1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các huyễn tưởng tinh thần trong chuyện dài nguyễn nhật ánh nhìn từ lý thuyết của john g cawelti

139 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các huyễn tưởng tinh thần trong truyện dài Nguyễn Nhật Ánh nhìn từ lý thuyết của John G. Cawelti
Tác giả Lê Thị Bảo Trang
Người hướng dẫn TS. Hoàng Phong Tuấn
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ, Văn học và Văn hóa Việt Nam
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hướng tới đối tượng đọc là trẻ nhỏ, truyện của Nguyễn Nhật Ánh mở ra thế giới mộng mơ gần với thế giới cổ tích, kích thích trí tưởng tượng và ước mơ của trẻ em.” Bên cạnh đó, tác giả cũn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Bảo Trang

CÁC HUYỄN TƯỞNG TINH THẦN TRONG TRUYỆN DÀI NGUYỄN NHẬT ÁNH NHÌN TỪ LÝ THUYẾT CỦA JOHN G CAWELTI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh - 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Bảo Trang

CÁC HUYỄN TƯỞNG TINH THẦN TRONG TRUYỆN DÀI NGUYỄN NHẬT ÁNH NHÌN TỪ LÝ THUYẾT CỦA JOHN G CAWELTI

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số : 8220120

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS HOÀNG PHONG TUẤN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Mọi số liệu, trích dẫn trong luận văn đều có dẫn nguồn cụ thể Các kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa được công bố ở các công trình khác

Biên Hòa, ngày 20 tháng 11 năm 2020

Tác giả luận văn

Lê Thị Bảo Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô và cán bộ của Phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh vì đã hỗ trợ tôi trong suốt quá trình theo học

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các đồng nghiệp ở Tổ Ngữ văn trường THPT Chuyên Lương Thế Vinh vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành nhiệm vụ

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô là giảng viên Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh vì đã giảng dạy nhiệt tình và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi cũng vô cùng cảm ơn sự quan tâm, khích lệ của gia đình và bạn bè Đó chính là nguồn động viên tinh thần to lớn để tôi theo đuổi và hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, tôi tri ân sự hướng dẫn tận tình, tinh thần khoa học nghiêm cẩn và sự cảm thông sâu sắc mà TS Hoàng Phong Tuấn dành cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Không chỉ cung cấp những gợi ý quý giá về mặt học thuật, thầy còn đưa ra cho tôi những chỉ dẫn minh triết về mặt tinh thần, trong những lúc tôi cảm thấy

bế tắc Tôi xin phép dành lời cảm ơn trân trọng nhất gửi đến thầy

Biên Hòa, ngày 20 tháng 11 năm 2020

Tác giả luận văn

Lê Thị Bảo Trang

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 13

1.1 Khái quát về mô thức văn học (literary formula) 13

1.1.1 Khái niệm mô thức văn học (literary formula) 13

1.1.2 Đặc điểm nghệ thuật của văn học công thức (formulaic literature) 17

1.2 Huyễn tưởng tinh thần (moral fantasy) – cơ chế giải phóng nội tâm của các tác phẩm văn học công thức 28

1.2.1 Khái niệm 28

1.2.2 Phân loại 31

Tiểu kết Chương 1 43

Chương 2 CÁC MÔ HÌNH HUYỄN TƯỞNG TINH THẦN TRONG TRUYỆN DÀI NGUYỄN NHẬT ÁNH 44

2.1 Mô hình huyễn tưởng khám phá bí mật (mystery) 46

2.1.1 Khảo sát 46

2.1.2 Cơ chế tác động 50

2.2 Mô hình huyễn tưởng tình yêu lãng mạn (romance) 57

2.2.1 Khảo sát 57

2.2.2 Cơ chế tác động 61

2.3 Mô hình huyễn tưởng tình yêu lãng mạn (romance) kết hợp huyễn tưởng khám phá bí mật (mystery) 65

2.3.1 Khảo sát 65

2.3.2 Cơ chế tác động 73

2.4 Mô hình huyễn tưởng tình yêu lãng mạn (romance) kết hợp huyễn tưởng khám phá bí mật (mystery) và huyễn tưởng thế giới công bằng (melodrama) 79

Trang 6

2.4.1 Khảo sát 79

2.4.2 Cơ chế tác động 86

Tiểu kết Chương 2 96

Chương 3 NHỮNG YẾU TỐ ĐAN XEN VỚI CÁC HUYỄN TƯỞNG TINH THẦN MANG DẤU ẤN CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH 97

