1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết của mạc ngôn

117 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn làm luận văn Thạc sĩ, hi vọng góp thêm một hướng nghiên cứu vào quá trình khám phá tài năng

Trang 1

Huỳnh Thảo Nguyên

DIỄN NGÔN TÍNH DỤC TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MẠC NGÔN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 2

Huỳnh Thảo Nguyên

DIỄN NGÔN TÍNH DỤC TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MẠC NGÔN

Chuyên ngành : Văn học nước ngoài

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Các số liệu và kết quả trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng,

đã được công bố theo đúng quy định

TP.HCM, ngày 30 tháng 11 năm 2020

Tác giả luận văn

Huỳnh Thảo Nguyên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Nhà trường, các khoa, phòng ban, tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM đã chia sẻ, hỗ trợ học viên trong quá trình học tập Cảm ơn các thầy cô giáo đã giảng dạy tôi những chuyên đề cao học vừa qua để tôi có được vốn kiến thức như ngày hôm nay

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đinh Phan Cẩm

Vân, giảng viên Tổ Văn học nước ngoài, trường Đại học Sư phạm TP.HCM đã

tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Cảm ơn gia đình, anh chị em và bạn bè đã luôn đồng hành, động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn!

TP.HCM, ngày 30 tháng 11 năm 2020

Học viên

Huỳnh Thảo Nguyên

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 Những vấn đề chung về lý thuyết diễn ngôn 7

1.1.1 Một số quan niệm về diễn ngôn 7

1.1.2 Diễn ngôn tính dục 17

1.2 Vấn đề tính dục trong văn học đương đại Trung Quốc 22

1.3 Mạc Ngôn – gương mặt tiêu biểu của văn học đương đại Trung Quốc 28

1.3.1 Bối cảnh thời đại 28

1.3.2 Cuộc đời 31

1.3.3 Sự nghiệp văn chương 33

Tiểu kết chương 1 36

Chương 2 DIỄN NGÔN TÍNH DỤC NHƯ LÀ PHƯƠNG THỨC KIẾN TẠO MỚI VỀ THIÊN NHIÊN, CON NGƯỜI 37

2.1 Thiên nhiên 37

2.2 Con người 43

2.2.1 Miêu tả ngoại hình 45

2.2.2 Miêu tả nội tâm 56

2.3 Không gian lễ hội và sinh hoạt 60

2.3.1 Không gian lễ hội 60

2.3.2 Không gian sinh hoạt 63

Tiểu kết chương 2 68

Trang 6

Chương 3 THÔNG ĐIỆP DIỄN NGÔN TÍNH DỤC TRONG

TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN 69

3.1 Diễn ngôn tính dục như là phương thức luận giải ẩn ức con người 69

3.1.1 Đánh thức bản năng 70

3.1.2 Giải tỏa cảm xúc 74

3.2 Diễn ngôn tính dục như là phương thức đối thoại văn hóa 77

3.2.1 Diễn ngôn tính dục và sự suy đồi đạo đức 77

3.2.2 Diễn ngôn tính dục và các vấn đề hủ tục 81

3.3 Diễn ngôn tính dục gắn với nữ quyền 88

3.3.1 Sự chủ động của giới nữ 88

3.3.2 Khát vọng tự do về thể xác và tâm hồn 90

3.3.3 Quyền bình đẳng 93

Tiểu kết chương 3 101

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 7

Diễn ngôn tính dục được M.Foucault đưa ra góp phần kiến tạo một cách lý giải

về cơ bản, tiểu thuyết là thể loại thành công nhất

Nghiên cứu về tiểu thuyết Mạc Ngôn là một “vấn đề” của đời sống văn học đương đại Tính dục được đề cập phổ biến trong sáng tác của ông, đặc biệt là nhân vật bản năng mang tính “cuồng hoan”, nảy sinh nhiều ý kiến đánh giá trái chiều Xuất phát từ phương diện chính trị, xã hội, các nhà nghiên cứu phê phán tiểu thuyết Mạc Ngôn vì vi phạm “vùng cấm”, có tư tưởng chống lại quy phạm truyền thống Trong khi đó, xuất phát từ góc độ tư duy nghệ thuật nhiều nhà nghiên cứu đã vận dụng lý thuyết lý luận để phân tích, lý giải, từ đó chỉ ra “sự trở về và vượt lên” dân gian, dân tộc, mang “đẳng cấp thế giới” Thực tế cho thấy văn hóa, xã hội luôn chi phối sự kiến tạo và tiếp nhận các tác phẩm Việc

sử dụng lý thuyết Diễn ngôn tính dục của M.Foucault xem xét tiểu thuyết Mạc Ngôn, có thể đem lại một cách đọc mới, cách nhìn mới, lý giải mới phù hợp với

Trang 8

bản chất của hiện tượng này bởi lẽ đây không chỉ là một câu chuyện văn chương nghệ thuật đơn thuần mà còn là hiện tượng văn hóa, xã hội đáng chú ý

1.2 Hiện nay, vấn đề giáo dục giới tính ở cấp phổ thông đã được coi trọng hơn Tuy nhiên, theo thống kê về thực trạng tình dục học đường thì tỉ lệ nạo phá thai tuổi vị thành niên ngày càng tăng, tuổi quan hệ tình dục lần đầu ngày càng giảm, có nhiều trường hợp sau khi bị phát tán hình ảnh, clip trên mạng đã gặp sang chấn tâm lí dẫn đến hành vi tự tử Như vậy, tính dục được giới trẻ quan tâm nhưng vẫn còn thiếu kiến thức và nhiều bỡ ngỡ, e dè để lại những hậu quả đáng tiếc Nghiên cứu về Mạc Ngôn là đam mê và đây cũng là cách để học viên tự trang bị cho bản thân vốn hiểu biết về nhà văn mình yêu thích nhằm phục vụ, hỗ trợ tốt cho công tác giảng dạy văn học sau này trong trường phổ thông

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Diễn ngôn tính dục trong tiểu

thuyết của Mạc Ngôn làm luận văn Thạc sĩ, hi vọng góp thêm một hướng

nghiên cứu vào quá trình khám phá tài năng nhiều mặt của nhà văn Mạc Ngôn

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Tiểu thuyết Mạc Ngôn từ góc nhìn diễn ngôn tính dục

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung khảo sát sáu cuốn tiểu thuyết tiêu biểu của Mạc Ngôn

đã được dịch ra tiếng Việt và xuất bản ở Việt Nam, bao gồm:

1 Cao lương đỏ (2000), Lê Huy Tiêu dịch, Nxb Phụ nữ;

2 Báu vật của đời (2001), Trần Đình Hiến dịch, Nxb Văn Nghệ;

3 Đàn hương hình (2002), Trần Đình Hiến dịch, Nxb Phụ nữ;

4 Rừng xanh lá đỏ (2003), Trần Đình Hiến dịch, Nxb Văn học;

5 Châu chấu đỏ (2008), Trần Trung Hỷ dịch, Nxb Văn học;

6 Ếch (2010), Nguyên Trần dịch, Nxb Văn học

Trang 9

3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Dựa trên nguồn tư liệu khảo sát được và trong phạm vi của đề tài, chúng tôi

điểm lại những ý kiến đánh giá về tính dục trong tiểu thuyết Mạc Ngôn như sau:

Dương Dương – người biên soạn cuốn Mạc Ngôn nghiên cứu và tư liệu nhận

xét rằng các sáng tác của Mạc Ngôn rơi vào hiện tượng sắc dục, tính dục, miêu

tả nhiều về sự thèm khát xác thịt Các nhân vật thường “quằn quại trong lửa

dục”, “giẫy giụa trong bể tình” như Cửu Nhi trong Cao lương đỏ, Tôn Mi Nương trong Đàn hương hình, Kim Một Vú trong Báu vật của đời… và lí giải

nguyên nhân là do quan điểm mĩ học của Mạc Ngôn “có vấn đề”

Ning Wang trong bài viết Học thuyết S.Freud và văn học Trung Quốc thế

kỷ XX (Freudianism and twentieth-century Chinese literature) in trong cuốn Việc tiếp nhận và dịch thuật học thuyết S.Freud ở Trung Quốc (The Reception and Rendition of Freud in China) trình bày quá trình thâm nhập, ảnh hưởng và

tác động của các học thuyết phương Tây, cụ thể là tư tưởng của Freud đến các nhà văn hiện đại của đất nước này nói chung và Mạc Ngôn nói riêng

Dịch giả Trần Đình Hiến, người tự xem mình là “đồng điệu” và bị Mạc Ngôn hớp hồn đã cho rằng Trung Hoa bị ức chế bởi giáo điều, do đó chỉ có sự thức tỉnh của tính dục mới có thể giải thoát: “Tôi đồng tình với quan điểm của nhà văn, nhà nghiên cứu văn học Trung Quốc Lưu Thái Cục, rằng “tác phẩm của Mạc Ngôn thấm đẫm mùi máu và cuộc sống trần trụi ở đại lục Ông không phải là nhà văn - công nhân, càng không phải tài tử nho nhã hay học giả uyên bác Thế nhưng hơn ai hết, Mạc Ngôn ý thức được lịch sử Trung Hoa với tầng lớp giáo điều ức chế Vì vậy, chỉ có sự thức tỉnh của tính dục, sự bùng nổ của bản năng gốc và sự bùng cháy trở lại của tửu thần vốn chứa đầy sức mạnh tự nhiên phương Đông mới giải thoát khỏi những giáo điều ấy” (Trần Đình Hiến, 2008)

Trang 10

Nguyễn Thị Vũ Hoài ở bài viết Tình yêu và nhu cầu giải tỏa trong Tiểu

thuyết Mạc Ngôn đã đề cập đến tình dục như là sự khởi nguồn cho tình yêu và

những xúc cảm nhân tính, đồng thời nó còn gắn liền với tình nghĩa, cứu cánh cái tôi cô đơn và sự trả thù Cô cũng nhận định “Thật khó tìm ra những thoáng

e lệ, thẹn thùng của các nhân vật đang yêu ở tiểu thuyết Mạc Ngôn” (Nguyễn Thị Vũ Hoài, 2010a) Những người phụ nữ “chủ động hơn, mạnh mẽ hơn, bạo dạn hơn” Tác giả Mạc Ngôn đã “đứng từ phía nam giới để nhìn nhận đời sống tình yêu – tình dục của một bộ phận nữ giới đương thời ở dân tộc ông”, qua đó phê phán những “ung nhọt” trong đời sống tình yêu, tình dục và “vực dậy những tâm hồn sa đọa trong một cộng đồng đã và đang mệt mỏi” (Nguyễn Thị Vũ Hoài, 2010b)

Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn trong bài viết Sự hấp dẫn bắt nguồn

từ bản năng gốc (nhân đọc Báu vật của đời) cho rằng tính dục được xem là

“bản năng gốc”, nguồn động lực chi phối hoạt động và làm nên vẻ cao đẹp của con người Những nhân vật trong tác phẩm của Mạc Ngôn xem “làm tình là một hành vi cực kỳ nghiêm chỉnh” Do đó, mặc dù trong hơn 800 trang sách

của tiểu thuyết Báu vật của đời miêu tả dày đặc những cuộc ăn nằm chung chạ

và hình ảnh những bộ phận nhạy cảm của cơ thể phụ nữ, nhưng chúng “không gợi cảm giác bẩn thỉu hay kinh tởm” mà lại làm nảy sinh trong lòng người đọc những “ý nghĩ về sự huyền diệu của đời sống” (Vương Trí Nhàn, 2011)

Như vậy, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Mạc Ngôn và ít nhiều đề cập đến vấn đề tính dục Tuy nhiên, sự quan tâm ấy chỉ dừng lại ở phạm vi bài viết, bài phỏng vấn chứ chưa có một công trình nào đề cập đến vấn đề diễn ngôn tính dục Do đó, chúng tôi kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu nghiên cứu, những ý kiến bổ ích của người đi trước để hoàn thành luận văn này

Trang 11

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Chọn đề tài Diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn, luận văn

hướng đến mục đích chỉ ra diễn ngôn tính dục như là phương thức kiến tạo mới

cụ thể là về thiên nhiên, con người và thông điệp diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Mạc Ngôn Từ đó, thấy được tư tưởng nghệ thuật, tài năng sáng tạo, sự táo bạo của Mạc Ngôn

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích đó, đề tài đặt ra nhiệm vụ:

Thứ nhất, tìm hiểu những vấn đề chung về diễn ngôn, tập trung vào diễn

ngôn tính dục; vấn đề tính dục trong văn học đương đại Trung Quốc; nhà văn Mạc Ngôn, bối cảnh thời đại

Thứ hai, trên cơ sở lí luận, khảo sát chỉ ra diễn ngôn tính dục như là phương

thức kiến tạo mới về thiên nhiên, con người trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn

Thứ ba, rút ra thông điệp diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

Từ đó, khẳng định những đặc sắc riêng, đóng góp mới mẻ và táo bạo của Mạc Ngôn

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 12

6 Đóng góp của luận văn

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về Mạc Ngôn, luận văn này có sự kế thừa và phát triển những thành tựu đáng trân trọng của những người đi trước Đồng thời, bổ sung thêm một hướng nghiên cứu mới về tiểu thuyết Mạc Ngôn – hướng nghiên cứu từ lý thuyết diễn ngôn tính dục Từ đó khẳng định tư tưởng nhân văn và tài năng phong cách của Mạc Ngôn

Công trình nghiên cứu này có thể đóng góp chung vào việc nghiên cứu về diễn ngôn tính dục trong một hiện tượng văn học cụ thể - nhà văn Mạc Ngôn cũng như các nhà văn đương đại khác

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận

Chương 2 Diễn ngôn tính dục như là phương thức kiến tạo mới về thiên

nhiên, con người

Chương 3 Thông điệp diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

Trang 13

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Những vấn đề chung về lý thuyết diễn ngôn

Một trong những khuynh hướng, phương pháp nghiên cứu nổi bật của khoa học xã hội hiện đại là lý thuyết diễn ngôn Diễn ngôn học là một lĩnh vực nghiên cứu liên ngành không chỉ có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ học, kí hiệu học

mà còn gắn liền với các thành tựu của văn hóa học, xã hội học, tri thức luận, sử học… Lý thuyết diễn ngôn đối với văn chương có thể mở ra một cách đọc mới, một cách lý giải mới về các cơ chế ngầm vận hành văn bản

Nhà nghiên cứu O.F.Rusakova khi bàn về triển vọng của lý thuyết diễn ngôn đối với khoa học hàn lâm đã khẳng định: “Ngày nay, lĩnh vực nghiên cứu

có tên gọi là “lý thuyết diễn ngôn” là một trong những khuynh hướng đang phát triển mạnh mẽ nhất trong các khoa học xã hội hiện đại Chứng cớ là hàng năm,

số lượng các ấn phẩm, các hội thảo khoa học, các giáo trình đại học, các luận văn, luận án dành cho những lĩnh vực khác nhau trong việc vận dụng các lý thuyết diễn ngôn và phân tích diễn ngôn đang không ngừng tăng lên.” (O.F.Rusakova, 2013)

1.1.1 Một số quan niệm về diễn ngôn

Diễn ngôn là một thuật ngữ có nhiều nội hàm khái niệm, còn nhiều tranh luận Theo từ điển New Webster`s Dictionary, diễn ngôn gồm hai nghĩa: một

là sự giao tiếp bằng tiếng nói (trò chuyện, lời nói, bài phát biểu); hai là sự nghiên cứu tường minh, có hệ thống về một đề tài nào đó (luận án, các sản phẩm của suy luận, ví dụ “Discours de la methode…” của Descarte, vì trong tiếng Latinh

từ đó đồng nghĩa với từ “Dissertatio de…”) Cả hai nghĩa này đều chỉ thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ

Trong lí luận hiện nay có ba khuynh hướng nghiên cứu Một là ngôn ngữ học do các nhà ngữ học đề xuất Hai là lí luận văn học do M.Bakhtin nêu ra và

ba là xã hội học, lịch sử tư tưởng, đại diện là M.Foucault Ở phần này chúng

Trang 14

tôi sẽ điểm lại một số quan niệm về khái niệm diễn ngôn từ ba lĩnh vực này, sau đó xác định nội hàm khái niệm được sử dụng trong luận văn

Lĩnh vực ngôn ngữ học

Đại diện cho hướng nghiên cứu diễn ngôn trong ngôn ngữ học là David

Nunan, Gillian Brown, George, Mak Halliday… Thông qua các công trình Dẫn

nhập phân tích diễn ngôn của David Nunan, Phân tích diễn ngôn của Gillian

Brown, George, Dẫn luận ngữ pháp chức năng của Mak Halliday… các nhà

ngôn ngữ thống nhất diễn ngôn là khái niệm dùng để chỉ ngôn ngữ đang hoạt động, trong sử dụng và ngữ cảnh văn hóa Đây là cách phản ứng lại ngôn ngữ học truyền thống chủ yếu tập trung vào những thành tố và cấu trúc câu như ngữ

âm, từ vựng, cú pháp theo hướng nghiên cứu ngôn ngữ học cấu trúc của F.de Sausure Các nhà ngữ học cho rằng không thể không nghiên cứu văn bản, ngôn bản như là những đơn vị biểu đạt trên cái tồn tại trong thực tiễn đời sống Lúc này, diễn ngôn được đề xuất như là đối tượng mới của ngữ văn học

Trong ngữ học cũng có ba hướng đề xuất nghiên cứu diễn ngôn Một là vào những năm 50 của thế kỉ XX, Emil Benviniste khi giải quyết lý thuyết phát ngôn đã sử dụng một cách nhất quán thuật ngữ “discours” có tính truyền thống đối với ngữ học Pháp theo nghĩa mới “đặc điểm của lời nói do người nói nhận

biết” Cũng thời gian này, Zeling Harris công bố bài báo Discourse analysis về

phương pháp phân bố theo quan hệ thống nhất trên câu Hai học giả này đã xác lập nghĩa đồng nhất hai khách thể Benviniste hiểu diễn ngôn là sự giải thích lập trường của người nói trong phát ngôn, còn Harris hiểu khách thể của phân tích là tính liên tục của phát ngôn, đoạn cắt của văn bản lớn hơn câu Tuy nhiên cách hiểu của Harris không phổ biến dù nó hoàn toàn phù hợp với cách tiếp cận cấu trúc ngữ nghĩa chiếm vị trí chủ đạo trong ngữ học Liên Xô Trong nửa sau thế kỉ XX, ngôn ngữ học Liên Xô nảy sinh khuynh hướng ngữ pháp (ngôn ngữ) văn bản được Việt Nam tiếp thu mạnh mẽ Các nhà ngữ học nhận thấy sự thiếu sót của phương pháp được vận dụng cũng như sự thiếu chính xác trong thuật

Trang 15

ngữ được sử dụng (phân biệt câu và phát ngôn, văn bản và các đơn vị của nó…) Hơn nữa, cách tiếp cận cấu trúc ngữ nghĩa truyền thống không có sức mạnh giải thích đầy đủ đối với các đặc trưng của văn bản như tính chỉnh thể, liên kết Việc giải thích một cách sơ lược thuần túy ngôn ngữ học đối với các phạm trù văn bản dẫn đến sự phản ứng về các lĩnh vực giao nhau của tri thức hình thành giả thiết về vai trò của cấu tứ của người sáng tạo, hình tượng tác giả Theo đó, quan điểm này phù hợp với quan điểm của Benviniste về diễn ngôn như là “lời nói do người nói nhận biết” Một thời gian dài định nghĩa này vẫn chưa được chú ý đúng mực

Như vậy, theo nghiên cứu của các nhà ngữ học, diễn ngôn được phân tích ở trạng thái đang hoạt động trong thực tiễn giao tiếp của ngữ cảnh văn hóa Phân tích diễn ngôn tức là phân tích các cấu trúc biểu nghĩa trong tương tác với ngữ cảnh để hiểu thực chất nội dung của diễn ngôn

Lĩnh vực lí luận văn học

Đại diện cho hướng nghiên cứu diễn ngôn trong lí luận văn học là M.Bakhtin

và một số học giả Nga như Valeri Igorovich Chiupa, Davidovich Tamarchenco

Họ chủ trương xây dựng khái niệm diễn ngôn thành một phạm trù của thi pháp học và tu từ học hiện đại Hướng nghiên cứu này xuất hiện khi nhận thấy sự hạn chế của ngữ học Saussure và các nhà lí luận thuộc phái hình thức chủ nghĩa không thừa nhận mối quan hệ giữa văn học với ý thức hệ xã hội

M.Bakhtin nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn từ (phát ngôn, lời nói, văn

bản) với đời sống và ý thức hệ thông qua một số công trình Những vấn đề thi

pháp Dostoyevsky, Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung Cổ và Phục Hưng, Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Vấn đề thể loại lời nói Theo quan niệm của M.Bakhtin diễn ngôn không phải là ngôn ngữ Không

thể phân biệt ranh giới giữa nội dung và hình thức “Hình thức chỉ trở thành hình thức khi nó có quan hệ với nội dung, là hình thức của nội dung Về hình thức trong nghệ thuật có hai mặt “1) Từ bên trong của đối tượng thẩm mỹ thuần

