Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố. Để xác định sự thật khách quan của một vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phải trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau theo quy định của pháp luật. Một trong số đấy là giai đoạn truy tố, trong đó Viện kiểm sát phải tiến hành các hoạt động cần thiết, nghiên cứu, xem xét các vấn đề về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án thể hiện qua hồ sơ nhằm đảm bảo quá trình điều tra đúng pháp luật, khách quan, toàn diện, đầy đủ, bên cạnh đó bảo đảm việc ban hành quyết định truy tố bị can ra xét xử trước Tòa án có thẩm quyền hoặc những quyết định khác cần thiết cho việc giải quyết vụ án là có căn cứ và đúng pháp luật. Theo quy định của pháp luật, trong giai đoạn truy tố, khi Viện kiểm sát phát hiện thấy còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể tự mình bổ sung được hay khi có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố … thì Viện kiểm sát sẽ ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhằm khắc phục những thiếu sót, tồn tại trong giai đoạn tố tụng trước và giải quyết vụ án theo hướng đúng đắn. Đây là quy định rất quan trọng của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Vì thế em xin chọn đề số 28: “Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố” để tìm hiểu sâu hơn về quy định này. NỘI DUNG Chương 1: Khái quát vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố. 1.1. Khái niệm: • Khái niệm giai đoạn truy tố Truy tố là một thuật ngữ pháp lý có thể được xem ở nhiều góc độ khác nhau, có thể là hoạt động tố tụng hình sự hoặc một giai đoạn tố tụng trong tiến trình giải quyết vụ án hình sự. Dưới khía cạnh hoạt động tố tụng, Truy tố là việc đưa người phạm tội ra trước tòa án để xét xử. Theo quy định pháp luật, truy tố người phạm tội ra trước pháp luật tòa án thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát. Sau khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố gửi cùng hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát cùng cấp thực hiện truy tố. Truy tố cũng được hiểu là một giai đoạn của tố tụng hình sự. Luật tố tụng hình sự Việt Nam chia quá trình tố tụng thành các giai đoạn: Khởi tố vụ án, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, thi hành án hình sự và giai đoạn đặc biệt . Trong đó, truy tố là giai đoạn Viện kiểm sát tiến hành hoạt động xem xét quyết định việc truy tố sau khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đề nghị truy tố của Cơ quan điều tra hoặc Cơ quan được giáo tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển đến và kết thúc khi Viện kiểm sát ra bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố trước tòa hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án. Truy tố do Viện kiểm sát có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm buộc tội bị can trước tòa án có thẩm quyền bằng bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố. Tựu chung lại, giai đoạn truy tố là một phần (một bước) của quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong đó Viện kiểm sát tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm truy tố bị can trước tòa án bằng bản cáo trạng hay quyết định truy tố, hoặc ra những quyết định tố tụng khác để giải quyết đúng đắn vụa vụ án hình sự. • Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố là hoạt động của Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn truy tố được thực hiện bằng việc chuyển lại hồ sơ cho Cơ quan đã tiến hành điều tra và đề nghị truy tố, yêu cầu bổ sung chứng cứ và khắc phục những thiếu sót nghiêm trọng hay sai lầm nghiêm trọng trong quá trình điều tra nhằm đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.
