nào

có sức sống mãnh liệt, có giá trị, có nền tảng vững chắc do được chắt lọc, chưng cất, được thử thách qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử sẽ có nhiều cơ hội và lợi thế tự khẳng định mình nhiều hơn Điều đó phụ thuộc vào các tiêu chí và hệ giá trị Bởi vậy, khi chúng ta sử dụng hệ giá trị hôm nay làm thước đo sự thay đổi các sản phẩm văn hóa truyền thống, khuynh hướng thả nổi sẽ đẩy nhanh quá trình làm biến dạng các tiêu chí và chuẩn mực vốn đã được định hình từ lâu Những sản phẩm văn hóa truyền thống tuy mang đậm nét đặc thù nhưng khi đặt trong hệ quy chiếu mới nếu không được điều chỉnh sẽ khó có cơ hội tồn tại lâu dài

Bảo tồn văn hóa không chỉ là cất giữ cho khỏi mất tài sản, để giữ gìn bản sắc dân tộc một cách hình thức hoặc tự ca ngợi mình mà ý nghĩa hơn thế rất nhiều, bảo tồn

là để phát triển, khai thác các giá trị văn hoá truyền thống là làm cho nó có thể sống lại, làm cho các giá trị đó tồn tại trong đời sống thực, năng động hoá các hình thức tồn tại của di sản văn hoá trên cơ sở thu hút sự quan tâm của các tầng lớp xã hội, nhờ đó

mà các giá trị được vận hành, thâm nhập vào cuộc sống hiện tại

Phát huy là phải biết kế thừa những tinh hoa của đời trước để lại Những giá trị

đó chính là sự đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn, nếu chúng phù hợp với thời đại mới thì cần được phát huy, đồng thời phải biết sáng tạo thêm những cái mới trên nền tảng những cái truyền thống để vừa làm giàu thêm bản sắc văn hóa, góp phần đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của cư dân đương đại đồng thời cũng là cơ hội để tạo ra thêm nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng giúp phát triển kinh tế bền vững cho địa phương 1.2 Tổng quan về huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam

1.2.1 Đặc điểm địa lí, tự nhiên

Đông Giang là huyện miền núi cao của tỉnh Quảng Nam, nằm cách thành phố Tam Kỳ 145 km về phía Tây Nam, cách thành phố Đà Nẵng 95 km về phía Đông, ở vị

Trang 13

trí địa lí theo tọa độ từ 15°56’ đến 16°10’vĩ độ Bắc; từ 107°35’ đến 107°56’ kinh độ Đông

Ranh giới huyện Đông Giang về phía Đông giáp với huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng; phía Tây giáp với huyện Tây Giang; phía Nam giáp với huyện Nam Giang và huyện Đại Lộc của tỉnh Quảng Nam; phía Bắc giáp với huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên – Huế

Toàn huyện có 11 xã, thị trấn, gồm Ka Dăng, Ba, Tư, Sông Kôn, Zơ Ngây, A Ting, Tà Lu, Mà Cooih, Za Hung, A Rooi và thị trấn Prao

Nằm trên dãy Trường Sơn Đông hùng vĩ, huyện Đông Giang có địa hình khá phức tạp và hiểm trở, nhiều dãy núi cao, độ dốc lớn, sông suối ngăn cách, thung lũng vừa hẹp, vừa sâu

Địa hình chia cắt thành ba vùng khác nhau, độ cao trung bình là 1000 m, độ dốc nghiêng về phía Đông Đỉnh dốc Kiền có độ cao trên 500 m (ranh giới giữa huyện Đông Giang và huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng), cho thấy rõ độ cao của địa hình Đông Giang Vùng phía Đông gồm các xã: Ba, Tư và Ka Dăng; vùng trung gồm các xã: A Ting, Sông Kôn, Zơ Ngây, Ma Cooih; vùng phía Tây Nam gồm các xã: Tà Lu,

A Rooi, Za Hung và thị trấn Prao

Diện tích tự nhiên của huyện là:

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Đông Giang)

Đất trên địa bàn huyện Đông Giang chủ yếu thuộc loại đất đỏ vàng hình thành trên đá biến chất và đất sét (Fs) hoặc trên đá Macma acid (Fa); loại đất này có độ PH

từ 4,5 đến 5,5 phù hợp với các loại cây lâm nghiệp, cây công nghiệp như cây quế, cây tiêu, cây keo… Đây là thế mạnh của huyện có thể phát triển loại hình kinh tế vườn - rừng, trang trại…

Trang 14

Huyện Đông Giang nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa thuộc khu vực Đông Trường Sơn, thời tiết chia làm hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8 dương lịch và mùa mưa từ tháng 9 năm trước đến tháng 2 năm sau

Trong mùa mưa xuất hiện gió mùa Đông Bắc tạo ra những tiểu vùng khí hậu khác nhau: vùng phía Đông có đặc tính khí hậu Nam Hải Vân, rét, mưa nhiều, mùa mưa kéo dài; vùng trung, thời tiết rét lạnh diễn ra thường xuyên hơn; vùng phía Tây Nam chịu ảnh hưởng của khí hậu Bắc Hải Vân và không khí lạnh từ dãy núi Bạch Mã Không khí lạnh kéo dài, do đó ảnh hưởng đến thời vụ sản xuất, điều kiện sinh trưởng

và phát triển của cây trồng Trong khi đó, mùa khô thường xuất hiện gió Tây Nam, mang theo những đợt gió khô nóng từ Lào thổi sang

Nhiệt độ trung bình là 23,5°C, cao nhất là 38°C, thấp nhất là 8°C Biên độ nhiệt

Bão thường xuất hiện từ tháng 7 đến tháng 10 hằng năm Hiện tượng lũ quét thường xảy ra mỗi khi có đợt mưa lớn từ đầu nguồn các khe, suối

Địa hình của Đông Giang bị chia cắt thành nhiều vùng Trên địa bàn huyện có các hệ thống sông lớn là sông Vàng, sông A Vương, sông Kôn (sông Con) Sông Vàng bắt nguồn từ huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên – Huế chảy qua các xã Ba, Tư và nhập vào sông Kôn, đoạn chảy qua huyện dài 15 km; sông Kôn bắt nguồn từ huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên – Huế đi qua các xã A Ting, Sông Kôn và Ka Dăng rồi đổ

ra sông Vu Gia, đoạn chảy qua huyện dài 13 km; sông A Vương bắt nguồn từ biên giới Việt – Lào chảy qua các huyện Tây Giang, thị trấn Prao và các xã Za Hung, A Rooi,

Ma Cooih và đổ vào sông Bung

Hầu hết các xã, thị trấn trong huyện đều có hệ thống sông, suối với trữ lượng nước dồi dào, có nhiều loại cá, cua, nhuyễn thể có giá trị dinh dưỡng cao

Trang 15

Mạng lưới sông ngòi tại đây khá dày, nước chảy xiết và nhiều thác ghềnh, tuy không thuận tiện cho giao thông nhưng là điều kiện để xây dựng các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là có thể xây dựng nhiều nhà máy thuỷ điện

có công suất lớn

Trước năm 1945, thảm thực vật trên địa bàn huyện Đông Giang chủ yếu là rừng nguyên sinh, hỗn hợp nhiều loại cây quý như: sưa, lim, kiền kiền, thông, dầu rái…; nhiều loại cây thuốc quý như: thạch sương bồ, thiên niên kiện… Tre, nứa bạt ngàn là nguồn nguyên liệu đan lát các mặt hàng phục vụ nhu cầu đời sống của nhân dân Đồng thời, rừng cũng là môi trường sống của các loại động vật quý hiếm như: hổ, gấu, khỉ, mang, nai, lơn rừng và nhiều loại chim muông, thú khác Nhiều khu rừng có thể đầu tư thành các khu du lịch sinh thái hấp dẫn du khách [2, Tr.15]

Do sự khai thác bữa bãi của con người và chiến tranh tàn phá nên thảm thực vật

và động vật của rừng huyện bị tàn phá nghiêm trọng Tuy vậy, về cơ bản, rừng nơi đây vẫn còn nhiều động vật, thực vật quý hiếm đã và đang được bảo vệ, trong đó có một phần nằm trong Khu bảo tồn quốc gia Bạch Mã

Đông Giang là nơi có nhiều loại khoáng sản Đá vôi có trữ lượng lớn, phần bố

từ A Sờ (xã Mà Cooih) đến xã Kà Dăng là nguồn nguyên liệu quan trọng phục vụ các công trình xây dựng và có thể đáp ứng cho các nhà máy xi măng; đất sét có ở xã Tà Lu

là nguồn nguyên liệu để làm gốm; suối nước nóng, suối nước đen ở Sông Kôn có thể đầu tư xây dựng các khu du lịch sinh thái Đặc biệt, huyện Đông Giang có trữ lượng vàng lớn, tập trung ở xã Ba, Tư, được khai thác từ rất sớm nhưng chủ yếu theo quy mô nhỏ, lẻ và tư phát

Về giao thông, do địa hình phức tạp, đường thủy chỉ được nhân dân sử dụng trong vận chuyển gỗ, củi nhờ vào sức nước của dòng chảy Do đường thuỷ như vậy nên giao thông đường bộ ở địa phương trở nên vô cùng quan trọng Tuy nhiên, trước đây đường bộ trong huyện Đông Giang còn nhỏ, dốc cao, vượt qua nhiều khe suối, đi lại rất khó khăn, đi bộ là chủ yếu Hiện nay, trên địa bàn huyện có hai trục đường bộ chính là đường Hồ Chí Minh và đường ĐT 604

Đường Hồ Chí Minh chạy qua huyện Đông Giang dài 37 km, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giao thông, vận chuyển hàng hoá và an ninh, quốc phòng của địa phương Tuyến đường ĐT 604 nối liền quốc lộ 14B tại Tuý Loan (huyện Hoà Vang,

Trang 16

thành phố Đà Nẵng) đến thị trấn Prao (sau năm 2010, Bộ Giao thông – Vận tải đồng ý nâng cấp, cải tạo, mở rộng và nâng lên thành quốc lộ) Hầu hết trung tâm các xã, thị trấn (trừ xã A Rooi) có đường Hồ Chí Minh và đường ĐT604 đi qua Tuy nhiên, vào mùa mưa, giao thông trên các trục đường, nhất là các tuyến đường đi các xã gặp rất nhiều khó khăn do tình trạng sạt lở đất, đường đi các thôn lầy lội [2, Tr.16]