Trang 16

túy, như là hình thức kiến tạo, tức là hình thức có định hướng giá trị, hướng tới nội dung, gắn với nội dung và 2) từ bên trong của toàn bộ tác phẩm được kết cấu bằng chất liệu: đó là nghiên cứu kĩ thuật của hình thức.” (Lê Ngọc Trà,

2016)

M.Bakhtin đề xuất hướng nghiên cứu “siêu ngôn ngữ học” – nghiên cứu sự phát ngôn, lời nói, văn bản cũng như không tách ngôn từ ra khỏi đời sống và ý thức hệ Trong đó, đối tượng nghiên cứu chính là văn bản: “Ông coi văn bản là đối tượng nghiên cứu của khoa học nhân văn nói chung, bao gồm cả văn học với tư cách là sáng tạo thẩm mỹ.” (Trần Đình Sử, 2015) Đồng thời, ý nghĩa của diễn ngôn không chỉ bao gồm cấu trúc ngôn ngữ, cá tính người phát ngôn quy định mà còn do ngữ cảnh và quan hệ lời nói trong văn cảnh quy định Như

vậy, diễn ngôn gắn liền với xã hội và mang tính xã hội Trong sách Chủ nghĩa

Mác và triết học ngôn ngữ (kí tên Voloshinov) ông khẳng định “ngôn ngữ với

tư cách là sáng tạo ý thức hệ, là một hoạt động vật chất đặc thù, tác dụng của

nó vẫn chưa được đánh giá đầy đủ” (M.Bakhtin, 1996) Trong tiếng Nga, ông chưa dùng từ “diễn ngôn”, thay vào đó dùng từ “slovo”, “tekst”,

“Vyskazyvania”, “rech” để chỉ phạm vi hoạt động viết, nói trong thực tiễn Ở lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, ông xác định đối tượng nghiên cứu là

“tekst”, ở lĩnh vực văn học là “slovo” trong công trình Những vấn đề thi pháp

Dostoievski hoặc đặt ra vấn đề thể loại lời nói trong Mĩ học sáng tạo ngôn từ

Diễn ngôn có khi được hiểu là thuật ngữ, có khi mang ý nghĩa khác Chẳng hạn

ở đoạn văn “Tất cả mọi đặc điểm của diễn ngôn mà tôi biết là tính kí hiệu thuần tuý, tính thích ứng phổ biến về ý thức hệ, tính tham dự giao tiếp đời sống, trở thành tính chức năng bên trong của diễn ngôn, và cuối cùng là tính tồn tại tất yếu của các hiện tượng kèm theo của mọi hành vi ý thức hệ Tất cả các đặc tính

đó làm cho diễn ngôn trở thành đối tượng nghiên cứu cơ bản của khoa học hình thái ý thức” (M.Bakhtin, 1996) ông đã dùng theo nghĩa diễn ngôn

Trang 17

Ngoài M.Bakhtin, Chiupa là người góp phần to lớn trong việc hoàn thiện quan niệm về diễn ngôn dưới góc nhìn của thi pháp học và tu từ học Ông tập trung nghiên cứu diễn ngôn ở khía cạnh thẩm quyền và hình thái qua ba công

trình Diễn ngôn, Thẩm quyền diễn ngôn, Hình thái diễn ngôn Chiupa cho rằng

cấu trúc giao tiếp của diễn ngôn không đồng nhất với cấu trúc kí hiệu học của văn bản Diễn ngôn chính là hệ thống các thẩm quyền giao tiếp (sáng tạo, của cái được biểu đạt và tiếp nhận): “Thẩm quyền diễn ngôn là kho dự trữ phát ngôn của liên chủ thể, cho phép diễn ngôn “được thực hiện” (Greimas) trên cơ

cở của văn bản với quy ước về thẩm quyền thích hợp của các bên tham gia giao tiếp.” (V.I.Chiupa, 2013) Thẩm quyền sáng tạo thuộc về ý định chủ quan của nhà văn nhưng vẫn chịu sự quy định của hình thái tu từ đối với tác quyền và nguyên tắc mã hóa bằng các phương thức biểu hiện, hình hiệu hoặc bóng gió Còn thẩm quyền của cái được biểu đạt được hiểu là “khuôn đúc bên ngoài” của một diễn ngôn nào đó, được xem là “nguồn dự trữ ý thức trong giao tiếp (mô phỏng, sao chép, điều chỉnh, lựa chọn, đồng tình) được hình thành từ tập quán

tu từ trong phát ngôn” (V.I.Chiupa, 2013)

Như vậy, theo tư tưởng của M,Bakhtin và V.I.Chiupa thì đối tượng nghiên

cứu là văn bản bao gồm văn học với tư cách là sáng tạo thẩm mĩ Cách nghiên

cứu các nguyên tắc nằm ngoài ngôn ngữ chi phối cấu tạo hình thức văn bản đa dạng Diễn ngôn không thuộc ngôn ngữ học, nó thuộc lí luận của khoa học xã hội nói chung Ở đây, chưa dùng thuật ngữ diễn ngôn nhưng cách nghiên cứu các nguyên tắc nằm ngoài ngôn ngữ chi phối đến cấu tạo hình thức văn bản đa dạng thì khái niệm văn bản của ông trùng với thuật ngữ diễn ngôn Các nguyên tắc này xuất phát từ bản chất của hoạt động giao tiếp xã hội quy định, ví dụ như tính đối thoại hay hình thức cacnavan, cái nhìn của tác giả Ngay ngôn ngữ thể loại cũng do đời sống sáng tạo Nghiên cứu từ lĩnh vực lí luận văn học có

ý nghĩa nhất định đối với sự phát triển khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học

Trang 18

Lĩnh vực xã hội học

Đại diện cho hướng nghiên cứu diễn ngôn trong xã hội học là M.Foucault đồng thời cũng là người khởi xướng Trong lịch sử sử dụng “diễn ngôn”, Foucault cấp cho nó một ý nghĩa cụ thể, trở thành khái niệm quan trọng của lịch sử tư tưởng thế kỉ XX

Theo quan điểm của nhà nghiên cứu này, thực tại khách quan chỉ có thể có

nội dung, ý nghĩa cụ thể khi thông qua diễn ngôn Các công trình Trật tự diễn

ngôn, Khảo cổ tri thức… đã đề xuất ba yếu tố quan trọng tham gia tạo lập diễn

ngôn là hình thái ý thức xã hội, trạng thái tri thức và cơ chế quyền lực của

xã hội Những yếu tố này sẽ quy định ở hoàn cảnh lịch sử - xã hội nào người ta được phép hoặc không được phép nói về điều gì và nếu nói thì nói như thế nào Foucault phát hiện giữa từ ngữ và đồ vật bị gián cách bởi “loại hình tri thức” (episteme) và quyền lực “Loại hình tri thức là cái khung tư tưởng của một thời

kì nhất định trong văn hóa phương Tây”, là cái mà từ ngữ dựa vào để được tổ chức lại, quyết định từ ngữ được tồn tại như thế nào, không gian tri thức trong

đó đồ vật được xem là cái gì Có thể coi “đó là cái hệ hình của tư tưởng tồn tại

từ trước trong vô thức như một tất yếu”, hay nói cách khác đó là cái “không gian tri thức mà từ ngữ và đồ vật dựa vào để được tổ chức lại”, nó quyết định

từ ngữ được dùng thế nào, vật là cái gì, là “tọa độ quan hệ làm điều kiện tồn tại cho tri thức và khoa học” Các loại hình tri thức này hết sức tương đồng với

“diễn ngôn” mà Foucault sau này nói đến Ba loại hình tri thức Phục hưng,

cổ điển và hiện đại mà Foucault nói đến thực chất cũng là ba phương thức diễn ngôn

Trong Khảo cổ tri thức Foucault không sử dụng khái niệm “Loại hình tri

thức” mà sử dụng “diễn ngôn” để biểu đạt, hai khái niệm này là hai cách biểu đạt khác nhau, nhưng giữa chúng cũng có chỗ tương đồng Cái mà tác giả khám phá là bản thân diễn ngôn Đối với Foucault diễn ngôn là vấn đề khiến ông rất

Trang 19

do dự, nội hàm của diễn ngôn cũng phong phú, phức tạp hơn nhiều Có thể nêu

ra ba điểm sau:

Một là, diễn ngôn biểu hiện ra bề ngoài hình thức ngôn ngữ, nhưng nó

không phải là ngôn ngữ thuần tuý, mà là một phương thức biểu đạt của tư tưởng

và lịch sử Foucault cho biết, “Tôi biết rất rõ, các định nghĩa này phần lớn đều không phù hợp với tập quán dùng từ thông thường, các nhà ngữ học đem lại cho diễn ngôn một ý nghĩa hoàn toàn khác.” (M.Foucault, 2015) Diễn ngôn của Foucault khác với diễn ngôn ngữ học ở chỗ trước sau đều gắn với thực tiễn diễn ngôn, có hai sức mạnh nhân văn và sức mạnh thực tiễn Diễn ngôn cũng khác với ngôn ngữ, bởi nó chủ yếu thuộc về lịch sử, không phải do các thành

tố ngôn ngữ tạo thành, mà là do các sự kiện chân thực và liên tục tạo thành, nhưng người ta không thể phân tích ở bên ngoài thời gian triển khai ngôn ngữ Diễn ngôn của Foucault không phải là một hệ thống khép kín, mà do các sự kiện liên tục tạo thành, do đó mà có tính lịch sử và tính mở Một mặt diễn ngôn

do thực tiễn tạo thành, mặt khác, diễn ngôn lại ảnh hưởng đến thực tế diễn ngôn, thực tiễn diễn ngôn cũng làm thay đổi diễn ngôn Diễn ngôn không phải là công

cụ, không phải hình thức ngôn ngữ, mà là bản thân thực tiễn được biểu hiện dưới hình thức ngôn ngữ Foucault nói “diễn ngôn là một thực tiễn đặc thù”

Hai là, diễn ngôn có tính chất chỉnh thể, “thuật ngữ diễn ngôn có thể xác

định là một chỉnh thể trần thuật hình thành hệ thống đồng nhất.” (M.Foucault, 2015) Diễn ngôn là một tổng thể được xác định do sự khuếch tán của chủ thể

và tính không liên tục của nó Diễn ngôn là không gian ngoại tại, trong đó triển khai một mạng lưới ở các vị trí khác nhau Phạm vi của sự kiện diễn ngôn trước sau là hữu hạn, hiện thời do các đoạn ngữ nghĩa hợp thành chỉnh thể hữu hạn, đoạn ngữ nghĩa có thể vô số, nhưng là chỉnh thể hữu hạn Đơn cử diễn ngôn về bệnh tinh thần, theo quan điểm của Foucault thì bệnh tinh thần là do cái chỉnh thể tạo thành, toàn bộ những trần thuật tiến hành xác định, phân cắt, miêu tả, giải thích, giảng giải về bệnh thần kinh, chỉ ra vô số quan hệ của nó, phán đoán

