luận văn
Trang 1Bộ giáo dục vμ đμo tạo Trường đại học nông nghiệp 1
Bùi quang mạnh
Nghiên cứu thμnh phần loμi vμ giá trị dinh dưỡng của cá tạp khai thác bằng lưới kéo đáy ở cảng cá cát bμ - hải phòng
luận văn thạc sỹ nông nghiệp
Hμ nội, 2007
Trang 2Bộ giáo dục vμ đμo tạo Trường đại học nông nghiệp 1
Bùi quang mạnh
Nghiên cứu thμnh phần loμi vμ giá trị dinh dưỡng của cá tạp khai thác bằng lưới kéo đáy ở cảng cá cát bμ - hải phòng
luận văn thạc sỹ nông nghiệp Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Mã số: 60.62.70
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Vũ Duy Giảng
Hμ nội - 2007
Trang 3Lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan nh÷ng sè liÖu viÕt trong LuËn v¨n nµy lµ trung thùc
vµ ch−a tõng c«ng bè ë bÊt kú c«ng tr×nh nghiªn cøu nµo ChÝnh víi sù cè g¾ng mét c¸ch nghiªm tóc cña b¶n th©n, t«i míi cã ®−îc nh÷ng sè liÖu nµy
T¸c gi¶
Bïi Quang M¹nh
Trang 4Xin chân thμnh cảm ơn thầy giáo hướng dẫn GS.TS Vũ Duy Giảng Thầy
đã hết mình chỉ bảo trong suốt quá trình nghiên cứu vμ góp ý tận tình cho bản Luận văn nμy Em xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy
Tôi xin cảm ơn các cán bộ trong dự án ACIAR, đặc biệt lμ Ths Nguyễn Tất Hảo, Ks Ngô Thị Dịu đã giúp đỡ tận tình để tôi hoμn thμnh Đề tμi nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ths Đặng Văn Thi, Ks Mai Công Nhuận vμ các cán bộ Phòng Nghiên cứu nguồn lợi biển, Viện nghiên cứu Hải sản đã giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn Dự án NORAD, chị Nguyễn Anh Thư, cô Đặng Thị Oanh vμ các cán bộ Phòng Đμo tạo đã giúp đỡ tôi về kinh phí vμ điều kiện học tập để tôi hoμn thμnh khoá học nμy
Cuối cùng, Em xin cảm ơn tất cả các Thầy, Cô giáo đã tận tình giảng dạy những bμi học quý báu, những kiến thức sâu rộng vμ những chuyến đi thực
tế bổ ích để Em vμ tất cả các thμnh viên lớp Cao học 7 hoμn thμnh khoá học
vμ có ngμy hôm nay Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới tất cả các Thầy, Cô
Học viên: Bùi Quang Mạnh
Trang 53.2 Tình hình nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng của động vật thuỷ
sản ở trong và ngoài nước
16
Trang 64.2 Phân tích hàm lượng vật chất khô 23
1 Tỷ lệ sản lượng nhóm cá tạp trên tổng sản lượng khai thác của tầu khai thác bằng lưới kéo đáy ở cảng cá Cát Bà, Hải Phòng
24
2 Thành phần loài trong nhóm cá tạp khai thác được bằng lưới kéo đáy ở
cảng cá Cát Bà, Hải Phòng
26
2.3 Biến động tỷ lệ sản lượng và số lượng của các loài trong nhóm cá tạp
theo thời gian
41
3 Kết quả nghiên cứu một số thành phần dinh dưỡng của một số loài cá tạp
50
Trang 7Bảng 2.4: Thành phần loài cá tạp khai thác bằng lưới kéo đáy ở Nhổ Nhĩ Kỳ 7
Bảng 2.5: Các loài cá tạp nước lợ, mặn sử dụng làm thức ăn cho nuôi trồng thuỷ
sản ở Việt Nam
10
Bảng 2.6: Thành phần loài cá tạp chính khai thác bằng lưới kéo đáy theo các
vùng tại Việt Nam
11
Bảng 2.7: Thành phần loài cá tạp chính khai thác bằng lưới kéo đôi theo các
vùng tại Việt Nam
12
Bảng 2.10: Thành phần hoá học thịt phi lê của các loài thuỷ sản khác nhau 17
Bảng 2.14: Thành phần hoá học của một số loài cá sử dụng sản xuất thức ăn
cho gia súc, gia cầm tại Việt Nam
19
Bảng 4.1: Tỷ lệ nhóm cá tạp trên tổng sản lượng khai thác của đội tầu khai thác
bằng lưới kéo đáy ở cảng cá Cát Bà
27
Trang 8Bảng 4.3: Khối lượng trung bình của các loài trong nhóm cá tạp khai thác bằng
lưới kéo đáy tại Cát Bà
28
Bảng 4.9: Tỷ lệ (%) sản lượng và số lượng của các loài cá tạp theo thời gian 42
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 4.17: Tỷ lệ sản lượng và số lượng cá Lượng Nhật theo thời gian 46
Trang 10hoàn toàn
Hình 4.26: Thành phần dinh dưỡng cá tạp của tháng 4 theo chất khô
hoàn toàn
54
Hình 4.28: Thành phần dinh dưỡng cá tạp của tháng 5 theo chất khô
hoàn toàn
57
Trang 11DANH SÁCH PHỤ LỤC
Trang
Phụ lục 6: Tên và đặc điểm hình thái của các loài cá tạp xuất hiện từ tháng 1
Trang 12CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cá tạp (Nhóm cá tạp) thường là những loài cá có kích thước trưởng thành nhỏ và cá con của những loài cá kinh tế, nhóm này thường được khai thác chủ yếu bằng đội tầu lưới kéo đáy [19, 33] Hiện nay, tỷ lệ sản lượng của nhóm cá tạp khá cao (50-60%) so với tổng sản lượng khai thác [35] Nhu cầu về bột cá cho sản xuất thức ăn ngày càng cao Tuy nhiên, sản lượng bột cá sản xuất trong nước mới đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu sản xuất thức ăn chăn nuôi, sản lượng năm 2006 là 112.000 tấn trong khi nhu cầu là 300.000 tấn [2]
