luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học NÔNG NGHIệP I
- -
Nguyễn thị mai thu
đánh giá tác động của chính sách giao đất nông - lâm nghiệp đến hiệu quả
sử dụng đất của hộ nông dân trên địa bàn huyện
thanh liêm - tỉnh hà nam
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ4
đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ4 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Mai Thu
Trang 3Lời cảm ơn Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đ4 nhận được sự giúp đỡ tận tình và những lời chỉ bảo chân tình của tập thể và các cá nhân trong và ngoài trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc TS Nguyễn Khắc Thời, là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa sau Đại học, Ban chủ nhiệm khoa Đất và Môi trường, tập thể giáo viên và cán bộ công nhân viên khoa
Đất và môi trường, khoa sau Đại học cùng toàn thể bạn bè và đồng nghiệp đ4 giúp tôi hoàn thành quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi chân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nam; UBND huyện Thanh Liêm; phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Thống kê huyện Thanh Liêm, UBND các x4 đ4 tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để thực hiện đề tài này
Cảm ơn gia đình, bạn bè đ4 cổ vũ, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và tựhc hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Mai Thu
Trang 4
Mục lục
gia đình và cá nhân
20
2.3.1 Tình hình thực hiện chính sách giao đất nông nghiệp cho hộ gia 20
Trang 5đình và cá nhân (theo Nghị định 64/CP)
2.3.2 Tình hình thực hiện chính sách giao đất lâm nghiệp theo Nghị
định 02/CP
23
3.3.2 Phương pháp điều tra thu thập thông tin số liệu sơ cấp 30 3.3.3 Phương pháp điều tra thu thập thông tin số liệu thứ cấp 31
4.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan môi
trường
33
4.3 Thực trạng tình hình quản lý và sử dụng đất đai huyện Thanh Liêm 49
4.3.2 Hiện trạng sử dụng đất đai huyện Thanh Liêm năm 2005 51 4.3.3 Biến động đất đai huyện Thanh Liêm giai đoạn 1995 - 2005 53 4.3.4 Nhận xét chung về việc sử dụng đất và biến động đất đai 54
Trang 64.4 Chính sách giao đất, giao rừng ở huyện Thanh Liêm - Tỉnh Hà
4.5.1 Khái quát chung về tình hình của các x4 điều tra 67
4.5.4 Tình hình chung về quản lý và sử dụng đất của các x4 trước khi
giao đất, giao rừng (năm 1995)
4.7 Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất trước và sau khi nhận đất 88 4.7.1 Tình hình sử dụng đất của các x4 trước và sau khi giao đất 88 4.7.2 Tình hình đầu tư cho sản xuất nông, lâm nghiệp sau khi nhận đất,
4.8 ý kiến của nông hộ khi thực hiện chính sách giao đất 102
Trang 74.8.2 Các quyền lợi của người sử dụng đất sau khi nhận đất 103 4.9 Những vấn đề tồn tại sau khi giao đất, giao rừng 106 4.9.1 Những vấn đề tồn tại về phía cơ quan quản lý nhà nước 106
4.10 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Danh Mục các chữ viết tắt
Trang 9Danh Mục các bảng
Bảng 4.4: Một số chỉ tiêu chính ngành trồng trọt năm 2005 huyện Thanh Liêm 46 Bảng 4.5: Hiện trạng dân số và lao động huyện Thanh Liêm năm 2005 48
Bảng 4.7: Biến động đất đai giai đoạn 1995-2005 huyện Thanh Liêm 53
Bảng 4.11 : Diện tích, cơ cấu đất đai năm 2005 của các x4 điều tra 69 Bảng 4.12: Tình hình cơ bản của các hộ điều tra và một số chỉ tiêu bình quân 71 Bảng 4.13: Diện tích, cơ cấu đất đai năm 1995 của các x4 điều tra 73 Bảng 4.14: Tình hình giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân
Bảng 4.19: Tình hình sử dụng lao động trong gia đình của các hộ điều tra 82 Bảng 4.20: So sánh một số chỉ tiêu về x4 hội ở 3 x4 điều tra trước và sau khi giao đất 84 Bảng 4.21: So sánh một số chỉ tiêu về hiệu quả quản lý sử dụng đất,
bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái
87
Bảng 4.22 : So sánh cơ cấu sử dụng các loại đất trước và sau khi giao đất, giao rừng của 89
Trang 10các x4 điều tra (năm 1995 và năm 2005)
Bảng 4.24: Số tiền đầu tư cho sản xuất nông, lâm nghiệp của các nông hộ
sau khi nhận đất nhận rừng
93
Bảng 4.25: Tình hình vay vốn ngân hàng đầu tư cho sản xuất nông, lâm nghiệp
ở 3 x4 điều tra
94
Bảng 4.27 a: So sánh hiệu quả kinh tế sử dụng đất/ ha đất nông nghiệp x4 Thanh Nghị 96 Bảng 4.27.b: So sánh hiệu quả kinh tế sử dụng đất/ ha đất nông nghiệp x4 Thanh Lưu 97 Bảng 4.27.c: So sánh hiệu quả kinh tế sử dụng đất/ ha đất nông nghiệp x4 Liêm Tiết 98 Bảng 4.28.a: So sánh hiệu quả kinh tế sử dụng đất/ha đất lâm nghiệp x4 Thanh Nghị 100 Bảng 4.28.b: So sánh hiệu quả kinh tế sử dụng đất/ ha đất lâm nghiệp x4 Thanh Lưu 101
Danh Mục các biểu đồ
Biểu đồ 4.1: Cơ cấu kinh tế và giá trị sản xuất huyện Thanh Liêm 44 Biểu đồ 4.2: Biến động đất đai giai đoạn 1995 - 2005 huyện Thanh Liêm 54
Trang 121 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
ở nước ta đất đai giữ vị trí, vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước đặc biệt là kinh tế nông nghiệp Đó là ngành kinh tế xuất hiện sớm nhất trong lịch sử phát triển của x4 hội loài người, phạm vi hoạt động của nông nghiệp rất rộng lớn… Cùng với quá trình đổi mới phát triển kinh tế của
Đảng và Nhà nước từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường
định hướng x4 hội chủ nghĩa, trong nông nghiệp kinh tế hộ gia đình được thừa nhận là một thành phần trong nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay Mặc dù kinh tế hộ gia đình không phải là kinh tế chủ đạo của Nhà nước, nhưng lại có vai trò vô cùng quan trọng vì nó đảm bảo đời sống cho các hộ nông, lâm nghiệp với
số khẩu chiếm gần 80% dân số của cả nước Kinh tế hộ gia đình còn cung cấp cho x4 hội nhiều loại nông sản hàng hoá cần thiết, đặc biệt là lúa, gạo góp phần giữ vững an ninh lương thực quốc gia và thực hiện được các mục tiêu xuất khẩu gạo của cả nước…Do tính đặc thù của đất đai có tính cố định về vị trí, không tăng về số lượng; vì vậy việc bảo vệ, quản lý và sử dụng đất đai có hiệu quả, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp đang trở thành vấn đề mang tính toàn cầu
Với mong muốn phát triển kinh tế hộ gia đình, Nhà nước giao đất sản xuất nông, lâm nghiệp cho các hộ sử dụng ổn định, lâu dài với các quyền của người sử dụng ngày càng trở nên cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn hết sức sâu sắc
Sau khi giao đất nông, lâm nghiệp cho các hộ gia đình ổn định lâu dài, kinh tế nông nghiệp nói chung và kinh tế hộ gia đình nói riêng đ4 có bước phát triển vượt bậc, góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế - x4 hội của đất nước Với tốc độ phát triển, liên tục và toàn diện trên nhiều mặt, nông nghiệp nước ta đ4 và
đang chuyển dần từ nền kinh tế tự cung, tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá, đưa
đất nước từ một nước nhập khẩu lương thực trở thành một nước xuất khẩu gạo
đứng thứ 2 trên thế giới…
Trang 13Xuất phát từ các vấn đề nêu trên, chúng tôi đ4 thực hiện đề tài: “Đánh giá tác động của chính sách giao đất nông, lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của hộ nông dân trên địa bàn huyện Thanh Liêm - Tỉnh Hà Nam ”
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
1 Nghiên cứu quá trình giao đất nông, lâm nghiệp đối với các hộ sử dụng
đất ở huyện Thanh Liêm - Tỉnh Hà Nam
2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông, lâm nghiệp của hộ nông dân sau khi thực hiện chính sách giao đất, giao rừng ở huyện Thanh Liêm - Tỉnh Hà Nam
3 Xác định 1 số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất của các hộ nông dân ở huyện Thanh Liêm - Tỉnh Hà Nam
1.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài được tiến hành trên phạm vi 3 x4 đại diện của huyện Thanh Liêm - Tỉnh Hà Nam với tổng số hộ là 150 hộ, cụ thể:
- Vùng Tây sông Đáy: chọn x4 Thanh Nghị đại diện cho vùng núi cao với cây trồng chính là cây lấy gỗ
- Vùng đồng bằng: chọn 02 x4 Thanh Lưu và Liêm Tiết làm đại diện với cây trồng chính là cây lương thực