Trang 1ĐỀ 28: Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố
BẢNG VIẾT TẮT
Tố tụng Hình sự
Bộ luật Hình sự Trách nhiệm Hình sự Thông tư liên tịch
Bộ Công An Tòa án nhân dân tối cao Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
Chương 1: Khái quát vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 1
1.1 Khái niệm: 1
1.2 Ý nghĩa việc trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 2
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 4
2.1 Các trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 4
2.2 Thẩm quyền và trình tự, thủ tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 12
Chương 3: Một số bất cập của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố và hướng khắc phục 13
3.1 Hạn chế: 13
3.2 Giải pháp, hướng khắc phục: 14
KẾT LUẬN 14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 3MỞ ĐẦU
Để xác định sự thật khách quan của một vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phải trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau theo quy định của pháp luật Một trong số đấy là giai đoạn truy tố, trong đó Viện kiểm sát phải tiến hành các hoạt động cần thiết, nghiên cứu, xem xét các vấn đề về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án thể hiện qua hồ sơ nhằm đảm bảo quá trình điều tra đúng pháp luật, khách quan, toàn diện, đầy đủ, bên cạnh đó bảo đảm việc ban hành quyết định truy tố bị can ra xét xử trước Tòa án có thẩm quyền hoặc những quyết định khác cần thiết cho việc giải quyết vụ án là có căn cứ và đúng pháp luật Theo quy định của pháp luật, trong giai đoạn truy tố, khi Viện kiểm sát phát hiện thấy còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể tự mình bổ sung được hay khi có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố … thì Viện kiểm sát sẽ ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhằm khắc phục những thiếu sót, tồn tại trong giai đoạn tố tụng trước
và giải quyết vụ án theo hướng đúng đắn Đây là quy định rất quan trọng của pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam Vì thế em xin chọn đề số 28: “Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố” để tìm hiểu sâu hơn về quy định này
NỘI DUNG Chương 1: Khái quát vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng hình
sự về trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố.
1.1 Khái niệm:
• Khái niệm giai đoạn truy tố
Truy tố là một thuật ngữ pháp lý có thể được xem ở nhiều góc độ khác nhau, có thể là hoạt động tố tụng hình sự hoặc một giai đoạn tố tụng trong tiến trình giải quyết
vụ án hình sự Dưới khía cạnh hoạt động tố tụng, Truy tố là việc đưa người phạm tội ra trước tòa án để xét xử Theo quy định pháp luật, truy tố người phạm tội ra trước pháp luật tòa án thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát Sau khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều
Trang 4tra làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố gửi cùng hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát cùng cấp thực hiện truy tố.1
Truy tố cũng được hiểu là một giai đoạn của tố tụng hình sự Luật tố tụng hình
sự Việt Nam chia quá trình tố tụng thành các giai đoạn: Khởi tố vụ án, điều tra, truy tố,
truy tố là giai đoạn Viện kiểm sát tiến hành hoạt động xem xét quyết định việc truy tố sau khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đề nghị truy tố của Cơ quan điều tra hoặc Cơ quan được giáo tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển đến và kết thúc khi Viện kiểm sát ra bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố trước tòa hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án Truy tố do Viện kiểm sát có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm buộc tội bị can trước tòa án có thẩm quyền bằng bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố
Tựu chung lại, giai đoạn truy tố là một phần (một bước) của quá trình giải quyết
vụ án hình sự, trong đó Viện kiểm sát tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm truy tố bị can trước tòa án bằng bản cáo trạng hay quyết định truy tố, hoặc ra những quyết định
tố tụng khác để giải quyết đúng đắn vụa vụ án hình sự
• Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố là hoạt động của Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn truy tố được thực hiện bằng việc chuyển lại hồ sơ cho
Cơ quan đã tiến hành điều tra và đề nghị truy tố, yêu cầu bổ sung chứng cứ và khắc phục những thiếu sót nghiêm trọng hay sai lầm nghiêm trọng trong quá trình điều tra nhằm đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự
1.2 Ý nghĩa việc trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố
Có thể nói chế định “trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố” có ý nghĩa rất quan trọng, không những góp phần bảo đảm thực hiện nhất quán, triệt để các
1 Bộ Tư pháp, Viên nghiên cứu Khoa học Pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr820
2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công An Nhân Dân, Hà Nội, tr11-12
Trang 5nguyên tắc của BLTTHS mà còn góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, hạn chế oan sai, bỏ sót tội phạm, bảo
vệ quyền con người, quyền công dân Cụ thể như sau:
Quy định và thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố góp phần thực hiện nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự
Quy định và thực hiện quy định của pháp luật hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố góp phần bảo đảm việc thực hiện nguyên tắc xác định sự thật vụ án Đây là nguyên tắc cơ bản của hoạt động tố tụng hình sự, là tư tưởng chủ đạo
