Bài giảng Thiết kế và lập trình Web cung cấp cho sinh viên các hiểu biết cơ bản về dịch vụ Web và giúp sinh viên nắm bắt được các kiến thức về xây dựng site. Nội dung chính của bài giảng được trình bày trong 5 chương và được chia thành 2 phần. Phần 1 giới thiệu về ngôn ngữ siêu văn bản HTML và ngôn ngữ kịch bản JavaScript. Mời các bạn tham khảo.
TỔNG QUAN
Các kiểu mạng
Chương II Ngôn ngữ siêu văn bản HTML 8 5 3
2.1 Khái niệm cơ bản về ngôn ngữ HTML 1
2.2 Lập trình Web với ngôn ngữ HTML 1
2.3 Các thẻ cơ bản trong HTML 3
Chương III Ngôn ngữ kịch bản JavaScript 10 6 3 1
3.2 Cú pháp cơ bản JavaScript 2
3.3 Tương tác giữa JavaScript và HTML 2
3.4 Các đối tƣợng của trình duyệt 1,5
Chương IV Ngôn ngữ kịch bản VBcript 24 6 15 3
4.2 Cú pháp cơ bản VBScript 2
4.3 Tương tác giữa VBScript và HTML 2
4.4 Các đối tƣợng của trình duyệt 1,5
5.3 Xử l các yêu cầu của IIS 2
Nhiệm vụ của sinh viên :
Tham gia các buổi thuyết trình của giáo viên, tự học và hoàn thành bài tập được giao, tham gia các buổi thực hành, kiểm tra định kỳ và cuối kỳ, cùng với việc hoàn thành bài tập lớn theo yêu cầu là những hoạt động quan trọng giúp nâng cao kiến thức và kỹ năng học tập.
- Andy Budd, Cameron Moll và Simon Collison - CSS Mastery Advanced Web Standards Solutions – Nhà xuất bản Apress 2006
- Paul Wilton - Beginning JavaScript Second Edition – Nhà xuất bản Wrox, 2004 John Gosney, ASP Programming for the absolute beginner – Nhà xuất bản No Starch Press, 2002
- Scott Mitchell và James Atkinson, Teach yourself Active Server Pages 3.0 – Nhà xuất bản SAMS,2000
- Jason Butler , ASP Data Access for Beginners – www.w3schools.com
- Nguyễn Thị Thanh Trúc – Thiết kế và lập trình Web với ASP – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2003
Hình thức và tiêu chuẩn đánh giá sinh viên:
- Đánh giá dựa trên tình hình tham dự buổi học trên lớp, các buổi thực hành, điểm kiểm tra thường xuyên và điểm kết thúc học phần
- Hình thức thi cuối kỳ : thi viết
Thang điểm: Thang điểm chữ A, B, C, D, F Điểm đánh giá học phần Z = 0.4X + 0.6Y
Bài giảng này là tài liệu chính thức và thống nhất của Bộ môn Kỹ thuật máy tính, Khoa
Công nghệ Thông tin và đƣợc dùng để giảng dạy cho sinh viên
Trưởng Bộ môn: ThS Ngô Quốc Vinh
Internet, hay còn gọi là NET, là mạng máy tính lớn nhất toàn cầu, được xem như một mạng lưới kết nối các mạng khác nhau để trao đổi thông tin trên toàn thế giới Nó còn được biết đến với tên gọi Siêu xa lộ thông tin, thể hiện vai trò quan trọng trong việc kết nối và chia sẻ dữ liệu.
Ngày nay, Internet là một mạng công cộng kết nối hàng triệu máy tính trên toàn cầu Về mặt vật lý, nó sử dụng tài nguyên của mạng viễn thông công cộng, trong khi về mặt kỹ thuật, Internet dựa trên các giao thức TCP/IP do Vinton Gray Cerf và Robert Kahn phát triển từ năm 1973 tại Đại học Stanford Hai mô hình của công nghệ Internet là Intranet và Extranet.
Bắt đầu từ năm 1969, Bộ Quốc phòng Mỹ đã phát triển mạng ARPANET, viết tắt của Cơ quan Dự án Nghiên cứu Tiên tiến (ARPA), với mục tiêu ban đầu là tạo ra một hệ thống trao đổi thông tin giữa các cơ quan chính phủ và các trung tâm nghiên cứu tại các trường đại học.