3.1 Bối cảnh văn hóa 97

3.1.1 Không gian làng quê 97

3.1.2 Không gian đô thị 103

3.2 Sự đan xen cảm nghiệm của tuổi trưởng thành 106

3.2.1 Sự trưởng thành của nhân vật trong mối quan hệ tình yêu 107

3.2.2 Sự trưởng thành của nhân vật trong mối quan hệ tình bạn 116

Tiểu kết Chương 3 127

KẾT LUẬN 128

TÀI LIỆU THAM KHẢO 131

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

1.1 Nguyễn Nhật Ánh là một trong số những cái tên ăn khách nhất trên thị trường sách hiện nay Trung bình, tác phẩm của nhà văn in hàng chục ngàn bản mỗi cuốn, đem đến sự chờ đợi háo hức như đợi chờ người “hò hẹn” của người đọc và liên tiếp tạo nên các hiện tượng xuất bản Có thể thấy nhà văn là một trong số ít những cây viết mà các sáng tác của ông có sức hấp dẫn kỳ lạ với độc giả ở mọi lứa tuổi Nhiều nhà phê bình cho rằng rất khó cắt nghĩa được “hiện tượng” Nguyễn Nhật Ánh Bởi sau hàng chục năm, tuy lớp độc giả cũ đã đi qua tuổi thiếu niên, nhưng không vì thế mà thế hệ độc giả mới thờ ơ với tác phẩm mới của ông Vậy đâu là “bí quyết” khiến các sáng tác của nhà văn luôn thu hút được sự chú ý của một lượng lớn công chúng, dù thế hệ độc giả đã ít nhiều có sự đổi thay? Đến nay, đây vẫn là một câu hỏi thu hút sự quan tâm chú ý của các nhà nghiên cứu cũng như gây ra nhiều ý kiến tranh luận trái chiều, chất vấn về giá trị thực sự của các sáng tác mang thương hiệu Nguyễn Nhật Ánh

1.2 Xung quanh sự đón nhận nồng nhiệt của công chúng với các sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh, chúng tôi nhận thấy tính đại chúng (popularity) trong các sáng tác của nhà văn Tính đại chúng của sự đọc liên quan đến việc văn bản văn học làm thỏa mãn nhu cầu đời thường của người đọc: nhu cầu giải trí và nhu cầu giải thoát Mỗi người trong cuộc sống hằng ngày luôn phải đối mặt giữa mong muốn của bản thân và thực tại giới hạn không thể đáp ứng những mong muốn ấy Điều này tạo nên những

ám ảnh nội tâm dai dẳng đeo đuổi chúng ta, đòi hỏi sự thỏa mãn, giải phóng trong

một thế giới hư cấu tưởng tượng “Theo John G Cawelti, các tác phẩm văn hóa đưa người đọc vào một thế giới tưởng tượng, cung cấp các mô thức (formula) giải phóng người đọc khỏi thế giới thực tại và những ám ảnh nội tâm bằng các huyễn tưởng tinh thần (moral fantasy)” (Hoàng Phong Tuấn, 2017)

Ứng dụng lý thuyết mô thức văn học (literary formula) của John G Cawelti, chúng tôi đặt ra giả thuyết trong truyện dài của Nguyễn Nhật Ánh có sự xuất hiện của các huyễn tưởng tinh thần (moral fantasy) – cơ chế giải phóng nội tâm đem đến sự thỏa mãn và cân bằng cho người đọc Đây chính là một trong những nguyên nhân lý

Trang 8

giải cho sức hấp dẫn phổ biến của các tác phẩm của nhà văn Thông qua đề tài nghiên cứu, chúng tôi hướng đến mục đích xác định và phân tích các loại huyễn tưởng tinh thần cũng như các mô hình kết hợp huyễn tưởng tinh thần xuất hiện trong truyện dài của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh Đồng thời, chỉ ra những yếu tố sáng tạo mang dấu ấn

cá nhân đan xen với các huyễn tưởng tinh thần đã tạo nên sức hút cho các sáng tác

của nhà văn Đó cũng chính là lý do chúng tôi lựa chọn đề tài: “Các huyễn tưởng tinh thần trong truyện dài của Nguyễn Nhật Ánh nhìn từ lý thuyết của John G Cawelti”

làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Các nghiên cứu về hiện tượng văn học Nguyễn Nhật Ánh

Nguyễn Nhật Ánh sinh ngày 07 tháng 05 năm 1955, tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam Nhà văn đến với diễn đàn văn học trước hết bằng những tập thơ trữ tình

ngọt ngào lãng mạn: Thành phố tháng Tư (in chung với Lê Thị Kim, 1984), Đầu xuân

ra sông giặt áo (1986), Thơ tình Nguyễn Nhật Ánh (1988), Lễ hội của đêm đen (1994)

và Tứ tuyệt cho nàng (1994) Năm 1984, truyện dài đầu tiên Trước vòng chung kết

của nhà văn ra mắt và nhanh chóng nhận được sự đón nhận nồng nhiệt đã định vị tên tuổi của ông trong lòng độc giả Kể từ đó nhà văn bắt đầu rẽ hướng và tập trung sáng

tác các tập truyện dành cho thanh thiếu niên như: Cô gái đến từ hôm qua (1988), Chú

bé rắc rối (1988), Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ (2008), Đảo mộng mơ (2009), Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (2010), Có hai con mèo ngồi bên cửa sổ (2012), Ngồi khóc trên cây (2013), Bảy bước tới mùa hè (2014), Chúc một ngày tốt lành (2014), Con chó nhỏ mang giỏ hoa hồng (2015), Ngày xưa có một chuyện tình (2016), Cây chuối non đi giày xanh (2017), Cảm ơn người lớn (2018)

Tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và phê bình văn học Đến nay, độc giả đã được biết nhiều bài viết đánh giá về các sáng tác của nhà văn trên các phương diện giá trị nội dung và nghệ thuật Đó là những bài nhận xét, những bài báo khoa học, những bài tiểu luận được in trong các cuốn sách tư liệu, những bản tin đăng trên báo, tạp chí, cập nhật trên mạng Internet

Đa phần các tác giả khi viết về Nguyễn Nhật Ánh đều dành những lời khen có cánh cho cây bút tài năng này

Trang 9

Trên báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh số 273 ra ngày 26 tháng 12 năm

1996, Nguyễn Thi ̣Thanh Xuân đã viết: “Đi sâu vào các cảm xúc mạnh mẽ và tâm trạng khắc khoải nặng nề không phải là chủ trương mà cũng không phải là sở trường của Nguyễn Nhật Ánh Anh nắm bắt rất tinh những trạng thái mong manh, niềm vui, nỗi buồn thoáng qua của tuổi mới lớn Nguyễn Nhật Ánh viết về cái gì? Anh viết về cái đang diễn ra, cái quen thuộc và gần gũi trong thế giới trẻ thơ: những cuộc học, cuộc chơi, những mối tình thơ dại Trong truyện dài của anh, không gian không rộng lắm, thời gian không dài lắm Những câu chuyện chẳng có gì là ly kỳ để kích thích trí tưởng tượng của độc giả trẻ thơ như các truyện cổ tích, truyện phiêu lưu viễn tưởng thế mà trẻ thơ vẫn say anh như điếu đổ.”

Đồng quan điểm với nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh Xuân, tác giả Đỗ Hải

Ninh trong bài viết Nguyễn Nhật Ánh và tuổi học đường đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội cũng đưa ra nhận xét: “Các câu chuyện của Nguyễn Nhật Ánh diễn ra trong

không gian thân thuộc từ nhà đến trường, nơi một miền quê nghèo, một xóm nhỏ, một thị trấn, hết thảy đều rất đỗi thân thương gắn bó với tuổi thơ Cốt truyện giản dị, nhẹ nhàng, không quá căng thẳng, kịch tính nhưng có những tình huống bất ngờ, thú

vị Hướng tới đối tượng đọc là trẻ nhỏ, truyện của Nguyễn Nhật Ánh mở ra thế giới mộng mơ gần với thế giới cổ tích, kích thích trí tưởng tượng và ước mơ của trẻ em.” Bên cạnh đó, tác giả cũng lý giải cho sự thành công của các sáng tác mang thương hiệu Nguyễn Nhật Ánh xét từ phương diện giá trị giáo dục dành cho độc giả nhỏ tuổi:

“Một điểm làm nên thành công nơi truyện của Nguyễn Nhật Ánh là ý nghĩa giáo dục được thể hiện sâu sắc, không phải giáo huấn trực tiếp mà thông qua những câu chuyện con trẻ thú vị Những nhân vật trẻ con khiếm khuyết được gắn với những câu chuyện xúc động về tình bạn, tình yêu, tình cảm gia đình, tình làng nghĩa xóm và tình người Nguyễn Nhật Ánh không chỉ tinh tế khi nắm bắt những tơ vương, rối mắc trong tình cảm lứa tuổi học trò mà còn thấu cảm những cảm xúc, tâm trạng của trẻ em trong quá trình hình thành nhân cách Nhờ vậy, người đọc có thể nhận thức được những khiếm khuyết của bản thân, cũng như thấy được vẻ đẹp tâm hồn, tình cảm trong mỗi con người một cách nhẹ nhàng, thấm thía.”

Trang 10

Trong tham luận của nhà báo Dương Thành Truyền được đọc tại Hội thảo khoa

học Vai trò của văn học, nghệ thuật và văn nghệ sĩ Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, tác giả cũng có

cùng nhận định: “Xét về mặt tâm lý - giáo dục, có một điều hết sức quý giá của hệ thống tác phẩm viết cho thanh thiếu niên của Nguyễn Nhật Ánh, vốn rất lớn về số lượng, đa dạng về thể loại, từ truyện tâm lý, tình cảm đến truyện pháp thuật, truyện phiêu lưu, truyện thể thao và phong phú về không gian biểu hiện từ làng đến phố, từ gia đình đến lớp học: đó là chúng có thể đồng hành theo quá trình phát triển tâm lý lứa tuổi của các bạn trẻ.”

