luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học Nông nghiệp I
Trang 2Lời cam đoan
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ3 đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đ3 đ−ợc chỉ
rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Đào Thu Trà
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo Khoa Kinh tế
và Phát triển nông thôn, Khoa Sau đại học, Bộ môn Phân tích định lượng trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội đ3 tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện bản luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Ngô Thị Thuận đ3 hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang, Phòng Thống kê, Phòng Kinh tế và các cán bộ 3 x3 Bố Hạ, Phồn Xương, Tam Tiến đ3 phối hợp và giúp đỡ tôi thu thập tài liệu để thực hiện đề tài nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đ3 động viên khích lệ và giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học!
Tác giả luận văn
Đào Thu Trà
Trang 4Môc lôc
2 C¬ së lý luËn vµ thùc tiÔn n©ng cao thu nhËp cho
2.2.1 N©ng cao thu nhËp cña ng−êi d©n miÒn nói mét sè
Trang 53 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 29
3.1.5 Những thuận lợi, khó khăn cơ bản về điều kiện tự nhiê,
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong đề tài: 50
4 Thực trạng sản xuất và thu nhập của người dân
4.2.3 Thực trạng thu nhập của hộ nông dân miền núi Yên
Trang 64.3.7 C¸c thÓ chÕ chÝnh s¸ch 1044.4 Mét sè gi¶i ph¸p n©ng cao thu nhËp cho c¸c hé d©n
4.4.1 Quan ®iÓm n©ng cao thu nhËp cho hé d©n 1074.4.2 Môc tiªu ph¸t triÓn kinh tÕ huyÖn Yªn ThÕ 108
Trang 7Danh môc ch÷ viÕt t¾t
BTTN B¶o tån thiªn nhiªn
TN&MT Tµi nguyªn vµ m«i tr−êng
UBND ñy ban nh©n d©n
UNESCO Tæ chøc v¨n hãa Liªn Hîp Quèc
Trang 8Danh mục bảng
Biểu 3.1 Yếu tố thời tiết khí hậu Huyện Yên Thế năm 2006 32 Biểu 3.2 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Yên Thế giai đoạn 2003 - 2006
35 Biểu 3.3: Tình hình biến động dân số và lao động Huyện Yên Thế giai đoạn
Bảng 3.4 Tình hình số hộ điều tra tại điểm nghiên cứu 2006 49 Bảng 4.1 Số l−ợng các lọai hộ dân trong huyện Yên Thế 50
Bảng 4.3 Đặc điểm về điều kiện sản xuất của các hộ điều tra năm 2006 53 Bảng 4.4 Số hộ gieo trồng, diện tích gieo trồng và năng suất các cây trồng chính của các nhóm hộ
Bảng 4.4.1 Theo x3 điều tra
Bảng 4.4.2 Theo điều kiện kinh tế
Bảng 4.4.3 Theo ngành nghề sản xuất
Bảng 4.4.4 Theo các hộ dân tộc
Bảng 4.5 Thực trạng chăn nuôi tại các hộ miền núi Yên Thế - Bắc Giang năm
Bảng 4.5.1 Theo x3 điều tra
Bảng 4.5.2 Theo điều kiện kinh tế hộ
Bảng 4.5.3 Theo ngành nghề sản xuất
Bảng 4.5.4 Theo các hộ dân tộc
Bảng 4.6 L−ợng khai thác măng bình quân hàng năm 61 Bảng 4.7 Thực trạng tổng thu của các hộ điều tra năm 2006 (tính bình quân 1
hộ) 62 Bảng 4.8 Thu và cơ cấu các khoản thu từ nông nghiệp của các nhóm hộ (tính bình quân 1 hộ điều tra) 64 Bảng 4.9 Tầm quan trọng của các cây trồng đối với hộ dân miền núi Yên Thế Bắc Giang 65 Bảng 4.10 Tầm quan trọng của các loịa vật nuôi đối với hộ dân miền núi Yên Thế năm 2006 66 Bảng 4.11.Thu và cơ cấu các khoản thu từ sản xuất lâm nghiệp các nhóm hộ
điều tra năm 2006 (tính bình quân 1 hộ) 67
Trang 9Bảng 4.12 Tầm quan trọng của các loại vật cây trồng trong sản xuất lâm
nghiệp 69 Bảng 4.13 Tầm quan trọng của các hoạt động phi nông nghiệp ở miền núi Yên Thế năm 2006 72 Bảng 4.14 Tầm quan trọng của các nguồn thu đối với hộ dân Yên Thế 73 Bảng 4.15 Thực trạng chi phí sản xuất của các hộ nghiên cứu năm 2006 75 Bảng 4.16 Chi phí sản xuất nông nghiệp bình quân 1 hộ Yên Thế năm 2006
78 Bảng 4.17 Thực trạng chi tiêu của hộ điều tra (tính bình quân 1 hộ điều tra)
984
Bảng 4.22 Mối quan hệ giữa số lao động với thu nhập của hộ điều tra năm 2006
97 Bảng 4.23 Mối quan hệ giữa trình độ chủ hộ với thu nhập của hộ điều tra năm
Bảng 4.24 Phân tích ảnh hưởng của hướng sản xuất tới thu nhập của hộ điều
Bảng 5.1 Dự kiến diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu
Biểu 5.2 Dự kiến cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt 112 Biểu 5.3 Dự kiến về cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi 113 Biểu 5.4 Dự kiến tình hình phát triển ngành chăn nuôi giai đoạn 2007 -
Trang 101 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt thập kỷ qua, Việt Nam đ3 đạt được nhiều thành tựu về cải cách kinh tế và quá trình phát triển đó đ3 giúp cho điều kiện sống của người dân Việt Nam được cải thiện rõ rệt
Nhờ quá trình đổi mới, khu vực nông thôn đang thay đổi nhanh chóng, Chính Phủ đang chú trọng hơn nữa đến phát triển nông thôn và cho rằng nhịp
độ tăng trưởng nhanh chóng và bền vững là một biện pháp hiệu quả để thu hẹp khoảng cách chênh lệch về kinh tế giữa Việt Nam và các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới nhằm tạo ra các nguồn lực để tăng cường nguồn lợi x3 hội, nâng cao mức sống của người dân cũng như giảm nghèo
Nâng cao mức sống của người dân những năm qua ở Việt Nam đ3 có nhiều nỗ lực huy động các nguồn lực trong và ngoài nước vào xóa đói giảm nghèo và đạt được những thành tựu quan trọng Tỷ lệ đói nghèo đ3 giảm mạnh
từ 37,4% năm 1998 xuống 28,9% năm 2002 và 24,1% năm 2004, trong khu vực nông thôn đ3 giảm từ 45,5% năm 1998 xuống 35,6% năm 2002 và 27,5% năm 2004
Thực tế, phát triển kinh tế x3 hội theo hướng nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn ở Việt Nam những năm qua cho thấy, bên cạnh những thành tựu đ3 đạt được đang nổi lên một số vấn đề: tỷ lệ đói nghèo vẫn còn cao, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, chưa khai thác hết tiềm năng về đất đai, nhân lực, khí hậu ở từng vùng Nguồn lực trong phát triển nông thôn tuy đ3 ít song còn bị l3ng phí do chuyển đổi không đúng hướng, nhiều đầu tư định hướng sai dẫn đến thua thiệt, l3ng phí Vì vậy, thu nhập của người dân tuy có tăng nhưng chậm hơn so với tốc độ công nghiệp hóa Hậu quả là khoảng cách thu nhập giữa người dân thành thị và nông thôn ngày càng rộng dần ra Thu
Trang 11nhập của 10% nhóm dân cư có thu nhập cao nhất với 10% nhóm dân cư có thu nhập thấp nhất đ3 tăng 10 lần năm 1998 và12 lần năm 2002 và duy trì ở mức 11,9 lần năm 2004 Mức độ chênh lệch cũng rất lớn giữa các vùng, các tỉnh (số liệu điều tra mức sống dân cư năm 2002 – 2004 của Tổng cục thống kê)
Đ3 có rất nhiều các công trình nghiên cứu về nâng cao thu nhập để xóa
đói giảm nghèo, các công trình nghiên cứu kinh tế, chính sách của Bộ Nông nghiệp và PTNT và nhiều đề tài khác nhưng mới tập trung vào nâng cao thu nhập theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng và vật nuôi Các chương trình khuyến nông của Chính Phủ Việt Nam đ3 có tư duy rất thiết thực cho phát triển kinh tế hộ thông qua hỗ trợ kỹ thuật, các tổ chức nghiên cứu nước ngoài, nhất là các nghiên cứu của Viện nghiên cứu Chính sách lương thực Quốc tế (IFPRI – 2004) về “Đa dạng hóa thu nhập và nghèo đói ở vùng núi và trung du Bắc Bộ Việt Nam” đ3 đi sâu phân tích các hình thức và xu hướng đa dạng hóa thu nhập trên phạm vi l3nh thổ Tuy vậy, các công trình nghiên cứu này cũng chưa nhiều và chưa chuyên sâu và cụ thể cho từng đối tượng nông hộ
Yên Thế là huyện miền núi tỉnh Bắc Giang nơi có nhiều dân tộc cùng sinh sống cũng đang gặp rất nhiều khó khăn Trong sự tăng trưởng chung của nền kinh tế, Yên Thế - Bắc Giang cũng đ3 có những bước phát triển, tuy nhiên
sự phát triển còn rất hạn chế, phải chăng người dân miền núi của huyện ít
được hưởng lợi từ sự tăng trưởng chung này? Đ3 có rất nhiều chính sách đổi mới được áp dụng thành công tại các vùng châu thổ nhưng tại sao thường không đạt hiệu quả như mong đợi ở các vùng núi? Các chính sách này có được triển khai ở huyện Yên Thế hay không? Nếu có thì tác dụng của chính sách
đến đâu? Đối với người dân huyện Yên Thế cần có cách tiếp cận như thế nào
để phân tích đúng thực trạng phát triển kinh tế và thu nhập của họ? Giải pháp nào đ3 được áp dụng và cần thực hiện thêm những giải pháp gì để giúp người dân nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần?