Với địa hình rừng núi phức tạp và hiểm trở, tài nguyên phong phú và đa dạng, cũng như các huyện khác trong tỉnh, huyện Đông Giang có vị trí địa lý quan trọng, là địa bàn chiến lược của miền Tây tỉnh Quang Nam, nối liền với dãy Trường Sơn – Tây Nguyên Đây là tiềm năng, là nguồn lực để địa phương phát triển kinh tế - xã hội, từng bước nâng cao mức sống cho nhân dân, đồng thời góp phần xây dựng căn cứ địa cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như bảo vệ an ninh, quốc phòng

và chủ quyền quốc gia hiện nay

1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Từ khi tái lập, 17/7/2003 đến nay, huyện Đông Giang đã trải qua một giai đoạn xây dựng và phát triển sôi động với nhiều thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen Đảng bộ và nhân dân trong huyện đã đoàn kết, chung sức, đồng lòng, phát huy sức mạnh truyền thống, kết hợp khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế để xây dựng và phát triển quê hương Huyện đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển mới-nhanh và bền vững vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Những năm đầu mới tái lập, huyện Đông Giang phải đối mặt với bộn bề khó khăn: Là một huyện thuần nông, nông nghiệp chiếm chủ yếu trong cơ cấu kinh tế; công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp nhỏ lẻ, manh mún; dịch vụ-thương mại quy mô nhỏ;

hạ tầng kinh tế kỹ thuật nghèo nàn, kém phát triển Thu ngân sách từ kinh tế thấp Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thiếu so với yêu cầu nhiệm vụ, phải điều chuyển và tuyển dụng mới nhiều nên nguồn nhân lực còn hạn chế, kinh nghiệm thực tiễn chưa cao Các vấn đề về việc làm, môi trường, các hủ tục… tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi cần phải tập trung giải quyết Kinh tế phát triển thiếu đồng bộ…

Vượt lên trên tất cả, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Huyện ủy, cán bộ và nhân dân trong huyện đã đoàn kết, thống nhất, chung sức, đồng lòng khắc phục khó khăn, nhanh chóng ổn định tình hình, bắt tay ngay vào xây dựng

Trang 17

và phát triển quê hương Những thành tựu to lớn đã đạt được về phát triển kinh tế, cụ thể rất đáng ghi nhận như: Hạ tầng kinh tế-xã hội phát triển, nhiều công trình, dự án có

ý nghĩa chính trị-xã hội, có vốn đầu tư lớn được hoàn thành và đưa vào sử dụng làm thay đổi căn bản diện mạo nông thôn và phục vụ ngày càng tốt hơn cho sản xuất và đời sống nhân dân Các bức xúc xã hội như vấn đề việc làm, ô nhiễm môi trường ở các khu dân cư, tệ nạn xã hội, các hủ tục đã và đang được tập trung giải quyết Đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện Bộ mặt nông thôn thêm nhiều khởi sắc [12, Tr.45]

Đặc biệt, ngay sau tái lập huyện, huyện đã tập trung mọi nguồn lực để xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế -xã hội và đạt được những bước tiến vượt bậc Nhiều công trình, dự án có ý nghĩa chính trị to lớn được đầu tư xây dựng, góp phần thay đổi diện mạo và thúc đẩy kinh tế-xã hội huyện phát triển như: Đường Zà hung-ARooi; đường

Zà Hung-Jơ Ngây; đường An Điềm-Kà Dăng-A Xờ; Đường xã Ba-xã Tư, hệ thống hạ tầng khu Trung tâm huyện được quy hoạch chỉnh trang một cách bài bản, đầu tư các tuyến đường nội thị, xây dựng tuyến trục cảnh quan, cầu A Vương 3 để kết nối Cơ quan Huyện ủy, khu liên hợp thể thao ở phía bờ Tây Sông A Vương; xây dựng Công văn viên hóa Cơ Tu, xây dựng tượng đài chiến thắng cải tạo, nâng cấp, xây mới nhiều cơ sở hạ tầng đã góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng-kinh tế xã hội trên địa bàn, tạo động lực tốt cho kinh tế, văn hoá, xã hội phát triển [12, Tr.45]

Sản xuất nông nghiệp là một mũi nhọn truyền thống đạt được nhiều thành tựu quan trọng Hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được đầu tư nâng cấp, xây mới tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ phù hợp với yêu cầu mới của sản xuất Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng vào làm thay đổi tư duy sản xuất, tập quán, thói quen canh tác của nông dân Nhiều mô hình sản xuất, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, mang lại giá trị kinh tế cao Tại đây đã hình thành các vùng sản xuất tập trung như: 1.012 ha cây cao su tại xã Ba và xã Tư; trồng keo 14.700 ha, huyện đang tập trung chuyển hóa rừng và trồng mới bằng các giống keo chất lượng cao theo hướng trồng rừng gỗ Hiện tại huyện có 2 sản phẩm mang thương hiệu đặc trưng là ớt ARiêu muối xã Mà Cooih và Chè Dây xã Tư đạt 65-70 triệu đồng/ha/năm Sản xuất nông nghiệp hàng hoá được chú trọng phát triển Chăn nuôi phát triển mạnh cả về số lượng

và chất lượng, đang chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung theo hướng công nghiệp, bán công nghiệp, đảm bảo an toàn dịch bệnh và vệ sinh môi trường; tổng

Trang 18

đàn gia súc 23.024 con, tổng đàn gia cầm đạt 45.870 con; chăn nuôi chiếm tỷ trọng 28,48% [12, Tr 47]

Huyện đang có trên 55 doanh nghiệp đang hoạt động và trên 500 hộ sản xuất, kinh doanh cá thể, giải quyết việc làm cho trên 5 nghìn lao động tại địa phương Năm

2017, huyện đã tập trung thu hút được các dự án đầu tư vào địa bàn triển khai thực hiện như: Xây dựng nhà máy gỗ keo xã Ba, dự án gạch Tuynel thôn Dốc Kiền xã Ba, nhà máy gạch Tuynell-ALV chủ yếu sử dụng đất đồi và phế phẩm công nghiệp; dự án điểm du lịch sinh thái suối khoáng nóng A Păng xã Sông Kôn; dự án du lịch Dốc Gợp- lòng hồ A Vương; dự án trồng rừng gỗ lớn và chế biến ván gỗ xuất khẩu… Giá trị sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp năm 2017 đạt 976,23 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 54,68% trong cơ cấu kinh tế của huyện Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp phát triển

đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tiến bộ, phát triển hạ tầng, kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân Các hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển đa dạng, năng động, tăng cả về số lượng, chất lượng; thị trường được mở rộng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của nhân dân và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của huyện

Xây dựng nông thôn mới luôn được huyện xác định là một trong những nhiệm

vụ chính trị trọng tâm hàng đầu và tập trung mọi nguồn lực để thực hiện Huyện đã chỉ đạo thực hiện xây dựng nông thôn mới có hiệu quả

Về giáo dục và đào tạo, hiện nay, toàn huyện có 30 đơn vị trường học, tăng 12 trường so với thời điểm năm 2003, trong đó 28 trường trực thuộc huyện quản lý và 02 đơn vị trường thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh quản lý; có 07 trường học đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1; 100% xã, thị trấn đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục Trung học cơ sở và phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi; thành lập và duy trì hoạt động hiệu quả 04 trung tâm học tập cộng đồng Quá trình xây dựng và phát triển, đến nay hệ thống giáo dục đã được hoàn thiện, khắc phục được tình trạng thiếu thầy, thiếu phòng học, xóa được phòng học tạm bợ, tranh, tre, nứa lá Cơ sở vật chất trường, lớp học được đầu tư, chuẩn hoá, tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 35,9%, có hệ thống trường PTDT nội trú, bán trú và 02 THPT được đầu tư xây dựng khang trang Qua quá trình phấn đấu dạy và học, đến nay toàn huyện có 117 em thi đỗ vào các

Trang 19

trường đại học trong cả nước Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên và nhân viên ngày càng tăng về số lượng và chuẩn hóa về chất lượng, trình độ giáo viên đạt chuẩn

và trên chuẩn ngày càng tăng góp phần đáp ứng nhu cầu dạy và học trên địa bàn huyện [19, Tr.75]

Sự nghiệp y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ Các cơ sở khám, chữa bệnh được quan tâm đầu tư cả về cơ sở vật chất

và trang thiết bị Trung tâm y tế huyện và các trạm y tế xã được xây dựng khang trang với 95 giường bệnh Các Trạm y tế cấp xã được quan tâm đầu tư mở rộng, đến nay đã

có 3/11 xã, thị trấn, được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế đã đáp ứng và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân Công tác y tế dự phòng được đẩy mạnh, công tác giám sát và phòng, chống dịch bệnh đã được triển khai hiệu quả Các chiến dịch truyền thông, lồng ghép với cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cho nhân dân được đẩy mạnh đem lại hiệu quả cao Đội ngũ cán bộ y tế được tăng cường về số lượng và chất lượng, đến năm 2017, có 141cán bộ y tế, trong đó có 29 bác sĩ (04 bác sĩ chuyên khoa I); trung bình có 12,05 bác sĩ/10.000 dân Các chỉ tiêu về y tế đạt yêu cầu,

tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 19,46%; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở mức 2,43%; tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm phòng đầy đủ 8 loại vắc - xin đạt 93,48%; tỷ lệ xã, thị trấn đạt Tiêu chí quốc gia về y tế đạt trên 27,27% Các chương trình mục tiêu quốc gia, tiêm chủng mở rộng thực hiện có hiệu quả [19, Tr.76]

Hiện tại, có thể nói đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân được nâng lên Đến năm 2017, toàn huyện có 77/95 được công nhận danh hiệu thôn văn hóa, chiếm tỷ

lệ 78,95%, có 5.378/6.273, hộ được công nhận gia đình văn hóa, chiếm tỷ lệ 85,73%

và có 52/85 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học đạt tiêu chuẩn văn hóa, chiếm

tỷ lệ 61,2%; đã xây dựng được 85/95 thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng trong đó có 60 gươl và 25 nhà sinh hoạt cộng đồng Hình thành 01 làng du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa Cơtu và phát triển kinh tế Bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào giữ gìn và phát huy, nhiều hủ tục lạc hậu trong việc cưới, việc tang và lễ hội được loại bỏ Năm 2015, nghệ thuật nói lý, hát lý, điệu múa tân tung da dăh và nghề dệt thổ cẩm được Bộ văn hóa thể thao và du lịch công nhận 3 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia Tỉnh Quảng Nam cũng đã công nhận trên 4 di tích cấp tỉnh

Hoạt động truyền thanh-truyền hình phát triển theo hướng truyền thông đa

Trang 20

phương tiện Hệ thống đài truyền thanh huyện và xã, trang thông tin điện tử của huyện hoạt động có hiệu quả, chuyển tải kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội tới các tầng lớp nhân dân trong huyện; phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương Mạng lưới viễn thông có độ phủ rộng khắp, chất lượng cao, công nghệ hiện đại, có khả năng nâng cấp để đáp ứng các dịch

vụ mới, tỷ lệ xã có internet đạt 100%

Các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, công tác nhân đạo từ thiện được triển khai thực hiện thường xuyên, rộng khắp và có hiệu quả Chính sách với người có công, chính sách an sinh xã hội được thực hiện tốt, đảm bảo chi trả trợ cấp thường xuyên hằng tháng cho 1.413 người có công với cách mạng và thân nhân, chi trả trợ cấp hàng tháng cho hơn 800 đối tượng bảo trợ xã hội Công tác bình đẳng giới, bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng luôn được chú trọng Huyện quan tâm, xây dựng, sửa chữa nhà ở cho các gia đình chính sách và hộ nghèo trên 1000 căn nhà, trong đó: đã làm mới trên 640 căn nhà cho hộ gia đình chính sách

và trên 430 nhà cho hộ nghèo Các chương trình mục tiêu quốc gia thực hiện có hiệu quả Công tác xóa đói, giảm nghèo được quan tâm chỉ đạo quyết liệt, đời sống của nhân dân được nâng lên Đến cuối năm 2017 tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 36,94%, bình quân mỗi năm giảm trên 5% tỷ lệ hộ nghèo, thu nhập bình quân đầu người đạt 19,12 triệu đồng/năm [19, Tr.78]