Trên báo điện tử Thanh niên http://thanhnien.com.vn có bài viết Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh là nhà giáo dục của thanh thiếu niên của tác giả Hà Thế Theo quan

điểm của bài viết, Nguyễn Nhật Ánh được độc giả đánh giá là một trong những nhà văn viết cho tuổi thiếu niên thành công nhất ở nước ta hiện nay Không chỉ vậy, các tác phẩm tự sự của Nguyễn Nhật Ánh còn được đánh giá là giúp trẻ “lớn lên” theo từng nấc thang của cuộc đời với một thế giới trẻ thơ hết sức trong sáng, không có cái

ác, cái xấu, cái thấp hèn, chỉ ngập tràn yêu thương và tôn trọng con người, như chính cái khát khao mà mỗi con người luôn muốn hướng tới dù ở lứa tuổi nào Chính nghệ thuật tự sự của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã giúp các bạn trẻ yêu đời hơn, tự tin hơn, bình thản hơn trong cuộc sống thường nhật hôm nay vốn đầy ắp những bộn bề lo toan

và không thiếu sự khắc nghiệt

Đồng quan điểm khi đánh giá cao thành công của Nguyễn Nhật Ánh trong các sáng tác viết cho tuổi mới lớn, tác giả Thu Thủy cũng đưa ra nhận xét trong bài viết

Chặng đường 10 năm của tủ sách văn học dành cho tuổi mới lớn như sau: “Thời gian

đầu, chỉ có những nhà văn lớn tuổi tham gia viết sách cho lứa tuổi này như: Đoàn Thạch Biền, Nguyễn Quang Sáng Về sau, các cây viết trẻ tham gia sôi nổi, từ những nhà văn đã có tên tuổi ở dòng văn học người lớn đến những cây bút học trò Viết thành công nhất những tác phẩm văn học dành cho tuổi mới lớn là Nguyễn Nhật Ánh [ ] Những trang viết của ông đã hoàn toàn chinh phục được những độc giả đang ở

độ tuổi “dở dở, ương ương” Bởi lẽ, đọc tác phẩm nào của Nguyễn Nhật Ánh, độc giả cũng như thấy phản chiếu chính bản thân mình trong đó”

Trang 11

Nhà nghiên cứu Lê Nhật Ký cũng từng nhiều lần nhắc đến thành công của

Nguyễn Nhật Ánh trong các sáng tác dành cho thiếu nhi Trong bài viết Nguyễn Nhật Ánh – người bạn đồng hành của tuổi thơ, tác giả đã nêu nhận xét: “Sức hấp dẫn của

văn chương Nguyễn Nhật Ánh chính là ở khả năng kiến tạo sự hòa hợp, hòa điệu tâm hồn giữa tâm hồn nhà văn và bạn đọc Tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh giúp cho các

em tìm thấy cuộc sống của mình trên từng trang sách Người lớn đọc anh cũng cảm thấy hạnh phúc khi được trở về với thời thơ dại, tâm hồn thư thái hơn sau những vật lộn mưu sinh Có thể nói, sách Nguyễn Nhật Ánh có trăm nghìn mảnh đời, trăm nghìn tâm trạng buồn, vui, hờn giận… của tuổi thơ Vì thế, chúng làm hài lòng bạn đọc, qua

đó, tạo nên sự đồng cảm, tin cậy”

Nguyễn Thị Ngọc Hà trong bài viết Một ý kiến khác về cách sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Nhật Ánh đã bàn đến khía cạnh ngôn ngữ nghệ thuật trong các sáng tác

của Nguyễn Nhật Ánh như sau: “Trong truyện, Nguyễn Nhật Ánh sử dụng ngôn ngữ rất dễ hiểu Ở đó, ngôn ngữ trần thuật thường được biểu hiện bằng những câu văn ngắn, đơn giản nhưng vẫn biểu đạt được các sắc thái tình cảm rõ rệt.” Đồng quan điểm, nhà thơ, nhà phê bình Nguyễn Hoàng Sơn cũng cho rằng: “Ngôn ngữ văn học của Nguyễn Nhật Ánh rất sáng sủa, việc sử dụng thành thạo tiếng địa phương, tiếng lóng rất có liều lượng, góp phần làm nên tính phổ cập của tác phẩm”

Đặc biệt nhất trong số những công trình nghiên cứu về hiện tượng văn học

Nguyễn Nhật Ánh không thể không nhắc đến chuyên luận Nguyễn Nhật Ánh – hoàng

tử bé trong thế giới tuổi thơ xuất bản năm 2012 do Lê Minh Quốc biên soạn Đây là

công trình đầu tiên biên tập khá đầy đủ thông tin liên quan đến tiểu sử bản thân, hành trình, văn chương, những đánh giá khác nhau của đồng nghiệp, báo chí trong và ngoài nước về Nguyễn Nhật Ánh và các tác phẩm làm nên tên tuổi nhà văn Cuốn sách cung cấp những thông tin về tiểu sử của tác giả qua những câu chuyện thuở thiếu thời và con đường mà ông trở thành nhà văn nổi tiếng chuyên viết cho thiếu nhi, đồng thời

lý giải tại sao tuổi thơ, quê nhà lại trở thành đề tài có sức ảnh hưởng sâu đậm trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh Công trình mang tính chất tổng hợp các thông tin

và bài viết liên quan cùng những đánh giá công tâm của Lê Minh Quốc về Nguyễn Nhật Ánh, xuất phát từ tình cảm yêu mến chân thành mà tác giả cho nhà văn

