ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các loài động vâ ̣t thân mềm thuộc lớp chân đầu (Cephalopoda)
ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Tại vùng biển ven bờ thành phố Đà Nẵng
Hình 2.2 Lươ ̣c đồ thành phố Đà Nẵng [16]
THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Danh mục thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp chân đầu (Cephalopoda) vùng biển Đà Nẵng
- So sánh thành phần loài đô ̣ng vâ ̣t thân mềm thuô ̣c lớp chân đầu (cephalopoda) vù ng biển đà nẵng với mô ̣t số nơi khác
IV chiều da ̀i tay cuống chiều da ̀i cuống đầu ba ̀n chiều dài thân chiều dài vây đuôi
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.5.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa
Việc thu mẫu được thực hiện thông qua việc mua mẫu từ các ngư dân tại bến cá Mân Thái và Thọ Quang, thuộc quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
2.5.2 Phương pháp phân loại mực Đi ̣nh loại đô ̣ng vâ ̣t thân mềm thuô ̣c lớp chân đầu (Cephalopoda) bằ ng phương pháp so sánh hình thái theo M.C Dunning (1982) [15] Ngoài ra, còn đươ ̣c phân loa ̣i mẫu theo tài liê ̣u của Nguyễn Xuân Du ̣c (1994) [1], Trương Quố c Phú (2006) [10] Và sử du ̣ng hê ̣ thống phân loa ̣i của Voss G.L (1969)
[14] để hiệu chỉnh tên các loài đã được công bố ở Viê ̣t Nam
Các chỉ tiêu phân loại bao gồm chiều dài và chiều rộng của màng áo, vây, đầu, cũng như chiều dài của các xúc tu và bông xúc giác, cùng với thứ tự của các xúc tu.
Hình 2.5.1 trình bày phép đánh giá phân loại cho mực ống, mực nang và bạch tuộc, bao gồm các loại: a) mực ống, b) mực nang tay trái và tay phải, c) bạch tuộc III, II, IV.
I tổng chiều da ̀i đầu chiều da ̀i thân xu ́ c tu tổng chiều da ̀i c ơ thể
KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN
3.1.1 Thành phần loài đô ̣ng vâ ̣t thân mềm chân đầu (Cephalopoda) ta ̣i vù ng biển Đà Nẵng
Kết quả phân tích 63 con mực từ 17 đợt thu trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2017 đến đầu tháng 4 năm 2018 đã xác định rằng tại vùng biển Đà Nẵng, đã thu được 17 loài thuộc ngành thân mềm lớp chân đầu, phân bổ vào 3 bộ và 3 họ khác nhau.
Bảng 3.1: Thành phần loài đô ̣ng vâ ̣t thân mềm lớp chân đầu (Cephalopoda) tại vù ng biển Đà Nẵng
STT TÊN KHOA HỌC TÊN VIỆT NAM
1 Sepia lycidas (Gray, 1849) Mực nang mắt cáo
2 Sepia latimanus (Qouy, Gaimard, 1832) Mực nang vân trắng
3 Sepia pharaonis (Ehrenberg, 1831) Mực nang vân hổ
7 Uroteuthis chinensis (Gray, 1849) Mực ố ng trung quốc
9 Sepioteuthis lessoniana (Lesson, 1830) Mực lá
10 Loliolus beka (Sasaki, 1929) Mực ố ng beka
(3) Octopodidae Họ Ba ̣ch tuô ̣c
11 Octopus marginatus (Taki, 1964) Bạch tuô ̣c vân
12 Octopus aegina (Gray, 1849) Duố c lỗ
13 Cistopus indicus (Rapp, 1835) Bạch tuô ̣c kẽm
Bạch tuô ̣c đố m xanh
Từ bảng 3.1 cho thấy ta ̣i vùng biển Đà Nẵng thu đươ ̣c 17 loài với 3 bô ̣:
Bộ Octopoda, Teuthoidea, và Sepioidea bao gồm ba họ: Octopodidae, Loliginidae, và Sepiidae Trong đó, bộ Octopoda có nhiều loài nhất với họ Octopodidae sở hữu 7 loài, trong khi bộ Teuthoidea với họ Loliginidae lại có ít loài nhất, chỉ với 4 loài.