Cát Bà, Hải Phòng là địa phương nuôi rất nhiều loài cá biển có giá trị kinh
tế cao Trong khi đó, thức ăn chủ yếu cho cá biển là cá tạp Đa số người nuôi cho
ăn trực tiếp bằng cá tạp [17] Với sản lượng cá tạp lớn, nếu được quan tâm nghiên cứu có hệ thống hơn thì sẽ góp phần thúc đẩy nghề nuôi trồng thuỷ sản với mức độ công nghiệp phát triển nhanh vì việc phát triển nuôi trồng sẽ gia tăng nhu cầu thức ăn và bột cá Nuôi cá thương phẩm mà sử dụng cá tạp trực tiếp thì sản lượng sẽ không thể đưa lên cao được do vấn đề môi trường, dịch bệnh và chất lượng cá tạp kém [15] Một vấn đề xa hơn nữa cần đề cập đến khi cá tạp được sử dụng làm thức ăn cho nuôi thuỷ sản, đó là nguy cơ gây ra hiện tượng thiết hụt vitamin B1 cho đối tượng cá nuôi Nhiều loài cá biển và cá nước ngọt
như họ cá Chép (Cyprinus spp), cá Trích (Cuplea spp) , cá Trồng (Engraulis spp
và Anchoa spp), cá Nhái (Carassius spp), cá Thu (Scomber spp), cá Trích cơm (Sprattus spp), cá Mòi (Sardinops spp), có chứa enzyme thiaminase gây vô
hoạt vitamin B1 [9, 11, 31, 43] Thiếu vitamin B1, cá có biểu hiện dễ nhận thấy nhất là kém ăn, chậm lớn và có triệu trứng về thần kinh như mất thăng bằng Đa
số enzyme thiaminase được sinh ra bởi tác động của vi khuẩn trong ruột cá, nếu loại bỏ được ruột cá thì sẽ giải quyết được vấn đề trên [25] Nhưng làm như vậy thì chi phí cho nuôi cá sẽ tăng vì vậy có rất ít người nuôi thực hiện việc loại bỏ ruột cá hay nấu chín cá tạp trước khi cho ăn
Trang 13Cho đến nay, ở nước ta đã có một số kết quả điều tra về nguồn lợi cá tạp của một số tác giả như Peter Edwards và cộng tác viên (ctv) (2004), Đào Mạnh Sơn và ctv (2005) nhưng mới chỉ dừng ở mức độ thống kê, ước tính tổng sản lượng Thành phần dinh dưỡng của cá tạp quyết định chất lượng và thành phần dinh dưỡng của bột cá và một số sản phẩm khác làm nguyên liệu cho sản xuất thức ăn và thực phẩm Tuy nhiên, việc nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng của các loài cá tạp ở nước ta lại chưa được quan tâm nhiều
Từ những vấn đề trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần loài và giá trị dinh dưỡng của cá tạp khai thác bằng lưới kéo đáy ở cảng cá Cát Bà - Hải Phòng”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thành phần loài và một số thành phần dinh dưỡng của một số loài cá tạp đánh bắt được bằng lưới kéo đáy ở cảng cá Cát Bà – Hải Phòng nhằm khai thác nguồn nguyên liệu cho sản xuất thức ăn
3 Nội dung nghiên cứu
2- Xác định thành phần loài cá tạp theo sản lượng và số lượng
một số loài chủ yếu trong nhóm cá tạp có tỷ lệ sản lượng từ 10% trở lên theo từng đợt thu mẫu
Trang 14CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Khái niệm về cá tạp
dùng ưa thích, ít hoặc không có giá trị làm thực phẩm, kinh tế [42]
Việc sử dụng cụm từ "cá tạp" có sự khác nhau giữa nước này với nước khác [18, 33] Trong nghiên cứu của Ordonez (1981) về cá tạp khai thác bằng lưới kéo đáy ở biển Visayan ở Philippine cho thấy cá tạp tập trung chủ yếu ở lưới kéo đáy, phần lớn bao gồm cá nhỏ hoặc cá giống của các loài cá kinh tế Cả hai dạng là cá nhỏ và cá trưởng thành thì chúng cũng nhỏ hơn cá thương phẩm
có giá trị kinh tế Chúng được xếp hạng thấp nhất trong nhóm thương phẩm của
cá đánh bằng lướt kéo đáy [33]
Ở một số nước khác "cá tạp" được gọi là "cá phế liệu", "cá bỏ đi" hoặc là
"cá công nghiệp" khi được chế biến cho con người dùng và các ngành công nghiệp khác [33] Ở Việt Nam, cụm từ "Trash fish" thường được gọi là "cá tạp",
"cá lợn" hay "cá phân" [22]
Theo Richard Grainger và ctv (2005) thì cá tạp là những loài cá có giá trị thấp không được phân loại hoặc cỡ nhỏ của những loài cá thương phẩm được sử dụng làm thức ăn cho nuôi trồng thuỷ sản hoặc cho những loài động vật khác [36]
"Cá tạp" còn là một loại thức ăn cho các loài động vật ăn thịt trong chăn nuôi như tôm, cá Song, cá Giò, cua, tuỳ thuộc vào thời vụ và vùng của từng nước [21]
Ở các nước thế giới thứ ba, Cá tạp được sử dụng với mức độ cao hơn Cá tạp được sử dụng làm nguyên liệu thô chế biến các sản phẩm thuỷ sản như nước mắm, cá khô và bột cá [16, 44]
"Cá tạp" không được sử dụng cho sự tiêu dùng của con người và là loại cá không được người khai thác mong đợi [18]