Trang 20

về nó, và trong điều kiện có thể thì nói hộ cho nó, lấy danh nghĩa nó mà liên kết mọi lời bàn về nó mà làm thành một chỉnh thể Như vậy diễn ngôn có tính

hệ thống, đơn vị của nó có thể lớn hoặc nhỏ, thuộc các đẳng cấp khác nhau, diễn ngôn lớn như “y học lâm sàng”, “chính trị học chính trị”, nhỏ như “bệnh tinh thần”

Ba là, diễn ngôn lại không phải là chủ đề, đề tài, lí luận, văn bản hay bộ môn

chuyên ngành, phạm vi môn học Nhà văn, tác phẩm, thư tịch, chủ đề đều là đối tượng của diễn ngôn nhưng không cấu thành bản thân diễn ngôn Cùng là

mỹ học, nhưng mỹ học Trung Quốc và phương Tây tạo thành hai diễn ngôn hoàn toàn khác biệt Foucault nói, diễn ngôn không phải là cái hình thành một cách tự nhiên, mà trước sau là kết quả của một sự kiến tạo Chủ đề, trần thuật,

lí luận… thuộc về diễn ngôn, nhưng bản thân chúng không phải là diễn ngôn

“Chúng tôi gọi một diễn ngôn hình thành, thay thế một diễn ngôn khác không

có nghĩa là một chỉnh thể lựa chọn lí luận hoàn toàn mới mẻ về đối tượng, trần thuật, khái niệm, đột nhiên được trang bị hoàn thiện, tổ chức tốt đẹp, xuất hiện trong một văn bản, văn bản đó là một sự sắp xếp ngon lành… mà có nghĩa là một sự thay đổi về quan hệ sẽ nảy sinh, nhưng sự thay đổi đó không có nghĩa

là thay đổi toàn bộ mọi thành phần Cũng tức là nói, trần thuật phục tùng một

số quy luật hình thành mới, không có nghĩa là tất cả đối tượng hoặc khái niệm tất cả trần thuật hoặc tất cả lí luận đều biến mất.” (M.Foucault, 2015)

Diễn ngôn là một loại tổ chức, cơ chế, cấu trúc, có tính chỉnh thể và tính chức năng Các hệ thống diễn ngôn khác nhau có thể sử dụng các khái niệm giống nhau, đối tượng nói đến cũng có thể tương đồng Đối với Foucault thì diễn ngôn và văn bản có quan hệ rất khác với ngữ học và khác với Bakhtin Theo ông, văn bản có độ dài, có tác giả, có cấu trúc, có thể loại, còn diễn ngôn thì không, nó chỉ là cái cơ chế, cấu trúc vô thức chi phối mọi hoạt động lời nói của xã hội Diễn ngôn thuần tuý là sự kiện tư tưởng, ý thức hệ Mục đích nghiên

Trang 21

cứu diễn ngôn là phơi bày cơ chế quyền lực, xuyên qua các cuộc vật lộn chữ nghĩa của đủ các thứ chủ nghĩa, tổ chức, văn bản Nhiệm vụ nghiên cứu như thế thực tế đã vượt qua nghiên cứu lịch sử văn học, mà bước vào lĩnh vực phê phán văn hóa

Khái niệm diễn ngôn còn được Foucault khái quát trong bài luận Trật tự

diễn ngôn như sau: diễn ngôn là phương thức biểu đạt của lịch sử và tư tưởng;

có tính chỉnh thể, hệ thống; mang tính lịch sử, liên tục và quyền lực Do đó, khi nghiên cứu diễn ngôn cần tập trung vào hai vấn đề: Một là, quy tắc và cấu trúc

xã hội quy định sự hình thành các diễn ngôn (ý kiến về tính dục, ý kiến về nhà

tù, học thuyết y học, tâm lý); hai là, nghiên cứu các cơ chế sản sinh ra các diễn ngôn Có thể thấy, Foucault không bàn về diễn ngôn ở mặt ngữ học mà nói trên

ý nghĩa triết học và tư tưởng hệ, thuộc về phạm trù của lịch sử tư tưởng Như vậy, cách tiếp cận của Foucault đã đưa ra một định nghĩa khác về diễn ngôn: Diễn ngôn là một công cụ để kiến tạo tri thức và thực hành quyền lực Diễn ngôn không chỉ là ngôn ngữ mà nó là thực tiễn ngôn ngữ do quyền lực văn hóa quy định Diễn ngôn thay đổi khi quyền lực của tri thức và văn hóa trong xã hội có sự biến chuyển Suy cho cùng, nghiên cứu tác phẩm văn học từ góc độ diễn ngôn cần phải làm rõ hai góc độ sau: một, là chỉ ra các quy tắc ngôn ngữ của loại diễn ngôn/các loại diễn ngôn này; hai, là chỉ ra các yếu tố ngôn ngữ như ý thức hệ, tri thức và quyền lực đã ảnh hưởng như thế nào đến loại diễn ngôn hoặc các loại diễn ngôn được sản sinh

Ở Việt Nam, Trần Đình Sử qua các bài viết Bản chất xã hội, thẩm mĩ của

diễn ngôn văn học, Bước ngoặt diễn ngôn và sự đổi thay hệ hình nghiên cứu văn học, Khái niệm diễn ngôn, Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học hôm nay đã có cái nhìn khá hoàn chỉnh về bản chất của ngôn từ văn học, khẳng

định sự chi phối của cơ chế văn hóa, xã hội đối với việc sử dụng ngôn từ của con người, cũng như sự vận động của văn học suy cho cùng là sự vận động của ngôn từ, hình thái ngôn từ này chống lại hình thức ngôn từ có trước

Trang 22

Các nhà nghiên cứu như Bakhtin và Foucault đều không bàn đến diễn ngôn

về mặt ngữ học mà nói trên ý nghĩa triết học và tư tưởng hệ Theo họ, chính hình thái ý thức xã hội, trạng thái tri thức của con người và cơ chế quyền lực trong xã hội đã trở thành logic thực tại, cái cơ chế thầm kín chi phối cách sử dụng ngôn từ của con người M.Bakhtin nhìn thấy quyền lực đã ngấm vào ngôn ngữ còn M.Foucault cho rằng tri thức phải được tồn tại trong ngôn ngữ biểu đạt Ngôn từ của con người khẳng định sự vận động của văn học suy cho cùng

là sự vận động của ngôn từ, hình thái ngôn từ này chống lại hình thức ngôn từ

có trước

Diễn ngôn là ngôn ngữ trong hoạt động, ngôn ngữ trong sự hành chức của

nó Nói đến diễn ngôn là “nói đến những phương thức hoặc quy tắc đặc trưng của việc tổ chức hoạt động ngôn từ” Diễn ngôn là quá trình kí hiệu hóa để tạo nghĩa “Diễn ngôn được tạo lập nên từ tri thức và những quan hệ quyền lực đa dạng trong cuộc sống Diễn ngôn, đến lượt nó, cũng là phương cách tạo lập nên tri thức, cùng với những thực hành xã hội, các dạng thức của chủ thể và mối quan hệ quyền lực Được bắt rễ trong ngôn ngữ, diễn ngôn tạo ra niềm tin, niềm tin biến thành tri thức, và tri thức tạo nên quyền lực Bởi vậy sẽ không có tri thức nào là chân lý tuyệt đối và hoàn toàn khách quan” Mọi diễn ngôn đều là sản phẩm của văn hóa, xã hội

Sử dụng lí thuyết về diễn ngôn nói chung và quan niệm về diễn ngôn của M.Bakhtin, V.I Chiupa, M.Foucault, chúng tôi xác định nội hàm khái niệm diễn ngôn mà luận văn sử dụng như sau:

1 Diễn ngôn được sản sinh cùng với sự vận động của lịch sử - xã hội Do

đó, tùy vào bối cảnh để diễn ngôn xuất hiện, hưng thịnh, chiếm vị trí trung tâm, chính thống hoặc bị loại trừ

2 Nghiên cứu sản phẩm văn học từ góc độ diễn ngôn phải làm rõ hai góc

độ sau: một là, chỉ ra yếu tố ngoài ngôn ngữ như ý thức hệ, tri thức và quyền lực đã ảnh hưởng như thế nào đến diễn ngôn/các loại diễn ngôn được sản sinh;

Trang 23

hai là chỉ ra diễn ngôn như là một phương thức kiến tạo mới Đây chính điểm khác biệt khi tiếp cận tác phẩm từ góc nhìn diễn ngôn so với thi pháp, chú giải học… Thay vì nghiên cứu nội tại văn bản thì từ góc độ diễn ngôn vừa nghiên cứu các yếu tố thuộc về nội tại vừa nằm ngoài văn bản

Vận dụng nội hàm khái niệm diễn ngôn, luận văn của chúng tôi tập trung làm rõ một số nội dung sau:

- Diễn ngôn như là một phương thức kiến tạo mới

- Thông điệp của loại diễn ngôn này

Ba tiểu luận về lý thuyết tính dục Ông xác định: “Theo ý kiến phổ biến rộng

rãi nhất, tính dục con người chủ yếu hướng tới chỗ làm cho các cơ quan sinh dục của hai cá nhân thuộc giới tính khác nhau tiếp xúc với nhau Những cái hôn, việc nhìn ngắm, sờ mó thân thể bạn làm tình được coi là những biểu hiện phụ, những hành vi mào đầu.” (S.Freud, 2011) Quan điểm của Freud tập trung

ở một số luận điểm chính sau:

Một là, đời sống tính dục được biểu hiện từ lúc sinh ra chứ không phải đến

tuổi dậy thì

Hai là, đời sống tính dục bao gồm chức năng cho phép thu được khoái cảm

từ những vùng khác nhau của thân thể

Ba là, những đối tượng tính dục, hay những đối tượng yêu thương, là những

người và vật mà chúng ta hướng libido của mình, tức xung lực nội tại nhằm

Trang 24

thỏa mãn tính dục Freud gọi cách hướng dẫn xung lực này là mục đích tính dục Nếu đối tượng tính dục là mục tiêu được tìm thì mục đích tính dục là sự tìm kiếm mục tiêu của xung lực bản năng ấy – tính dục

Bên cạnh đó, Freud còn quan tâm đến các giai đoạn phát triển của tính dục

từ lúc ấu thơ, giai đoạn “loạn luân”, giai đoạn chuyển tiếp giữa loạn luân và khác giới Cũng theo Freud, cấu trúc nhân tính của con người gồm bộ ba: bản năng (id), tính ngã (ego), siêu ngã (superego) Bản năng là nguồn năng lượng

