luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I
Trang 2Lời cam đoan
Luận văn thạc sỹ: “Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình canh tác lúa – cá - vịt trong sản xuất nông nghiệp tại huyện ứng Hoà tỉnh Hà Tây” chuyên
ngành kinh tế nông nghiệp, mã số: 5.02.01 là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Luận văn đ−ợc sử dụng thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc nghi rõ nguồn gốc
Tôi xin cam đoan rằng, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tác giả luận văn
Hà Thị Minh Huế
Trang 3Lời cám ơn
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình canh tác lúa – cá - vịt trong sản xuất nông nghiệp tại huyện ứng Hoà tỉnh Hà Tây” tôi luôn nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ động viên của nhiều cá
nhân và tập thể, tôix in được bày tỏ sự cám ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể
và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu nhà trường, Khoa sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, Bộ môn kế toán trường đại học nông nghiệp I – hà Nội UBND huyện ứng Hoà tỉnh Hà Tây và các đơn vị khác đã giúp tôi về mọi mặt trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cám ơn sự giúp đỡ tận tình của Cô giáo hướng dẫn khoa học PGS TS Nguyễn Thị Tâm
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi còn nhận được sự giúp đỡ và cộng tác của cán bộ và nhân dân trên địa bàn nghiên cứu Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ đó
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Hà nội, ngày 29 tháng 8 năm 2005
Tác giả luận văn
Trang 4Hµ ThÞ Minh HuÕ
Môc lôc
2 C¬ së lý luËn thùc tiÔn vÒ hiÖu qu¶ kinh tÕ 4
2.2 C¬ së thùc tiÔn vÒ hiÖu qu¶ kinh tÕ cña c¸c m« h×nh canh t¸c 15
3 §Æc ®iÓm cña huyÖn øng Hßa vµ ph−¬ng ph¸p nghiªn cøu 25
4.1 Thùc tr¹ng c¸c m« h×nh canh t¸c cña huyÖn øng Hßa 454.1.1 C¸c m« h×nh canh t¸c trong s¶n xuÊt n«ng nghiÖp cña huyÖn 454.1.2 T×nh h×nh ®Çu t− chi phÝ s¶n xuÊt cho m« h×nh canh t¸c lóa – c¸ -
vÞt trong s¶n suÊt n«ng nghiÖp cña huyÖn øng Hoµ
51
4.1.3 N¨ng suÊt vµ gi¸ trÞ s¶n xuÊt cña m« h×nh lóa - c¸ - vÞt 57
Trang 54.1.4 Hiệu quả của mô hình canh tác lúa - cá - vịt trong SXNN của 584.1.5 So sánh hiệu quả mô hình lúa - cá - vịt và mô hình 2 lúa 654.1.6 Tác động của việc áp dụng mô hình lúa - cá - vịt đến phát triển 684.1.7 Các nguyên nhân ảnh hưởng tới mô hình canh tác lúa - cá - vịt 69
Trang 6Danh môc b¶ng biÓu
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện ứng Hòa 27Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện ứng Hòa 2000 - 2004 30Bảng 3.3 Cơ cấu giá trị sản xuất ngành NN huyện ứng Hòa (2000-2004) 34Bảng 3.4 Tỷ trọng các nguồn thu nhập của nông dân huyện ứng Hòa qua
Bảng 4.4 Năng suất và giá trị sản xuất của mô hình sản xuất hai vụ lúa
của huyện ứng Hòa năm 2004
Trang 8lóa - c¸ - vÞt n¨m 2004 ë nhãm hé kÐm
B¶ng 4.10 N¨ng suÊt cña m« h×nh lóa - c¸ - vÞt n¨m 2004 57B¶ng 4.11 Gi¸ trÞ s¶n xuÊt cña m« h×nh lóa - c¸ - vÞt n¨m 2004 (BQ 1ha) 59B¶ng 4.12 HiÖu qu¶ kinh tÕ cña lóa trong m« h×nh lóa - c¸ - vÞt n¨m 2004
Trang 9Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân Sản phẩm của nông nghiệp không chỉ nuôi sống con người
mà còn thoả mãn những nhu cầu về sinh hoạt ngày càng tăng của xã hội Hiện nay, trong tiến trình xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước, nông nghiệp, nông thôn là lĩnh vực được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư
Trong xu thế hội nhập toàn cầu hoá hiện nay, cơ cấu kinh tế được chuyển
đổi theo hướng dần xoá bỏ nền kinh tế mang nặng tính chất tự cấp tự túc, khép kín chuyển mạnh sang nền kinh tế hàng há, gắn thị trường trong nước với thị trường nước ngoài, đẩy mạnh xuất khẩu, chuyển dần tự trạng thái nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế có tỷ trọng cao, dịch vụ được mở rộng, cơ sở hạ tầng
được cải thiện thúc đẩy sự phát triển của nông – lâm – ngư nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến và xây dung nông thôn mới Để đảm bảo được mục tiêu này trong những năm qua các địa phương đã chú trọng thâm canh, tăng vụ, ứng dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp và có những chính sách khuyến khích thúc
đẩy hộ nông dân tận dụng tối đa tiềm năng đất đai, lao động… để sản xuất tạo ra
sự phát triển vượt bậc cho nghành nông nghiệp Trong đó sản xuất nông nghiệp theo mô hình lúa – cá - vịt đã và đang khẳng định được vai trò và vị trí của mình
Trong những năm gần đây nhờ có chủ trương và chính sách tạo điều kiện của huyện ứng Hoà, người dân ở đây đang áp dụng một mô hình mới trên đồng ruộng của mình với hy vọng đây là một mô hình sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao, mang lại thu nhập cho người nông dân Từ thực trạng của địa phương cho thấy điều kiện tự nhiên thuận lợi như: đây là vùng đất nông nghiệp tương đối
Trang 10trũng quanh năm cấy hai vụ lúa, hơn nữa người dân ở đây có nhiều kinh nghiệm trong chăn nuôi, chăn thả vịt, cá để cung cấp cho thị trường Chính vì vậy, sau khi có chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng của huyện ứng Hoà, người dân chuyển đổi từ độc canh hai vụ lúa sang mô hình lúa – cá - vịt kếp hợp
Vấn đề đặt ra ở đây là việc đổi từ độc canh lúa sang mô hình lúa – cá - vịt
có hiệu quả hay không? Nên chuyển đổi sang mô hình này là bao nhiêu phần trăm diện tích? Điều kiện để chuyển đổi như thế nào? Những câu hỏi trên cần
được nghiên cứu để có những kết luận đúng lúc giúp cơ sở chỉ đạo đẩy mạnh phát triển mô hình này Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình cnh tác lúa – cá - vịt trong sản xuất nông nghiệp tại huyện ứng Hoà tỉnh Hà tây”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế của mô hình canh tác lúa – cá - vịt trên địa bàn huyện, tìm ra những yếu tố thuận lợi và khó khăn làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của mô hình canh tác, từ đó đề ra những biện pháp thích hợp kàm tăng hiệu quả kinh tế của mô hình
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn hiệu quả kinh tế của mô hình canh tác lúa – cá - vịt trong sản xuất nông nghiệp của huyện ứng Hoà
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình canh tác lúa – cá - vịt trong sản xuất nông nghiệp của huyện
- Đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của mô hình canh tác lúa – cá - vịt
Trang 111.3 Đối t−ợng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối t−ợng nghiên cứu
Hiệu quả kinh tế của mô hình canh tác lúa – cá - vịt trong sản xuất nông nghiệp của huyện ứng Hoà
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu mô hình canh tác lúa – cá - vịt đang đ−ợc phát triển rộng rãi ở huyện ứng Hoà