Công tác xây dựng nông thôn mới được tập trung thực hiện với sự hưởng ứng mạnh mẽ của nhân dân đã đạt được nhiều kết quả Đến nay, huyện đã có 01 xã được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới (xã Ba) và đang trên lộ trình phấn đấu thêm 02

xã về đích nông thôn mới vào năm 2020 (xã Tư và xã Mà Cooih)

Như vậy sao thời gian tái lập, huyện Đông Giang đã đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực, tạo được dấu ấn đậm nét trong quá trình xây dựng và phát triển Tuy nhiên, Đông Giang vẫn còn là huyện nghèo của tỉnh,thu nhập bình quân đầu người thấp hơn mức bình quân chung cả tỉnh, tỉ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao Kinh tế phát triển chậm, thiếu bền vững, quy mô nhỏ và giá trị tuyệt đối thấp Các tiềm năng và thế mạnh tận dụng và phát huy chưa tốt; huy động và sử dụng các nguồn lực đầu tư cho phát triển còn hạn chế Chất lượng giáo dục chưa ngang tầm; công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá Cơ tu triển khai chậm Các tệ nạn xã

Trang 21

hội chưa được đẩy lùi Tuy nhiên phát huy truyền thống văn hoá, cách mạng của quê hương và những thành tựu to lớn đạt được trong những năm qua, với bản lĩnh, trí tuệ

và tình yêu quê hương, đất nước của người Đông Giang, huyện Đông Giang quyết tâm thực hiện đổi mới, tăng cường đoàn kết, giữ vững kỷ cương, khắc phục những tồn tại, hạn chế, tập trung khai thác mọi nguồn lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững, vươn lên trong tốp dẫn đầu của 9 huyện miền núi của tỉnh, xứng đáng với tiềm năng, thế mạnh và truyền thống của quê hương anh hùng

1.2.3 Điều kiện lịch sử - dân cư

Về cơ bản, cho đến thế kỷ XVIII, huyện Đông Giang là vùng núi chưa được chính quyền phong kiến Việt Nam quản lý Ở thế kỷ XIX, triều Nguyễn quản lý các vùng núi thông qua hệ thống cai đốc, cai mán, già làng Sách Đại Nam nhất thống chí (bản in thời Tự Đức 1882) trong mục “ Dựng đặt và diên cách” viết: Triều Nguyễn năm 1804, vua Gia Long đặt tên nước (quốc hiệu) Việt Nam thay cho Đại Việt Năm

1832, đổi trấn Quảng Nam thành tỉnh Quảng Nam Năm 1899, tách một phần phía tây của huyện Hoà Vang và một phần của huyện Diên Phước để thành lập huyện Đại Lộc, thuộc phủ Điện Bàn (bao gồm diện tích của các huyện Nam Giang, Tây Giang và một phần huyện Đông Giang ngày nay) Các xã Ba, Tư vùng thấp của huyện lúc bấy giờ là vùng đất thuộc huyện Hòa Vang

Sau ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đến giữa năm 1946, chính quyền và các đoàn thể từ tỉnh xuống đến huyện, xã, thôn dưới đồng bằng đã được thiết lập Tháng 9 – 1946, Ủy ban hành chính tỉnh Quảng Nam thành lập Phòng Quốc dân thiểu số của tỉnh; tháng 12 – 1946, thành lập Phòng Quốc dân thiểu số Hiên – Giằng, có nhiệm vụ tuyên truyền, tập hợp đồng bào các dân tộc thiểu số, tiến hành chuẩn bị các điều kiện cần thiết để xây dựng chính quyền cách mạng

Ở vùng thấp, đầu năm 1947, Ban Cán sự miền Tây huyện Hoà Vang được thành lập, có nhiệm vụ vận động xây dựng chính quyền cách mạng ở vùng đồng bào Cơ tu Tháng 6 – 1948, xã Hoà Nam được thành lập, gồm các thôn (làng) Đhami (Phú Bảo),

Rơ Đông (Phú Túc), Đhơnoong (Phú Hưới), Gađhuc (Tống Cói), Bhavang (Ban Mai), Garoong (Phú Son), Bhgơng (Phú Ngón), Chađang (Phú Cheng) và Paxuồng Cuối năm 1948, xã Hoà Bắc được thành lập gồm các thôn Giàn Bí, Ta Lang, Barây, Nước

Đổ, Abung (Lồ Ô), Nà Hoa (Hố Sáp)

Trang 22

Tháng 3 – 1949, đoàn cán bộ hoạt động vùng Hiên thành lập các xã Cramlo (Hiên Đườm), Bhacoong, Đhơrngây, Mà Cooih, Aroong (Rầng) Cuối năm 1949, thành lập các xã Áơh (A Rooi), Axur (Lăng), A Vương, Coong – Cơghiar, A Nông, Rơghúh Đầu năm 1950, xã cuối cùng – Trhy được thành lập [4, Tr 15]

Tháng 10 - 1950, thành lập huyện Bến Hiên gồm các xã: Cramblo (Hiên Đườm), Bhacoong, Đhơrngêi, Ma Cooih, Aroong (Rầng), Áơh (A Rooi) Axur (Lăng),

A Vương, Coong – Cơghiar, A Nông, Rơghúh và Trhy Tháng 10 – 1953, Ủy ban Kháng chiến – Hành chính miền Nam Trung Bộ tách bốn huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam gồm: Trà My, Phước Sơn, Bến Giằng, Bến Hiên, dưới sự chỉ đạo của Ban Cán sự miền Tây trực thuộc Liên Khu uỷ V đến ngày thi hành Hiệp định Giơnevơ năm

1954

Đầu năm 1955, quân đội Liên hiệp Pháp lên tiếp quản vùng thấp huyện Bến Hiên, thành lập chính quyền gọi là Nha đại diện hành chính Bến Hiên và Hội đồng hương chính một số xã Tháng 6-1958, chính quyền Sài Gòn ra Nghị định số 355-NC/P6, sáp nhập Nha đại diện hành chính Bến Hiên và Nha đại diện hành chính Bến Giằng, lấy tên mới là quận Hiên Giằng Tháng 3-1959, chúng đổi quận Hiên Giằng thành quận Thượng Đức, có 21 xã; quận lị đóng tại Hạ Tân Phần đất Bến Hiên có các xã: Hiên Bồn, Hiên Nô, Hiên Nhiều, Hiên Lừng, Hiên Lừng, Hiên Đào, Hiên Ngật [4, Tr.15]

Về phía ta, sau Hiệp định Giơneve, ta vẫn giữ nguyên địa giới hành chính của các xã như khi mới thành lập Sau khi có Nghị quyết số 15 của Đảng (tháng 1-1959), thực hiện chủ trương của Khu ủy V về việc Củng cố xây dựng miền núi thành căn cứ địa cách mạng vững chắc, vào khoảng giữa năm 1959, tỉnh Quảng Nam cắt bốn xã của huyện Bến Giằng và bốn huyện của huyện Bến Hiên: Axur (Lăng), Bhalê, Chơơm và Trhy để thành lập huyện Hải Nam, một vùng căn cứ sát biên giới Việt – Lào Huyện Hải Nam tồn tại hơn một năm, tháng 8-1960, các huyện Bến Hiên, Bến Giằng, Hải Nam và miền Tây huyện Hòa Vang sáp nhập thành huyện Thống Nhất và được chia thành 8 khu

Tháng 11-1962, Khu ủy Khu V quyết định chia tỉnh Quảng Nam thành hai tỉnh

là Quảng Nam và Quảng Đà Tỉnh Quảng Nam từ huyện Quế Sơn giáp Quảng Ngãi; tỉnh Quảng Đà từ huyện Duy Xuyên ra giáp tỉnh Thừa Thiên Huyện Thống Nhất trực

Trang 23

thuộc tỉnh Quảng Đà Tháng 3-1963, tỉnh Quảng Đà chia tách huyện Thống Nhất thành ba đơn vị hành chính là: Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang Huyện Đông Giang gồm phần đất phía đông sông A Vương của huyện Bến Hiên và Khu B1 (miền Tây huyện Hòa Vang) có các xã gồm: Đhơrngêi (Đhrêi - Sông Kôn), Ka Dăng, Cramlo (Hiên Đườm) Mà cooih, Tà Lu, xã Một (Ta Roong), xã Hai (Tah), xã Ba (Ca Măng),

xã Tư (Doonh), xã Năm (A Dá) Hiện nay chưa có tài liệu nào giải thích nguồn gốc địa danh tên gọi huyện Đông Giang, nhưng nó xuất hiện từ đây

Tháng 3-2970, Khu ủy V thành lập khu uỷ đặc biệt (mật danh khu A) gồm các huyện miền Tây các tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi và một số huyện của tỉnh Kon Tum, do Khu ủy V trực tiếp chỉ đạo, được chia thành bốn khu Các huyện Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang thuộc khu Lam Sơn Khu A tồn tại đến tháng 10-

1972 thì giải thể, các huyện này lại về dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đặc khu ủy Quảng Đà

Tháng 11-1974, Thường vụ Đặc khu ủy Quảng Đà ra quyết định hợp nhất Đông Giang và Tây Giang thành huyện Đông - Tây Giang Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, huyện Đông - Tây Giang đổi thành huyện Hiên, gồm các xã: Axur (Lăng), Chơơm, Trhy, Bhalêe, A Tiêng, A Rooi, A Vương, Ca Nung (Prao), A Nông, Ma Cooih, Ta Lu, Sông Kôn (Đhrêi ), Ka Dăng, xã Ba (nhập 3 xã Một, Hai, Ba), xã Tư (nhập hai xã Tư, Năm)

Ngày 25-7-1987, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng ra Quyết định số 131-BT, chia xã Sông Kôn thành hai xã là Sông Kôn và A Ting Ngày 29-81994, Chính phủ ra Nghị định số 102/CP, chia xã Ta Lu thành ba đơn vị hành chính là Thị trấn Prao, xã Za Hung và xã Ta Lu Chai xã Trhy thành hai xã là Trhy và A Xan Ngày 16-8-1999, Chính phủ ra Nghị định số 71/1999/NĐ - CP, điều chỉnh địa giới hành chính một số

xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, trong đó chia xã Sông Kôn thành hai xã là Jơ Ngây và Sông Kôn

Ngày 20-6-2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 72/2003/NĐ-CP chia huyện Hiên thành hai huyện Đông Giang và Tây Giang Huyện Đông Giang có thị trấn Prao

và các xã: gồm Ka Dăng, Ba, Tư, Sông Kôn, Zơ Ngây, A Ting, Tà Lu, Mà Cooih, Za Hung, A Rooi [4, Tr.18]

