Công ty TNHH Đại Thành Công được thành lập tháng 7 năm 2015 do ba người là ông Đại, Thành và Công cùng góp vốn thành lập với tổng vốn điều lệ là 2.000.000.000 VND, trong đó vốn của ông Đại: 50%, ông Thành: 25% và ông Công: 25%. Ngày 10/8/2015 ông Thành bị tai nạn giao thông và qua đời. Người thừa kế duy nhất của ông Thành là bà Lan. Bà Lan cũng mong muốn trở thành thành viên của công ty. Nhưng ông Đại và ông Công không đồng ý vì cho rằng bà Lan là người không có khả năng kinh doanh và quản lý sẽ ảnh hưởng tới công ty. Do đó, tại cuộc họp Hội đồng thành viên ngày 20/8/2015, ông Đại và ông Công quyết định bán toàn bộ công ty TNHH Đại Thành Công cho ông Trần Lâm với giá trị hợp đồng là 3.000.000.000 VND để đầu tư vào một mô hình kinh doanh mới. Không đồng ý với quyết định của HĐTV (thực chất là quyết định của ông Đại và ông Công), ngày 5/12/2015 bà Lan khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy quyết định ngày 20/8/2015 của HĐTV công ty.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2
1 Quyết định bán công ty của ông Đại và ông Công cho ông Trần Lâm có thực hiện được không? Vì sao? 2
2 Giả sử việc M & A giữa công ty TNHH Đại Thành Công và ông Trần Lâm
có thể thực hiện được, anh (chị) giúp hai bên soạn thảo hợp đồng M & A nói trên 4 KẾT LUẬN 9 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong thời kì hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng trở nên sôi động và mở cửa với đa dạng các chủ thể tham gia, hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (M&A) mang lại rất nhiều sự tích cực cho các doanh nghiệp và các quốc gia Tuy nhiên, đi liền với đó là không ít những thách thức và khó khăn mà các quốc gia mới đang trên đà phát triển và hoạt động M&A còn nhiều mới mẻ như Việt Nam thì hệ thống pháp luật cần phải được xây dựng và hoàn thiện liên tục dựa trên sự học hỏi những kinh nghiệm và áp dụng chúng một cách hiệu quả Với bối cảnh
đó, việc đàm phán, soạn thảo và thực hiện hợp đồng mua bán và sáp nhập doanh nghiệp trên thực tế còn nhiều vấn đề cần phải được đi sâu và làm rõ để đem lại lợi ích cho các bên tham gia nói riêng và lợi ích cho xã hội nói chung Do vậy, em xin thực hiện bài tập học kì với đề bài dưới đây Trong quá trình thực hiện để đạt được kết quả này, em không thể tránh khỏi những thiếu sót về mặt kinh nghiệm thực tế cũng như về nội dung, em chân thành mong nhận được những ý kiến và chia sẻ của thầy cô để bài làm của em được hoàn thiện một cách tốt nhất Em xin cảm ơn thầy/cô rất nhiều ạ!
Đề số CNTC54L08:
Công ty TNHH Đại Thành Công được thành lập tháng 7 năm 2015 do ba người là ông Đại, Thành và Công cùng góp vốn thành lập với tổng vốn điều lệ là 2.000.000.000 VND, trong đó vốn của ông Đại: 50%, ông Thành: 25% và ông Công: 25% Ngày 10/8/2015 ông Thành bị tai nạn giao thông và qua đời Người thừa kế duy nhất của ông Thành là bà Lan Bà Lan cũng mong muốn trở thành thành viên của công ty Nhưng ông Đại và ông Công không đồng ý vì cho rằng bà Lan là người không có khả năng kinh doanh và quản lý sẽ ảnh hưởng tới công ty
Do đó, tại cuộc họp Hội đồng thành viên ngày 20/8/2015, ông Đại và ông Công quyết định bán toàn bộ công ty TNHH Đại Thành Công cho ông Trần Lâm với giá trị hợp đồng là 3.000.000.000 VND để đầu tư vào một mô hình kinh doanh mới Không đồng ý với quyết định của HĐTV (thực chất là quyết định của ông Đại và ông Công), ngày 5/12/2015 bà Lan khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy quyết định ngày 20/8/2015 của HĐTV công ty
Câu hỏi:
1 Quyết định bán công ty của ông Đại và ông Công cho ông Trần Lâm có thực hiện được không? Vì sao?
2 Giả sử việc M & A giữa công ty TNHH Đại Thành Công và ông Trần Lâm
có thể thực hiện được, anh (chị) giúp hai bên soạn thảo hợp đồng M & A nói trên
Trang 3NỘI DUNG
1 Quyết định bán công ty của ông Đại và ông Công cho ông Trần Lâm có thực hiện được không? Vì sao?
Quyết định bán công ty của ông Đại và ông Công cho ông Trần Lâm không thể thực hiện được trong trường hợp này vì không phù hợp với quy định pháp luật
về chuyển nhượng vốn trong doanh nghiệp (cụ thể ở đây là công ty TNHH Đại Thành Công) của Việt Nam
Theo những thông tin được cung cấp về Công ty TNHH Đại Thành Công
và 3 thành viên góp vốn trong công ty, ý kiến pháp lý được đưa ra như sau:
Thứ nhất: “Công ty TNHH Đại Thành Công được thành lập tháng 7 năm
2015 do ba người là ông Đại, Thành và Công cùng góp vốn thành lập với tổng vốn điều lệ là 2.000.000.000 VND, trong đó vốn của ông Đại: 50%, ông Thành: 25% và ông Công: 25%.”
Như vậy, giả định là trong trường hợp này Công ty TNHH Đại Thành Công được thành lập hợp pháp và đã hoàn thành đầy đủ thủ tục pháp lý để được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp vào tháng 7 năm 2015 Ngoài ra, ông Đại, ông Thành và ông Công là ba thành viên góp vốn đều có quyền thành lập, góp vốn và/hoặc quản lý doanh nghiệp, không thuộc các trường hợp bị cấm theo Khoản 2 và khoản 3 Điều 18 Luật doanh nghiệp năm 2014
Thứ hai: “Ngày 10/8/2015 ông Thành bị tai nạn giao thông và qua đời
Người thừa kế duy nhất của ông Thành là bà Lan Bà Lan cũng mong muốn trở thành thành viên của công ty Nhưng ông Đại và ông Công không đồng ý vì cho rằng bà Lan là người không có khả năng kinh doanh và quản lý sẽ ảnh hưởng tới công ty.”
Dựa trên thông tin trên đây, giả định bà Lan là người thừa kế hợp pháp căn cứ theo Điều 649, 650 và 651 Bộ luật dân sự 2015 Trong trường hợp này, ông Thành bị tai nạn giao thông và qua đời và có thể giả định rằng ông Thành không
để lại di chúc, bà Lan sẽ được hưởng quyền thừa kế phần vốn góp của ông Thành theo pháp luật (nếu chắc chắn bà Lan là người thừa kế duy nhất)
Đối với vấn đề ông Đại và ông Công không đồng ý cho bà Lan trở thành thành viên của công ty, điều này là không đúng với quy định của pháp luật Cụ
thể, căn cứ Điều 54 Luật doanh nghiệp 2014, khoản 1 có quy định như sau:“1 Trường hợp thành viên là cá nhân chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của thành viên đó là thành viên của công ty ” Ngoài ra, để có thể trở
thành thành viên góp vốn trong công ty, bà Lan còn phải đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014 đó là: không thuộc các trường hợp nêu tại khoản 3:
Trang 4“a) Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
b) Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.”
