1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng của huyện kim bảng, tỉnh hà nam

174 722 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng của huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
Tác giả Nguyễn Hải Đăng
Người hướng dẫn TS. Trần Văn Đức
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo trường đạI học nông nghiệp I

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ/

đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đ/ đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Hải Đăng

Trang 3

LờI CảM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, chúng tôi đ/ nhận được sự giúp đỡ tận tình về nhiều mặt của các cá nhân và tổ chức Cho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:

- TS.Trần Văn Đức, người đ/ hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

- Ban giám hiệu trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội, khoa Sau Đại học, khoa Kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn, bộ môn Kinh tế cùng toàn thể các thày cô giáo và cán bộ công nhân viên nhà trường đ/ tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

- Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hà Nam, Uỷ ban nhân dân huyện Kim Bảng, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phòng Tài nguyên và môi trường, phòng Thống kê, l/nh đạo Uỷ ban nhân dân các x/, thị trấn và các hộ gia đình trong các vùng sản xuất đa canh, những người đ/ cung cấp số liệu, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này

- Ban l/nh đạo và các đồng nghiệp trong Chi cục Hợp tác x/ và phát triển nông thôn, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Hà Nam đ/ tạo điều kiện giúp

đỡ tôi về thời gian và vật chất trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

- Tôi xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, bạn bè, đồng nghiệp, người thân đ/ động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, ngày tháng năm 2007

Tác giả

Nguyễn Hải Đăng

Trang 4

mục lục

2.2 Cơ sở thực tiễn của hệ thống canh tác sản xuất đa canh 33

3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 53

3.2 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu đánh giá 701

4.1 Phân tích thực trạng phát triển và kết quả hiệu quả kinh tế

4.1.1 Tình hình chung về sản xuất đa canh trên đất ruộng trũng

4.1.2 Phân bố diện tích sản xuất đa canh trên địa bàn huyện Kim

4.1.3 Tình hình năng suất và sản lượng cây trồng, vật nuôi trên

4.2.2 Hiệu quả kinh tế - x/ hội và môi trường sản xuất đa canh 894.3 Kết quả và hiệu quả kinh tế của một số mô hình sản xuất đa

canh trên đất rụông trũng của huyện Kim Bảng năm 2006 90

Trang 5

4.3.1 Mô hình sản xuất đa canh của huyện Kim Bảng trên đất

4.3.2 Kết quả, hiệu quả một số mô hình sản xuất đa canh trên

4.3.3 Một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới phát triển sản xuất đa

4.4 Đánh giá chung về tiềm năng và thực trạng phát triển sản

4.4.1 Đánh giá chung về tiềm năng phát triển sản xuất đa canh 1284.4.2 Đánh giá chung về thực trạng phát triển sản xuất đa canh

4.4.3 Những lợi thế cho phát triển sản xuất đa canh của huyện 1294.4.4 Những khó khăn cho phát triển sản xuất đa canh của huyện 1294.5 Định hướng và các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả kinh

Trang 6

Danh môc ch÷ viÕt t¾t

Trang 7

Danh mục bảng

2.3 Hiệu quả sản xuất trên 1ha theo mô hình lúa - cá 413.1 Thành phần cơ học của đất đáy các thuỷ vực 57

3.3 Tình hình sử dụng đất của huyện Kim Bảng qua 3 năm (2004 - 2006) 623.4 Tình hình dân và lao động số của huyện Kim Bảng năm 2006 633.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật của huyện Kim Bảng năm 2006 653.6 Cơ cấu kinh tế của huyện Kim Bảng qua 3 năm 2004 - 2006 683.7 Số hộ điều tra ở từng x/ ở 2 vùng nghiên cứu 714.1 Tổng diện tích sản xuất đa canh của huyện qua 3 năm 774.2 Cơ cấu diện tích 1ha sản xuất đa canh ruộng trũng của huyện Kim Bảng 784.4 Diện tích, số hộ và số lao động trong sản xuất đa canh của các x/

đó hoạt động chuyên nuôi cá là hoạt động chính) ở Kim Bảng

4.11 Kết quả và hiệu quả mô hình sản xuất chuyên cá (nuôi ghép các loài cá) - cây ăn quả ngắn ngày (tính trên 1ha canh tác) năm 2006 94

Trang 8

4.12 Hiệu quả mô hình nuôi kết hợp cá - lúa - cây trên vùng ruộng

4.13 Kết quả hiệu quả mô hình nuôi thâm canh cá rôphi, cây ăn quả ngắn ngày cho1ha sản xuất trên vùng ruộng trũng huyện Kim Bảng năm 2006 994.14 Hiệu quả mô hình sản xuất đa canh nuôi kết hợp tôm càng xanh - lúa ruộng trũng - cây trên bờ của huyện Kim Bảng năm 2006 1014.15 Kết quả và hiệu quả mô hình nuôi tôm càng xanh ghép cá mè trắng

4.16 Kết quả và hiệu quả mô hình nuôi chuyên tôm càng xanh dưới

4.17 Tổng hợp kết quả và hiệu quả của các mô hình sản xuất đa canh 1074.18 Trình độ học vấn của người sản xuất đa canh, nuôi trồng thuỷ sản 1104.19 Một số chỉ tiêu kết quả hiệu quả theo cơ cấu đầu tư chi phí cho

1 ha sản sản xuất đa canh huyện Kim Bảng 1154.20 Hiệu quả kinh tế cho 1 ha nuôi cá theo mức độ hiểu biết kỹ thuật 1224.21 Tình hình công tác khuyến ngư của tỉnh Hà Nam giai đoạn 2004 - 2006 1254.22 Các chỉ tiêu kinh tế cho phát triển sản xuất đa canh huyện Kim

4.23 Định hướng quy hoạch vùng sản xuất đa canh trên đất ruộng trũng huyện Kim Bảng theo các tiểu vùng đến 2010 1334.24 Nhu cầu giống đến 2010 cho nuôi thuỷ sản trong vùng sản xuất đa

4.25 Nhu cầu thức ăn công nghiệp cho nuôi thuỷ sản trong vùng sản

4.26 Dự kiến nhu cầu vốn đầu tư phát triển cho 1 ha nuôi thuỷ sản trong vùng sản xuất đa canh huỵên Kim Bảng giai đoạn dến 2010 1394.26 Dự kiến một số chỉ tiêu về đào tạo nguồn nhân lực của huyện giai

4.27 Dự kiến một số chỉ tiêu phát triển trong vùng sản xuất đa canh

Trang 9

Danh mục biểu đồ

4.1 Diện tích đang sản xuất đa canh trên đất ruộng trũng

4.2 Giá trị sản xuất của các mô hình sản xuất đa canh 109

Danh mục sơ đồ

4.1 Hệ thống quản lý nhà nước về sản xuất đa canh của tỉnh Hà Nam 113

Trang 10

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp nước ta là ngành sản xuất quan trọng trong nền kinh tế Trong cơ cấu GDP, nông nghiệp chiếm khoảng 24% song chiếm tới 76% dân

số và khoảng 70% nguồn lao động

Nông nghiệp không chỉ cung cấp trực tiếp lương thực, thực phẩm cho

đời sống hàng ngày của con người mà còn là nguồn cung cấp nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp, chế biến nông lâm, thủy sản, đồng thời tạo ra nguồn hàng xuất khẩu, thu ngoại tệ Bên cạnh đó nông nghiệp còn có vai trò rất quan trọng trong việc sử dụng, bảo vệ, bồi dưỡng đất đai, nguồn nước cũng như trong việc cải thiện môi trường

Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá của nước ta, sản xuất nông nghiệp vẫn là một trong những nền tảng bảo đảm cho sự ổn

định và phát triển kinh tế - x/ hội Việt Nam

Sau 20 năm đổi mới sản xuất nông nghiệp nước ta đ/ có chuyển biến tích cực và đạt được những thành tựu to lớn Riêng trong việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất, nông nghiệp nước ta đ/ bứt ra khỏi tính truyền thống Sản xuất nông nghiệp đ/ bước đầu chuyển biến mạnh sang sản xuất hàng hoá, sản xuất

đa canh

Hà Nam là một tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ, diện tích đất tự nhiên 84.952ha, trong đó đất nông nghiệp là 51.529ha chiếm 62% Huyện Kim Bảng là một trong 6 huyện, thị của tỉnh Hà Nam, bao gồm 18 x/ và một thị trấn tập trung đông dân Do đặc điểm tỉnh Hà Nam là vùng chiêm trũng với khoảng gần 5.530 ha đất ruộng trũng, trong đó huyện Kim Bảng có khoảng 1.250 ha đất cấy một vụ chiêm ăn chắc, vụ mùa bấp bênh [37]

Trước nhu cầu của x/ hội và thị trường, đòi hỏi sự đa dạng hoá sản

Trang 11

phẩm nông nghiệp nên việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, vùng đất trũng sản xuất kém hiệu quả sang sản xuất đa canh hiệu quả kinh tế cao là đòi hỏi tất yếu của người dân Vì vậy muốn nâng cao hiệu quả thì chỉ bằng cách chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên ha

đất canh tác

Trong những năm qua huyện Kim Bảng đ/ và đang thực hiện các mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng để tăng giá trị sản xuất trên một ha canh tác Bước đầu thực hiện mô hình này đ/ mang lại được những thành công đáng kể, nhiều mô hình đ/ mang lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao thu nhập, tạo việc làm cho người lao động nhưng bên cạnh đó đang bộc lộ những hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện

Nhằm giúp địa phương và các nhà quản lý thấy được thế mạnh của việc thực hiện mô hình sản xuất đa canh trên đất ruộng trũng cũng như tìm ra được những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình triển khai, thực hiện mô hình để

có những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế hơn nữa trên vùng đất ruộng trũng của huyện Kim Bảng