Trang 24

Hiện nay, trên địa bàn huyện có hai thành phần tộc người chủ yếu sinh sống là người Cơ tu và người Kinh, bên cạnh đó còn một số đồng bào dân tộc khác cùng sinh sống nhưng tỷ lệ dân số rất nhỏ

Người Kinh có 5.833 người, chiếm 26% dân số toàn huyện (2015) Người Kinh đến định cư ở địa bàn này chủ yếu từ thế kỷ XX, đầu tiên là những người lên trao đổi hàng hoá, về sau là những cán bộ được phân công lên công tác ở miền núi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, sau là những người lên buôn bán, làm việc trong các lâm trường, nông trường và các cơ quan hành chính ở huyện và xã

Người Cơ tu có 17.454 người chiếm 74% dân số toàn huyện ( 2015), sinh sống trên cả điện bàn 11 xã, thị trấn trong huyện và mang 24 họ chính, như: A Bing, A Lăng, ARất, ARâl, A Vô, A Viết, A Ting, A Ta, Bhling, Bhnướch, Bhơriu, Blup, Coor, Jơngôôl, Hôih, Pơloong, Zơ Râm, Rơrac, Rapat, Tarương, Cơlâu, Jơđêl… Ngoài

ra còn tự phát một số họ như: Tacooi,Tabut, Sava, Đalây, Giri, A Gô, Prao… hoặc lấy

hị của người Kinh như: Lê, Nguyễn, Đinh… đặt tên cho con

Tiếng Cơ tu thuộc ngữ hệ Môn – Khơme, gần gũi với tiếng Xơ Đăng, Giẻ Triêng Đến nay phần lớn người Cơ tu nói được tiếng Kinh Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có các dân tộc khác từ các tỉnh phía Bắc di cư vào sinh sống trong những năm gần đây, nhưng số lượng không nhiều

1.3 Khái quát về tộc người Cơtu ở huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam

1.3.1 Nguồn gốc và lịch sử người Cơtu

Trong phần lớn các công trình nghiên cứu về người Cơ tu, các học giả thường

“dựa trên đặc điểm về ngôn ngữ và văn hoá, xếp họ vào một nhóm của cộng đồng nói ngôn ngữ Môn – Khơme, và được thừa nhận có nguồn gốc xuất phát từ thung lũng thượng nguồn sông Mê Kông, tỉnh Vân Nam Trung Quốc” Nhà nhân học Mỹ Robert Mole còn cho rằng “người Ka tu có thể đã đến vùng cư trú hiện nay của họ bằng cách

di cư từ vùng thung lũng sông xuống, sau đó lên vùng núi, hoặc từ vùng ven biến nam Trung Hoa rồi đẩy lên vùng cao” [1, Tr.35]

Theo Nguyễn Hữu Thông, mặc dù từ trước tới nay chưa có tư liệu thành văn nào nhắc đến địa bàn cư trú của người Cơ tu nhưng truyền thuyết hay chuyện kể của chính người Cơ tu hay các tộc người kế cận lại phản ánh khá nhiều và phổ biến địa bàn

cư trú và sự chuyển cư của họ “Trên thực tế, địa bàn cư trú của người Cơ tu hiện nay

là kết quả của xu hướng di trú bắt gặp ở nhiều tộc người thiểu số miền Trung, do sự co

Trang 25

lại dần của cây rừng vốn trải dài ra tận biển Với địa hình hẹp như miền Trung nước ta, hiện tượng khai thác tập trung và làm cạn dần ưu thế ở những mặt bằng tương đối thuận lợi ở sườn đông của dãy Trường Sơn, sẽ dẫn con người tiến dần về đỉnh dốc Đó chính là nguyên nhân tạo nên hướng chuyển cư từ đông sang tây của tộc người sống trên địa bàn này” [1, Tr.36]

Sự phân định tính dị biệt trong nhiều sinh hoạt văn hoá giữa các bộ phận người

Cơ tu đang sinh sống ở những địa hình khác nhau theo độ cao của sườn dốc và hướng núi Trường Sơn đang trong diễn trình hình thành những nhóm địa phương Sự co lại ở địa bàn hôm nay, mà trong sinh hoạt văn hoá lẫn ký ức của họ vẫn còn lưu giữ ở những mức độ khác nhau, đã cho thấy sự tụ cư theo hướng đông tây từ vùng ven biển lên vùng gò đồi và vùng sườn núi thấp để hình thành nhóm Cơ tu thấp, hoặc cao hơn

để làm nên nhóm Cơ tu giữa Trong lúc đó, cũng có sự chuyển cư của những bộ phận

Cơ tu từ vùng cao của biên giới Việt - Lào hoặc từ Lào tràn xuống nhập một phần vào nhóm Cơ tu giữa, phần còn lại khu trú ổn định ở một vùng núi cao, nơi mà người ta gọi là Cơ tu cao, trong đó, Cơ tu cao là nhóm còn bảo lưu khá nguyên vẹn những yếu

tố văn hoá cổ, nhờ vào sự khu biệt trong tiếp xúc và giao lưu [18, Tr 33 – 34]

Như vậy, quá trình lịch sử của người Cơ tu đã thể hiện việc chia ra làm nhiều

bộ phận, nhóm khác nhau như Cơ tu vùng cao, Cơ tu vùng thấp và Cơ tu vùng giữa

Vậy, các nhân tố cơ bản nào đã thúc đẩy quá trình lịch sử của người này? Theo J.Hoffet, L.Schrock, Garald Cannon Hickey và Nguyễn Hữu Thông, sự thu hẹp của địa hình khai thác kinh tế, sự gia tăng dân số, sự biến đổi khí hậu và chất lượng thổ nhưỡng là các nhân tố chủ yếu thúc đẩy quá trình tự cư và phân bố trong lịch sử của tộc người Cơ tu [1, Tr 39 – 40]

Người Cơ tu ở vùng Quảng Nam có cách giải thích nguồn gốc của mình thông qua truyền thuyết rất thú vị là: Truyền thuyết kể rằng: “Người Cơtu hình thành sau một cơn đại hồng thủy (Cơtu gọi là mơr nghi), khắp nơi ngập tràn biển nước Nhưng may thay, giữa đất trời hỗn mang ấy còn sót lại một cô gái và một con chó đực bám víu trên hai đỉnh núi cao, đỉnh núi cô con gái ở còn một túp lều, một cây bưởi, đỉnh núi kia là một con chó đực nằm trong hang đá và còn bếp lửa than đỏ hồng

Mười hai ngày đêm mưa to, nước lớn, cô gái sống sót thất vọng nghĩ rằng, trước sau thì mình cũng chết Sang ngày thứ mười ba, mưa bắt đầu tạnh, trời hửng

Trang 26

nắng, cô gái nhìn xa thấy con vật gì bơi về phía mình, càng gần đến bờ cô nhận ra là con chó Con chó lên bờ, người và vật trở nên thân thiết hơn bao giờ hết, con chó liêm liếm tay chân của cô gái và cô gái cũng mừng, âu yếm con chó

Sau đó, con chó phát hiện ra vẫn còn lửa hồng, miệng nó cắn chặt đầu khúc củi không có lửa và giữ phía đầu củi còn than lên trên bơi mang về với cô gái Cô thấy vậy mừng đến chảy nước mắt và cẩn thận lấy than lửa hiếm hoi nâng niu chụm thành ngọn lửa rực Họ quyết định giữ bằng được ngọn lửa vì lửa đã giúp họ vượt qua mọi éo le, nghiệt ngã của trời đất

Sau cơn đại hồng thủy đó, trên mặt đất không cò gì sống sót ngoài cô gái và con chó đực, Đôi bạn nhờ có lửa - sản vật vô giá của sự sống, cho nên qua thời gian, với bản tính của động vật, cô gái cũng đến tuổi, con chó cũng vậy Thế là họ trở thành

“cặp vợ-chồng” bất đắc dĩ Rồi họ sinh con, đẻ cái tại túp lều tranh cũ kĩ ấy Sau dần con cái cũng lớn, mái nhà hạnh phúc nhỏ bé kia cũng chật chội, hư hỏng, các con phải

tự làm lấy nhà ở cho gia đình Thời gian trôi đi con cái ngày càng khôn lớn, trưởng thành’’

Truyền thuyết đó của người Cơtu truyền từ đời này đến đời khác Ngày nay, người Cơtu có dòng họ Z’râm (họ thờ con chó), dòng họ này không ăn thịt chó, họ cho

đó là Tổ tiên

Còn một câu chuyện nữa, theo các cụ cao niên kể rằng: Quê gốc của người Cơtu có khả năng ở Bắc Trung Bộ, khoảng ở vùng cửa khẩu Cha-lo, Quảng Bình ngày nay Cách đây khoảng 600 năm về trước, vào cuối hè đầu thu, trên quê hương người Cơtu xa xưa xuất hiện hàng bầy ong déo làm tổ khắp nơi: Trong vườn, trong nhà, nơi nơi đều có tổ ong, ong thấy người xúm nhau đuổi đốt, tạo thành “một đại dịch ong” Người người lấy lửa đốt, đốt xong tổ này bầy tổ khác lại đến Vậy là người chịu thua

và đêm chạy, ngày núp, người chết đói, ốm đau dọc đường Họ cứ chạy vào hướng vào Nam dọc dãy Trường Sơn, rồi có đoạn qua đất Lào, lại về Việt Nam, cứ thế họ đi theo dọc biên giới này Đến vùng Ki’uông, Bhi’lụ ( thuộc vùng Tà Vàng, Kàlừm ngày nay) thì dừng chân làm ăn sinh sống một thời gian Nhưng đất đai vùng này khó khăn, không thể sinh sống lâu dài nên người khỏe tiếp tục đi, người ốm yếu già cả ở lại Và đến núi rừng thuộc bốn xã vùng cao của huyện Tây Giang ngày nay thì bắt đầu lập

Trang 27

nghiệp, ổn định cuộc sống Tại vùng đất này, nguyên trước đó vẫn có người bản địa sinh sống [8, Tr 30]

Người bản địa ban đầu vẫn ở chung với người từ ngoài kia vào, nhưng người từ phía Bắc vào, lâu ngày trên đường đi đã từng đói khát, họ nhặt đủ thứ để ăn, trong đó

có loại rau xanh Khi người khách đến hái rau ađhắt nấu ăn thì có mùi vị hơi khó chịu Người bản xứ vốn không ăn loại rau này nên họ sợ, nghĩ đấy là thuốc độc Cho nên họ trốn khách đi tạt vào Tây Nam (hiện thuộc vùng Đh’riu, Đắk Chưng- Lào) Từ đó khách lại trở thành chủ vùng đất rộng lớn này

Về sau con cái đông đúc, khu trên nguồn trở nên chật chội và săn bắt, hái lượm ngày thêm khan hiếm Với bản tính sinh tồn và quy luật tự nhiên, bao giờ trên cao cũng phải về dưới thấp nên theo dòng suối họ xuôi về hạ lưu dần, gặp đâu thuận lợi thì

ở, cứ thế xuôi về gần mãi đến biển thì gặp người Việt rồi cư trú ổn định như ngày nay