Không gian:nghiên cứu trên địa bàn huyện ứng Hoà
Thời gian: thông tin chủ yếu thu thập từ năm 2001 – 2004
Trang 122 Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế
2.1.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh chất lượng của các hoạt động kinh tế Theo ngành thống kê định nghĩa thì hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, biểu hiện của sự tập trung phát triển theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực kinh tế và chi phí các nguồn lực trong quá trình sản xuất Nâng cao hiệu quả kinh tế là một tất yếu của mọi nền sản xuất xã hội, yêu cầu của công tác quản lý kinh tế buộc phải nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế Nền kinh tế của mỗi quốc gia đều phát triển theo hai chièu rộng và sâu, phát triển theo chiều rộng là huy động mọi nguồn lực vào sản xuất, tăng đầu tư chi phí vật chất, lao động, kỹ thuật, mở mang thêm nhiều ngành nghề Phát triển theo chiều sâu là đẩy mạnh việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất, tiến hành hiện đại hoá, tăng cường chuyên môn hoá và hợp tác hoá, nâng cao trình độ sử dụng các nguồn lực, chú trọng chất lượng sản phẩm và dịch vụ Phát triển theo chiều sâu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế của các tổ chức kinh tế trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước [20]
Có ba khái niệm cơ bản về hiệu quả đó là: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ, hiệu quả kinh tế [28]
Hiệu quả kỹ thuật: là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên mỗi một đơn
vị chi phí đầu tư vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong điều kiện cụ thể
về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp Hiệu quả kỹ thuật được áp
Trang 13dụng phổ biến trong kinh tế vĩ mô để xem xét tình hình sử dụng nguồn lực cụ thể Hiệu quả này thông thường được phản ánh trong quan hệ các hàm sản xuất Hiệu quả kỹ này thường được phản ánh trong quan hệ các hàm sản xuất Hiệu quả kỹ thuật liên quan đến phương diện vật chất của sản xuất, nó chỉ ra rằng hai
đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm hiệu quả
kỹ thuật của việc sử dụng các nguồn lực được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa đầu vào đầu ra, giữa các đầu vào với nhau và giữa các sản phẩm khi nông dân ra quyết định sản xuất Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc nhiều vào bản chất kỹ thuật và công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp, kỹ năng người sản xuất cũng như môi trường kinh tế xã hội khác mà trong đó kỹ thuật được áp dụng
Hiệu quả phân bổ: là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả
kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá của đầu vào và giá tri của đâu ra Vì thế nó còn được gọi là hiệu quả giá, việc xác định hiệu quả này giống như xác định các
điều kiện về lý thuyết biên để tối đa hoá lợi nhuận, có nghĩa là giá trị biên của sản phẩm phải bằng giá trị biên của nguồn lực sử dụng vào sản xuất
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất cả hiệu quả kỹ thuật và hieuẹ quả phân bổ Điều này có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị phải tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế
Các nhà kinh tế cũng có khái niệm khác nhau về phạm trù hiệu quả kinh tế:
- Hiệu quả kinh tế hay “hiệu ứng kinh tế’’ so sánh giữa chiếm dụng và tiêu hao trong hoạt động kinh tế với thành quả có ích đạt được [9]
Trang 14- Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế khách quan phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã xác định [19]
- Hiệu quả kinh tế được đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Quan điểm này cho biết quy mô của hiệu quả kinh tế chứa chưa cho phép xác định đúng mức hiệu quả vì điều mong đợi của nhà đầu tư là đạt kết quả với chi phí ít nhất chứ không phải là đạt kết quả với bất
cứ giá nào
- Quan điểm cho rằng hieuẹ quả kinh tế được tính toán bằng cách so sánh kết quả sản xuất với chi phí đầu tư để làm ra kết quả sản xuất ấy Theo quan điểm này thì các nhà kinh tế tương đối thống nhất với nhau ở phương pháp xác định
được mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và chi phí sản xuất
- Ưu điểm của phương pháp này đánh giá này là xác định rõ hiệu quả của các nguồn lực sản xuất, so sánh được hiệu quả kinh tế từ các quy mô sản xuất không đều Nhược điểm cảu phương pháp xác định này không cho phép xác định
được quy mô của hiệu quả kinh tế một cách tổng quát
- Quan điểm đánh giá hiệu quả kinh tế bằng cách so sánh các lượng biến
động của kết quả sản xuất và lượng biến động của chi phí để có được kết quả sản xuất Phương pháp này có thể ding lượng biến động tuyệt đối hoặc ding số tương
đối Quan điểm này phát huy ưu điểm khi đánh giá hiệu quả kinh tế của nhà sản xuất do đầu tư chiều sân hoặc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
Tóm lại các quan điểm hiệu quả kinh tế đều thống nhất bản chất của nó là muốn thu được kết quả phải bỏ ra chi nhất định về tiền vốn, lao động So sánh kết quả sản xuất với chi phí đầu tư sẽ có được hiệu quả kinh tế Chênh lệch này càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn Trong điều kiện tài nguyên khan hiếm thì tiêu chuẩn hiệu quả là cực đại lợi nhuận và cực tiểu chi phí Tuy nhiên kết quả thu
được rất phong phú và đa dạng có thể đạt được mục tiêu kinh tế, có thể đạt được
Trang 15mục tiêu xã hội…Ta có thể nói hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa lực lượng kết quả đạt được với chi phí bỏ ra, biểu hiện thuần tuý bằng những chỉ tiêu kinh tế như giá trị tổng sản phẩm, thu nhập, lợi nhuận…tính trên lượng chi phí đầu tư
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa chi phí đầu tư và kết quả sản xuất đạt được
Hiệu quả kinh tế – xã hội là mối tương quan so sánh giữa đâu tư chi phí vf kết quả thu được trên cả hai phương diện kinh tế và xã hội
Trong ngành nông nghiệp nước ta hiện nay, sản xuất của hộ nông dân chủ yếu tập trung vào việc giải quyết các nhu cầu cơ bản cho cuộc sống hàng ngày, ý nghĩa lợi nhuận để có tích luỹ đối với hộ là quan trọng Các doanh nghiệp, các xĩ nghiệp quốc doanh tổ choc sản xuất với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần rất chú trọng đến việc hạch toán nâng cao hiệu quả kinh tế để tăng tích luỹ phục vụ cho tái sản xuất mở rộng và phát triển sản xuất
Như vậy hiệu quả kinh tế ở trong phương thức sản xuất khác nhau, ở các nền sản xuất khác nhau thì khác nhau