Được sự nhất trí của Khoa Kinh tế và PTNT, Khoa sau đại học và địa phương, tôi đ/ lựa chọn đề tài: Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng của huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam 1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá đúng tiềm năng, hiệu quả kinh tế của các mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất trũng huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam nhằm nhân rộng và

đưa ra định hướng phát triển vùng ruộng trũng

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận thực tiễn về hiệu quả kinh tế sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng

Trang 12

- Đánh giá thực trạng và kết quả, hiệu quả kinh tế trong sản xuất đa canh trên địa bàn nghiên cứu

- Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của mô hình, sản xuất đa canh trên đất trũng

- Đề xuất, định hướng, giải pháp có căn cứ khoa học nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế các mô hình sản xuất đa canh trong thời gian tới

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề kinh tế - kỹ thuật liên quan đến hiệu quả kinh tế sản xuất đa canh của huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

- Các hoạt động mô hình sản xuất đa canh trên địa bàn

- Tiềm năng để phát triển mở rộng mô hình ra diện rộng

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: bao gồm các mô hình sản xuất đa canh nói chung và tiềm năng phát triển mở rộng diện tích sản xuất đa canh trên đất trũng của địa bàn nghiên cứu

- Về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Kim Bảng

- Về thời gian: Các mô hình sản xuất kinh doanh trong vùng đất ruộng trũng + Nghiên cứu hoạt động sản xuất đa canh vùng đất ruộng trũng trên địa bàn năm 2004 - 2005 và 2006

+ Đánh giá thực trạng, tiềm năng sản xuất kinh doanh của vùng sản xuất đa canh 2006

+ Định hướng phát triển diện tích sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng đến năm 2010

Trang 13

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Các khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm, quan điểm về hiệu quả kinh tế

Quan điểm chung cho rằng hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ảnh mặt chất của các hoạt động sản xuất Mục tiêu của sản xuất là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về vật chất và tinh thần của toàn x/ hội, trong khi nguồn lực sản xuất x/ hội ngày càng trở nên khan hiếm Việc nâng cao hiệu quả kinh tế ngày một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất x/ hội Mục tiêu lâu dài của người sản xuất kinh doanh là không ngừng tìm mọi biện pháp

để tối đa hoá lợi nhuận Vấn đề hiệu quả kinh tế không chỉ là mối quan tâm riêng của các nhà sản xuất mà là mối quan tâm chung của toàn x/ hội Khi bàn về hiệu quả kinh tế có nhiều quan điểm khác nhau nhưng có một số quan

điểm chủ yếu sau:

* Quan điểm 1: hiệu quả kinh tế chỉ là chỉ tiêu tổng hợp nhất về chất lực của sản xuất kinh doanh Nội dung của nó so sánh kết quả sản xuất đạt được với chi phí bỏ ra [1]

Phương pháp này có ưu điểm là phản ánh rõ nét trình độ sử dụng của nguồn lực, xem xét được một đơn vị nguồn lực đ/ sử dụng đem lại bao nhiêu kết quả, hoặc một đơn vị kết quả cần tiêu tốn bao nhiêu đơn vị nguồn lực

* Quan điểm 2: hiệu quả kinh tế trên quan điểm thị trường

Hầu hết các nguồn lực sản xuất đều thuộc dạng khan hiếm trong khi nhu cầu của con người ngày càng tăng nhanh về cả số lượng và chất lượng Do vậy vấn đề đặt ra là phải tiết kiệm nguồn lực từng bước khai thác và sử dụng các nguồn lực nói chung, trước hết mỗi quá trình sử dụng và lựa chọn đầu vào

Trang 14

tối ưu Nâng cao hiệu quả kinh tế có nghĩa là nâng cao trình độ sử dụng nguồn lực, nó có quan hệ chặt chẽ với việc tổ chức sử dụng năng lực sản xuất hiện

có Một doanh nghiệp hoạt động hiệu quả khi mức sản xuất nằm trên đường cong năng lực sản xuất Điểm có hiệu quả nhất là điểm cho phép sản xuất tối

đa các hàng hoá theo yêu cầu của thị trường và sử dụng đầy đủ hợp lý năng lực sản xuất của doanh nghiệp [1]

* Quan điểm 3: trên quan điểm của các nhà kinh tế học các doanh nghiệp tham gia thị trường đều đặt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Trong ngắn hạn, nguyên tắc chung lựa chọn sản lượng tối ưu (Q*) để đạt mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận là: MR = MC (MR là doanh thu biên, MC là chi phí cận biên) Như vậy doanh nghiệp tăng sản lượng sản xuất đến chừng nào doanh thu cận biên còn lớn hơn chi phí cận biên (MR > MC) đến khi có MR = MC thì dừng lại Tại

đây sản lượng sản xuất là sản lượng tối ưu (Q*) để tối đa hoá lợi nhuận [1]

Bên cạnh đó các tác giả có quan điểm này còn khẳng định rằng hiệu quả kinh tế không chỉ xem xét đến nội dung tiết kiệm chi phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm mà con phải xét tới khía cạnh thoả m/n nhu cầu hàng hoá và dịch vụ cho x/ hội

Như vậy hiệu quả kinh tế theo quan điểm của các nhà khoa học:

- Tất cả những quyết định sản xuất nằm trên đường cong giới hạn năng lực là có hiệu quả vì nó tận dụng hết nguồn lực của doanh nghiệp

- Sự thoả m/n tối đa về mặt hàng, số lượng, chất lượng hàng hoá theo nhu cầu của thị trường trên giới hạn của đường cong năng lực sản xuất đạt

được hiệu quả kinh tế cao nhất

- Kết quả thu được trên một đơn vị chi phí càng lớn, hoặc chi phí trên một đơn vị kết quả càng nhỏ thì hiệu quả kinh tế càng cao

Trong nền kinh tế quốc dân gồm rất nhiều doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp lựa chọn sản xuất, có hiệu quả kinh tế cao thì nền kinh tế quốc dân sẽ

đạt hiệu quả cao, tốc độ phát triển kinh tế cao và ổn định

Trang 15

Tóm lại, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của quá trình sản xuất và được thể hiện bằng việc so sánh giữa kết quả

đạt được với chi phí bỏ ra, đồng thời nó liên quan trực tiếp tới quá trình sản xuất với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác

2.1.1.2 Phân loại hiệu quả kinh tế

Để làm rõ hiệu quả kinh tế ta phân loại chúng theo những tiêu thức nhất

định như sau:

* Căn cứ theo nội dung và bản chất có thể phân thành 3 loại: Hiệu quả kinh

tế, hiệu quả x/ hội và hiệu quả môi trường Chúng có mối quan hệ qua lại tác

động lẫn nhau

- Hiệu quả kinh tế được thể hiện ở mức độ đặc trưng quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Một lượng phương án hay, một giải pháp kỹ thuật quản lý có hiệu quả kinh tế cao là phương án đạt được tương quan tương đối giữa kết quả đem lại và chi phí đầu tư Khi xác định

được hiệu quả kinh tế ta phải xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa các đại lượng tương đối và đại lượng tuyệt đối Hiệu quả kinh tế ở đây

được biểu hiện bằng tổng giá trị sản phẩm, tổng thu nhập lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, mối quan hệ đầu vào đầu ra

- Hiệu quả x/ hội là mối tương quan so sánh về mặt x/ hội như tạo công

ăn, việc làm, tạo thu nhập và đảm bảo cân bằng x/ hội trong cộng đồng, cải thiện đời sống ở nông thôn, xoá đói, giảm nghèo…

- Hiệu quả môi trường: đánh giá sự tác động cuả phương án sản xuất đến tài nguyên và môi trường sinh thái xem xét việc sử dụng tài nguyên và các ngoại ứng của hoạt động sản xuất trong mối quan hệ vừa đảm bảo nhu cầu trớc mặt mà không làm hại đến khả năng đảm bảo nhu cầu cho thế hệ tương lai [15]

Trong các loại hiệu quả được xem xét thì hiệu quả kinh tế là trọng tâm

và quyết định nhất Hiệu quả đầy đủ nhất khi có sự kết hợp hài hoà với hiệu quả x/ hội và hiệu quả môi trường

Trang 16

* Nếu căn cứ vào các yếu tố cơ bản của sản xuất và hướng tác động vào sản xuất thì có thể phân chia hiệu quả kinh tế thành các loại

- Hiệu quả sử dụng đất đai,

- Hiệu quả sử dụng vốn,

- Hiệu quả sử dụng lao động ,

- Hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên khác,

- Hiệu quả của việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật,

* Theo phạm vi và đối tượng nghiên cứu có thể chia thành các loại sau:

- Hiệu quả kinh tế quốc dân: là tính toán xem xét hiệu quả kinh tế chung cho toàn bộ nền kinh tế Dựa vào chỉ tiêu này, chúng ta đánh giá một cách toàn diện tình hình sản xuất và phát triển sản xuất của nền kinh tế, hệ thống luật pháp, chính sách của Nhà nước tác động đến phát triển kinh tế nói chung Khi đánh giá chúng ta phải đứng trên quan điểm toàn diện, nhìn nhận nền kinh tế quốc dân là một chính thể thống nhất

- Hiệu quả kinh tế ngành: trong nền kinh tế gồm nhiều ngành, lĩnh vực sản xuất Mỗi ngành lại được phân thành nhiều ngành nhỏ Trong hiệu quả kinh

tế ngành, người ra tính toán hiệu quả kinh tế riêng cho từng ngành sản xuất

- Hiệu quả kinh tế vùng là phản ánh hiệu quả kinh tế của một vùng, có thể là vùng kinh tế, vùng l/nh thổ

- Hiệu quả kinh tế theo quy mô tổ chức sản xuất có nhiều loại quy mô, quy mô lớn, quy mô nhỏ Nỗi quy mô sản xuất có ưu thế, thế mạnh riêng như quy mô lớn có nhiều ưu thế trong cạnh tranh song quy mô nhỏ lại có ưu thế là gọn nhẹ, tổ chức chặt chẽ, thoả m/n những lỗ hổng "cơ cấu thị trường"