Trang 12Để góp phần trả lời các câu hỏi trên và giải quyết những khó khăn mà người dân đang gặp phải chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: "nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân miền núi huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang" 1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm đáp ứng các mục tiêu cụ thể sau:
+ Hệ thống hoá lý luận và thực tiễn về nâng cao thu nhập cho người dân vùng núi
+ Khảo sát và đánh giá đúng thực trạng thu, chi, tiết kiệm và
đời sống, kinh tế của người dân miền núi huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang những năm qua
+ Phát hiện những nguyên nhân và một số yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân miền núi huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân miền núi huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang những năm tới
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Các nhóm hộ gia đình:
+ Hộ tham gia dự án, không tham gia dự án
+ Hộ có điều kiện kinh tế khá, trung bình, nghèo
+ Hộ thuần nông, nông lâm kết hợp, hộ kiêm ngành nghề
+ Hộ dân tộc kinh, dân tộc thiểu số
- Các ngành sản xuất: nông nghiệp ( trồng trọt, chăn nuôi), lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ
1.4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về không gian: Đề tài được triển khai tại huyện miền núi (Yên Thế) Một số nội dung chuyên sâu được khảo sát tại 3 x3:Tam Tiến, Phồn Xương,
Bố Hạ, với 180 hộ dân
Trang 13- Về thời gian: Các thông số sử dụng để đánh giá thực trạng thu nhập của các hộ dân huyện Yên Thế được thu thập từ năm 2004 – 2006 Các giải pháp đề xuất có thể áp dụng từ năm 2008 – 2010
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu :
+ Cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao thu nhập và đời sống cho hộ dân miền núi
+ Đánh giá thực trạng kinh tế, đời sống của hộ dân miền núi Yên Thế thông qua việc nghiên cứu tổng thu, chi sản xuất, chi tiêu, tiết kiệm của hộ
+ Phát hiện các yếu tố tác động và yếu tố cản trở đến phát triển kinh tế
hộ dân Yên Thế
+ Nghiên cứu và đề xuất những giải pháp chủ yếu đến phát triển kinh
tế, nâng cao đời sống của người dân miền núi huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Trang 142 Cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao thu nhập cho người dân miền núi
Như vậy kinh tế hộ nông dân là một loại hình kinh tế đặc biệt, nó có thể thích ứng và tồn tại trong mọi phương thức sản xuất x3 hội, sự khác biệt với các hình thức tổ chức sản xuất khác đó là sử dụng sức lao động gia đình là chính, chính đặc điểm này khiến cho kinh tế hộ nông dân tồn tại ngay khi khủng hoảng kinh tế, các nhà tư sản và các doanh nghiệp có thể bị phá sản trong khi đó kinh tế hộ nông dân vẫn tồn tại
Từ những nghiên cứu trên chúng tôi thống nhất kinh tế hộ nông dân
được khái quát trên các nội dung sau: Hộ gia đình nông dân là đơn vị x3 hội
có chung một cơ sở kinh tế Các nguồn lực đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động được góp thành vốn chung, có chung một ngân quỹ Cùng sống chung dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập
Trang 15và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của thành viên trong gia đình và quyết định thuộc quyền của chủ hộ
b Những đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ nông dân miền núi Việt Nam
* Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế phổ biến của nông thôn vùng núi Việt Nam với hướng sản xuất chủ yếu là nông lâm nghiệp Hình thức
tổ chức kinh tế này có những đặc trưng sau:
- Kinh tế hộ nông dân có lịch sử ra đời và phát triển lâu dài, có nhiều biến đổi trong tổ chức và quản lý, có nhiều hình thức đa dạng, nhưng chủ yếu
được tổ chức ở quy mô gia đình, các hình thức của kinh tế hộ bao gồm:
- Trang trại gia đình nông, lâm nghiệp: lao động chủ yếu là lao động gia
đình, một phần sử dụng lao động của họ hàng, ít sử dụng lao động làm thuê, ngành nghề sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, lâm nghiệp, được quản lý bởi chủ hộ
- Liên doanh: các hộ nông dân liên kết với trang trại hoặc đơn vị kinh doanh khác thành một đơn vị thống nhất với tư cách pháp nhân thuộc hộ gia
đình Hộ nông dân gần nhà máy sẽ cung cấp nguồn nguyên liệu cho công ty,
ví dụ công ty mía đường Sơn La, lâm trường Mai Yên - Sơn La, công ty mía
đường Lam Sơn Thanh Hoá, công ty chè Sông Cầu - Thái Nguyên theo mô hình này, hộ nông dân trong vùng là những vệ tinh cung cấp nguyên liệu cho các công ty Đây là những hình thức liên kết tốt trong sản xuất, tận dụng nguồn đất đai, nhân lực của hộ nông dân trong vùng
- Công ty cổ phần: Hình thức tổ chức sản xuất này nhằm tiến hành sản xuất, chế biến, tiêu thụ với quy mô lớn
- Hình thức uỷ thác: chủ hộ có ruộng, có rừng, họ uỷ thác cho anh em,
bà con tiếp tục duy trì thay họ để sản xuất Có nhiều mô hình kiểu này hiện nay đang xuất hiện ở vùng trung du và miền núi như trang trại cây ăn quả, trang trại nuôi cá, trang trại vườn rừng ở vùng núi
Trang 16- Các hộ nông, lâm nghiệp tự nguyện hợp tác với nhau trong sản xuất dịch vụ để sản xuất kinh doanh: Các nông lâm trường trực tiếp lo phần dịch vụ lâu dài, đầu ra, bao tiêu sản phẩm
- Hộ nông dân nông, lâm nghiệp sản xuất độc lập tự chủ: Các hộ này sử dụng sức lao động gia đình tiến hành sản xuất và từ tích luỹ nhằm duy trì cuộc sống của hộ ở vùng núi nước ta loại này hiện nay là phổ biến
* Kinh tế hộ nông dân miền núi phát triển theo hướng tổng hợp nhiều ngành, mức độ chuyên môn hoá cao, nông lâm kết hợp tạo thành hệ sinh thái bền vững
Do sản xuất nông lâm nghiệp chịu rủi ro nhiều, để chống lại rủi ro đó, phòng những thời gian mất mùa, thiên tai hộ nông, lâm nghiệp phải phát triển theo hướng tổng hợp nhiều ngành như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp Trong từng ngành, hộ tiến hành trồng nhiều loại cây trồng, nuôi nhiều con gia súc khác nhau với mục đích tự sản tự tiêu, song một mặt phòng khi giáp hạt, rải thời vụ, thời tiết khó khăn gây mất mùa loại này thì còn có loại khác thay thế Trong hệ thống nông nghiệp của hộ ngoài ngành trồng trọt và chăn nuôi gia súc ở miền núi hộ còn có tiềm năng đất rừng được gắn bó với nhau tạo thành hệ sinh thái bền vững
* Hộ nông dân là một đơn vị độc lập tự chủ nhưng đồng thời là một đơn vị x3 hội với những đặc trưng riêng của nó [3,33]
- Về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất: Ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt quý giá của hộ nông lâm nghiệp Hộ nông dân được sử dụng lâu dài ruộng
đất và chỉ như vậy hộ mới phát huy được quyền tự chủ trong sản xuất nông, lâm nghiệp, cùng với các quyền cho thuê sử dụng Do có nhiều tư liệu vừa phục