Qua truyền khẩu của các cụ cao niên như trên, xét về lịch sử đáng tin cậy trùng với giai đoạn lịch sử người Việt tiến vào Nam Ngày nay tuy chưa kiểm chứng thực tế, nhưng một số anh, chị người Cơtu được đưa vào miền Bắc học tập năm 1960, họ bảo ở khu Chalò có dân tộc nói tiếng gần giống người Cơtu ở Tây Quảng Nam Vậy nếu đó

là sự thực thì câu chuyện trên phù hợp chăng? Tiếc thay vì người Cơtu xưa không có chữ viết, không biết ghi chép, không có gia phả ghi lại cho con cháu, nên thực tế lịch

sử của người Cơtu bị mai một và chỉ tồn tại qua những truyền thuyết, giả thuyết mơ

hồ

1.3.2 Tên gọi, dân số

Về tên gọi của dân tộc Cơtu

Tên gọi/tộc danh là tiêu chí quan trọng để định vị một cộng đồng với tư cách là một tộc người độc lập Ở tộc người Cơ tu xuất hiện nhiều cách phiên âm và gọi tên như: Cơ tu, Cơ Tu, Cơtu, Cờ tu, Cờ Tu, K’tu, Ka Tu, Ka Tu Kato, Kan to, Kaoto, Kha

Tu, Tou, Phương, Phuang, Cao, Hạ, A Sáp, A Pang, Attouat, Nguồn Ta, Khat, Thap,

Ta River – Vân Kiều…Trong số đó, tên gọi “ Cơ tu” được sử dụng chủ yếu trong văn bản hành chính của Nhà nước, còn “Ka tu” được xuất hiện nhiều trong các công trình, bài viết nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước với nhiều luận giải khác nhau

Trang 28

Le Pichon cho rằng “ Ka tu” thực sự không nhằm để chỉ nhằm tộc danh, mà là

từ để gọi chung những người hoang dã Schrock cũng cho rằng tên gọi “Ka tu” có nghĩa là dã man, được gọi bởi các tộc người lân cận G.Hickey trong công trình đề cập đến sự thích ứng để sinh tồn của những người ở vùng cao Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã ghi nhận rằng, tên Ka tu nhằm chỉ định những người sống trong vùng liên quan đến đầu nguồn

Tên gọi Cơtu là một trong những tộc người mà việc lí giải tộc danh khá phức tạp Trong dân gian Cơtu hay xưng danh thông thường người ta giải thích theo hai ý:

Một: Cơ lấy chữ đầu của K'coong da'ding ( núi rừng), nhưng thực chất chữ Cơ

không đồng nghĩa với chữ Ca (K'coong) Ở đây nếu Cơ’coong không còn nghĩa của núi rừng mà trở thành chim cú vọ Con cú vọ với người Cơtu rất kiêng và sợ, đêm tĩnh mịch nghe tiếng của con cú vọ, người ta sợ và cho đó là tiếng kêu của hồn ma xấu Do

đó, người Cơtu không thể lấy chim Cơ’coong (cú vọ) để đặt cho tộc danh của mình, giả thuyết này bị loại trừ

Hai: Cơ ở đây có thể do biến thể của vần chữ đầu Cớh Tu (ở nguồn), tu=

nguồn gốc, nguồn sông suối Trong phát âm của người Cơtu khi xác định tộc danh của

mình không ai nói là Katu mà hầu như đều gọi Cơtu hay Cưtu Vì lí do như vậy nghĩa

này có thể chấp nhận được, bởi người Cơtu khi gọi các dân tộc thiểu số khác như Tày, Nùng, Êđê, v.v mà câu đầu tiên người ta hỏi nhau là anh ấy là người Cơtu hay người Kinh Tu ở đây là người dân tộc thiểu số, ở núi rừng Từ này gần giống từ acoon Cóh (người Thượng), acoon Kinh (người Kinh)

Hoặc giữa người Cơtu cũng có sự phân biệt với nhau, khi gọi nhau thường

người ở dưới thấp gọi lên dần theo địa lí người ở trên cao là người Cơtu dal Còn người ở trên cao gọi người dưới thấp là Cơtu phương, mà ranh giới địa lí giữa Cơtu dal và Cơtu phương thì không có Từ đó cho thấy có thể xác định được CƠ = CỚH

hay CÓH (nơi, ở), TU (nguồn), CƠTU (người ở nguồn) là thuyết phục hơn Như vậy

CƠTU có nghĩa là người ở đầu nguồn, sống ở núi rừng có nhiều nguồn sông suối [8,

Tr.34]

Ở đây, đề tài không đưa ra cách lý giải của mình về tộc danh mà chỉ thống nhất

sử dụng xuyên suốt tên “Cơ tu” bởi tên gọi này được khẳng định trong bảng danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam vào năm 1979

Trang 29

Trong 54 dân tộc nước ta, dân tộc Cơtu có dân số tương đối đông xếp thứ 26 trong danh mục các dân tộc người Việt Nam Theo điều tra năm 2009 người Cơtu Việt Nam có 61.588 người chủ yếu ở ba tỉnh, thành phố: Quảng Nam có 45.715 người tập trung chủ yếu ở các huyện Đông Giang, Tây Giang, 6 xã ở huyện Nam Giang (thị trấn Thành Mỹ, xã Cà Di, Tabhing, Chà Vàl, La Ê và thôn Công Tơrôn- xã La Dê), huyện Đại Lộc tại thôn Yều (Đại Hưng), thành phố Đà Nẵng có 950 người Cơtu ở hai xã Hòa Phú và Hòa Bắc - huyện Hòa Vang; tỉnh Thừa Thiên Huế có 14.629 người tập trung ở huyện Alưới tại các xã Hương Lâm, Hương Nguyên và tại huyện Nam Đông người Cơtu sống ở các xã Hương Hữu, Thượng Long, Thượng Nhật, Tượng Quảng, Thượng

Lộ và Hương Sơn Ngoài ra, người Cơtu còn cư trú ở hai huyện Đắc Chưng và Kà Lừm tỉnh Sê Công (Lào) có dân số trên 1 vạn người Trong đó dân tộc Cơtu chủ yếu tập trung ở huyện Tây Giang với dân số 16.705 người (nam 8.488, nữ 8.217) năm

2010

1.3.3 Quá trình sinh sống và phát triển của người Cơtu ở Đông Giang

Về nguồn gốc và quá trình tộc người, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu, khai quật khảo cổ học ở vùng cư trú của đồng bào Cơtu và chưa có một tài

liệu nào xác định chắn chắn về lịch sử cư trú của người Cơtu Trước khi cách mạng đến với đồng bào, người Cơtu chưa có chữ viết Hơn nữa, địa vực cư trú của người

Cơtu hiểm trở, đi lại khó khăn và trong mối quan hệ xã hội cổ truyền còn nặng tính cộng đồng nguyên thuỷ nên sự xâm nhập nghiên cứu của các nhà khoa học trước đây chưa được bao nhiêu Trong giới khoa học Việt nam, mới chỉ có GS Đặng Nghiêm Vạn có đề cập, với giả thuyết “người Cơtu là cư dân bản địa và coi tổ tiên họ là một phần trong số chủ nhân của những trụ đá và chum đá nổi tiếng ở Cánh đồng Chum bên Lào, đồng thời cho rằng một bộ phận cư dân đó đã có mặt ở Việt Nam từ khoảng 300-

400 năm trước đây”

Từ lâu, vùng đất Đông Giang đã có tộc người thiểu số Cơ tu sinh sống, gắn kết với nhau, khắc phục thiên tai, chống thú rừng, nghịch tặc, kiến tạo nên bản làng, ít bị ảnh hưởng nền văn hoá Đại Việt rất nổi tiếng trên dải đất miền Trung, bởi các triều đại phong kiến từ thời nhà Lê, chú Nguyễn đến thời Tây Sơn, chưa đủ tiềm lực để quản lý vùng núi rừng điệp trùng, hiểm trở, khắc nghiệt ở phía tây Đến thời nhà Nguyễn, quan lại người Kinh của phủ Điện Bàn mới mở các cuộc thám hiểm lên vùng rừng núi Đông

Trang 30

Giang, tiến hành khai thác các sản vật của núi rừng để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Thông qua đó, chính quyền quản lý một số vùng bằng hệ thống cai đốc, thương lái và các già làng, nhưng cũng rất hạn chế

Để tìm hiểu về quá trình sinh sống và phát triển của người Cơtu ở Đông Giang chúng ta phải tìm hiểu về quá trình lịch sử của cả dân tộc Cơtu Như chúng ta đã biết, đặc điểm tự nhiên của vùng đất người Cơtu sinh sống tuy có những yếu tố riêng biệt nhưng nằm trong khu vực tương đối thống nhất của điều kiện tự nhiên nối liền các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế với Tây Nguyên Trong đó, đặc biệt là sự tương đồng về địa hình, miền khí hậu, hệ thổ nhưỡng của miền tây Thừa Thiên - Huế với miền tây Quảng Nam Địa bàn cư trú của người Cơtu tiếp giáp với vùng cư trú của dân tộc Kinh, vùng đồng bằng ven biển và có mối quan hệ với vùng phía đông tỉnh Sê Kông (Lào)

Cho tới khoảng giữa thế kỷ XX, nếp sống cổ truyền của người Cơtu vẫn còn hầu như nguyên vẹn Đó là xã hội của cư dân nông nghiệp vùng rừng nhiệt đới, của những người khai thác nguồn sống từ rừng, lấy canh tác rẫy làm nguồn sống chính

Qua việc ấn định trên đây, cho thấy rằng tuy ở một dạng hình kinh tế sản xuất còn thấp nhưng sự nhận thức của con người trước thiên nhiên, trước quy trình sản xuất được tích luỹ và nâng lên thành một hệ thống cả về chu kỳ thời gian đi đôi với công việc Tuy rằng nền sản xuất ấy mang lại hiệu quả bấp bênh nhưng chính đồng bào Cơtu đã từ thực tế đó luôn vươn tới sự hoàn thiện trong nhận thức và cách làm đối với loại hình kinh tế chủ yếu của mình

Qua các tài liệu khoa học đã được công bố trong phạm vi cả nước và ngoài nước thì cho đến nay dân tộc Cơtu được khẳng định là dân tộc cận cư ở phía Bắc và phía Nam, đều là các dân tộc thuộc ngữ hệ Môn Khơmer Như vậy, ngữ hệ này nằm ở một khu vực tương đối rộng lớn, tập trung kéo dài từ Bắc Trường Sơn vào đến Bắc Tây Nguyên mà trong đó có dân tộc Cơtu

Tuy nhiên, khi nghiên cứu về mặt ngôn ngữ và một số yếu tố về văn hoá giữa dân tộc Cơtu với dân tộc Tà ôi, một số nhà nghiên cứu phát hiện nhiều yếu tố đồng nhất, trong đó thể hiện phần lớn những đặc trưng cơ bản của dân tộc Cơtu Vì thế đã

có ý kiến cho rằng ngôn ngữ của dân tộc Cơtu nằm trong ngữ hệ Môn - Khơmer,

Trang 31

nhưng trong ngữ hệ đó lại có một nhánh lớn là “Cơtu - ít” (một phân nhánh ngữ hệ)