* Khi đề cập tới hiệu quả các nguồn lực, thông thường người ta nói tới hiệu quả kinh tế và việc sử dụng các nguồn lực đó Hiệu quả sản xuất đG được nhiều nhà kinh tế bàn tới và đều thống nhất là phải phân biệt rõ 3 khái niệm cơ bản về hiệu quả [15]

Trang 17

- Hiệu quả kỹ thuật: là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên 1 chi phí

đầu vào hay nguồn lực sử dụng trong sản xuất với những điều kiện cụ thể về

kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất hiệu quả kỹ thuật thường được phản ánh trong mối quan hệ về hàm sản xuất, nó liên quan tới phương tiện vật chất của sản xuất, chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm hoặc tăng thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm

- Hiệu quả phân bổ: là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào được đưa vào tính toán, để phản ánh giá trị sản phẩm thu trên một đơn vị chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá đầu vào và giá

đầu ra Việc xác định hiệu quả phân bổ giống như xác định các điều kiện về lý thuyết biên để tối đa hoá lợi nhuận, có nghĩa là giá trị biên của sản phẩm phải bằng giá trị biên của nguồn lực sử dụng vào sản xuất

- Hiệu quả kinh tế: là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là các yếu tố hiện vật và yếu tố giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng nguồn lực Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế

Như vậy qua phân tích cách phân loại như trên chúng ta thấy rằng tuy

có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nhưng đều thống nhất ở bản chất của nó Người sản xuất muốn thu được lợi nhuận thì phải bỏ ra những chi phí nhất định như nhân lực, nguyên vật liệu, vốn…, so sánh kết quả đạt

được với chi phí bỏ ra để đạt kết quả sẽ có hiệu quả kinh tế, chênh lệch càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn

2.1.1.3 Bản chất và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế

Bản chất của hiệu quả kinh tế là sự thoả m/n mục đích của các hoạt

động sản xuất kinh doanh trong những điều kiện nhất định của đơn vị sản xuất nói riêng hay của nền kinh tế nói chung

Trang 18

Bất kỳ một quốc gia nào hay một đơn vị nào khi đi vào hoạt động sản xuất đều mong muốn với nguồn lực có hạn có thể tạo ra được lượng sản phẩm nhiều nhất, với giá trị và chất lượng cao nhất để từ đó thu được lợi nhuận lớn nhất Nâng cao hiệu quả kinh tế là cơ hội để tăng được lợi nhuận từ đó làm cơ

sở để nhà sản xuất, tích luỹ vốn và tiếp tục đầu tư tái sản xuất mở rộng, cải thiện thu nhập của người lao động

Nâng cao hiệu quả kinh tế là quá trình tất yếu của sự phát triển x/ hội, tuy nhiên ở các vị trí khác nhau thì có mục đích khác nhau Đối với người sản xuất, tăng hiệu quả chính là tăng lợi nhuận, đối với người tiêu dùng thì tăng hiệu quả chính là khi họ nâng cao được độ thoả dụng khi sử dụng hàng hoá Như vậy nâng cao hiệu quả kinh tế là làm cho cả x/ hội có lợi, bởi lẽ lợi ích của cả người sản xuất và người tiêu dùng đều được nâng lên

Tóm lại: nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng Nó giúp x/ hội sử dụng nguồn lực một cách tiết kiệm và hiệu quả, nâng cao thu nhập cho cộng đồng

2.1.1.4 Tiêu chuẩn về hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế

Để đánh giá được hiệu quả kinh tế cần dựa vào hệ thống chỉ tiêu, hệ thống chỉ tiêu đánh giá, hiệu quả kinh tế phải xuất phát từ bản chất của hiệu quả và phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Phải đảm bảo tính thống nhất về nội dung với hệ thống chỉ tiêu của nền kinh tế quốc dân nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng

- Phải đảm bảo tính toàn diện và tính hệ thống, tính toàn diện thể hiện ở chỗ phải có đầy đủ các chỉ tiêu tổng quát, chỉ tiêu bộ phận, chỉ tiêu chủ yếu, chỉ tiêu bổ sung… tính hệ thống thể hiện 3 chỗ nó phải là một bộ phận thống nhất của hệ thống chỉ tiêu cùng loại trong hệ thống chỉ tiêu của nền kinh tế quốc dân

- Phương pháp tính phải nhất quán đảm bảo có thể so sánh được hiệu quả kinh tế ở các vùng khác nhau, các hộ khác nhau và có khả năng so sánh quốc tế trong đối ngoại

Trang 19

- Hệ thống chỉ tiêu phải có tác dụng kích thích sự phát triển của sản xuất

- Phải đảm bảo tính khoa học

Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế bắt nguồn từ bản chất hiệu quả kinh tế

Đó là mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra, có thể biểu thị chỉ tiêu hiệu quả bằng sự mô phỏng tổng quát theo các công thức cơ bản sau [21]:

Công thức 1:

Hiệu quả = Kết quả thu được - Chi phí bỏ ra

Khi so sánh việc dùng số tuyệt đối là cần thiết tuy nhiên để xác định

được điểm hiệu quả nhất là bao nhiêu, hay ở điểm nào là rất khó khăn Chỉ tiêu này cho chúng ta biết được quy mô sản xuất lớn hay nhỏ nhưng lại không phản ánh được hiệu quả của một đồng vốn đầu tư Từ công thức này ta có thể

đánh giá về tổng giá trị gia tăng (VA) tổng thu nhập hỗn hợp (MI) hay l/i ròng thu được Để có sự so sánh một cách xác đáng hơn người ta thường dùng kết hợp với chỉ tiêu tương đối

Công thức 2: chỉ tiêu này cho ta biết mức độ hiệu quả của đầu tư và

được dùng khá phổ biến trong so sánh và đánh giá hiệu quả kinh tế

Kết quả thu được Hiệu quả =

Chi phí bỏ ra

Q hay H =

C Công thức này phản ánh rõ hiệu quả sử dụng các nguồn lực sản xuất Từ công thức chung này, ta có thể tính được các chỉ tiêu như: tỷ suất giá trị sản xuất tính theo tổng chi phí, theo chi phí trung gian hay chi phí một đầu vào cụ thể nào đó

Trong thực tiễn, khi đánh giá hiệu quả kinh tế người ta thường dùng kết

Trang 20

hợp cả 2 chỉ tiêu tương đối và tuyệt đối, hai chỉ tiêu này bổ sung cho nhau cho

ta đánh giá hiệu quả kinh tế một cách đầy đủ và chính xác hơn

Ngoài ra khi so sánh hiệu quả kinh tế việc đầu tư thâm canh người ta thường tính hiệu quả dựa trên tỷ lệ của chênh lệch kết quả thu được và chênh lệch chi phí bỏ ra Khi đó chỉ tiêu thường dùng như sau:

Chênh lệch kết quả thu được Hiệu quả =

Chênh lệch chi phí bỏ ra

∆Q hay H =

∆C Công thức này thể hiện rõ hơn mức độ hiệu quả của việc đầu tư thêm, hay tăng thêm chi phí Chi tiêu này thường được sử dụng để xác định hiệu quả kinh tế của đầu tư theo chiều sâu hoặc hiệu quả kinh tế của việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật

Hiệu quả = Chênh lệch kết quả thu được - Chênh lệch chi phí bỏ ra Hay H = ∆Q - ∆C

2.1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế

Theo cách tính hiệu quả kinh tế

C

Q

H = có thể nhận ra có 2 nhóm yếu tố

ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế đó là: nhóm yếu tố cấu thành và ảnh hưởng

đến tử số (Q), nhóm yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến mẫu số (C)

- Nhóm yếu tố cấu thành ảnh hưởng đến mẫu số (C)

Quá trình sản xuất là tập hợp tất cả các chi phí nguồn lực đầu vào và các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn lực đó Các chi phí cơ bản phục vụ sản xuất thường có: nguyên vật liệu, sức lao động, công nghệ và trang thiết bị Tuy nhiên chi phí cho mỗi nguồn lực lại chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều các yếu tố khác, cụ thể là:

Trang 21

+ Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí nguyên vật liệu như: giá mua, điều kiện tự nhiên của kỳ thu mua đối tượng cung cấp, hình thức vận chuyển

+ Các yếu tố ảnh hưởng đến khấu hao tài sản cố định như: mức độ hiện

đại của công nghệ, giá thành lắp đặt, thời gian sử dụng

+ Chi phí lao động phục vụ sản xuất chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: sức lao động, trình độ lao động, thị trường lao động, chiến lược đào tạo sử dụng lao động của nhà sản xuất

+ Chi phí thuế sản xuất chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: chính sách thuế của Chính phủ, mặt hàng của doanh nghiệp, thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp

+ Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng sản phẩm bao gồm điều kiện tự nhiên (đặc biệt với sản phẩm nông nghiệp), quy mô của doanh nghiệp, mức độ thuận lợi trong thu mua nguyên liệu, thị trường tiêu thụ

Như vậy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế Tuy nhiên mức độ tác động của các yếu tố này khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, chính sách phát triển kinh tế, năng lực của nhà sản xuất và lực lượng lao động, mức độ phát triển khoa học công nghệ, tập quán tiêu dùng Từ những phân tích trên, cho phép đặt ra những nhận xét về hiệu quả kinh tế

Đánh giá chính xác hiệu quả kinh tế, để nâng cao hiệu quả kinh tế là

điều kiện không dễ dàng để làm được việc đó phải đánh giá chính xác các yếu

Trang 22

tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế - các yếu tố cấu thành và tác động đến đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất

Hiệu quả kinh tế luôn biến động, chỉ thể hiện tương đối chính xác mối quan hệ giữa giá trị các yếu tố đầu vào và giá trị sản phẩm đầu ra trong một giai đoạn nhất định