Ở đây, ông Đại và ông Công đã không đồng ý cho bà Lan trở thành thành
viên Công ty với lý do hai ông cho rằng “bà Lan là người không có khả năng kinh doanh và quản lý sẽ ảnh hưởng tới công ty.” Lý do mà các ông đưa ra không dựa
trên các căn cứ pháp luật nêu trên mà hoàn toàn dựa trên quan điểm cá nhân chủ quan Do đó, việc bà Lan trở thành thành viên công ty sau khi được thừa kế phần vốn góp của ông Thành là đúng theo quy định pháp luật
Thứ ba: “tại cuộc họp Hội đồng thành viên ngày 20/8/2015, ông Đại và
ông Công quyết định bán toàn bộ công ty TNHH Đại Thành Công cho ông Trần Lâm với giá trị hợp đồng là 3.000.000.000 VND để đầu tư vào một mô hình kinh doanh mới Không đồng ý với quyết định của HĐTV (thực chất là quyết định của ông Đại và ông Công), ngày 5/12/2015 bà Lan khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy quyết định ngày 20/8/2015 của HĐTV công ty.”
Vào cuộc họp Hội đồng thành viên ngày 20/8/2015, ông Đại và ông Công
đã quyết định bán toàn bộ công ty TNHH Đại Thành Công cho ông Trần Lâm Như đã nói ở trên, khi ông Thành qua đời, phần vốn góp thuộc sở hữu của ông Thành sẽ chuyển quyền sở hữu cho người thừa kế duy nhất của ông là bà Lan Thỏa mãn các điều kiện và không thuộc trường hợp cấm của pháp luật, bà Lan đương nhiên trở thành thành viên của Công ty TNHH Đại Thành Công tương ứng với phần vốn góp 25% vốn điều lệ công ty mà bà nắm giữ Do đó, ba thành viên công ty tại thời điểm đó sẽ là ông Đại, ông Công và bà Lan
Đối với phần vốn góp của ba thành viên kể trên, trong trường hợp muốn chuyển nhượng, cần phải thực hiện theo quy định tại Điều 53 Luật doanh nghiệp
2014, tại khoản 1 có quy định:
“1 Trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 52, khoản 5 và khoản 6 Điều 54 của Luật này, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định sau đây:
a) Phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện;
b) Chỉ được chuyển nhượng với cùng điều kiện chào bán đối với các thành viên còn lại quy định tại điểm a khoản này cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chào bán.”
Trang 5Như vậy, nếu ông Đại và ông Công muốn chuyển nhượng phần vốn góp của mình trong Công ty thì cần chào bán cho thành viên còn lại là bà Lan Có trường hợp xảy ra là bà Lan không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày thì số vốn góp đó có thể được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên công ty Tuy nhiên, trong trường hợp này, quyết định bán toàn bộ công ty cho ông Trần Lâm là quyết định của riêng ông Đại và ông Công, chưa được thông qua ý kiến của thành viên còn lại là bà Lan, và số cổ phần của bà Lan trong công ty vẫn thuộc quyền sở hữu của bà nên hai ông không thể chuyển nhượng cho người khác Do
đó, quyết định bán công ty của ông Đại và ông Công là trái với quy định pháp luật,
do đó sẽ không thể thực hiện được Ngoài ra, để thực hiện việc chuyển nhượng phần vốn góp thì tất cả các thành viên phải góp đủ số vốn đã cam kết trước khi chuyển nhượng theo quy định tại Điều 48 Luật doanh nghiệp 2014 quy định về thực hiện góp vốn thành lập công ty và cấp giấy chứng nhận phần vốn góp như sau:
"2 Thành viên phải góp vốn phần vốn góp cho công ty đủ và đúng loại tài sản như
đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Thành viên công ty chỉ được góp vốn phần vốn góp cho công ty bằng các tài sản khác với loại tài sản đã cam
kết nếu được sự tán thành của đa số thành viên còn lại Trong thời hạn này, thành viên có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp như đã cam kết góp "
Như vậy, để việc bán công ty TNHH Đại Thành Công cho ông Trần Lâm được thực hiện, ông Đại và ông Công cần phải có sự đồng thuận của bà Lan và cả ba người phải góp đủ số vốn đã cam kết nếu muốn chuyển nhượng toàn bộ phần vốn này, nếu không thì họ chỉ có quyền đối với số vốn đã thực góp trong thời điểm chuyển nhượng, chứ không phải toàn bộ phần vốn góp mà họ cam kết góp tại thời điểm thành lập công ty Khi đàm phán, soạn thảo và thực hiện hợp đồng, các bên cũng cần đặc biệt lưu ý vấn đề này
2 Giả sử việc M & A giữa công ty TNHH Đại Thành Công và ông Trần Lâm
có thể thực hiện được, anh (chị) giúp hai bên soạn thảo hợp đồng M & A nói trên
Các thành viên có thể thực hiện việc chuyển nhượng trực tiếp cho ông Trần Lâm số vốn góp của mình hoặc ủy quyền cho Công ty thực hiện việc chuyển nhượng Giả định trong trường hợp đã thực hiện việc ủy quyền cho Công ty TNHH Đại Thành Công đứng ra thực hiện việc chuyển nhượng Trước khi ký Hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận bằng văn bản về việc Công ty TNHH Đại Thành Công sau khi đứng ra chuyển nhượng theo ủy quyền của ba thành viên sẽ phải thanh
Trang 6toán số tiền chuyển nhượng đó cho chủ sở hữu là ông Đại, ông Công và bà Lan để tránh khỏi tranh chấp sau này Hợp đồng có thể được soạn thảo như sau:
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
——o0o—–
HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG PHẦN VỐN GÓP
( Số 23/2015/HĐCNVG)
hành;
số 010815/BBH-HĐTV ngày 23 tháng 8 năm 2015;
số 23815/QĐ-HĐTV ngày 23 tháng 8 năm 2015;
Công ty TNHH Đại Thành Công; Văn bản ủy quyền số 0215 /VBUQ giữa ông Nguyễn Văn Công và Công ty TNHH Đại Thành Công; Văn bản ủy quyền số 0315 /VBUQ giữa bà Trần Thị Lan và Công ty TNHH Đại Thành Công;
ty TNHH Đại Thành Công do Phòng Đăng ký kinh doanh số 02- Sở KH
và ĐT thành phố Huế cấp đăng ký lần đầu ngày 01/07/2015;
Hôm nay, ngày 23 tháng 08 năm 2015 tại trụ sở công ty TNHH Đại Thành Công 267 Nguyễn Du, thành phố Huế:
Các bên gồm:
1 Bên Chuyển nhượng (Bên bán):
Công ty TNHH Đại Thành Công
Đăng ký doanh nghiệp số 0108123456 do Phòng Đăng ký kinh doanh số 02- Sở
KH và ĐT thành phố Huế cấp đăng ký lần đầu ngày 0107/2015;
Địa chỉ: 267 Nguyễn Du, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Thuế
Điện thoại: 02436368676
Số tài khoản ngân hàng: 161000456789 - Chi nhánh Huế –Ngân Hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (VIETCOMBANK);
Trang 7Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Công
Căn cước công dân số 012345666789- ngày cấp: 18/05/2019- nơi cấp: Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội
Hộ khẩu thường trú: 15C Nguyễn Văn Linh, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên- Huế
2 Bên nhận Chuyển nhượng (Bên mua)
Ông Trần Lâm
Căn cước công dân số 012345553955- ngày cấp: 27/11/2019- nơi cấp: Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội
Hộ khẩu thường trú: 168A ngõ 12 phố Trần Cao Vân, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bên bán và Bên mua dưới đây được gọi tắt là “các Bên” và “Bên”
