1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình sản xuất trồng trọt và khả năng cải thiện hệ thống trồng trọt góp phần tăng thu nhập cho nông dân huyện tân kỳ, tỉnh nghệ an

120 579 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình hình sản xuất trồng trọt và khả năng cải thiện hệ thống trồng trọt góp phần tăng thu nhập cho nông dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An
Tác giả Nguyễn Duy Thắng
Người hướng dẫn TS. Phạm Thị Hương
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp I
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 729,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp i

-

nguyễn duy thắng

tình hình sản xuất trồng trọt và khả năng cải thiện

hệ thống trồng trọt góp phần tăng thu nhập cho nông dân huyện tân kỳ - tỉnh nghệ an

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn này đ3

đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 12 năm 2007 Tác giả luận văn

Nguyễn Duy Thắng

Trang 3

Lời cảm ơn

Trước tiên tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Thị Hương là người trực tiếp tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy, các cô bộ môn hệ thống nông nghiệp, khoa Nông học, khoa Sau đại học - Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội,

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới phòng nông nghiệp huyện Tân Kỳ, các hộ gia đình mà tôi đ3 tiến hành điều tra trên địa bàn huyện, các cán bộ trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Nghệ An đ3 giúp đỡ tôi hoàn thành

đề tài này

Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu trên

Hà Nội, tháng 12 năm 2007 Tác giả luận văn

Nguyễn Duy Thắng

Trang 4

2.1 Một số quan điểm và phương pháp luận có liên quan đến sự hình

4.1 Môi trường tự nhiên và sự phân hoá các tiểu vùng l3nh thổ huyện

4.2 Đặc điểm kinh tế x3 hội và khả năng đầu tư cho hệ thống trồng

Trang 5

4.2.2 Thực trạng phát triển x3 hội 49 4.2.3 Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế x3 hội 54

4.4 Kết quả nghiên cứu và sánh giống ở một số cây trồng 72

4.4.2 Kết quả thử nghiệp các giống lúa vụ xuân trên đất chủ động

Trang 6

Danh mục các bảng

2.1 Dự báo mức nhập khẩu một số nông sản của các nước trong khu

4.1 Một số yếu tố khí hậu ở huyện Tân Kỳ (2004 - 2006) 41

4.3 Tổng giá trị sản xuất và thu nhập bình quân đầu người của

4.4 Tốc độ tăng trưởng kinh tế và GDP của huyện từ năm 1996 -

4.5 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1995 - 2005 47 4.6 Tuổi trung bình nhân khẩu và trình độ văn hoá của hộ 51

4.9 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Tân Kỳ năm 2006 54

4.12 Lợi thế cây trồng ở các tiểu vùng l3nh thổ huyện Tân Kỳ 57

4.15 Mức đầu tư phân bón cho cây trồng ở các tiểu vùng 59 4.16 Năng suất cây trồng trên các loại hình sử dụng đất 60 4.17 Phân tích hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh ở trên

4.18 Năng suất cây trồng trên các loại hình sử dụng đất 64

Trang 7

4.19 Phân tích hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh ở tiểu

4.20 Năng suất cây trồng trên các loại hình sử dụng đất 66 4.21 Phân tích hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh ở tiểu

4.22 Năng suất cây trồng trên các loại hình sử dụng đất 69 4.23 Phân tích hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh ở tiểu

4.24 Thời gian sinh trưởng của các giống vừng trồng trong vụ xuân

4.25 Các chỉ tiêu sinh trưởng của các giống vừng trồng trong vụ xuân

4.26 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống vừng

4.27 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các giống lúa tham

4.28 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lúa

4.29 Chiều cao và tốc độ tăng trưởng của chiều cao cây của các

4.31 Các chỉ tiêu về bắp liên quan đến năng suất của các giống ngô 83 4.32 Các chỉ tiêu về hạt liên quan đến năng suất và năng suất 84

Trang 8

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Tân Kỳ là một huyện miền núi của tỉnh Nghệ an tiếp giáp với huyện Đô Lương, Nghĩa Đàn, Anh Sơn, Quỳ Hợp (Tỉnh Nghệ An) Tuyến đường Hồ Chí Minh chạy dọc theo huyện Tân Kỳ đ3 tạo điều kiện thuận lợi cho việc thông thương, giao lưu trao đổi hàng hoá nông sản giữa Tân Kỳ với các vùng trong và ngoài tỉnh

Tân Kỳ có địa hình đa dạng với nhiều núi cao xen kẽ các đồi thoải và thung lũng bằng phẳng, điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ 24 - 260C tổng lượng mưa hàng năm khoảng 1500 -1600mm, độ ẩm trung bình từ 80 - 90%, tổng tích ôn trên dưới 80000C, cộng với tiểu khí hậu rừng tạo điều kiện thuận lợi cho huyện phát triển nông nghiệp

Đất đại của huyện Tân Kỳ tương đối đa dạng, gồm nhiều loại đất như

đất đỏ vàng, phù sa cổ, cát pha, thịt nhẹ, sỏi cơm cho phép canh tác được nhiều loại cây trồng

Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 42.410, 85 ha; trong đó đất nông nghiệp 10.382,83 ha, chiếm 24,55%; đất lâm nghiệp 6.625,18 ha, chiếm 15,6%; các loại đất khác (đất chuyên dùng, đất ở) 4.052,59 ha, chiếm 9,6% và

đất chưa sử dụng 21.350,85 ha, chiếm 50,3% Chúng tôi dẫn ra đây số liệu

điều tra tại bản Ké x3 Gia Xuân làm thí dụ minh chứng về điều kiện kinh tế của nhân dân

Bình quân một nhân khẩu có 178m2 ruộng nước đáp ứng được nhu cầu lương thực là 40%, để có đủ lương thực họ phải làm nương rẫy, kiếm ăn từ rừng hoặc đi làm thuê

Cả xóm chỉ có 10% số hộ đủ ăn, 13,3% số hộ thiếu ăn từ 1 - 2 tháng, 38,3% số hộ thiếu ăn từ 3 - 6 tháng và 38,4% số hộ thiếu ăn từ 7 - 2 tháng

Trang 9

Việc hình thành hệ thống trồng trọt tự phát theo phong tục tập quán là chủ yếu, Mặc dù đ3 có sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật và cơ quan khuyến nông nhưng năng suất phẩm chất còn thấp Kết quả của việc hình thành hệ thống trồng trọt tự phát, có thành công và cũng không ít thất bại nhiệm vụ của

đề tài này là tìm biện pháp cải thiện hệ thống trồng trọt hiện hành để nhân rộng và từng bước loại bỏ dần những hệ thống trồng trọt không phù hợp

Xuất phát từ yêu cầu trên, chúng tôi thực hiên đề tài:

“Tình hình sản xuất trồng trọt và khả năng cải thiện hệ thống trồng trọt góp phần tăng thu nhập cho nông dân huyện tân Kỳ - tỉnh Nghệ An” 1.2 Mục đích, yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Nghiên cứu tìm ra các cây trồng hợp lí để nhân rộng góp phần chuyển

đổi cơ cấu cây trồng trên đất nông nghiệp Huyện Tân kỳ- nghệ an

- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung phương pháp luận về

hệ thống cây trồng, sử dụng hợp lí tài nguyên đất, nước theo quan điểm sinh thái và nông nghiệp bền vững

- Việc xác định hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng hợp lí, xây dựng

được một số cơ cấu cây trồng thích hợp và phát triển nông nghiệp bền vững của huyện Tân Kỳ

Trang 10

1.4 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các hệ thống canh tác và cây trồng hiện đang được sử dụng và xu hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng (nằm trong quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh từ nay đến năm 2010)

1.4.2 Giới hạn của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu cơ cấu cây trồng hiện có trong nông nghiệp trên địa bàn huyện Tân Kỳ

Trang 11

2 Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học

Theo Phạm Chí Thành và Ctv (1996) [38] thì ở nước ta hiện nay phát triển kinh tế cần có một tốc độ nhanh nhưng khả năng đầu tư lại có hạn đó là mâu thuẫn chủ yếu trong công cuộc xây dựng đất nước và phát triển kinh tế Giải quyết mâu thuẫn này không chỉ trông chờ vào nguồn đầu tư từ bên ngoài

mà phải phát huy các nguồn lực bên trong hệ thống Nghị quyết TW4 đ3 nêu rõ: "Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực và mở rộng quan

hệ quốc tế để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"

Các nguồn lực chủ yếu cho phát triển nông nghiệp là:

- Đất đai: Đây là nguồn tài nguyên vô giá song không chỉ tập trung phát triển chiều rộng (khai hoang, mở rộng diện tích canh tác) mà phải phát triển theo chiều sâu (thâm canh tăng vụ, bảo vệ đất đai, tài nguyên môi trường )

- Lao động: Đó là nguồn lợi to lớn, nhất là ở vùng nông thôn nguồn lao

động dồi dào lại đang thiếu việc làm

Huy động vốn của nhân dân, kinh nghiệm sản xuất của nông dân Đây cũng là nguồn nội lực to lớn, góp phần tích cực thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp nông thôn

Trang 12

Sự hoạt động của hoạt động nông nghiệp phải đạt những mục tiêu nhất

định Sản xuất nông nghiệp của ta trong thời gian qua chỉ tập trung để đạt sản lượng cao, nhất là sản lượng lương thực, ít quan tâm đến các mục tiêu khác như: Bảo vệ đất đai, môi trường Thông thường một hệ thống có nhiều mục tiêu hỗ trợ nhau, cần giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các mục tiêu để tạo điều kiện cho hệ thống phát triển điều hoà và thuận lợi

Theo Phạm Chí Thành và Ctv (1992) [33] sản xuất nông nghiệp ở nước

ta muốn phát triển tốt phải đạt được hệ thống các mục tiêu sau:

+ Đạt tốc độ phát triển cao và ổn định, thường hai mục tiêu này mâu thuẫn vì nâng cao năng suất nhiều thì làm giảm tính ổn định, nếu sản lượng của hệ thống không ổn định sẽ làm tốc độ phát triển của hệ thống chậm