Trang 142 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
2.1 Chính sách đất đai của một số nước châu á
2.1.1 Chính sách đất đai của Thái Lan
Tại Thái Lan sang chế độ quân chủ, luật ruộng đất được ban hành năm
1954 đ4 thúc đẩy mạnh mẽ chính sách kinh tế x4 hội của đất nước Luật ruộng
đất đ4 công nhận toàn bộ đất đai bao gồm đất khu dân cư đều có thể được mua, lậu lại từ cá thể Các chủ đất có quyền tự do chuyển nhượng, cầm cố một cách hợp pháp, từ đó Chính phủ có được toàn bộ đất trồng (có khả năng trồng trọt
được) và nhân dân đ4 trở thành người làm công trên đất ấy Tuy nhiên, trong giai
đoạn này luật ruộng đất quy định chế độ lĩnh canh ngắn, chế độ luân canh vừa Bên cạnh đó việc thu địa tô cao, dân số tăng nhanh, tình trạng thiếu thừa đất do việc phân hoá giàu nghèo, đ4 dẫn đến việc đầu tư trong nông nghiệp thấp Từ đó, năng suất cây trồng trên đất phát canh thấp hơn trên đất tự canh Bước sang năm
1974 Chính phủ Thái Lan ban hành chính sách cho thuê đất lúa, quy định rõ việc bảo vệ người làm thuê, thành lập các tổ chức người địa phương làm việc theo sự
điều hành của trại thuê mướn, Nhà nước tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển Luật cải cách ruộng đất năm 1975 quy định các điều khoản với mục tiêu biến tá điền thành chủ sở hữu ruộng đất, trực tiếp sản xuất trên đất Nhà nước quy định hạn mức đối với đất trồng trọt là 3,2 ha (50 rai), đối với đất chăn nuôi 6,4 ha (100 rai), đối với những trường hợp quá hạn mức Nhà nước tiến hành trưng thu để chuyển giao cho tá điền, với mức đền bù hợp lý [17]
Đối với đất rừng, để đối phó với vấn đề suy thoái đất, xâm lấn rừng Bắt
đầu từ năm 1979 Thái Lan thực hiện chương trình giấy chứng nhận quyền hoa lợi trong rừng dự trữ Quốc gia, theo chương trình này mỗi mảnh đất được chia làm hai miền Miền từ phía dưới nguồn nước là miền đất có thể dùng để canh tác nông nghiệp, miền ở phía trên nguồn nước thì lại hạn chế và giữ rừng, còn miền
đất phù hợp cho canh tác nhưng mà trước đây những người dân đ4 chiếm dụng (dưới 2,5 ha) thì được cấp cho người dân một giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi Đến năm 1976 đ4 có 600126 hộ nông dân có đất được cấp giấy chứng nhận
Trang 15quyền hưởng hoa lợi Cùng với chương trình này, đến năm 1975 Cục Lâm Nghiệp Hoàng Gia Thái Lan đ4 thực hiện chương trình làng lâm nghiệp nhằm giải quyết chương trình này đ4 thành lập được 98 làng lâm nghiệp với 1 triệu hộ gia đình tham gia
Chương trình làng lâm nghiệp được quy định một cách chặt chẽ, mỗi hộ gia đình trong làng được cấp từ 2 - 4 ha đất và được hưởng quyền sử dụng, thừa
kế, nhưng không được bán, mua hay chuyển nhượng diện tích đất đó Quá trình sản xuất của làng được sự hỗ trợ của Nhà nước về điều kiện cơ sở hạ tầng, tiếp thị và đào tạo nghề Đi cùng với chương trình này là việc thành lập các hợp tác x4 nông, lâm nghiệp hoạt động dưới sự bảo trợ của ban chỉ đạo HTX, Cục Lâm Nghiệp Hoàng Gia sẽ ký hợp đồng giao đất dài hạn cho các HTX yêu cầu và thành lập nhóm chuyên gia đánh giá hiệu quả đầu tư trên đất được giao đó Thái Lan tiến hành giao được trên 200.000 ha đất gắn liền với rừng cho cộng đồng dân cư sống gần rừng, diện tích mỗi hộ gia đình được nhận trồng rừng từ 0.8 đến
8 ha [4]
Bước sang thời kỳ những năm 1990, Chính phủ Thái Lan tiếp tục chính sách ruộng đất theo dự án mới Trên cơ sở đánh giá, xem xét khả năng của nông dân nghèo, giải quyết khâu cung cầu về ruộng đất theo hướng sản xuất hàng hoá
và giải quyết việc làm Dự án này có sự thoả thuận giữa Chính phủ, chủ đất và nông dân giới đầu tư nhằm chia sẻ quyền lợi trong giới kinh doanh và người sử dụng đất Theo dự án này Chính phủ giúp đỡ tiền mua đất, mặt khác khuyến khích đầu tư trong sản xuất nông nghiệp, giải quyết việc làm cho nông dân nghèo [17]
2.1.2 Chính sách đất đai ở Trung Quốc [17]
Những thành quả về kinh tế x4 hội, bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác và sử dụng đất đai, tài nguyên rừng ở Trung Quốc được điều chỉnh bởi hàng loạt các văn bản chính sách pháp luật đất đai nhằm quản lý có hiệu quả Do vậy, trong thời gian qua quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp ở Trung Quốc đ4 đạt
được những kết quả đáng ghi nhận
Đất canh tác được Nhà nước bảo hộ đặc biệt, khống chế nghiêm ngặt việc chuyển đổi mục đích nông nghiệp sang đất khác Mỗi hộ nông dân chỉ được
Trang 16dùng một nơi làm đất ở với diện tích giới hạn trong định mức quy định tại địa phương Đất thuộc sở hữu tập thể thì không được chuyển nhượng, cho thuê vào mục đích phi nông nghiệp Đối với đất lâm nghiệp trước những năm 1970, Chính phủ Trung Quốc đ4 chỉ đạo nông dân trồng cây bằng biện pháp hành chính, nên hiệu quả trồng rừng thấp, chưa có sự phối kết hợp giữa lợi ích cộng đồng với lợi ích của người dân Để khắc phục tồn tại đó bước sang giai đoạn cải cách nền kinh tế, Chính phủ Trung Quốc đ4 quan tâm khuyển khích hỗ trợ nông dân kinh doanh lâm nghiệp phát triển, bên cạnh đó coi trọng vấn đề bảo vệ rừng Hiến pháp đ4 quy định phải tổ chức thuyết phục nhân dân trồng cây bảo vệ rừng Kể
từ năm 1984 Luật lâm nghiệp quy định:”…xây dựng rừng, lấy phát triển rừng làm cơ sở, phát triển mạnh mẽ việc trồng cây mở rộng phong trào bảo vệ rừng, kết hợp khai thác trồng rừng…” Từ đó ở Trung Quốc toàn x4 hội tham gia công tác lâm nghiệp, Chính phủ chỉ đạo cán bộ có trách nhiệm l4nh đạo, chỉ đạo mỗi cấp hoàn thành nhiệm vụ, quá trình thực hiện chính sách này sẽ có thưởng, phạt nghiêm minh
Giai đoạn từ năm 1979 - 1992 Trung Quốc đ4 ban hành 26 văn bản liên quan đến công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng Đầu năm 1980 Trung Quốc ban hành Nghị định về vấn đề bảo vệ tài nguyên rừng, một trong những điểm nổi bật của Nghị định này là thực hiện chủ trương giao cho chính quyền các cấp từ
TW đến cấp tỉnh huyện, tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền chủ đất rừng cho tất cả các chủ rừng từ những tập thể và tư nhân Luật lâm nghiệp đ4 xác lập các quyền của người sử dụng đất (chủ đất) quyền được hưởng hoa lợi trên đất mình trồng, quyền không được phép xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp và lợi ích của chủ rừng, chủ đất rừng Nếu tập thể hay cá nhân hợp đồng trồng rừng trên đất đồi trọc của Nhà nước hay của tập thể, cây đó thuộc về chủ cho hợp đồng và được xử
lý theo hợp đồng
Bên cạnh đó quá trình quy hoạch đất nông, lâm nghiệp, chăn nuôi bảo vệ nguồn nước, nhằm sử dụng đất có hiệu quả ở miền núi được Chính phủ Trung Quốc quan tâm từng bước đưa sản xuất nông, lâm nghiệp vào hệ thống phát triển nông thôn để tăng trưởng kinh tế, loại bỏ nghèo nàn cho nhân dân, đặc biệt ở vùng núi
Trang 17Trung quốc đ4 thực hiện chính sách phát triển trại rừng, kinh doanh đa dạng, sau khi thực hiện cấp GCNQSDĐ từ đó các trại rừng kinh doanh hình thành bước đầu đ4 có hiệu qủa Lúc đó ngành lâm nghiệp được coi như công nghiệp có chu kỳ dài nên được Nhà nước đầu tư hỗ trợ: Vốn, khoa học kỹ thuật, tư vấn xây dựng các loại rừng, hỗ trợ dự án chống cát bay Mỗi năm Chính phủ trích 10% kinh phí để đầu tư cho quá trình khai khẩn đất phát triển nông, lâm nghiệp, hỗ trợ các hộ nông dân nghèo, quy định trích 20% tiền bán sản phẩm lại
để làm vốn phát triển nông, lâm nghiệp
2.1.3 Chính sách đất đai của Inđônêxia [8], [4]
Nét đặc biệt trong chính sách đất đai của Inđônêxia là Nhà nước quy định mỗi hộ nông dân ở gần rừng được nhận khoán 2500m2 đất để trồng cây, hai năm
đầu được phép trồng cây nông nghiệp trên diện tích đó và được quyền hưởng toàn bộ sản phẩm, không phải nộp thuế Quá trình sản xuất của nông dân được
sự hỗ trợ giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật dưới hình thức cho vay, còn phân bón và thuốc bảo vệ thực vật chỉ phải trả 70%, nếu mất mùa thì không phải trả vốn vay đó [8] Bên cạnh đó, thông qua các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm Nhà nước còn tổ chức hướng dẫn kỹ thuật, tập huấn làm nghề cho người dân, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng tại nơi họ sinh sống Từ đó, việc quản lý rừng