Trang 152 Tình hình nghiên cứu về cá tạp ở trong và ngoài nước
2.1 Ngoài nước
Trung Quốc
Sản lượng cá tạp khai thác bằng lưới kéo đáy đơn chiếm tỷ lệ khoảng 80,9% trong các năm 2003-2004, khai thác bằng lưới kéo đôi chiếm khoảng 3,3-47,2%, tỷ lệ chiếm cao nhất vào khoảng tháng 5 hàng năm, khai thác bằng lưới
7,2-rà chiếm khoảng 7-54% theo các tháng trong năm, cao nhất là vào các tháng 6-7 [36]
Tỷ lệ sản lượng cá tạp khai thác bằng lưới kéo đáy đơn ở cảng cá Shipu, tỉnh Zhejiang từ năm 2002 đến 2003 chiếm trung bình là 65,52% trên tổng sản lượng khai thác [36]
Bảng 2.1: Thành phần loài cá tạp khai thác bằng lưới kéo đôi
Nguồn: Richard Grainger và ctv (2005)
Nghiên cứu của Richard Grainger và ctv (2005) thực hiện ở cảng cá Zhoushan với hai loại lưới đánh bắt là lưới kéo đáy đơn và lưới kéo đôi mỗi tháng một đợt cho kết quả về thành phần loài cá tạp là khá phong phú và tỷ lệ cũng rất khác nhau
Nhóm cá tạp khai thác bằng lưới kéo đôi ở cảng cá Zhounshan có 13 loài
Trang 16Trong đó có 9 loài cá, 2 loài giáp xác và 2 loài thân mềm Có 11 loài cá tạp có tỷ
lệ chiếm trên 1% Loài Euprymna morsei có tỷ lệ sản lượng cao nhất là 56,2%,
còn lại các loài khác đều có tỷ lệ sản lượng không quá 10% (bảng 2.1)
Bảng 2.2: Thành phần loài cá tạp khai thác bằng lưới kéo đáy đơn
Nguồn: Richard Grainger và ctv (2005)
Nhóm cá tạp khai thác bằng lưới kéo đáy đơn có 42 loài, trong đó có 27
loài cá, 7 giáp xác, 3 loài nhuyễn thể, 4 loài ốc và 1 loài có vỏ Có 23 loài có tỷ
lệ sản lượng trên 1% Loài Apogonichthys lineatus có tỷ lệ sản lượng cao nhất
(18,6%) và là loài chiếm đa số Còn lại các loài khác chiếm không đáng kể, các
loài đều có tỷ lệ dưới 10% (bảng 2.2)
Trang 17Thái Lan
Tỷ lệ sản lượng cá tạp khai thác lưới kéo đáy đơn ở Vịnh Thái Lan chiếm
khoảng 69% đến 85% so với tổng sản lượng khai thác từ năm 1971 đến 1999
Nguồn: Pakjuta Khemakorn và ctv (2005)
Pakjuta Khemakorn và ctv (2005) nghiên cứu về thành phần loài/nhóm
loài cá tạp với bốn loại ngư cụ đánh bắt: tầu kéo lưới đáy đơn dài dưới 14m; tầu
kéo lưới đáy đơn dài 14-18m; tầu kéo lưới đáy đơn dài 19-25m và tầu kéo lưới
đôi Nhóm cá tạp chủ yếu là họ Leiognathidae (chiếm 25,06%), là họ cá tạp thực
sự, đây cũng là họ duy nhất có tỷ lệ sản lượng trên 10% Còn lại các họ khác có
tỷ lệ dưới 10% như các họ Engraulidae, Mullidae và Synodontidae là nhóm cá
kinh tế, chiếm tỷ lệ lần lượt là 7,19%, 5,70% và 5,04% Hai họ cá tạp thực sự
khác cũng chiếm tỷ lệ cao là Apogonidae (4,48%) và Bothidae (3,94%) (bảng
2.3)
Thổ Nhĩ Kỳ
cá thương phẩm và 28 loài cá tạp thực sự Tỷ lệ sản lượng cá thương phẩm và cá
tạp chiếm lần lượt là 79% và 21% Trong đó, các sản lượng cá tạp thuộc ba lớp
Trang 18chính là Teleostei (55%), Selachii (23%) and Holothuridea (22%) [32] Có 28 loài thuộc ba lớp trên, trong đó chỉ có hai loài có tỷ lệ sản lượng chiếm trên 10%
là Holothuria tubulosa và Serranus cabrilla có tỷ lệ lần lượt là 21,74% và
11,66% trong tổng sản lượng cá tạp Còn lại các loài khác đều có tỷ lệ sản lượng chiếm dưới 10%, trong đó có 16 loài chiếm trên 1% (bảng 2.4) Còn lại 10 loài
có tỷ lệ sản lượng không đáng kể (dưới 1%) [32]
Bảng 2.4: Thành phần loài cá tạp khai thác bằng lưới kéo đáy ở Nhổ Nhĩ Kỳ
(con)
Khối lượng (g)
Tỷ lệ % theo sản lượng
Sản lượng cá tạp của Malaysia chủ yếu từ vùng biển phía Tây của bán đảo
Trang 19Malaysia, ngoài ra còn có vùng biển phía Đông và Đông Malaysia Từ năm 1987, vùng biển phía Tây luôn chiếm tỷ lệ sản lượng trên 50% tổng sản lượng khai thác Tuy nhiên, sản lượng của vùng này lại có sự suy giảm từ 84% năm 1987 xuống còn 53% năm 1991 và từ đó duy trì ở mức 50-60% sản lượng Bờ biển phía Đông là vùng có sản lượng cá tạp cao thứ 2 Sản lượng cá tạp của vùng này
có sự gia tăng từ 13% năm 1987 đến 40% năm 1991 nhưng lại suy giảm còn 29% năm 2003 Tỷ lệ cá tạp của Đông Malaysia (Sarawak, Sabad và Labuan) có
sự gia tăng từ 3% năm 1987 lên 14% năm 1994 và từ đó duy trì sản lượng này cho đến năm 2003 [19]
Lưới kéo đáy là ngư cụ có ưu thế hơn cả trong việc khai thác Cá tạp ở cả hai vùng biển Tây và Đông của bán đảo Malaysia Ở bờ biển phía Tây, lưới kéo đáy luôn chiếm hơn 70% cá tạp trong tổng số cá khai thác vùng đó từ năm 1971
và tăng lên trên 80% từ năm 1975 Lưới khác chiếm khoảng 10-20% từ những năm 1970 Tuy nhiên, từ những năm 1980, sản lượng chỉ chiếm khoảng 2,5% [19]