Hiệu quả kinh tế luôn nằm ở một trong 3 khả năng Đó là lỗ vốn (H<1), hoà vốn (H = 1) và l/i (H > 1) mới đạt hiệu quả kinh tế Do đó bất kỳ nhà sản xuất nào cũng cố gắng tiết kiệm chi phí (áp dụng khoa học công nghệ, tăng quy mô…) áp dụng các chiến lược marketing để đẩy mạnh mục đích là đạt hiệu quả kinh tế cao

2.1.2 Những vấn đề cơ bản về sản xuất đa canh trên đất ruộng trũng

2.1.2.1 Khái niệm mô hình

Theo Dương Văn Hiểu (2001) mô hình sản xuất là hình mẫu trong sản xuất, thể hiện sự kết hợp của các nguồn lực trong điều kiện sản xuất cụ thể nhằm đạt được mục tiêu về sản phẩm và lợi ích kinh tế Mô hình sản xuất bao gồm 2 nhân tố là chủ thể sản xuất và khách thể sản xuất [21]

Trong hệ thống nông nghiệp mô hình là sự mô tả các hoạt động của hệ thống nông nghiệp Nhờ có các mô hình trong sản xuất nông nghiệp mà chúng

ta có thể mô tả được các hoạt động nông nghiệp tốt hơn, chi tiết hơn

Khi phân tích hoạt động sản xuất của hệ thống chúng ta sử dụng mô hình tổng hợp về sự vận hành của hệ thống Vì vậy khái niệm mô hình ở đây

có nghĩa là một công cụ khai thác thực tế (Legay 1986) một khung hoạt động

để mô tả hoạt động của cả hệ thống sản xuất

Hệ thống nông nghiệp là phương thức khai thác môi trường tự nhiên,

được hình thành và phát triển trong lịch sử, một hệ thống sản xuất thích ứng với điều kiện sinh thái, khí hậu trong một không gian nào đó, đáp ứng các

Trang 23

điều kiện và nhu cầu x/ hội tại một thời điểm nhất định

Hiện nay đ/ có một số mô hình hệ thống nông nghiệp Tuy nhiên tôi xin giới thiệu 3 mô hình hệ thống nông nghiệp [21], của tác giả Spedding (1979), Đào Thế Tuấn (1998) và mô hình hệ thống sản xuất của tổ chức FAO (1999)

* Mô hình hệ thống Nhà nước của Spedding, 1979

Mô hình hệ thống nông nghiệp của Spedding: Ông quan tâm nhiều đến các yếu tố môi trường tự nhiên và con người tác động đến sinh vật sơ cấp là cây trồng và sinh vật thứ cấp là vật nuôi để tạo ra sản phẩm Mô hình này không miêu tả được các yếu tố x/ hội và không phân rõ các mối quan hệ bên trong hệ thống

* Mô hình hệ thống nông nghiệp của Đào Thế Tuấn, 1989

- Mô hình hệ thống nông nghiệp của Đào Thế Tuấn cho thấy mô hình này đề cập đến các mối tương tác qua lại giữa các nhân tố trong hệ thống Qua mô tả này chúng ta thấy rằng khi dân số phát triển sẽ tạo ra một lực lượng lao

động (LLSX), lực lượng lao động này sẽ sử dụng một nguồn vốn cùng với kinh nghiệm, kiến thức khoa học kỹ thuật tác động trực tiếp vào hệ thống trồng trọt, chăn nuôi, chế biến trên một diện tích canh tác nhất định Tuy nhiên, mô hình hệ thống nông nghiệp của Đào Thế Tuấn lại không đề cập đến các yếu tố môi trường tự nhiên tác động vào hệ thống

* Mô hình hệ thống sản xuất của FAO, 1999

Mô hình hệ thống nông nghiệp của FAO, quan tâm nhiều đến các mối quan hệ về kinh tế - x/ hội có ảnh hưởng trực tiếp hoặc tác động gián tiếp vào

hệ thống sản xuất Đặc biệt đề cao đến vai trò của tác nhân ra quyết định trong

hệ thống sản xuất và hệ thống có phát triển được đến đâu thì phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố tác động từ bên ngoài của hệ thống Ban đầu là mối quan hệ của hệ thống với các hệ thống sản xuất khác trong cộng đồng địa phương, sau

Trang 24

dần hệ thống phát triển lên sẽ tiếp tục có quan hệ và chịu ảnh hưởng của các

hệ thống, tác nhân khác bên ngoài cộng đồng địa phương trong quốc gia Hay chính mối quan hệ của địa phương với bên ngoài cũng tác động lớn đến sự phát triển của hệ thống sản xuất trong vùng Mối quan hệ của hệ thống sản xuất nó không chỉ phát triển hoặc chịu sự tác động của các yếu tố khác trong một phạm vi nhất định mà nó có thể phát triển hoặc chịu sự ảnh hưởng đến cấp quốc gia và xa hơn là vươn ra quan hệ hoặc chịu ảnh hưởng của quốc tế 2.1.2.2 Khái niệm sản xuất đa canh trên đất ruộng trũng

Ta có thể hiểu khái niệm đất ruộng trũng là ruộng có địa hình rất thấp, thường bị ngập úng vào mùa mưa [7] Thành phần cơ giới đất là thịt nặng hoặc sét, mức glây mạnh Hàm lượng mùn, độ pH, hàm lượng đạm, hàm lượng P2O5trong đất thấp Để nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng vùng đất ruộng trũng cần chuyển đổi cơ cấu sản xuất sang mô hình sản xuất khác phù hợp hơn như trồng lúa, nuôi trồng thủy sản, cây ăn quả, cây ngắn ngày, trang trại

Theo Hà Học Ngô, Nguyễn ích Tân: Phát triển mô hình nông nghiệp đa canh trên vùng đất trũng đồng bằng sông Hồng là bờ bao khoanh vùng giữ nước chuyển từ độc canh 2 vụ lúa sang câý 1 vụ lúa xuân thay và vụ lúa mùa năng suất bấp bênh bằng thả cá hè thu hoặc cá hè đông ở vùng chủ động trên nước cuối vụ có thể trồng thêm 1 vụ cây trồng vụ đông để giải quyết lương thực, thức ăn gia súc Trên bờ bao trồng cây ăn quả: nh/n, vải, táo xen vào đó

là cây ngắn ngày đu đủ, chuối để tăng hiệu quả kinh tế mô hình phát triển chăn nuôi lợn, gà, vịt [22]

ở các nước trên thế giới cũng như Việt Nam, việc lựa chọn mô hình sản xuất là dựa vào vị trí địa lý, địa hình, các nguồn lực sản xuất và dựa vào nhu cầu hàng hoá thị trường mà người ta lựa chọn mô hình sản xuất cho phù hợp

Sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi ở vùng ĐBSH diễn ra mạnh mẽ, các mô hình chuyển đổi tỏ ra phù hợp và mang lại hiệu quả kinh tế khá cao [22]

Trang 25

Như vậy ta có thể hiểu khái niệm sản xuất đa canh trên đất ruộng trũng là

đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp trên diện tích canh tác để tạo ra nhiều loại sản phẩm hàng hoá nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế ở diện tích mặt nước bố trí 1 vụ lúa - 1vụ cá (tôm) và thuỷ cầm, trên diện tích bờ trồng cây ăn quả

2.1.2.3 Đặc điểm của sản xuất đa canh trên đất ruộng trũng

- Đặc điểm cơ bản của sản xuất đa canh trên đất ruộng trũng là đất úng trũng, thường chua và thường bị ngập úng, không phù hợp với phần lớn những loại cây trồng thông thường như lúa, ngô, khoai [22] Thường sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy sản kết hợp với nuôi gia cầm ở dưới nước, trên bờ là cây trồng ăn quả ngắn ngày

- Đặc điểm sản xuất đa canh là chuyển đổi hệ thống canh tác từ độc canh sang hệ thống canh tác nhiều hệ thống như: trồng trọt, chăn nuôi [22]

- Trong khi sản xuất đa canh, diện tích thùng đào và ruộng lúa chiếm

70 - 80% tổng diện tích chuyển đổi cơ cấu, diện tích bờ trồng cây + nền nhà (kho, sân phơi) chiếm 20 - 30% [27] Do diện tích mặt nước chiếm tỷ lệ lớn nên sản xuất đa canh trên đất ruộng trũng mang đặc điểm của nuôi trồng thủy sản ruộng trũng

* Đặc điểm nuôi trồng thủy sản trên đất trũng [14]; môi trường nuôi thuỷ sản khắt khe; nuôi thuỷ sản mang tính mùa vụ khác nhau giữa các loài; các loài thuỷ sản sống trong môi trường nước, có khả năng lan truyền dịch bệnh nhanh; sản phẩm thuỷ sản mau ươn thối; các loài thuỷ sản thường chịu tác động lớn của môi trường; nuôi thuỷ sản có thể thực hiện thâm canh năng suất sản phẩm; sản phẩm thủy sản có giá trị cao

2.1.2.4 Các yếu tố tác động tới phát triển sản xuất đa canh

Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới sự phát triển sản xuất đa canh mà trong

đó hoạt động nuôi trồng thuỷ sản là chủ yếu có thể phân thành 3 nhóm [43]: Nhóm1: các yếu tố về môi trường tự nhiên, bao gồm các yếu tố cơ bản sau

Trang 26

Yếu tố khí hậu: bao gồm các chỉ số về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, là những yếu tố rất quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển sản xuất đa canh, nuôi thuỷ sản, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể các đối tượng thuỷ sản nuôi

Yếu tố thuỷ văn: nguồn nước là một trong những điều kiện thiết yếu đầu tiên cho nuôi thủy sản trong sản xuất đa canh Nguồn nước đủ và không có biến

động lớn, quá cao hay quá thấp là điều kiện lý tưởng cho sản xuất đa canh

Yếu tố về thổ nhưỡng, môi trường trong sản xuất đa canh: điều kiện về thổ nhưỡng và môi trường nước là những điều kiện cơ bản cho phát triển nuôi thuỷ sản trong sản xuất đa canh Bao gồm các chỉ số chính về thành phần cơ học, thành phần hoá học các thuỷ vực, thuỷ sinh vật