hiệu quả, mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện và xử lý
Quy định về chế định trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố góp phần bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong hoạt động điều tra truy tố
Trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn này góp phần hạn chế oan sai, bỏ lọt tội phạm; bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
3 Võ Thị Xuân Hương (2017), Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố, Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr.16
Trang 6Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ điều tra
bổ sung trong giai đoạn truy tố
2.1 Các trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố
Việc xác lập các trường hợp ban hành quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố là hết sức cần thiết Nếu BLTTHS không có quy định về vấn đề này hoặc quy định không chặt chẽ sẽ dẫn tới tình trạng trả hồ sơ vụ án tràn lan, tùy tiện; không chỉ kéo dài thời gian giải quyết vụ án, làm ảnh hưởng tới lợi ích nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân mà còn ảnh hưởng tiêu cực tới quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát - Cơ quan điều tra, gây mất uy tín của Cơ quan tiến hành tố tụng Các trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố được quy định tại khoản
1 Điều 245 BLTTHS năm 2015 Cụ thể:
Thứ nhất, còn thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề qua định tại Điều 85 của Bộ luật tố tụng hình sự mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được
Theo quy định của pháp luật, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội Muốn xác định được người bị buộc tội có tội hay không, cơ quan tố tụng phải dựa trên những chứng cứ đã thu được để xem xét
Do không trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội nên cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ dựa vào các thông tin liên quan đến đối tượng chứng minh được thu thập theo trình tự, thủ tục luật định để kết luận về các tình tiết nhằm giải quyết đúng đắn vụ án Nội dung của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự là thu thập, kiểm tra và đánh giá các thông tin, tư liệu liên quan và có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ
Trang 7án Nói cách khác, quá trình chứng minh phải làm sáng tỏ tất cả những vấn đề có liên quan đến đối tượng chứng minh trong tố tụng hình sự - tức “tất cả những tình tiết phải được xác định đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện vụ án hình
chứng minh; đảm bảo quá trình chứng minh được toàn diện, đầy đủ, chính xác, tránh tràn lan, dàn trải, gây mất thời gian và tốn kém chi phí Theo quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015, khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh những vấn đề: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không, mục đích, động cơ phạm tội; Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; Tính chất
và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; Nguyên nhân và điều kiện phạm tội; Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt
Để làm sáng tỏ tất cả những vấn đề cần phải chứng minh, cơ quan tố tụng phải trải qua một quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá tất cả các thông tin, tài liệu phản ánh sự kiện phạm tội, phản ánh các yếu tố khách quan, chủ quan của tội phạm và các yếu tố liên quan đến người phạm tội Những thông tin đó được gọi chung là chứng cứ” Đây được coi là phương tiện duy nhất được cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng để chứng minh trong tố tụng hình sự Thông qua việc phát hiện chứng cứ, xem xét và ghi nhận chứng cứ về mặt tố tụng, kiểm tra tính xác thực của chứng cứ, đánh giá chứng cử, cơ quan tiến hành tố tụng có thể nghiên cứu đầy đủ và toàn diện các tình tiết của vụ án, xác định sự phù hợp của chúng với hiện thực từ đó tìm ra chân lý khách quan Khái niệm chứng cứ được ghi nhận tại Điều 86 BLTTHS năm 2015: Chứng cứ là những gì
có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm
4 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam 2018, Nxb Công An Nhân Dân, tr.217
Trang 8căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn: “Vật chứng: Lời khai, lời trình bày; Dữ liệu điện tử; Kết luận giám định, định giá tài sản; Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử, thi hành án; Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; Các tài liệu,
đồ vật khác"
Trong quá trình điều tra, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể xảy ra một số trường hợp thiếu sót chứng cứ cần thiết làm sáng tỏ những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự Những trường hợp sau đây được coi là thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Chứng cứ để chứng minh có hành vi phạm tội xảy ra hay không” là chứng cứ
để xác định hành vi đã xảy ra có đủ yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự hay thuộc các trường hợp không phải là hành vi phạm tội (quan
hệ dân sự, kinh tế, vi phạm hành chính và các trường hợp khác theo quy định của luật);
- Chứng cứ để chứng minh “thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành
vi phạm tội" là chứng cứ xác định nếu có hành vi phạm tội xảy ra thì xảy ra vào thời gian nào, ở đâu; phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm như thế nào?”