vụ sản xuất vừa phục vụ đời sống nên hộ không thể tiến hành tính khấu hao một cách rõ ràng như các doanh nghiệp sản xuất khác
- Quan hệ quản lý: do làm chủ về tư liệu sản xuất nên hộ hoàn toàn có khả năng làm chủ về quản lý, quyền này thuộc về thế hệ bố mẹ trong gia đình
Trang 17- Quan hệ phân phối: hộ nông dân sẽ tự mình định đoạt những sản phẩm
do gia đình làm ra sau khi hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước Hộ dùng một phần thu nhập của mình để trang trải chi phí sản xuất, còn một phần hộ dùng
để tiêu dùng đảm bảo đời sống cho gia đình, và phần còn lại đề tích luỹ
* Hộ nông dân không những là một đơn vị kinh tế mà còn là một đơn vị x3 hội: Tính chất này là đặc trưng trong kinh tế hộ, bố mẹ có trách nhiệm với con cái đến lúc con cái trưởng thành, con cái có trách nhiệm với bố mẹ đến lúc tuổi già, đau ốm, quá cố Quan hệ hàng xóm láng giềng, làng bản thông qua các thể chế, già làng, trưởng bản Có thể nói hộ nông, lâm nghiệp bị chi phối rất lớn bởi quan hệ này
* Phát triển kinh tế hộ nông dân miền núi theo hình thái nông, lâm nghiệp phù hợp với yêu cầu phòng hộ, bảo vệ môi trường từng vùng sinh thái [18] Bởi vậy việc phát triển kinh tế hộ theo hình thái nông lâm nghiệp là yêu cầu khách quan và tất yếu trong việc bảo vệ môi trường sinh thái của vùng và của cả nước
+ Các khoảng thu đó có thể bao gồm có thu hiện vật và thu bằng tiền, thu từ sản xuất kinh doanh và thu ngoài sản xuất kinh doanh Thu trong sản xuất kinh doanh là thu từ sản xuất, làm thuê, lương, Thu từ ngoài sản xuất
Trang 18kinh doanh là các nguồn từ nước ngoài gửi về, từ anh em họ hàng, từ các hợp
được thực thu hay thu nhập thực tế từ sản xuắt kinh doanh bằng cách:
Tổng thu - chi phí khả biến = Tổng thu nhập ròng
Tổng thu nhập ròng - tổng chi phí bất biến = Thu nhập thực tế
Thu nhập thực tế - trả l3i tiền vay = Thực kiếm
Thực kiếm + Thu từ các hoạt động khác = Thực thu của hộ
(Theo Đỗ Kim Chung (1997) [1])
2.2.1 Đặc điểm thu nhập của người dân miền núi
Thu nhập của hộ nông dân miền núi luôn có một đặc trưng cơ bản là gắn liền với đất và rừng Cùng với sự phát triển của x3 hội, sự thay đổi về quyền sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là tài nguyên đất, Thu nhập của các hộ nông dân miền núi đ3 có những biến đổi và ngày càng có chiều hướng đa dạng hơn Qua thực tế cho thấy, ngoài thu nhập từ đất canh tác
Trang 19nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất rừng và sản phẩm rừng (săn bán, hái lượm), các hộ dân tộc còn có các nguồn thu từ chăn nuôi, nghề phụ, làm thuê, bán hàng, hoạt động du lịch sinh thái
Đặc điểm thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số bao gồm các khoản thu nhập sau:
* Thu nhập từ nông nghiệp: Bao gồm thu từ trồng trọt (thu từ cây lương thực, thực phẩm như lúa, ngô, khoai, sắn thu trồng cây ăn quả như vải nhẵn, hồng xiêm, bưởi, mít; thu từ trồng cây công nghiệp như chè, cà phê, sắn); thu
từ chăn nuôi (trâu bò, lợn, gà, dê, )
* Thu nhập từ lâm nghiệp: bao gồm thu từ khai thác lâm sản và lâm sản ngoài gỗ (gỗ, củi, tre nứa, song, mây, thu hái cây thuốc, ong rừng ), thu từ chặt gỗ lậu, thu từ săn bắt động vật và chim thú rừng; thu từ các hoạt động trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng
* Thu nhập từ thuỷ sản bao gồm nuôi cá, ếch, ba ba, rắn
* Thu nhập phi nông nghiệp bao gồm:
Thu nhập từ ngành nghề thủ công truyền thống bao gồm sản phẩm mây tre đan, chế biến dược liệu, dệt vải
Thu nhập từ dịch vụ du lịch sinh thái bao gồm thu từ bàn hàng, phục vụ
ăn ở, phục vụ tham quan văn hoá truyến thống bản làng, hướng dẫn du lịch
Thu nhập phi nông nghiệp còn lại bao gồm cắt tóc, làm thuê, thợ nề, thợ mộc, chạy xe ôm
Thu nhập khác bao gồm lương hưu, trợ cấp
2.1.2.3 Nâng cao thu nhập
a.Nâng cao thu nhập bền vững
Trang 20Nâng cao thu nhập là tăng tổng thu và thu nhập thực tế của hộ nông dân năm sau cao hơn năm trước
Theo tư tưởng của hội nghị Brundthand, thu nhập bền vững được xem là lượng thu nhập lớn nhất trong một khoảng thời gian nhất định mà nó không làm giảm khả năng thu nhập có thể có trong tương lai Khái niệm này không những thể hiện lượng thu nhập hiện hành mà còn có cả sự biến đổi tài nguyên Nếu tài nguyên gia tăng tức là thu nhập tăng, tài nguyên mất đi tức là thu nhập giảm Bản chất của khái niệm này đ3 được John Hicks phát biểu từ nửa thế kỷ trước: thu nhập bền vững là giá trị lớn nhất của một người có thể tiêu thụ trong một khoảng thời gian mà không bị suy giảm vào cuối thời gian đó Quản lý kinh tế hiệu quả đòi hỏi chính phủ của mỗi nước cần biết lượng tài nguyên lớn nhất mà quốc gia đó có thể sử dụng mà không làm cho đất nước nghèo đi [5.36]
Thu nhập bền vững, theo chúng tôi đó là lượng thu nhập đảm bảo đủ mức sống trung bình trở lên trong một thời gian tương đối dài của hộ gia đình
và cộng đồng dân cư mà không làm ảnh hưởng (suy giảm) đến việc bảo tồn và phát triển tài nguyên đa dạng sinh học
Trang 21dụng nhiều hơn hoặc hiệu quả hơn đầu vào hiện đại, kiểm soát nước tưới tốt hơn và hoặc phương pháp canh tác tốt hơn
+ Giá nông sản cao hơn: Điều này có thể có được nhờ sự tự do hoá thương mại, hạ tầng nông thôn tốt hơn hoặc sự phối hợp tốt hơn giữa nông dân với người mua
- Đa dạng hoá cây trồng: ngay cả khi giá cả, năng suất cây trồng, hệ số
sử dụng ruộng đất và diện tích không thay đổi, người nông dân vẫn có thể tăng thu nhập bằng cách chuyển đổi từ cây có giá trị kinh tế thấp (đặc trưng là cây lương thực) sang cây cây trồng có giá trị cao hơn (đặc trưng là cây hàng hoá)
- Tăng thu nhập từ lâm nghiệp: đây là một nguồn thu quan trọng của người dân vùng núi, thu từ lâm nghiệp là các giá trị thu được từ sản phẩm của rừng Điều quan trọng là thu nhập từ lâm nghiệp phải là thu nhập bền vững
- Tăng thu nhập từ dịch vụ: mô hình du lịch sinh thái rất có tương lai khi đời sống người dân các khu vực thành thị ngày càng nâng cao
- Tăng thu nhập từ công nghiệp: một số ngành công nghiệp có thể phát triển
ở những vùng miền núi như: khai khoáng, khai thác than, khai thác xi măng
* Hướng nâng cao thu nhập có thể khái quát lại thành:
1 Nâng cao thu nhập theo hướng chuyển sang các hoạt động có giá trị cao hơn: là quá trình người nông dân chuyển từ cây trồng và hoạt động có giá trị thấp sang cây trồng và hoạt động có giá trị cao hơn Ba chỉ số đo lường là
tỷ lệ hộ tham gia vào hoạt động phi trồng trọt, tỷ lệ hộ trồng cây phi lương thực và tỷ lệ diện tích dành cho cây phi lương thực
2 Tác động đến các yếu tố đầu vào nhằm tăng năng suất, sản lượng, chất lượng, tăng vụ, tiếp cận thị trường tăng giá cả nông sản hàng hóa
3 Đa dạng nguồn thu nhập: có nghĩa là số lượng nguồn thu nhập tăng lên làm cho tổng thu nhập tăng lên
Nâng cao thu nhập với ý nghĩa thương mại hóa: những năm gần đây