Yếu tố về nguồn lợi các giống loài thuỷ sản trong sản xuất đa canh: ngày nay do sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sinh sản nhân tạo, di giống và thuần hoá giống thuỷ sản nuôi nên nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên đ/ giảm

đi phân nào vai trò quan trọng của nó Tuy nhiên đến nay nó vẫn rất có ý nghĩa trong việc duy trì sản xuất các đối tượng nuôi chưa sản xuất được giống nhân tạo, các loài nuôi đặc sản có giá trị kinh tế cao của địa phương, trong việc cấy ghép gen để tăng khả năng phù hợp với điều kiện sống của mỗi địa phương

Nhóm 2: các yếu tố kinh tế - kỹ thuật trong sản xuất đa canh

Yếu tố vốn đầu tư: là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của mọi ngành kinh tế nói chung của nuôi thủy sản nói riêng Trong công tác về vốn đầu tư thì việc bố trí cơ cấu sử dụng vốn đầu tư hợp lý

là hết sức cần thiết

Yếu tố giá thị trường: là yếu tố quyết định đến hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, cho cả các yếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra của sản xuất Chọn đối tượng nuôi, thời điểm bán được giá cao là việc làm cần thiết của người sản xuất

Yếu tố áp dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến: bao gồm các khâu, từ

Trang 27

chuẩn bị sản xuất, sản xuất, đến bảo quản và chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả sản xuất, nó ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng, chất lượng và giá thành cũng như giá bán sản phẩm

Yếu tố tổ chức sản xuất và quản lý: là yếu tố quan trọng, mặc dù chỉ có

ảnh hưởng gián tiếp đến kết quả hiệu quả sản xuất đa canh nhưng nó có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển chung của nuôi thuỷ sản trong sản xuất đa canh trên một vùng cụ thể

Nhóm 3: các yếu tố về kinh tế - xG hội trong sản xuất đa canh

Yếu tố chính sách: là yếu tố cực kỳ quan trọng, mặc dù nó cũng chỉ có

ảnh hưởng gián tiếp đến kết quả hiệu quả sản xuất nhưng các chính sách sẽ tạo

ra môi trường kinh tế, kinh tế - x/ hội thuận lợi, tạo những "cú hích" cơ bản cho phát triển sản xuất đa canh

Yếu tố nhu cầu thị trường: là yếu tốt hết sức quan trọng, việc điều tra nắm bắt được nhu cầu thị trường là việc làm hết sức cần thiết khi muốn phát triển một ngành sản xuất hàng hoá lớn

Yếu tố về trình độ của nguồn nhân lực: có ảnh hưởng nhiều đến việc tiếp thu các thông tin kinh tế, thị trường và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến… trong quá trình phát triển sản xuất đa canh

Yếu tố về mức sống và tích luỹ: có ảnh hưởng đến nhu cầu về sản phẩm nuôi thuỷ sản và mức độ đầu tư cho sản xuất đa canh, nuôi thủy sản là yếu tố cần được nghiên cứu khi xây dựng các kế hoạch phát triển

2.1.2.5 Tiềm năng phát triển sản xuất đa canh

Phát triển sản xuất đa canh cần phải có tiềm năng sau [8]:

* Tiềm năng đất đai

Đất là cội nguồn của tất cả các hoạt động của con người.Từ đất đai con người tạo ra lương thực, thực phẩm, tạo nên chỗ ở, việc làm và tạo ra các khu vui chơi giải trí

Theo đánh giá của tổ chức lương thực thế giới (FAO): "Đất đai là cội

Trang 28

nguồn dự trữ tài nguyên có giá trị nhất của con người và còn hơn thế nữa là phương tiện sống mà thiếu nó con người không thể tồn tại, duy trì và phát triển sự sống được"

Luật đất đai được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua ngày 14/7/1993 đ/ ghi rõ: "Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá, x/ hội,

an ninh - quốc phòng"

Khi đề cập đến tiềm năng phát triển sản xuất nông nghiệp, trước hết phải nói đến tiềm năng đất đai, vì đất đai là cơ sở, là tiền đề của mọi quá trình sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng Đất đai là yếu tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, nó không chỉ tham gia vào quá trình sản xuất với tư cách là một nhân tố tích cực, mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế Do diện tích đất đai là cố định mà sự gia tăng về dân số và đô thị hoá đang diễn ra mạnh, làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày một giảm Vì vậy việc sử dụng một cách đầy đủ và hợp lý đất đai là vấn đề vô cùng quan trọng Đánh giá tiềm năng của đất là xem xét tình hình sử dụng đất đai đ/ đầy đủ và hợp lý chưa, có thể nâng cao hiệu quả sử dụng đất được nữa hay không, giúp cho việc xác định

bố trí hệ thống cây trồng hợp lý, nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao

* Tiềm năng lao động

Cùng với đất đai, lao động có một vị trí quan trọng trong sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp Do vậy mà C Mác cho rằng: "Hai nguồn lao

động và đất đai làm nảy sinh ra mọi của cải vật chất"

Trong điều kiện nước ta khi nền sản xuất nông nghiệp còn lạc hậu, mức

độ cơ giới hoá chưa phát triển, lao động càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta lao động nông nghiệp chiếm hơn 70% lực

Trang 29

lượng lao động toàn x/ hội Lao động nông nghiệp còn mang tính thời vụ cao,

đây là vấn đề phức tạp trong sử dụng nguồn lao động vì lao động nông nghiệp

có thể sử dụng hầu hết ở các lứa tuổi, ở mọi trình độ, người mù chữ cũng tham gia vào sản xuất, cho nên chất lượng lao động không đồng đều Vậy vấn đề

đặt ra là làm thế nào để khai thác có hiệu quả nguồn lao động dồi dào trong nông thôn Nước ta đang trong giai đoạn đầu của triển khai công nghiệp hoá, cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu so với tình hình phát triển chung của thế giới Tiềm năng lao động trong nông thôn còn rất lớn, nhiều ngành nghề truyền thống phát triển chậm chưa thút hút được lao động Vì vậy, khai thác tiềm năng lao động trên cơ sở tạo công ăn việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng sản xuất hàng hóa, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, giảm hộ thuần nông, tăng hộ thương nghiệp và dịch vụ nhằm nâng cao hiệu quả kinh

tế, ổn định đời sống nông dân và làm cho sản xuất kinh doanh ở nông thôn phát triển năng động hơn

* Tiềm năng các yếu tố sinh thái

Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các cây trồng vật nuôi bị ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện tự nhiên, mà điều kiện tự nhiên (nguồn nước, khí hậu, thời tiết) lại diễn biến thất thường và phức tạp Các yếu tố này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng và vật nuôi Nếu điều kiện sinh thái thích hợp thì cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao Đối với mỗi vùng có điều kiện sinh thái khác nhau thì hệ thống cây trồng vật nuôi cũng khác nhau, mỗi vùng

có những cây, con đặc trưng riêng Do vậy khai thác tiềm năng sinh thái chính

là việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật để phát triển cây trồng, vật nuôi sao cho phù hợp với môi trường sinh thái của từng vùng, nhằm đạt được năng suất chất lượng sản phẩm cao

Trang 30

* Tiềm năng vốn và cơ sở hạ tầng

Khi nói đến tiềm năng sản xuất chúng ta không thể bỏ qua được vốn, vì

nó là điều kiện cho sản xuất phát triển Bất cứ một ngành nào, cơ sở nào muốn tiến hành sản xuất kinh doanh đều phải có đủ vốn Do vậy việc đầu tư vốn cho sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng và quyết định đến phát triển sản xuất Mỗi ngành cần có một lượng vốn nhất định, việc đáp ứng nhu cầu đó ảnh hưởng rất lớn đến phát triển sản xuất Việc đầu tư khai thác sử dụng vốn không chỉ về mặt số lượng mà cả về mặt chất lượng, chủng loại và thời gian cung cấp vốn

Trong sản xuất nông nghiệp vốn được hiểu là giá trị của đầu vào, đó là

điều kiện vật chất kỹ thuật cần thiết để tiến hành sản xuất kinh doanh Do đặc

điểm của sản xuất nông nghiệp thường có chu kỳ sản xuất dài nên vốn thường

ứ đọng rất lâu trong quá trình sản xuất, vòng quay của vốn chậm, việc sử dụng vốn mang tính thời vụ cao và dễ gặp rủi ro, vì sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên Vốn còn do ngành tạo ra như giống cây, con và một số loại phân bón cho nên nhiều hay ít vốn còn phụ thuộc vào chính ngành nông nghiệp Vậy, ngoài việc vay vốn của ngân hàng và những nguồn đầu tư của Chính phủ, còn có thể huy động nguồn vốn nhàn rỗi ngay trong các hộ nông dân để thúc đẩy sản xuất phát triển có ý nghĩa to lớn Khai thác tiềm năng về vốn là huy động vốn một cách hợp lý để đầu tư vào sản xuất nông nghiệp nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao

Bên cạnh đó, khai thác tiềm năng cơ sở hạ tầng cũng rất quan trọng trong quá trình sản xuất Cơ sở hạ tầng tốt sẽ là một tiềm năng lớn mà về phương diện kinh tế nếu khai thác triệt để sẽ phát huy lợi thế, hạ giá thành sản phẩm tăng sức cạnh tranh trên thị trường Trong cơ sở hạ tầng, thuỷ lợi là yếu

tố quan trọng nhất, nếu không có thuỷ lợi thì sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Thuỷ lợi phát triển là điều kiện để nâng cao năng suất cây trồng, mở mang diện tích, nâng cao mức độ thâm canh, cải tạo và tăng độ phì cho đất