3.1.2 Cấu trú c loài đô ̣ng vâ ̣t thân mềm lớp chân đầu (Cephalopoda) ta ̣i vù ng biển Đà Nẵng Ở mỗi hệ sinh thái khác nhau, thành phần loài sinh vật cũng khác nhau và tạo nên tính đặc trưng riêng Vùng biển Đà Nẵng nằm trong cảnh quan có đa dạng hê ̣ sinh thái như thảm cỏ biển, ra ̣n san hô, vùng triều bờ cát, đáy bùn mịn Với điều kiện tự nhiên như vâ ̣y, cấu trúc thành phần loài động vật thân mềm lớp chân đầu (Cephalopoda) cũng khác so với các vùng biển khác
Bảng 3.1.2: Cấu trúc thành phần loài động vật thân mềm lớ p chân đầu
(Cephalopoda) vùng biển Đà Nẵng
Sepia lycidas Sepia latimanus Sepia pharaonis Sepia recurvirostra Sepia madokai Sepiella sp
Octopus aegina Cistopus indicus Octopus exannulatus Octopus cyanea Octopus sp.A Hapalochlaena lunulata
3.2 SO SÁNH THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM LỚP CHÂN ĐẦU (CEPHALOPODA) VÙNG BIỂN ĐÀ NẴNG VỚI MỘT SỐ NƠI KHÁC Để đánh giá độ đa dạng về thành phần loài động vật thân mềm lớp chân đầu (Cephalopoda) vùng biển Đà Nẵng, chúng tôi so sánh về thành phần loài động vật thân mềm lớp chân đầu (Cephalopoda) vù ng biển Đà Nẵng với mô ̣t số công bố tại các vùng biển khác nhau
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Dục (1994) về thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp chân đầu (Cephalopoda) vùng biển Việt Nam đã xác định được 52 loài, phân bố trong 6 họ, 12 giống của 3 bộ khác nhau.
Bảng 3.2.1 Cấu trúc thành phần loài động vật thân mềm lớp chân đầu
(Cephalopoda) vù ng biển Viê ̣t Nam so với thành phần loài thân mềm chân đầu vùng biển Đà Nẵng
STT Tên lớ p/ho ̣ Số loài Số loài vùng biển Đà Nẵng
Theo bảng 3.2.1, số lượng loài thu được ở vùng biển Đà Nẵng chiếm 32,69% tổng số loài của toàn bộ vùng biển Việt Nam Tuy nhiên, số loài tại vùng biển Đà Nẵng lại thấp hơn nhiều so với cả họ và loài của toàn vùng biển Việt Nam.
Tại vùng biển Đà Nẵng, tỷ lệ các họ động vật biển được khảo sát cho thấy họ Sepiidae chiếm 31,5%, họ Loliginidae chiếm 25%, và họ Octopodidae chiếm 58,3% Ba họ còn lại không thu được mẫu, điều này có thể do khu vực nghiên cứu hẹp hơn và thời gian thu mẫu kéo dài.
- So sánh với nghiên cứu của Vũ Ngo ̣c Út và Trần Thi ̣ Kiều Trang (2014) về
“Thành phần loài động vật thân mềm lớp chân đầu (Cephalopoda) vù ng biển
Hà Tiên, Kiên Giang” Kết quả nghiên đã xác định được: Động vật thân mềm thuộc lớp chân đầu (Cephalopoda) có 17 loài trong 4 họ, 3 bộ [8]
Bảng 3.2.2 trình bày cấu trúc thành phần loài động vật thân mềm lớp chân đầu (Cephalopoda) tại vùng biển Hà Tiên (Kiên Giang) và so sánh với thành phần loài thân mềm lớp chân đầu tại vùng biển Đà Nẵng.