Dựa vào hệ thống quy luật sinh thái thì hệ thống càng đa dạng, tính ổn

định càng cao Đa dạng hoá hệ thống sẽ làm tăng tính ổn định mà không mâu thuẫn với sản lượng cao

Trong sản xuất nông nghiệp sản lượng cao có nghĩa là sản lượng nông sản hoá cao, do vậy mục tiêu của hệ thống là phần dư thừa sản lượng Việc

đẩy mạnh chế biến, phát triển mở rộng thị trường sẽ có tác dụng thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hàng hoá

Nông nghiệp nước ta không những bảo vệ được mục tiêu an ninh lương thực, mà phải vươn lên xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản có giá trị cao Thông thường lương thực và nông sản xuất khẩu tranh chấp nhau về diện tích, vốn đầu tư, tuy nhiên thực tiễn sản xuất cho thấy có những sản phẩm xuất khẩu

mà việc sản xuất ra chúng không những không mâu thuẫn với sản xuất lương thực mà còn thúc đẩy nó phát triển: Rau màu vụ đông và sản phẩm chăn nuôi vừa tăng thu nhập lại tăng phân bón đầu tư trở lại cho sản xuất lương thực

+ Để giải quyết khó khăn về thừa lao động phải giải quyết việc làm cho nông dân bằng cách tăng vụ, đẩy mạnh chăn nuôi, chế biến (đặc biệt là chế biến nhỏ, chế biến tại chỗ) đồng thời mở rộng và phát triển ngành nghề ở nông

Trang 13

thôn nhất là những ngành nghề truyền thống Muốn tạo được nhiều việc làm phát triển những ngành nghề có mức đầu tư thấp, kỹ thuật cần nhiều lao động, việc tạo thêm công ăn việc làm sẽ đẩy mạnh tốc độ phát triển

+ Mục tiêu tăng thu nhập bình quân cho nông dân có tác dụng huy động lao động, tăng thêm tích luỹ vốn để phát triển sản xuất Con đường tăng thu nhập của nông dân là tăng thu nhập tổng hợp bằng cách đa dạng hoá sản xuất, tăng thêm giá trị sản phẩm bằng cách chế biến (phù hợp với quy mô hộ gia

đình) áp dụng tiến bộ kỹ thuật để hạ giá thành sản xuất

Qua các lập luận trên đây cho thấy sản xuất nông nghiệp có cả một hệ thống mục tiêu, việc kết hợp khôn khéo mục tiêu trên tạo tính trội của hệ thống, thúc đẩy sự phát triển nhanh của hệ thống Sản xuất nông nghiệp của nước ta trong thời gian tới vừa phải đảm bảo các mục tiêu nêu trên, vừa phải tạo tốc độ phát triển nhanh mà chủ yếu là sự huy động các nguồn lực bên trong hệ thống

` * Đề tài nghiên cứu được xuất phát từ các căn cứ sau:

- Trong điều kiện hiện nay thị trường là yếu tố quan trọng quyết định đến sản xuất, muốn mở rộng sản xuất, muốn tăng hiệu quả sản xuất thì phải gắn với thị trường dưới sự điều hành và quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Sản xuất cần đa dạng, phong phú nhưng phải trên cơ sở nền sản xuất hàng hoá Những năm qua sản xuất lương thực ở nước ta đ3 có bước phát triển toàn diện, lương thực dư thừa mỗi năm khoảng 5 triệu tấn, riêng tỉnh Nghệ An lượng thóc dư gần 200.000 tấn mỗi năm Như vậy sản xuất lúa hiện nay xuất khẩu gạo đạt giá trị lớn cần lựa chọn giống có chất lượng cao, kết hợp chế biến và bảo quản

đảm bảo các tiêu chuẩn Quốc tế Hình thành các vùng sản xuất nguyên liệu chế biến: Cây công nghiệp, hoa quả Khuyến khích mở rộng nghề chăn nuôi đại gai súc nhỏ: Dê, lợn; gia cầm: Vịt, gà, ngan cung cấp thực phẩm cho nhu cầu tại chỗ và cho xuất khẩu Khôi phục và phát triển vùng chuyên canh hoa, cây cảnh phục vụ du lịch và nhu cầu nhân dân (Phạm Chí Thành, 1994) [36]

Trang 14

Nền sản xuất trước đây với tập quán canh tác lạc hậu độc canh cây lúa nay chuyển sang nền sản xuất đa canh vừa cung cấp lương thực vừa cung cấp nguyên liệu công nghiệp chế biến có giá trị cao hơn, tỷ suất hàng hoá lớn hơn,

đủ sức cạnh tranh với thị trường, cùng với thay đổi tập quán canh tác là tuyển lao động không có kỹ thuật cao, ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất

đó là tiến trình CNH - HĐ565H (Lê Duẩn, 1976,[6]

- Kinh tế Nhà nước phát huy tác dụng tốt và góp phần quan trọng trong tiến trình xây dựng đất nước trong giai đoạn trước đây Hiện nay kinh tế quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, tuy vậy nền kinh tế nhiều thành phần sẽ phát huy đến mức cao độ nguồn nội lực và phát huy một cách vững chắc, ổn định, phù hợp yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, họ có quyền quyết định phương thức sản xuất: Nuôi con gì?, trồng cây gì muốn kinh tế hộ phát triển cần có sự hỗ trợ của đơn vị Quốc doanh, HTX về dịch vụ giống cây trồng, vật nuôi, phân bón,

điện và thuỷ lợi, tính chất của sản xuất nông nghiệp sẽ ngày càng x3 hội hoá cao hơn, hiện đại hơn và xu thế dồn ruộng, đổi ruộng để thuận tiện sản xuất sẽ hình thành các nông trại, trang trại, công ty cổ phần trên các lĩnh vực sản xuất, chế biến, dịch vụ, lưu thông, (Đào Thế Tuấn, 1989)[47]

- Trong sản xuất việc lựa chọn phương thức sản xuất, bố trí cơ cấu cây trồng, nhằm giảm tác động của thiên nhiên như chống xói mòn, thoái hoá đất

đai, sử dụng phân vô cơ, thuốc BVTV với liều lượng cho phép, bảo vệ nguồn nước ngầm, nước mặt duy trì thảm thực vật, tăng độ che phủ, xây dựng các hệ sinh thái bền vững, gắn hiệu quả kinh tế với việc bảo vệ môi trường sinh thái(Lê Trọng Cúc, 1992) [5], (Cao Liêm, 1993) [17], (Phạm Bình Quyền và Ctv 1990) [27]

- Trong nghiên cứu xác định cơ cấu cây trồng, cần phải tìm hiểu các yếu tố có liên quan đến các quyết định của người nông dân gồm những yếu tố bên ngoài như điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, điều kiện x3 hội và những

Trang 15

yếu tố bên trong như đất đai, lao động, và kỹ năng lao động, bởi lẽ chúng có liên quan đến việc đưa ra các quyết định của người nông dân như trồng cây gì,

ở đâu?, vào lúc nào?,Kỹ thuật áp dụng ra sao những định hướng về lao động tiền vốn cần cho sản xuất; những định hướng về thị trường và quan hệ cộng

đồng (Seetisarn,1982) [30], (Phạm Chí Thành Ctv, 1993) [34]

- Theo Lê Du Phong (1995) [22] chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp

là sự tạp trung các điều kiện sản xuất mỗi vùng để có vài ba sản phẩm nông sản hàng hoá chủ yếu và phù hợp với điều kiện tự nhiên, x3 hội ở vùng đó, chuyên môn hoá là một điều kiện tất yếu khách quan nhưng phải kết hợp với phát triển tổng hợp, không thể chuyên môn hoá tập trung cao độ và triệt để như ngành công nghiệp bởi vì:

+ Các yếu tố trong nông nghiệp có quan hệ hữu cơ với nhau (trồng trọt cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, chăn nuôi cung cấp sức kéo, phân bón cho trồng trọt )

+ Nông nghiệp có tính thời vụ cao sẽ giảm bớt sự căng thẳng thời vụ và hạn chế lao động nhàn rỗi cho các chu kỳ sinh trưởng khác nhau không trùng nhau theo cây trồng và vật nuôi

+ Do đặc điểm địa hình, đất đai khác nhau nên khả năng thích hợp của cây trồng khác nhau, tính đa dạng phong phú rất cao

+ Sự tác động của ngoại cảnh vào sản xuất nông nghiệp không đồng nhất(các sản phẩm khác nhau chịu tác động khác nhau) nếu cái này mất đi thì cái kia bù đắp, sự rủi ro được hạn chế, do đó mà tính an toàn cao

Nông nghiệp sản xuất ra tư liệu tiêu dùng cho con người Do vậy nhu cầu tiêu dùng tại chỗ cũng rất lớn và chi phí vận chuyển được tiết kiệm cho x3 hội Chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp là một tất yếu khách quan bởi vì:

+ Thực hiện phân công lao động giữa các vùng và các ngành trong bản thân nông nghiệp

` + Tận dụng lợi thế so sánh của vùng tạo ra sản phẩm giữa số lượng và

Trang 16

giá thành mà nơi khác không so sánh nôi

+ Sử dụng hiệu quả vốn, tư liệu sản xuất, cơ sở kết cấu hạ tầng và tái sản xuất đầu tư, đẩy mạnh quá trình đô thị hoá

* Tác động của các chính sách

Kết quả nghiên cứu của Đào Thế Tuấn (1986),(1989) [46], [47] và Hải

Đạt (1991) [18] cho thấy tác động của các chính sách đến sản xuất nông nghiệp

+ chính sách ruộng đất

Đất đai là sản phẩm tự nhiên (tài nguyên, khoáng sản, sông biển) là sở hữu của nhà nước vừa là sản phẩm của lao động Riêng đối với đất canh tác, thổ cư, rừng, đất khai hoang cần phải quan tâm nhiều hơn đến tính chất sản phẩm lao động Do đó để sản xuất có hiệu quả cao hơn cần đa dạng hoá hình thức sở hữu vừa nhà nước, vừa tư nhân, những nơi nào đất đ3 khô cằn, suy thái nếu chỉ coi đó là sở hữu nhà nước thì không có người đầu tư, quản lý nhà nước

về đất đai là đảm bảo quy hoạch chung, tránh tình trạng tranh chấp đất đai

Đất đai đ3 được giao quyền sử dụng lâu dài, ổn định cho hộ nông dân, nhà nước cần có chính sách khuyến khích sử dụng đất có hiệu quả, làm cho