2.1.1.2 Bản chất của hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Thực chất của hiệu quả kinh tế là vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực sản xuất kinh doanh và tiết kiệm chi phí các nguồn lực
Đó là hai mặt của vấn đề đánh giá hiệu quả Nói cách khác, bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội, hai mặt này có mối quan hệ mật thiết gắn liền cới hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội là quy luật tăng năng suất lao động và quy luật tiết kiệm nguồn tài nguyên
Trang 16Việc làm rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế cần phải phân định rõ
sự khác nhau nhưng có mối quan hệ giữa kết quả và hiệu quả
Kết quả phản ánh về mặt định lượng mục tiêu đạt được bằng hệ thống các chỉ tiêu kế hoạch đề ra, không đề cập đến cách thức, chi phí bỏ ra để đạt được mục tiêu đó, bản thân kết quả không thể hiện được chất lượng
Hiệu quả thể hiện một cách toàn diện trên mặt định lượng và định tính, về
định lượng hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa chi phí (đầu vào) và kết quả (đầu ra) Về mặt định tính, hiệu quả không chỉ thể hiện qua các con số cụ thể mà còn thể hiện nguyên nhân mang tính định tính để đạt được con số đó, phản ánh
được sự nhất trí và khả năng đóng góp của các mục tiêu trên vào mục tiêu chung Như đã phân tích thì hiệu quả kinh tế liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh Trong quá trình sản xuất kinh doanh việc xác định các yếu tố đầu vào và đầu ra sẽ có một số vấn đề sau:
Đối với yếu tố đầu vào:
Các tư liệu tham gia nhiều lần vào qúa trình sản xuất không đồng đều trong nhiều năm, có các loại rất khó xác định giá trị đào thải và chi phí sửa chữa nên việc khấu hao và phân bổ chi phí để tính toán các chỉ tiêu hiệu quả chỉ có tính chất tương đối [27]
Sự biến động của giá cả thị trường gây trở ngại cho việc xác định chi phí bao gồm cả chi phí biến đổi và chi phí khấu hao tài sản cố định
Một số yếu tố đầu vào quan trọng cần phải được hạch toán để tính các chi phí nhưng thực tế không thể tính được cụ thể chi phí đầu tư xây dung cơ sở hạ tầng, thông tin, giáo dục, đào tạo, tuyên truyền, khuyến cáo kỹ thuật…
Các yếu tố của điều kiện tự nhiên kể cả thuận lợi và khó khăn cũng có tác
động rất lớn tới quá trình sản xuất Tuy nhiên mức độ tác động của các yếu tố này chưa có phương pháp xác định chuẩn xác
Trang 17Đối với các yếu tố đầu ra:
Các kết quả đạt được về mặt vật chất có thể lượng hoá được để so sánh, nhưng cũng có những yếu tố không thể lượng hoá được như vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái tái sản xuất kỹ thuật của doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh…
Có những trường hợp hiệu quả bộc lộ ra trong một thời gian dài, them chí rất dài như môi trường sinh thái, các tệ nạn xã hội…nên việc xác định các yếu tố
đầu ra cũng gặp những trở ngại phức tạp
Như vậy hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ thực hiện các nhu cầu của xã hội, còn mục đích cuối cùng của sản xuất là đáp ứng những nhu cầu vật chất, tinh thần cho xã hội Do đó hiệu quả không phải là mục đích cuối cùng của sản xuất Vì vậy, việc nghiên cứu hiệu quả kinh tế không những để đánh giá mà còn là cơ
sở để tìm ra các giải pháp phát triển sản xuất với trình độ cao hơn
2.1.1.3 Phân loại hiệu quả kinh tế
Căn cứ vào nội dung và bản chất có thể phân biệt thành 3 loại: hiệu quả kết quả, hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế – xã hội, ba loại này khác nhau về nội dung nhưng có tác động qua lại với nhau
Hiệu quả kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa kết quả đạt được về mặt kinh tế
và chi phí để đạt được kết quả đó
Hiệu quả xã hội thì thể hiện mối quan hệ giữa kết quả đạt được về mặt xã hội và chi phí để đạt được kết quả đó
Hiệu quả kinh tế – xã hội thể hiện mối quan hệ giữa các kết quả tổng hợp
đạt được trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội và chi phí để đạt được kết quả đó
Xét trong phạm vi và đối tượng của các hoạt động kinh tế thì có thể phân chia hiệu quả kinh tế như sau:
Hiệu quả kinh tế quốc dân: là hiệu quả kinh tế tính chung trên phạm vi quy mô toàn bộ nền kinh tế
Trang 18Hiệu quả kinh tế ngành: là hiệu quả kinh tế xác định riêng đối với trong ngành sản xuất vật chất như: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông thôn, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ Trong từng ngành lớn bị phân chia theo từng ngành hẹp hơn như trong nông nghiệp có trồng trọt và chăn nuôi, nhóm cây trồng, gia súc
Hiệu quả kinh tế theo vùng, lãnh thổ là hiệu quả kinh tế được tính toán, xem xét và phân tích theo từng vùng, từng địa phương riêng biệt
Hiệu quả kinh tế theo đơn vị sản xuất được tính toán cho các doanh nghiệp, công ty, trang trại, hộ nông dân thuộc các thành phần kinh tế
Hiệu quả kinh tế của mô hình canh tác là hiệu quả đem lại trên một đơn vị diện tích canh tác trong một năm, nó là kết quả của quá trình đầu tư các nguồn lực vật chất và lao động sống cũng như nguồn lực quản lý thông qua quá trình sinh học để tạo ra sản phẩm và đem lại hiệu quả thông qua thị trường, quan hệ hàng hoá tiền tệ
Hiệu quả kinh tế của mô hình canh tác là một bộ phận của hiệu quả kinh tế xã hội nói chung nên tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình phải xuất phát đầu tiên từ khả năng đáp ứng những nhu cầu tiêu dùng đa dạng của xã hội với sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao tài nguyên Mặt khác mô hình canh tác phải đi sâu vào sản xuất hàng hoá, hoà nhập với thị trường thế giới, thực hiện cạnh tranh góp phần công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
Một tiêu chuẩn nữa để đánh giá hiệu quả kinh tế là vấn đề chuyên môn hoá
và đa dạng hoá sản phẩm, sử dụng đầy đủ, hợp lý nguôn lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái
Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình canh tác phải phù hợp với đặc điểm
và trình độ phát triển nông nghiệp của từng thời kỳ và có thể so sánh động thái phát triển của các thời kỳ Nếu phương pháp và chỉ tiêu đánh giá đúng đắn sẽ
Trang 19kích thích sản xuất phát triển và tăng cường mức độ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong các hoàn cảnh cụ thể Tóm lại khi lựa chọn mô hình canh tác phải dựa trên cơ sở hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường, hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài, hiệu quả bộ phận và hiệu quả toàn bộ
Mặt khác, trong sản xuất nông nghiệp có liên quan đến nhiều các yếu tố nguồn lực như lao động, đất đai, công nghệ do đó nếu căn cứ vào các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và chiều hướng tác động vào sản xuất thì hiệu quả kinh tế có thể được tính và phân tích theo từng nguồn lực:
- Hiệu quả sử dụng đất
- Hiệu quả sử dụng lao động
- Hiệu quả sử dụng vốn
- Hiệu quả sử dụng các yếu tố tài nguyên khác như: nguyên liệu, năng lượng
- Hiệu quả của các biện pháp khoa học kỹ thuật và quản lý như: hiệu quả của các phương pháp canh tác, bón phân, phòng trừ dịch hại
Ngoài ra, tuỳ theo mục đích phân tích và đặc điểm của từng quá trình sản xuất mà hiệu quả kinh tế có thể được xem trong khoảng thời gian ngắn, dài khác nhau
2.1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
Từ bản chất hiệu quả, người ta có thể thiết lập được mối tương quan so sánh giữa kết quả sản xuất (đầu ra) và các loại chi phí sản xuất (đầu vào) theo công thức sau:
Trang 20Chi phí để đạt đ−ợc kết quả
Q
H = Max
C
Trang 21Công thức 4:
Hai công thức cho they rõ hiệu quả của việc đầu tư thêm chi phí nó xác
định được mức độ của kết quả đạt được thêm một đơn vị chi phí đầu tư tăng thêm hoặc quy mô kết quả thu được Nó thường được sử dụng tính toán hiệu quả kinh
tế khi đầu tư theo chiều sâu, hoặc hiệu quả kinh tế của việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
Như vậy, muốn xác định được hiệu quả kinh tế thì cần phải xác định được
Q, C, UQ, UC, nghĩa là phải xác định được khối lượng đầu ra và chi phí đầu vào
được biểu hiện qua các góc độ khác nhau tuỳ theo mục đích kinh tế
Hiệu quả kinh tế không chỉ thể hiện ở số lượng và chất lượng sản phẩm mà còn biểu hiện ở giá cả sản phẩm trên thị trường vào thời điểm xác định, khi nghiên cứu động thái của hiệu quả thì phải dùng giá cố định hoặc giá kỳ gốc để tính toán so sánh Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế hiện nay chủ yếu dùng các chỉ tiêu theo hệ thống tài khoản Quốc gia SNA [16]
Những chỉ tiêu liên quan đến việc xác định hiệu quả kinh tế là:
+ Giá trị sản xuất – GO: là giá trị tính bằng tiền của các loại sản phẩm trên một đơn vị diện tích trong một vụ hay một chu kỳ sản xuất
+ Chi phí trung gian – IC: là toàn bộ các khoản chi phí vật chất (trừ phần khaúa hao tài sản cố định) và dịch vụ sản xuất Trong nông nghiệp chi phí trung gian bao gồm các khoản chi phí như: giống, phân bón, thuốc trừ sâu…
+ Giá trị gia tăng – VA: là giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ do các ngnàh sản xuất tạo ra trong một năm hay một chu kỳ sản xuất
VA = GO – IC
UQ
H =
UC
Trang 22+ Thu nhập hỗn hợp – MI: là phần thu nhập thuần tuý của người sản xuất bao gồm phần trả công lao động và phần lợi nhuận mà họ có thể nhận được trong một chu kỳ sản xuất
MI = VA – (A + T) – thuê nhân công (nếu có) Trong đó: A là phần khấu hao tài sản cố định và chi phí phân bổ
T là thuế sản xuất (thuế nông nghiệp) Lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp, nhưng thực tế sản xuất trong nông hộ hiện nay, việc xác định chi phí lao động gia đình là khó khăn Mặt khác, lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất của sản xuất nông hộ do đó ta chưa quan tâm nhiều đến lợi nhuận mà quan tâm nhiều đến thu nhập hỗn hợp của người lao động
2.1.2 Cơ sở lý luận về mô hình canh tác
+ Khái niệm về mô hình
Thực tiễn hoạt động của đời sống, kinh tế, xã hội rất phong phú, đa dạng và phức tạp, người ta có thể sử dụng nhiều công cụ và phương pháp nghiên cứu để tiếp cận Mỗi công cụ và phương pháp nghiên cứu có những ưu thế riêng được sử dụng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể Mô hình là một trong các phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học
Theo các cách tiếp cận khác nhau thì mô hình có những quan niệm, nội dung và cách hiểu riêng Góc độ tiếp cận về mặt vật lý học thì mô hình là vật cùng hình dạng nhưng thu nhỏ lại Khi tiếp cận sự vật để nghiên cứu thì coi mô hình là sự mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật để trình bày và nghiên cứu [29] Khi mô hình hoá đối tượng nghiên cứu thì mô hình sẽ được trình bày đơn giản về một vấn đề phức tạp, giúp cho ta dễ nhận biết được đối tượng nghiên cứu [23] Mô hình còn được coi là hình ảnh quy ước của đối tượng nghiên cứu [6] và còn là kiểu mẫu [23] về một hệ thống các mối quan hệ hay tình trạng kinh tế
Trang 23Như vậy, mô hình có thể có các quan niệm khác nhau, sự khác nhau ssó tuỳ thuộc vào góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu, nhưng khi sử dụng mô hình người ta đều có chung một quan điểm là dùng để mô phỏng đối tượng nghiên cứu [15]
Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng nghiên cứu,
được diễn đạt hết sức ngắn gọn, phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu
+Khái niệm về mô hình canh tác
Mô hình canh tác là hình mẫu trong canh tác, thể hiện sự kết hợp của các nguồn lực trong điều kiện canh tác cụ thể, nhằm đạt được mục tiêu về sản phẩm
Nên nông nghiệp Việt Nam nói riêng và các nước trên thế giới nói cung đã
và đang là động lực cho sự phát triển của mỗi đất nước Sự tồn tại và hưng thịnh của loài người gắn lion với hoạt động nông nghiệp Điều này lại đặc biệt hơn nữa
đối với các nước đang phát triển Bởi nền nông nghiệp không những đảm bảo vấn
đề xoá đói giảm nghèo, an ninh lương thực cho đất nước mà còn là nguồn lcự cho việc phát triển kinh tế đất nước tiến tới công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Nhận rõ được tầm quan trọng của nền nông nghiệp nên ở các nước đã và đang phát triển từ nông nghiệp rất coi trọng vấn đề chiến lược phát triển nền nông nghiệp nước nhà Mục đích cuối cùng đó là phát triển một nền nông nghiệp bền vững Điều này đi đôi với việc đảm bảo về vấn đề lương thực, thực phẩm cho
Trang 24người dân, an ninh lương thực cho đất nước, tạo cơ sở tiền đề cho công nghiệp hoá đất nước
Không chỉ Việt Nam mà trên thế giới phát triển nông nghiệp đã được Nhà nước quan tâm, từ việc tạo ra các chính sách khuyến khích, hỗ trợ đến chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cho người dân để phát triển nông nghiệp bền vững trong nền kinh tế nông nghiệp hàng hoá nhiều thành phần
Hiện nay việc phát triển nông nghiệp của mỗi nước đều có những đặc trưng riêng, đó là sự đang dạng và phong phú của các hệ thống nông nghiệp với các mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao ở các nước việc áp dụng các hệ thống nông nghiệp vào từng vùng phù hợp không còn xa lạ mà trở nên chặt chẽ tạo ra hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất, ngày càng trở nên đúng hướng
Đó là các hệ thống nông nghiệp chuyên môn hoá: sản xuất một hoặc hai loại sản phẩm nhất định, hệ thống nông nghiệp kết hợp với các mô hình nổi tiếng như VACR, Lúa – Cá, Lúa – Lợn, Lúa – Tôm, nông lâm kết hợp, hệ thống trồng trọt – thuỷ sản điển hình là Lúa – Cá