STT Tên lớ p/ ho ̣ Số loài Số loài vùng biển Đà Nẵng
Số lượng loài thu được ở vùng biển Đà Nẵng là 3, trong khi tại vùng biển Hà Tiên (Kiên Giang) là 4, cho thấy sự đa dạng sinh học cao hơn ở Hà Tiên Ngoài ra, vùng biển Hà Tiên còn có thêm họ Sepiolidae Sự khác biệt này có thể do thời gian thu mẫu dài hơn tại Hà Tiên hoặc do các loài không thích nghi với điều kiện khí hậu ở Đà Nẵng.
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Dục (1978) về "Thành phần loài động vật thân mềm lớp chân đầu (Cephalopoda) vùng biển vịnh Bắc Bộ" đã chỉ ra rằng có 25 loài thuộc lớp chân đầu, phân bố trong 7 họ, 7 giống của 3 bộ khác nhau.
Bảng 3.2.3 Cấu trúc thành phần loài động vật thân mềm lớp chân đầu
(Cephalopoda) vù ng biển vi ̣nh Bắc Bô ̣ so với thành phần loài thân mềm lớp chân đầu vùng biển Đà Nẵng
STT Tên lớ p/ ho ̣ Số loài Số loài vùng biển Đà Nẵng
Số lượng loài thu được ở vùng biển Đà Nẵng thấp hơn so với số loài và số họ thu được tại vịnh Bắc Bộ Vịnh Bắc Bộ không chỉ có số loài phong phú hơn mà còn có thêm nhiều họ khác.
Sepiolidae có thể gặp khó khăn trong việc thích nghi với điều kiện môi trường khí hậu ở Đà Nẵng, có thể do thời gian thu mẫu kéo dài hơn hoặc do loài này không phù hợp với những điều kiện đó.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHI ̣
Kết luâ ̣n
Đã xác định được 17 loài thuộc ngành thân mềm lớp chân đầu (Cephalopoda), phân bố trong 3 họ: Octopodidae, Sepiidae, và Loliginidae, thuộc 3 bộ khác nhau: Octopoda, Teuthoidea, và Sepioidea Bộ Octopoda chiếm ưu thế với 7 loài, tương đương 41%, tiếp theo là bộ Sepioidea với 6 loài, chiếm 35% Bộ Teuthoidea có số lượng ít nhất với 4 loài, chiếm 24%.
So với khu hệ động vật thân mềm lớp chân đầu (Cephalopoda) ở Việt Nam, vùng biển Hà Tiên Kiên Giang và vịnh Bắc Bộ có sự đa dạng thấp hơn về số lượng loài và họ Toàn bộ vùng biển Việt Nam ghi nhận 52 loài thuộc 6 họ: Sepiidae, Sepiolidae, Sepiadariidae, Loiliginidae, Ommastrephidae và Octopodidae, cho thấy sự phong phú về đa dạng sinh học Trong khi đó, vùng biển Đà Nẵng lại có số lượng loài và họ ít nhất, chỉ với 17 loài thuộc 3 họ: Sepiidae, Loliginidae và Octopodidae.
Kiến nghị
Đề nghị mở rộng nghiên cứu về động vật thân mềm lớp chân đầu (Cephalopoda) ở vùng biển Đà Nẵng từ tháng 4 đến tháng 9 để bổ sung dữ liệu cho toàn năm, nhằm bảo tồn và phát triển bền vững nguồn lợi hải sản và hệ sinh thái chân đầu.