Trang 31

Ngoài thuỷ lợi ra còn có giao thông, thông tin, điện cũng có tác dụng tích cực trong quá trình sản xuất nông nghiệp Giao thông tốt sẽ giảm bớt chi phí vận chuyển, việc đi lại cũng dễ dàng hơn Mạng lưới điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của người dân Thông tin cung cấp kịp thời những tin tức thị trường nhất là trong điều kiện hiện nay

*Tiềm năng thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, các cơ quan kinh tế đều thể hiện thông qua thị trường, các yếu tố cơ bản của thị trường là cung cầu và giá cả Thị trường chính là nơi quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào với số lượng bao nhiêu Nó cũng là nơi cung cấp những thông tin hết sức cần thiết cho cả người sản xuất và người tiêu dùng

Thị trường nông thôn không chỉ là thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp mà còn là nơi mua bán, trao đổi các yếu tố đầu vào như vật tư, vốn, lao động Tuy nhiên thị trường với các qui luật vốn có của nó luôn chứa

đựng các khả năng tự phát và dẫn đến rủi ro cho người sản xuất Khi thị trường được mở rộng sẽ góp phần giải quyết tốt việc cung ứng đầu vào, đầu ra,

sẽ làm thúc đẩy những tiềm năng còn đang tiềm ẩn Do đó, việc đề xuất các biện pháp tác động vào thị trường là cần thiết, giúp cho người sản xuất yên tâm hơn trong việc thực hiện quá trình sản xuất của mình

Đánh giá thị trường cần phân tích nhu cầu hay khả năng tiêu thụ đối với từng loại sản phẩm cụ thể, đồng thời phân tích khả năng cung ứng dựa vào

điều kiện sẵn có của địa phương, của vùng

Như vậy là sản xuất luôn gắn liền với thị trường C.Mac nói: "Hàng hóa

là sản phẩm sản xuất ra không phải để người sản xuất tiêu dùng mà để sản xuất bán ra thị trường"

Trong sản xuất nông nghiệp sản phẩm tươi sống, dễ hư hỏng, thường bán ngay mới có giá trị Cho nên tìm kiếm thị trường là hết sức quan trọng trong tất cả các ngành sản xuất

Trang 32

*Tiềm năng về chính sách kinh tế - xG hội

Ngoài nghiên cứu tiềm năng các yếu tố sản xuất còn một loạt các nhân

tố kinh tế khác tác động tới tổng mức cung như lợi thế do qui mô sản xuất, chất lượng lao động và khả năng tổ chức quản lý Trong nền kinh tế thị trường chính sách thể hiện sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế trên cơ sở đảm bảo các yêu cầu của thị trường để quy luật của thị trường phát huy được những tác dụng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực, nhằm mục đích tạo cho nền kinh tế phát triển Như Nhà nước đưa ra giá trần với những sản phẩm có tính độc quyền để cho người tiêu dùng không phải chịu giá quá cao Như vậy

ở một chừng mực nào đó chính sách là tiềm năng, tuy nhiên chính sách không phù hợp sẽ kìm h/m sản xuất làm cho sản xuất không phát triển

*Tiềm năng khoa học và công nghệ

Sự phát triển của khoa học và công nghệ sẽ làm cho sản xuất phát triển theo Sản phẩm của khoa học và công nghệ là các máy móc từ đơn giản đến phức tạp, các giống cây con cho năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chịu bệnh lớn Các công trình nghiên cứu khoa học đ/ đưa ra các thiết bị công nghệ ứng dụng vào thực tiễn sản xuất làm tăng năng suất cây trồng, giảm nhẹ sức lao động, nâng cao giá trị sản phẩm Điều này thấy rõ trong thực tế, trước kia sản xuất nông nghiệp chỉ có một vụ nay đ/ chuyển lên 2-3 vụ nhờ đưa giống

có thời gian sinh trưởng ngắn ngày vào sản xuất Mặt khác, sản phẩm của nông nghiệp nếu qua chế biến sẽ làm tăng giá trị lên rất nhiều

Mỗi hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra trong một phạm vi nhất định

về không gian và thời gian với sự tham gia của các yếu tố khác nhau về số lượng và chất lượng Các yếu tố này đều có hạn nên sử dụng một cách có hiệu quả và tiết kiệm, tức là sử dụng yếu tố đó một cách hợp lý cân đối giữa các nguồn lực

Trang 33

2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiêu quả kinh tế sản xuất đa canh

2.1.3.1 Nhóm các nhân tố về điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Mỗi vùng, mỗi địa phương đều có những lợi thế và hạn chế riêng về vị trí địa lý [9] Những vùng gần thị trường tiêu thụ, thuận lợi về giao thông, thuận lợi về các dịch vụ đầu vào và đầu ra cho sản xuất sẽ có thuận lợi hơn trong việc dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá gắn sản xuất với chế biến và thị trường Ngược lại, những vùng khó khăn về

điều kiện địa lý sẽ gặp nhiều khó khăn, bất cập trong quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất để dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tiến bộ

* Điều kiện sinh thái

Cây trồng, vật nuôi là những cơ thể sống có quan hệ mật thiết với điều kiện tự nhiên của từng vùng nhất định [9] Bởi vậy, người sản xuất không thể

đem những cây trồng, vật nuôi, có nguồn gốc vùng ôn đới, hàn đới chuyển sang nuôi, trồng ở vùng nhiệt đới hoặc làm ngược lại Người ta cũng không thể đem toàn bộ cây trồng thuộc vụ xuân sang trồng ở vụ mùa, không thể đem cây trồng trên cạn xuống trồng ở vùng ngập nước, không thể đem cây thuộc vùng đất thịt nặng sang trồng ở vùng đất cát pha, không thể đem cây ở vùng

đất có độ chua trung tính chuyển tới trồng ở vùng đất chua mặn, không thể

đư-a giống thủy sản vùng nước mặn vào nuôi trong hồ nước ngọt

Trong bố trí cơ cấu sản xuất nông nghiệp, người sản xuất cũng không thể không tính đến việc né tránh và chống đỡ những tác hại của úng lụt, khô hạn, giông b/o, sương muối cũng như sự phát sinh của sâu bệnh phá hoại cây trồng, vật nuôi

Ngày nay, nhờ sự phát triển mạnh của Khoa học - Kỹ thuật và công nghệ, việc ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, con người đ/ cải tạo thiên nhiên, cải thiện được điều kiện sinh

Trang 34

thái cho cây trồng vật nuôi Tuy nhiên, khả năng khống chế điều kiện sinh thái

là có giới hạn Đồng thời, việc đầu tư để đối phó với những tác hại của thiên nhiên nhằm bảo vệ sản xuất còn phải tính đến hiệu quả kinh tế, bởi vậy trong mối quan hệ đối với thiên nhiên, xu hướng hành động chủ yếu của con người

là phải biết hòa hợp với thiên nhiên, lợi dụng những mặt tính cực cũng nh biết

né tránh những tác hại của thiên nhiên để bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp

lý nhằm đạt được kết quả và hiệu quả cao nhất

* Các nguồn tài nguyên (nguồn nước, rừng, biển, khoáng sản)

Các nguồn tài nguyên được xem như là các lợi thế của từng vùng và từng tiểu vùng trong phát triển sản xuất và dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên, các nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm dần, đòi hỏi việc sắp xếp, bố trí cơ cấu sản xuất phải theo hướng tiết kiệm và bảo vệ nguồn tài nguyên để phát triển bền vững [9]

2.1.3.2 Nhóm các nhân tố về điều kiện kinh tế, xG hội

* Nhân tố thị trường

Thị trường là nhân tố ảnh hưởng rất quan trọng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp bởi vì trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của người sản xuất là tối đa hoá lợi nhuận [9] Để đạt hiệu quả kinh tế cao, người sản xuất phải nắm vững và trả lời được 3 câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? và Sản xuất cho ai?

Thị trường chịu ảnh hưởng của 3 quy luật kinh tế cơ bản: Quy luật về quan hệ cung cầu; Quy luật giá trị và Quy luật cạnh tranh Ba quy luật này luôn chi phối mọi hoạt động kinh tế - x/ hội trong điều kiện kinh tế thị trường

* Nhân tố về chất lượng nguồn nhân lực

Hiệu quả của quá trình sản xuất đa canh trong nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào phương thức kết hợp giữa yếu tố lao động sống và yếu tố về lao

động vật hoá trong quá trình tổ chức sản xuất [9] Chất lượng nguồn nhân lực

có vai trò đặc biệt quan trọng đối với tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 35

nông nghiệp Vai trò quan trọng đó thể hiện trên các mặt:

- Nhận thức và trình độ ra quyết định sản xuất của người lao động trong nền kinh tế thị trường

- Kỹ năng ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng suất của các yếu tố sản xuất trong nông nghiệp

* Nhân tố tổ chức, quản lý sản xuất

Trong nông nghiệp nói chung, sản xuất đa canh nói riêng tổ chức quản lý sản xuất là rất quan trọng, nó thúc đẩy sản xuất phát triển và làm tốc độ tăng trưởng kinh tế cao [9] Thông qua việc tổ chức dùng mọi biện pháp khoa học chính xác để đạt mục tiêu nhất định Đặc biệt trong giai đoạn đổi mới tổ chức quản lý sản xuất có nhiều thành tựu to lớn đó là làm thay đổi cơ chế sản xuất; kinh tế nông hộ được nâng lên và hình thành các vùng sản xuất tập chung, vùng chuyên môn hoá Vị trí và vai trò quan trọng của nó được thể hiện như sau:

- Tổ chức quản lý sản xuất có vai trò làm thay đổi trình độ sản xuất; tư duy, trang thiết bị, phương tiện sản xuất, dịch vụ, trình độ sử dụng nguồn nhân lực

- Nâng cao hiệu quả kinh tế, x/ hội, môi trường theo hướng phát triển bền vững

2.1.3.3 Quyết định của người sản xuất

Người sản xuất bố trí trồng những cây gì, nuôi những con gì, chủ yếu là nhằm đem lại lợi ích kinh tế cho bản thân và gia đình họ.[9]