ẩn tàng mạnh mẽ dưới dạng vô thức hoặc tiềm thức Từ đó, khẳng định: bản năng tính dục (libido) là bản năng cơ bản của con người, bên cạnh bản năng chết Tuy nhiên, trong quá trình tham gia hoạt động xã hội, bản năng này bị các quan hệ văn hóa xã hội chi phối, dồn nén trở thành ẩn ức tính dục Người ta có thể tìm thấy những ẩn ức này thông qua giấc mơ hay nói lắp K.Jung là người tiếp nối các nghiên cứu về tính dục của S.Freud Ông đã phát triển thêm rằng libido không chỉ là bản năng tính dục mà còn là nguồn năng lượng sống của con người Nguồn năng lượng này không chỉ chịu ảnh hưởng của vô thức cá nhân riêng lẻ mà xuất phát từ vô thức cộng đồng Theo Jung, mặc cảm Oedipe cũng là một trong số những vô thức tập thể của loài người

Tính dục có nhiều định nghĩa khác nhau Trong luận văn này chúng tôi kế thừa lí thuyết Phân tâm học, sử dụng nội hàm khái niệm tính dục như sau:

1 Tính dục không chỉ là quan hệ tính giao mà còn chứa đựng những yếu

tố về mặt tâm lý, tình cảm, văn hóa Nói cách khác vừa mang yếu tố

tự nhiên vừa mang yếu tố xã hội

2 Tính dục là vô thức cộng đồng, thuộc về ý thức và bị chi phối bởi tầng sâu vô thức

Tính dục vốn dĩ là chủ đề thuộc “vùng cấm” Tuy nhiên, trong văn học đương đại, tính dục đã được công khai bàn luận, đưa vào văn chương với chủ đích rõ ràng, có liều lượng, mức độ Về mặt ý nghĩa cũng vượt xa ý nghĩa của ban đầu, không còn đơn thuần là yếu tố thuộc về bản năng, đời sống con người

Trang 25

Nghiên cứu diễn ngôn tính dục là hướng tiếp cận vấn đề từ lý thuyết tính dục của Phân tâm học Việc nghiên cứu này giúp chúng ta thấy được sự chuyển động của diễn ngôn lịch sử, làm sáng tỏ một trong những phương thức đối thoại văn hóa độc đáo của tác giả Từ góc độ diễn ngôn, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu cách thức tính dục được tác giả kiến tạo trong tác phẩm văn học cũng như thông điệp mà tính dục chứa đựng

Trong số các diễn ngôn được Foucault đề xuất bao gồm diễn ngôn thuộc địa, diễn ngôn giới tính, diễn ngôn dân tộc… thì diễn ngôn tính dục nhận được nhiều

sự quan tâm, nghiên cứu Do đó, chúng tôi vận dụng nội hàm khái niệm diễn ngôn tính dục của M.Foucault làm cơ sở sở lý luận Khái niệm diễn ngôn tính

dục được đề cập, nghiên cứu trong nhiều bài viết và tập trung ở công trình Lịch

sử về tính dục (The History of Sexuality) Tiếp cận diễn ngôn tính dục là con

đường bước vào tư tưởng thẩm mĩ, mô hình quan niệm con người, thế giới của một cộng đồng

Quan niệm về tính dục của Foucault xuất phát từ sự trân trọng và đề cao thân xác Trước đó, văn hóa Hy Lạp, La Mã, đặc biệt là thời Phục Hưng đã đề cập đến Thân xác không chỉ là sự tồn tại mà còn là phương tiện để con người thực hiện những giấc mơ, hoài bão của mình Cách ứng xử với thân xác không chỉ thể hiện tính nhân văn, nhân đạo mà còn là thước đo cho sự tiến bộ xã hội, thậm chí là căn cứ để kiến tạo xã hội

Dựa vào phân tích của Foucault, tính dục không phải là cái được phát hiện

ra (discovered) mà là cái được tạo ra (produced) bởi những diễn ngôn

(discourse) nhằm hợp thức hóa những quan hệ quyền lực, thực hiện một dự đồ nào đó Cách nhà nghiên cứu phân tích bốn diễn ngôn của thế kỉ XIX (1 Xu hướng kích động hóa cơ thể phụ nữ; 2 Mô phạm hóa tính dục ở trẻ em; 3 Xã hội hóa hoạt động sinh đẻ; 4 Tâm thần hóa khoái cảm lầm lạc) là minh chứng cho việc tính dục đã được tạo ra như thế nào dưới những tác động của quyền lực và diễn ngôn Theo đó tính dục có nguồn gốc từ những thiết chế văn hóa

Trang 26

hơn là từ những cơ chế sinh học Ông viết:

Về khái niệm tính dục, người ta đem một sự thống nhất giả tạo, đem các bộ phận khác nhau của giải phẫu học, chức năng sinh lí, hành vi, tình cảm, sự thỏa mãn thèm muốn… tập hợp lại với nhau, khiến chúng ta đem sự thống nhất hư cấu ấy là một thứ nguyên nhân căn bản của một thứ bí mật, một thứ ý nghĩa tồn tại ở khắp nơi, đâu đâu cũng có, chờ đợi ta đến giải mã (Foucault, 1978)

Cũng theo đó, nhấn mạnh tính dục ở phương diện kết quả của các loại diễn ngôn phân tích, miêu tả nhằm mục đích quy phạm nó: “Vấn đề không phải đơn giản là sự khám phá sự thật về những dục vọng đè nén của chúng ta bằng cách vận dụng một mô hình giải phóng Vấn đề là: người ta lâm vào một loại trải nghiệm bằng cách nào.” (Richard Appignanesi và Chris Gattat, 2006)

Foucault đặt tính dục trong mối quan hệ với quyền lực – sự thật – chủ thể Dưới dòng chảy ngầm của diễn ngôn tính dục là những đối kháng về quyền lực

Đó là sự trấn áp của quyền lực dưới hình thức tri thức Vì vậy để hiểu các hiện tượng đời sống xã hội (tính dục là một hiện tượng văn hóa) cần phải tìm hiểu tri thức trong diễn ngôn để giải mã nó Foucault cũng chỉ ra cơ chế như sau: việc khảo sát đề cập đến bản chất ngăn cấm của tính dục đã khiến diễn ngôn giai cấp thống trị tham gia vào chính cấu trúc nó đang nghiên cứu để giải mã Lúc này diễn ngôn tính dục tạo ra một cuộc chơi mà ở đó bản thân thể chế vừa chuyển nhượng vai trò, vị trí vừa phán quyết, chữa trị và cứu giúp

Mặt khác, Foucault cũng đặt tính dục trong quan hệ với “công nghệ về cái tôi” (technologies of the self) trong đó, tính dục là một thành tố quan trọng và

là nguyên nhân sâu xa cho những khảo sát về lịch sử tính dục Vì “công nghệ

về cái tôi” được tạo lập và có tính lịch sử nên ở mỗi giai đoạn, mỗi thời đại, diễn ngôn tính dục hay quan niệm về con người đều có sự khác nhau do đó phải

Trang 27

đặt đối tượng vào văn cảnh cụ thể và xem nó như là một sản phẩm của diễn ngôn nhằm dẫn truyền cho những quan hệ quyền lực Từ việc xác định khái niệm diễn ngôn tính dục trong mối quan hệ đa chiều như trên, khi bàn đến quan niệm về con người Foucault cho rằng cần thiết phải tìm hiểu diễn ngôn tính dục

để hiểu được sâu sắc về con người

Culler giải thích ý nghĩa lí luận của Foucault qua lí luận diễn ngôn tính dục của ông như sau: Trong Lịch sử về tính dục ông phân tích cái gọi là giả thiết về

sự ức chế Thông thường người ta cho rằng trong thời kì tương đối sớm, nhất

là vào thế kỉ XIX, tính dục luôn được hiểu là bị áp chế, do đó người hiện đại ra sức giải phóng nó Foucault cho rằng “tính dục” căn bản không phải là cái gì

tự nhiên bị người ta áp chế, mà là một ý niệm pha trộn nhiều thứ, là do một chuỗi các thứ thực tiễn xã hội, điều tra, ngôn luận và văn tự viết – cũng tức là

“diễn ngôn”, hoặc là “thực tiễn diễn ngôn” chế tạo ra tất cả các thứ mà thế kỉ XIX gọi là “tính dục” Sự đàm luận của đủ loại người – người ngành y, các vị chức sắc thầy tu, các nhà tiểu thuyết, nhà tâm lí học, nhà luân lí học, xã hội học, nhà chính trị… Chúng ta liên hệ các thứ luận bàn của họ cùng với ý niệm về

“áp chế” và thấy trên thực tế, chính là các thứ luận bàn đó đã tạo ra cái gọi là

“tính dục” Foucault viết: “Về khái niệm về tính dục, người ta đem một sự thống nhất giả tạo đem các bộ phận khác nhau của giải phẩu học, chức năng sinh lí, hành vi, tình cảm, sự thoả mãn thèm muốn tập hợp lại với nhau, khiến chúng

ta đem sự thống nhất hư cấu ấy xem là một thứ nguyên nhân căn bản của một thứ bí mật, một thứ ý nghĩa tồn tại ở khắp nơi, đâu đâu cũng có, chờ đợi ta đến giải mã.” (M.Foucault, 1978) Ông đã mở ra một lối nghiên cứu lịch sử tư tuởng, văn hóa mới Foucault cũng vứt bỏ quan niệm xem diễn ngôn chỉ là phương tiện phản ánh hiện thực Ông không phủ nhận sự tồn tại của hành vi tính dục cụ thể, cũng không phủ nhận con người có sự phân biệt giới tính về sinh lí Điều ông muốn khẳng định cái gọi là “tính dục” là kết quả của các loại diễn ngôn phân tích, miêu tả, và nhằm mục đích quy phạm nó, chứ không phải

Trang 28

là nguyên nhân Nó chẳng phải là bí mật bản chất của cá nhân hay nhân loại Cái gọi là sự áp chế là do quyền lực xã hội, nhưng không phải do ai thao túng,

mà là quyền lực và tri thức, quyền lực dưới hình thức tri thức, nghĩa là dưới các hình thức diễn ngôn đó tạo ra cái gọi là tính dục Do đó, muốn hiểu các hiện tượng trong đời sống xã hội còn cần phải khảo cổ học tri thức trong diễn ngôn

1.2 Vấn đề tính dục trong văn học đương đại Trung Quốc

Văn học đương đại Trung Quốc (1949 – nay) đã trải qua chặng đường phát triển vô cùng gian nan Trung Hoa đã hòa cùng không khí chung của thời đại,

ra khỏi sự trói buộc của đường lối “cực tả” trong Đại cách mạng văn hóa, thành công đi vào công cuộc cải cách mở cửa với những thành tựu rực rỡ Có thể nói, văn học giai đoạn này đa hương, đa sắc, đa vị với sự xuất hiện của của hàng loạt khuynh hướng mới, đề cập đến những vấn đề đa dạng, hiện đại và nhạy

