Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng chứng thực qua thực tiễn tại huyện Châu Thành tỉnh Long An Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng chứng thực qua thực tiễn tại huyện Châu Thành tỉnh Long An luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Tình hình nghiên cứu
Từ trước đến nay, trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về lĩnh vực này:
Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc xây dựng và hoàn thiện tổ chức cũng như hoạt động công chứng tại Việt Nam đã được nghiên cứu sâu sắc trong Đề tài cấp Bộ mã số 92-98-224 năm 1993 của Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý thuộc Bộ Tư pháp Nghiên cứu này nhằm cung cấp những căn cứ pháp lý và thực tiễn cần thiết để cải thiện chất lượng và hiệu quả của hệ thống công chứng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
- Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay, của tác giả Lê Thị Phương Hoa
- Hoàn thiện pháp luật về công chứng, chứng thực ở Việt Nam hiện nay - lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ của tác giả Tuấn Đạo Thanh
- Nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Chí Thiện
- Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Quang Minh năm 2009
Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Văn Cường, năm 2009, tập trung vào việc phân tích quản lý Nhà nước đối với tổ chức và hoạt động của công chứng tại thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các vấn đề pháp lý và thực tiễn liên quan đến công chứng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả quản lý trong lĩnh vực này.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Minh Hợi, năm 2009, tập trung vào việc xây dựng nội dung cơ bản về quản lý Nhà nước đối với hoạt động công chứng và chứng thực tại tỉnh Bình Phước Nghiên cứu này nhằm phân tích thực tiễn và đề xuất các giải pháp cải thiện quản lý trong lĩnh vực công chứng, chứng thực, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền lợi của công dân.
- Kiến nghị hoàn thiện Luật Công chứng, Bài viết của tác giả Lê Quốc Hùng đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 1+2 (210+211), tháng 1 năm 2012
Bài viết của tác giả Phan Hải Hồ trên tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14, đề cập đến việc hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với văn phòng công chứng Nội dung nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải cách pháp lý để nâng cao hiệu quả hoạt động của các văn phòng công chứng, đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý nhà nước.
- Luận văn Thạc sĩ Luật học: “Hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang – Thực trạng và giải pháp” của tác giả Đỗ Thị Loan, năm 2015
Đề tài “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng, chứng thực qua thực tiễn tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An” là nghiên cứu đầu tiên đi sâu vào thực trạng hoạt động công chứng tại Văn phòng công chứng trong khu vực này Các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào các vấn đề tổng thể hoặc khía cạnh cụ thể khác của hoạt động công chứng, nhưng chưa có công trình nào phân tích chi tiết về tình hình tại huyện Châu Thành.
Phương pháp nghiên cứu
Việc viết đề tài yêu cầu sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác nhau, bao gồm sách vở, tài liệu và giấy tờ, cũng như kinh nghiệm thực tiễn Để thu thập thông tin, cần áp dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó các phương pháp chính bao gồm điều tra, thống kê, phân tích và so sánh.
Phương pháp tổng hợp thống kê:
Phương pháp nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ báo cáo, tờ trình và các đề tài nghiên cứu khoa học để tổng hợp và phân loại số liệu liên quan đến hoạt động công chứng và chứng thực tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An Qua đó, người nghiên cứu có thể hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động này, khẳng định vai trò quan trọng của phương pháp trong quá trình tìm hiểu đề tài.
Dựa trên số liệu thống kê qua các thời kỳ và năm, bài viết phân tích nhu cầu gia tăng trong lĩnh vực công chứng và chứng thực Đồng thời, việc so sánh các quy định pháp luật theo từng giai đoạn giúp nhận diện những điểm mới và tiến bộ, cũng như các vấn đề còn tồn tại chưa được khắc phục Từ đó, bài viết đưa ra đánh giá khách quan về thực tiễn và đề xuất các giải pháp hợp lý nhằm cải thiện những hạn chế, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống nhân dân.
Phương pháp phân tích sẽ tập trung vào việc đánh giá hoạt động công chứng và chứng thực, nhằm làm rõ những tác động tích cực cũng như ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của người dân Bên cạnh đó, bài viết cũng sẽ xem xét các nguyên nhân chủ quan và khách quan liên quan đến những vấn đề này.
Phương pháp điều tra khảo sát:
Qua việc tìm hiểu hoạt động công chứng và chứng thực tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An, chúng tôi đã thu thập ý kiến từ người dân và cán bộ công chứng để đánh giá khách quan về chất lượng dịch vụ này Mục tiêu là nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân đối với hoạt động công chứng và chứng thực tại địa phương.