Mạng ARPANET có khả năng hoạt động liên tục ngay cả khi một phần của nó bị phá hủy do chiến tranh hoặc thiên tai, điều này cho thấy tính linh hoạt và độ bền của mạng Sau đó, ARPANET đã được chia thành hai mạng khác nhau.
MILINET chỉ dùng cho các mục đích quân sự
A new network called ARPANET was established for non-military purposes By 1972, another network, CSNET (Computer Science Research Network), was connected to ARPANET to link independent networks This period is considered the birth of the INTERNET In 1980, the National Science organization played a significant role in its development.
Quỹ đã phát triển mạng NSFNET nhằm kết nối các mạng lớn, đây là một hệ thống mạng tốc độ cao được thiết kế để liên kết các siêu máy tính trung tâm của NSF.
Công nghệ mạng đã phát triển mạnh mẽ, dẫn đến sự hình thành nhiều mạng mới kết nối với ARPANET, CSNET và NSFNET Tất cả các mạng này đã hợp nhất để tạo thành một mạng lớn gọi là INTERNET Cuối cùng, ARPANET và CSNET ngừng hoạt động, trong khi NSFNET trở thành mạng chính kết nối các mạng khác trên Internet.
1.1.2 Một số khái niệm liên quan đến mạng Internet Địa chỉ IP
Các máy tính trong mạng Internet và Intranet sử dụng giao thức TCP/IP để trao đổi thông tin Giao thức này cho phép truyền tải các gói dữ liệu (IP datagrams) đến địa chỉ IP qua việc chọn đường (routing) thông qua cổng kết nối (gateway) Để đảm bảo việc trao đổi thông tin diễn ra hiệu quả, mỗi máy tính cần có một định danh riêng, gọi là địa chỉ IP Địa chỉ IP, được phân thành 4 nhóm số thập phân từ 0 đến 255 và ngăn cách bằng dấu chấm (.), giúp xác định các đối tượng gửi và nhận thông tin trên Internet.
Trên thực tế, địa chỉ IP hiện tại (IP version 4) có 32 bit chia thành 4 octet (mỗi octet có
8 bit), các octet tách biệt nhau bằng dấu chấm (.)
Ví dụ : 11001011 01100010 01010011.00110101 Để tiện việc quản l và phân phối địa chỉ, người ta chia các địa chỉ IP thành 3 phần :
Class ID Network ID Host ID
Địa chỉ IP được phân loại thành 5 lớp A, B, C, D, và E dựa trên giá trị của 3 byte đầu tiên Trong đó, lớp D và E đang được Tổ chức Internet giữ lại cho các mục đích khác và không được phân phối Địa chỉ IP không chứa thông tin mô tả mạng, nhưng subnet đi kèm với mỗi địa chỉ cung cấp thông tin cần thiết này.
Class Vùng địa chỉ l thuyết Số mạng sử dụng tối đa
Số máy chủ trên từng mạng
Địa chỉ IP từ 192.0.0.0 đến 223.255.255.0 được ICANN quản lý và phân bổ, với tổng số lên đến 2.097.150 địa chỉ, trong đó có 254 địa chỉ có thể sử dụng với subnet mask 255.255.255.0 Tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, APNIC chịu trách nhiệm phân phối địa chỉ IP cho các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP), như VDC, với 8 địa chỉ lớp C từ 203.162.0.0 đến 203.162.7.0 Tại Việt Nam, VNNIC là cơ quan quản lý địa chỉ IP.
Inforrmation Center) thuộc Bộ Bưu chính – Truyền thông chịu trách nhiệm quản l tên miền, địa chỉ IP (xem http://www.vnnic.net.vn)
Do sự cạn kiệt địa chỉ IP theo IPv4 (sử dụng 32 bit); hiện nay tại nhiều nước đã dùng IPv6 (sử dụng 128 bit) để cấp phát địa chỉ IP
Trong mạng Internet, địa chỉ IP là một chuỗi số khó nhớ, vì vậy người ta thường sử dụng dịch vụ tên miền (Domain Name Service) để xác định các máy trong mạng Mỗi tên miền có định dạng riêng biệt.