và đất rừng Inđônêxia bước đầu đ4 thu được những kết quả đáng kể
2.1.4 Chính sách đất đai của Nhật Bản [1]
- Tháng 12 năm 1945 Nhật Bản đ4 ban hành luật cải cách ruộng đất và tiến hành cải cách ruộng đất lần thứ nhất với nội dung:
+ Xác lập quyền sở hữu ruộng đất của nông dân
+ Buộc địa chủ chuyển nhượng ruộng đất nếu có trên 5 ha
+ Địa tô phải thanh toán bằng tiền mặt
- Những vấn đề trọng yếu về ruộng đất được giải quyết qua cuộc cải cách ruộng đất lần thứ hai với nội dung:
+ Thực hiện chuyển nhượng quyền sở hữu ruộng đất thuộc thẩm quyền của Chính phủ
+ Xác lập quyền sở hữu ruộng đất của nông dân nhằm giảm địa tô
Trang 18+ Nhà nước đứng ra mua và bán đất phát canh của địa chủ nếu vượt quá 1
ha Ngay cả với tầng lớp phú nông nếu sử dụng đất không hợp lý, Nhà nước cũng trưng thu một phần
Kết quả cải cách ruộng đất đ4 làm thay đổi quan hệ sở hữu, kết cấu sở hữu ruộng đất ở nông thôn Nhật Bản [1]
2.1.5 Chính sách đất đai của Philippin
Chính sách lâm nghiệp x4 hội “Institutional Social Forestry Program” (ISFP) năm 1980 của Chính phủ nhằm dân chủ hoá việc sử dụng đất rừng công cộng và khuyển khích việc phân chia một cách hợp lý các lợi ích của rừng Thực hiện chương trình này nhằm nâng cao điều kiện kinh tế x4 hội của những người sống trong rừng và các cộng đồng lâm nghiệp sống phụ thuộc vào đất rừng, đồng thời giúp cho việc phát triển và bảo vệ tài nguyên rừng
Chương trình đ4 đề cập nhiều vấn đề, trong đó có chứng chỉ hợp đồng quản lý và bản thoả thuận quản lý lâm nghiệp x4 hội: bộ phận lâm nghiệp x4 hội chịu trách nhiệm xử lý và phát hành chứng chỉ hợp đồng quản lý (Certificates for Stewardship Contracts (CSC)) và bản thoả thuận quản lý lâm nghiệp x4 hội
“Community Forestry Stewardship Agreements” (CFSA)
Giấy chứng chỉ CSC do Chính phủ cấp cho người dân sống trên đất rừng
đ4 có đủ tư cách pháp nhân được hưởng các thành quả trên mảnh đất đó Chứng chỉ CSC cho phép sử dụng diện tích đang ở hay đang canh tác nhưng không quá
7 ha Đơn xin chứng chỉ CSC được nộp và lưu trữ tại văn phòng cấp huyện được
uỷ quyền cấp các CSC với diện tích từ 5-7 ha, còn trên 7 ha do Tổng giám đốc văn phòng phát triển lâm nghiệp cấp
Khác với các giấy chứng chỉ CSC, bản thoả thuận lâm nghiệp x4 hội (CFSA) là một hợp đồng giữa Chính phủ và một cộng đồng hay một hội lâm nghiệp kể cả các nhóm bộ lạc Sự khác nhau cơ bản giữa CSC và CFSA là: CFSA
đất không được hưởng cho cá nhân mà chỉ giao cho cộng đồng hay hiệp hội và các thành viên của nó với sự thoả thuận trước để sử dụng trên phạm vi một x4 Diện tích giữa các x4 cũng khác nhau và các đơn vị xin CFSA thường phải nộp
và lưu trữ tại văn phòng phát triển lâm nghiệp cấp huyện nhưng phải được ban thư ký Vụ tài nguyên thiên nhiên duyệt Các đơn xin CFSA đều được xử lý theo
Trang 19từng trường hợp và xem xét khả năng của cộng đồng hay hiệp hội đối với sự phát triển của cả vùng CSC và CFSA có giá trị 25 năm và có thể gia hạn thêm 25 năm nữa Những người giữ CSC và CFSA đều có trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ trong khu vực thực hiện dự án ISFP (Comunities and Forest Management in Southeast Area 1997) [7]
2.1.6 Nhận xét và đánh giá chung
- Nhìn chung các chủ trương chính sách về đất đai của các nước châu á
đều hướng tới mục đích xác lập quyền sở hữu hoặc sử dụng đất cho người sử dụng đất [21]
- Nhiều nước đ4 có chính sách hỗ trợ cho những người dân sống bằng nghề nông có đất sản xuất
- Việc thực hiện các quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình ở các nước cũng phải tuân theo quy định của Nhà nước
- Vấn đề nổi lên là diện tích đất nông nghiệp chỉ có hạn, trong khi đó dân
số lại tăng nhanh, ở các nước đang phát triển, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người quá thấp, chỉ từ 0,01 đến 0,3 ha Vì vậy, nhiều nước đ4 có chủ trương hạn chế quy mô quá lớn của các trang trại, nhằm khắc phục mâu thuẫn trong x4 hội [15]
2.2 Chính sách giao đất, giao rừng ở Việt nam qua các thời kỳ
2.2.1 Giai đoạn sau khi giành được độc lập đến hoàn thành cải cách ruộng đất ở miền Bắc
Trong điều kiện cách mạng tháng 8 mới thành công chính quyền cách mạng còn non trẻ, thù trong giặc ngoài có âm mưu phá hoại, lật đổ chính quyền cách mạng Đảng ta chủ trương từng bước giảm bớt sự bóc lột của giai cấp địa chủ, phú nông đối với nông dân nhằm nâng cao thu nhập cho nông dân, để động viên nhân dân phát triển sản xuất phục vụ kháng chiến Chính sách đất đai của Nhà nước ta trong giai đoạn này hướng tới mục đích cải cách ruộng đất để phân phối lại ruộng đất cho nông dân lao động
- Tháng 1 năm 1948 tại hội nghị TW mở rộng lần thứ II, lần đầu tiên Đảng
Trang 20ta đưa ra một cách có hệ thống chính sách ruộng đất trong kháng chiến, làm cơ
sở hình thành luật cải cách ruộng đất sau này
- Ngày 11 tháng 7 năm 1949, Chính phủ ban hành sắc lệnh 78/SL về giảm tô thay thế cho thông tư của Bộ nội vụ năm 1945 Sắc lệnh này quy định giảm 25 %
so với địa tô trước cách mạng tháng 8, xoá bỏ tô phụ, thủ tiêu chế độ tá điền và lập hội đồng giảm tô ở cấp tỉnh để xét xử tranh kiện về giảm tô, đến tháng 5 năm
1952 đ4 có 147.690 mẫu ruộng được giảm tô 25 %
- Ngày 5 tháng 3 năm 1952, Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về sử dụng công điền, công thổ nhằm đảm bảo chia cấp ruộng đất một cách công bằng và có lợi cho người nghèo Đến năm 1953 ruộng đất công ở 3035 x4 ở miền Bắc đ4 chia cho nông dân là 184871 ha, chiếm 77% tổng công điền ở các x4
- Tháng 1 năm 1953 TW Đảng họp hội nghị lần thứ IV quyết định: “Tiêu diệt chế độ sở hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của bọn đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến sở hữu ruộng đất của địa chủ Việt Nam và ngoại kiều, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân”
Nội dung Luật cải cách ruộng đất năm 1953 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ban hành ngày 19 tháng 12 năm 1953 bao gồm 38 điều Mục
đích chính của luật này là: “Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ” Những quy định của luật cải cách ruộng đất nhằm thiết lập chế độ sở hữu ruộng đất, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất công, nông nghiệp phát triển Mặt khác cải thiện đời sống nông dân, hoàn thành giải phóng dân tộc củng cố chế độ dân chủ nhân dân, phát triển công cuộc kiến quốc Luật cải cách ruộng đất quy định: tịch thu, trưng thu đất của địa chủ, phú nông, các nguyên tắc và phương pháp phân chia ruộng đất cho nông dân lao động (bần nông, cố nông), để thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng” Do điều kiện đất nước còn khó khăn nên Đảng đ4 chỉ đạo thận trọng từng bước thực hiện cải cánh ruộng đất: Thí điểm trong phạm vi 6 x4 thuộc huyện
Đại Từ - Thái Nguyên (từ ngày 25/12/1953 đến 30/2/1954) Trên cơ sở đó rút kinh nghiệm thực hiện cải cách ruộng đất ở 47 x4 thuộc tỉnh Thái Nguyên và 6 x4
Trang 21Đảng ta chỉ đạo thực hiện giảm tô (tháng 4 năm 1954) và thực hiện cải cách ruộng đất vùng tự do
Sau khi thực hiện cải cách ruộng đất, trên toàn miền Bắc chế độ sở hữu ruộng đất của thực dân và phong kiến đ4 chuyển thành chế độ sở hữu ruộng đất cá thể của nông dân [16] Trong 3 năm (1955 - 1957), quyền sử dụng và sở hữu ruộng đất được bảo đảm bằng pháp luật, hàng loạt các chính sách mới khuyến khích sản xuất nông, lâm nghiệp phát triển Từ đó, có 85 % diện tích đất bỏ hoang vì chiến tranh ở miền Bắc đ4 được khôi phục hoá, sản lượng cây trồng vật nuôi tăng lên, đời sống nhân dân được cải thiện hơn
2.2.2 Giai đoạn từ sau cải cách ruộng đất đến năm 1980
Để thực hiện xây dựng miền Bắc đi lên CNXH và thống nhất đất nước, bảo
vệ thành quả cách mạng đ4 mang lại cho nhân dân miền Bắc, Đảng ta chủ trương