Các Bên bằng văn bản này đồng ý việc chuyển nhượng phần vốn góp theo các điều khoản và điều kiện sau đây
Điều 1: Đối tượng chuyển nhượng của hợp đồng
1.1 Bên bán đồng ý chuyển nhượng cho Bên mua phần vốn góp 2.000.000.000 VNĐ (bằng chữ: Hai tỷ Việt Nam Đồng) tương đương 100% tổng vốn góp (vốn điều lệ) của Công ty TNHH Đại Thành Công, cùng toàn bộ quyền và nghĩa vụ tương ứng theo quy định pháp luật Việt Nam và Điều lệ Công ty TNHH Đại Thành Công
1.2 Phần vốn góp mà Bên bán chuyển nhượng không thuộc Khoản 6 Điều 54 Luật Doanh nghiệp năm 2014 Phần Vốn góp chuyển nhượng không bị bất kỳ một ràng buộc nào từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không bị cầm cố, thế chấp, hoặc không bị hạn chế chuyển nhượng theo quy định trong Điều lệ của Công ty TNHH Đại Thành Công
Điều 2: Giá chuyển nhượng
Giá của việc chuyển nhượng phần Vốn góp được ấn định là 3.000.000.000 VNĐ (bằng chữ: Ba tỷ Việt Nam Đồng), mức giá này chưa bao gồm các loại thuế, phí phải nộp theo quy định của pháp luật
Điều 3: Phương thức và thời hạn thanh toán
3.1 Phương thức thanh toán: Tiền chuyển nhượng sẽ được chuyển khoản tới tài khoản ngân hàng của Bên bán
Số tài khoản ngân hàng: 161000456789 Chi nhánh Huế – Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (VIETCOMBANK);
3.2 Thời hạn thanh toán:
Trang 8Việc thanh toán khoản tiền chuyển nhượng nêu tại khoản 3.1 của Điều này được tiến hành ngay sau khi các Bên ký kết hợp đồng này Sau khi nhận được đầy đủ
số tiền chuyển nhượng Bên bán sẽ ký giấy xác nhận đã thanh toán cho Bên mua
Điều 4: Tuyên bố và bảo đảm của Bên Chuyển nhượng
Bên chuyển nhượng tuyên bố và bảo đảm vào ngày ký Hợp đồng này rằng: 4.1 Bên chuyển nhượng hiện là Công ty TNHH Đại Thành Công được tổ chức
và tồn tại hợp thức và đang hoạt động tốt theo pháp luật Việt Nam và Bên Chuyển nhượng đã hoàn thành mọi thủ tục pháp lý cần thiết để Chuyển nhượng phần Vốn góp;
4.2 Phần Vốn góp đã được đăng ký hợp thức và đã thanh toán đầy đủ cho Công
ty TNHH Đại Thành Công;
4.3 Bên chuyển nhượng cam kết dùng mọi tài sản của mình để thanh toán mọi nghĩa vụ, khoản nợ của Công ty TNHH Đại Thành Công phát sinh trước ngày Bên nhận chuyển nhượng trở thành thành viên của Công ty TNHH Đại Thành Công;
4.4 Bên chuyển nhượng cam kết bàn giao quyền quản lý phần Vốn góp Công ty TNHH Đại Thành Công và cùng Bên nhận chuyển nhượng thực hiện các thủ tục pháp lý cần thiết để bên nhận chuyển nhượng có tên trong giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp của Công ty;
4.5 Việc Bên Chuyển nhượng ký kết Hợp đồng và hoàn thành giao dịch này là hợp thức và đã có sự chấp thuận của Hội đồng thành viên;
4.6 Bên chuyển nhượng có trách nhiệm nộp mọi loại thuế, phí liên quan đến việc chuyển nhượng phần vốn góp của mình theo quy định của pháp luật
Điều 5: Tuyên bố và bảo đảm của Bên nhận Chuyển nhượng
Bên nhận Chuyển nhượng tuyên bố và bảo đảm rằng:
5.1 Bên nhận Chuyển nhượng sẽ thanh toán đầy đủ và đúng hạn khoản tiền chuyển nhượng nêu tại khoản 3.1 của Điều 3 theo các cam kết tại hợp đồng này; 5.2 Bên nhận Chuyển nhượng sẽ thực hiện các quyền lợi, nghĩa vụ với tư cách
là thành viên Công ty TNHH Đại Thành Công sau khi hoàn thành các cam kết theo Hợp đồng này