Nhằm nâng cao hiểu biết về tác động của công chứng và chứng thực đối với đời sống nhân dân, việc tham khảo ý kiến từ các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực này là vô cùng cần thiết.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo nội dung của khóa luận gồm 2 chương:
- Chương 1: Khái quát về hoạt động công chứng, chứng thực
- Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về công chứng, chứng thực qua thực tiễn tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC
1.1 Khái quát về hoạt động công chứng
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của hoạt động công chứng
Hoạt động công chứng tại Việt Nam bắt đầu từ thời kỳ thực dân Pháp xâm lược, áp dụng theo mô hình pháp lý của Pháp Giai đoạn này, công chứng chủ yếu phục vụ cho chính sách cai trị của thực dân tại Đông Dương, đặc biệt là tại Việt Nam Một trong những văn bản quan trọng là Sắc lệnh ngày 24 tháng.
Năm 1931, Tổng thống Cộng hòa Pháp ban hành quy định về tổ chức công chứng, áp dụng tại Đông Dương theo quyết định của Toàn quyền Đông Dương P Pasquies Theo quy định, công chứng viên là người mang quốc tịch Pháp, được Tổng thống bổ nhiệm và giữ chức vụ suốt đời Công chứng viên hoạt động như một người thi hành công vụ, với tính chất của nghề tự do Thời điểm đó, Việt Nam chỉ có một văn phòng công chứng tại Hà Nội và ba văn phòng tại Sài Gòn, trong khi ở các thành phố như Hải Phòng, Nam Định, và Đà Nẵng, việc công chứng do Chánh luật sự Tòa án sơ thẩm đảm nhiệm.
Sau cách mạng tháng Tám, ngày 1 tháng 10 năm 1945, Bộ trưởng Bộ Tư Pháp Vũ Trọng Khánh đã ký quyết định về hoạt động công chứng, bãi chức công chứng viên người Pháp và bổ nhiệm công chứng viên người Việt Nam Các quy định cũ về công chứng của Pháp vẫn được áp dụng, trừ những điều trái với chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Người Việt Nam có quốc tịch Pháp được Nhà nước thu dung, và công chứng viên phải chịu trách nhiệm trước các Ủy ban hành chính Để đáp ứng nhu cầu giao dịch dân sự, ngày 15 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 59/SL quy định thủ tục thị thực giấy tờ cho công dân trong các giao dịch như mua bán, chứng nhận địa chỉ Tuy nhiên, việc áp dụng Sắc lệnh 59/SL sau này chủ yếu mang tính hình thức, tập trung vào việc xác nhận ngày tháng, chữ ký và địa chỉ thường trú của đương sự.
Vào ngày 29/2/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 85 quy định thể lệ trước bạ cho việc mua, bán, cho, đổi nhà cửa và ruộng đất, tuy nhiên, sắc lệnh này chỉ áp dụng cho các vùng tự do hoặc thuộc Uỷ ban kháng chiến do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ Theo quy định, Uỷ ban kháng chiến cấp xã có trách nhiệm nhận thực văn tự, bao gồm việc xác nhận chữ ký của các bên liên quan và xác thực quyền sở hữu của người bán, cho, đổi Thời điểm này, hoạt động công chứng chưa phát triển do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Trong bối cảnh đất nước đang trải qua giai đoạn chiến tranh khó khăn, nền kinh tế gặp nhiều thách thức và phát triển kém, tình hình thiếu thốn trở nên nghiêm trọng.
Nhà nước không chấp nhận chế độ sở hữu của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể, dẫn đến hoạt động công chứng chủ yếu tập trung vào việc chứng thực các quan hệ sở hữu tư nhân Trong bối cảnh này, giao lưu kinh tế và dân sự chủ yếu được xác lập theo quan hệ hành chính, trong khi thương mại gần như không phát triển, vì vậy các tổ chức công chứng không được thành lập trong giai đoạn này.
Giai đoạn 1954 - 1981, hoạt động công chứng và chứng thực thiếu quy phạm điều chỉnh Năm 1981, Nghị định 143 của Hội Đồng Bộ trưởng được ban hành, quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tư pháp, đánh dấu sự khởi đầu cho sự phát triển trong lĩnh vực này.
Năm 1987, Thông tư số 574/QLTPK được ban hành, quy định về công tác công chứng nhà nước, đánh dấu sự ra đời của Phòng Công chứng TP Hồ Chí Minh.
Minh, phòng công chứng Hà Nội và các phòng công chứng ở các địa phương khác đã được kiện toàn để nâng cao hiệu quả công tác công chứng, chứng thực của UBND Để tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 858/QLTPK ngày 15/10/1987, hướng dẫn thực hiện công chứng, với phòng công chứng là chủ thể duy nhất thực hiện công việc này Dựa trên các văn bản này, các tỉnh thành trên cả nước đã thành lập phòng công chứng, từ đó hình thành mạng lưới công chứng rộng khắp.