Việc phát triển nông nghiệp ngày nay đang dần trở nên chặt chẽ hơn trong việc tận dụng mọi tiềm năng sẵn có của tự nhiên đặc điểm của vùng Điều này cũng phù hợp với phát triển nông nghiệp trong nền kinh tế nông nghiệp hàng hoá
ở nhiều nước trên thế giới, sự xuất hiện các trang trại đã trở thành một xu hướng tất yếu
Bên cạnh việc phát triển mô hình VAC thì trên đồng ruộng của mình người dân đang sản xuất nông nghiệp hết sức đa dạng Nhờ được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và sự vận dụng sáng tạo các công nghệ kỹ thuật trong sản xuất mà các hoạt động sản xuất diễn ra trên đồng ruộng không đơn thuần chỉ là trồng trọt một loại cây nào đó Trên mảnh đất của mình người dân có thể trồng chuyên canh với trình độ thâm canh cao một loại cây hay có thể trồng luân canh xen vụ,
Trang 25gối vụ một số loại cây trồng Hơn thế nữa ngày nay người dân còn biết tổ chức sản xuất nông nghiệp một cách phù hợp với khả năng của đồng ruộng và của chính bản thân mình
ý tưởng về hệ canh tác Lúa – Cá nảy sinh bắt đầu từ nhân dân Trung Hoa,
ấn Độ và Đông Nam á từ lâu và sau đó tầm quan trọng của việc thay đổi theo thời gian từ nơi này đến nơi khác Hệ canh tác lúa – cá ngày nay được chú ý ở nhiều nước và ngày càng có nhiều nông dân chấp nhận áp dụng với cách riêng của họ
2.2.2 Khái quát về phát triển của các mô hình trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Trong những năm gần đây cùng với chủ trương, chính sách chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp Nhằm mục đích phát triển nông nghiệp phù hợp với đặc điểm của địa phương, vùng, tận dụng tốt mọi tiềm năng của con người và tự nhiên Nhờ có sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương, giờ
đây người nông dân có thể phát huy mọi tiềm lực của mình trong việc phát triển kinh tế, kinh tế hộ gia đình đã và đang được phát triển mạnh Các trang trại được hình thành nhiều hơn với quy mô cũng rất khác nhau Việc phát triển kinh tế trang trại đóng vai trò chủ yếu trong nền kinh tế, nhất là trong nông nghiệp vì sản xuất ra một khối lượng hàng hoá lớn
Một trong những mô hình kinh tế nông nghiệp có tính truyền thống của Việt Nam đó là làm vườn Có thể nói đối với người dân vùng nông thôn thì nhà nào cũng có vườn, vườn gia đình ở nước ta đã trải qua hàng ngìn năm tồn tại và phát triển Nước ta trải dài với nhiều dạng địa hình và kiểu khí hậu khác nhau vì vậy vườn ở nước ta cũng rất đa dạng Tác giả Đường Hồng Dật [7] nêu bốn dạng vườn gia đình của Việt Nam đó là vườn gia đình trong thôn xóm ở các vùng đồng bằng, vườn chuyên canh trồng cây ăn quả, vườn công nghiệp thuần và vườn gia
Trang 26đình hỗn hợp cây công nghiệp và caya lâm nghiệp Cùng với sự phát triển mới về nghề làm vườn được hình thành ở nước ta đó là VAC Cùng với VAC, những người làm nông nghiệp Việt Nam đã gắn thuật ngữ “Hệ sinh thái” cùng với VAC thay cho thuật ngữ vườn VAC mở rộng nghề làm vườn thành một tổ hợp đồng bộ vườn – ao – chuồng, VAC là một bước phát triển mới của nghề làm vườn ở nước
ta, VAC là biểu hiện cụ thể của sự phát triển bền vững trong nông nghiệp, nó không chỉ góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế của nông dân mà còn có ý nghĩa sâu sắc trong giáo dục them mỹ, bồi dưỡng nhân sinh quan, giáo dục tính yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước
Đối với người nông dân VAC không còn xa lạ gì mà đã được họ áp dụng ngay trên chính mảnh đất của mình VAC là từ viết tắt cảu vườn ao, chuồng đó là
ba dạng hoạt động sản xuất nông nghiệp được thực hiện trên ba cơ địa khác nhau nhưng ba yếu tố này gắn bó với nhau chặt chẽ, hộ trợ và thúc đẩy nhay phát triển Vườn (V), tiêu biểu cho hoạt động trồng trọt ở một số vùng còn tuỳ thuộc vào
điều kiện lại có thể chuyển đổi VAC thành các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản
được tiến hành trong phạm vi vườn Trong ao có thể nuôi nhiều loại thuỷ hải sản khác nhau, cá tôm, ….ao còn là nơi giữ nước, tạo độ ẩm cần thiết cho toàn vườn
Ao là nơi lấy nước để tưới cho cây, lấy nước để vệ sinh chuồng trại chăn nuôi Ao
có tác dụng to lớn trong việc điều hoà khí hậu và tiểu khí hậu trong vườn, góp phần quan trọng trong việc giữ gìn tính bền vững cho hệ sinh thái vườn
Chuồng (C) tiêu biểu cho các hoạt động chăn nuôi được tiến hành trong vườn, trong đó bao gồm cả các phương thức chăn nuôi gia súc nhốt trong chuồng
và cả phương thức nuôi thả vườn như: lợn, gà, ngan, vịt, trâu, bò…
VAC bao gồm ba yếu tố: vườn ao chuồng nhưng ba yếu tố này gắn bó với nhau chặt chẽ, không tách rời nhau, không biệt lập nhau, VAC là những hệ sinh
Trang 27thái đồng bộ và tương đối bền vững, các mối quan hệ qua lại giữa ba yếu tố này
đảm bảo cho toàn hệ thống VAC tồn tại và phát triển bền vững
Nhìn chung vai trò cũng như hiệu quả của mô hình VAC đã và đang được thể hiện rõ, song để có thể phát triển hơn nữa rất cần có sự quan tâm của Nhà nước, các cấp chính quyền trong việc thực hiện các chính sách hỗ trợ về vốn, kỹ thuật và thị trường
ở nước ta,đặc biệt là đồng bằng sông Cứu Long có nhiều đặc điểm thích nghi với mô hình đưa hệ thống trồng trọt – thuỷ sản này Với diện tích rộng, nhiều sông rạch, kênh mương, nguồn nước ngọt tại đồng bằng sông Cửu Long vô cùng phong phú, đối với vùng nước ngọt ở đây hệ thống lúa – cá rất phát triển Những khu vực có mực nước ngập sâu trên 80 cm như: Cái Bè, Tiền Giang…
Hệ thống lúa – tôm hoặc lúa – tôm – cá xen kẽ với hệ thống lúa cá ở những khu vực trên, tuy nhiên nuôi tôm trong ruộng lúa thường ở những nơi gần sông, rạch cồn bãi có nước ít nhiễm phèn
Trong cả hai hệ thống này, trên bờ bao nông dân trồng cây ăn quả, rau màu để tiêu dùng trong gia đình hoặc bán, đối với nuôi tôm thường có thêm nhiều mương chứa ở gần khu ruộng nuôi tôm, trên các liếp vườn trong khu vực mương chứa người ta thường trồng cây ăn quả, rau màu, nuôi cá cũng đã kết hợp mương chứa với chuồng vịt, chuồng gà, chuồng lợn, trên liếp cũng trồng cây ăn quả, rau màu hình thành một hệ thống lớn sản xuất kết hợp nhiều loại cây trồng với chăn nuôi và thuỷ sản
Nhìn chung hệ thống trồng trọt và thuỷ sản đặc biệt là hệ thống lúa – cá - tôm ngày càng trở nên quan trọng trong các hệ thống hiện đại Mặc dù có những hạn chế trở ngại chưa được nghiên cứu giải quyết đầy đủ, hệ thống này mở ra triển vọng mới cho sản xuất nông nghiệp ở những nước đang phát triển, duy trì bền vững sinh thái, cung cấp nguồn đạm động vật cho con người
Trang 28ở giai đoạn hiện nay sản xuất nông nghiệp rất đa dạng và phong phú, nhiều hệ thống trồng trọt kết hợp chăn nuôi thuỷ sản được áp dụng, các mô hình sản xuất được phổ biến và ngày càng rộng rãi, mục đích chung của nền nông nghiệp hiện nay đó là phát triển nông nghiệp bền vững