đất ngày càng màu mỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích tụ và tập trung ruộng đất, góp phần đẩy nhanh sản xuất hàng hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp, nông thôn

- Đẩy mạnh giao đất khoán rừng, bảo vệ diện tích rừng hiện có, miễn thuế

5 năm đầu khai phá đất hoang hóa, cho vay vốn không l3i suất trong thời hạn 5 -

10 năm, trợ cấp lương thực một năm đầu cho những hộ lên vùng kinh tế mới

- Đất trống đồi núi trọc nếu cá nhân tự bỏ vốn đầu, được hưởng 100% sản phẩm sau khi nộp thuế và được tính thuế trên sản lượng thực tế khai thác Trường hợp nếu rừng do nhà nước hay tập thể HTX, Lâm trường bỏ vốn tự giao cho hộ trông coi quản lý thì ngoài tiền trả công bảo vệ, khi khai thác cá nhân được hưởng 30% nhà nước hoặc tập thể hưởng 70% giá trị sản phẩm

Trang 17

- Rừng tự nhiên nếu phải chăm sóc, trồng tỉa, quản lý bảo vệ thì khi khai thác cá nhân được hưởng 70% sản phẩm, nhà nước hưởng 30% số cây, các sản phẩm trồng trọt (cây ngắn ngày) chăn nuôi dưới tán rừng cá nhân được hưởng 100% sản phẩm

+ Về phát triển nguồn nhân lực và các thành phần kinh tế

Nhà nước cần có chính sách động viên, khuyến khích, ưu tiên con em nông dân vào học ngành nông - lâm nghiệp với hướng trở thành chủ trang trại giỏi để lập nghiệp, lập thân, góp phần phát triển kinh tế Có chính sách khuyến khích các kỹ sư, các bộ chuyên môn tới làm việc tại vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa

Mở rộng các hình thức đào tạo công nhân kỹ thuật, thợ lành nghề cho nông nghiệp, nông thôn

Tạo môi trường thuận lợi và điều kiện pháp lý cho các thành phần kinh

tế nông thôn phát triển Kinh tế hộ gia đình, kinh tế hợp tác và kinh tế nhà nước Trong đó kinh tế hợp tác và kinh tế nhà nước giữ vai trò nền tảng trên

địa bàn tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển

+ Chính sách vốn đầu tư - tín dụng

Thực tiễn sản xuất cho thấy người nông dân cần cù, sáng tạo trong lao

động, họ sẵn sàng tiệp thu những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nhưng họ thiếu kiến thức và thiếu vốn sản xuất, do vậy cần có chính sách huy động mọi nguồn vốn (đầu tư của nhà nước, các tổ chức kinh tế - x3 hội, trong và ngoài nước, đóng góp của nhân dân) để xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế x3 hội ở nông thôn: Thuỷ lợi, giao thông, điện, thông tin liên lạc, các cơ sở văn hoá, giáo dục, y tế

Xây dựng quỹ tín dụng nhân dân, đồng thời mở rộng tín dụng nhà nước,

có cơ chế thích hợp thuận tiện cho việc vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh

Mở rộng việc thế chấp bằng chuyển quyền sử dụng đất, tín chấp lấy tính cộng đồng để bảo l3nh, cấp sổ tín dụng thay cho việc mỗi lần vay lại một lần

Trang 18

làm thủ tục áp dụng hình thức cho vay thế chấp bằng sản phẩm thu hoạch ở

vụ sau, hình thành đại lý tín dụng cho ngân hàng (trưởng thôn, trưởng bản)

đứng ra cho vay lại để hưởng hoa hồng do ngân hàng nhà nước quy định Miễn giảm thuế sử dụng đất trong thời gian đầu khi thay đổi cơ cấu cây trồng

và tuỳ theo loại, theo chu kỳ sản xuất mà định thời gian dài, ngắn khác nhau, miễn giảm thuế chế biến lưu thông xuất khẩu các loại nông sản (chăn nuôi, cây công nghiệp, cây thực phẩm) cho đến khi chuyển đổi xong cơ bản cơ cấu cây trồng Có chính sách và đảm bảo quyền lợi của người có vốn đầu tư vào vốn sản xuất nông nghiệp, người ở thành thị đầu tư vào nông thôn, người giàu đầu tư làm công nghiệp nông thôn và liên kết với quốc doanh, bảo đảm tái sản xuất nông nghiệp nông thôn và liên kết với quốc doanh, bảo đảm tài sản người giàu

Mở rộng hoạt động khuyến nông nhất là khâu vốn, kỹ thuật canh tác, chế biến sản phẩm Tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, cung cấp thông tin kinh

tế, thị trường, hình thành mạng lưới khuyến nông cơ sở xây dựng mô hình trình diễn để nông dân lựa chọn va áp dụng vào sản xuất đạt hiệu quả cao hơn

+ Hình thức tổ chức sản xuất

Vùng đồi núi thế mạnh là phát triển kinh tế trang trại, do vậy cần khuyến khích hình thành trang trại theo tinh thần Nghị quyết số 03/2000/NQ, ngày 2 tháng 2 năm 2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại HTX nông nghiệp sẽ đa dạng theo ngành nghề và theo chức năng dịch vụ, các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần làm dịch vụ sản xuất, chế biến, cung ứng, tiêu thụ, các hiệp hội theo ngành nghề, các tổ chức bảo hiểm sản xuất Như vậy một người có thể tham gia nhiều HTX khác nhau

Cải tiến cách quản lý doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước về cơ bản chuyển sang dịch vụ, chế biến, tiêu thụ mở rộng quyền tự chủ như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn đồng thời phải chịu trách nhiệm vật chất như doanh nghiệp tư nhân

+ Chế biến, tiếp thị và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm

Trang 19

Sản xuất muộn đạt hiệu quả cao thì phải gắn bó với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, nông sản xuất khẩu muốn đạt giá trị cao thì khâu chế biến đóng vai trò quan trọng do vậy công nghệ chế biến cần phải được quan tâm đầu tư và xây dựng ở vùng nguyên liệu theo 2 hướng đó là: Mở cửa khuyến khích đầu tư nước ngoài, xây dựng cơ sở chế biến với trang thiết bị hiện đại phù hợp với yêu cầu sản xuất Hướng thứ 2 là có chính sách bảo vệ sản xuất trong nước Quá trình tác động vào thị trường gồm có: Nghiên cứu, sản xuất hàng hoá, phục vụ sau khi bán

Một số yếu tố để lưu thông hàng hoá, nông sản đạt hiệu quả cao:

- Người mua hàng và sản lượng hàng hoá

Người sản xuất và người cạnh tranh để chung sống, sản xuất và cạnh tranh với họ

Người thiết kế công nghiệp và quảng cáo để tìm ra hàng hoá thích ứng với nhu cầu

- Mạng lưới bán hàng, tổ chức mạng lưới chợ nông thôn để tiêu thụ nông sản dư thừa, có vốn quay vòng tái sản xuất

Hiện tại nông thôn đang chiếm tới 80% dân số, đó là thị trường rộng lớn do vậy cần mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá ở nông thôn, tăng sức mua cho họ, chú trọng hàng tiêu dùng phù hợp với túi tiền của nông thôn, phát triển mạng lưới chợ ở các x3, có chính sách phổ cập kỹ thuật và văn hoá ở nông thôn Tiếp thị tìm thị trường, mở rộng thi trường, khuyến khích chế biến phải được coi là quan trọng ngang với quá trình tổ chức sản xuất, chuyển dịch cơ cấu sản xuất bán và mua đều phải linh hoạt

+ Xây dựng và phát triển hạ tầng cơ sở

- Nâng cấp, duy tu, sửa chữa hệ thống giao thông nông thôn, nhất là các tuyến liên huyện, liên x3 Đó là tiền đề cho sản xuất hàng hoá, sản xuất lớn Các tuyến đường liên huyện, đường quốc lộ do nhà nước đầu tư sửa chữa, nâng cấp tuyến liên x3 liên thôn nhà nước hỗ trợ phần còn lại do nhân dân

Trang 20

đóng góp

- Mở rộng các hình thức thông tin kinh tế để tăng khả năng tiệp thị của kinh tế được coi là sức mạnh và vật chất, là vốn, là điều kiện quan trọng thúc

đẩy sản xuất phát triển

- Quy hoạch và phát triển các khu dịch vụ, thị trấn, chợ, làng nghề truyền thống đây là khâu quan trọng trong sự nghiệp đô thị hoá nông thôn, giúp nông dân có điều kiện giao lưu, trao đổi hàng hoá, trao đổi thông tin sản xuất, đồng thời tiết kiệm thời gian lao động để đi lại, thúc đẩy quá trình phân công lao động theo hướng chuyên môn hoá, hợp tác hoá

2.2 Cơ sở hình thành cơ cấu cây trồng hợp lý

Cơ cấu cây trồng là thành phần các loại và giống cây trồng bố trí theo không gian và thời gian trong một cơ sở sản xuất hay - một vùng sản xuất nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý nhất các điều kiện nguồn lợi tự nhiên, kinh tế x3 hội sẵn có Cơ cấu cây trồng là thành phần của cơ cấu sản xuất nông nghiệp

Và biện pháp kinh tế quan trọng của phân vùng sản xuất nông nghiệp (Đào thế tuấn, 1977) [44]

Cơ cấu cây trồng về mặt diện tích là tỷ lệ các loại cây trên diện tích canh tác hay đất nông nghiệp theo nghĩa rộng Tỷ lệ các cây hàng năm cao hay thấp nói lên trình độ sử dụng đất nông nghiệp theo hướng thâm canh hay quảng canh Tỷ lệ cây lương thực cao, tỷ lệ thức ăn gia súc và cây công nghiệp thấp phản ánh trình độ phát triển nông nghiệp chưa cao…