Philippine
Sản lượng cá tạp sử dụng cho nuôi trồng thuỷ sản ở Philippine khoảng 144,638 tấn, trong đó khoảng 80% sử dụng cho nuôi cá biển lồng năm 2003 [28, 37]
biển Visayan chiếm khoảng 21% tổng sản lượng cá khai thác trong khoảng thời gian nghiên cứu 9 tháng Có ba loài/nhóm loài quan trọng nhất được coi là cá tạp
là cá Chai (Platycephalus spp.), cá Bơn thường và cá mối [33]
Banglades
Thống kê của Shabbir Ahmad (2005) về cá tạp khai thác bằng lưới kéo đáy cho thấy có 12 loài là cá giống của các loài cá kinh tế, 15 loài là cá trưởng thành của những loài cá nhỏ, chúng được coi là cá tạp Trong đó, tỷ lệ cá tạp
Trang 20thực sự chiếm khoảng 6,44%; cá giống của những loài cá kinh tế chiếm 28,5%
và cá kinh tế cỡ nhỏ chiếm khoảng 65,05%
Campuchia
Có ít nhất 62 loài cá nước ngọt có giá trị thấp và cá cỡ nhỏ được coi là Cá tạp sử dụng làm thức ăn cho nuôi trồng thuỷ sản nội địa [So Nam và ctv 2005] Trong đó, họ cá chép chiếm 45%, họ cá da trơn chiếm 18% và các loài khác chiếm 37% Theo báo cáo của Sovannary (1997) thì chỉ có 20 loài cá tạp sử dụng cho nuôi cá lồng ở tỉnh Kompong Chnang [41]
Theo nghiên cứu của So Nam và ctv (2005) thì tất cả các loài cá tạp thuộc
bẩy nhóm Nhóm 1 có ba loài thuộc họ cá Chép Henicorhynchus chiếm 40% của
tổng sản lượng cá tạp; nhóm 2 có bốn loài, chiếm 15%; nhóm 3 có chín loài, chiếm 15%; nhóm 4 có hai loài, chiếm 10%; nhóm 5 có mười một loài, chiếm 10%; nhóm 6 có sáu loài, chiếm 5% và nhóm 7 có tới ba mươi loài nhưng chỉ chiếm 5% tổng sản lượng cá tạp [40]
chi tiết Các nghiên cứu chủ yếu liên quan đến cá khai thác bằng lưới kéo đáy Điều này là phù hợp vì sản lượng cá tạp luôn chiếm tỷ lệ cao nhất ở hình thức khai thác bằng lưới kéo đáy
2.2 Trong nước
sản lượng của khai thác Tuy nhiên, nó lại là sản phẩm thuỷ sản quan trọng ở cả khía cạnh khối lượng và giá trị Cá tạp được khai thác chủ yếu từ nghề khai thác bằng lưới kéo đáy, sản lượng cá tạp chiếm từ 1-60% tổng sản lượng khai thác Trước đây, sản lượng cá tạp của Việt Nam chiếm khoảng 30-40% tổng sản lượng khai thác Nhưng hiện nay, tỷ lệ tăng lên khoảng 50-60% tuỳ theo vùng đánh bắt, nhất là vùng ven bờ tỷ lệ có thể còn cao hơn [35]
Trang 21Bảng 2.5: Các loài cá tạp nước lợ, mặn sử dụng làm thức ăn cho nuôi trồng
thuỷ sản ở Việt Nam (Nguồn: Peter Edwards và ctv 2004)
Trang 22Theo kết quả điều tra của Peter Edwards và ctv (2004) tại Việt Nam thì
thành phần loài cá tạp của Việt Nam có 12 nhóm (bộ), trong đó có tất cả trên 38
loài (bảng 2.5)
Năm 2005, Đào Mạnh Sơn và ctv báo cáo về tỷ lệ sản lượng cá tạp khai
thác bằng lưới kéo đáy của các vùng tại Việt Nam như sau: ở độ sâu 21-30m
(vùng Đông Bắc) chiếm 51% trên tổng sản lượng khai thác [22]
Bảng 2.6: Thành phần loài cá tạp chính khai thác bằng lưới kéo đáy theo các
vùng tại Việt Nam (Nguồn: ALMRV 2004a)
Trang 23Có trên 6 loài xuất hiện ở vùng biển phía Bắc và Đông Nam, loài có tỷ lệ
sản lượng cao nhất ở vùng biển phía Bắc là Leiognathus sp (53,1%), thứ hai là Evynnis cardinalis (17,9%) Ở vùng biển Đông Nam là loài Cantherines modestus (42,2%) và Leiognathus sp (28,7%) Độ sâu 31-50m, có trên 7
loài/nhóm loài xuất hiện ở vùng biển phía Bắc và Đông Nam, trong đó loài
Leiognathus sp chiếm tỷ lệ cao nhất (46,3%) ở vùng biển phía Bắc và nhóm loài Paramonacanthus chiếm tỷ lệ cao nhất (46,7%) của vùng biển Đông Nam Ở độ
sâu 51-100m, có trên 12 loài cá tạp xuất hiện ở cả ba vùng biển Bắc, Trung và Đông Nam (bảng 2.6)
Bảng 2.7: Thành phần loài cá tạp chính khai thác bằng lưới kéo đôi theo
các vùng tại Việt Nam (Nguồn: ALMRV 2004b)
Trang 2421,1% đến 42,1% Thành phần loài cá tạp chính khai thác bằng lưới kéo đôi của Việt Nam theo các vùng được thể hiện qua bảng 2.7 Kết quả nghiên cứu cho thấy có khoảng trên 12 loài/nhóm loài cá tạp xuất hiện ở vùng biển phía Bắc
Loài có tỷ lệ sản lượng cao nhất là Leiognathus sp chiếm trên 30% Ở vùng biển
Đông Nam có tất cả trên 8 loài/nhóm loài xuất hiện [22]
thuộc nhóm cá tạp Tuy nhiên, các kết quả là theo vùng, miền rộng lớn, chưa tập trung vào một địa điểm nhất định Nếu như xác định được thành phần loài của một địa điểm nhất định thì sẽ rất có lợi cho việc sử dụng cá tạp hiệu quả
3 Thành phần dinh dưỡng của động vật thuỷ sản
3.1 Một số thành phần dinh dưỡng chính của động vật thuỷ sản