2.2.3 Đặc điểm kinh tế – kỹ thuật của mô hình canh tác lúa – cá - vịt trong
sản xuất nông nghiệp của huyện ứng Hoà
Qua quá trình nghiên cứu tại địa bàn huyện ứng Hoà chúng tôi cho rằng mô hình canh tác lúa – cá - vịt chịu ảnh hưởng của các đặc điểm sau:
2.2.3.1 Đặc điểm kỹ thuật
Mô hình lúa – cá - vịt là một mô hình mới có triển vọng bởi nó đảm bảo
được cân bằng sinh thái, các phần tử trong cùng hệ thống hỗ trợ lẫn nhau Mô hình này là một hệ thống nhất có cấu trúc hợp lý, đảm bảo thực hiện vòng chu chuyển vật chất gần như khép kín Lúa trong ruộng là phần tử tạo nên chất hữu cơ nhờ quang hợp, các chất hữu cơ này được chuyển hoá thành sản phẩm là hạt thóc cung cấp thực phẩm cho con người, mặt khác một phần sẽ cung cấp thức ăn cho vịt, cá một cách gián tiếp hoặc trực tiếp thông qua thóc hay thức ăn cho cá đã
được chế biến Hơn thế nữa ruồng lúa còn là môi trường sinh sống cho cá và vịt Tuy nhiên lúa ở ruộng phải là những giống cao cây và cứng cây, khả năng chống
đổ tốt
Cá sống ở môi trường nước trong ruộng nhận một phần thức ăn từ môi trường ruộng lúa và từ sản phẩm của lúa, chúng làm cho môi trường trong sạch hơn, hạn chế sâu bệnh cho lúa, bắt côn trùng, sâu hại, làm cỏ sục bùn cho lúa làm cho môi trường lúa giàu ôxy hơn Các sản phẩm từ cá lại cung cấp thức ăn cho con người và cung cấp phân cho lúa
Vịt được chăn thả trên ruộng lúa trong điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lúa cá Hơn thế chúng còn có tác dụng hạn
Trang 29chế sâu bệnh hay côn trùng hại lúa, chúng làm cỏ sục bùn, phân thải ra của vịt có thể bù nguồn thức ăn cho cá và lúa
Tóm lại mô hình lúa - cá - vịt là loại mô hình mới, song nó có đầy đủ cơ sở khoa học để chứng minh đây là mô hình có triển vọng Mặt khác cần phải được nghiên cứu hơn nữa để có thể đưa ra kết luận về hiệu quả của mô hình Hơn nữa việc áp dụng mô hình cần phải được quan tâm chặt chẽ và chọn đúng thời điểm
để các thành phần trong hệ thống sẽ là một thể thống nhất có tác dụng tương hỗ lẫn nhau chứ không phải là hạn chế nhau một cách chủ quan hay khách quan
2.2.3.2 Đặc điểm về điều kiện kinh tế xã hội
Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đã tạo điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn trên
địa bàn huyện trong những năm qua như: Chính sách ruộng đất, chính sách thuế, chính sách bảo hộ sản phẩm, chính sách trợ giá sản phẩm, miễn thuế cho sản phẩm mới, chính sách cho vay vốn, giải quyết việc làm…Cụ thể nhất là Nghị
định 64 - CP (ngày 27/9/1993) của Chính phủ về việc giao đất nông nghiệp cho các hộ gia đình sử dụng ổng định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp là những dấu mốc quan trọng tạo tiền đề cho việc dồn điền đổi thửa chống manh mún ruộng đất, phát triển các mô hình sản xuất mới trong nông nghiệp
ứng Hoà là vùng đất phát triển và hợp tác trực tiếp về kinh tế, kỹ thuật với
Hà Nội Đây chính là nhân tố, lợi thế tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vừa là thị trường lớn tiêu thụ sản phẩm và cũng tạo điều kiện để thu hút nhanh chóng sự đầu tư và tiép nhận thông tin, công nghệ mới để phát triển kinh tế Những năm qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tây nhiệm ky 2000 – 2005, nền kinh tế huyện ứng Hoà có bước tăng trưởng khá, có 13/14 chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế, xã hội đã hoàn thành, có chỉ tiêu đã vượt kế hoạch đề ra Tổng sản phẩm (GDP) tôc độ tăng
Trang 30trưởng kinh tế là 10,47% Cơ cấu kinh tế huyện đã có bước chuyển dịch tích cực: sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm 33,61%, công nghiệp, xây dựng 37,1%; dịch vụ 29,29% Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 6,7%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 20,5% [31] Đó là những kết quả quan trọng góp phần cải thiện
và nâng cao đời sống nhân dân, giữa vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện
Thực hiện chủ trương tích cực chuyển dịch tăng dần tỷ trọng công nghiệp, trước hết huyện ứng Hoà đã tập trung đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, phát huy lợi thế để phát triển nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá ven đô, đang dạng và bền vững Với nhiều cơ chế, chính sách quan tâm đến sản xuất, ưu tiên đầu tư cho sản xuất nông nghiệp như: nâng cấp và hiện đại hoá các cơ sở sản xuất giống để nâng cao năng lực ứng dụng các thành tựu khoa học mới Tăng cường đầu tư, khảo nghiệm các giống cây trồng, vật nuôi mới để lựa chọn
đưa vào sản xuất, qua đó tuyển chọn và đưa vào sản xuất nhiều giống cây trồng, vật nuôi có tiềm năng, năng suất cao, chất lượng và hiệu quả phù hợp với điều kiện của huyện
Ngoài ra, còn phát triển các trang trại tạo việc làm cho người lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở những vùng canh tác khó khăn, tăng thêm lượng nông sản hàng hoá cung cấp cho thị trường Để thúc đẩy sản xuất phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Uỷ ban nhân dân huyện đã ban hành các cơ chế, chính sách cụ thể như hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu kinh tế 1 ha 5 triệu đồng,
hỗ trợ xây dựng “cánh đồng 50 triệu’’ 3 triệu đồng 1 ha
Các cơ chế chính sách của huyện đã đi vào cuộc sống, phát huy tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng giảm tỷ trọng ngành trồng trọt và tăng dần tỷ trọng từ chăn nuôi, thuỷ sản Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất giai đoạn 2001 – 2004
Trang 31bình quân tăng 6,7%, giá trị sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản trên diện tích đất nông nghiệp năm 2004 đạt 49,8 triệu đồng, trong đó giá trị sản xuất trồng trọt 1
ha đạt 28,31 triệu đồng
2.2.4 Bài học rút ra từ thực tế của việc áp dụng mô hình canh tác lúa – cá -
vịt trong sản xuất nông nghiệp của huyện ứng Hoà
Quy hoạch phát triển: quy hoạch phát triển là một yếu tố cực kỳ quan trọng quyết định tới sự phát triển bền vững Cơ sở cơ bản để xây dựng được một quy hoạch mang tính khoa học và khả thi là công tác đánh giá về tiềm năng nguồn lợi và nhu cầu thị trường Một trong những nội dung quan trọng không thể thiếu của quy hoạch phát triển mô hình lúa – cá - vịt là quy hoạch hệ thống cấp thoát nước cho mô hình Về phát triển các mô hình canh tác, những quốc gia xung quanh Việt Nam như: Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản là những nước rất chú trọng đến công tác quy hoạch phát triển, cũng như nghiên cứu về tiềm năng nguồn lợi và nhu cầu thị trường
ở nước ta công tác quy hoạch phát triển các mô hình canh tác mới cũng đã