Trang 12

Năm 2015, hội thảo Nguyễn Nhật Ánh và hành trình chinh phục tuổi thơ diễn ra

tại Hà Nội do Trung tâm Ngôn ngữ và Văn học - Nghệ thuật trẻ em tổ chức cũng đã quy tụ nhiều bài viết chất lượng của các nhà phê bình, nghiên cứu hàng đầu về hiện tượng văn học Nguyễn Nhật Ánh Đây là dịp để giới học thuật đánh giá điều gì đã làm nên thành công cả trên phương diện nghệ thuật lẫn thương mại cho các sáng tác

của nhà văn Kính vạn hoa

Nhận xét về người đồng nghiệp của mình, nhà văn Trần Quốc Toàn cho biết:

“Nguyễn Nhật Ánh là người nghiêm túc đối với công việc của mình; là người thích đùa, giỏi đùa; là người có thể tạo bão văn chương kiểu đùa nghịch, cười cợt những cũng biết cách kín đạo tạo sóng ngầm văn chương, để văn chương không chỉ mua vui cũng được vài trống canh mà còn giúp con người trút hờn giận, biết xả thân bảo vệ cái đúng, cái đẹp; là người tự giao lưu, hội nhập từ trước khi nhận giải ASEAN bởi truyện của Nguyễn Nhật Ánh đã được dịch sang tiếng Nhật, Anh, Hàn, Thái; là người biết im lặng trước những hiềm khích, để tác phẩm nói thay mình và để hàng triệu độc giả đảm bảo cho tác phẩm của mình”

Nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc đưa ra lý giải cho sự thành công của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh: “Cứ trên những gì được viết ra, ta thấy bóng dáng của một số bậc thầy văn chương thế giới đã hiện diện trên trang sách của Nguyễn Nhật Ánh những

ai trót lỡ đánh mất tuổi thơ thì thế giới đã hiện diện trên trang sách của Nguyễn Nhật Ánh những ai trót lỡ đánh mất tuổi thơ thì có thể quay tìm lại, dẫu đã muộn, trên những trang viết ma mị nhưng thấm đẫm tình người của ông”

Nhà nghiên cứu Ngô Văn Giá lại cho rằng văn chương của Nguyễn Nhật Ánh hấp dẫn bởi ba lý do Thứ nhất, Nguyễn Nhật Ánh xuất hiện trên văn đàn vào thời kỳ đổi mới Đây là giai đoạn sang trang của đất nước, tiếp sức cho văn học thiếu nhi khi trẻ thơ được là trẻ thơ, không phải gánh vác các nhiệm vụ lịch sử Thứ hai, tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh thường chứa đựng tâm năng và trí năng Trí năng mang lại tiếng cười, sự thông minh, hài hước Còn tâm năng khiến người đọc xúc động Điều thứ ba làm nên thành công của Nguyễn Nhật Ánh là tác giả có cách kể tạo không gian thân mật, gần gũi, hòa đồng với trẻ thơ

Trang 13

Đánh giá về vị trí của Nguyễn Nhật Ánh trong nền văn học hiện đại, nhà nghiên cứu Lã Thị Bắc Lý nhận định: “Cũng giống như các nhà văn khác viết cho thiếu nhi, Nguyễn Nhật Ánh đứng trước nhiều khó khăn và thách thức trong công cuộc đổi mới của văn học Thêm nữa, cuộc sống hiện đại đầy biến động với sự du nhập của nhiều nền văn hóa nước ngoài vào Việt Nam, trẻ em được tiếp xúc với nhiều với công nghệ hiện đại nên dễ bị lôi kéo vào những con đường khác ngoài văn học Nguyễn Nhật Ánh đã vượt qua những khó khăn, thách thức để tìm ra lối viết cho riêng mình, anh thuộc số người viết có bút lực dồi dào vào bậc nhất Việt Nam và là người đã gánh sứ mệnh lịch sử - người giữ lửa cho văn học thiếu nhi Việt Nam” Có thể nói, đây cũng chính là một trong số những nhận định tiêu biểu, thể hiện sự đánh giá rất cao của các nhà nghiên cứu về cây bút tài năng này

Bên cạnh đó, hiện tượng Nguyễn Nhật Ánh cũng trở thành đối tượng khảo sát

và nghiên cứu của nhiều đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sĩ như:

Đặc điểm truyện về loài vật của Nguyễn Nhật Ánh (Vũ Thị Trâm), Đặc sắc tản văn Nguyễn Nhật Ánh (Biện Thị Quỳnh Trang), Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Nhật Ánh (Đoàn Quốc Phương), Thời gian và không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Nhật Ánh (Nguyễn Thị Thu Trang), Nhân vật và cốt truyện trong truyện thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh (Trần Thị Thúy), Phương thức kể chuyện trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh (qua một số tác phẩm tiêu biểu) (Phạm Thị Thùy Liên), Hồi

ức trong truyện thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh (Nguyễn Minh Phượng), Thế giới nhân vật trong tác phẩm “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” của Nguyễn Nhật Ánh