Bố trí cơ cấu trồng là một trong những nội dung quan trọng của một hệ thống biện pháp kỹ thuật gọi là chế độ canh tác, bao gồm: thời vụ, làm đất, phân bón, phòng trừ sâu bệnh… (Phùng Đăng Chinh và Ctv, 1987) [4], (Scharpenreel, 1982) [29] Cơ cấu cây trồng là yếu tố cơ bản nhất của chế độ canh tác vì nó quyết định nội dung của các biện pháp kỹ thuật khác

V.I Lê Nin đ3 viết: Tính chất cố định của những cố định canh tác xưa

Trang 21

kia đ3 bị phương thức canh tác mới đập tan và nền nông nghiệp hàng hoá Tư bản chủ nghĩa đ3 phát triển nhờ những thay đổi lúc nhanh lúc chậm của cơ cấu cây trồng, cơ cấu nông nghiệp [54]

Lịch sử phát triển nông nghiệp đ3 chỉ rõ việc chuyển nền nông nghiệp

tự túc lên nền nông nghiệp hàng hoá được thực hiện trước hết do sự biến đổi sâu sắc trong cơ cấu cây trồng (Lê Hưng Quốc, 1994) [26] Cơ cấu cây trồng không phải là hệ thống tĩnh, mà là hệ thống động luôn luôn biến đổi theo trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mang tính vận động, mang tính tất yếu khách quan bên trong Như vậy khi nghiên cứu về cơ cấu cây trồng cần phải quan tâm đến 2 vấn đề quan trọng đó là:

Thứ nhất: Xác định cơ cấu cây trồng phải phù hợp với các yếu tố tự nhiên, kinh tế x3 hội và thực tế phát triển nông nghiệp của vùng

Thứ hai: Lựa chọn và đề xuất những mô hình về cơ cấu cây trồng thích hợp cho hiện tại và lâu dài

Quá trình nghiên cứu về cơ cấu cây trồng, nhiều tác giả đ3 đưa ra những

đặc trưng chủ yếu sau đây (Phạm Chí Thành và Ctv, 1992) [33]

Một là: Cơ cấu cây trồng mang tính hợp lý khách quan, hình thành và phát triển do trình độ của lực lượng sản xuất và phân công lao động x3 hội Xu hướng chuyển dịch của cơ cấu cây trồng thế nào là phụ thuộc vào quy định của điều kiện hoàn cảnh khách quan, điều kiện tự nhiên, kinh tế x3 hội, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người

Hai là: Cơ cấy cây trồng mang tính lịch sử và x3 hội nhất định, quá trình tái sản xuất tạo lập ra mối quan hệ cân đối về lượng thì lập tức lại có sự khác nhau về chất nó phản ánh quy luật chung của sự phát triển biểu hiện cụ thể là thích ứng của mỗi vùng về lịch sử tự nhiên, không có cơ cấu chung nào cho thấy tất cả mọi vùng kinh tế, mà chỉ có ý nghĩa thừa và chọn lọc cho phù hợp với mỗi giai đoạn lịch sử nhất định của mỗi vùng sản xuất

Trang 22

Ba là: Cơ cấu trồng luôn luôn có sự biến đổi theo xu hướng ngày càng hoàn thiện Cơ cấu cây trồng luôn vận động và phát triển thông qua sự chuyển hoá lẫn nhau, cũ dịch chuyển sang mới mà lại thay bằng cơ cấu mới hay thay bằng khác, từ đơn điệu đến đa dạng, từ đơn giản phức tạp, từ hiệu quả thấp

đến hiệu quả cao, phụ thuộc vào yêu cầu tăng trưởng và phát triển của văn minh nhân loại

Bốn là: Chuyển đổi cơ cấu cây trồng là một quá trình, không phải cơ cấu mới có sẵn, bỗng nhiên xuất hiện và ngay lập tức đổi chỗ cho cơ cấu cũ bị

đột ngột mất đi, mà đó là một quá trình có sự thay đổi về lượng, tích luỹ về lượng sau đó tích luỹ về chất Tốc độ biến đổi nhanh hay chậm phụ thuộc vào các yếu tố, trong đó có sự tác động rất quan trọng của các chủ thể l3nh đạo và quản lý Đó không phải quá trình tự phát mà có thể tác động nhanh hơn bằng nhận thức và am hiểu khoa học một cách thực tế và cụ thể

Năm là: Cơ cấu cây trồng mở rộng, phải gắn với một nền công nghiệp phát triển và gắn với thị trường Hiện nay cơ cấu cây trồng theo hướng mở rộng

nó biểu hiện các mối quan hệ, tỷ lệ giữa trồng trọt và chăn nuôi, giữa cây lương thực, cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây nguyên liệu, cây thực phẩm… Mặt khác cơ cấu cây trồng còn phải gắn với lưu thông và chế biến, tức là phải có một nền thương nghiệp, công nghiệp chế biến phát triển, trao đổi giữa công nghiệp và nông nghiệp mở rộng, thương nghiệp là cầu nối giữa sản xuất và thị trường

Năng xuất của hệ thống cây trồng cũng như là hệ sinh thái tự nhiên luôn luôn biến động tuỳ thuộc vào từng loại cây và vùng sinh thái khác nhau như:

Điều kiện tự nhiên, kinh tế, x3 hội… Do vậy việc bố trí cơ cấu cây trồng hợp

lý cần phải nghiên cứu xem xét cấc yếu tố ảnh hưởng:

+ Các yếu tố tự nhiên

* Khí hậu: là thành phần quan trọng nhất trong hệ sinh thái, là yếu tố

đầu tiên phải xem xét khi bố trí cơ cấu cây trồng Năng lượng bức xạ, nhiệt

Trang 23

độ, ánh sáng, lượng mưa, ẩm độ và một số yếu tố khác đặc trưng của thời tiết như bốc hơi, sương muối, mưa đá, b3o tất cả các yếu tố đó đều phụ thuộc vào

vị trí địa lý, địa hình từng vùng sinh thái và có ảnh hưởng quan trọng đến cây trồng Do đó khi xây dựng hệ thống cây trồng ngoài yếu tố đất đai, cần nắm vững sự phân bố và quy luật hoạt động của các yếu tố khí hậu trong phạm vi triển khai

+ Chế độ ánh sáng(bức xạ mặt trời): là nguồn năng lượng cung cấp cho mọi hoạt động trên trái đất, đồng thời yếu tố tập trung tâm chi phối khí hậu, thời tiết khác Các chỉ tiêu quan trọng để xác định là: Số giờ nắng bình quân trong năm và cường độ ánh sáng

+ Chế độ nhiệt: Nhiệt độ là nguyên nhân biến đổi các yếu tố thời tiết khác như: Chế độ mưa, chế độ gió đồng thời chế độ nhiệt ảnh hưởng trực tiếp

và quyết định đến các quá trình sinh trưởng, phát dục của cây trồng Theo Đào Thế Tuấn, (1986) [66] đ3 phân chế độ nhiệt ở nước ta áp dụng cho các loại cây trồng có yêu cầu nhiệt độ như sau:

- Tổng nhiệt độ <8.3000C, số ngày dưới 200C trên 120 ngày/ năm, thì trồng 1 vụ cây ưa nóng, 1 vụ cây ưa lạnh

- Tổng nhiệt độ>8.3000C, số ngày có nhiệt độ trên 200C từ 90 ngày đến

120 ngày thì trồng 2 vụ cây ưa nóng và 1 vụ cây ưa lạnh

- Tổng nhiệt độ>8.3000C, số ngày dưới 200C ít hơn 90 ngày thì trồng 2

vụ cây ưa nóng và 1 vụ cây cây ngắn ngày

- Tổng nhiệt độ> 9.0000C thì trồng 3 vụ cây ưa nóng

Các yếu tố ánh sáng, số giờ nắng trong ngày… cũng ảnh hưởng rất lớn

đến sinh trưởng phát triển của cây trồng Ví dụ Nếu thiếu ánh sáng, cây trồng kém phát triển, bị che khuất lẫn nhau ảnh hưởng đến quang hợp, sâu bệnh hại…

Trang 24

+ ẩm độ

ẩm độ đóng vai trò giữ cân bằng cho các hoạt động sinh lý, sinh thái của cây trồng Mức độ ẩm độ ảnh hưởng đến cây trồng được đánh giá qua 2 chỉ tiêu: Chỉ số ẩm trong mùa mưa, chỉ số hạn trong mùa khô(theo phương pháp IVANOP)

Theo Đào Thế Tuấn, chỉ số đạt đến 2 thì năng suất cây trồng giảm nghiêm trọng, nếu như tỷ số hạt đạt lớn hơn 2 thì cây trồng có thể bị chết

* Địa hình

Độ dốc là yếu tố quyết định đến sự thay đổi điều kiện khí hậu và đất đai của hệ sinh thái gọi là khí hậu địa phương hau tiểu khí hậu Địa hình dốc còn liên quan đến xói mòn, rửa trôi, bồi tụ, chế độ nước và thành phần cơ giới cũng như lý hoá tính của đất Tuỳ theo độ dốc, địa hình các chân ruộng cao, vàn cao, vàn thấp, úng trũng, chua mặn… mỗi loại đất, mỗi chân ruộng, mỗi vùng sinh thái đều yêu cầu các hệ thống cây trồng thích hợp

* Đất đai

Đất đai là một thành phần quan trọng của hệ sinh thái, là nguồn cung cấp nước và chất dinh dưỡng cho cây trồng Do đó việc bố trí cơ cấu cây trồng phải dựa vào điều kiện đất đai vào địa hình, chế độ nước, thành phần cơ giới của đất Nắm chắc được điều kiện đất đai giúp cho sự phát triển cơ cấu cây trồng một cách khoa học vừa khai thác được tiềm năng của đất vừa được năng suất, chất lượng cây trồng cao

* Cây trồng

Cây trồng là thành phần chủ yếu của hệ sinh thái nông nghiệp Nội dung của việc bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là lựa chọn cây trồng như thế nào

để phát huy tốt nhất các điều kiện khí hậu, đất đai Muốn bố trí cây trồng hợp

lý phải nắm vững yêu cầu và đặc tính sinh vật học của từng giống cây trồng,

Trang 25

xem xét các điều kiện khí hậu, đất đai khả năng thích ứng của cây trồng trong

điều kiện đó

Hiện nay các tiến bộ kỹ thuật về chọn giống cây trồng và nhập nội giống mới nhiều có khả năng thâm canh để cho năng suất cao, vừa có thời gian sinh trưởng ngắn để đáp ứng yêu cầu tăng vụ Đồng thời đòi hỏi bộ giống cây trồng phải đa dạng và phù hợp với nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của x3 hội