5.3 Bên nhận Chuyển nhượng không chịu trách nhiệm gì đối với các khoản nợ
và nghĩa vụ tài sản của Công ty TNHH Đại Thành Công phát sinh trước ngày Bên nhận chuyển nhượng có tên trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty TNHH Đại Thành Công
5.4 Bên nhận Chuyển nhượng tuyên bố và đảm bảo rằng: Việc Bên nhận Chuyển nhượng ký kết Hợp đồng và hoàn thành các nghĩa vụ của mình theo Hợp đồng này là hợp thức mà không cần có thêm sự cho phép nào của cơ quan có thẩm quyền có liên quan
Trang 9Điều 6: Giải quyết tranh chấp
6.1 Hợp đồng này được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam
6.2 Các bên bằng mọi nỗ lực sẽ giải quyết mọi tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng
này thông qua thương lượng và hòa giải Trong vòng 30 ngày kể từ ngày một Bên
nhận được yêu cầu thương lượng và hòa giải bằng văn bản của Bên kia mà tranh
chấp vẫn chưa được giải quyết, các Bên có quyền đưa tranh chấp ra Trung tâm
Trọng tài Quốc tế Việt Nam (“VIAC”) để giải quyết theo Quy tắc trọng tài hiện
hành được thiết lập dựa trên điều khoản này
Điều 7: Sửa đổi, bổ sung các điều khoản của Hợp đồng
7.1 Mọi sửa đổi, bổ sung của Hợp đồng này chỉ có giá trị khi được lập bằng văn
bản và có đầy đủ chữ ký của Các Bên
7.2 Nếu một quy định bất kỳ của Hợp đồng bị Toà án tuyên bố vô hiệu hoặc
không thực thi được, các Bên sẽ xem như tất cả các quy định còn lại của Hợp
đồng vẫn có giá trị và các Bên có nghĩa vụ phải tuân thủ
Điều 8: Kế thừa
8.1 Các Bên cam kết bản thân mình và các cá nhân, tổ chức kế thừa quyền lợi và
nghĩa vụ của các Bên sẽ thực hiện nghiêm túc các quy định trong Hợp đồng này
mà không có bất kỳ khiếu nại nào
8.2 Hợp đồng này có giá trị bắt buộc và có hiệu lực đối với Các Bên, không có
bất kỳ sự đơn phương chấm dứt Hợp đồng nào mà không có sự thoả thuận giữa
các Bên liên quan
Điều 9: Thông báo
Mọi thông báo, yêu cầu và liên lạc khác theo Hợp đồng này phải được lập thành
văn bản và phải được gửi đến địa chỉ tương ứng nêu trên
Điều 10: Điều khoản cuối cùng
10.1 Các Bên đã đọc kỹ, đồng ý và tự nguyện ký vào Hợp đồng này mà không
chịu bất kỳ một sự đe dọa, ép buộc nào;
10.2 Hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày ký;
10.3 Hợp đồng này được lập thành 08 (tám) bản có giá trị như nhau do mỗi bên
giữ 04 (bốn) bản
BÊN CHUYỂN NHƯỢNG
CÔNG TY TNHH ĐẠI THÀNH CÔNG
Người đại diện theo pháp luật
BÊN NHẬN CHUYỂN NHƯỢNG
TRẦN LÂM
Trang 10KẾT LUẬN
Qua kết quả thực hiện bài tập trên, những sự đúc rút em có được cho mình đó là hoạt động mua bán doanh nghiệp, cụ thể là mua bán phần vốn góp trong công ty TNHH hay cổ phần trong công ty cổ phần có liên hệ tới rất nhiều quy định pháp luật liên quan, không chỉ là quy định về doanh nghiệp,
về chuyển nhượng tài sản (vốn góp) mà còn cả thừa kế, giải quyết tranh chấp Hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp quả thực là còn vô vàn những vấn đề để có thể nghiên cứu và nếu hiểu được những quy định pháp luật liên quan sẽ đem lại rất nhiều những lợi ích cho tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động này Và để hiểu rõ, nắm rõ về việc đàm phán, soạn thảo và thực hiện hợp đồng trong lĩnh vực này cần có rất nhiều thời gian và sự đam mê, chủ động và
nỗ lực trong thực tiễn./