được quan tâm chú ý nhưng chưa được đồng bộ theo các cấp, các vùng và các nội dung Bên cạnh đó công tác điều tra nghiên cứu đánh giá điều kiện tiềm năng nguồn lợi, nhu cầu thị trường chưa được quan tâm đúng mức nên quy hoạch chưa mang tính khoa học và khả thi cao Vì vậy sự phát triển của các mô hình canh tác của nước ta vẫn còn mang tính tự phát, chưa sử dụng hiệu quả tiềm năng về nguồn lợi, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường, tính ổn định và bền vững chưa cao
Tổ chức sản xuất và quản lý: Hệ thống quản lý sản xuất phải đồng bộ và
đủ khả năng nắm bắt mọi tình hình về hiện trạng sản xuất kinh doanh cũng như nhu cầu thị trường, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ…để có thể kịp thời thay đổi đinh hướng sản xuất, giải quyết những bất lợi nảy sinh trong quá trình sản xuất Có
Trang 32được như vậy thì công tác tổ chức sản xuất và quản lý mới góp phần thúc đẩy mô hình phát triển liên tục, có hiệu quả cao
Cơ chế chính sách: trong sản xuất kinh doanh nói chung cơ chế chính sách
là động lực thứ hai sau nhu cầu thị trường có tác động kìm hãm hoặc thúc đẩy sự phát triển của một ngành kinh tế trong một quốc gia Trong sản xuất nông nghiệp, vai trò của cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước có tác động đến sản xuất nông nghiệp thể hiện rõ nhất trong những năm gần đây là chính sách mở cửa thị trường, chuyển đổi cơ cấu sản xuất Tuy nhiên, việc cụ thể hoá và hỗ trợ thực hiện các chính sách ở mỗi vùng, mỗi địa phương còn nhiều hạn chế khác nhau nên mức độ phát triển do tác động của cơ chế chính sách ở mỗi vùng, mỗi địa phương còn có nhiều sự khác biệt
Bên cạnh những tác động tích cực cần lưu ý đến các tác động tiêu cực của cơ chế chính sách để có các biện pháp, các thông tư chỉ thị hướng dẫn thực hiện
hỗ trợ để giảm thiểu những tác động tiêu cực
Công tác khuyến nông: công tác khuyến nông có tác dụng lớn trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp ở nước ta công tác khuyến nông đã
được chú trọng, tuy nhiên điều kiện hoạt động còn nhiều hạn chế về cơ sở vật chất, kinh phí và con người
Trang 333 đặc điểm của huyện ứng hoà
và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đặc điểm của huyện ứng hoà
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Trang 34Phía Tây giáp huyện Mỹ Đức
Phía Bắc giáp huyện Thanh Oai
Huyện có hai con sông lớn chảy qua, sông Đáy dài 45 km chảy dọc ranh giới phía Tây, sông Nhuệ dài 10 km đi qua ranh giới phía Đông Hàng năm hai
hệ thống sông trên cung cấp nước tưới và tiêu cho trên 13 ngìn ha đất nông nghiệp, đồng thời bồi đắp một lượng phù sa lớn cho vùng đất trũng, góp phần làm tăng độ phì nhiêu, chất dinh dưỡng cho đất
+ Địa hình
Huyện có thế đất nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, do đất ven song
Đáy phía Tây và Tây Bắc ở cao độ trên 3 m có nơi cao độ lên tới 4,5 đến 5 m so với mặt nước biển Toàn huyện có 1/3 diện tích ở cao độ > + 3 m, 2/3 diện tích ở cao độ < +3 m
Huyện có 29 xã và 01 thị trấn được chia làm 3 vùng
đang hạn chế một phần khả năng phục vụ tưới của hệ thống thuỷ lợi với sản xuất nông nghiệp của địa phương
+ Khí hậu, thời tiết
Trang 35ứng hoà nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè nắng nóng, mưa nhiều, mùa đông lạnh mưa ít Nhiệt độ bình quân 23,10C (15,70C – 29,10C), nhiệt độ cao nhất trong các tháng 6, 7, 8 Tổng lượng mưa trung bình trong năm
là 1821 mm Lượng mưa tập trung nhiều nhất vào 6 tháng mùa mưa (từ tháng 5 – tháng 10), bằng 85% lượng mưa cả năm, đây là thời điểm trước đây xảy ra úng ngập cục bộ khi có mưa lớn kéo dài Các địa phương trong vùng thường xuyên phải đối phó với việc tiêu úng trong mùa mưa cũng như chống hạn trong vụ sản xuất vụ Đông để đảm bảo cho cây trồng, vật nuôi sinh trưởng và phát triển thuận lợi Ngày nay, nhờ có hệ thống thuỷ lợi hoàn chỉnh nên hộ nông dân có thể đầu tư thâm canh tăng vụ, tăng hệ số sử dụng đất, tăng năng suất cây trồng vật nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp
Trong sản xuất nông nghiệp nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, số giờ nắng có quan hệ mật thiết với cây trồng vật nuôi, nó ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng phát triển và năng suất, chất lượng sản phẩm trong sản xuất nếu chúng ta nắm không chắc được quy luật thời tiết diễn biến trong năm, hàng năm để trên cơ
sở đó bố trí giống cây, giống con thích hợp hoặc những biện pháp phòng chống
điều kiện thời tiết xấu, chống dịch bệnh phát sinh, phát triển sẽ đạt hiệu quả thấp, thậm chí không thu được kết quả Thời tiết trong huyện từ tháng 1 đến tháng 3 nhiệt độ, lượng mưa thấp, ánh sáng, độ ẩm không khí cao có chiều hướng tăng dần Số giờ nắng giảm mạnh nhất là vào tháng 3, trong tháng này số giờ nắng rất thấp Từ tháng 4 đến tháng 9 các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm bình quân hầu hết ít biến
động còn lượng mưa và số giờ nắng có chiều hướng tăng dần cho đến tháng 11,
số giờ nắng cao nhất là vào tháng 7 đạt bình quân là 160,5 giờ/tháng tạo điều kiện thuận lợi cho việc gieo trồng và chăn thả các loài gia súc, gia cầm và chăn thả cá
+ Đất đai
Trang 36Đất đai là một yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong sản xuất nông nghiệp Đất vừa là đối tượng sản xuất vừa là tư liệu sản xuất
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện ứng Hoà
4 Đất chưa sử dụng 820,15 4,46 796,24 4,33 744,81 4,05
Nguồn: Niên giám thống kê huyện, phòng thống kê của huyện
ứng Hoà là huyện có diện tích đất tự nhiên phân bố tương đối lớn 18.372,78 ha, cơ cấu các loại đất được phân bố khá hợp lý thể hiện qua bảng 3.1
Đất nông nghiệp chiếm phần lớn tổng diện tích đất tự nhiên (71,42%) Trong diện tích đất nông nghiệp, diện tích đất trũng có khả năng thực hiện mô hình lúa – cá - vịt là 1.303 ha chiếm 10% diện tích đất nông nghiệp, diện tích này nằm ở hầu hết các xã trong huyện
Diện tích đất chuyên dùng liên tục tăng từ năm 2002 đến năm 2004 năm
2004 chiếm 18,94% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Đất giao thông chiếm
tỷ trọng lớn nhất trong tổng diện tích đất chuyên dùng của huyện (53,6%), tiếp
đó là đất thuỷ lợi (29,9%) Đất xây dung của huyện có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây (trung bình 2,1%/năm), cùng với việc xuất hiện một số doanh nghiệp trên địa bàn huyện nhưng chỉ chiếm 11,2% tổng diện tích đất chuyên dùng của toàn huyện
Trang 37Đất đô thị chiếm 6,73% trong tổng diện tích đất ở 1.119,68 ha của toàn huyện Diện tích đất chưa sử dụng của huyện có giảm nhẹ trong các năm, năm