“Cơtu - ít” này bao gồm cả dân tộc Tà Ôi, Bru - Vân Kiều

Theo cứ liệu điều tra của Sở Văn hoá - thông tin tỉnh Quảng Nam: “Người Cơtu

từ bên Lào di cư sang khoảng 300 năm nay, cư trú ở Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang và ở Phú Lộc (Bình Trị Thiên) nay là huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên- Huế

Là một trong những dân tộc lâu đời nhất ở Việt Nam, đồng bào Cơtu cho rằng ông bà xưa kia ở miền tây Quảng Bình, Quảng Trị do đi tìm đất để trồng trọt nên đã thiên di vào phía Nam Các cư dân Môn - Khơmer làm chủ ở vùng Đông Dương từ những thế

kỷ trước công nguyên, theo tài liệu về nhân chủng học thì các cư dân Môn -Khơmer cùng với cư dân thuộc các nền văn hoá như Mã Lai đa đảo (MaLai - Pôlinêdi), Việt - Mường…là những cư dân đại diện đầu tiên của chủng tộc Môngôlôit phương Nam xuất hiện ở Đông Nam Á Còn ở vùng bán đảo Đông Dương các cư dân này là những người Anhđônêdiên nguyên thuỷ mà trước Anhđônêdiên là các cư dân thuộc chủng tộc Môngôlôit Như vậy dễ dàng khẳng định các cư dân Môn - Khơmer trong đó có dân tộc Cơtu là những cư dân có mặt tại bán đảo Đông Dương từ lâu đời” [16, Tr.19 – 20]

Theo cứ liệu của Ban Dân tộc tỉnh Quảng Nam, thì những cư dân chiếm cứ vùng miền núi phía Bắc Tây Nguyên là khối cộng đồng các dân tộc Bana, Xơ đăng, Giẻ - Triêng Một huyền thoại khá thống nhất của khối cộng đồng Cơtu và cả Xơ đăng, Giẻ - Triêng và Cor kể rằng: một số vùng dân tộc Môn - Khơmer vùng Nam Lào có huyền thoại về tổ tiên chung đầu tiên của họ là người đàn bà và con chó (chuyện kể sau một trận lũ lụt lớn ngập khắp núi rừng, sau khi nước rút, trên mặt đất chỉ còn lại một người đàn bà và một con chó sống sót)

Thực tế, ngày nay trên đất Cơtu xa xôi và hiểm trở này, các nhà lịch sử học, dân tộc học, khảo cổ học, v.v… chưa ai đi sâu nghiên cứu để chứng minh tại trên khắp các quả đồi từ biên giới Lào xuống tận các xã giáp giới đồng bằng (thuộc huyện Đông Giang) đều có đôi mộ cổ, Cơtu gọi là Hời (Chăm), mộ Đh’riu Các ngôi mộ này đều là

mộ đất, tròn, có rãnh dọc sâu tạo phần mộ cao ráo, hướng Đông

Trang 32

Tiểu kết chương 1

Là một trong bảy huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam, với 85% số dân là người bản địa nên đời sống vật chất vẫn còn nhiều khó khăn, trở ngại Tuy kinh tế còn chậm phát triển, mức sống nhân dân còn thấp nhưng Đông Giang là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, đồng bào Cơ tu chân thật, thân thiện, mến khách, có một kho tàng văn hóa phong phú, giàu bản sắc dân tộc, đặc biệt đồng bào Cơ tu Đông Giang luôn có một niềm tin sâu sắc về lý tưởng của Đảng, của Bác Hồ Trong những năm qua với những nổ lực của cán bộ, nhân dân huyện Đông Giang đã có những khởi sắc về đời sống vật chất lẫn tinh thần

Trang 33

CHƯƠNG 2: VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG TỘC NGƯỜI CƠTU

Ở HUYỆN ĐÔNG GIANG TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Cơ sở hình thành văn hóa truyền thống người Cơ tu ở huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam

Nằm trên dãy Trường Sơn Đông hùng vĩ, huyện Đông Giang có địa hình khá phức tạp và hiểm trở, nhiều dãy núi cao, độ dốc lớn, sông suối ngăn cách, thung lung vừa đẹp vừa sâu

Người Cơ tu canh tác rẫy theo lối luân canh và đa canh Canh tác theo lối luân canh có nghĩa là khai thác đám rẫy này rồi chuyển sang khai thác đám rẫy khác, cứ thế cho đến khi trở lại đám rẫy ban đầu kia Các cây trồng trên rẫy, chủ yếu là lúa, xen canh bắp, sắn, dứa… Công cụ chủ yếu dùng trong canh tác là rựa, rìu, cuốc, giáo Đàn ông rất giỏi nghề săn bắt, đặt bẫy, gài thò để bắt thú rừng, đặc biệt là đánh bắt cá trên sông suối, suối; phụ nữ đảm đang việc trồng tỉa, hái lượm, dệt vải Các loại động vật người Cơ tu nuôi nhiều là trâu, bò, lợn, chó, dê… để hiến sinh trong các lễ hội, cưới xin, ma chay và làm thực phẩm cho gia đình Ngày xưa, việc giao lưu văn hóa giữa các dân tộc hạn chế Đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào Cơ tu thương mang tính chất khép kín trong phạm vi bản làng Sự khép kín trong cộng đồng, ít giao lưu làm cho xã hội chậm phát triển, nhưng đồng thời những nét văn hóa riêng lại được bảo lưu

Xuất phát từ môi trường sống, phương thức sản xuất, thiết chế xã hội cổ truyền

và tín ngưỡng, văn hóa của người Cơ tu được hình thành

2.2 Văn hóa truyền thống tộc người Cơtu ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam

2.2.1 Văn hoá vật chất

2.2.1.1 Sinh hoạt kinh tế

Cũng như các dân tộc thiểu số khác ở dọc Trường Sơn – Tây Nguyên, trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, người Cơ tu Đông Giang sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt trên rẫy, chăn nuôi, săn bắt và hái lượm Nhiều nơi ở vùng thấp, đồng bào đã phát triển kinh tế vườn, trồng cây lâu năm, trồng lúa nước Các nghề thủ công chủ yếu

là đan lát, gốm, dệt thổ cẩm

Người Cơ tu canh tác rẫy theo lối luân canh và đa canh Canh tác luân canh có nghĩa là khai thác đám rẫy này rồi chuyển sang khai thác đám rẫy khác, cứ thế cho đến khi trở lại đám rẫy ban đầu kia Các cây trồng trên rẫy chủ yếu là lúa (lúa tẻ và lúa

Trang 34

XX, đồng bào mới biết đến các kỹ thuật canh tác lúa nước Việc trồng lúa nước ngày càng được mở rộng, song do yếu tố địa hình bị chia cắt, diện tích canh tác chưa nhiều Tuy nhiên, ở nhiều vùng, cây lúa nước đã thành cây lương thực chính cung cấp lương thực cho nhân dân Cũng từ những năm 60 của thế kỷ XX, họ đã trồng được lúa Ba Trăng trên rẫy, đem lại hiệu quả cao

Người Cơ tu nuôi động vật chủ yếu là trâu, bò, lợn, chó, gà, dê sau này nuôi thêm cá, ngan… Trước kia, gia súc lớn chỉ có trâu được nuôi nhiều và rất được coi trọng nhưng ngày nay thì bò được nuôi nhiều hơn vì bò có phần dễ nuôi, sinh sản nhanh và đem lại hiệu quả cao về kinh tế Gia súc, gia cầm được nuôi chủ yếu để hiến sinh trong các ngày lễ hội, lễ vật trong cưới xin

Săn bắt có vai trò quan trọng trong đời sống của người đồng bào Hình thức săn bắt và dụng cụ săn bắt rất đa dạng

Cá là nguồn thực phẩm quan trọng trong đời sống của đồng bào, được dùng để cải thiện bữa ăn hằng ngày, dùng làm lễ vật và thức ăn trong cưới xin và lễ hội Đặc sản của họ là cá Liêng, cá Chình… Hình thức đánh bắt cá cũng đa dạng, có thể là chai, lưới, đơm, câu hoặc xúc bằng vợt…

Sống lâu đời trên dãy núi Trường Sơn hùng vĩ, người Cơ tu đã tận dụng các nguồn lợi từ rừng để phục vụ nhu cầu đời sống của mình, những sản phẩm đó có thể làm thức ăn hoặc làm thuốc chữa bệnh Họ còn sử dụng các loại nước từ thân các loại cây làm rượu như rượu Trơ đin, rượu Tà vạc

Người Cơ tu có nhiều nghề thủ công, phổ biến nhất là nghề đan lát các vật dụng phục vụ sản xuất và sinh hoạt hằng ngày với nguồn mây, tre, nứa, lồ ô và các loại cây dây leo dồi dào có sẵn trong rừng cộng với óc sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo, đồng bào đã tạo cho mình nhiều loại dụng cụ bền đẹp và có tính hợp lý cao, góp phần làm giàu vốn văn hoá của cư dân miền núi Những sản phẩm tiêu biểu như gùi (gùi đựng

đồ trang sức và thổ cẩm, gùi đựng lúa, gùi ba ngăn…), mủng, nong phơi lúa, nia sẩy lúa…

Dệt thổ cẩm là nghề của nữ giới Thổ cẩm của đồng bào đặc sắc về màu sắc, nguyên liệu, cách thức dệt, hoa văn và kiểu loại y phục Họ tạo các hoa văn không chỉ bằng sợi bông các màu đỏ, trắng, đen mà còn vô vàn những hạt cườm trắng hoặc hạt

Trang 35

chì lồng vào sợi ngang Thổ cẩm có thể làm khố,váy, thắt lưng, chăn đắp, trang trí trong các lễ hội, cưới hỏi và cả trong Gươl…

Sống tự cung, tự cấp là chính nhưng cộng đồng vẫn có nhu cầu trao đổi hàng hoá Trước đây họ trao đổi hàng hoá bằng vật ngang giá chung, tức là định giá trị bằng con trâu hay tấm vải có hạt cườm… lấy mật ong, măng, mây, trầm hương… để đổi lấy muối, chiếu cói, vải trắng, chiêng ché, công cụ sản xuất… Bến Hiên trước đây (nay thuộc xã Kà Dăng) là một trong những nơi diễn ra sự trao đổi hàng hoá khá sôi động giữa người Kinh và người Cơ tu

2.2.1.2 Làng, nhà cửa

Xưa nay ở vùng Cơ tu khái niệm tỉnh, huyện, xã chưa rõ ràng Ở vùng xa xa có khoảng đất rộng và nhiều làng xóm cách xa và đi bộ khoảng từ một đến hai ngày… thì gọi: Chr’hoong; địa bàn hẹp cách gần làng mình và tương đồng về mặt phong tục tập quán, gần trong việc đi lại và cận kề bà con xuôi gia thì gọi là: Chr’val Nhỏ hẹp dần

về không gian, khoảng cách, diện tích và đồng nhất về phong tục tập quán, có quan hệ huyết thống, máu mủ, gói gọn sống trong phạm vi nhỏ hẹp và độc lập về không gian,

tập trung sống trong một cộng đồng gắn kết nhau “tối lửa tắt đèn” Cơ tu gọi: Bhươl, cr’noon hay vêêl