(Đào Thị Thanh Hải),

Qua việc khảo sát các công trình trên, chúng tôi nhận thấy đa phần các công trình này có xu hướng tiếp cận hiện tượng Nguyễn Nhật Ánh trên phương diện giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của các sáng tác mang tên nhà văn bằng việc sử dụng các công cụ lý thuyết của Tự sự học, Thi pháp học hoặc soi chiếu hiện tượng dưới góc nhìn của ngành nghiên cứu về Văn học thiếu nhi, Văn học tuổi mới lớn Hầu như chưa có một công trình cụ thể và hệ thống nghiên cứu về hiện tượng văn học này dưới góc nhìn của ngành nghiên cứu về văn hóa đại chúng nói chung, văn học đại chúng nói riêng Trong khi đó, các tác phẩm thuộc về dòng chảy của văn học đại chúng

Trang 14

(popular literature) vốn mang những đặc điểm rất khác biệt với các tác phẩm văn học hàn lâm (high literature) Đây cũng chính là một trong những lý do quan trọng để chúng tôi quyết định thực hiện đề tài này

2.2 Các nghiên cứu ứng dụng lý thuyết của John G Cawelti tại Việt Nam

Lý thuyết mô thức văn học (literary formula) của John G Cawelti vẫn chưa được dịch và giới thiệu ở Việt Nam nên nhìn chung, số lượng công trình nghiên cứu ứng dụng lý thuyết này vẫn còn hạn chế

Theo tìm hiểu của chúng tôi, ở Việt Nam, công trình đầu tiên và duy nhất tính đến thời điểm thực hiện đề tài đề cập đến lý thuyết mô thức văn học (literary formula)

của John G Cawelti là bài báo Tính đại chúng của sự đọc và huyễn tưởng tinh thần của văn học trong một số tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh của tác giả Hoàng Phong

Tuấn, được đăng lần đầu trên Tạp chí Văn nghệ quân đội (số tháng 10/2016) và in lại

trong công trình Văn học, Người đọc, Định chế (2017) của tác giả Ở bài viết này,

bước đầu, tác giả đã giới thiệu một số điểm quan trọng trong lý thuyết của Cawelti và vận dụng quan niệm về huyễn tưởng tinh thần trong các tác phẩm đại chúng để phân tích tác động tâm lý/thẩm mỹ của một số tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh

Xung quanh sự đón nhận nồng nhiệt của công chúng đối với các sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh, Hoàng Phong Tuấn cho rằng đó là do tính đại chúng (popularity) trong các tác phẩm của ông Tính đại chúng của sự đọc (popularity) đặc trưng ở việc văn bản thỏa mãn nhu cầu giải thoát và nhu cầu giải trí của người đọc Thế giới hư cấu trong của các tác phẩm nghệ thuật cung cấp những mô thức (formula) giải thoát người đọc khỏi thực tại và những ám ảnh nội tâm thông qua các huyễn tưởng tinh thần (moral fantasy)

Hoàng Phong Tuấn giới thiệu 05 loại huyễn tưởng tinh thần theo lý thuyết của

John G Cawelti, đó là: hành trình mạo hiểm (adventure), tình yêu lãng mạn (romance), khám phá bí mật (mystery), thế giới công bằng (melodrama), cuối cùng

là sinh vật và thế giới ngoài trái đất (alien beings and states) Phân biệt với các huyễn

tưởng thể chất chỉ đem đến sự giải phóng và thỏa mãn ở khía cạnh thể xác thuần túy, các huyễn tưởng tinh thần mới là những cơ chế giải phóng nội tâm đúng nghĩa Tác

Trang 15

giả cũng chỉ ra cơ chế giải phóng tâm lý này: “Các mô thức văn học tạo nên các hoàn cảnh, tình thế và biến cố khơi gợi nên trong người đọc kinh nghiệm của mình về thực tại và về bản thân, để họ hóa thân vào nhân vật, cảm thấy như là nhân vật đang phải đối diện với những vấn đề mà họ từng đối diện nhưng bế tắc trong thực tại Kế tiếp chúng gợi nên những phẩm chất, khả năng, hay điều kiện nào đó có ở nhân vật để có thể vượt qua các biến cố ấy, đồng thời đó cũng là những điều mà người đọc mong muốn có được từ trong sâu thẳm tâm hồn mình Cuối cùng, nhân vật vượt qua được những biến cố, dù đạt hay không đạt được mục đích, nhưng cũng đem lại sự thỏa mãn hay sự cân bằng cho người đọc, giải phóng họ khỏi những ám ảnh nội tâm, đem lại niềm thanh thản để họ tiếp tục trở lại với thực tại đời thường trần, nhàm chán và bó buộc hàng ngày” (Hoàng Phong Tuấn, 2017) Tác giả nhấn mạnh, các mô thức văn học này dựa trên tính quen thuộc của kinh nghiệm đọc và tính mới của sự trải nghiệm trong tiến trình đọc Mô thức quen thuộc của các chi tiết, nhân vật gợi nên trong người đọc sự chờ đợi những yếu tố cá biệt xảy đến trong một tình huống được dự đoán trước Chính vì vậy, các tác phẩm đại chúng nhìn chung là dễ đọc do người đọc không phải băn khoăn lựa chọn các chiến lược lý giải cho mình mà chủ yếu là hồi hộp chờ đợi những sự kiện