+ Các yếu tố kinh tế x3 hội

Theo Đào Thế Tuấn (1977) [44], Phạm Chí Thành và Ctv (19993) [34] thì các yếu tố x3 hội ảnh hưởng đến việc bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là cơ

sở vật chất kỹ thuật, điều kiện sản xuất của hộ nông dân, thị trường tiêu thụ, các chính sách kinh tế

- Hệ thống giao thông: Có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh

tế x3 hội nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng Giao thông thuận tiện

sẽ tạo điều kiện để giao lưu văn hóa, khoa học kỹ thuật, và đẩy mạnh các hoạt

động dịch vụ cung ứng vật tư cho sản xuất tiêu thụ nông sản phẩm Giao thông

đi lại khó khăn là một trở ngại lớn cho sự phát triển của sản xuất nông nghiệp, nhất là nông nghiệp hàng hoá

Trang 26

Điều kiện sản xuất của hộ nông dân: Khi xác định hộ nông dân là đơn

vị kinh tế tự chủ, tự quyết định sản xuất cái gì ? Sản xuất bao nhiêu? Việc bố trí cơ cấu cây trồng phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của nông dân như: Vốn, lao động, trình độ, kinh nghiệm sản xuất, tập quán canh tác

Nhu cầu thị trường: Trong nền sản xuất tự cung, tự cấp hộ nông dân chủ yếu quan tâm đến sản xuất các loại sản phẩm theo nhu cầu thị trường, sản xuất cái gì? Số lượng bao nhiêu? Chất lượng ra sao? Phải đáp ứng được nhu cầu của thị trường

Các chính sác kinh tế: Chính sách về thuế, giá cả đầu vào, đầu ra, chính sách đầu tư, chính sách đất đai, chính sách nhập khẩu, chính sách tín dụng

đều ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý Chính sách của môi trường thích hợp phải dựa trên những chính sách và định hướng của nhà nước

Bản thân của cơ cấu cây trồng hợp lý là việc bố trí phù hợp với điều kiện tài nguyên thiên nhiên, trước hết là đối tượng sinh vật có thời gian sinh trưởng và đặc điểm sinh học phù hợp mà cơ sở là lý thuyết về hệ sinh thái học nông nghiệp (Đào Thế Tuấn, 1991) [48]

Sinh thái học nông nghiệp là một khoa học tổng hợp, nó khảo sát và ứng dụng các quy luật hoạt động của các hệ sinh thái nông nghiệp, hay nói khác

đi, sinh thái học nông nghiệp là khoa học của sự sống ở những bộ phận của cảnh quan để canh tác, chăn nuôi Sinh thái học nông nghiệp tạo cơ sở khoa học việc giải quyết các vấn đề quan trọng phát triển nông nghiệp như:

- Phân vùng sản xuất nông nghiệp

- Xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi hợp lý

- Xác định chế độ canh tác cho các vùng sinh thái khác nhau

- Phát triển nông nghiệp trong điều kiện giá trị ngày càng cao (Lê Trọng

Trang 27

Cúc, 1992) [5], (Ota, 1981) [20], (Đào Thế Tuấn, 1984) [45]

Theo G.R.Conway (1986) [56], các hệ sinh thái nông nghiệp có 4 đặc tính cơ bản: Năng suất, tính ổn định, tính bền vững và tính công bằng Ba đặc tính đầu tương xứng với các đặc tính của hệ sinh thái tự nhiên, sự khác biệt chủ yếu là mỗi đặc tính đó xác định trong những giới hạn của dòng ra được

đánh giá của hệ thống, do đó có thể được ở cả đơn vị sinh học và đơn vị kinh

động của hệ thống cần được sửa chữa, khai thông (tác động vào) để hệ thống

được hoàn thiện hơn và hiệu quả kinh tế cao hơn

Thứ hai: Nghiên cứu xây dựng hệ thống mới

Cách làm này cần có sự tính toán, cân nhắc kỹ càng, tổ chức sắp xếp cao cho các bộ phận trong hệ thống dự kiến nắm đúng trong mối quan hệ tương đương của các phần tử có thứ tự ưu tiên để đạt được hệ thống tốt nhất Các nghiên cứu này thường tốn kém hơn và đòi hỏi trình độ cao hơn

Tóm lại: Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong sản xuất, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng hoặc hệ thống cây trồng thoả m3n các điều kiện sau:

- Sử dụng tốt nhất các nguồn lợi tự nhiên như khí hậu(chế độ nhiệt,

Trang 28

năng lượng bức xạ, ẩm độ ), đất đai (địa hình, thổ nhưỡng, lý hoá tính của đất, b3o, gió và các loại sâu bệnh gây hại

Né tránh những điều kiện bất lợi của thời tiết gây ra: Hạn hán, lũ lụt, b3o, gió và các loại sâu bệnh gây hại

- Bảo vệ duy trì và cải tạo độ màu mỡ của đất: Luân canh trồng xen với các cây họ đậu, bón phân canh tác thích hợp để tránh làm nghèo kiệt đất, hạn chế xói mòn, rửa trôi đất

Đảm bảo sự cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường

- Sử dụng hợp lý nguồn vốn, lao động, sản xuất phù hợp với cơ chế thị trường, tăng thu nhập cho nông dân, đảm bảo hiệu quả kinh tế cao trên một

đơn vị diện tích canh tác

- Bố trí cơ cấu cây trồng phải tạo điều kiện cho chăn nuôi và các ngành nghề khác phát triển, sản xuất ổn định và bền vững

2.3 Các cơ sở thực tiễn

2.3.1.Cơ sở hình thành cơ cấu cây trồng là vấn đề sử dụng đất

Trong gần 50 năm qua, kết quả nghiên cứu, đánh giá của chương trình môi trường liên hợp quốc (Unicef) cho rằng: Nhiều nước trên thế giới, sử dụng đất bằng các biện pháp truyền thống đang nhanh tróng bị l3ng quên, do đó dẫn đến

sự xuống cấp của môi trường và đất đai trên những vùng rộng lớn của trái đất

Theo tài liệu của FAO (1994)[57], trên thế giới hàng năm do xói mòn làm cho 25 triệu tấn mùn đất trôi ra sông biển Các nước Châu Phi, Mỹ la tinh

đến năm 2000 nếu không có biện pháp chống xói mòn thì sản lượng nông nghiệp ở đây giảm trung bình 19% ở ấn Độ 30% diện tích bị xói mòn, Trung

đông do gió b3o làm ảnh hưởng đến 35% đất đai Khoảng 10 năm gần đây Châu Phi có khoảng 38 triệu ha rừng bị phá huỷ, Chây mỹ la tinh có gần 18,4 triệu ha và Châu á có 12 triệu ha rừng phá huỷ

Trang 29

Các quốc gia đều có nhận xét và đánh giá thống nhất về nguyên nhân của tệ nạn phá rừng, tình trạng đất trống đồi núi trọc hoang hoá dẫn đến môi trường sống bị phá huỷ là do thiếu lương thực, thiếu chất đốt, thiếu thức ăn gia súc, thiếu kết cấu hạ tầng, thiếu vốn sản xuất kinh doanh và thiêu trí tuệ (FAO, 1994) [58]

Đến nay trên toàn thế giới vẫn còn khoảng 1/10 dân số thiếu ăn và bị nạn đói đe doạ, hàng năm mức sản xuất so với nhu cầu sử dụng lương thực trên thế giới còn thiếu hụt từ 150- 200 triệu tấn, trong khi đó vẫn còn 6- 7 triệu

ha đất nông nghiệp bị loại bỏ xói mòn và thoái hoá (Polêvoi, 1983) [24]

Vấn đề sử dụng tài nguyên tự nhiên chưa hợp lý dẫn đến môi trường sống và hệ sinh thái thực vật, động vật quý hiếm bị nguy cơ tuyệt chủng (TerryRambo, 1998) [28] ở một số nước trong khu vực, về số chủng loại thảo mộc có nhiều nhất ở trung quốc (30.000 chủng loại), ở việt nam (8.000 chủng loại) Chủng loại động vật được tìm thấy nhiều nhất ở Indonsia, Trung Quốc, Việt Nam, có ít nhất ở Philipin, loại động vật có nguy cơ tuyệt chủng nhiều nhất ở Indonesia, philipin, ít nhất ở Trung Quốc

Tài nguyên đất đưa vào sản xuất nông nghiệp vốn đ3 không nhiều nhưng ngày càng bị thu hẹp bởi sự gia tăng cho các mục đích phi nông nghiệp,

lệ 20-30%

Theo tài liệu của FAO cứ 1% dân số tăng lên sẽ làm lượng lương thực tăng lên 2,9% Mỗi ngày trên thế giới dân số tăng 250.000 người và sản xuất

Trang 30

lương thực phải tăng nhanh, diện tích lương thực đ3 tăng từ 1,26 tỷ ha(1980) đến 1,30 tỷ ha(1990) và 1,32 tỷ ha (1995) và dự báo sẽ là 1,34 tỷ ha vào năm 2000(dẫn theo tài liệu của World Bank) [65] Như vậy, để đảm bảo nhu cầu nông sản trước hết là lương thực cho gần 7 tỷ người hiện có trên hành tinh, việc nghiên cứu biện pháp sử dụng đất nông nghiệp tối ưu theo hướng thâm canh tăng vụ trên cơ sở bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là cần thiết, cấp bách

Hiện nay, ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển coi nghiên cứu nông nghiệp là một vấn đề sinh thái và đ3 đề xuất mô hình phát triển nông nghiệp bền vững [63] Trong đó tập trung nghiên cứu đất đai nói chung và đất nông nghiệp, đất canh tác nói riêng