đưa nhân dân vào làm ăn tập thể, đồng thời thành lập các trạm trại nông nghiệp, các Nông trường Quốc doanh và HTX, xây dựng vùng kinh tế mới nông, lâm nghiệp, tổ chức định canh, định cư cho đồng bào dân tộc miền núi vùng cao Chính sách giao đất trong giai đoạn này được thể hiện rõ nét qua các văn bản sau:
- Thông báo số 18/TB - TW ngày 23/10/1968 của Ban bí thư TW Đảng đ4 đề cập đến vấn đề: “Nhà nước cần giao cho HTX sử dụng một số đất hoang hoặc rừng cây để kinh doanh nghề rừng, HTX được hưởng lợi tuỳ theo công sức bỏ ra”
- Thực hiện chủ trương đó, ngày 12/11/1968, Hội đồng Chính Phủ ban hành quyết định 179/CP nhằm: “Đẩy mạnh trồng rừng, bảo vệ rừng và giao đất lâm nghiệp cho HTX kinh doanh”
- Ngày 3/10/1979, Hội đồng Chính phủ ban hành quyết định số 272/CP quy
định “chính sách đối với HTX mở rộng diện tích sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, xây dựng vùng kinh tế mới, thực hiện chương trình định canh định cư”
Trong giai đoạn này hầu hết ruộng đất của x4 viên được đưa vào HTX để thống nhất sử dụng, hàng năm x4 viên được hưởng một phần hoa lợi tính trên số ruộng đất mà họ góp vào HTX Tuy nhiên, mỗi x4 viên được phép để lại một phần diện tích đất để trồng rau, trồng cây ăn quả, chăn nuôi Nhưng không vượt
Trang 22quá 5% diện tích bình quân của mỗi người trong x4 Khi đ4 chia xong rồi là ổn
định, số người giảm trong hộ không phải trả ra, số người tăng không được chia thêm Năm 1959 Nhà nước ban hành “Điều lệ mẫu HTX sản xuất nông nghiệp” Khi HTX đ4 phát triển đến bậc cao thì x4 viên không được nhận hoa lợi ruộng đất nữa Những chủ trương đó một số tỉnh đ4 có biện pháp tích cực tăng cường chỉ
đạo các HTX tập trung sản xuất kinh doanh nghề rừng như giao chính thức chỉ tiêu pháp lệnh cho các huyện, chỉ đạo các HTX sản xuất nghề rừng hoặc hợp
đồng làm khoán cho Nhà nước Ra các nghị quyết chuyên đề về lâm nghiệp quy
định một số vấn đề về tổ chức quản lý và chế độ chính sách đối với HTX kinh doanh nghề rừng, xác định loại hình HTX, tập đoàn sản xuất lâm nông hay nông lâm Trong giai đoạn 1968 đến 1980 đ4 giao được 2.500.000 ha đất cho 3.998 HTX và tập đoàn sản xuất [2]
Do không giống nhau về trình độ quản lý, điều kiện kinh doanh nghề rừng,
sự quan tâm chỉ đạo không thống nhất (nơi tốt, nơi xấu), nên trong giai đoạn này
đ4 hình thành ba loại hình HTX sau [9]
- Loại hình HTX đ4 thực sự đưa rừng và đất rừng vào sản xuất dạng tự kinh doanh, loại hình này đ4 thực sự coi trọng nghề rừng, có đầu tư thích đáng cho nghề rừng như (phân bón, giống cây trồng, lao động ) Song loại hình này còn quá ít như ở Quảng Ninh có 28/98 HTX, ở Lạng Sơn có 29/200 HTX được giao
đất triển khai
- Loại hình HTX được giao đất, giao rừng nhưng vì nhiều lý do chưa đảm bảo tự doanh nên vẫn hợp đồng làm khoán trồng rừng hoặc khai thác lâm sản cho Lâm trường Quốc doanh trên diện tích rừng và đất rừng được giao
- Loại hình HTX tuy nhận đất, nhận rừng nhưng chưa đưa vào sản xuất kinh doanh, do nhiều nguyên nhân: phải tập trung lao động sản xuất lương thực, hoặc phương hướng trồng rừng và kinh doanh lâm nghiệp chưa rõ ràng, chưa có vốn hỗ trợ, trình độ quản lý còn hạn chế
Trong thời kỳ này ở miền Bắc hình thành 3 hình thức sở hữu ruộng đất được Hiến pháp năm 1959 khẳng định: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư
Trang 23nhân ở miền Nam sau khi thắng lợi 30/4/1975 Đảng và Nhà nước ta đ4 có chủ trương cải tạo XHCN, từng bước đưa nông dân vào làm ăn tập thể, từ hình thức tập đoàn sản xuất đến HTX, phát triển nhất là từ Bình Thuận trở ra Tuy nhiên, do những hạn chế của các HTX miền Bắc nên việc xây dựng và hình thành các HTX
ở miền Nam gặp nhiều khó khăn [20]
Chính sách giao đất trong giai đoạn này mang đặc trưng chủ yếu là:
- Duy trì 3 hình thức sở hữu về đất đai (sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân) Sở hữu toàn dân và tập thể có xu thế ngày càng mở rộng, sở hữu tư nhân có chiều hướng thu hẹp dần
- ý nghĩa khẩu hiệu “người cày có ruộng” bị mờ nhạt dần vì người nông dân trực tiếp làm ruộng đ4 từng bước gián tiếp quản lý ruộng đất theo xu hướng phát triển từ HTX bậc thấp lên bậc cao, cuối cùng chỉ thực sự làm chủ mảnh đất 5% của mình
- Chính sách ruộng đất và thực hiện HTX nông nghiệp tuy có làm cho sản xuất chậm phát triển nhưng thuận lợi cho việc động viên sức người, sức của cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
2.2.3 Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1986
Đây là giai đoạn Nhà nước ta tiến hành cải cách nền kinh tế đất nước bằng các hình thức như: Cải tiến việc quản lý các HTX nhằm đảm bảo việc phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế, bên cạnh đó thực hiện hình thức khoán sản phẩm đến nhóm người lao động nhằm phát huy tích cực vai trò năng lực của người lao động
Đối với sản xuất nông nghiệp: Tại hội nghị lần thứ I của Ban Chấp hành TW
Đảng tháng 12/1980 đ4 quyết định: “Mở rộng việc thực hiện và hoàn thiện các hình thức khoán sản phẩm trong nông nghiệp” Chỉ thị 100-CT/TW ngày 13/01/1981 của BCHTW Đảng đ4 chỉ rõ nguyên tắc khoán với nội dung khoán ba khâu gồm: khoán chi phí, khoán công điểm và khoán sản phẩm
Đối với sản xuất lâm nghiệp: Hội đồng Bộ Trưởng đ4 ban hành quyết định
Trang 24184 - HĐBT ngày 6/11/1982: về việc "Đẩy mạnh giao đất lâm nghiệp cho tập thể
và cá nhân trồng cây gây rừng trước hết tập trung giao đất đồi núi trọc, rừng nghèo và rừng chưa giao cho lâm trường”
Nét mới của quyết định này là đ4 mở rộng đối tượng giao đất bao gồm (HTX, tập đoàn, hộ nông dân, cơ quan, xí nghiệp, trường học, quân đội) Quá trình thực hiện quyết định 184/CP giao khoán rừng cho các tổ chức, hộ nông dân
đ4 chú ý đến việc tạo động lực kinh tế cho tập thể và cá nhân sản xuất kinh doanh rừng phát triển Diện tích đất và rừng giao cho tập thể kinh doanh không hạn chế,
đối với cá nhân mỗi hộ gia đình ở miền núi được cấp từ 2000 - 2500 m2 cho mỗi lao động để làm vườn rừng, ngoài ra có thể nhận khoán đất trống đồi núi trọc để trồng rừng theo quy hoạch
Quá trình triển khai thực hiện quyết định trên ở một số địa phương đ4 tiến hành giao đất, giao rừng cho HTX và nhân dân kinh doanh Nhưng chưa nhận thức đúng tầm quan trọng, mặt khác chưa có kinh nghiệm chỉ đạo cụ thể, bên cạnh đó một số cán bộ và người dân còn nặng cơ chế bao cấp
Tổng hợp kết quả giao đất, giao rừng trong thời kỳ từ năm 1968 đến năm 1986: đ4 giao được 4.443.830 ha (rừng và đất rừng) cho 5.722 HTX, 2271 cơ quan đơn vị trường học và 770.750 hộ gia đình [2]
2.2.4 Giai đoạn từ thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay
Quá trình thực hiện quyết định 184/CP giao khoán rừng cho các tổ chức,
hộ nông dân không phát huy được hiệu quả cao Do đó, ngày 12/11/1993 BCHTW Đảng ra chỉ thị 29-CT/TW về đẩy mạnh giao đất, giao rừng xây dựng rừng và tổ chức kinh doanh theo phương thức nông lâm kết hợp Chỉ thị này đ4 xác định rõ giao đất, giao rừng gắn liền với việc tổ chức bảo vệ và kinh doanh rừng, sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống, đồi núi trọc theo phương thức nông lâm kết hợp Gắn trách nhiệm cụ thể cho từng người sử dụng đất, coi đây là một cuộc vận động cách mạng mang nội dung kinh tế chính trị sâu sắc
Nghị quyết đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986 là điểm mốc quan trọng để bước sang một giai đoạn mới xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập
Trang 25trung quan liêu bao cấp, chuyển sang xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Từ đó, công tác quản lý và sử dụng đất được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hơn trước Nhiều chủ trương, chính sách đất đai được bàn hành để điều chỉnh quan hệ sở hữu và sử dụng đất đai một cách hoàn thiện hơn Nhằm khai thác tốt tiềm năng, giá trị của đất, nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường Hàng loạt các văn bản luật và dưới luật thuộc thẩm quyền Quốc hội (các
bộ Luật), UBTVQH (các Pháp lệnh, Nghị quyết), Chính phủ (các Nghị định, Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định ), các Bộ, Ngành TW (các Thông tư, Chỉ thị, Quyết