• Tài liê ̣u tiếng Viê ̣t
[1] Nguyễn Xuân Dục (1994), Lớ p chân đầu (Cephalopoda) biển Viê ̣t Nam, Luận án Tiến Sĩ, Thư viê ̣n Quốc gia Viê ̣t Nam
[2] Nguyễn Vương (2017),“Ngư dân bị bạch tuộc cắn chết khi đi đánh bắt cá”, báo Pháp luâ ̣t
[3] Lê Quốc Thắng (2009), Nghiên cứu, đánh giá tài nguyên thiên nhiên khu vực Đà Nẵng phục vụ phát triển bền vững Đà Nẵng, tr 122-124
[4] Thái Trần Bái (2001), Động Vật học không xương sống, NXB Giáo Dục
[5] Đỗ Công Thung, Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Điều tra, đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam, 25 Tháng 11 2009 10:08 Số truy cập:2793
Nguyễn Thái Lân và cộng sự (2003) đã thực hiện một nghiên cứu đánh giá nguồn tài nguyên khí hậu và thủy văn tại các khu vực phục vụ du lịch ở thành phố Đà Nẵng Báo cáo khoa học này được công bố bởi Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng, nhằm cung cấp thông tin quan trọng cho việc phát triển du lịch bền vững trong khu vực.
[7] Vũ Khúc, Hó a thạch động vật không xương sống , Hệ thống thông tin tích hơ ̣p đi ̣a chất và tài nguyên đi ̣a chất Viê ̣t Nam
Vũ Ngo ̣c Út và Trần Thi ̣ Kiều Trang (2014) đã nghiên cứu về thành phần loài và hiện trạng khai thác nguồn lợi mực thuộc lớp Cephalopoda tại Hà Tiên, Kiên Giang Nghiên cứu này được công bố trong Tạp chí Tuyển tập Hội nghị Khoa học toàn quốc về sinh học biển và phát triển bền vững lần thứ hai.
[9] Nguyễn Xuân Dục (1978), Lớ p chân đầu (Cephalopoda) vi ̣nh Bắc Bộ, Tuyển tập nghiên cứu biển I, 1, tran 73-94
[10] Trương Quố c Phú (2006), Hình thái giải phẫu động vật thân mề m(Mollusca), Nhà xuất bản nông nghiê ̣p
Nguyễn Thị Xuân Thu (2006) đã thực hiện nghiên cứu về đặc điểm sinh học và kỹ thuật sản xuất giống mực nang, đồng thời đề xuất phương pháp nuôi thương phẩm hiệu quả Nghiên cứu này được thực hiện tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III, thuộc Bộ Thủy sản, nhằm nâng cao hiệu suất nuôi trồng và phát triển ngành thủy sản.
Bài báo của Lưu Thế Anh, Nguyễn Đình Kỳ và Hà Quý Quỳnh (2013) tập trung vào sự đa dạng sinh học tại khu vực quần đảo Hòn Mê, Thanh Hóa Nghiên cứu này được trình bày tại Hội nghị Khoa học Toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật lần thứ V, diễn ra vào năm 2013, và đã chỉ ra tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên sinh vật tại khu vực này.
Đỗ Văn Khương (2015) đã thực hiện một cuộc điều tra tổng thể về đa dạng sinh học tại các hệ sinh thái rạn san hô và vùng ven đảo ở biển Việt Nam Nghiên cứu này nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững, góp phần bảo tồn và quản lý tài nguyên biển hiệu quả Viện nghiên cứu hải sản đã đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện nghiên cứu này, giúp nâng cao nhận thức về giá trị của hệ sinh thái biển.
Tài liê ̣u tiếng Anh
[14] G.L Voss, Norman, C.F.E, R.E Young (1969), “ All illustrated key to families of the order Teuthoidea (Cephalopods), Smithson Contrib Zool.,
[15] Dunning, M.C (1982), “ Squid and cuttlefish resources of Australia water”, FAO Fish Rep., 275:103-111
[16]http://cephbase.eol.org/taxonomy/term/522/media
[17] http://thuviengiaoan.vn/giao-an/de-tai-san-xuat-che-bien-muc-32985/