Chính phủ các nước đặc biệt quan tâm đầu tư và sử dụng đất canh tác ở vùng đồi gò Tại Indonesia, các chương trình bảo vệ đất đai đ3 được thực hiện nhằm bảo vệ các vùng đất bậc thang và trồng cây theo đường bao Ngoài ra còn chương trình lục hoá(Greening) - Chương trình được thực hiện hợp tác phát triển với các nước (Hà Lan, Phần Lan, Liên Bang Đức, Ôxtralia, Nhật Bản) và tổ chức đa phương (FAO, UNDEP, ICRAF), trung tâm Đông - Tây chủ yếu trong các lĩnh vực khác nhau nhằm khai thác và bảo vệ đất như : Xây dựng phương pháp, kỹ thuật lập trình xây dựng chính sách phát triển,chuyển giao kỹ thuật và công nghệ, giáo dục đào tạo và tổ chức nâng cao, cung cấp thiết bị và thông tin hiện đại (dẫn theo Trần Đức Viên, 1999) [52]

Thực hiện phối hợp các chính sách và chương trình vừa nhằm sử dụng

có hiệu quả đất đai, đồng thời bảo vệ tốt môi trường sống cho con người ở hầu hết các nước Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy việc khai thác và sử dụng đất đai nói chung là yếu tố quyết định để phát triển nông thôn và phát triển x3 hội toàn diện Chính phủ Trung Quốc đ3 đưa ra chính sách quản lý đất

đai, ổn định chế độ sở hữu hiện nay, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập

hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất

Trang 31

trên phạm vi cả nước Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nông thôn “ Ly nông bất ly hương ” (Lê Du Phong, 1995) [22], đ3 phát triển kinh tế hộ nông dân toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai trong nông nghiệp

ở Thái Lan, uỷ ban chính sách quốc gia đ3 có nhiều quy chế mới ngoài hợp trên từng loại đất

Để nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác, các nhà khoa học nông nghiệp trên thế giới Thực hiện phương thức canh tác theo hướng chuyển

đổi hệ thống cây trồng, đa dạng hoá cây trồng, kết hợp trồng cây hàng năm với cây lâu năm, trồng rừng với cây công nghiệp trên cùng một vạt đất dốc Phương thức canh tác mới này đ3 bảo vệ được môi trường sinh thái đồi gò, chống được xói mòn đồng thời cũng đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn phương thức trước

đây Những vấn đề trên có nhiều tác giả để cấp như: Hocy.W (1990), Aybooloa.A (1990), Von.Kill H.E và Bosshart P (1998), Patru (1972), Krat 2 (1974),Kang (1990) (dẫn theo Nguyễn Duy Tính và cộng sự, 1995) [42]

Trên những vùng đất bằng vùng nhiệt đới, bằng cách đưa thêm một số loại cây trông mới vào hệ thống canh tác, có thể tăng được nhiều vụ, nhằm tăng sản lượng thực, thực phẩm trên một đơn vị diện tích canh tác trong một năm

Trong những năm đầu của thập kỷ 70 ở nhiều vùng châu á người ta đ3

đưa cây màu trồng cạn vào hệ canh tác trên đất lúa Trong điều kiện thiếu nước của vụ lúa Xuân với chi phí tiền nước lớn và chế độ thâm canh lúa, thực hiện đưa cây màu trồng cạn như cây họ đậu vào hệ thống cây trồng lúa đ3 làm cho giá trị tổng sản phẩm tăng lên đáng kể, hiệu quả tăng lên gấp 2 lần và độ phì đất cũng tăng lên (Bùi Huy Đáp, 1978) [8]

Tiềm năng về năng suất cây trồng ở các nước trên thế giới qua nghiên cứu cho thấy còn lớn (Pôlêvoi, 1983) [24] ở các nước đang phát triển ở các

Trang 32

thời kỳ 70 sản lượng nông nghiệp tăng 50% do sử dụng phân bón (FAO 1984) Số liệu khác ở các nước đang phát triển theo D Dibbo (1995), năng suất ngô đạt 12 - 48 ta/ha so với kỷ lục chỉ đạt 5,7 - 22,6%; Đậu tương đạt 8 -

23 tạ/ha so với kỷ lục chỉ đạt 10,1 - 29,1%; khoai tây dạt 91 tạ/ha so với kỷ lục mới đạt 9,7%; Lúa mì đạt 15 - 42 tạ/ha so với kỷ lục mới đạt 10,3 - 29% (Dwight, 1994) [7]

Trồng lúa là ngành chủ yếu của nông nghiệp ở Châu á, do đó cần được quan tâm nghiệm cứu phát triển hợp lý và tạo điều kiện tăng nhanh năng suất lúa Nghiên cứu quan hệ giữa việc sử dụng phân bón với năng suất lúa, dựa vào nguồn thông kê nông nghiệp Việt Nam và FADINAP, (1993) có số liệu sau:

Chỉ tiêu ĐVT Hàn

Quốc

Trung Quốc

302,7 59,6

197,7 31,6

134,7 34,5

72,0 26,9

54,4 21,3

54,0 27,6

4,2 23,2

2,8 13,9

Hiện nay phần lớn đất ở Châu á nói chung có độ phì nhiêu thấp do đó bón phân để bổ sung dinh dưỡng nhằm duy trì và ổn định giá trị và ổn định năng suất cây trồng là cần thiết, cũng theo nguồn tài liệu nêu ra ở trên, các nước Châu á sử dụng tới 40% tổng lượng phân bón toàn thế giới và hiệu quả

sử dụng phân bón cao hơn so với nhiều nước khác

Do tăng số lượng và sử dụng hiệu quả phân bón cùng với kỹ thuật canh tác tiên tiến, mà gần đây một số nước như Việt Nam, Trung Quốc, ấn Độ, Indonesia,Pakistan… Từ chỗ thiếu lượng thực đ3 tự túc được lượng thực và còn dư thừa để xuất khẩu đó là tiền đề thúc đẩy sự phân công lại lao động và hợp tác trong kinh tế nông nghiệp ở các nước

Những năm gần đây nền nông nghiệp Châu á đ3 gắn liền với công

Trang 33

nghiệp chế biến tăng xuất khẩu Kết quả này được bắt đầu từ việc sử dụng và khai thức hợp lý nguồn đất đai trong nông nghiệp cùng với vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái

Như vậy, xu hướng tất yếu hiện nay là trên cơ sở bố trí hệ thống cây trồng phù hợp, thực hiện thâm canh cao nhằm khai thác tối đa năng lực sản xuất của đất đai và các nguồn lực khác với hiệu quả kinh tế cao.Các nước Châu á đ3 coi trọng thuỷ lợi, thực hiện chế độ bón phân hợp lý đưa nhanh các tiến bộ kỹ thuật khác đạt đến trình độ cao (FAO, 1994 [51] Đồng thời với phát triển sản xuất là việc đẩy mạnh chế biến nông sản Kết quả đó là điều kiện tiền để thúc đẩy việc thực hiện chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Việt Nam có nhiều nét đặc thù so với các nước trên thế giới, là một nước có quy mô diện tích nhỏ, mật độ dân cư cao, trình độ phát triển kinh tế thấp Tính bình quân diện tích đất trên một đầu người ở Việt Nam là 0,45 ha, chỉ bằng một phần ba so với bình quân chung trên toàn thế giới, xếp thứ 135 trong 160 nước trên thế giới, xếp thứ 9 trong 10 nước Đông Nam á (Trích báo cao Quốc hội 9/1996) [25]

Mặt khác do sự gia tăng dân số với tốc độ nhanh đ3 làm cho diện tích

đất đai trên đầu người ở nước ta vốn đ3 thấp lại càng giảm nhanh Trong nửa thập kỷ qua dân số Việt Nam đ3 tăng 3,2 lần, với tốc độ tăng bình quân hàng năm là 2,0% và đến nay đ3 đạt trên 77 triệu người

Ngày nay, việc sử dụng đất đai với hiệu quả cao, bền vững là nhu cầu cấp bách ở nước ta (Trần An Phong 1993) [23], Dựa vào nguồn đất đai hiện

có và thực trạng sử dụng, có 3 loại hình sử dụng đất bền vững là:

+ Loại hình sử dụng trồng lúa 2- 3 vụ, chủ yếu trên các nhóm đất phù

sa, đất glây,nhóm đất cát biển Được khai thác sử dụng lâu dài với tầng canh tác giữa nước và khá phì nhiêu Hiện nay ở những vùng có điều kiện thực hiện

Trang 34

chuyển đổi cơ cấu cây trồng đ3 đạt hiệu quả cao hơn

+ Loại sử dụng lúa mùa có diện tích 409.622 ha phân bố tập trung ở các nhóm đất xám, nhóm đất phù sa, nhóm đất cát Loại hình này chủ yếu là 2 vụ: Màu và lúa mùa

+ Loại sử dụng trồng cây công nghiệp dài ngày, chiếm 1,2 triệu ha, loại

sử dụng đất trồng cây ăn quả chiếm 187 nghìn ha, loại hình đất rừng chiếm 9,5 triệu ha

- Những loại hình sử dụng đất không bền vững về kinh tế, bào gồm loại

sử dụng trồng lúa một vụ lúa (lúa chiếm trên 300 nghìn ha, lúa mùa với 1,2 triệu ha), hai loại hình sử dụng này chưa tận dụng được đất đai, hệ số sử dụng thấp, hiệu quả kinh tế thấp và bấp bệnh, do đất bi glây mạnh nên môi trường

đất bị suy thoái nghiêm trọng

- Loại hình sử dụng đất không bền vững về môi trường, chủ yếu là loại

đất trồng cây cạn ngắn ngày nhờ nước trời Do địa hình cao dốc, thoát nước và không có khả năng tưới, đất trở nên khô cạn dễ bị rửa trôi, xói mòn làm môi trường đất bị phá huỷ nghiêm trọng, do đó trên đất này cần thay đổi cơ cấu cấy trồng hợp lý Loại đất này có khoảng 1,5 triệu ha

- Loại sử dụng không bền vững về kinh tế và môi trường là loại hình đất

đồi núi trọc với 12,9 triệu ha, chiếm gần 39% đất tự nhiên

Như vậy, nguồn lực đất đai nông nghiệp ở nước ta có sự giới hạn về số lượng và không đồng nhất về mặt chất lượng, phức tạp về mặt địa hình, khả năng kinh tế còn hạn chế trong khai thác ưu thế, tiềm năng Đặc điểm đó ảnh hưởng lớn đến sự tăng trưởng của ngành nông nghiệp Việt Nam