- Chứng cứ để chứng minh ai là người thực hiện hành vi phạm tội" là chứng cứ xác định một chủ thể cụ thể đã thực hiện hành vi phạm tội đó;
- Chứng cứ để chứng minh “có lỗi hay không có lỗi” là chứng cứ xác định chủ thể có lỗi hoặc không có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội; nếu có lỗi thì
là lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp hoặc lỗi vô ý do quá tự tin hay lỗi vô lý do cầu thủ theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 của Bộ luật Hình sự;
- Chứng cứ để chứng minh “có năng lực trách nhiệm hình sự không” là chứng cứ xác định khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người thực hiện hành vi nguy
Trang 9hiểm cho xã hội đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự chưa, có mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình hay không, nếu có thì mắc bệnh đó vào thời gian nào, trong giai đoạn tố tụng nào?
- Chứng cứ để chứng minh mục đích, động cơ phạm tội” là chứng cứ xác định chủ thể thực hiện hành vi phạm tội với mục đích, động cơ gì; mục đích, động cơ phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hay là tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt;
- Chứng cứ để chứng minh “tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo" là chứng cứ xác định bị can, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 51, Điều 84 của Bộ luật Hình sự hoặc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52, Điều 85 của Bộ luật Hình sự;
- Chứng cử để chứng minh “đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo" là | chứng
cứ xác định lý lịch của bị can, bị cáo; nếu bị can, bị cáo là pháp nhân thương mại thì phải chứng minh tên, địa chỉ và những vấn đề khác có liên quan đến địa vị pháp lý và hoạt động của pháp nhân thương mại;
Thứ hai, có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác; có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can;
Tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực có thể do cá nhân thực hiện nhưng cũng có thể do nhiều người cùng thực hiện Khi có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện tội phạm (một hoặc nhiều tội) thì gọi là đồng phạm” Vấn đề này được ghi nhận tại Điều 17 BLHS năm 2015 “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm." Theo quy định của BLHS năm 2015, chủ thể của tội phạm được mở rộng hơn so với trước đây, bao gồm cả nhân và pháp nhân thương mại nhưng BLHS năm 2015 hiện tại chỉ đặt ra vấn đề "đồng phạm" trong trường hợp chủ thể của
Trang 10tội phạm là cá nhân, chưa có quy định cụ thể về vấn đề này trong trường hợp chủ thể
Ngoài ra, trong vụ án, có thể còn có những đối tượng khác liên quan mà hành vi của họ cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự Một trong những nhiệm
vụ đặt ra cho Cơ quan tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án hình sự chính là xác định
và xử lý vấn đề trách nhiệm hình sự đối với người bị buộc tội trong những trường hợp nêu trên Theo quy định tại Điều 18 BLTTHS năm 2015: “Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội ” Việc khởi tố vụ án hình sự được tiến hành khi xác định hình vỉ có dấu hiệu của tội phạm và theo trình tự mà BLTTHS quy định Quyết định khởi tố vụ án hình sự là cơ sở pháp lý
để tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo Khi cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xác định có căn cứ cho rằng một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm sẽ tiến hành khởi tố bị can Để ra quyết định khởi tố bị can,
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải có đủ chứng cứ xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội, làm rõ đó là tội phạm gì, quy định ở điều khoản nào của BLHS, xác định rõ lý lịch của người thực hiện hành vi phạm tội Khi tiến hành điều tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thể ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi
tố hoặc quyết định khởi tố ghi không đúng họ tên, tuổi, nhân thân bị can; ra quyết định
bổ sung quyết định khởi tố bị can khi có căn cứ xác định bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm nhưng chưa bị khởi tố"
Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp, các cơ quan tiến hành tố tụng đều
áp dụng chính xác những quy định này Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, cơ quan
5 Cao Thị Oanh, Lê Đăng Doanh chủ biên (2016), Bình luận khoa học BLHS năm 2015, NXB Lao Động, Hà Nội, tr 37