thuỷ sản cũng giống như của các động vật khác, bao gồm nước, protein, lipid, khoáng, glucid, [3, 23]
Nước
Nước thường chiếm tỷ lệ khoảng 60-80% khối lượng cơ thể Hàm lượng nước khác nhau tuỳ loài và giai đoạn phát triển của động vật thuỷ sản
Protein
Protein là một hợp chất hữu cơ phức tạp có phân tử lượng lớn Cũng như cacbonhydrate và lipid, protein bao gồm cacbon, hydro, oxy ngoài ra còn nitơ và lưu huỳnh "Protein là một trùng hợp của nhiều axit amin" [11] Thành phần quan trọng của protein là axit amin Protein tự nhiên có khoảng 23 axit amin Có hai loại axit amin, axit amin thiết yếu và không thiết yếu [9] Thành phần axit amin của protein trên một số loài cá được trình bày qua bảng 2.8
Trang 25Xét về mặt dinh dưỡng thức ăn, protein được chia làm hai loại là protein
thô và hợp chất N phi protein Protein thô bao gồm cả protein và các hợp chất
chứa nitơ không phải protein
Bảng 2.8: Thành phần axit amin của một số loài động vật thuỷ sản
<10,0
<1,0
<1,0
<10,0 20,0
<10,0 86,0
<1,0
<10,0 20,0
<10,0
<1,0
<1,0
750,0 100,0 -1000,0 270,0
- 750,0
Nguồn: Lahsen Ababouch (2003, 2005)
Theo quy ước của ngành thức ăn chăn nuôi và cá, protein thô được tính
bằng công thức: protein thô = N x 6,25 Hợp chất N phi protein là những hợp
chất chứa N nhưng không có cấu trúc protein như: axit amin tự do, amin
(putresine, histamine, cadaverine…), amid (ure, asparagine, glutamine …), nitrat,
alkaloit ( nicotin, cocain, strichnine, morphine…) [9]
Protein là thành phần chủ yếu trong cơ thể động vật thuỷ sản, protein
chiếm khoảng 60-75% khối lượng cơ thể (theo vật chất khô)
hữu cơ khác như lipid, acid nucleic và glycogen để tạo thành các phức hợp có
những tính chất sinh học đặc trưng khác nhau của cơ thể
Lipid
Triglycerit là thành phần chủ yếu của lipid trong cơ thể động vật thủy sản,
chất này do axit béo hoá hợp với glycerin tạo ra Chất béo có vai trò quan trọng
trong đời sống của động vật thuỷ sản, thường có mầu vàng nhạt hoặc mầu đỏ
Trang 26Thông thường, người ta dựa vào hàm lượng mỡ trong cơ thể động vật thuỷ sản mà chia chúng ra nhóm cá "gầy" và nhóm cá "béo" Nhóm cá "béo" lượng mỡ thường cao hơn 10% (cá Trích, họ cá Scomber sp) Nhóm cá "gầy" có hàm lượng mỡ thường thấp hơn 2% (cá Thu mỡ chủ yếu dự trữ trong gan) Giữa hai nhóm trên, nhóm cá trung gian có hàm lượng mỡ chiếm khoảng 2-6% [9]
Axit béo của động vật thuỷ sản là loại mạch thẳng có chuỗi cacbon dài nhất 28C, chủ yếu là C18-C22 Trong dầu cá acid béo chưa bảo hóa (nhóm n-3
và n-6) chiếm tới 84% do đó dễ bị oxy hóa sản sinh ra andehit, ceton làm cho dầu cá có mùi hôi khó chịu
Nguồn các axit béo chưa no nhóm n-3, n-6 và HUFA (highly unsaturated fatty acid) có nhiều trong cá Hồi, cá Trích và cá Tuyết [9] EPA (eicosapentaenoic acid) và DHA (docosahexaenoic acid) có nhiều trong cá biển như cá Thu, cá Trích, cá Mòi [10]
Khoáng
Khoáng đa lượng bao gồm: Ca, P, Mg, K, Na, Cl và S Khoáng vi lượng bao gồm: Fe, Cu, Mn, Zn, Co, Mo, Se, F, I, và Ni [9, 30]
Hàm lượng khoáng của động vật thuỷ sản khác nhau theo loài, mùa vụ và hoàn cảnh sinh sống Các thành phần quan trọng của khoáng và chiếm số lượng nhiều là canxi, photpho, sắt
Hàm lượng sắt chiếm khoảng 12% tổng lượng khoáng Các chất khoáng như sắt, đồng, mangan, kẽm, crôm, iốt, rất cần thiết cho quá trình trao đổi chất trong cơ thể
Trong thành phần khoáng của động vật thuỷ sản có chất rất quan trọng nữa là iốt, hàm lượng này chiếm tỷ lệ cao hơn so với động vật trên cạn gấp hàng chục đến hàng trăm lần Iốt là chất đóng vai trò quan trọng trong thực phẩm dành cho con người Ở động vật thuỷ sản, iốt chủ yếu có nhiều trong gan, noãn sào, túi tinh của cá [3] Một số thành phần khoáng được thể hiện ở bảng 2.9
Trang 27Bảng 2.9: Thành phần khoáng của cá Hồi vân và cá Chép
(10-1800g)
Cá Chép (170-1150g)
Khoáng đa lượng (g/kg)
6,10 5,00 0,25 2,10 0,85
20,00 1,10 0,70
630
Nguồn: Shearer (1984), Kirchgessmer và Shwarz (1986) (Trích từ Vũ Duy
Giảng, 2006)
3.2 Tình hình nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng của động vật thuỷ sản
ở trong và ngoài nước
3.2.1 Ngoài nước
Lahsen Ababouch (2002) báo cáo về thành phần hóa học của thịt phi lê của một số loài động vật thuỷ sản cho thấy giữa các loài có sự khác nhau rất lớn
về tỷ lệ các thành phần hóa học (Bảng 2.10) Lipid là thành phần có sự khác nhau lớn nhất Hai thành phần là protein và nước có sự khác nhau không lớn giữa các loài [25] Hàm lượng protein tính theo chất khô hoàn toàn thì loài