Host là tên máy, trong khi Domain đại diện cho tên của một tổ chức mạng lớn như các công ty đa quốc gia hoặc quốc gia Subdomain là tên của một tổ chức nhỏ hơn nằm trong phạm vi của Domain.
Tên miền cấp 1 là các mã quốc gia của các nước tham gia Internet, được quy định bằng 2 chữ cái theo tiêu chuẩn ISO-3166 Ví dụ, mã quốc gia của Việt Nam là "vn", Nhật Bản là "jp" và Pháp là "fr".
Anh quốc là uk, CHLB Nga là ru và 5 lĩnh vực dùng chung toàn cầu:
com : (commercial) công ty thương mại
edu : (education) các trường học, tổ chức giáo dục
int : (international organizations) các tổ chức quốc tế
org : (other organizations) các tổ chức khác
The World Wide Web, commonly known as the Web, is a system of servers on the internet that supports documents formatted in a markup language called HTML (HyperText Markup Language).
Language) mà mọi người có thể truy cập được thông qua các máy tính nối mạng internet
Kiến trúc Client – server
Khái niệm client-server mô tả mối quan hệ logic giữa các máy tính trong mạng, trong đó máy tính được phân chia thành hai loại: máy server và máy client Trong mạng client-server, các quá trình xử lý được phân bổ cho cả hai loại máy này, mỗi máy đảm nhận một vai trò chuyên biệt.
Server là máy tính chuyên dụng với khả năng xử lý mạnh mẽ và lưu trữ lớn, chủ yếu dùng để quản lý và lưu giữ tài nguyên cho các máy tính khác trên mạng Ngoài ra, server còn có nhiệm vụ kiểm soát quyền truy cập và bảo mật dữ liệu Tùy theo chức năng xử lý, có các loại server như file server, web server, database server và mail server.
Server chạy trình chủ (server program)
Client là máy tính truy cập dữ liệu từ server và chạy trình khách (client program) để đảm bảo giao diện người sử dụng Các máy tính này kết nối với server qua mạng, gửi yêu cầu từ người sử dụng đến server, nơi xử lý yêu cầu và gửi kết quả trở lại Mạng Internet được xây dựng trên kiến trúc client-server.
Applications Run on server User input sent to server
Virtual display sent to User PC
Kiến trúc client-server có nhiều ƣu điểm, nhất là tính bảo mật và an toàn thông tin nhờ vào các tính năng:
Các tài nguyên mạng đƣợc quản l tập trung
Có thể tạo ra các cấp kiểm soát chặt chẽ trong việc truy cập file dữ liệu
Giảm nhẹ việc quản l trên các máy client
Bảo mật và backup dữ liệu
Có thể mở rộng hệ thống khi cần
Mặc dù mô hình này mang lại nhiều lợi ích, nhưng nó cũng có nhược điểm đáng chú ý, bao gồm chi phí cao và sự phụ thuộc vào server, khiến cho khi server gặp sự cố, toàn bộ hệ thống sẽ ngừng hoạt động.
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1.1 Phân biệt các khái niệm Intranet và Internet
1.2 Site map là gì ? Trong những home page của các website sau, home page nào có liên kết đến site map : http://www.nhandan.org.vn, http://edu.net.vn
1.3 Nêu những đặc tính của hai trình duyệt mới nhất : Internet Explorer 7.0 và FireFox
1.4 Tìm hiểu thêm về khái niệm blog (một trong những dịch vụ web hiện đại, có thể tra cứu thông tin tại http://www.webopedia.com và http://www.wikipedia.com)
1.5 Tìm hiểu chức năng và website của hai tổ chức VNNIC và ICANN
1.6 Tại sao nói tên miền là một tài sản (giống như thương hiệu là một tài sản)
1.7 Cho biết website cá nhân của Donald E.Knuth, tác giả của bộ sách nổi tiếng "Nghệ thuật lập trình máy tính" (The Art of Computer Programming)
NGÔN NGỮ SIÊU VĂN BẢN HTML
Các thẻ cơ bản trong HTML
Chương III Ngôn ngữ kịch bản JavaScript 10 6 3 1
3.2 Cú pháp cơ bản JavaScript 2
3.3 Tương tác giữa JavaScript và HTML 2
3.4 Các đối tƣợng của trình duyệt 1,5
Chương IV Ngôn ngữ kịch bản VBcript 24 6 15 3
4.2 Cú pháp cơ bản VBScript 2
4.3 Tương tác giữa VBScript và HTML 2
4.4 Các đối tƣợng của trình duyệt 1,5
5.3 Xử l các yêu cầu của IIS 2
Nhiệm vụ của sinh viên :
Tham gia các buổi thuyết trình của giáo viên, tự học và hoàn thành bài tập được giao, tham gia thực hành cùng với các bài kiểm tra định kỳ và cuối kỳ, cũng như hoàn thành bài tập lớn theo yêu cầu là những hoạt động quan trọng giúp nâng cao kiến thức và kỹ năng học tập.