Trang 35

2.3.2 Chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên cơ sở nâng cao hiệu quả kinh tế của

đề xuất dự án phát triển đa dạng hoá nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng, trong nội dung quan trong nhất là phát triển hệ thống cây trồng để nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp từ năm 1993 đến năm 2010

Tác giả Dương Hữu Tuyền (1990), Đặng Kim Sơn (1986), Trần Hoàng Kim (1990) (dẫn theo Phạm Chí Thành, 1994) [35] đ3 đưa vấn đề luân canh tăng vụ trồng xen, gối vụ để bố trí cây trồng hệ thống canh tác nhằm phát huy tối đa hiệu quả sử dụng đất đai, khí hậu

An Quang Vịnh (1993) [53] và các cán bộ Trung tâm khuyến nông tỉnh Ninh bình đ3 thực hiện các thí nghiệm và kết luận dùng phân lân nung chảy và NPK của Công ty phân lân Ninh Bình thích hợp cho lúa vùng đất chua, trũng của Hoa Lư, Gia Viễn, Nho Quan

Trong những năm gần đây do tác động của cơ chế thị trường, trong nông nghiệp đ3 xuất hiện những mô hình canh tác mới, những công thức luân canh đạt hiệu quả kinh tế cao trên từng vùng sinh thái, theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Bích và Trần Thế Tục, vùng sinh thái nông nghiệp đất phù sa

Trang 36

sông Hồng địa hình cao có 34 hệ thống cây trồng (HTCTr), có 18 HTCTr có cây thiết yếu yêu cầu được ưu tiên phát triển Trong 34 HTCTr này có 8 HTCTr cho l3i trên 30 triệu đồng/ ha, 8 HTCTr cho l3i trên 20 triệu đồng/ ha (Lê Thị Bích, Trần Thế Tục,1996[5]

Trên đất bạc màu đ3 có kết quả nghiên cứu việc bố trí 3 vụ/ năm với cây

họ đậu trong luân canh cây trồng làm tăng hiệu quả kinh tế sử dụng đất rõ rệt

và tác động ổn định, nâng cao độ phì nhiêu của loại đất này Hệ thống cây trồng trên đất dốc bạc màu (x3 Bắc Sơn huyện Sóc Sơn) có địa hình đồi dốc và ruộng xem kẽ với HTCTr kết hợp cây lâu năm và cây hàng năm (chè,táo, đậu xanh) Cho hiệu quả kinh tế cao hơn mô hình khác và có khả năng bảo vệ môi trường (Phạm Văn Hà, Đoàn Văn Điếm, 1995) [11]

Phát triển sản xuất rau với nghiên cứu của Lê Mỹ Xuyên, 1996[51] về nghề trồng rau trên đất canh tác đạt hiệu quả kinh tế cao, tạo thêm việc làm cho nông dân

Theo Vũ Tuyên Hoàng (1998) (dẫn theo Phạm Chí Thành, 1994, [35], Thì sau năm 2020 dân số nước ta đạt trên 100 triệu người, nhu cầu về lương thực trở nên rất cần thiết Trong khi đó đất canh tác không tăng, năng suất lúa

ở vụ thâm canh đ3 gần đội trần (trên 10 tấn/ ha) do đó để giải quyết vấn đề lương thực cần nghiên cứu chọn tạo giống lúa chịu hạn CH3 CH5 …và giống lúa chịu úng U17, U20… Mở rộng diện tích canh tác lên vùng khó khăn

Đồng thời tạo giống lúa cho vùng thâm canh đảm bảo giữ được năng suất cao, chất lượng cao (hàm lượng Protein trên 10%), như P4, P6…

Sự hình thành vùng sinh thái đất trũng, theo kết quả nghiên cứu của Đào Thế Tuấn (1988) cho thấy: Vùng đất trũng có chế độ nước khi có mưa trên

300 mm có mức nước ngập 60 - 80cm và thời gian ngập kéo dài 15 - 20 ngày, Việc bố trí cây trồng gặp khó khăn hơn so với vùng đất khác, năng suất lúa mùa bấp bênh, đa dạng hóa cây trồng bị hạn chế, (dẫn theo Trần Hoàng Kim,1995) [14]

Trang 37

ở vùng đất trũng Châu á đ3 hình thành nhiều HTCT cải tiến theo hướng

sử dụng hợp lý tài nguyên Mô hình lúa - ngao ở tỉnh Quirino (Philippin) cho thấy mô hình này đ3 làm giảm bệnh Tungro cho lúa, tăng thu nhập, (1 ha lúa

có thể bán được 226 kg Ngao tương đương với 1.800 Pêsô/ha), cải thiện bữa

ăn Hệ thống lúa - cói đ3 được mở rộng ở Trung Quốc với tỷ lệ cá thả 75 - 85 Rô phi,10- 15% cá Chép, 5 - 10% cá đáy, kết thấy rằng canh tác lúa ít sử dụng phân hoá học, thuốc trừ cỏ và làm tăng thu nhập Mô hình cói - vịt - rau cũng

được thử nghiệm rất thành công ở Kalimentan (Indonesia), (IIRR, 1992) [60], Mô hình lúa - vịt được mở rộng cho các nông hộ nghèo ở Thái Lan và góp phần xoá đói giảm nghèo (Johan.H& Meiderts, 1986)[15]

Theo Janet, thì mô hình canh tác hỗn hợp ở vùng trũng bao gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, nghề cá, nghề phụ đ3 làm đ3 làm đa dạng hoá sản phẩm ngồm thu nhập, đó là cách tốt nhất giúp người nghèo tránh được các

Rủi ro (rủi ro về thời tiết thị trường …) tăng nguồn thu tiền mặt hàng ngày, nên mô hình lúa cá - gia cầm - rau được gọi là ngân hàng sống (Living Bankn) của nông dân sản suất nhỏ (J anet D,1992)[64]

Các nghiên cứu của Kyi Win về canh tác lúa - cá ở Myanma cho thấy mô hình đ3 làm tăng năng suất lúa lên 20% mặc dù 10% diện tích đất đ3 được

sử dụng làm Mương r3nh và bờ bao, hệ canh tác này còn làm giảm việc sử dụng phân hoá học và hạn chế cỏ dại cũng như côn trùng gây hại Cải thiện

điều kiện dinh dưỡng gia đình và làm tăng thu nhập thuần của nông dân (Kyi Win, 1992) [62]

Các nhà khoa học như (Phạm Chí Thành 1994) [35] nghiên cứu chuyển

đổi cơ cấu cây trồng trong hệ thống canh tác vùng trũng đồng bằng sông Hồng cho thấy Những hệ thống canh tác mới cây ăn quả, nuôi cá, cấy lúa, lúa - vịt, lúa - cá, cá - vịt, tăng thu nhập thuần đạt 2 - 5 lần hệ thống canh tác cũ Mô hình này thể hiện ưu thế tiết kiệm phân bón do lợi dụng hệ sinh vật trong

Trang 38

nước, giữ nước tại chỗ, điều hoà dòng chảy khi có múa lớn, Hiệu quả kinh tế

ổn định hơn so với cây lúa bấp bênh

- Nghiên cứu phát triển mô hình lúa - cá trên đất Thanh Trì, tác giả Vũ Thị Phương Thuỵ (1992 - 1994) [39] có nhận xét: Trên tổng diện tích sản xuất

là 342 ha, trong đó 84% là diện tích cây lúa - thả cá, ở vùng sử dung nước thải với chi phí trung gian là 6,64 triệu đồng và lợi nhuận là 7,084 triệu đồng/ ha Trong khi đó sản xuất lúa Xuân - lúa Mùa bấp bênh, lợi nhuận bằng 81% so với mô hình này Gần đây tác giả đ3 đánh giá hiệu quả đất trũng phù sa ở Hà Nội Phát triển mô hình lúa - cá - vịt có hiệu quả kinh tế cao nhất (Vũ Thị Phương Thuỵ, Đỗ Văn Viên, 1998[40]

Để phục vụ cho việc xây dựng cơ cây cây trồng hợp lý các nhà khoa học nước ta đ3 tập trung nghiên cứu, lại tạo thành công nhiều giống cây trồng mới

có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn, chống chịu tốt với các điều kiện ngoại cảnh (Trương Đích,1992) [0]: (Nguyễn Văn Hiểu,1992) [1] Hiện nay

đ3 tập trung cứu một số giống lúa cho vùng đất khó khăn (Nguyễn Duy Bảo, Nguyễn Hữu Nghĩa, Ta Minh Sơn, 1995) [2]; sử dụng ưu thế lai trên lúa, ngô, rau màu đ3 đẩy nhanh năng suất và sản lượng cây trồng trong nông nghiệp (Quách Ngọc Ân,1997) [3 ], (Trần Hồng Uy,1997[50] Các nghiên cứu cũng chú ý tới lụa chọn giống rau, mùa cho vùng ven biển (Trần Văn Lại, 1993)[16]

Song song với việc đưa giống mới vảo sản xuất,các nhà khoa học còn bón phân, cải tạo đất,phòng trừ sâu bệnh và diệt cỏ dại…ở mọi điều kiện sinh thái cụ thể nhằm tạo ra năng xuất cao cho các giống cây trồng (Lê Văn Tiềm, 1994)[53] Nhưng năm gần đây khoa học nông nghiệp Việt Nam xuất hiện xu hướng nghiên cứu xây dựng nên nông nghiệp sinh thái để thay thế dần nên nông nghiệp thâm canh theo hướng công nghiệp đ3 hình thành vào những năm

1960 - 1980 (Aran.P 1996)[55]

Trang 39

Thực thế ở nước ta việc nghiên cứu, khai thác tiềm năng và nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác của từng vùng, địa phương đang là một vấn đề rất thiết thực nhằm phát triển nền nông nghiệp hàng hoa, bền vững trong cơ chế thị trường