Ứng dụng lý thuyết của Cawelti, tác giả phân tích biểu hiện và sự kết hợp các huyễn tưởng tinh thần trong trường hợp hai truyện dài khá tiêu biểu của Nguyễn Nhật

Ánh là Thằng quỷ nhỏ và Phòng trọ ba người Không dừng lại ở đó, tác giả còn đã

chỉ ra điểm độc đáo của hiện tượng Nguyễn Nhật Ánh là sự gắn kết các huyễn tưởng tinh thần với trải nghiệm của tuổi trưởng thành Hoàng Phong Tuấn cho rằng đây cũng chính là điểm làm nên sức hút riêng của nhà văn

Trong công trình trên, bước đầu, tác giả đã giới thiệu một số điểm quan trọng trong lý thuyết về mô thức văn học của Cawelti và ứng dụng vào việc phân tích hai trường hợp tác phẩm cụ thể của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh Đó cũng chính là những gợi ý hữu ích để chúng tôi thực hiện đề tài Tuy vậy, chúng tôi nhận thấy trong khuôn khổ giới hạn của một bài báo khoa học, công trình vẫn chưa cung cấp cho người đọc cái nhìn toàn diện và hệ thống về lý thuyết của Cawelti Bên cạnh đó, tác giả cũng mới chỉ đưa ra nhận định ban đầu về điểm đặc biệt làm nên sức hút của nhà văn

Trang 16

Nguyễn Nhật Ánh là sự đan xen trải nghiệm của tuổi trưởng thành vào các huyễn tưởng tinh thần mà chưa phân tích cụ thể phương diện này Mặt khác, chúng tôi cũng đặt ra câu hỏi về việc còn có các mô hình kết hợp huyễn tưởng tinh thần khác mà tác giả Hoàng Phong Tuấn chưa khảo sát hết Đây chính khoảng trống nghiên cứu mà chúng tôi nhận thấy có thể tiếp tục bổ sung và hoàn thiện

3 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc thực hiện đề tài, chúng tôi hướng đến những mục đích sau:

Thứ nhất, giới thiệu một cách hệ thống về lý thuyết mô thức văn học của John

G Cawelti

Thứ hai, xác định và phân tích các mô hình huyễn tưởng tinh thần xuất hiện

trong truyện dài của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh

Thứ ba, chỉ ra những yếu tố sáng tạo đan xen với các huyễn tưởng tinh thần tạo

nên sức hấp dẫn riêng cho các sáng tác của nhà văn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tiến hành thực hiện đề tài, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu là các huyễn tưởng tinh thần (moral fantasy) trong truyện dài của Nguyễn Nhật Ánh nhìn từ lý thuyết của John G Cawelti

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp phân tích văn bản: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để

phân tích nội dung các truyện dài của Nguyễn Nhật Ánh Qua đó, nhận diện và phân loại các mô hình kết hợp huyễn tưởng tinh thần xuất hiện trong sáng tác của nhà văn Đồng thời, chỉ ra những yếu tố sáng tạo mang dấu ấn cá nhân của Nguyễn Nhật Ánh đan xen với các mô hình trên

Trang 17

5.2 Phương pháp cấu trúc: Chúng tôi sử dụng phương pháp cấu trúc để phân tích

các cấu trúc tự sự (narrative structures) – biểu hiện cụ thể hóa của các huyễn tưởng tinh thần và mô hình kết hợp huyễn tưởng tinh thần trong truyện dài của nhà văn

5.3 Phương pháp so sánh: Chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh để so sánh,

đối chiếu đặc điểm truyện dài của Nguyễn Nhật Ánh với một vài sáng tác của các tác giả khác nhằm khẳng định sự độc đáo, làm nên điểm khác biệt của Nguyễn Nhật Ánh

so với các nhà văn khác dưới lăng kính lý thuyết của John G Cawelti

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn khi hoàn thành, sẽ có những đóng góp nhất định sau:

Thứ nhất, luận văn là công trình đầu tiên giới thiệu một cách có hệ thống và ứng

dụng lý thuyết của John G Cawelti để phân tích một trường hợp nghiên cứu cụ thể ở Việt Nam

Thứ hai, luận văn đóng góp thêm một hướng nghiên cứu giàu tiềm năng về hiện

tượng Nguyễn Nhật Ánh - một trong số những hiện tượng văn học đại chúng nổi bật

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, luận văn của chúng tôi được triển khai thành 03 chương nội dung chính sau đây:

Chương 1: Những vấn đề chung

Ở chương 1, chúng tôi sẽ giới thiệu chung về lý thuyết mô thức văn học (literary

formula) của John G Cawelti cũng như trình bày cụ thể về khái niệm và hệ thống

phân loại các huyễn tưởng tinh thần (moral fantasy) – cơ chế giải phóng nội tâm của

các tác phẩm văn học công thức mà chúng ta thường bắt gặp trong các sản phẩm văn hóa đại chúng nói chung, văn học đại chúng nói riêng