định ), các Tỉnh, Thành phố trực thuộc TW (Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định )
đ4 được soạn thảo và ban hành liên quan tới lĩnh vực quản lý đất đai như: giao
đất, giao rừng và cấp GCNQSDĐ, giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp
đất đai, di dân, di chuyển lao động, định canh định cư, khai hoang đất để sản xuất lương thực, trồng rừng bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái
Các chính sách của Đảng và Nhà nước đ4 trực tiếp hoặc gián tiếp tác động mạnh mẽ đến quá trình sử dụng đất trong phạm vi cả nước, theo từng vùng, từng khu vực hay cục bộ theo từng địa phương Dưới sự điều tiết và khuyến khích của các chính sách đ4 tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng đất
đai ngày càng có hiệu quả cao hơn, góp phần phát triển kinh tế - x4 hội, bảo vệ tốt tài nguyên và môi trường
Quá trình thực hiện chính sách giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài theo Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993, chính sách giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp theo Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994, Nghị định 163/CP ngày 16/11/1999, chính sách giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp Nhà nước theo Nghị định số 01/CP ngày 04/01/1995 Đ4 đáp ứng yêu cầu quản lý và sử dụng đất phù hợp với ý chí nguyện vọng của toàn dân, tạo nên động lực mạnh mẽ khơi dậy tiềm năng đất đai, lao động, vật tư, tiền vốn trong nhân dân cũng như
Trang 26của các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế đặc biệt là trong nông nghiệp và nông thôn của nước ta
Tại hội nghị TW Đảng lần thứ 6 tháng 9/1988 Bộ chính trị đ4 thông qua nghị quyết 10-NQ\TW “về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp’’, khắc phục những hạn chế của chỉ thị 100-CT/TW ngày 13/1/1981 Bên cạnh đó TW Đảng
đ4 chỉ đạo đẩy nhanh quá trình sản xuất phải giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất nhằm khai thác hợp lý tính năng lao động, đất đai, tăng nhanh sản lượng nông sản hàng hoá, lấy hộ x4 viên làm đơn vị kinh tế tự chủ [7] Quá trình thực hiện Nghị quyết 10- NQ/TW của Bộ chính trị đ4 tạo nên động lực thúc đẩy quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp phát triển, đặt nền móng cho chính sách đổi mới toàn diện trong nông nghiệp cũng như trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Luật bảo vệ và phát triển rừng được ban hành ngày 19/8/1991 đ4 quy định Nhà nước giao rừng, đất trồng rừng cho tổ chức và cá nhân để phát triển và sử dụng rừng ổn định lâu dài theo quy hoạch và kế hoạch của Nhà nước Quyết định 327/CT ngày 15/9/1992 của chủ tịch HĐBT (gọi tắt là chương trình 327) quy định một số chủ trương chính sách sử dụng đất trống đồi núi trọc, rừng b4i bồi ven biển
và vùng mặt nước [4] Đ4 tạo ra cơ hội điều kiện để phát triển tài nguyên rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc ở khu vực miền núi và ven biển, việc thực hiện nhiệm vụ phát triển hệ thống nông, lâm nghiệp, khôi phục lại môi trường sinh thái nâng cao đời sống đảm bảo an ninh chính trị khu vực miền núi, mặt khác chương trình đ4 có tác dụng điều chỉnh lại lao động dân cư giữa các vùng
Ngày 14/7/1993 Luật Đất đai sửa đổi được Quốc hội khoá IX thông qua và có hiệu lực ngày 15/10/1993 đánh dấu kết quả một quá trình nghiên cứu, vận dụng thực tiễn để thể chế hoá chính sách mới về đất đai, vừa bảo đảm phát huy quan hệ sở hữu toàn dân, vừa phù hợp với cách vận hành của một nền kinh tế hàng hoá, bắt đầu tiếp cận với nền kinh tế thị trường
Qua quá trình thực hiện Luật Đất đai năm 1993, cùng với sự biến động thay đổi phát triển của nền kinh tế đất nước đòi hỏi những yêu cầu mới về chính sách đất đai Luật Đất đai năm 1993 đ4 có một số điểm không đáp ứng những yêu cầu đó Do vậy,
Trang 27năm 1998, năm 2001, năm 2003 Luật Đất đai được sửa đổi một số điều quan trọng để
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế x4 hội trong thời đại mới như; phân cấp thẩm quyền quản lý đất đai, thực hiện chủ trương giao đất nông lâm cho hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích nông, lâm nghiệp theo Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 về giao đất nông nghiệp, Nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 về giao đất lâm nghiệp
2.2.4.1 Những quy định về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân
sử dụng ổn định lâu dài theo Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993
Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ quy định rõ việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và làm muối, bao gồm những nội dung sau: [5]
- Đối tượng được giao đất: Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp lao động nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối mà nguồn sống chủ yếu là thu nhập có được từ các hoạt động sản xuất đó, thì được Nhà nước giao đất trong hạn mức để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối không thu tiền sử dụng đất Nhân khẩu được giao đất nông nghiệp là nhân khẩu nông nghiệp thường trú tại địa phương, kể cả người đang làm nghĩa vụ quân sự
- Quỹ đất nông nghiệp để giao: Đất nông nghiệp đang sử dụng được giao hết cho
hộ gia đình, cá nhân trừ đất đ4 giao cho các tổ chức, đất dùng cho nhu cầu công ích của x4 Đất trống đồi núi trọc, đất hoang hoá được xác định để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối, cũng được giao cho hộ gia đình cá nhân sản xuất
- Nguyên tắc giao đất: Quá trình thực hiện chính sách giao đất phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
+ Bảo đảm sự đoàn kết, ổn định nông thôn, thúc đẩy sản xuất phát triển, bên cạnh đó phải bảo đảm cho các đối tượng được giao đất (người làm nông nghiệp, nuôi trông thuỷ sản) có đất để sản xuất
+ Người được giao đất phải sử dụng đất đúng mục đích trong thời hạn được giao, bảo vệ cải tạo, bồi bổ và sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý để tăng khả năng sinh lợi của
đất, phải chấp hành đúng pháp luật đất đai
Trang 28+ Giao đất cho hộ gia đình cá nhân là giao chính thức và được cấp GCNQSDĐ
- Hạn mức đất được giao:
+ Đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm: Các tỉnh Đông Nam bộ và
đồng bằng Sông Cửu Long hạn mức giao đất không quá 3 ha, các tỉnh và thành phố trực thuộc TW khác không quá 2 ha
+ Đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm: Các x4 đồng bằng không quá
20 ha, các x4 trung du miền núi không quá 30 ha
+ Đối với đất trống đồi núi trọc, đất khai hoang lấn biển thì hạn mức đất giao cho
hộ gia đình, cá nhân sử dụng do UBND cấp tỉnh quyết định căn cứ vào quỹ đất của từng địa phương và khả năng sản xuất của họ trên tinh thần bảo đảm chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để sử dụng đất này vào sản xuất nông nghiệp
1.2.4.2 Những quy định về giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài theo Nghị định số 02/ CP ngày 11/01/1994 của Chính phủ Nghị định 02/CP ngày 11/01/1994 của Chính phủ quy định rõ việc giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất lâm nghiệp bao gồm những nội dung sau: [6]
- Đối tượng được giao đất, cho thuê: Các tổ chức, hộ gia đình cư trú tại địa phương được Uỷ ban nhân dân cấp x4 xác nhận và các cá nhân có nhu cầu sử dụng
đất tại địa phương Những nơi có tập quán sống cộng đồng, suy tôn già làng, trưởng bản đại diện cho cộng đồng, họ tộc những vùng núi cao thì đất lâm nghiệp sẽ được
Trang 29giao cho già làng trưởng bản
- Căn cứ để giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp: Quỹ đất lâm nghiệp của từng địa phương; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đ4 được phê duyệt; hiện trạng quản lý sử dụng đất lâm nghiệp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; hạn mức đất giao, cho thuê đất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật và nhu cầu sử dụng đất lâm nghiệp của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân
- Quỹ đất lâm nghiệp để giao ổn định lâu dài: Toàn bộ đất có rừng tự nhiên, đất
có rừng trồng và đất chưa có rừng đ4 được quy hoạch để trồng cây gây rừng, khoanh nuôi bảo vệ thảm thực vật, không phân biệt độ dốc được tính vào quỹ đất lâm nghiệp
để giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài
Nhà nước giao cho các tổ chức quản lý và sử dụng ổn định lâu dài các loại đất lâm nghiệp là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn xung yếu và rất xung yếu Rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu và các loại rừng phòng hộ khác tập trung, xa khu dân cư Đất lâm nghiệp là rừng sản xuất tập trung, xa khu dân cư, đất lâm nghiệp
dự trữ quốc gia
+ Nhà nước giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, đất lâm nghiệp có rừng tự nhiên, rừng trồng, đất để trồng rừng mà hộ gia đình, cá nhân trực tiếp quản lý sử dụng hợp pháp, do Nhà nước có thẩm quyền đ4 giao trong những năm trước đây Đất có rừng hoặc chưa có rừng thuộc rừng phòng hộ đầu nguồn
ít xung yếu, rừng chắn gió, chắn cát, chắn sóng lấn biển đ4 ổn định, rừng sản xuất nằm xen kẽ trong các khu dân cư, đất chưa có rừng của rừng bảo vệ môi trường sinh thái
+ Nhà nước giao cho các chi cục kiểm lâm trực tiếp quản lý các vùng đất lâm nghiệp chưa giao cho các chủ cụ thể
- Thời hạn giao đất lâm nghiệp: Các tổ chức của Nhà nước, thời hạn giao được quy định theo kế hoạch sử dụng đất của Nhà nước Tổ chức khác, hộ gia đình, cá nhân
là 50 năm, hết thời hạn quy định nếu người sử dụng đất vẫn có nhu cầu và sử dụng đất
đúng mục đích thì được Nhà nước giao tiếp đất đó để sử dụng
- Hạn mức đất được giao: Căn cứ vào quỹ đất lâm nghiệp của từng địa phương,
Trang 30trên cơ sở quy hoạch đ4 được phê duyệt, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể hạn mức đất lâm nghiệp được giao cho các đối tượng dựa trên nguyên tắc mọi tổ chức, hộ gia đình cá nhân có nhu cầu và khả năng sử dụng đất lâm nghiệp hoặc theo nhiệm vụ được giao quản lý của các dự án Đảm bảo các đối tượng sử dụng đất lâm nghiệp có hiệu quả cao nhất
- Khoán đất lâm nghiệp sử dụng vào mục đích lâm nghiệp
+ Đối tượng được giao khoán đất sử dụng vào mục đích lâm nghiệp là tổ chức
được Nhà nước giao đất lâm nghiệp sử dụng vào mục đích lâm nghiệp có quyền giao khoán đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đang làm việc cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân cư trú tại địa phương được UBND cấp x4 xác nhận, tổ chức hộ gia đình cá nhân ở địa phương khác có vốn đầu tư và sản xuất theo quy hoạch của các đơn vị giao khoán
+ Căn cứ để giao khoán là quỹ đất lâm nghiệp đ4 được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao cho các đơn vị khoán Dự án khả thi dự án đầu tư hoặc dự
án đầu tư đ4 được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Vốn lao động của bên nhận khoán, các chính sách đầu tư hỗ trợ vốn của Nhà nước và các chính sách lao
động x4 hội khác có liên quan
+ Nguyên tắc giao khoán và nhận khoán: Bảo đảm lợi ích của bên giao khoán bên nhận khoán Khoán ổn định, lâu dài theo quy hoạch và dự án khả thi hoặc dự án
đầu tư Giao khoán đất gắn liền với cây trồng, vật nuôi và các giá trị tài sản khác trên
đất, việc giao nhận khoán phải thông qua hợp đồng
+ Thời hạn giao khoán đất lâm nghiệp: Rừng phòng hộ và rừng đặc dụng là 50 năm, rừng sản xuất tuỳ theo chu kỳ kinh doanh
+ Nội dung giao khoán đất lâm nghiệp: Rừng phòng hộ, nội dung giao khoán gồm: Khoán bảo vệ rừng, khoán khoanh nuôi, tái sinh rừng, khoán trồng rừng mới theo quy hoạch Nhà nước cấp kinh phí hàng năm để trả cho bên nhận khoán Rừng sản xuất, đất đang có rừng tự nhiên thì khoán bảo vệ, khoanh nuôi phục hồi Đất đang
có rừng trồng, nếu đất chưa có rừng thì khoán đất để người nhận khoán tự bỏ vốn để trồng rừng, khi khai thác phải bán sản phẩm theo hợp đồng, nếu Nhà nước đầu tư vốn,
Trang 31bên nhận khoán phải hoàn trả vốn và bán sản phẩm cho bên giao khoán
Tóm lại: Các chủ trương chính sách giao đất nông, lâm nghiệp trên nhằm thực hiện quan điểm đường lối của Đảng là: Bảo đảm cho người sản xuất nông, lâm nghiệp
có đất để sản xuất, từng bước cũng cố quan hệ sản xuất mới ở nông thôn Là cơ sở để
hộ gia đình, cá nhân yên tâm đầu tư nâng cao hiệu quả kinh tế trong việc sử dụng đất, tạo ra động lực thúc đẩy nền sản xuất nông, lâm nghiệp phát triển
2.3 Tình hình thực hiện chính sách giao đất nông, lâm nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân
2.3.1 Tình hình thực hiện chính sách giao đất nông nghiệp cho hộ gia
đình và cá nhân (theo Nghị định 64/CP)
Đất nông nghiệp gắn bó mật thiết với đời sống kinh tế - x4 hội của trên 12,2 triệu
hộ nông dân sống bằng sản xuất nông nghiệp ở nông thôn và có tầm quan trọng hàng
đầu trong phát triển kinh tế - x4 hội của đất nước Thực hiện chính sách này, Nhà nước sẽ thống nhất được việc quản lý mọi hình thức sử dụng và quá trình vận động của quan hệ đất đai trong nông nghiệp, xoá bỏ tình trạng vô chủ trong quản lý sử dụng đất, mặt khác quy định rõ các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, nhằm mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững, sử dụng đất có hiệu quả
2.3.1.1 Kết quả triển khai thực hiện chính sách giao đất nông nghiệp
Trong khi thực hiện chính sách giao đất nông nghiệp các địa phương tuỳ vào
điều kiện tình hình thực tế cụ thể của địa phương mình để lựa chọn phương pháp thích hợp tiến hành giao đất cho hộ gia đình và cá nhân, đảm bảo được yêu cầu vừa ổn
định, vừa phát triển sản xuất:
- ở các tỉnh, thành phố phía Bắc (trừ một số tỉnh miền núi và vùng Duyên hải miền trung, phần lớn đều kế thừa những kết quả giao khoán đất cho hộ nông dân trong thời kỳ thực hiện Nghị Quyết 10 của Bộ chính trị, cách giao khoán này cũng phù hợp với tinh thần giao đất theo Nghị định 64/CP, trên cơ sở đó, các địa phương đ4 công bố thời hạn sử dụng đất và quyền lợi, nghĩa vụ của người sử dụng đất mà không phải điều chỉnh nhiều
- Các tỉnh Miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Nam Bộ trong quá trình giải quyết
Trang 32các tranh chấp nội bộ như "đòi lại đất cũ”, “đất ông cha”, đ4 tổ chức cho các hộ nông dân thương lượng dưới sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, nên khi thực hiện Nghị định 64/CP chủ yếu là căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất để công nhận và cấp giấy chứng nhận đến từng hộ gia đình
Trong thực tế triển khai của các địa phương, việc xác định đối tượng được giao là một vấn đề phức tạp Các địa phương đ4 căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng x4, định hướng giải quyết cụ thể đối với từng loại đối tượng, tổ chức cho dân tham gia bàn bạc dân chủ, quyết định cuối cùng đó là nghị quyết của Đại hội x4 viên hoặc Hội đồng nhân dân cấp x4 Với cách làm như vậy được nhân dân đồng tình, ủng hộ, vì quyền lợi
và nghĩa vụ của người dân được tuyên bố một cách dứt khoát
Đến nay, kết quả đ4 có trên 8.000 x4 tiến hành giao đất nông nghiệp để sử dụng
ổn định lâu dài cho gần 10 triệu hộ nông dân (chiếm khoảng 80 % tổng số hộ) với 45.946.000 nhân khẩu Trong gần 8,27 triệu ha đất nông nghiệp hiện có của cả nước, diện tích đ4 giao trực tiếp cho các hộ gia đình, cá nhân quản lý sử dụng là 7,15 triệu
ha (bằng 86,5%) Chỉ có khoảng trên 1 triệu ha được giao hoặc cho thuê theo các đối tượng khác như [14], [18]
- Giao cho các tổ chức kinh tế 712.710 ha (8,6%)
- Cho nước ngoài và liên doanh với nước ngoài thuê 4.997 ha (0,1%)
- UBND x4 quản lý sử dụng 313.835 ha (3,8%)
- Các đối tượng khác sử dụng 86.280 ha (1,0%)
Tính đến tháng 6/1998 có 6.428 x4, phường, thị trấn triển khai cấp GCNQSDĐ, chiếm 62% số đơn vị x4, cho 7.203.455 hộ, chiếm 63% tổng số hộ nông dân, diện tích đất được cấp giấy chứng nhận là 4.183.871 ha gần 60% tổng diện tích