Trang 22hướng nâng cao thu nhập này càng được quan tâm và áp dụng rộng r3i Nâng cao thu nhập được xem như là quá trình chuyển từ sản xuất theo kiểu tự cung
tự cấp các cây lương thực chủ yếu sang sản xuất nhiều loại hàng hóa nông sản hơn và hoạt động phi nông nghiệp Chúng ta có thể xác định được mức đo lường nâng cao thu nhập với ý nghĩa thương mại hóa
+ Thứ nhất: “Thương mại hóa cây trồng” được xác định bằng tỷ trọng giá trị cây trồng đem bán và trao đổi so với tổng giá trị cây trồng sản xuất được
+ Thứ hai: “Thương mại hóa nông nghiệp” được xác định bằng tỷ lệ sản phẩm nông nghiệp (gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp) đem bán và trao đổi so với tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp sản xuất được
+ Thứ ba là “Thương mại hóa thu nhập” được xác định dưới dạng tổng thu nhập bằng tiền mặt so với tổng thu nhập của hộ
2.1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ nông dân
* Các yếu tố nguồn lực sản xuất của hộ
Hộ nông dân muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh nông lâm nghiệp thì vấn đề có tính quyết định trước tiên là các yếu tố sản xuất bao gồm
đất đai, lao động, cơ sở vật chất như tư liệu sản xuất và tiền vốn, các yếu tố này quyết định kết quả sản xuất kinh doanh của từng hộ
- Đất đai là yếu tố sản xuất không thể thay thế trong hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp Nếu quỹ đất nhiều, chất đất tốt, cơ cấu đất đai phong phú thì càng có điều kiện sản xuất thuận lợi cho hộ nông dân lựa chọn phương thức canh tác phù hợp Nếu quỹ đất nhỏ, chất đất không màu mỡ sẽ gây trở ngại
đến quá trình sản xuất của hộ
- Lao động là yếu tố sản xuất không thể thiếu được của bất kỳ quá trình sản xuất x3 hội nào Khi nghiên cứu yếu tố lao động phải kể đến số lượng và chất lượng của lao động Chất lượng lao động thể hiện ở trình độ học vấn để
có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, đó là kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm
Trang 23tập quán sản xuất được tích luỹ từ lâu đời Số lượng lao động là yếu tố mặt lượng bao gồm số thành viên trong gia đình hộ nông dân có khả năng lao
động Nó chi phối đến kết quả sản xuất của nông hộ, đặc biệt là những vùng chậm phát triển thì nhân tố lao động là nhân tố cơ bản để tạo ra của cải vật chất cho gia đình ở vùng núi cao, vốn không nhiều, đất đai rộng lao động sẽ
là nguồn lực chính góp phần duy trì và phát triển kinh tế nông hộ
- Vốn là điều kiện rất quan trọng trong sản xuất Vốn có thể mua những tư liệu sản xuất khác cần thiết Đối với hộ nông dân miền núi, khái niệm sử dụng đồng vốn sao cho có hiệu quả là khá xa lạ
- Tư liệu lao động là một yếu tố quan trọng, nếu có tư liệu lao động tốt,
có khả năng cơ giới hoá cao, người nông dân sẽ đỡ vất vả năng xuất lao động tăng, góp phần tăng thu nhập đáng kể cho hộ Những năm gần đây các hộ có
điều kiện cơ khí hoá trang bị thêm như máy bơm, máy tuốt lúa … nhằm giảm nhẹ công việc nặng nhọc cho mọi thành viên trong gia đình Một đặc điểm của tư liệu lao động trong kinh tế hộ nông dân là tư liệu lao động phục vụ sản xuất nhiều khi dùng cho sinh hoạt và ngược lại đặc biệt ở những vùng núi
* Yếu tố về trình độ sản xuất, trình độ văn hóa, tay nghề lao động, tập quán canh tác, văn hóa của từng vùng cũng ảnh hưởng lớn đến thu nhập của
hộ, tuy không có tính chất quyết định và để thay đổi các yếu tố này nhằm nâng cao thu nhập là rất khó song đây cũng là một hướng tác động nhằm giải quyết những khó khăn mà hộ miền núi gặp phải
2.1.2.5 Những chỉ tiêu đánh giá thu nhập hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân mới được các nhà khoa học ở Việt Nam nghiên cứu nhiều vào những năm 1980 trở lại đây Qua kết quả các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước, chúng tôi thấy có 2 cách tính chỉ tiêu đánh giá thu nhập hộ nông dân
* Cách tính thứ nhất: Do kinh tế hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự
Trang 24chủ, vì vậy những chỉ tiêu dùng để đánh giá thu nhập của hộ có thể sử dụng trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) [2] Với cách tính này các chỉ tiêu dùng để đánh giá kinh tế hộ là:
Giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị sản phẩm của hộ nông dân sản xuất ra tương ứng với giá thị trường ở thời điểm điều tra
Chi phí trung gian (IC): là toàn bộ những khoản chi phí vật chất mà hộ nông dân đ3 phải bỏ ra trong quá trình sản xuất
Giá trị gia tăng (VA): Là phần giá trị tăng thêm sau khi đ3 trừ đi chi phí trung gian
Thu nhập hỗn hợp (MI): Là một phần của giá trị tăng thêm sau khi trừ
đi thuế và khấu hao tài sản cố định
Trên cơ sở đó sẽ xác định các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, đánh giá kinh tế
hộ nông dân
* Cách tính thứ hai: Cơ sở khoa học của quan điểm này dựa trên lý thuyết kinh tế hộ nông dân của Trayanốp (1925), của Đỗ Kim Chung [1], Kim Thị Dung [12], Các chỉ tiêu đó là:
Tổng thu: Là toàn bộ sản phẩm thu được của hộ tính theo giá thị trường
ở thời điểm điều tra (kể cả bán và tiêu dùng)
Chi phí: Do không phải bất cứ yếu tố đầu vào của hộ đều được trao đổi trên thị trường nên chi phí là bao gồm chi phí vật chất và chi phí khác bằng tiền để sản xuất ra sản phẩm (chi phí khả biến mua ở bên ngoài)
Thu nhập thực bằng tổng thu trừ đi chi phí sản xuất, do kinh tế hộ nông dân sử dụng yếu tố nguồn lực của hộ, nên không thể tính tất cả mọi khoản chi phí theo giá thị trường, hộ nông dân sản xuất chủ yếu bằng sức lao động của gia đình, không đi thuê hoặc ít sử dụng lao động làm thuê, vì thế thu nhập của
hộ là chỉ tiêu cơ bản dùng để tiến hành phân tích kinh tế hộ nông dân
Với đặc thù kinh tế hộ vùng nghiên cứu là vùng cao, sản xuất mang
Trang 25nặng tính tự cung tự cấp là chính Vì thế để phù hợp với điều kiện cụ thể của vùng nghiên cứu chúng tôi thống nhất sử dụng cách tính thứ hai để đánh giá thu nhập hộ nông dân
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế hộ nông dân: Nhiều tác giả đ3 cho rằng hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được với chi phi bỏ ra (đ3 được lượng hoá) Kết quả đó là tổng thu, thu nhập và thu nhập ròng của hộ và của từng ngành Chi phí bỏ ra của hộ đó là giá trị các nguồn lực được sử dụng như đất đai, lao động, tiền vốn đầu tư Các chỉ tiêu đánh giá
có thể tính bằng số tương đối, số tuyệt đối hoặc so sánh phần tăng thêm giữa chi phí bỏ ra với phần tăng thêm của kết quả thu được của hộ Trên cơ sở đó chúng tôi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá thu nhập hộ nông dân được cụ thể hoá trong phần phương pháp nghiên cứu
Tính thu nhập từ bảng số liệu điều tra là tổng của các doanh thu ròng từ các hoạt động khác nhau: trồng trọt, sản phẩm phụ của ngành nông nghiệp, chăn nuôi, tiền lương, trợ cấp và thu nhập khác Doanh thu từ các cây trồng