2.3.3 Chuyển đổi cơ câu cây trồng trên cơ sở nông lâm kết hợp

Theo Lê Duy Thước (1997) [11]: nông lâm kết hợp (NLKH) như là một

kỹ thuật canh tác truyền thống và một khoa học tổng hợp hiện đại,có tiềm năng lớn toạ sinh kế cho các chủ trang trại ở vùng Châu á - Thái Bình Dương NLKH không phải là một lá bùa thích hợp cho mọi yêu cầu sử dụng đất, những là một phương thức sử dụng đất

- Phạm Chí Thành (1994) [37] cho rằng: Vùng Cao trước đây là địa bàn của nghề rừng, nông nghiệp đóng vai trò thứ yếu, Thực tế cho thây nếu không phát triển nông nghiệp ở vùng đất đốc thì tài nguyên rừng sẽ cũng suy kiệt, nông nghiệp và lâm nghiệp phải là một chỉnh thể thống nhất

- Đỗ Văn Nhuận (1996)[19]: Để cấp tới một số biện pháp làm giảm xói mòn đất và tăng năng suất cây trồng trên đất dốc Tác giả đưa ra những khó khăn về canh tác trên đất dốc đó là:

+ Nguồn nước thiếu hút nghiêm trọng nhất là về mùa khô, thời gian trồng trọt chỉ 5- 6 tháng/ năm, thời gian còn lại chỉ để đất hoang

+ Việc đi lại để trồng, cấy chăm sóc, thu hái sản phẩm rất vất vả, phần lớn công việc phải dùng sức người

+ Nạn xói mòn đất xảy ra nghiêm trong trong mùa mưa, làm cho đất bị nghèo kiệt, năng suất thấp có nơi không còn khả năng canh tác Tác giả đưa ra một số kinh nghiệm chống xói mòn, bảo vệ đất:

- Bảo vệ rừng trên đất dốc, không chặt rừng ở nơi có độ đốc mạnh

- Trồng rừng ở nơi xung yếu, đất trống, đồi trọc

Trang 40

Các nhà khoa học nghiêm cứu về canh tác đất dốc ở Việt Nam cho rằng: Muốn phát triển nông nghiệp lâu bền cần sử dụng các loại cây họ đậu đứng làm bằng cây xanh đồng mức, kết hợp với sử dụng phân bón hợp lý sẽ hạn chế

được rưả trôi và tăng năng suất cây trồng đáng kế so với đối chứng (Thái Phiên, Nguyễn Tử Xiêm và Ctv,1998) [24 ] Cùng công trình nghiên cứu trên, các tác giả cho rằng chọn cây trồng trên đất dốc cũng có ý nghĩa tạo dựng nền canh tác bền vững

2.3.4 Chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên cơ sở như cầu tiêu dùng

Cơ sở để hình thành nông sản hàng hoá cần phải dựa vào 2 yếu tố đó là: Vấn đề thị trường và khả năng sản xuất tạo ra sản phẩm hàng hoá

Vấn đề thị trường cần xem xét nhu cầu của thị trường, cần loại sản phẩm hàng hoá gì, số lương, chủng loại và chất lượng sản phẩm Theo dự báo của FAO về thị trường nhập khẩu một số nông sản hàng hoá của các nước trong khu vực và trên thế giới (Bảng.)

Bảng 2.1 Dự báo mức nhập khẩu một số nông sản của các nước trong

khu vực và thế giới (FAO)

Nhu cầu nhập khẩu (1000 tấn) Loại nông sản

Ngày đăng: 03/12/2013, 12:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Một số yếu tố khí hậu ở huyện Tân Kỳ (2004 - 2006)  Nhiệt độ ( 0 C) - Tình hình sản xuất trồng trọt và khả năng cải thiện hệ thống trồng trọt góp phần tăng thu nhập cho nông dân huyện tân kỳ, tỉnh nghệ an
Bảng 4.1. Một số yếu tố khí hậu ở huyện Tân Kỳ (2004 - 2006) Nhiệt độ ( 0 C) (Trang 48)
Bảng 4.2. Các loại đất chính của huyện Tân Kỳ - Tình hình sản xuất trồng trọt và khả năng cải thiện hệ thống trồng trọt góp phần tăng thu nhập cho nông dân huyện tân kỳ, tỉnh nghệ an
Bảng 4.2. Các loại đất chính của huyện Tân Kỳ (Trang 50)
Bảng 4.3. Tổng giá trị sản xuất và thu nhập bình quân đầu ng−ời   của huyện giai đoạn 2001 - 2006 - Tình hình sản xuất trồng trọt và khả năng cải thiện hệ thống trồng trọt góp phần tăng thu nhập cho nông dân huyện tân kỳ, tỉnh nghệ an
Bảng 4.3. Tổng giá trị sản xuất và thu nhập bình quân đầu ng−ời của huyện giai đoạn 2001 - 2006 (Trang 52)
Bảng 4.4. Tốc độ tăng trưởng kinh tế  của huyện   từ năm 1996 - 2005 (giá so sánh năm 1996) - Tình hình sản xuất trồng trọt và khả năng cải thiện hệ thống trồng trọt góp phần tăng thu nhập cho nông dân huyện tân kỳ, tỉnh nghệ an
Bảng 4.4. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện từ năm 1996 - 2005 (giá so sánh năm 1996) (Trang 53)
Bảng 4.5. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1995 - 2005 - Tình hình sản xuất trồng trọt và khả năng cải thiện hệ thống trồng trọt góp phần tăng thu nhập cho nông dân huyện tân kỳ, tỉnh nghệ an
Bảng 4.5. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1995 - 2005 (Trang 54)
Bảng 4.6. Tuổi trung bình nhân khẩu và trình độ văn hoá của hộ  Nh©n khÈu (ng−êi/hé)          Chỉ tiêu - Tình hình sản xuất trồng trọt và khả năng cải thiện hệ thống trồng trọt góp phần tăng thu nhập cho nông dân huyện tân kỳ, tỉnh nghệ an
Bảng 4.6. Tuổi trung bình nhân khẩu và trình độ văn hoá của hộ Nh©n khÈu (ng−êi/hé) Chỉ tiêu (Trang 58)
Bảng 4.7. Công cụ sản xuất của nông hộ ở các vùng  Chỉ tiêu - Tình hình sản xuất trồng trọt và khả năng cải thiện hệ thống trồng trọt góp phần tăng thu nhập cho nông dân huyện tân kỳ, tỉnh nghệ an
Bảng 4.7. Công cụ sản xuất của nông hộ ở các vùng Chỉ tiêu (Trang 59)
Bảng 4.8. Cơ cấu nguồn thu từ sản xuất kinh doanh (%)  Tiểu vùng - Tình hình sản xuất trồng trọt và khả năng cải thiện hệ thống trồng trọt góp phần tăng thu nhập cho nông dân huyện tân kỳ, tỉnh nghệ an
Bảng 4.8. Cơ cấu nguồn thu từ sản xuất kinh doanh (%) Tiểu vùng (Trang 60)
Bảng 4.9. Hiện trạng sử dụng đất của huyện Tân Kỳ năm 2006  TT  Hiện trạng sử dụng  Diện tích (ha)  Tỷ lệ (%) - Tình hình sản xuất trồng trọt và khả năng cải thiện hệ thống trồng trọt góp phần tăng thu nhập cho nông dân huyện tân kỳ, tỉnh nghệ an
Bảng 4.9. Hiện trạng sử dụng đất của huyện Tân Kỳ năm 2006 TT Hiện trạng sử dụng Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) (Trang 61)
Bảng 4.10. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2006 - Tình hình sản xuất trồng trọt và khả năng cải thiện hệ thống trồng trọt góp phần tăng thu nhập cho nông dân huyện tân kỳ, tỉnh nghệ an
Bảng 4.10. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2006 (Trang 62)
Bảng 4.11. Diện tích đất lâm nghiệp có rừng năm 2006 - Tình hình sản xuất trồng trọt và khả năng cải thiện hệ thống trồng trọt góp phần tăng thu nhập cho nông dân huyện tân kỳ, tỉnh nghệ an
Bảng 4.11. Diện tích đất lâm nghiệp có rừng năm 2006 (Trang 63)
Bảng 4.12. Lợi thế cây trồng ở các tiểu vùng lãnh thổ huyện Tân Kỳ  Diện tích đất ch−a - Tình hình sản xuất trồng trọt và khả năng cải thiện hệ thống trồng trọt góp phần tăng thu nhập cho nông dân huyện tân kỳ, tỉnh nghệ an
Bảng 4.12. Lợi thế cây trồng ở các tiểu vùng lãnh thổ huyện Tân Kỳ Diện tích đất ch−a (Trang 64)
Bảng 4.13. Các loại đất nông nghiệp trồng cây ngắn ngày  Các tiểu vùng (diện tích ha) - Tình hình sản xuất trồng trọt và khả năng cải thiện hệ thống trồng trọt góp phần tăng thu nhập cho nông dân huyện tân kỳ, tỉnh nghệ an
Bảng 4.13. Các loại đất nông nghiệp trồng cây ngắn ngày Các tiểu vùng (diện tích ha) (Trang 65)
Bảng 4.15. Mức đầu t− phân bón cho cây trồng ở các tiểu vùng  Mức đầu t− (kg/ha) ở các tiểu vùng  Cây trồng  Loại phân - Tình hình sản xuất trồng trọt và khả năng cải thiện hệ thống trồng trọt góp phần tăng thu nhập cho nông dân huyện tân kỳ, tỉnh nghệ an
Bảng 4.15. Mức đầu t− phân bón cho cây trồng ở các tiểu vùng Mức đầu t− (kg/ha) ở các tiểu vùng Cây trồng Loại phân (Trang 66)
Bảng  4.15  cho  thấy:  L−ợng  phân  bón  đ3  đ−ợc  ng−ời  nông  dân  ở  đây  quan tâm không thua kém so với vùng đồng bằng nh−ng: - Tình hình sản xuất trồng trọt và khả năng cải thiện hệ thống trồng trọt góp phần tăng thu nhập cho nông dân huyện tân kỳ, tỉnh nghệ an
ng 4.15 cho thấy: L−ợng phân bón đ3 đ−ợc ng−ời nông dân ở đây quan tâm không thua kém so với vùng đồng bằng nh−ng: (Trang 67)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w