- Andy Budd, Cameron Moll và Simon Collison - CSS Mastery Advanced Web Standards Solutions – Nhà xuất bản Apress 2006
- Paul Wilton - Beginning JavaScript Second Edition – Nhà xuất bản Wrox, 2004 John Gosney, ASP Programming for the absolute beginner – Nhà xuất bản No Starch Press, 2002
- Scott Mitchell và James Atkinson, Teach yourself Active Server Pages 3.0 – Nhà xuất bản SAMS,2000
- Jason Butler , ASP Data Access for Beginners – www.w3schools.com
- Nguyễn Thị Thanh Trúc – Thiết kế và lập trình Web với ASP – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2003
Hình thức và tiêu chuẩn đánh giá sinh viên:
- Đánh giá dựa trên tình hình tham dự buổi học trên lớp, các buổi thực hành, điểm kiểm tra thường xuyên và điểm kết thúc học phần
- Hình thức thi cuối kỳ : thi viết
Thang điểm: Thang điểm chữ A, B, C, D, F Điểm đánh giá học phần Z = 0.4X + 0.6Y
Bài giảng này là tài liệu chính thức và thống nhất của Bộ môn Kỹ thuật máy tính, Khoa
Công nghệ Thông tin và đƣợc dùng để giảng dạy cho sinh viên
Trưởng Bộ môn: ThS Ngô Quốc Vinh
Mạng Internet, hay còn gọi là NET, là mạng máy tính lớn nhất toàn cầu, được xem như một mạng lưới kết nối các mạng khác nhau để trao đổi thông tin trên toàn thế giới Nó còn được biết đến với tên gọi Siêu xa lộ thông tin, thể hiện vai trò quan trọng trong việc kết nối và chia sẻ dữ liệu.
Ngày nay, Internet là một mạng lưới công cộng kết nối hàng triệu máy tính trên toàn cầu Về mặt vật lý, nó sử dụng một phần tài nguyên của mạng viễn thông công cộng, trong khi về mặt kỹ thuật, Internet dựa trên các giao thức TCP/IP được phát triển bởi Vinton Gray Cerf và Robert Kahn từ năm 1973 tại Đại học Stanford Hai ứng dụng của công nghệ Internet là Intranet và Extranet.
Kể từ năm 1969, Bộ Quốc phòng Mỹ đã phát triển mạng ARPANET, viết tắt của Cơ quan Dự án Nghiên cứu Tiên tiến (ARPA) Mục đích ban đầu của ARPANET là tạo ra một nền tảng để trao đổi thông tin giữa các cơ quan chính phủ và các trung tâm nghiên cứu của các trường đại học.
Mạng ARPANET, một mạng lưới đặc biệt, có khả năng duy trì hoạt động ngay cả khi một phần của nó bị phá hủy do chiến tranh hoặc thiên tai Sau đó, mạng này đã được chia thành hai mạng riêng biệt.
MILINET chỉ dùng cho các mục đích quân sự
A new network called ARPANET was established for non-military purposes, and by 1972, another network, CSNET (Computer Science Research Network), was connected to ARPANET to link independent networks This period is regarded as the birth of the Internet In 1980, the National Science organization played a significant role in its development.
Quỹ đã phát triển mạng NSFNET nhằm kết nối các mạng chính, đây là một mạng tốc độ cao được sử dụng để liên kết các siêu máy tính trung tâm của NSF.