Trang 29

cảm, thậm chí từng bị xem là cấm kị Trong đó không thể không nhắc đến vấn

đề về tính dục

Bước vào thời kì hội nhập, cùng với sự xuất hiện của học thuyết Freud, các tác giả thuộc thế hệ mới của Trung Quốc mang đến cho văn học một diện mạo mới, phong cách mới Họ không còn đề cập đến những sự kiện trọng đại, phổ biến, có tính bao quát… mà chú trọng đến nhu cầu bản năng và nhận thức của con người Yếu tố tính dục trong văn học được nhà văn sử dụng như là một phương tiện nhằm khai thác cõi sâu tâm hồn, phản ánh góc khuất bên trong, sâu kín của con người và thể hiện quan niệm của mình về một vấn đề gì đó tồn tại trong xã hội Không phải ngẫu nhiên mà qua từng giai đoạn tính dục được các tác giả thể hiện ở những mức độ và sắc thái khác nhau, phụ thuộc vào cơ sở tâm lí, mỹ học của từng thời đại

Dưới đây là một số nhà văn sáng tác có sử dụng yếu tố tính dục như một phương tiện truyền tải thông điệp qua tác phẩm của mình trong dòng chảy văn học đương đại

Trương Hiền Lượng là một cây bút tỉnh táo, sắc bén, vừa kế thừa những truyền thống văn học tốt đẹp vừa có những cách tân mới mẻ, táo bạo Vấn đề tình yêu, tình dục chiếm một vị trí không nhỏ trong sáng tác của ông Mỗi nhân vật có những quan niệm khác nhau về vấn đề này phụ thuộc vào từng giai tầng trong xã hội Tác giả dành nhiều trang viết miêu tả một cách trần trụi tính dục nhằm mục đích chuyển tải thông điệp của mình về vấn đề giai cấp và tình yêu

Là một nhà văn nam, viết về nam giới, ngòi bút Trương Hiền Lượng phản

ánh rất thực, rất người qua tác phẩm Một nửa đàn ông là đàn bà Trong bầu không khí nặng nề của Đại cách mạng văn hóa, phải đối mặt với bao vấn đề

của xã hội, quốc gia nhưng vấn đề tính dục vẫn thường xuyên, trở đi trở lại trong giấc mơ của Chương Vĩnh Lân và những người bạn tù như dòng chảy xuyên suốt toàn tác phẩm Nhân vật luôn muốn có một sự chung đụng về thể xác, đó là sự chung đụng theo sở thích Họ có thể tưởng tượng về đủ kiểu tình

Trang 30

yêu, đủ kiểu đàn bàn, họ muốn người phụ nữ ngủ chung với họ là bất cứ ai Ẩn

ức này được thể hiện qua giấc mơ, họ muốn xác định sự hiện hữu của chính mình trong ý nghĩa tồn tại của bản thân ở đời thực Khao khát được làm một người đàn ông “thực thụ” là nhu cầu bản năng mãnh liệt nhất

Tình dục, tình yêu thật sự là một khoái cảm của trạng thái tâm lí hết sức nhân văn Nó khiến cho con người quên đi bản thân mình là ai, đang ở đâu, quên đi chốn tù lao cải, luật lệ hà khắc dành cho đàn ông và đàn bà để đắm chìm trong khoái lạc của bản thân Giây phút thăng hoa, lần đầu tiên gây sự rung động cho người khác giới Nhân vật nam trong sáng tác của Hiền Lượng luôn khao khát một tình yêu đích thực chứ không đơn thuần là thứ tình dục bản năng Tình yêu là biểu hiện của văn hóa nhưng ở nhà tù lao cải, có thể xem là một nơi thiếu hoặc hoàn toàn không có văn hóa “hoàn toàn không có thứ tình yêu thanh cao tao nhã, không có nghi lễ phiền phức tao nhã thanh cao, chỉ có thứ tình dục nguyên thủy nhất và cũng là cơ bản nhất” (Trương Hiền Lượng, 2019)

Giả Bình Ao là một nhà văn đặc sắc tuy nhiên gặp không ít ý kiến cho rằng

tác phẩm của ông chứa đựng yếu tố “khiêu dâm” rơi vào miêu tả sắc dục, gợi tình Tuy nhiên, nếu đọc kỹ tác phẩm ta nhận thấy khi miêu tả những đoạn về quan hệ tình dục, tác giả chỉ đưa ra những chi tiết có tính chất khơi mào tạo đà

cho trí tưởng tượng bay bổng của người đọc mà không sa đà quá mức vào việc miêu tả tỉ mỉ những hoạt động ấy

Phế đô của Giả Bình Ao được so sánh và định giá “ngang hàng với Hồng Lâu Mộng và Kim Bình Mai, là Hồng Lâu Mộng và Kim Bình Mai hiện đại” Sở

dĩ như vậy là vì ba tác phẩm này gặp nhau ở giao lộ đề cập đến tính dục, từng

bị gọi là dâm thư, nhưng vẫn tạo được sức hút với độc giả và giới nghiên cứu bởi tính phản ánh Đằng sau hình tượng Tây Môn Khánh hoang dâm vô độ là những mối quan hệ xã hội phức tạp cuối thời phong kiến của nội bộ giai cấp thống trị trên dưới cấu kết bao che, lợi dụng lẫn nhau Đằng sau hình tượng Giả

Trang 31

Bảo Ngọc là một thế giới giáo điều cổ hủ, việc tự do yêu đương, hôn nhân, giải

phóng cá tính bị lên án gay gắt Nếu như Kim Bình Mai, và Hồng lâu mộng phải

chịu nhiều sóng gió thăng trầm của thời gian để được công nhận thì trong thời

đại mở cửa, Phế đô nhanh chóng được đón nhận và dịch ra nhiều thứ tiếng

Đằng sau câu chuyện về những mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, gia đình

và bằng hữu, kinh tế và văn hóa, tâm lý và tình cảm thấm đẫm màu sắc dục

vọng của Trang Chi Điệp và các văn sĩ, tri thức trong Phế đô, Giả Bình Ao đã

đặt ra và lý giải về lối sống cá nhân của giới trí thức Trung Quốc đương đại,

liên quan đến vấn đề thành danh và thành công Nhiều khi chỉ vì cái danh mà

người ta có thể đánh mất mình và làm đảo lộn cả một trật tự xã hội vốn rất nề nếp và quy củ như Trung Quốc

Ngoài ra, việc tác giả chủ động cắt đi và trình bày bằng cách đánh những dấu sao để giữ giới hạn phải chăng là một điều cần thiết đối với độc giả vẫn còn cổ hủ, kỳ thị, chưa thể chấp nhận được những trải nghiệm mang màu sắc tính dục trong văn bản? Việc làm của Giả Bình Ao vừa tránh được búa rìu dư luận, lại vừa có thêm cơ hội để tác phẩm hòa nhập sâu rộng hơn đối với đông đảo công chúng Đấy chính là một biệt tài của ông

Bên cạnh Trương Hiền Lượng, Giả Bình Ao là Mạc Ngôn – đối tượng được nghiên cứu chính trong luận văn – một cây bút sử dụng yếu tố tính dục, sự chung đụng trong đời sống của các nhân vật như là phương tiện để phơi bày một xã hội bê bối, rối ren với những hủ tục đã bóp nghẹt cuộc sống của con người Đồng thời thể hiện những khát vọng, quyền tự do, bình đẳng dành cho phụ nữ Đằng sau mối quan hệ giữa cô gái trong trắng Phượng Liên với tên

tướng cướp Từ Chiếm Ngao trong Cao lương đỏ là một tình yêu trong sáng,

hồn nhiên Đằng sau mối quan hệ bất chính của Tôn Mị Nương - một phụ nữ

đã có chồng, giẫy giụa trong bể tình với quan tri huyện Tiền Đinh - đã có vợ là một cá tính, dám sống, dám yêu, dám hận…

Trang 32

Khoảng cuối thập niên 90 của thế kỉ trước, một dòng văn học mới ra đời ở Trung Quốc gây biết bao xôn xao dư luận, đó chính là trào lưu văn học Linglei Bước sang thế kỷ XXI, Linglei dần khẳng định tiếng nói của mình trên văn đàn nghệ thuật Mạc Ngôn nhận xét về dòng văn học này như sau: “Hậu sinh khả

úy, thế hệ sau nhiều điều kiện hơn và năng động hơn lớp chúng tôi Nhưng ăn nhau ở sức bền và tình yêu với văn học thôi Tuy nhiên đó là một dòng văn học sinh động, hiện đại và gửi gắm nhiều khát vọng mới của lớp trẻ.” (Nguyễn

Lệ Chi, 2006) Có không ít tác giả thuộc trào lưu này gây sự chú ý của dư luận, trở thành best-seller như Vệ Tuệ, Xuân Thụ, Quách Kính Minh, An Ni Bảo Bối…

Khác với Gỉa Bình Ao và Mạc Ngôn đứng từ lập trường nam giới viết về người phụ nữ Văn học Linglei là sự bừng nở của các cây bút nữ viết về người phụ nữ, phản ánh đúng tâm lí thời đại trong giới trẻ Trung Quốc: cô đơn, lạc lõng, stress, đô thị, sống ảo, thế giới phẳng… chính những điều này khiến họ lao vào cuộc sống buông thả, không hướng đi, không mục đích, khởi đầu cho hành trình tìm kiếm ý nghĩa thật sự của tình yêu và tình dục

Tình dục được miêu tả một cách trực diện và thẳng thắn, không có gì để che đậy, ngại ngùng hay giấu giếm Bởi lẽ, nó là một phần tất yếu trong cuộc sống, không có gì là xấu xa, đáng lên án Đồng thời, tình dục chính là sợi dây liên kết

vô hình xâu chuỗi tình yêu lại với nhau Tình dục và tình yêu cùng song song tồn tại và hỗ trợ cho nhau Có thể có tình dục trước rồi sau mới có tình yêu, nhưng tất cả đều nhằm khẳng định bản thân với mọi điên cuồng của khát khao

Đó chính là nỗi niềm chân thành và thầm kín của giới trẻ Trung Quốc đương đại

Thiết Ngưng “nhà văn mỹ nữ” là một trong những cây bút đáng chú ý của văn học đương đại Trung Quốc thành công trong việc đề cập đến vấn đề về tính dục Bà hiện đang là chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc, ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, đoạt nhiều giải văn học về truyện ngắn và truyện