Như vậy, tương ứng với đơn vị hành chính hiện nay thì nó tương đương: thôn, làng, xóm / Bhươl, cr’noon, vêêl; xã /chr’val; tỉnh, huyện /chr’hoong (gọi chung), nước / k’tiếc (k’tiếc Việt Nam), thế giới / bhlang k’tiếc

Vậy cr’noon của người Cơ tu như thế nào, sinh hoạt cộng đồng trong đó ra sao? Cr’noon/ làng Cơ tu thường được dựng lên nơi đất cao thoáng mát, có tầm nhìn

xa, dễ quản lí bảo vệ; gần nguồn nước để bắc về trung tâm làng dùng

Theo thủ tục, để chọn lập cr’noon, trước hết Hội đồng già làng bàn bạc xác định địa điểm khu đất; rồi các cụ đến địa điểm ấy để làm thủ tục cúng đất, xin giàng… thông thường chỉ đem một trong các thứ như: con gà trống choai hoặc quả trứng gà, hay ốc suối, con cuốn chiếu (p’puôl), chén nước trong, đốt cây đót (bóh atâng), dựng dáo (p’đhâng bhất) … cúng xong nếu thuận với ý của người cúng thì sao đó phát một khoảnh đất gọi là “tạm nhận” để dựng nhà, sau ấy tổ chức ăn uống cho qua ngày Đêm

về số cụ cúng đất hôm đó hay người có uy tín trong làng nếu nằm mơ thấy điều tốt, như được của quý, trời nắng đẹp… thì ngày hôm sau tiến hành đến phát dọn, phân

Trang 36

từng lô đất cho hộ dân, ngược lại nếu chân gà xấu không thuận ý người cúng hay gặp rắn độc, hoặc làm gẫy cán rựa, rìu; gẫy đá mài, vỡ chén (Cơ tu gọi cha’zắh)…; nằm

mơ báo báo điềm xấu, như bị rày la, báo điềm cấm kị, đuổi rước… thì bỏ khu đất đó, đến tìm nơi khác

Cách bố trí phần đất thường dùng theo hình sẵn có của địa hình tự nhiên không cải tạo thêm, thông thường cr’noon xây dựng theo mô hình bầu dục (hay hình tròn) xung quanh dựng nhà sàn của các thành viên trong làng, ở giữa là gươl, các nhà dân cửa đều hướng vào gươl – vì gươl trung tâm của làng Tuy nhiên do điều kiện đất đai nếu không đủ để dựng gươl ở giữa thì vẫn có thể dựng gươl cùng nằm theo chiều hướng ngang với nhà thành viên Nhưng nhà gươl phải làm nơi trang trọng, cao ráo và trung độ của làng

Nhà truyền thống của đồng bào thường là nhà sàn Nhà sàn có bốn mái cao vừa, mái uốn khum tròn ở hai đầu hồi, hình kiểu mai rùa Vật liệu chính để làm nhà là: gỗ, tre, nứa buộc bằng dây mây hay dây rừng hoặc ghép gạ đục cây luồn với nhau một cách cứng chặt; chất lợp dùng tranh, lá lách, lá cọ, lá cao rừng, lá mây hay lấy nhiều lóng nứa bổ đôi ghép âm dương làm máng tạo thành mái nhà (Cơ tu gọi apoóc) Nhà sàn Cơ tu nhìn bề ngoài thấy mái tròn, nhưng thật sự bên trong vẫn bốn mái: hai mái bên và hai mái đầu hồi, cửa chính vào nhà theo hai kiểu:

Nhà sàn Cơ tu dal (vùng cao): thường cửa chính vào hai bên đầu hồi, trước khi lên sàn thì bước qua bậc đầu tiên ở đầu hồi Cơ tu gọi h’joóh

H’joóh làm bằng ván, để trống không có phên che, từ dưới đất bước lên cao khoảng 50cm có bậc thang lên xuống H’joóh nơi khoảng trống để dệt dồ, chẻ nan, đan lát khi rỗi việc sản xuất nông nghiệp; nơi để dụng cụ sản xuất thường dùng, như: cối – chày giã gạo, ống nước rửa tay chân trước khi bước lên bậc thang vào sàn ở…; h’joóh còn để cho thanh niên nam nữ tâm tình với nhau vào đêm khuya (vốch zơng /đi sim)

- Nhà sàn Cơ tu phương (vùng thấp): cửa vào trong nhà thường bên mái chính,

từ đất lên làm các bậc thang từng chiếc một dẫn thẳng vào trong nhà Các vật khác như cối – chày giã gạo, nông nia, ống nước… làm nhà riêng gần nhà ở - Cơ tu gọi là đông c’lóh (hay đông đớc t’păl)

Trong nhà sàn bếp làm chung trên đó, mỗi bếp thường một chủ hộ Bếp là nơi

để chụm lửa để nấu ăn và sưởi ấm Thành viên hộ thường ngủ quanh bếp, chân hướng

Trang 37

vào lửa hơ ấm khi mùa đông về Nếu nhà nhiều hộ gia đình riêng thì bốn bếp ở góc nhà thường ưu tiên cho hộ có uy thế và khá giả trong nhà Còn hộ mới lập gia đình hoặc uy thế kém hơn thì làm bếp ở gian giữa Chính điều này người Cơ tu có câu:

amay ve ắt léh đâl t’tâl m’mâm (ý người có uy thế được ở giữa gốc nhà) Ngoài ra còn

có buồng riêng làm lối ra ngoài cho vợ chồng mới cưới, hoặc thanh niên nam nữ chưa

có gia đình; riêng khách được bố trí ăn, ngủ ở gian giữa (Cơ tu gọi là doong, cũng có nơi có làm giường để cho khách quý nằm) sàn hay giường thường trải chiếu tự đan từ

lá dứa dại – Cơ tu gọi alớ, ngày nay thì trải chiếu mua từ dưới đồng bằng lên Nhà sàn

Cơ tu không ngăn phên giành riêng cho từng hộ Trong nhà sàn thường làm nhiều giàn

để đựng đồ và thứ tự như sau: Trên bếp thường có ba bậc giàn, đó là hai giàn bếp thấp nhỏ, đan thưa, Cơ tu gọi lag Tir đây là giàn để phơi đồ tươi dễ lấy dễ dùng Giàn trên tir gác cây ngang với trính trong nhà họ làm rộng, đan kín dùng để ủ chuối, phơi thóc, ngô… gọi là ch’rung hay hir

Hai bên đầu hồi trên cao từ trính ngang cùng với ch’rung họ gác cây làm giàn song song với h’joóh ở dưới, người ta dùng để đựng bồ lúa, bắp, củi, vật liệu khô khác

để sản xuất… gọi là r’pang Còn giàn cuối cùng gọi là para Para được làm tại hai bên mái chính từ phên nhà đến mái tranh có độ cao từ sàn lên khoảng 1,0 – 1,3 mét để đựng soong nồi, chén bát, rau quả, cơm cháo… dễ lấy, dễ dùng không khô héo nhanh

Do nhà sàn rộng và kín, nên họ có chừa chỗ thông hơi trên mái cho thông khói

và gió, dễ có ánh sáng mặt trời chiếu vào không kín mít gọi là p’bhung

Như vậy, nhà sàn Cơ tu liên hoàn từ chỗ ngủ đến chỗ nằm, chỗ nấu, chỗ đựng

Trang 38

Ngoài ra ở khu đất sản xuất để nghỉ ngơi, chăn nuôi người Cơ tu còn dựng nhà rẫy gọi là zơng; ở rừng trong khi săn bắt chim thú hay ở ven sông suối khi bắt cá, ếch còn dựng nhà tạm để ở trong thời gian ngắn gọi là pớ

Hàng rào(g’roong), cổng làng(c’riing): xuất phát từ cách bố trí cr’noon như trên, nên xung quanh cr’noon có hàng rào khép kín Xưa kia, hàng rào làm theo nhiêu lớp, nhiều tầng kiên cố để phòng giặc đến làng vào đêm khuya Ngày nay hàng rào chủ yếu bảo vệ gia súc cấm vào trong làng mất vệ sinh, hàng rào có nơi làm bằng xếp hàng cây rừng kín chặt, có nơi đào bằng đường hào sâu rộng Lối thông của cr’noon ra ngoài qua hàng rào thường có hai cổng chính, cổng này xưa kia thường khóa chặt vào ban đêm – gọi là k’đợp c’riing Ngày nay cổng để trống có bậc thang bước lên, xuống một cách thuận lợi, dễ dàng qua lại Ngoài ra còn có các ổng phụ phù hợp lối ra rừng,

ra rẫy của từng nhóm hộ trong làng [9, Tr.142]

Các công trình công cộng đều là tài sản chung, mọi thành viên đều có trách nhiệm đóng góp công sức để xây dựng và có nghĩa vụ quản lí, bảo vệ, giữ gìn và sử dụng dài lâu

Người Cơtu quây quần bên nhau, sống trong nhà sàn Nhiều nhà tạo nên làng, làng là một tổ chức tự quản, gần gũi, đùm bọc che chở nhau, đoàn kết, thống nhất thành một khối chặt chẽ Cr’noon/ Bhươl hay Vêêl (làng) Cơtu thường dựng lên trên đất cao thoáng mát, có tầm nhìn xa, dễ quản lí bảo vệ, gần nguồn nước để bắt về trung tâm làng dùng Mỗi làng có một nhà Gươl, đó là nhà chung do thành viên trong làng tập trung công sức làm Gươl được dựng ở trung tâm sân làng, các cửa nhà dân hướng

về Gươl Là nơi sinh hoạt truyền thống, nơi họp hội giải quyết công việc, nơi sinh hoạt giáo dục truyền thống của dân tộc, nơi lưu giữ những vật hiến tế, cúng bái, của cải chung và nơi tiến hành các lễ nghi của làng Nhà Gươl truyền thống hay sân làng là nơi thao diễn những hoạt động văn hóa của đội ngũ trí tuệ Ở đây, các nghệ nhân có dịp sáng tác những nhạc cụ, cải thiện nghệ thuật điêu khắc, tập luyện đánh cồng chiên, múa tung tung da’dă, đặc biệt cho các em trẻ, một phương cách giữ gìn hữu hiệu bản sắc văn hóa dân tộc Đây cũng là nơi tiếp đón khách quý của toàn làng nơi nghỉ lại của khách Và một chức năng thường xuyên là nơi ngủ đêm của con trai chưa vợ Nhà Gươl cũng là nơi ngủ của những thanh niên trong thôn chưa vợ sau các buổi sinh hoạt Ðây cũng là nơi các già làng, dưới ánh trăng thanh, quanh đống lửa ấm, kể