được tính trực tiếp từ bảng câu hỏi Giá trị tiêu dùng của sản phẩm do gia đình
tự sản xuất được tính bằng cách nhân lượng tiêu thụ báo cáo với giá bán trung bình theo vùng của hàng hóa trong câu hỏi điều tra Chi phí sản xuất trồng trọt, bao gồm gống, phân bón, thuốc trừ sâu, chi phí thuê đất, thuê lao động, lưu kho và tiếp thị
Trong trồng trọt do không tách được một số chi phí (thuê lao động, thuê thiết bị, lưu kho) nên chúng tôi phân bổ cho nhóm loại cây trồng chứ không thể phân bổ cho từng loại cây
Doanh thu từ chăn nuôi bao gồm doanh thu từ việc bán gia súc và lượng tiêu dùng thịt gia súc trong gia đình trừ đi chi phí mua giống, cộng với tiền bán
và lượng tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi của gia đình như sữa, trứng Lượng tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi được tính từ phần chi tiêu của bảng câu hỏi
Doanh thu ròng từ các hoạt động phi nông nghiệp của hộ có thể tính theo
Trang 262 cách Doanh thu từ hoạt động phi nông nghiệp trừ đi chi phí được tính riêng cho từng hoạt động phi nông nghiệp như thuê lao động, thuê máy móc thiết bị, thuê nhà xưởng, kho, bến b3i… tất cả đều có trong bảng câu hỏi điều tra
Thu nhập từ tiền lương là tổng thu nhập tiền lương cả năm và tiền thưởng Tiền trợ cấp bao gồm trợ cấp tư nhân (quà tặng, tiền của thân nhân gửi về) và trợ cấp công cộng (từ các chương trình của chính phủ) trong 12 tháng qua Các thu nhập khác là tiền lương hưu, trúng xổ số và tiền cho thuê đất đai nhà cửa, tài sản Doanh thu từ bán nhà cửa, phương tiện, đồ trang sức không
được tính vào thu nhập trong báo cáo này
2.2 Thực tiễn nâng cao thu nhập cho người dân vùng núi trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Nâng cao thu nhập của người dân miền núi một số nước trên thế giới
Theo tài liệu của FAO, trong 1.476 triệu ha đất nông nghiệp trên thế giới thì chúng ta có tới 973 triệu ha chiếm 65,9% diện tích là vùng miền núi, trong đó 377 triệu ha có độ dốc 100 trở lên Vùng Châu á, Thái Bình Dương trong tổng diện tích 453 triệu ha đất nông nghiệp thì có tới 351 triệu ha ở vùng miền núi chiếm 77,48% Chính do diện tích miền núi lớn, quyết định đến môi trường và nguồn nước cho cuộc sống con người, trong khi đó đời sống các hộ vùng này lại nghèo nhất nên các nước và các nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm đến việc phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập của người dân vùng này [4,43]
ở Nhật Bản, Rừng núi chiếm 71% diện tích đất tự nhiên, năm 1995 có
25 triệu ha rừng và 5 triệu ha đất ruộng, trong 10 vùng sản xuất nông nghiệp, hầu như tỉnh nào cũng có đồi núi và thung lũng nhỏ hẹp xen kẽ nhau Bức tranh phổ biến ở đây là các trang trại gia đình tập trung thành các tụ điểm dân cư ở sườn đồi, thung lũng Trên đỉnh đồi các cây rừng, phần sườn dốc các cây
ăn quả, chân đồi trồng cây hoa màu hằng năm, ở lòng chảo là các cánh đồng
Trang 27lúa nước
Thái Lan, là một nước láng giềng trong khu vực Đông Nam á, Chính phủ Thái Lan đ3 thực hiện nhiều chính sách để đưa từ một nước lạc hậu trở thành một nước có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến Một số chính sách liên quan đến việc phát triển kinh tế miền núi ban hành từ những năm 1980 mà hiện nay vẫn phát huy tác dụng:
Thứ nhất: xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn đặc biệt khu vực miền núi Mạng lưới đường bộ bổ sung cho mạng lưới đường sắt, phá thế cô lập ở các vùng ở xa, đầu tư xây dựng nhiều đập nước ở các vùng sâu, xa
Thứ hai: chính sách mở rộng diện tích canh tác và đa dạng hóa sản phẩm như cao su ở vùng đồi phía nam, ngô, mía, bông, sắn, cây lấy sợi ở vùng
đông bắc
Thứ ba: đẩy mạnh công nghiệp chế biến nông sản, Thái Lan đ3 xuất khẩu ngô sang Nhất Bản, sắn sang cộng đồng châu âu, và đặc biệt xuất khẩu gạo sang các nước trên thế giới
Thứ tư: thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài và thay thế nhập khẩu trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ Các điều khoản đầu tư thuận lợi đối với người nước ngoài, nhằm thu hút vốn đầu tư của các công ty nước ngoài vào Thái Lan Nhà nước cũng thực hiện chính sách trợ giúp tài chính cho nông dân vay tiền với l3i suất thấp, ứng tiền trước cho nông dân cam kết mua hoặc bán sản phẩm với giá ấn định trước cùng với nhiều chính sách khác đ3 thúc đẩy kinh tế vùng núi Thái Lan phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá Song trong quá trình thực hiện có bộc lộ một số vấn đề tồn tại đó là: việc mất cân bằng sinh thái, đó là hậu quả của một nền nông nghiệp làm nghèo kiệt quệ hoá đất đai Kinh tế vẫn mất cân đối giữa các vùng, xu hướng nông dân rời bỏ nông thôn ra thành thị lâu dài hoặc rời bỏ theo mùa vụ [6,13]
Trang 28Đài Loan là một hòn đảo có diện tích bằng 1/10 diện tích của nước ta
Địa hình chủ yếu là thung lũng và đồi núi giống địa hình phía bắc nước ta Vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ 20, thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 50USD/ đầu người, số người mù chữ chiếm 50%, 92% số dân trên đảo
là nông dân [6,14]
Chính sách an dân được gọi là quốc sách Tại Đài Loan hiện nay có 30 vạn người dân tộc thiểu số sinh sổng ở vùng cao song đ3 có đường đi lên núi
là đường nhựa, nhà có đủ điện nước, có ô tô riêng đầy đủ tiện nghi Từ năm
1974 họ là nông dân từ đo thành lập nông trường, nông hội, trồng những sản phẩm quý hiếm như cao su, sơn, trà, bán các mặt hàng đặc sản của rừng như thịt hươu, nai khô, cùng các kỷ vật nông dân sản xuất được ở miền núi 15 năm trở lại đây nhờ đun nấu bằng điện, và hơi đốt nên không còn hiện tượng phá rừng ở Đài Loan nữa Do đất rừng cằn cỗi nên người dân không khai thác bằng nguồn lợi kinh tế mà chủ yếu phủ xanh đất bằng cách trồng rừng, cải tạo môi trường, chống xói mòn [6,45]
Chính sách thuế và ruộng đất của chính quyền thì phân biệt giữa hai đối tượng “nông mại nông” (nông dân bán đất cho nông dân khác để tiếp tục canh tác) thì miễn thuế “Nông mại bất nông” (bán đất cho các đối tượng phi nông nghiệp) thì đóng thuế gấp 3 lần Vì vậy nguồn lao động trẻ ở nông thôn rất dồi dào, nhưng không giảm mà chuyển sang hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tại chỗ theo hình thức ly nông bất ly hương Chính quyền khuyến khích nông dân giảm trồng lúa tăng cường trồng cây ăn quả, cây công nghiệp và cây cảnh có giá trị kinh tế cao Các cơ quan khoa học ở Đài Loan rất mạnh dạn nghiên cứu cải tạo giống mới phù hợp với điều kiện sản xuất của người dân, nông dân áp dụng không phải trả tiền [6,46-47]
Philipin là nước có điển hình về các mô hình sử dụng đất dốc bền vững
Từ năm 1970 – 1982, trung tâm đời sống nông thôn Philipin đ3 tổng kết thực
Trang 29tế xây dựng và hoàn thiện 4 loại hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác đất nông nghiệp trên đất dốc bền vững gọi tắt là SALT Nội dung của mô hình gồm