Trang 33

vừa Đề cao vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ, Thiết Ngưng miêu tả qua lăng kính của người phụ nữ với “Bầu vú của mợ, khi để bé Bảo bú, nó như cái bình chỉ có sữa mà trẻ nhỏ không rời nổi Nhưng lúc này, nó không như thế, nó là hai quả bóng đang nhảy nhót kích thích bạn đùa giỡn với nó Mợ giơ tay lau lưng, hai quả bóng nhảy tưng tưng” Đồng thời, đi sâu vào số phận và thế giới

tinh thần của người phụ nữ Qua Đại dục nữ, tác giả mô tả quá trình “tắm gội”,

trưởng thành của những người đàn bà Trung Quốc trong cuộc sống xã hội đầy sóng gió mang vẻ đẹp thuần phác thanh tú và dục vọng, đồng thời phê phán thái

độ vô trách nhiệm của người đàn ông

Trong văn học đương đại, thời kì Cách mạng ở Trung Quốc còn khá bảo thủ khi đề cập đến vấn đề tự do thể xác lẫn tinh thần bởi lẽ người ta sợ đề cập đến giới tính, quan hệ nam nữ, ham muốn nhục dục là sự sỉ nhục đáng xấu hổ mặc

dù đó là những nhu cầu sống mang tính nhân bản nhất của con người Tuy nhiên, càng về sau, bối cảnh văn hóa đã thay đổi, từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường, bản năng tính dục không còn là chuyện huý kị, nhạy cảm Điều đó cho thấy có sự chuyển biến, từ mục đích thể hiện sự sa đọa, xuống cấp

về mặt đạo đức sang nhìn nhận tính dục như là một mặt quan trọng của đời sống Chính môi trường xã hội là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của đời sống văn học Đó không chỉ là không gian nơi tác phẩm tồn tại mà còn chi phối, ảnh hưởng đến sự hình thành và vận hành của diễn ngôn văn học Viết về tính dục, các nhà văn có chủ ý, quan điểm rất rõ ràng Trước hết, họ đều nhận thức rằng tính dục là vấn đề tự nhiên, bản năng rất người Nhắc đến tính dục là nhắc đến vấn đề bản chất nhất của con người Tuy nhiên, phía sau bản năng nguyên thủy ấy, tính dục còn chứa đựng nhiều mật mã cần được giải Đồng thời để viết về tính dục không hề dễ dàng Luôn có một lằn ranh mong manh ở đó, chỉ cần một lệch lạc nhỏ cũng khiến tác phẩm rơi vào dung tục, tầm thường Điều này đòi hỏi bản lĩnh, tài năng của người cầm bút Đổi lại, đề tài này lại vô cùng thu hút độc giả, gây háo hức, tò mò với số đông Chính sự thay

Trang 34

đổi quan niệm của xã hội về tính dục đã tác động đến văn chương viết về tính dục Tất cả tiền đề trên tạo điều kiện, cơ hội cho vấn đề tính dục có cơ hội phát triển mạnh mẽ, trở thành một khuynh hướng trong văn học đương đại

Như vậy, trong văn học đương đại Trung Quốc, mỗi nhà văn đều có quan niệm và cách thức tiếp cận khác nhau nên tính dục đang ngày càng được mở rộng đường biên Diễn ngôn tính dục từ một diễn ngôn ngoại biên đã dịch chuyển thành diễn ngôn trung tâm trong văn học đương đại Trung Quốc

1.3 Mạc Ngôn – gương mặt tiêu biểu của văn học đương đại Trung Quốc

Mạc Ngôn được coi là một trong những tiểu thuyết gia lớn nhất của văn học Trung Quốc và được Hiệp hội Nhà văn Châu Á bình chọn là một trong những

nhà văn có triển vọng nhất trong thế kỉ XXI

1.3.1 Bối cảnh thời đại

Foucault cho rằng tri thức và quyền lực mỗi thời đại, vùng miền có sự khác nhau và luôn thay đổi theo tiến trình phát triển của lịch sử - xã hội Thế kỉ XX, các nhà cấu trúc luận đã mang đến cái nhìn “toàn tri về ngôn ngữ” Để hiểu được ý nghĩa của diễn ngôn công việc cần làm là giải mã nó: “không được tưởng tượng thế giới quay về chúng ta là một khuôn mặt có thể đọc được mà chúng ta chỉ cần làm một việc là giải mã; nó (tức thế giới) không đồng lõa với hiểu biết của chúng ta; không có một thiên khải tiền diễn ngôn nào tồn tài sẵn, chờ đợi chúng ta” (M.Foucault, 2015) Do đó, để giải mã diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu bối cảnh thời đại chi phối sự vận hành và phát triển của diễn ngôn Mỗi nghệ sĩ là một thế giới tâm hồn riêng, được sinh ra trong bối cảnh nhất định nên cách biểu hiện tư tưởng nghệ thuật trong tác phẩm cũng mang dấu ấn, phong cách riêng

Mạc Ngôn cũng vậy, ông sinh ra trong một giai đoạn đầy những biến động mang tính bi kịch của xã hội Trung Quốc nửa cuối thế kỷ XX Đó là những trói buộc về chính trị, là cuộc Đại cách mạng văn hóa vô sản (1966 - 1976), Cải cách ruộng đất nông thôn, đấu tố địa chủ Tiếp đến là công cuộc xây dựng

Trang 35

chủ nghĩa xã hội với những mô hình ấu trĩ duy ý chí như “công xã nhân dân”, phong trào “đại nhảy vọt” Tình trạng quan liêu, tham nhũng triền miên, kinh

tế suy sụp xã hội điêu tàn, chính trị khủng hoảng, văn nghệ khô cứng Các

bi kịch này tất yếu sẽ dẫn đến đổ vỡ

Có thể nhận thấy, trong giai đoạn này, diễn ngôn văn học nói chung và diễn ngôn tiểu thuyết nói riêng đã diễn ra một quá trình hiện đại hóa, vượt qua diễn ngôn trung đại chuyển sang diễn ngôn hiện đại, dân chủ

Trong “mười năm động loạn” Văn học nghệ thuật chân chính bị tê liệt Thay vì đổi mới, cải cách, vực dậy tình trạng suy thoái của đất nước, những

kẻ phản động âm mưu cướp đoạt quyền lãnh đạo Đảng, Nhà nước bằng chiến dịch “cải cách” mang tên “Đại cách mạng văn hóa vô sản” Trên danh nghĩa cách mạng chân chính, đổi mới đất nước nhưng lại tiến hành một cách vội vã, cực đoan, bất chấp thực tiễn, bỏ qua quy luật, đốt cháy giai đoạn Nhiều chủ trương tàn bạo, dã man, làm cho đất nước Trung Hoa ngày càng lún sâu vào suy thoái Trong thời kỳ xây dựng hòa bình mà có tới hàng triệu người, trong

đó có hàng ngàn người là văn nghệ sĩ cách mạng bị bức hại đến chết, tất cả trường đại học, học viện đóng cửa dẫn đến diễn ngôn giai đoạn này có phần rơi vào khuôn mẫu, lý tưởng hóa, có xu hướng nghiêng về chính trị, chế độ, giai cấp với mục đích tuyên truyền, cách mạng

Sau năm 1976, kết thúc Đại cách mạng văn hóa vô sản (1966 -1976), những người Đảng viên cộng sản chân chính với sự ủng hộ của quần chúng cách mạng, kiên quyết đấu tranh giành lại quyền lãnh đạo Từ đó, tình hình chính trị, xã hội và văn hóa của Trung Quốc có nhiều chuyển biến tích cực Tháng 8/1977, Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng cộng sản Trung Quốc khai mạc tại Bắc Kinh, tuyên bố đã đập tan tập đoàn phản động cách mạng, chấm dứt cuộc Đại cách mạng văn hóa, kết thúc thời kì “mười năm động loạn”, mở ra một thời kì mới cho đất nước Cuối những năm 70 đến đầu những năm 80, đất nước Trung Hoa bắt đầu đổi hướng theo “thời kì mới”, hạt nhân của nó là khoa

Trang 36

học, dân chủ và hiện đại hóa Từ đó đến nay, đời sống xã hội đã có nhiều thay đổi, từ sự bưng bít, trói buộc đến tự do, mở rộng cánh cửa giao lưu

Như đã nói, các diễn ngôn thường xuyên khả biến và người ta có thể truy tìm nguồn gốc để thấy được sự thay đổi quan trọng của chúng trong lịch sử Ở Trung Quốc, sẽ không thể nào có một Tào Tuyết Cần, Tiếu Tiếu Sinh nếu trong tâm thức dân tộc không có sẵn một nguồn tín ngưỡng phồn thực dồi dào Văn hóa phồn thực này phát triển theo phương nằm ngang, tức là có tính ăn lan, xen vào giữa cuộc sống hằng ngày của người dân Tuy nhiên, do ý thức

hệ và bối cảnh lịch sử chi phối, tính dục vẫn là vấn đề thuộc địa hạt cấm kị Người ta hạn chế nhắc đến hoặc nhắc đến nhằm mục đích thể hiện sự sa đọa, xuống cấp về đạo đức chứ không nhìn nhận như là một phần quan trọng của đời sống Môi trường lịch sử - văn hóa – xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển của đời sống văn học Nó là không gian tồn tại của tác phẩm Bối cảnh làm ảnh hưởng đến sự hình thành và vận hành của diễn ngôn văn học Chiupa cho rằng đó chính là quy trình mà các thẩm quyền giao tiếp kiến tạo nên không gian giao tiếp Việc mở rộng cánh cửa giao lưu khiến cho con người được có

cơ hội bày tỏ mình một cách thành thực, toàn diện và cụ thể hơn

Tháng 12/1984, Đại hội đại biểu Hội nhà văn Trung Quốc lần thứ 4 khai mạc Tại đại hội Đặng Tiểu Bình, Tổng bí thư ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đọc “chúc từ”, đề xuất khẩu hiệu “tự do sáng tác” Theo ông: “Nhà văn có đầy đủ tự do lựa chọn đề tài, chủ đề và phương pháp biểu hiện nghệ thuật” Từ đó đến nay, cùng với sự mở cửa giao lưu hội nhập với thế giới bên ngoài, nền kinh tế thị trường phát triển vượt bậc với những thành tựu lớn lao, nền văn học đương đại Trung Quốc cũng phát triển rất phong phú Nhà văn là những người nhạy cảm trước nhất, nhanh nhất trước sự biến động của thời cuộc Với tâm thế tiếp nhận mới, văn học cuộn mình trỗi dậy Dòng văn học “vết thương”, “sám hối” với những tác phẩm sục sôi đòi thanh toán nỗi uất ức “mười năm động loạn”, triệt để phê phán những sai lầm ấu trĩ đã