đất nông nghiệp ở khu vực nông thôn Một số tỉnh đ4 cơ bản hoàn thành việc cấp GCNQSDĐ (đạt trên 90% tổng số hộ nông nghiệp) như: Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Bình, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Đà Nẵng, Bình Thuận, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang và Bạc Liêu
Trang 332.3.1.2 Tác động của chính sách đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và
đời sống của xJ hội
Dưới tác động của chính sách cùng với cách làm và bước đi thích hợp, nên phần lớn đất nông nghiệp đ4 được giao ổn định, lâu dài cho hộ gia đình và cá nhân, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, khuyến khích các thành phần kinh
tế đặc biệt là nông dân phát huy cao độ tiềm năng của đất đai đưa lại hiệu quả kinh tế cao, đời sống x4 hội được cải thiện, nạn đói triền miên ở các vùng nông thôn cơ bản
được đẩy lùi, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường
Thực tế cho thấy, tình hình kinh tế x4 hội nông thôn trong thời kỳ 1993 - 2003
có nhiều khởi sắc và phát triển nhiều mặt: tốc độ tăng trưởng nông nghiệp tính theo GDP bình quân năm tăng lên, trồng trọt và chăn nuôi đều phát triển theo xu hướng đa dạng hoá sản phẩm, tăng hiệu quả sử dụng đất đai và lao động; sản lượng lương thực tăng nhanh và ổn định, năm sau cao hơn năm trước, bình quân lương thực đầu người liên tục tăng Từ một nước thiếu lương thực, đến nay không chỉ đủ ăn mà còn xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới [19] Cây công nghiệp, cây ăn quả, rau đậu đều phát triển khá, trong trồng trọt đ4 thực hiện phương châm "đất nào cây ấy" để tăng hiệu quả, bình quân diện tích, năng suất các loại cây trồng sau khi giao đất tăng lên rất lớn so với trước khi giao đất chăn nuôi phát triển cả về trâu, bò, lợn và gia cầm
Khi lương thực, thực phẩm được đầy đủ thì nạn phá rừng cũng dần dần được
đẩy lùi, việc trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc và trồng rừng phân tán trong khu dân cư được quan tâm và ngày càng phát triển Vì đất nông nghiệp được giao một lần cho nhiều năm sau, nên có tác động tích cực tới việc điều chỉnh dân số, góp phần làm giảm áp lực về gia tăng dân số lên tài nguyên đất đai Các gia đình trẻ đều khẳng
định họ không muốn có đông con, vì không còn đất dự trữ để chia lần nữa Tất cả những điều đó nói lên rằng chính sách giao đất nông nghiệp đến tận tay người nông dân là sự đổi mới tích cực, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế x4 hội, góp phần bảo vệ môi trường bền vững cho tương lai
2.3.1.3 Những hạn chế và tồn tại của chính sách giao đất nông nghiệp Giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân để sử dụng ổn định lâu dài là
Trang 34một chủ trương lớn, hệ trọng và được các cấp chính quyền địa phương triển khai khá khẩn trương trong những năm qua Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là việc cấp GCNQSDĐ còn quá chậm do tính phức tạp của công tác này (để có hồ sơ sử dụng
đất đến từng chủ sử dụng cần điều tra, đo đạc lập bản đồ địa chính, phân hạng đất,
đăng ký đất đai, xác định quyền sử dụng đất hợp pháp cho từng người trên từng thửa
đất), từ đó người sử dụng đất thiếu cơ sở pháp lý để thực hiện 5 quyền sử dụng đất, gây ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả sử dụng đất cũng như hiệu quả của sản xuất
Về mặt định lượng, việc giao đất nông nghiệp cũng gần giống như “khoán 10”
đất được phân định theo bình quân nhân khẩu, về chất lượng được phân ra rất nhiều mảnh nhỏ để giao, có tốt có xấu, có xa có gần Điều này thoả m4n được ý nguyện công bằng vào lúc các hộ nông dân còn nghèo như nhau, nhưng nếu không có cách tổ chức tốt sẽ làm cho ruộng đất trở nên manh mún, hết sức khó khăn cho tổ chức sản xuất và quản lý đất Tình trạng ruộng đất manh mún thể hiện rõ nhất ở các vùng đồng bằng Bắc Bộ, Khu Bốn cũ, Trung Du Miền Núi, Duyên Hải Miền Trung
Hiện nay cả nước có khoảng hơn 100 triệu thửa đất, một tỉnh như Vĩnh Phúc (cũ) có 1.835 nghìn thửa, thường một huyện với 28 - 30 x4 chuyên sản xuất lúa cũng
có tới 700 - 800 nghìn thửa đất Số thửa nhiều nhất ở một hộ thường 13 - 30 thửa ở các vùng Khu Bốn cũ, cá biệt có hộ có tới 40 thửa đất ở nhiều xứ đồng và ngay trên một xứ đồng, một hộ cũng có nhiều thửa [13], [14]
Tình trạng ruộng đất quá manh mún, phân tán này gây khó khăn cho việc lập
hồ sơ Địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, là yếu tố cản trở mạnh nhất
đối với chủ trương đầu tư thâm canh trong sản xuất nông nghiệp Vì vậy, trước khi giao đất cần tiến hành làm quy hoạch đất đai gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế
để giành lại quỹ đất công ích phù hợp, thực hiện việc chuyển đổi ruộng đất nhằm hạn chế sự manh mún và phân tán
Trong quá trình thực hiện, một số tỉnh đ4 có giải pháp thích hợp như Hà Tây,
Hà Bắc khi thực hiện giao đất, đ4 có chủ trương phát động phong trào tự chuyển đổi ruộng giữa các hộ nông dân để giải quyết tình trạng manh mún, phân tán Tỉnh Ninh Bình, Nam Định và thành phố Hải Phòng đ4 gắn việc giao đất theo Nghị định 64/CP
Trang 35với khắc phục sự manh mún đất đai Sau đó, các tỉnh Thanh Hoá, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc thực hiện việc chuyển đổi ruộng đất để hình thành các ô thửa lớn đến nay
đ4 có 8 tỉnh, thành phố; 54 huyện, thị x4; 488 x4 phường, thị trấn thực hiện việc chuyển đổi ruộng đất Đây là giải pháp tích cực cần được nghiên cứu thận trọng nhằm tránh những bất lợi phát sinh và đề ra cánh tiến hành hợp lý để nhân rộng trong toàn quốc
2.3.2 Tình hình thực hiện chính sách giao đất lâm nghiệp theo Nghị định 02/CP
Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994 xác định rõ 3 đối tượng được giao đất lâm nghiệp gồm: tổ chức, hộ gia đình và cá nhân Khác với đất nông nghiệp, việc xác định
đối tượng được giao đất lâm nghiệp ở từng địa phương là hoàn toàn phụ thuộc vào mục đích sử dụng rừng đ4 được quy hoạch
2.3.2.1 Kết quả thực hiện chính sách giao đất lâm nghiệp
Đất lâm nghiệp có rừng của cả nước năm 1997 là 11.520.527 ha, trong đó đất rừng tự nhiên 9.984.204 ha, đất rừng trồng 1.536.323 ha Phân theo tính năng: rừng sản xuất 6.631.075 ha, rừng phòng hộ 3.971.585 ha và rừng đặc dụng 917.867 ha
Tính đến nay cả nước đ4 giao và cho thuê 10.002.748 ha đất lâm nghiệp có rừng (đạt 86,83% diện tích), trong đó giao cho các đối tượng như sau [2], [10]
- Giao được 4.462.322 ha (chiếm 44,61% diện tích đ4 giao và cho thuê) cho
412 đơn vị quốc doanh
- Giao được 632.396 ha (6,32% diện tích) cho 1677 đơn vị ngoài Quốc doanh
- Giao được 1.326.830 ha (13,27% diện tích) cho 334.466 hộ gia đình
- Giao được 37.024 ha (0,37% diện tích) cho các tổ chức nước ngoài và liên doanh với nước ngoài thuê sử dụng
- Giao cho UBND x4 quản lý sử dụng 3.026.813 ha (30,26% diện tích)
- Giao cho các đối tượng khác sử dụng là 517.364 ha (5,17% diện tích)
Còn lại 1.517.779 ha (chiếm 13,17%) diện tích đất lâm nghiệp có rừng chưa
được giao và cho thuê
Trên diện tích đất lâm nghiệp của cả nước hiện nay có 87 khu rừng đặc dụng,
Trang 36chủ yếu là đất có rừng Tổ chức quốc doanh mới chỉ quản lý được 22 khu rừng phòng
hộ, với 6 triệu ha trong đó có 2,5 triệu ha đất có rừng và 3,5 triệu ha đất chưa có rừng Nhà nước mới trực tiếp quản lý được 11 triệu ha đất rừng sản xuất gồm 6 triệu ha đất
có rừng và 5 triệu ha đất chưa thành rừng, các lâm trường trực tiếp quản lý 4,5 triệu ha
đất có rừng sản xuất
Qua khảo sát thực tế trong nhiều năm trước đây cho thấy, chỉ có khoảng hơn 30% diện tích được giao là sử dụng có hiệu quả, trong đó: trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ 1,5 triệu ha; làm vườn rừng, trại rừng 0,5 triệu ha; số còn lại vẫn bỏ hoang hoá qua nhiều thời kỳ Cơ chế mới hiện nay trong giao đất lâm nghiệp là gắn giao đất cho từng đối tượng với mục đích sử dụng từng loại rừng, phối hợp chặt chẽ giữa giao đất làm lâm nghiệp với việc khoán, bảo vệ tu bổ, chăm sóc rừng cho từng hộ gia đình, cá nhân đ4 được xác định tại Nghị định 02/CP là hợp lý và như vậy sẽ tạo điều kiện thực hiện tốt cho việc bảo vệ và phát triển rừng trên diện rộng