2004 diện tích này là 744,81 ha Hiện nay trong toàn bộ huyện có 9,65 ha đất bằng và 735,16 ha đất sông ngòi tự nhiên chưa được sử dụng Đây là những tiềm năng đất đai lớn có thể khai thác trong tương lai, nhất là để nuôi trồng thuỷ sản
ứng Hoà là huyện có diện tích đất nông nghiệp lớn, có điều kiện khí hậu thuận lợi để mở rộng nhiều loại mô hình sản xuất, thuận lợi cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi đạt hiệu quả mà cụ thể ở đây là hình lúa, cá, vịt
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.1.2.1 Nguồn nhân lực
Dân số và lao động có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của huyện Nó vừa là lực lượng sản xuất ra của cải vật chất, đồng thời vừa là lực lượng tiêu thụ sản phẩm cho xã hội Tuy nhiên, dân số tăng nó cũng kéo theo nhiều yếu tố khác như: diện tích đất nông nghiệp bị giảm, đất khu dân cư tăng, giải quyết công ăn việc làm…
Qua bảng 3.2 ta thấy hiện nay dân số của toàn huyện là: 235.508 dân trong
đó nữ chiếm 51,6% Tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 2000 – 2004 là 0,57%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện liên tục giảm từ năm 2000 đến nay
So với các huyện khác trong tỉnh cũng như các địa phương khác nhau trong cả nước, ứng Hoà có trình độ dân số tương đối cao nhờ thực hiện vững chắc phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở Mặt khác còn có hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc tốt
Năm 2004 số người trong độ tuổi lao động của huyện là 109.334 người chiếm 46% tổng số dân Tổng số lao động làm việc trong các ngành là 86.758 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 86,7% Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm dần trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay, trong khi tỷ trọng lao động công
Trang 38nghiệp và dịch vụ tăng lên Nhìn chung, biến đổi cơ cấu lao động của huyện theo
xu hướng tốt Số lượng lao động có việc làm qua các năm tăng, đạt tốc độ phát triển bình quân 100,42%/năm Số lượng lao động thất nghiệp giảm qua các năm
từ 3,27% năm 2004 xuống còn 3,16% năm 2004 Lao động có việc làm của huyện chủ yếu là lao động nông nghiệp, chiếm 72% tổng số lao động có việc làm Trong khi lao động nông nghiệp đang có xu hướng giảm cả về số tuyệt đối
và số tương đối so với tổng lao động có việc làm thì lao động trong mô hình lúa – cá - vịt lại có xu hướng tăng
Bình quân mỗi năm có khoảng 2300 người bước vào độ tuổi lao động và khoảng 1500 người hết tuổi lao động, như vậy mỗi năm có khoảng 800 người bước vào thị trường lao động của huyện
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện ứng Hoà 2000 – 2004
Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Chỉ tiêu SL
(người)
CC (%)
SL (người)
CC (%)
SL (người)
CC (%)
TĐPT
BQ (%)
Trang 39- LĐ thất nghiệp 3.525 3,27 3.358 3,11 3.420 3,16 98,55
Nguồn: Niên giám thống kê huyện, phòng thống kê của huyện
Nhìn chung cơ cấu lao động của huyện có sự biến đổi theo xu hướng tốt, thể hiện có sự chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế: tăng chuyển đổi cơ cấu sản xuất thuần nông trong nông nghiệp, tăng khu vực dịch vụ và sản xuất công nghiệp
3.1.2.2 Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế xã hội
Cơ sở hạ tầng là một yếu tố quan trọng, là nền tảng cho sự phát triển kinh tế của vùng cũng như của đất nước Theo Max “cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, kiến trúc thượng tầng lại tác động trở lại thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng” Đây là mối quan hệ mật thiết với nhau cùng nhau thúc đẩy kinh tế phát triển
ứng Hoà là một trong những vùng sản xuất lúa trọng điểm của tỉnh Hà Tây, mặt khác địa hình của huyện là vùng chiêm trũng với hệ thống cơ sở vật chất đầy đủ như trạm bơm, kênh mương, đường giao thông khá kiên cố: 107 trạm bơm tương ứng với 325 máy và hệ thống kênh mương gồm có 8 kênh tiêu, 7 tuyến kênh tưới cấp II với tổng chiều dài là 155 km, đường giao thông và chợ thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá
Hệ thống cung cấp điện, nước sinh hoạt: đã có mạng lưới điện quốc gia
đến từng hộ gia đình Một số vùng đã sử dụng giếng khoan, chủ yếu vẫn là dùng nước mưa và nước giếng khơi
Hệ thống thông tin liên lạc: ứng hoà là một trong những huyện có hệ thống thống thông tin liên lạc tương đối phát triển Toàn huyện có 28 xã và một thị trấn
đều đã có điểm bưu điện văn hoá xã Hầu hết các hộ gia đình, kể cả vùng nông thôn đều đã có trang bị đài hoặc vô tuyến truyền hình Hệ thống thông tin liên lạc như vậy cũng đã có tác dụng trương đối trong việc truyền bá các kiến thức kinh
tế, kỹ thuật và kinh tế xã hội cho ngành sản xuất nông nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất
Trang 403.1.2.3 Tình hình an ninh, trật tự xã hội, giáo dục và y tế
+ Tình hình an ninh, trật tự xã hội ở ứng Hoà nhìn chung là tốt, người dân
ở đây sống hiền lành, chịu khó làm ăn cộng với sự hỗ trợ đắc lực của lực lượng an ninh từ tỉnh đến huyện và các thôn xóm nên trong các khu áp dụng mô hình lúa – cá - vịt ít xảy ra hiện tượng trộm cắp đáng kể, người dân có thể yên tâm tiến hành sản xuất Điều kiện an ninh, trật tự xã hội tốt là yếu tố quan trọng góp phần đảm bảo tính hiệu quả và ổn định cho sản xuất
+ Hệ thống giáo dục: huyện ứng Hoà có mạng lưới trường học được trải
đều trên địa bàn toàn huyện, tất cả các xã đều có trường mầm non và trường tiểu học Hầu hết các xã có trường phổ thông cơ sở, huyện có 4 trường phổ thông trung học Hiện nay số trường học, lớp học chưa đáp ứng được nhu cầu đi học với
số học sinh đến trường ngày càng tăng Các ban ngành liên quan đã có kế hoạch xây dựng phát triển mạng lưới trường học cả về lượng và chất theo chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Điều kiện về hệ thống giáo dục và sự quan tâm của các ban ngành như vậy
đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao trình độ hiểu biết về khoa học kỹ thuật của người dân trong mọi lĩnh vực, nhất là trong sản xuất nông nghiệp
+ Hệ thống y tê: mạng lưới y tế của huyện tương đối phát triển, các xã đều
có trạm y tế, phòng khám, tuy nhiên trang thiết bị và các cán bộ y tế chưa đầy đủ Mặc dù vậy, mạng lưới y tế của huyện đã đáp ứng được các chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng
3.1.2.4 Tình hình phát triển kinh tế của huyện giai đoạn 2000 – 2004
Quán triệt mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn theo tinh thần Nghị quyết Đại hội và các chỉ thị Nghị quyết ban chấp hành Trung
ương Đảng khoá VII, thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ các cấp về phát triển kinh tế xã hội, xây dựng nông thôn mới văn minh hiện đại, trong sản xuất nông