Công thức các mô hình được bố trí như sau:
SALT 1 Cây ngắn ngày Hàng rào xanh Cây ngắn ngày
SALT 2 Rừng, rẫy B3i chăn thả
SALT 3 Rừng 60% 40% cây lương thực
SALT 4 Cây ăn quả ngắn ngày Cây ăn quả dài ngày
- Mô hình canh tác đất nông nghiệp trên đất dốc (SALT1)
- Mô hình kết hợp nông lâm gia súc kết hợp đơn giản (SALT2)
- Mô hình kỹ thuật canh tác nông lâm bền vững (SALT3)
- Mô hình sản xuất nông nghiệp kết hợp với cây ăn quả quy mô nhỏ (SALT4)
Những mô hình này đ3 và đang được nhân rộng ở các nước Đông Nam
á trong đó có miền núi phía Bắc nước ta
Inđônêxia thực hiện kế hoạch 5 năm 1969 – 1974, mỗi hộ di cư đều
được trợ cấp của Chính phủ như tiền cước vận chuyển đi quê mới, một căn nhà
2 buồng, 0,5 ha đất thổ cư và 2 ha đất canh tác (1ha cây lâu năm và 1 ha cây hàng năm), một năm lương thực khi đến khu định cư mới Được chăm sóc y
tế, giáo dục, được vay vốn với l3i suất ưu đ3, vay đầu tư cho cây nông nghiệp,
đến kỳ thu hoạch mới trả nợ Có trường hợp Nhà nước đầu tư trồng sẵn cây dài ngày, nông dân đến nhận vườn cây, chăm sóc, thu hoạch xong mới phải thanh toán cho nhà nước Hiện nay, Inđônêxia có trên 80.000 – 100.000 hộ đến các vùng kinh tế mới chi phí bình quân trên mỗi hộ từ 5000 – 7000USD [13,22]
Malaysia đ3 có kinh nghiệm tổ chức thực hiện các chương trình di dân
Trang 30gắn với phát triển nông thôn Chương trình do cục quy hoạch gọi tắt là FELDA thực hiện và thu được thành công đáng kể, trong 18 năm FELDA đ3
mở ra 210 chương trình khai hoang với diện tích 40.000 ha, định cư cho 41.000 hộ, góp phần tạo ra nông sản có giá trị xuất khẩu cao cho đất nước Thành công này là do sự chỉ đạo đồng bộ một số vùng trọng điểm – ổn định
kế hoạch di dân gắn với chương trình xuất khẩu, đặt dưới sự chỉ đạo của một
số chuyên trách gọn mà hiệu quả [19,27,28]
Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ các nước khác:
Hệ thống khuyến nông, khuyến lâm huấn luyện và thăm cơ sở ở nhiều nước, tập trung chủ yếu vào 2 khâu trọng yếu là huấn luyện nông dân và thăm cơ sở tập trung ở vùng núi cao, vùng sâu, xa
Ngày đồng ruộng được tổ chức ở Austraylia ở một điểm cố định tại trung tâm miền Nam New Walets, trong thời gian 3 ngày vào tháng 11 hàng năm đ3 thu hút các nhà sản xuất, chế biến trình diễn trong và ngoài nước Từng năm ngày này tập trung vào những chuyên đề trọng điểm được nhiều nhà nông nghiệp nhiều nước quan tâm, thông qua đó tạo cho các ngành, các nhà sản xuất, dịch vụ thực tiễn quảng bá sản phẩm của mình và giúp nông dân phát triển sản xuất [8]
Tóm lại: Qua nghiên cứu kinh nghiệm một số nước và phát triển kinh
tế hộ nông dân miền núi chúng tôi rút ra những bài học sau:
* Sự hỗ trợ của Nhà nước là đặc biệt quan trọng đối với vùng núi chậm phát triển đó là việc đầu tư để thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng, xây dựng cơ sở hạ tầng trọng yếu cho miền núi như điện, đường, trường học, trạm xá, chú ý tới phát triển toàn diện cả về kinh tế, kỹ thuật, x3 hội để phấn đấu đưa nông nghiệp nông thôn miền núi phát triển bền vững, toàn diện Việc đầu tư quy hoạch l3nh thổ gắn liền với quy hoạch vùng sản xuất Cần phải coi đây là nhiệm vụ trọng tâm khuyến khích kinh tế hộ phát triển, bởi vì
Trang 31công tác quy hoạch của chúng ta trước đây chưa gắn giữa việc quy hoạch vùng sản xuất chuyên canh gắn với thị trường tiêu thụ, gắn với nơi sản xuất chế biến phục vụ xuất khẩu
* Đối với vùng núi việc phát triển kinh tế hộ nông dân phải gắn liền với việc nâng cao trình độ nguồn nhân lực, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm
* Phát triển hệ thống canh tác đất dốc, đặc biệt đối với vùng núi đ3 bị khai thác kiệt quệ tài nguyên rừng,cần có những chính sách phù hợp tạo đà cho kinh tế hộ và kinh tế trang trại sản xuất nông sản hàng hoá cùng song song phát triển trong nền kinh tế bền vững miền núi nhằm giảm bớt khoảng cách giữa vùng núi và vùng xuôi, giữa nông thôn và thành thị
2.2.2 Thu nhập của người dân vùng núi phía bắc Việt Nam
Mục tiêu phát triển kinh tế cả nước ta từ nay đến năm 2020 là phấn đấu cơ bản đưa nước ta thành một nước công nghiệp Quá trình này chắc chắn sẽ
được diễn ra khẩn trương và mạnh mẽ ở miền núi, bởi vì đây là khu vực chiếm phần lớn l3nh thổ cả nước ta Tuy nhiên việc phát triển kinh tế ở vùng núi không diễn ra một cách dễ dàng như ở các vùng khác trong nước Có thể nói miền núi phía Bắc đang đứng trước những thuận lợi và thách thức to lớn
2.2.2.1 Thuận lợi
* Trước hết đó là tài nguyên đất và rừng: Tính đến nay, miền núi có khoảng 19,8 triệu ha đất có thể trồng rừng trong đó có 46,78% ha la rừng tự nhiên và 4,2% diện tích rừng trồng lại còn 48,98% đất chưa chưa có rừng Nếu chúng ta có điều kiện giúp đỡ hộ nông lâm nghiệp đầu tư khoanh nuôi diện tích đất này theo phương thức nông lâm kết hợp thì sẽ có một vốn rừng vô cùng quý giá Với vốn rừng như vậy sẽ cung cấp cho nền kinh tế quốc dân hàng chục triệu mét khối gỗ, hàng tấn lâm sản thô để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Đồng thời cũng cho phép giải quyết việc làm, thu hút sức lao động, tạo điều kiện tăng thu nhập cho hộ nông dân miền núi
Trang 32[14,34-48]
Đất đai, thời tiết khí hậu vùng núi phía bắc rất thích hợp cho việc phát triển các cây trồng, vật nuôi với quy mô lớn như quế, hồi, cây ăn quả, cây dược liệu và chăn nuôi đại gia súc
* Miền núi là nơi đầu nguồn của các con sông lớn ở nước ta, với khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều, độ dốc cao đ3 tạo cho miền núi một khả năng to lớn về thuỷ năng Chính vì thế, miền núi giữ một vai trò đặc biệt quan trọng đối với ngành công nghiệp năng lượng của đất nước [4,34]
* Miền núi có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ như hang Pắc Bó, suối Lê Nin ở Cao Bằng, hồ Ba Bể ở Bắc Cạn… và nhiều khu di tích lích sử nổi tiếng
Có nền văn hoá phong phú mang đặc trưng của nhiều dân tộckhác nhau như văn hoá Thái, Mường, ở Tây Bắc, văn hoá Tày, Nùng ở Việt Bắc… Thiên nhiên và con người nơi đây đ3 tạo nên những sản phẩm đặc thù được sản xuất
ở vùng núi, những sản phẩm này đ3 và đang vươn lên thâm nhập thị trường khu vực và thế giới như sản xuất đồ tre, trúc mỹ nghệ ở Bắc Cạn, quế, hồi và thảo quả ở vùng Đông Bắc hộ nông dân trong tỉnh có điều kiện thuận lợi phát triển nông nghiệp du lịch sinh thái, cải thiện đời
* Miền núi phía Bắc chứa đựng phần lớn tài nguyên khoáng sản và năng lượng có giá trị nhất Việt Nam, bao gồm 98% trữ lượng than, 45% trữ lượng thiếc, 100% trữ lượng đồng, 35% trữ lượng sắt, 58% trữ lượng đá vôi… cung cấp 20% nước ngọt và 54% thuỷ điện [4,115] Với những thuận lợi trên hộ nông dân vùng núi nếu biết phát huy những thuận lợi nêu trên thì những khó khăn trong đời sống của họ sẽ được khắc phục