Clupea harengus có hàm lượng cao nhất là 95%, thấp nhất là loài Anguilla anguilla (49,7%) Nhưng Anguilla anguilla lại là loài có hàm lượng lipid cao
Trang 28Thành phần dinh dưỡng có sự biến đổi rất lớn giữa các loài động vật thuỷ sản (bảng 2.12) Thậm chí, ngay trong cùng loài cá cũng có sự thay đổi về thành phần dinh dưỡng do các yếu tố chi phối như độ thành thục, tuổi, giới tính, môi trường, mùa trong năm và thức ăn của chúng [29] Ngoài ra, các thành phần dinh dưỡng cũng khác nhau giữa các phần bộ phận của một cơ thể cá [39] Tính theo
chất khô hoàn toàn thì Chai (Ruditapes decussatus) là loài có hàm lượng protein
thấp nhất (61,9%), các loài khác đều có hàm lượng protein trên 80%
Bảng 2.10: Thành phần hoá học thịt phi lê các loài thuỷ sản khác nhau
Nguồn: Lahsen Ababouch (2002)
Ghi chú: Số liệu in nghiêng trong bảng là giá trị tính theo chất khô hoàn toàn
Trang 29Bảng 2.11: Thành phần dinh dưỡng của một số loại cá khác nhau
Thành phần (%) Giống
Nguồn: Chua và ctv (1978)
Ghi chú: Số liệu in nghiêng trong bảng là giá trị tính theo chất khô hoàn toàn
Bảng 2.12: Thành phần dinh dưỡng của một số loài hải sản khác nhau
Ghi chú: Số liệu in nghiêng trong bảng là giá trị tính theo chất khô hoàn toàn
3.2.2 Trong nước
loài có sự khác nhau rõ rệt (bảng 2.13) Tính theo chất khô hoàn toàn thì giáp xác có hàm lượng protein cao nhất (74,2%) Cá Trắm cỏ là loài có hàm lượng lipid cao nhất (22,3%)
Theo số liệu thống kê của Viện chăn nuôi Quốc Gia (2005), có sáu loài cá
sử dụng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm có các thành phần dinh dưỡng rất cao
so với các công trình nghiên cứu của nước ngoài trình bầy ở trên (bảng 2.14)
Trang 30Bảng 2.13: Thành phần dinh dưỡng của một số nhóm động vật thuỷ sản
(%)
Protein (%)
Lipid (%)
Khoáng (%)
Nguồn: Nguyễn Anh Tuấn và ctv (2005)
Ghi chú: Số liệu in nghiêng trong bảng là giá trị tính theo chất khô hoàn toàn
Bảng 2.14: Thành phần hoá học của một số loài cá sử dụng sản xuất
thức ăn cho gia súc, gia cầm tại Việt Nam
Thành phần (%) Tên loài
VCK Protein Lipid Khoáng
Ghi chú: Số liệu in nghiêng trong bảng là giá trị tính theo chất khô hoàn toàn
Bảng 2.14 cho thấy cá Chỉ vàng có hàm lượng protein cao nhất (52,21%), các loài khác cũng có hàm lượng protein trên 40% Hàm lượng khoáng của các loài cá cũng khá cao, cao nhất là cá Mối (20,60%), cá Chuồn (19,04%) và các
Trang 31loài khác đều có hàm lượng khoáng trên 10% [8] Tính theo chất khô hoàn toàn thì hàm lượng protein của các loài cá biến động từ 67,3% (cá Mối) đến 73,6% (cá Chỉ vàng); hàm lượng lipid đều thấp hơn 10% và hàm lượng khoáng dao động từ 15,9% (cá khô) đến 27,7% (cá Chuồn)
12,1% (thịt phi lê); khoáng 1,51% và nước 78,55% [4]
Trung tâm tin học-Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2007) [5, 6, 7]
có một bảng số liệu về thành phần dinh dưỡng của 14 loài cá biển, trong đó, có 4 loài thuộc nhóm cá Rạn, 5 loài thuộc nhóm cá nổi nhỏ và 5 loài thuộc nhóm cá đáy (bảng 2.15) Thành phần protein của tất cả các loài thuộc ba nhóm dao dộng trên dưới 20% Tính theo chất khô hoàn toàn thì nhóm cá Rạn và cá Đáy có hàm lượng protein cao hơn so với nhóm cá Nổi nhỏ Hàm lượng lipid và khoáng không có khác biệt nhiều giữa các loài cá
Bảng 2.15: Thành phần dinh dưỡng của một số loài cá biển Việt Nam
Trang 32Ghi chú: Số liệu in nghiêng trong bảng là giá trị tính theo chất khô hoàn toàn
Nói chung, việc nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng của động vật thuỷ sản chưa có nhiều ngoài những nghiên cứu trên một số đối tượng có giá trị kinh
tế và thịt phi lê của một số loài cá Thành phần dinh dưỡng của các loài cá được coi là cá tạp thì hầu như chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều
Trang 33CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng: Nhóm cá tạp khai thác bằng nghề lưới kéo đáy ở cảng cá Cát Bà
- Thời gian: Từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2007
- Địa điểm:
+ Thu mẫu: Cát Bà, Hải Phòng
nghiên cứu Hải sản, Hải Phòng
+ Phân tích thành phần dinh dưỡng: Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản
1, Bắc Ninh
2 Điều tra đánh giá thành phần loài
- Thu mẫu mỗi tháng một đợt Mỗi đợt thu mẫu, điều tra trên 3 tầu đánh cá bằng lưới kéo đáy