* Việc giao đất rừng trồng: Rừng trồng được chia thành 2 loại (rừng cộng đồng
và rừng gia đình) Rừng cộng đồng do HTX trồng và quản lý chiếm chủ yếu Khi giao loại rừng này thường gặp nhiều khó khăn, không thể giải quyết đồng nhất, các x4 hầu như không muốn giao diện tích này vì nhiều lý do Có những diện tích là vành đai an toàn cần giữ với sự quản lý của cộng đồng, nếu không sẽ bị chặt phá nhanh chóng Nhiều x4 muốn giữ bằng được rừng cộng đồng như tài sản chung vì đ4 bỏ vốn lớn vào
đó Trong trường hợp bất đắc dĩ phải giao, thì HTX đặt giá cao mà người dân thường không chấp nhận được Một số nơi, HTX chặt hết rừng, bán cây rồi mới giao đất trống Trong khi đó, nếu tiếp tục duy trì rừng cộng đồng lại là gánh nặng vượt quá khả năng thực tế của HTX [11]
* Việc giao đất rừng tự nhiên: ở cấp cơ sở (cấp x4), rừng tự nhiên bao gồm tất cả các loại hình không phải rừng trồng Phần lớn là rừng thứ sinh nghèo kiệt do lâm trường giao lại và HTX khai thác lâu năm Việc giao diện tích này đang gặp khó khăn vì nhiều lẽ: diện tích này nằm xa khu dân cư, thiếu điều kiện tối thiểu cho cuộc sống của người dân (giao thông, nước sinh hoạt, an ninh trật tự ) Vấn đề bảo vệ và khai thác đòi hỏi đầu tư vượt quá sức dân nên ít ai muốn nhận
Cũng như đối với rừng trồng của cộng đồng, cấp x4 lúng túng do dự trong việc
Trang 37giao diện tích này, ở những nơi mà HTX và chính quyền mạnh thì rừng còn duy trì
được Song nhiều địa phương đều không dám khẳng định họ có thể giữ được bao lâu nữa, nếu không nhận được kinh phí của TW cũng như địa phương, mặc dù đ4 có chính sách được quy định thành văn bản Đặc biệt, ở các x4 mà HTX chỉ tồn tại một cách hình thức hoặc kiểm lâm bị tê liệt, thì rừng tự nhiên trở thành nơi công cộng tự
do chặt phá làm nương rẫy
* Đất trống đồi núi trọc: Hiện nay còn có khoảng 9 triệu ha đất trống, đồi núi trọc nằm rải rác trên toàn bộ l4nh thổ Việt Nam, tập trung ở miền Bắc (4 triệu ha), Tây Nguyên (2 triệu ha) và miền Đông, Tây Nam Bộ (2 triệu ha) Có thể quy hoạch
sử dụng vào mục đích lâm nghiệp Loại đất này bao gồm diện tích đất đồi núi trọc bỏ hoá hoặc để hoang hoàn toàn Sau nhiều chu kỳ quảng canh đất đ4 bị thoái hoá nặng, không còn thích hợp cho trồng cây hàng năm Có thể phân thành 3 loại hình theo khả năng khai thác đưa vào sử dụng:
- Đất có khả năng nông lâm kết hợp, phân bố ở chân đồi, địa hình bằng phẳng, thoải hoặc lượn sóng
- Đất trống đồi núi trọc có thể trồng rừng hoặc để cho tái sinh, đất thường dốc, lớp đất mỏng, độ phì hữu hiệu thấp và ở xa
- Đất trống đồi núi trọc đ4 bị xói mòn trơ sỏi đá, không còn năng lực sản xuất cây ngắn ngày hoặc cây lâu năm
2.3.2.2 Tác dụng và một số hạn chế của chính sách giao đất lâm nghiệp Chủ trương phát triển lâm nghiệp x4 hội thực hiện có kết quả nhờ chính sách giao đất, giao rừng và khoán rừng đến hộ nông dân, lâm nghiệp ngoài quốc doanh tiếp tục có bước phát triển mới, nhiều mô hình trang trại rừng, vườn rừng, kinh doanh nông, lâm nghiệp tổng hợp đ4 hình thành và phát triển trên địa bàn toàn quốc với quy mô ngày càng lớn, sản xuất kinh doanh có hiệu quả Cơ cấu kinh tế ở các vùng bước
đầu có sự điều chỉnh từ nông nghiệp sang lâm nghiệp, lao động lâm nghiệp ngoài quốc doanh tăng lên rất lớn
Việc giao rừng và đất rừng tuy đ4 đạt được những tác dụng tích cực bước đầu song do thực hiện chủ yếu ở vùng núi, trung du với đặc điểm tự nhiên, kinh tế, x4 hội rất phức tạp như: khó khăn về kinh tế, đời sống, cơ sở hạ tầng yếu kém, đất đai bị khô hạn và chua, dân cư thưa thớt, trình độ dân trí thấp, phần lớn là đồng bào dân tộc, còn
Trang 38mù chữ, khả năng đầu tư hạn chế, lợi ích từ rừng còn thấp, nên chưa thật sự hấp dẫn
đồng bào sống bằng nghề rừng Thực trạng hiện nay cho thấy, xuất hiện khá phổ biến một số hiện tượng xấu trong việc sử dụng đất rừng như: bỏ hoang đất rừng thuộc quyền quản lý của các lâm trường do chưa có chủ thật sự; đất trống, đồi núi trọc đ4 giao cho các hộ gia đình tiếp tục bị bỏ hoang, chờ thiên nhiên ban phát hoặc sử dụng một phần có lợi nhất cho gia đình và chỉ được trồng rừng khi được Nhà nước đầu tư Thêm vào đó, một phần do quy định của pháp luật và việc thực thi luật pháp chưa nghiêm dẫn đến sản xuất lâm nghiệp phát triển chậm, rừng và đất rừng vẫn chưa được quản lý và bảo vệ tốt, tỷ lệ rừng che phủ vẫn bị giảm từ 43% năm 1945 xuống 32,61
% năm 1995, đến năm 2001 tăng lên không đáng kể (33,20 %) [12], [14] Diễn biến độ che phủ rừng của cả nước qua các năm được tổng hợp ở bảng 2.1:
Bảng 2.1: Diễn biến độ che phủ rừng của cả nước
Diện tích có rừng (ha) Năm Diện tích
Tự nhiên (ha) Tổng số Rừng TN Rừng trồng
Độ che phủ (%)
14.272.000 9.581.500 9.395.194 10.795.020 11.520.527 10.922.379
- 9.489.500 8.723.728 9.477.604 9.984.204 8.869.364
- 92.000 671.916 1.316.461 1.536.323 2.053.015
43,50 29,00 28,38 32,61 35,02 33,20
(Nguồn số liệu: Tổng Cục thống Kê năm 2002) Nhìn chung tiến độ giao đất và cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp còn chậm, do tính đặc thù của lâm nghiệp, mặt khác Luật đất đai hiện hành quy định còn quá chung và đơn giản, Nghị định 02/CP của Chính phủ thì hiệu lực pháp lý chưa cao Nhưng chủ yếu là do việc tổ chức thực hiện trên thực tế chưa được quan tâm và chú trọng đúng mức Đến nay mới giao được cho các hộ dân sử dụng ổn định lâu dài khoảng trên dưới 10% tổng diện tích đất lâm nghiệp, kể cả diện tích khoanh nuôi và diện tích chưa có rừng
Trang 393 nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Là các hộ sử dụng đất đ4 được giao đất nông, lâm nghiệp ổn định lâu dài theo Nghị định 64/CP và Nghị định 02/CP ở 3 x4 Thanh Nghị, Thanh Lưu, Liêm Tiết trên địa bàn huyện Thanh Liêm - tỉnh Hà Nam
3.2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu bao gồm một số vấn đề sau:
1 Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, kinh tế - x4 hội ở huyện Thanh Liêm - Tỉnh Hà Nam và 3 x4 đại diện để nghiên cứu
2 Điều tra tình hình giao đất nông, lâm nghiệp cho các hộ gia đình ở huyện Thanh Liêm - Tỉnh Hà Nam
3 Điều tra tình hình giao đất nông, lâm nghiệp cho các hộ gia đình ở 3 x4
điều tra đại diện cho 2 vùng sinh thái chính
4 Điều tra tình hình đầu tư và kết quả sản xuất kinh doanh của các hộ nông dân trước và sau khi giao đất nông, lâm nghiệp
Trang 405 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông, lâm nghiệp sau khi thực hiện chính sách giao đất, giao rừng ổn định lâu dài cho các hộ nông dân bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Hiệu quả kinh tế sử dụng đất [3]:
+ Giá trị sản xuất bình quân (GO): là giá trị toàn bộ sản phẩm sản xuất ra trong một kỳ sản xuất
GO = Diện tích x sản lượng x quy tiền + Giá trị gia tăng bình quân (VA): Là giá trị mới tạo ra trong quá trình sản xuất
VA = GO - IC + Thu nhập hỗn hợp bình quân (MI): Là thu nhập sau khi đ4 trừ đi các khoản chi phì trung gian, thuế hoặc tiền thuê đất, khấu hao tài sản cố định, chi phì lao động thuê ngoài
MI = VA - T (Thuế) - A (Khấu hao) - L (chi thuê lao động)
+ Chi phí trung gian (IC): Là chi phí vật chất và dịch vụ trọng quá trình sản xuất
+ Giá trị sản xuất bình quân/chi phí trung gian
+ Giá trị gia tăng bình quân/chi phí trung gian
+ Thu nhập hỗn hợp bình quân/chi phí trung gian
Trong quá trình tính toán các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả kinh tế, giá đ4
được quy đổi theo giá cố định năm 1994
- Hiệu quả xU hội:
+ Tỷ lệ lao động nông, lâm nghiệp tham gia sản xuất
+ Thu nhập bình quân/lao động nông, lâm nghiệp
- Hiệu quả môi trường:
+ Tỷ lệ diện tích đất trống được trồng rừng
6 Xác định các giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, góp phần nâng cao mức sống của các hộ nông dân ở huyện Thanh Liêm - Tỉnh Hà Nam
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Chọn điểm nghiên cứu