Trong nền sản xuất nhỏ, cơ cấu sản xuất nông nghiệp có tính phổ biến của người nông dân là tập trung sản xuất các loại sản phẩm trực tiếp để giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm tại chỗ cho gia đình mình Trong trường hợp không thể sản xuất những sản phẩm đáp ứng nhu cầu thiết yếu tại chỗ thì người nông dân sẽ sản xuất những loại sản phẩm nào mà họ cho là thuận lợi nhất, có giá trị cao để bán hoặc đổi lấy lương thực, thực phẩm

Khi nền sản xuất hàng hóa đ/ hình thành và phát triển, đồng thời nhu cầu đời sống của con người ngày càng tăng lên cả về số lượng và chất lượng,

Trang 36

người nông dân không thể tồn tại được khi vẫn duy trì tái sản xuất giản đơn, thực hiện tự cung, tự cấp khép kín, người nông dân bắt buộc phải hướng ra thị trường, bố trí cơ cấu sản xuất của mình sao cho đáp ứng được những nhu cầu tiêu dùng nông sản của thị trường, từ đó thu được nhiều tiền hơn

Như vậy, cùng với sự phát triển kinh tế - x/ hội, sự quyết định bố trí cơ cấu sản xuất nông nghiệp của người nông dân từ chỗ bị động trong việc khai thác điều kiện tự nhiên, hoàn toàn phụ thuộc điều kiện tự nhiên và chỉ đơn thuần nhằm thỏa m/n trực tiếp nhu cầu lương thực, thực phẩm của gia đình mình sẽ chuyển sang chủ động hơn trong việc khai thác hợp lý điều kiện tự nhiên nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm tạo ra lượng nông sản hàng hóa ngày càng nhiều hơn, có chất lượng cao hơn để đáp ứng nhu cầu của thị trường và qua đó giành được lợi nhuận cao hơn

2.1.3.4 Trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng

Tính hoàn thiện của hệ thống cơ sở hạ tầng nói chung và hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp nói riêng cũng có ảnh hưởng nhất định

đến giá thành nông sản [9]

Hệ thống giao thông và thuỷ lợi hiện đại là điều kiện quan trọng để hiện

đại hoá ngành nông nghiệp, chuyển nông nghiệp từ sản xuất nhỏ manh mún sang sản xuất hàng hoá với quy mô lớn Chính vì thế, mặc dù chi phí đầu tư ban đầu lớn nhưng chi phí đó sẽ được giảm dần do sự gia tăng của khối lượng sản phẩm, và về lâu dài thì giá thành nông sản sẽ hạ thấp

Ngoài giao thông, thuỷ lợi thì hệ thống chợ, trung tâm thơng mại để giao dịch, buôn bán nông sản cũng ảnh hưởng đến giá thành Sự thiếu hụt của

hệ thống chợ đầu mối trong buôn bán nông sản đ/ khiến cho chi phí vận chuyển nông sản từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ rất cao vì hai lý do: một là qu/ng đường vận chuyển xa, hai là nông sản là sản phẩm dễ hư hỏng, khó bảo quản nên việc vận chuyển trong một thời gian dài trên qu/ng đường xa sẽ làm tăng tỷ lệ chi phí hao hụt

Trang 37

2.1.3.5 Nhân tố về khoa học và công nghệ

Khoa học và công nghệ ngày nay phát triển rất mạnh và đ/ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp [9] Đối với ngành nông nghiệp trước tiên nó làm tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tạo ra năng suất lao động cao, từ đó dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn

Khoa học - kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp đ/ tạo ra nhiều giống cây con có nhiều ưu thế trong việc mở rộng địa bàn thích ứng, khả năng chống chịu những bất lợi của tự nhiên thời tiết, khí hậu cũng như khả năng chống chịu sâu, bệnh cao hơn Những cây, con này còn có ưu thế trong việc rút ngắn thời gian sinh trưởng, phát triển, tạo khả năng mở rộng không gian diện tích sản xuất trong một thời gian nhất định Và quan trọng hơn cả là các giống mới có ưu thế về năng suất và chất lượng cao, tạo nên giá trị lớn trong kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất

Cũng nhờ sự phát triển không ngừng của khoa học - kỹ thuật mà hàng loạt các loại vật tư kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp được tạo ra như phân bón vô cơ, thuốc phòng trừ sâu, bệnh, chất kích thích sinh trưởng phát triển, thức ăn chăn nuôi sản xuất theo phương thức công nghiệp ; Nhiều máy móc, trang thiết bị kỹ thuật như nhà lưới, nhà kính, bể thủy canh, lò ấp trứng cùng với hệ thống thủy nông, thủy lợi ngày càng được xây dựng với quy mô rộng lớn và được hoàn thiện hơn đ/ góp phần rất lớn khắc phục và hạn chế những bất lợi của điều kiện tự nhiên; đồng thời tăng thêm những thuận lợi cho môi trường sinh trưởng, phát triển của cây trồng, vật nuôi, gia tăng địa bàn thích nghi cho cây trồng, vật nuôi cả về mặt không gian và thời gian, tạo điều kiện bố trí hệ thống cây trồng, vật nuôi phong phú hơn về chủng loại và về thời vụ Tuy nhiên, việc đưa được những tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất còn phụ thuộc vào trình độ quản lý sản xuất và lượng vốn của người nông dân cũng như tình trạng quản lý mặt bằng sản xuất, trước hết là về đất đai, nguồn nước trên một địa bàn không bị phân tán

Trang 38

2.1.3.6 Nhân tố về cơ chế chính sách

Người sản xuất không phải bao giờ cũng có toàn quyền quyết định việc bố trí cơ cấu sản xuất nông nghiệp [9] Trước thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, người nông dân thực tế chỉ có quyền quyết định bố trí cơ cấu sản xuất nông nghiệp trên đất 5% và khu vực đất ở của gia đình Hiện tại, quyền sử dụng ruộng đất và quyền chủ động bố trí sản xuất của nông dân đ/ được mở rộng, hầu hết những quy

định ngăn cấm của Nhà nước liên quan tới sản xuất nông nghiệp còn lại đều rất cần thiết nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế, x/ hội cho toàn đất nước Có thể thấy được

điều này trong việc Nhà nước nghiêm cấm trồng cây thuốc phiện và những cây gây nghiện khác, nghiêm cấm việc chuyển đất lâm nghiệp sang thành đất canh tác (nhằm bảo đảm nguồn nước, chống xói mòn đất, bảo vệ môi trường sinh thái)

Tùy theo tình hình thực tế, Nhà nước các cấp có thể có những quy định cụ thể trong việc định hướng cho nông dân bố trí cơ cấu sản xuất nhằm bảo đảm lợi ích chung, bảo đảm cả lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài

2.1.3.7 Các nhân tố khác

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như: Nguồn vốn đầu tư; Sự phát triển của các khu công nghiệp tập trung và các đô thị lớn; Quá trình đô thị hoá nông thôn; Kinh nghiệm, tập quán và truyền thống dân cư ở nông thôn; Trình độ quản lý; Những biến động về kinh tế chính trị trong khu vực [9]

2.1.4 Tác động của sản xuất đa canh trên đất trũng đến phát triển kinh tế - xK hội và môi trường

2.1.4.1 Tác động đến phát triển kinh tế - xG hội

- Sản xuất đa canh trên đất ruộng trũng có tác động rất lớn đến phong trào phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn bước đầu tạo ra được khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn cung cấp cho thị trường, tăng thu nhập cho hộ nông dân

Trang 39

- Sản xuất đa canh làm tăng hiệu quả tiềm năng kinh tế của các vùng chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ độc canh cây lúa sang đa canh, đa dạng hoá các sản phẩm nhằm làm tăng giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích

- Sự thành công của các mô hình sản xuất đa canh làm thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi trên vùng đất ruộng trũng và thúc

đẩy quá trình tích tụ ruộng đất để phát triển sản xuất nhằm làm nâng cao thu nhập kinh tế hộ, tạo ra phong trào sản xuất mới trong nông nghiệp nông thôn

- Phát triển sản xuất đa canh đ/ tạo ra phương thức sử dụng tài nguyên

đất có hiệu quả, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lao động, huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, khoa học kỹ thuật

- Sản xuất đa canh làm tăng thu nhập, tạo thêm công ăn việc làm cho lao động làm giảm thiểu các tệ nạn trong nông thôn

- Phát triển mô hình sản xuất đa canh góp phần xây dựng, củng cố, phát triển nông thôn mới và giải phóng tiềm năng kinh tế trong nông nghiệp nông thôn

- Phát triển sản xuất đa canh góp phần xoá đói giảm nghèo, đem lại cuộc sống ổn định cho gia đình Phát triển kinh tế sản xuất đa canh có tác dụng kích thích mọi người làm giàu chính đáng, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần, xây dựng lối sống và nếp sống mới cho người nông dân

Như vậy, phát triển sản xuất theo hướng đa dạng hóa sản phẩm sẽ giải phóng tiềm năng to lớn trong nông thôn, làm xuất hiện một diện mạo nông thôn mới [34]

2.1.4.2 Tác động môi trường sinh thái

- Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như hiện nay, chất thải công nghiệp ngày càng nhiều, dân số tăng nhanh, rừng bị tàn phá nghiêm trọng vv bảo vệ môi trường đ/ trở thành vấn đề toàn cầu Vì vậy phát triển kinh tế phải kết hợp với bảo vệ môi trường và đ/ trở thành một tiêu chuẩn có

Trang 40

tính nguyên tắc trong các hoạt động kinh tế hiện nay

- Phát triển sản xuất đa canh sẽ tận dụng triệt để nguồn năng lượng có tác dụng cải tạo đất, chống xói mòn, giữ nguồn nước, hạn chế gió b/o, lũ lụt gây tác hại và góp phần cải tạo điều kiện khí hậu