* Chính sách của Đảng và Nhà nước đầu tư cho vùng núi phía Bắc
Từ những năm 1990 Đảng và Nhà nước ta đ3 chú ý đầu tư cho vùng núi phía bắc nên đ3 có những thay đổi đáng kể, một số tuyến dường quan trọng
được xây dựng như: 6, 70, 3, 2, 4A, 4C, 4B, 4D, 18 Phong trào xây dựng nông
Trang 33thôn miền núi đ3 huy động được 694,3 tỷ đồng trong đó ngân sách trung ương
và tỉnh là 16,5%, Bộ Giao thông hỗ trợ 2,7%, nguồn vốn định canh định cư 5,1%, ngân sách giao thông 12% [13,12] Với những nỗ lực ấy đ3 nâng cấp trên 2000 km, làm mới 600 km đường giao thông nông thôn, thêm 120 x3 có
đường ô tô đi tới x3
Nhiều công trình thuỷ lợi được đầu tư xây dựng và đ3 đưa vào hoạt
động như: Hồng Đại (Cao Bằng), suối Clanh (Bắc Thái), Như Xuyên (Tuyên Quang) Xây dựng mới và kiên cố hoá công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ như hồ,
đập tràn, trạm bơm, kênh dẫn để phục vụ sản xuất [13.15]
Tóm lại: Hộ nông dân miền núi có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, trên thực tế trong những năm qua cả miền núi và miền xuôi đ[ khai thác gần như kiệt quệ sự thuận lợi trên, chúng ta đ[ có những công trình thuỷ điện, hàng ngàn m3 gỗ, những động thực vật quý hiếm bị khai thác mà không có sự bù đắp, bổ xung vì vậy có thể nói kinh tế vùng núi vẫn là vùng khó khăn nhất nước ta Trong tương lai, kinh tế hộ nông dân miền núi có thể phát triển nếu có thể giải quyết một loạt những khó khăn nảy sinh trong quá trình phát triển
2.2.2.2 Khó khăn
Có 7 nhân tố khó khăn ở vùng cao phía Bắc Việt Nam bao gồm: cơ sở vật chất kỹ thuật quá nghèo nàn, môi trường bị phá huỷ nghiêm trọng, nền kinh tế kém phát triển, trình độ văn hoá thấp, sự tăng nhanh dân số, sự thất nghiệp, giáo dục và đào tạo cán bộ chuyên môn tại địa phương còn yếu [17,15-17]
Trong cuốn “Nông nghiệp trung du và miền núi hiện trạng và triển vọng – NXB Nông nghiệp, Hà nội, 1993” đ3 xác định 4 vấn đề nổi cộm trong phát triển kinh tế ở vùng cao Bắc Thái là: Địa hình dốc và sự phân cắt mạnh, nhu cầu cần thiết để khôi phục tổn thất đất đai do xói mòn, cơ sở vật chất không
Trang 34thích hợp đặc biệt là giao thông vận tải khó khăn, các tiêu chuẩn văn hoá và
điều kiện x3 hội của vùng còn thấp, tính thuần nhất của lực lượng lao động nông nghiệp, sự chậm trễ trong việc đề ra phương hướng phát triển thích hợp
Một số yếu tố gây cản trở đến quá trình phát triển kinh tế miền núi:
Địa hình chia cắt phức tạp, hiểm trở Vùng núi và vùng cao phía Bắc có 14% diện tích có độ cao trên 1000m [39], còn lại bằng hoặc trên 200m, địa hình bị chia cắt có trên 50% là các sườn dốc trên 20% [52,36], việc xây dựng
đường xá khó khăn, có ít đất bằng phẳng để làm ruộng lúa, buộc nông hộ phải làm nương rẫy trên các vùng núi dốc Phần lớn lượng mưa tập trung và thời gian ngắn, nên thường gây lũ quét, gây thiệt hại đến tài sản và các công trình hạ tầng Các ruộng không phải bậc thang bị xói mòn Đất phần lớn là nghèo dinh dưỡng do bị phong hoá mạnh nên rất dễ bị suy thoái do xói mòn nếu lớp phổ thực vật bị dọn sạch, Chất vi lượng trong đất khan hiếm [13,19]
Năm 1973 trong một cuộc thảo luận về tiềm năng phát triển của các dân tộc thiểu số vùng núi đ3 cho rằng: " Các dân tộc thiểu số sống trong một vùng núi rộng lớn bao la Trong số 16 triệu ha ở miền bắc thì có tới 11 triệu ha là rừng Nhưng rừng là "vàng xanh", một tài nguyên không thể cạn kiệt với vô
số cây gỗ nhiệt đới" [11.336] Chỉ trong vòng 20 năm sau, các tài nguyên tưởng không thể cạn kiệt đó đ3 bị khai thác kiệt quệ để lại vùng đất nghèo nàn
về mặt kinh tế Như vậy thách thức lớn nhất đối với miền núi phía Bắc hiện nay không phải là bảo vệ nguồn tài nguyên mà cần đầu tư rộng lớn để khôi phục các hệ sinh thái đ3 bị suy thoái nghiêm trọng Mặc dù trong những năm trở lại đây màu xanh của rừng đ3 có những thay đổi đáng kể, nhiều khu rừng
đ3 được bảo vệ và trồng mới, song nguồn tài nguyên này cũng tăng ở mức chậm
Về khai thác khoáng sản được tập trung chủ yếu ở vùng núi, hầu hết các huyện vùng cao phía đông bắc do cơ sở hạ tầng phát triển Những công trình tầm cỡ quốc gia được thi công ở miền núi như thuỷ điện Hoà Bình, thuỷ điện
Trang 35Tạ Pú ở Sơn La đ3 và sẽ sản xuất được nguồn năng lượng để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tuy vậy hiện nay, những vấn
đề này đang trở thành mối lo ngại đối với miền núi vì đ3 để lại một bộ phận dân cư nghèo với một môi trường suy thoái nghiêm trọng [11,30]
Khó khăn về cơ sở hạ tầng: một số tuyến đường liên huyện ô tô không thể đi lại Số còn lại đại bộ phận là rất hẹp, bẩn, khó đi ngay trong cả mùa khô Số x3 có đường ở Lào Cai chỉ chiếm có 56%, trị số trung bình của miền núi phía Bắc là 82,6% [11,326] Việc phát triển cơ sở hạ tầng sẽ rơi vào mâu thuẫn cổ điển: Nếu thiếu cơ sở hạ tầng sẽ kìm h3m trình độ hoạt động thương mại ở miền núi, kìm h3m việc tiếp cận thị trường của hộ nông dân, do đó làm cho vùng luôn trong tình trạng nghèo nàn về kinh tế Nhưng phát triển cơ sở hạ tầng miền núi hộ nông dân ở quá hẻo lánh, trình độ thương mại quá thấp thì không đủ sinh lời để có thể bảo quản được Bởi vậy, ít nhất trong tương lai gần vì một nền quốc phòng, vì an toàn x3 hội, vì sự công bằng của cả nước, nhằm tăng cường giao lưu kinh tế giữa các vùng thì nhất thiết phải đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vùng núi một cách hiệu quả nhất
Trong những năm gần đây Nhà nước đầu từ nhiều đường dây tải điện tới các vùng núi cao, trạm tiếp sóng về thông tin liên lạc, vô tuyến truyền hình ở các vùng miền núi là thực sự có ý nghĩa đối với đời sống hộ nông dân vùng cao Song số hộ nông dân này hiện nay được hưởng lợi từ các nguồn công cộng này còn ít, tỷ lệ x3 có truyền thanh, truyền hình năm 2005 mới chiếm 76%, số hộ dùng điện là 82% Miền núi là nơi cung cấp năng lượng chủ yếu của cả nước nhưng chỉ nhận được nguồn điện thương phẩm bình quân đầu người khoảng từ 10-15% bình quân chung của cả nước., tập trung chủ yếu ở thị x3, thị tứ nên hạn chế nhiều đến việc phát triển công nghiệp chế biến quy mô vừa và nhỏ, tất cả những vấn đề trên cho thấy vùng dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam vẫn là bộ phận lạc hậu trong sự phát triển chung của cả nước
Trang 36Kinh tế, chậm phát triển: thu nhập bình quân đầu người thấp hơn nhiều
so với bình quân chung của cả nước, hộ nông dân chưa quen với sản xuất hàng hoá do sản xuất thuần nông là chủ yếu, mang nặng tính chất tự cung tự cấp, sản phẩm hàng hoá chưa phát triển Trong khi đó hộ nông dân hầu hết là phải mua hàng hoá từ miền xuôi như muối, dụng cụ bằng sắt, dầu hoả, quàn áo, nhưng khối lượng mua lại nhỏ, điều đó phản ánh sức mua thấp trong khi chi phí vận chuyển hàng hoá lên miền núi rất cao