Trang 37

ra đời, mở ra thời kì phục hưng văn học nghệ thuật

Thêm vào đó, xu thế toàn cầu hóa khiến cho đổi mới văn học nói chung và tiểu thuyết nói riếng là xu hướng chung trong thời kì mở cửa Văn học viết về tính dục, sử dụng tính dục như là một phương tiện ở các nước phương Tây và các nền văn học lớn ở phương Đông như Nhật Bản, Ấn Độ cũng đã có một bề dày lịch sử nhất định “Văn học nước ngoài xem yếu tố sex trong tác phẩm giống như một chất xúc tác, một gia vị không thể thiếu để chuyển tải đến người đọc những giá trị ẩn chứa trong đó” (Huỳnh Như Phương, 2012) Trong thời

kì mở cửa, văn hóa thế giới tràn vào Trung Quốc ồ ạt hơn bao giờ hết Cũng nhờ xu thế hội nhập quốc tế, các nhà văn Trung Quốc có nhiều cơ hội giao lưu, tiếp xúc với tinh hoa văn hóa nhân loại

Kể từ năm 1982, văn học Trung Quốc có những mùa bội thu với “trăm hoa đua nở” Hàng trăm nhà văn ưu tú, hàng nghìn tác phẩm nổi tiếng đã xuất hiện,

có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn học trong và ngoài nước Những cây bút trẻ tìm tòi phương pháp mới đồng thời kế thừa những phương pháp truyền thống của văn học Trung Quốc Qua đó, nhiều phong cách mới, nhiều tác giả mới xuất hiện, nhanh chóng tạo ra sức hút mạnh mẽ trong đời sống văn học nghệ thuật Thời kì này đã chứng kiến sự thành công của nhiều văn nghệ sĩ với những tên tuổi nổi bật như: Giả Bình Ao, Vệ Tuệ, Mạc Ngôn cùng hàng trăm tác phẩm xuất sắc, thể hiện nhiều góc cạnh xã hội Trung Quốc đương thời Qua đó, có thể nhận thấy sự biến động của xã hội tác động mạnh mẽ đến

sự vận động và phát triển của văn học Nội tại đời sống văn học cũng luôn chủ động tìm tìm, đổi mới để tìm ra những cách nói, phương thức biểu đạt mới Đồng thời, quan niệm của con người về tính dục cũng có sự thay đổi

1.3.2 Cuộc đời

Bên cạnh yếu tố khách quan của thời đại thì– nhà văn với vai trò là chủ thể sáng tạo mới là nhân tố quan trọng nhất tạo nên sự “bứt phá” Đối với nhà văn, cái tôi bản thể ngoài cái tôi của một con người bình thường còn là cái tôi cá

Trang 38

tính sáng tạo của người nghệ sĩ Soi chiếu từ lí thuyết diễn ngôn cho thấy, trong từng thời kì lịch sử khác nhau, quan niệm về con người nói chung và con người cá nhân nói riêng chính là nền tảng thẩm mỹ của văn học Do vậy,

sự bùng nổ hình ảnh con người cá nhân, con người bản năng trong văn học đương đại cho thấy sự thay đổi của xã hội Trung Quốc cũng như nỗ lực tìm kiếm một cơ sở mĩ học mới của nhà văn

Mạc Ngôn sinh ngày 17/ 02/1955 trong một gia đình nông dân ở thôn Đông Bắc, huyện Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc Tuổi thơ của Mạc Ngôn trải qua nhiều khó khăn, vất vả và thiếu thốn đủ điều Nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự nghiệp văn chương sau này của ông

Tuổi thơ của Mạc Ngôn chứng kiến thời kì Cách mạng văn hóa, một thời kì

“kì quặc và điên rồ” trong lịch sử cận đại Trung Quốc Mạc Ngôn đang học tiểu học trong thời gian này Cách mạng văn hóa khiến ông phải nghỉ học và đi lao động nhiều năm ở nông thôn Nhà văn luôn cảm thấy đói khát và cô đơn Chính những năm tháng ấy đã trở thành nỗi ám ảnh đau đớn, dai dẳng và kinh hoàng Mạc Ngôn kể về tuổi thơ của mình: “Hồi nhỏ tôi đi chăn trâu, lúc nào bụng cũng đói, đi mệt bèn nằm dài ra đất nằm ngơ ngẩn nhìn mây trắng trên trời, bởi

vì tôi cảm thấy đám mây trắng kia dường như sẽ lập tức biến thành cái bánh bao rơi vào mồm tôi…” (Mạc Ngôn, 2008b) Và: “Mùa xuân năm 1960 là thời

kì ảm đạm nhất trong lịch sử tồn tại của đời tôi Những cái gì có thể ăn được đều không còn, rễ cỏ, vỏ cây, cỏ ở hiên nhà cũng đã hết” (Mạc Ngôn, 2010a)

Có thể nói, đói khát và cô đơn từ thời thơ ấu đã hình thành nên Mạc Ngôn của bây giờ

Mạc Ngôn có niềm đam mê lớn với sách “Cuộc đời đọc sách của tôi, khởi thủy từ thời kì niên thiếu Khi ấy, nông thôn Trung Quốc phổ biến là nghèo khó, sách có thể mượn được là rất ít Sau khi đọc hết mấy quyển sách của thầy giáo chủ nhiệm lớp và sách mượn của mười mấy thôn xung quanh, tôi đọc đi đọc lại một hòm sách giáo khoa trung học của anh cả tôi để lại trong nhà Toán,

Trang 39

lý, hóa đọc không hiểu, đọc ngữ văn, lịch sử, địa lí, sinh vật Đọc số lần nhiều nhất đương nhiên là ngữ văn Mấy quyển sách giáo khoa “văn học” ấy đã mở rộng tầm mắt tôi rất ghê! ” (Mạc Ngôn, 2010a) Ông từng kiêm nhiệm nhân viên quản lí thư viện của đơn vị, với trên ba ngàn quyển sách Đây là điều kiện thuận lợi để nhà văn thỏa mãn đam mê đọc sách của mình Chính niềm đam mê này góp phần đưa Mạc Ngôn đến với con đường sáng tạo văn chương

Tháng 2/1976, Mạc Ngôn gia nhập quân ngũ, làm chiến sĩ, tiểu đội trưởng, giáo viên, sau đó chuyển sang làm sáng tác văn học nghệ thuật Đây là khoảng thời gian giúp ông có những nhìn nhận, suy tư sâu sắc về những gì đã và đang xảy ra trong xã hội Trung Quốc Năm 1984, tiểu thuyết gia trúng tuyển vào khoa văn thuộc Học viện nghệ thuật Quân giải phóng Năm 1986 ông tốt nghiệp học viện Năm 1988, trúng tuyển lớp nghiên cứu sinh sáng tác của Học viện Văn học Lỗ Tấn, trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh Năm 1991 tốt nghiệp thạc sĩ Hiện nay, đang là sáng tác viên bậc một của Cục Chính trị - Bộ Tổng tham mưu Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc

Bằng những nỗ lực không mệt mỏi từ tuổi thơ cho đến khi trưởng thành, Mạc Ngôn đã tự hun đúc cho mình vốn sống, vốn văn hóa phong phú, đa dạng, sâu sắc, biến nó trở thành “tài sản” quý báu trong sự nghiệp sáng tác của ông

1.3.3 Sự nghiệp văn chương

“Mạc Ngôn” trong tiếng Trung có nghĩa là “không nói” Thế nhưng, những

tác phẩm của ông lại là ẩn chứa tiếng nói sắc sảo về cuộc sống nhân sinh và số phận con người

Năm 1981 ông bắt đầu công bố tác phẩm và đến nay, đã có 11 tiểu thuyết,

20 truyện vừa, hơn 60 truyện ngắn và 5 tuyển tập những bài ký, phóng sự, tùy bút tổng cộng trên 200 tác phẩm Mạc Ngôn thành công ở cả hai thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn

Ở thể loại tiểu thuyết, nhiều tác phẩm của Mạc Ngôn được đón nhận nồng nhiệt ở Hồng Kông, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam và dịch ra nhiều thứ

Trang 40

tiếng Bao gồm tiếng Anh, Pháp, Nhật, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Hàn Quốc, Việt

Nam, Romania, Serbia, Ba Lan, Thụy Điển, Hà Lan, Nga, Israel như Cao lương

đỏ, Tổ tiên có màng chân, Báu vật của đời, Đàn hương hình, Cây tỏi nổi giận, Rừng xanh lá đỏ, Tửu quốc, Tứ thập nhất pháo, Thập tam bộ, Sống đọa thác

đày, Châu chấu đỏ… Trong đó, cuốn tiểu thuyết Cao lương đỏ (nguyên tác:

Hồng cao lương gia tộc) được giải thưởng toàn quốc năm 1985-1986 Đạo diễn

Trương Nghệ Mưu đã chuyển thể thành phim truyện, đạt giải Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes 1994 Điều đáng chú ý là cuốn tiểu thuyết này còn được tạp chí World Literature Today bình chọn vào Top 40 tiểu thuyết của 75 năm

in ấn và trở thành tiểu thuyết hay nhất năm 1987

Hơn ba mươi năm trong sự nghiệp sáng tác, Mạc Ngôn đã sớm tìm cho mình một lối đi riêng, không ngừng cống hiến cho nền văn học đương đại Trung Quốc Tác giả đã đạt được rất nhiều giải thưởng lớn trong và ngoài nước:

- Giải tiểu thuyết toàn quốc lần thứ 4 (1987) cho tiểu thuyết Cao lương

đỏ, tác phẩm được chuyển thể thành bộ phim điện ảnh cùng tên (đạo diễn

Trương Nghệ Mưu) đã đoạt giải Gấu vàng tại Liên hoan phim Berlin năm 1988

và Cành cọ vàng trong Liên hoan phim Cannes của Pháp năm 1994

- Giải nhất tiểu thuyết của Hội Nhà văn Trung Quốc cho Báu vật của

đời (12/1995)

- Giải Mao Thuẫn cho tiểu thuyết Đàn hương hình Tác phẩm này cũng

đạt giải thưởng văn học Đỉnh Quân lần thứ nhất Đài Loan (năm 2004)

- Giải Văn học Liên hợp (Đài Loan)

- Văn học nước ngoài Laure Batailin (Pháp)

- Huân chương Kỵ sĩ Văn hóa nước Pháp năm 2004

- Tiến sĩ văn học danh dự do trường Đại học Công Khai Hồng Kông 2005

- Giải Văn học quốc tế Nonino năm 2005 (Ý)

- Giải thưởng lớn cho Văn hóa châu Á Fukuoka năm 2006 (Nhật)

- Giải Hồng lâu mộng cho Tiểu thuyết Hoa ngữ thế giới (Hồng Kông)

Ngày đăng: 07/05/2021, 23:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w