Công nghệ mạng ngày càng phát triển, dẫn đến sự hình thành nhiều mạng mới kết nối với ARPANET, CSNET và NSFNET Tất cả các mạng này đã kết nối với nhau để tạo thành một mạng lớn gọi là INTERNET Cuối cùng, ARPANET và CSNET ngừng hoạt động, trong khi NSFNET trở thành mạng chính kết nối các mạng khác trên Internet.
1.1.2 Một số khái niệm liên quan đến mạng Internet Địa chỉ IP
Các máy tính trong mạng Internet và Intranet giao tiếp qua giao thức TCP/IP, cho phép truyền tải các gói dữ liệu (IP datagrams) đến địa chỉ IP bằng cách chọn đường (routing) qua cổng kết nối (gateway) Để đảm bảo việc trao đổi thông tin diễn ra hiệu quả, mỗi máy tính cần có một định danh riêng, được gọi là địa chỉ IP Địa chỉ IP, gồm 4 nhóm số thập phân từ 0 đến 255, phân cách nhau bằng dấu chấm (.), giúp xác định đối tượng nhận và gửi thông tin trên Internet.
Trên thực tế, địa chỉ IP hiện tại (IP version 4) có 32 bit chia thành 4 octet (mỗi octet có
8 bit), các octet tách biệt nhau bằng dấu chấm (.)
Ví dụ : 11001011 01100010 01010011.00110101 Để tiện việc quản l và phân phối địa chỉ, người ta chia các địa chỉ IP thành 3 phần :
Class ID Network ID Host ID
Địa chỉ IP được phân loại thành 5 lớp A, B, C, D, và E dựa trên giá trị của 3 byte đầu tiên Trong đó, lớp D và E hiện đang được tổ chức Internet dành cho các mục đích đặc biệt và không được phân phối Địa chỉ IP không tự chứa thông tin mô tả về mạng, mà thông tin này được cung cấp bởi subnet đi kèm với mỗi địa chỉ.
Class Vùng địa chỉ l thuyết Số mạng sử dụng tối đa
Số máy chủ trên từng mạng
Địa chỉ IP từ 192.0.0.0 đến 223.255.255.0, với tổng số 2.097.150 địa chỉ và subnet mask 255.255.255.0, được ICANN phân bổ và thường được quản lý bởi các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) Tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, APNIC phân phối cho VDC 8 địa chỉ lớp C, cho phép tạo ra 8 mạng con từ 203.162.0.0 đến 203.162.7.0 Tại Việt Nam, cơ quan VNNIC chịu trách nhiệm quản lý và phân phối địa chỉ IP.
Inforrmation Center) thuộc Bộ Bưu chính – Truyền thông chịu trách nhiệm quản l tên miền, địa chỉ IP (xem http://www.vnnic.net.vn)
Do sự cạn kiệt địa chỉ IP theo IPv4 (sử dụng 32 bit); hiện nay tại nhiều nước đã dùng IPv6 (sử dụng 128 bit) để cấp phát địa chỉ IP
Địa chỉ IP là một chuỗi số khó nhớ, do đó, trong mạng Internet, người dùng thường sử dụng dịch vụ tên miền (Domain Name Service) để xác định các máy Mỗi tên miền có định dạng riêng biệt.
Host là tên máy, trong khi Domain đại diện cho tên của một tổ chức mạng lớn như các công ty đa quốc gia hoặc quốc gia Subdomain là tên của một tổ chức nhỏ hơn thuộc về Domain.
Tên miền cấp 1 (TLD) là các mã quốc gia được quy định bằng 2 chữ cái theo tiêu chuẩn ISO-3166, đại diện cho các nước tham gia Internet Ví dụ, mã quốc gia của Việt Nam là vn, Nhật Bản là jp, và Pháp là fr.
Anh quốc là uk, CHLB Nga là ru và 5 lĩnh vực dùng chung toàn cầu:
com : (commercial) công ty thương mại
edu : (education) các trường học, tổ chức giáo dục
int : (international organizations) các tổ chức quốc tế
org : (other organizations) các tổ chức khác
The World Wide Web, commonly referred to as the Web, is a system of servers on the internet that supports documents formatted in a markup language known as HTML (HyperText Markup Language).
Language) mà mọi người có thể truy cập được thông qua các máy tính nối mạng internet