Trang 39

chuyện cổ Cơtu, cội nguồn dân tộc, sự tích dòng họ, phong tục tập quán, không những chỉ cho học sinh mà còn cả cho thanh niên, cán bộ Đồng thời, Gươl là nơi tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước, v.v hay nói cách khác là nơi thiêng liêng nhất, nơi tập trung linh hồn sống của một thôn tạo nên sự bền vững của văn hóa cộng đồng Cơtu, v.v Mô hình xây dựng Gươl có khuôn mẫu tương đối chung, trang trí hình vẽ, chạm khắc, họa tiết đều thể hiện những nếp sinh hoạt tiêu biểu của người Cơtu, hoặc những muôn thú mà làng thường săn bắt, v.v… Cấu trúc của Gươl khác nhà ở, nó không có phên ngăn kín xung quanh ở chính giữa có một cột to cao dựng đứng từ mặt đất đến nóc nhà gọi là trụ chính (z’râng moỏng) Xét về cấu trúc nhà cửa của người Cơtu thì “Gươl là trái tim của làng’’, còn “z’râng moỏng chính

là trái tim của nhà Gươl” Tuy nhiên trong nhà Gươl còn có rất nhiều cột mẹ Chính điều đó đã tạo nên sự chắc chắn của nhà Gươl Trên mỗi cột mẹ có phù điêu chạm hình người bán thân, hay các con vật quen thuộc như: chim đại bàng, con kỳ đà, trâu; có nhóm tượng tròn mô tả cảnh sinh hoạt như hút thuốc, giã gạo, kéo co, v.v đàn ông đánh trống chiêng múa điệu tân’tung, phụ nữ múa điệu da’dă Cấu trúc nhà Gươl đã nói lên tính chất của nó Nhà Gươl luôn đón chào tất cả mọi người trong làng từ mọi phía Từ nhà Gươl mọi người có thể nhìn ra ngoài một cách tổng quát Nhà Gươl của người Cơtu thường lớn hơn nhà sàn, vì vậy khi mọi người tập trung hội họp, vui chơi rất thoải mái không lo chật Còn tùy theo vào loại hình trò hay hay lễ hội gì thì người Cơtu sẽ ra tổ chức ở ngoài sân Gươl Chẳng hạn như đâm trâu, nó thu hút rất nhiều người tham gia và xem nên phải tổ chức bên ngoài

Cách sinh hoạt trong nhà:

Mọi sinh hoạt trong nhà rất bình đẳng, xưa nay nếu nhà đó cùng một gia đình thì việc nấu ăn chung, bếp nấu cơm, bếp nấu canh Sau đó chia phần bằng nhau để tự

ăn phần của mình Còn nếu nhà đông, khả năng nấu chung không nổi thì chủ hộ cho nấu ăn riêng theo bếp Nhưng khi thức ăn chín dù ngon hay dở các hộ đều chia ít phần

cho các hộ khác thức ăn mình nấu – Cơ tu gọi là phưa Còn nếu kiếm được thịt từ con

sóc trở lên thì chia cho mỗi trẻ em và người già trong bếp của mình mỗi người một

miếng, còn lại chia cho các cháu ở bếp khác mỗi bếp mỗi miếng, Cơ tu gọi là t’pêếh

Còn nếu con thú tương đối lớn từ con chồn trở lên thì chia đều cho nhau mỗi người

Trang 40

một phần bằng nhau, Cơ tu gọi là ch’niêm; còn các nhà lân cận gân đó chia phần mỗi

bếp một miếng tr’pêếh

Trở lại việc chia thịt tại gươl thường có một tổ tự quản lí - Cơ tu gọi gr’mrêy hay ca’no Tổ ca’no này tự phân công mổ xẻ, nấu nướng, chia phần thịt cho dân làng Các bếp trong gươl góp củi, muối, ớt vào gươl cho tổ đó sử dụng vào làm thịt Có hai cách chia thịt: một, thông thường nhất là chia thịt chin; còn cách thứ hai không phổ biến đó là chia thịt sống sau khi cắt đều nhau để các hộ tự về nấu dùng Ở đây ta tìm nghiên cứu phong tục chia thịt chín cho thành viên làng, thường như sau:

Thành viên tổ quản lí đến từng bếp thông báo cho chủ hộ xé lá chuối rừng đủ cho số thành viên trong gia đình mình, sau đó người đại diện của tổ quản lí thu lá về tập hợp tại gươl và xếp đều lá chuối rồi múc thịt bỏ đều từng lá một, khi đã bỏ đủ lên

lá kiểm tra kỹ lại xem có sót không và xem có đều nhau chưa, sau đó gói một đầu lá lại cho gọn(Cơ tu gọi cr’đắt), sắp đều, đếm đủ và xếp theo nhà, theo bếp rồi đem phân chia cho làng hay gọi dân làng đến gươl nhận phần( pây cha niêm)

Phần thịt đã chia đều như nhau vậy, nhưng thương các bà mẹ và các cô gái thường ít khi yên lòng dùng trọn vẹn hết phần thịt được chia cho mình, họ còn phân

nhỏ để cho những người thân khác - Cơ tu gọi hình thức này là phưa hay hun

Ngoài việc chia đều phần thịt cho dân làng như trên, tùy thịt to hay nhỏ trong gươl phải để một phần cho khách nếu có đến làng trong ngày hôm đó cũng có phần để dùng Phần thịt này chỉ để trong một ngày nếu đến tối không có khách đến làng thì các

cụ già trong gươl dùng

Tính nhân văn của văn hóa làng Cơ tu còn có trong chính sách chia thịt cho

con của phụ nữ đang có thai nghén( Cơ tu gọi là cr’đhợ, v’vợng, k’đắp achắc) để cho

mẹ của đứa bé dùng có sức khỏe nuôi bầu trong bụng Và điều này cho ta thấy sự quan tâm của cộng đồng với thai nhi, tuy chưa lọt lòng mẹ nhưng làng đã quan tâm đến bào thai và họ chấp nhận thai nhi ấy là thành viên của làng Còn đối với người chết trong vòng 12 tháng (chưa giáp năm) vẫn còn chia phần thịt để cho gia đình hưởng – vì quan niệm cho rằng linh hồn người chết trong vòng một năm vẫn còn ở trong làng [9, Tr.145]

Xưa nay khách (t’mooi) bất kể từ đâu đến nếu vào gươl thì các nhà bưng cơm đến, gia đình ăn gì bưng cho khách ăn nấy; còn nếu khách vào nhà dân thì mỗi hộ

Ngày đăng: 08/05/2021, 14:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Mai An (2014), Tổ chức xã hội truyền thống của người Cơ tu ở huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên Huế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức xã hội truyền thống của người Cơ tu ở huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Trần Thị Mai An
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2014
2. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đông Giang (2010), Lịch sử Đảng bộ huyện Đông Giang (1945 – 2005), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Đông Giang (1945 – 2005)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đông Giang
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
3. Chi Cục Thống kê huyện Đông Giang (5/2013), Niên giám thống kê huyện Đông Giang năm 2012, Phòng Thống kê huyện Đông Giang, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê huyện Đông Giang năm 2012
4. Đảng Ủy - Ban Chỉ huy quân sự huyện Đông Giang (2015), Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân huyện Đông Giang (1945 – 2015), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 5. Đăng Thị Quốc Anh Đào (2017), Hôn nhân và gia đình của người Cơ tu tại tỉnh Quảng Nam, Nxb. Mỹ Thuật, 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân huyện Đông Giang (1945 – 2015)", Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 5. Đăng Thị Quốc Anh Đào (2017), "Hôn nhân và gia đình của người Cơ tu tại tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Đảng Ủy - Ban Chỉ huy quân sự huyện Đông Giang (2015), Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân huyện Đông Giang (1945 – 2015), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 5. Đăng Thị Quốc Anh Đào
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2017
6. Nguyễn Ngọc Hòa (2014), “Xây dựng đời sống văn hoá của người Cơ Tu ở Quảng Nam”, Tạp chí Tuyên giáo, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đời sống văn hoá của người Cơ Tu ở Quảng Nam"”, Tạp chí Tuyên giáo
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Năm: 2014
7. Huyện Ủy – HĐND – UBND – UBMTTQVN Huyện Đông Giang (2013), Kỉ yếu Đông Giang 10 năm một chặng đường phát triển (2003 – 2013), Nxb Sở Văn hóa thông tin Quảng Nam, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kỉ yếu Đông Giang 10 năm một chặng đường phát triển (2003 – 2013)
Tác giả: Huyện Ủy – HĐND – UBND – UBMTTQVN Huyện Đông Giang
Nhà XB: Nxb Sở Văn hóa thông tin Quảng Nam
Năm: 2013
8. Bh’riu Liếc (2013), Tây Giang truyền thống và khát vọng, Nxb Sở Văn hóa Thông tin Quảng Nam, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây Giang truyền thống và khát vọng
Tác giả: Bh’riu Liếc
Nhà XB: Nxb Sở Văn hóa Thông tin Quảng Nam
Năm: 2013
9. Bh’riu Liếc (2006), Tiếng thông dụng C’tu – Kinh và văn hóa làng C’tu, Nxb Sở Văn hóa thông tin Quảng Nam, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng thông dụng C’tu – Kinh và văn hóa làng C’tu
Tác giả: Bh’riu Liếc
Nhà XB: Nxb Sở Văn hóa thông tin Quảng Nam
Năm: 2006
10. Bh’riu Liếc (2018), Prá Cơtu – Tiếng Cơtu, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 11. Trần Long (2008), “Văn hóa tộc người”, Tạp chí văn hóa học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tộc người”," Tạp chí văn hóa học
Tác giả: Bh’riu Liếc (2018), Prá Cơtu – Tiếng Cơtu, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 11. Trần Long
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2008
14. Riah Quốc (tháng 5 – 2017), Văn hóa tín ngưỡng của dân tộc Cơtu huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, Khóa luận tốt nghiệp 2017, Trường Đại học Sư phạm Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tín ngưỡng của dân tộc Cơtu huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
15. Phạm Ngọc Sinh – Bh’riu Liếc – Lê Anh Dũng (2009), Vóc dáng Tây Giang, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vóc dáng Tây Giang
Tác giả: Phạm Ngọc Sinh – Bh’riu Liếc – Lê Anh Dũng
Nhà XB: Nxb Giao thông vận tải
Năm: 2009
16. Sở Văn hóa- thông tin Quảng Nam (2003), Đề tài Tổng quan văn hóa phi vật thể dân tộc Cơtu tỉnh Quảng Nam, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan văn hóa phi vật thể dân tộc Cơtu tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Sở Văn hóa- thông tin Quảng Nam
Năm: 2003
17. Trần Ngọc Thêm (2011), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2011
18. Nguyễn Hữu Thông (2005), Katu kẻ sống đầu ngọn nước, Nxb Thuận Hóa, Huế 19. ATing Thị Tươi (2018), “Thành tựu về văn hóa – xã hôi sau 15 năm tái lập huyện Đông Giang”, Đông Giang 15 năm xây dựng và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành tựu về văn hóa – xã hôi sau 15 năm tái lập huyện Đông Giang”, "Đông Giang 15 năm xây dựng và phát triển
Tác giả: Nguyễn Hữu Thông (2005), Katu kẻ sống đầu ngọn nước, Nxb Thuận Hóa, Huế 19. ATing Thị Tươi
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2018
20. Đỗ Thị Ngọc Uyển (2014), “Một số quan điểm về bảo tồn và phát huy văn hóa di sản Hội An”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử xứ Quảng, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số quan điểm về bảo tồn và phát huy văn hóa di sản Hội An”, "Tạp chí Nghiên cứu lịch sử xứ Quảng
Tác giả: Đỗ Thị Ngọc Uyển
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w