- Chọn tầu: chọn ngẫu nhiên
- Nội dung phỏng vấn: Sản lượng cá tạp so với tổng sản lượng cá khai thác mỗi đợt đi biển từ đó xác định tỷ lệ phần trăm sản lượng cá tạp
- Thu mẫu ngẫu nhiên để xác định tỷ lệ phần trăm sản lượng, và số lượng của cá tạp Số lượng mẫu thu: mỗi mẫu thu 2 - 5 kg, mỗi tầu cá thu 3-5 mẫu Mẫu sau khi thu đem về Phòng nghiên cứu nguồn lợi biển, Viện Nghiên cứu Hải sản để tiến hành xác định thành phần loài
+ Phân loại cá theo loài: Phân loại sơ bộ bằng mắt thường sau đó tra tên khoa học theo tài liệu hướng dẫn phân loại (phụ lục 8 kèm theo-trang 85)
+ Cân khối lượng của từng loài để xác định tỷ lệ phần trăm loài theo sản lượng + Đếm số lượng của từng loài để xác định tỷ lệ phần trăm loài theo số lượng
3 Thu mẫu để phân tích các thành phần dinh dưỡng
- Phương pháp: Sau khi phân tích thành phần loài, chọn những loài có tỷ lệ sản
Trang 34lượng trên 10% của tháng để đem đi phân tích thành phần dinh dưỡng, mỗi mẫu 100-200g Mẫu cho vào túi ni lông có mép dính, ghi lý lịch mẫu
- Bảo quản mẫu: Mẫu thu được bảo quản trong đá lạnh và mang về Viện Nghiên cứu nuôi trông thuỷ sản 1 Mẫu mang về phòng thí nghiệm được bảo quản trong
tủ lạnh sâu và phân tích các thành phần dinh dưỡng trong thời gian sớm nhất
4 Phân tích các thành phần dinh dưỡng
4.1 Chuẩn bị mẫu
- Để cá giải đông khi bỏ từ tủ lạnh ra
- Mỗi mẫu được đem xay nhỏ bằng máy nghiền mẫu
- Trộn đều mẫu, lấy một lượng mẫu (đem cân) để xác định vật chất khô
- Số mẫu còn lại dùng để phân tích các thành phần: protein, lipid và khoáng
4.2 Phân tích hàm lượng vật chất khô
Xác định theo phương pháp sấy khô, TCVN 4326-2001
4.3 Phân tích hàm lượng protein thô
Xác định theo phương pháp Kjeldahl, TCVN 4328-2001
4.4 Phân tích hàm lượng lipid thô
Xác định theo phương pháp chiết phân đoạn ete, TCVN 4331-2001
4.5 Phân tích hàm lượng khoáng toàn phần
Xác định theo phương pháp đốt khô, TCVN 4327-86
5 Phân tích và xử lý số liệu
- Các số liệu thu được phân tích bằng thống kê mô tả và so sánh
- Số liệu được xử lý trên Excel:
+ Dùng Excel để tính trung bình, vẽ đồ thị và chạy ANOVA
+ Chương trình ANOVA dùng để tính F tính, F bảng nhằm tìm ra sự sai khác về tỷ lệ giữa các loài cá
+ Lập bảng so sánh, từ đó có thể đưa ra những kết luận về sự sai khác giữa các loài có ý nghĩa thống kê
Trang 35CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Tỷ lệ sản lượng nhóm cá tạp trên tổng sản lượng khai thác của tầu khai thác bằng lưới kéo đáy ở cảng cá Cát Bà, Hải Phòng
Cá tạp được chúng tôi nghiên cứu đều là những loài có các tiêu chí như sau: (1) kích cỡ nhỏ: bao gồm cá cỡ nhỏ và cá giống của những loài cá kinh tế không được phân loại và chúng đều có kích cỡ nhỏ hơn cá thương phẩm bán với giá trị cao; (2) không hoặc ít được sử dụng làm thực phẩm cho con người mà chủ yếu làm thức ăn cho một số loài cá biển có giá trị kinh tế nuôi tại Cát Bà; (3) cá được bán với giá thấp (khoảng 2.000 – 3.000 đồng/kg)
Trong thời gian thu mẫu từ tháng 1 đến tháng 5 tại Cảng cá Cát Bà-Hải Phòng, chúng tôi có phỏng vấn các chủ tầu đánh cá bằng lưới kéo đáy để thu thập thông tin về tỷ lệ sản lượng cá tạp so với tổng sản lượng khai thác của mỗi chuyến đánh cá Mỗi tháng điều tra trên 3 tầu, tổng cộng chúng tôi đã điều tra được 15 tầu khai thác bằng lưới kéo đáy, tất cả các tầu đều kéo lưới đơn Công suất máy của các tầu khai thác là 45 mã lực Ngư trường khai thác của các tầu là khu vực gần đảo Cát Bà và cửa sông Ba Lạt Độ sâu khai thác chủ yếu dưới 20m, mỗichuyến đi biển của các tầu thường kéo dài 2 ngày, có tầu chỉ khai thác trong vòng 1 ngày
Tỷ lệ sản lượng nhóm cá tạp trên tổng sản lượng khai thác thể hiện qua bảng 4.1 và hình 4.1 Kết quả cho thấy tỷ lệ cá tạp so với tổng sản lượng khai thác rất cao, bình quân là 91,0% Tháng 1 có tỷ lệ sản lượng cá tạp thấp nhất (86,7%) và cao nhất là hai tháng 3 và 5 cùng có tỷ lệ là 93,3% Tháng hai có tỷ
lệ trung bình sản lượng cá tạp là 90,0%, đặc biệt theo kết quả điều tra trên ba tầu khai thác của tháng thì cả ba tầu đều có cùng tỷ lệ sản lượng là 90,0% Tháng 4
có tỷ lệ sản lượng trung bình là 91,7% Đặc biệt, theo bảng 4.1 cho thấy trong tháng 3 có tầu 1 tỷ lệ sản lượng cá tạp chiếm đến 100% Một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ cá tạp cao là vì các tầu khai thác gần bờ (< 20m)