Hoạt động mua bán trao đổi chủ yếu diễn ra ở chợ, trong khi đó chỉ có 81% x3 trong vùng có chợ [11,326] Sản phẩm trao đổi chủ yếu là lương thực và hàng tiêu dùng thiết yếu, rất đơn điệu Đây là một vòng luẩn quẩn khi mọi sự cố gắng để tăng sản xuất đều gặp khó khăn vì thiếu hoạt động thương mại, nhưng việc phát triển chợ lại gặp khó khăn vì không có gì để bán
2.3 Các công trình nghiên cứu mới đây về thu nhập và nâng cao thu nhập cho người dân miền núi ở Việt Nam
ở nước ta từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, kinh tế hộ nông dân được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn Đ3 có một số công trình khoa học về kinh tế hộ nông dân được công bố Thời gian gần đây có những công trình nghiên cứu về kinh tế hộ nông dân:
* Tác phẩm của Vũ Ngọc Kỳ, Trần Đức, Vũ Sửu về “ Kinh tế trang trại gia đình ở miền núi tỉnh Yên Bái”, đ3 đi sâu nghiên cứu mô hinh kinh tế trang trại của tỉnh Yên Bái
* Tác phẩm của Trần Đức về “ Trang trại gia đình ở Việt Nam và trên thế giới” đ3 đi sâu nghiên cứu về lịch sử trang trại trê thế giới và Việt Nam
* Tác phẩm của Đào Thế Tuấn “Kinh tế hộ nông dân” đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế hộ nông dân
* Tác phẩm của tập thể tác giả nhà Khoa học x3 hội “Kinh tế hộ trong nông thôn Việt Nam” đ3 làm rõ cơ sở lý luận, hiện trạng về phát triển kinh tế
hộ giữa các vùng trong nước
Trang 37* Một số luận án Tiến sỹ Khoa học Kinh tế đ3 bảo vệ thành công như Nguyễn Thị Nghệ, Mai Văn Xuân gần đây nhất là Đỗ Thanh Phương [48] đ3
đi sâu giải quyết từng khía cạnh của kinh tế hộ như: Phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá, vai trò của kinh tế hộ trong x3 hội nông thôn, kinh
tế hộ với vân sđề sản xuất hàng hoá, kinh tế hộ trong cơ chế thị trường Nhìn chung trong mỗi công trình nghiên cứu về kinh tế hộ, từng tác giả đ3 đi sâu khai thác làm sáng tỏ và phong phú thêm kiến thức về kinh tế hộ nông dân nước ta
Trang 383 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Yên Thế là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang Có tổng diện tích
tự nhiên khoảng 301km2,bằng 7,85% và đứng vị trí thứ tư trong tỉnh về diện
tích tự nhiên, có 8 dân tộc anh em cùng sinh sống (gồm: Kinh, Nùng, Tày,
Cao Lan, Sán Dìu, Dao, Mường, Hoa) với tổng dân số 94.585 người, mật độ
dân số 311người/km2 Toàn huyện có 21 đơn vị hành chính (có 3 thị trấn là
Cầu Gồ, Bố Hạ, Nông Trường), trong đó có 8 x3 được nhà nước công nhận là
vùng III (Đặc biệt khó khăn) và trung tâm huyện lỵ là thị trấn Cầu Gồ Nơi
đây là quê hương cuộc khởi nghĩa của Nông dân Yên Thế do người anh hùng
áo vải Hoàng Hoa Thám l3nh đạo gần 30 năm chống thực dân Pháp Trong 2
cuộc kháng chiến Lực lượng Vũ trang và Nhân dân Yên Thế được phong tặng
danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân"
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Yên Thế nằm trong vùng núi cao phía Tây Bắc tỉnh Bắc Giang, trung
tâm huyện lỵ cách trung tâm tỉnh lỵ 30Km, cách thủ đô Hà Nội 80Km
- Phía Bắc và phía Tây giáp với huyện Đồng Hỷ và Võ Nhai của tỉnh
Thái Nguyên
- Phía Đông giáp huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn
- Phía Đông Nam và phía Nam giáp huyện Lạng Giang và Tân Yên,
tỉnh Bắc Giang
Trên địa bàn huyện có 4 tuyến đường tỉnh lộ chính Đường 292 chạy
dọc huyện nối với đường 1A lại Kép và nối với Thái Nguyên tại huyện Đồng
Hỷ; đường 398 từ trung tâm huyện đi thị x3 Bắc Giang, tuyến đường 294 nối
đường 398 (Tại Nh3 Nam - huyện Tân Yên) với đường 292 (Tại Tân Sỏi),
Trang 39tuyến đường 242 nối đường 292 tại thị trấn Bố Hạ đi Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn
và tuyến đường 292b nối đường 292 (Tại Mia) với đường 242 (Tại Phương
- Địa hình vùng núi: Phân bổ chủ yếu ở các x3 phía Bắc của huyện,
có diện tích khoảng 11.200ha, chiếm 37,2% diện tích tự nhiên toàn huyện; bị chia cắt mạnh, có độ dốc khá lớn (Cấp III và cấp IV) Vùng đất đai còn khá tốt, rừng còn nhiều, độ ẩm khá, có thể trồng được nhiều loại cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày và phát triển chăn nuôi đại gia súc, phát triển kinh tế trang trại
- Địa hình vùng đồi thấp: Có diện tích khoảng 10.600ha, chiếm 35,2% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bổ rải rác ở các x3 trong huyện, có độ chia cắt trung bình, địa hình lượn sóng, độ dốc bình quân 8-150(Cấp II và cấp III), vùng này đất trung bình, đất sét pha cát sỏi nhiều, phù hợp
và có khả năng phát triển các loại cây ăn quả (Vải, nh3n, hồng, na, dứa )
- Địa hình vùng đồng bằng: nằm rải rác các x3 ven sông, suối, nằm xen giữa các d3y đồi, có độ dốc thấp (0-80), có diện tích khoảng 8.300ha, chiếm 27,6% diện tích tự nhiên của huyện Có khả năng phát triển cây lương thực, cây màu
Tuy địa hình phức tạp nhưng lại tạo cho Yên Thế những thuận lợi, thế mạnh về đất đai so với các huyện có địa hình vùng núi, tạo điều kiện để phát triển đa dạng các sản phẩm nông, lâm nghiệp
* Thổ nhưỡng
Trang 40Đất đai huyện Yên Thế chủ yếu phát sinh trên nền đất sa thạch hoặc
sa phấn thạch, màu tím đỏ, vàng trên đất sét và đá thuộc hệ TRIAS và phát triển trên nền sản phẩm phong hoá thô có thành phần cát và bụi Đất đồi núi bị xâm thực, sói mòn, rửa trôi mạnh nên thường có thành phần đất nhẹ và nghèo dinh dưỡng Một số vùng đất thấp ven sông suối là những vùng đất bằng, bồi
tụ trũng, đất phù sa cổ bạc màu Đất vùng này nặng và giàu chất hữu cơ hơn các vùng đất khác
3.1.1.3 Khí hậu, thời tiết
Yên Thế mang nặng đặc trưng thời tiết khí hậu nhiệt đới gió mùa Hàng năm được chia làm 4 mùa: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, thịnh hành gió
Đông nam; mùa đông lạnh và khô, ít mưa thịnh hành gió đông bắc; xen kẽ là mùa xuân và mùa thu có tính chuyển tiếp; hàng năm thường ít có b3o lũ lớn xảy
ra Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23,9 0C, do nhiệt độ không khí phân hoá rõ theo 2 mùa là mùa nóng (mùa hè) và mùa lạnh (mùa đông) nên chênh lệch nhiệt độ giữa 2 mùa tương đối lớn Mùa khô thời tiết lạnh, khô hanh, có năm xuống thấp 6-70C, cuối đông trời ẩm ướt kèm theo mưa phùn, mùa nóng thời tiêt nóng ẩm, nhiệt độ cao nhất là 34 - 360C, có năm lên tới 38 - 390C Tổng tích ôn trên 8.4000 năm
Chế độ mưa phân thành hai mùa với lượng mưa bình quân hàng năm 1.876,3mm; mưa phân bố không đều, thường tập trung vào từ tháng 4 đến tháng 9, chiếm khoảng 80% lượng mưa cả năm, vào mùa mưa thường sảy ra ngập úng ở một số x3 Từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau lượng mưa nhỏ nên thường xảy ra hạn hán, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
Độ ẩm không khí trung bình 83,4%, tháng cao nhất lên tới 88% (tháng 3+4), tháng có độ ẩm thấp nhất là 80% (tháng 12), lượng nước bốc hơi trung bình trên 1000 mm/năm
Số giờ nắng trung bình hành năm là 1.340 giờ, tháng có số giờ nắng