- Phát triển sản xuất đa canh trên ruộng trũng góp phần xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, một nền nông nghiệp sạch và bền vững [34]

2.1.4.3 Các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước liên quan đến phát triển sản xuất đa canh, nuôi trồng thuỷ sản tại Việt Nam

- Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về sử dụng đất và mặt nước, thuế, khuyến khích phát triển, kinh tế trang trại, nuôi trồng thuỷ sản,

mở rộng thị trường sản phẩm thuỷ sản, bao gồm các chính sách sau [5], [6]:

+ Nghị quyết số 03/2000/NQ - CP ngày 2/2/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại

+ Thông tư hướng dẫn số 61/2000/TT- BNN/KH ngày 6/6-2000 của Bộ Nông nghiệp & PTNT về lập quy hoạch kinh tế trang trại

+ Quyết định số 224/TTg ngày 8/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản thời kỳ 1999-2010

+ Nghị quyết số 09/2000/NQ - CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

+ Quyết định số 103/2000/QĐ - TTg ngày 25/8/2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển giống thuỷ sản

+ Nghị định số 86/2001/NĐ - CP ngày 16/11/2001 về điều kiện kinh tế các ngành nghề thuỷ sản

Ngày đăng: 03/12/2013, 12:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Thanh Bạch (2000), “ Triển vọng phát triển nuôi trồng thuỷ sản xuất khẩu ở Việt Nam”, Kinh tế phát triển, NXB Nông nghiêp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển vọng phát triển nuôi trồng thuỷ sản xuất khẩu ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Bạch
Nhà XB: NXB Nông nghiêp
Năm: 2000
9. Nguyễn Đình Chính (2004), Nghiên cứu giải pháp và đề xuất mô hình ứng dụng khoa học, công nghệ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp và đề xuất mô hình ứng dụng khoa học, công nghệ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
Tác giả: Nguyễn Đình Chính
Năm: 2004
10. Bùi Huy Cộng (1999), “Nghiên cứu kỹ thuật và hiệu quả hiệu quả kinh tế của các hình thức nuôi cá lúa ở Yên Bái, Bắc Ninh và Nam Định”, Kết quả nghiên cứu và trao đổi khoa học (1997-1998), NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kỹ thuật và hiệu quả hiệu quả kinh tế của các hình thức nuôi cá lúa ở Yên Bái, Bắc Ninh và Nam Định
Tác giả: Bùi Huy Cộng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
41. Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản - Bộ Thủy sản (2002), Dự thảo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xG hội ngành thuỷ sản đến 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xG hội ngành thuỷ sản đến 2010
Tác giả: Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản - Bộ Thủy sản
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
43. Viện Nghiên cứu Môi tr−ờng thuỷ sản I - Bộ Thuỷ sản (2000), Kết quả điều tra các yếu tố môi tr−ờng sinh thái, điều kiện kinh tế xG hội nhằm xác định cơ cấu nuôi trồng thuỷ sản hợp lý, góp phần chuyển dịch cơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra các yếu tố môi tr−ờng sinh thái, điều kiện kinh tế xG hội nhằm xác định cơ cấu nuôi trồng thuỷ sản hợp lý, góp phần chuyển dịch cơ
Tác giả: Viện Nghiên cứu Môi tr−ờng thuỷ sản I - Bộ Thuỷ sản
Năm: 2000
1. Ashaner G. (1993), Những kiến thức cơ bản về kinh tế, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
3. Bộ Thuỷ sản (2001), Báo cáo kết quả điều tra cơ bản về tiềm năng, hiện trạng, định hướng, mục tiêu, giải pháp phát triển bền vững nuôi trồng thuỷ sản, Hà Nội Khác
4. Bộ Thuỷ sản (2001), Phát triển nuôi trồng thuỷ sản bền vững góp phần xoá đói giảm nghèo - Chiến l−ợc và biện pháp triển khai, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
5. Chính phủ (2000), Nghị quyết 03/2000/NQ- CP về Kinh tế trang trại, Hà Nội Khác
6. Chính phủ (2000), Nghị quyết số 09/2000/NQ- CP về Một số chủ tr−ơng và chính sách về chuyển dịch cơ cấu và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, Hà Nội Khác
7. Đồng Trung Chính (2004), Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi trồng thuỷ sản trên đất trũng Huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh, Luận văn Thạc sỹ, Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Khác
8. Nguyễn Đình Chính (2002), Nghiên cứu chính sách hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Miền núi, Trung du phía Bắc, Đề tài Khoa học, Viện Chiến l−ợc chính sách, Bộ Nông nghiệp và PTNT Khác
11. Cục Thống kê Hà Nam (2005), Niên giám thống kê 2004, Hà Nam Khác
12. Cục Thống kê Hà Nam (2006), Niên giám thống kê 2005, Hà Nam Khác
13. Cục Thống kê Hà Nam (2007 ), Niên giám thống kê 2006, Hà Nam Khác
14. Nguyễn Kiên C−ờng (2006), Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi thuỷ sản huyện Kim Bảng-Tỉnh Hà Nam, Luận văn Thạc sỹ, Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Khác
15. Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung (1997), Giáo trình Kinh tế Nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
16. Ngô Đình Giao (1995), Kinh tế học Vi Mô, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
17. Huyện uỷ Kim Bảng (2006), Báo cáo Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Kim Bảng lần thứ XXIII năm 2006, Kim Bảng Khác
18. Huyện uỷ Kim Bảng (2006), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Kim Bảng khoá XXIII nhiệm kỳ 2005 - 2010, Kim Bảng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Tiềm năng nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam năm 1999 - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng của huyện kim bảng, tỉnh hà nam
Bảng 2.1 Tiềm năng nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam năm 1999 (Trang 46)
Bảng 2.3  Hiệu quả sản xuất trên 1ha theo mô hình lúa - cá năm 2002 - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng của huyện kim bảng, tỉnh hà nam
Bảng 2.3 Hiệu quả sản xuất trên 1ha theo mô hình lúa - cá năm 2002 (Trang 50)
Bảng 3.7  Số hộ điều tra ở từng xã ở 2 vùng nghiên cứu - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng của huyện kim bảng, tỉnh hà nam
Bảng 3.7 Số hộ điều tra ở từng xã ở 2 vùng nghiên cứu (Trang 80)
Bảng 4.1  Tổng diện tích sản xuất đa canh của huyện năm (2004 - 2006) - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng của huyện kim bảng, tỉnh hà nam
Bảng 4.1 Tổng diện tích sản xuất đa canh của huyện năm (2004 - 2006) (Trang 86)
Bảng 4.4  Diện tích, số hộ và số lao động trong sản xuất đa canh - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng của huyện kim bảng, tỉnh hà nam
Bảng 4.4 Diện tích, số hộ và số lao động trong sản xuất đa canh (Trang 89)
Bảng 4.5  Sản l−ợng sản  xuất đa canh theo đối t−ợng cây trồng, vật nuôi - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng của huyện kim bảng, tỉnh hà nam
Bảng 4.5 Sản l−ợng sản xuất đa canh theo đối t−ợng cây trồng, vật nuôi (Trang 95)
Bảng 4.9 Các mô hình sản xuất đa canh chủ yếu của Huyện năm 2006 - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng của huyện kim bảng, tỉnh hà nam
Bảng 4.9 Các mô hình sản xuất đa canh chủ yếu của Huyện năm 2006 (Trang 100)
Bảng 4.10  Tổng hợp chi phí cho 1ha đất canh tác sản xuất đa canh (trong đó hoạt - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng của huyện kim bảng, tỉnh hà nam
Bảng 4.10 Tổng hợp chi phí cho 1ha đất canh tác sản xuất đa canh (trong đó hoạt (Trang 102)
Bảng 4.12  Hiệu quả mô hình nuôi kết hợp cá - lúa - cây trên vùng ruộng trũng - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng của huyện kim bảng, tỉnh hà nam
Bảng 4.12 Hiệu quả mô hình nuôi kết hợp cá - lúa - cây trên vùng ruộng trũng (Trang 106)
Bảng 4.16  Kết quả và hiệu quả mô hình nuôi chuyên  tôm càng xanh d−ới  diện - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng của huyện kim bảng, tỉnh hà nam
Bảng 4.16 Kết quả và hiệu quả mô hình nuôi chuyên tôm càng xanh d−ới diện (Trang 114)
Bảng 4.17 Tổng hợp kết quả và hiệu quả của các mô hình sản xuất đa canh năm - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng của huyện kim bảng, tỉnh hà nam
Bảng 4.17 Tổng hợp kết quả và hiệu quả của các mô hình sản xuất đa canh năm (Trang 116)
Bảng 4.18 Trình độ học vấn của người sản xuất đa canh, nuôi trồng thuỷ sản - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng của huyện kim bảng, tỉnh hà nam
Bảng 4.18 Trình độ học vấn của người sản xuất đa canh, nuôi trồng thuỷ sản (Trang 119)
Bảng 4.22  Các chỉ tiêu kinh tế cho phát triển sản xuất đa canh - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng của huyện kim bảng, tỉnh hà nam
Bảng 4.22 Các chỉ tiêu kinh tế cho phát triển sản xuất đa canh (Trang 140)
Bảng 4.23  Định hướng quy hoạch vùng sản xuất đa canh  trên đất ruộng trũng - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng của huyện kim bảng, tỉnh hà nam
Bảng 4.23 Định hướng quy hoạch vùng sản xuất đa canh trên đất ruộng trũng (Trang 142)
Bảng 4.27  Dự kiến một số chỉ tiêu phát triển trong vùng sản xuất đa canh huyện - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất đa canh trên vùng đất ruộng trũng của huyện kim bảng, tỉnh hà nam
Bảng 4.27 Dự kiến một số chỉ tiêu phát triển trong vùng sản xuất đa canh huyện (Trang 155)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w