Trang 36Phân tích Anova về tỷ lệ sản lượng cá tạp của các tháng nhưng kết quả cho thấy không có sự sai khác nhau về tỷ lệ giữa 5 tháng, với mức ý nghĩa α=0,05
Bảng 4.1: Tỷ lệ nhóm cá tạp trên tổng sản lượng khai thác của đội tầu
khai thác bằng lưới kéo đáy ở cảng cá Cát Bà
Tỷ lệ sản lượng cá tạp (%) Thời gian
Hình 4.1: Tỷ lệ (%) nhóm cá tạp trên tổng sản lượng khai thác
Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Richard Gianger và ctv (2005)
về cá tạp khai thác bằng lưới kéo đáy ở cảng cá Zhounshan, Trung Quốc Tỷ lệ sản lượng cá tạp chiếm đến 80,9% vào tháng 5 so với tổng sản lượng khai thác
Trang 37[36] Kết quả nghiên cứu của Ordonez (1981) cho thấy cá tạp khai thác bằng lưới kéo đáy ở vùng biển Visayan ở Philppine chiếm 21% so với sản lượng khai thác hải sản [33] Cá tạp khai thác bằng lưới kéo đáy ở vùng biển phía Tây Malaysia luôn chiếm tỷ lệ trên 50% so với tổng sản lượng khai thác Tỷ lệ chiếm cao nhất
là 84% và thấp nhất là 53% [19] Tỷ lệ sản lượng của cá tạp khai thác bằng lưới kéo đáy ở độ sâu 21-30m vùng biển phía Bắc nước ta chiếm trung bình 51% đến 70% sản lượng khai thác [22] Theo Peter Edwards và ctv (2004) thì tỷ lệ sản lượng cá tạp của tầu khai thác bằng lưới kéo đáy là khoảng 50-60% trên tổng sản lượng khai thác
2 Thành phần loài trong nhóm cá tạp khai thác được bằng lưới kéo đáy ở cảng cá Cát Bà, Hải Phòng
Mẫu cá tạp được thu theo tháng trên các tầu khai thác cá bằng lưới kéo đáy tại cảng cá Cát Bà, Hải Phòng từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2007 Mẫu thu được xác định tỷ lệ loài theo khối lượng và theo số lượng Tất cả các loài cá được xác định tên khoa học và chụp ảnh tại Phòng nghiên cứu nguồn lợi biển, Viện Nghiên cứu Hải sản
2.1 Kết quả xác định loài trong nhóm cá tạp
Kết quả phân tích thành phần loài cho thấy có tổng cộng 19 loài cá thuộc
5 bộ và 13 họ đã được xác định Trong đó, bộ có số lượng loài nhiều nhất và chủ yếu là bộ cá Vược Perciformes với 11 loài: cá Bánh đường, Căng, Chỉ vàng, Dìa, Đao, Ké, Nục sò, Ót tiền, Ót xuôi, Lượng Nhật và cá Vạng mỡ Bộ Clupeiformes
có 5 loài là: cá Cơm, Lẹp, Lẹp hàm dài, Mậu và cá Nhâm Ba bộ còn lại là Atheriniformes, Aulopiformes và Tetraodontiformes mỗi bộ có một loài lần lượt là: cá Giổng, cá Mối vạch và cá Nóc (bảng 4.2 và phụ lục 6)
Bảng 4.2 cho thấy bộ có nhiều họ nhất là Perciformes (có 8 họ) Họ có nhiều loài nhất là Engraulidae (thuộc bộ Clupeiformes) với 4 loài Các họ khác
có chỉ có 1 đến 3 loài cá
Trang 38Bảng 4.2: Kết quả phân loại loài cá tạp khai thác bằng lưới kéo đáy
Carangidae
Selaroides leptolepis Carangoides malabaricus Decapterus maruadsi
Cá Chỉ vàng
Cá Ké (cá Khế)
Cá Nục sò
Leiognathidae
Leiognathus rucodius
Leiognathus berbis
Cá Ót tiền (cá Liệt)
Cá Ót xuôi (cá Liệt)
Perciformes
Engraulidae
Stolephorus commersonii Thryssa dussumieri Thryssa setirostris Thryssa hamiltonii
Cá Cơm (Duội)
Cá Lẹp
Cá Lẹp hàm dài
Cá Mậu Clupeiformes
Khối lượng trung bình của các loài trong nhóm cá tạp
Cân và đếm số lượng từng loài chúng tôi xác định được khối lượng trung bình từng loài cá theo các tháng xuất hiện (bảng 4.3)
Trang 39Bảng 4.3: Khối lượng trung bình của các loài trong nhóm cá tạp khai thác
bằng lưới kéo đáy tại Cát Bà
Khối lượng trung bình (g)
Trang 40động từ 50,0g (tháng 5) đến 76,2g (tháng 2) Cá Ké có khối lượng cơ thể dao
động từ 38,3 đến 42,6g Cá Nhâm có khối lượng trung bình là 14,3g và không có
sự biến động lớn giữa các tháng Cũng tương tự với cá Ót xuôi cũng không có sự
biến động nhiều về khối lượng giữa các tháng, trung bình là 3,5g Loài có biến
động về khối lượng khá lớn là cá Mậu Khối lượng thấp nhất là 16,0g (tháng 3),
cao nhất là 42,0g (tháng 4) và trung bình là 31,3g Cá Lượng Nhật có khối lượng
trung bình là 40,2g (dao động từ 34,5 đến 50,0g)
2.2 Tỷ lệ sản lượng và số lượng các loài trong nhóm cá tạp theo tháng
giá được thành phần loài cá tạp khai thác bằng lưới kéo đáy tại Cảng cá Cát Bà
Kết quả 5 tháng thu mẫu cho thấy tháng có số lượng loài xuất hiện ít nhất là 7
loài (tháng 1), tháng nhiều nhất là 14 loài (tháng 5) Tháng 2, 3 và 4 có số lượng
loài xuất hiện lần lượt là 9, 13 và 10 loài cá tạp
Tháng 1
Kết quả tỷ lệ các loài của tháng 1 được thể hiện qua bảng 4.4 Qua bảng
4.4 cho thấy, tổng số có 7 loài cá xuất hiện
Bảng 4.4: Thành phần loài cá tạp (%) xuất hiện tháng 1 năm 2007
sản lượng
Tỷ lệ theo
số lượng