Chương 2: Các mô hình huyễn tưởng tinh thần trong truyện dài truyện dài

của Nguyễn Nhật Ánh

Ở chương này, chúng tôi sẽ ứng dụng lý thuyết đã trình bày ở chương 1 để xác định và phân tích các huyễn tưởng tinh thần cũng như mô hình kết hợp các huyễn tưởng tinh thần xuất hiện trong truyện dài của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh

Chương 3: Những yếu tố đan xen với các huyễn tưởng tinh thần mang dấu

ấn của Nguyễn Nhật Ánh

Trang 18

Sang Chương 3, chúng tôi tập trung phân tích những yếu tố sáng tạo độc đáo đan xen với các mô hình huyễn tưởng tinh thần mang dấu ấn cá nhân của tác giả Nguyễn Nhật Ánh, cũng chính là những yếu tố làm nên sức hấp dẫn riêng của nhà văn

Trang 19

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Khái quát về mô thức văn học (literary formula)

1.1.1 Khái niệm mô thức văn học (literary formula)

John G Cawelti, nguyên giáo sư tại trường Đại học Kentucky, là một trong những học giả tiên phong trong hướng nghiên cứu về văn hóa đại chúng nói chung, văn học đại chúng nói riêng ở phương Tây bắt đầu từ những thập niên 60 của thế kỷ

XX Thông qua các công trình nổi tiếng của mình, ông đã thiết lập nền móng vững chắc nhằm khai mở cho ngành nghiên cứu về văn hóa, văn học đại chúng Trong tác

phẩm Six – Gun Mystique (Bowling Green University Popular Press, 1970), John G

Cawelti đã tập trung nghiên cứu về thể loại Cao bồi miền viễn Tây (Western) và phát hiện ra mô hình cấu trúc tự sự của thể loại này cũng như khám phá nhu cầu tâm lý của độc giả khi tìm đến thể loại trên Tiếp tục phát triển hướng nghiên cứu trên, cuốn

sách Adventure, Mystery and Romance: Formula Stories as Art and Popular Culture

(University of Chicago Press, 1976) của ông là một trong những công trình hữu ích nhất để tìm hiểu và nghiên cứu các loại câu chuyện phổ quát (universal story types)

mà ta thường bắt gặp trong các bộ phim và tiểu thuyết đại chúng nổi tiếng Trong công trình này, John G Cawelti trình bày một cách có hệ thống về khái niệm “mô thức văn học” (literary formula), vốn là thuật ngữ được tác giả giới thiệu lần đầu trong

bài báo The concept of formula in the Study of Popular Literature (Journal of Popular

Culture 3: p.381–390, 1969) Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu cũng phân tích các “huyễn tưởng tinh thần” (moral fantasy) ẩn dưới bề sâu của các loại câu chuyện phổ quát trên Qua đó, ông lý giải cơ chế đem lại sự giải phóng và thỏa mãn nội tâm cho người đọc của các tác phẩm văn học công thức, đồng thời chứng minh vai trò không thể phủ nhận của các tác phẩm văn học loại này trong đời sống văn học, bên cạnh các tác phẩm văn học hàn lâm Cawelti nhận thấy các công thức rất quan trọng trong văn hóa đại chúng nói chung, văn học đại chúng nói riêng vì chúng đóng vai trò như một hệ quy ước riêng, giúp cho quá trình giao tiếp giữa người sáng tác và người tiếp nhận diễn ra thuận lợi và nhanh chóng Đây cũng chính là một trong những đặc điểm khiến các ấn phẩm văn hóa, văn học đại chúng dễ dàng tiếp cận được với số đông khán giả/độc giả

Trang 20

Nhìn nhận một cách tổng quát, mô thức văn học (literary formula) là một cấu trúc tập hợp các quy ước tự sự và sân khấu được sử dụng trong một số lượng lớn các

tác phẩm riêng lẻ Nguyên văn: “In general, a literary formula is a structure of narrative or dramatic conventions employed in a great number of individual works”

(John G Cawelti, 1976)

Theo John G Cawelti, có hai cách hiểu phổ biến về thuật ngữ mô thức văn học

mà khi kết hợp hai cách hiểu này lại, ta sẽ có được định nghĩa đầy đủ và chính xác của thuật ngữ này

Theo cách hiểu đầu tiên, thuật ngữ mô thức văn học dùng để chỉ hệ thống ẩn dụ

có tính quy ước tương ứng với một số đối tượng cụ thể Rộng hơn, mô thức văn học còn dùng để chỉ những khuôn mẫu văn hóa (cultural stereotypes) đã trở thành công thức mà ta thường bắt gặp trong văn học Ví như hình mẫu người phụ nữ gợi cảm thường là một người phụ nữ có mái tóc vàng, hình tượng nhân vật thám tử thường gắn liền với óc phân tích siêu đẳng, những người Ai-len thường là những người nóng nảy và bốc đồng Điều quan trọng cần lưu ý về cách hiểu thứ nhất là các khuôn mẫu văn hóa này mang dấu ấn đặc trưng của từng nền văn hóa và từng thời kỳ cụ thể Vì vậy, các khuôn mẫu này sẽ không biểu thị ý nghĩa tương tự khi xuất hiện bên ngoài các bối cảnh văn hóa sản sinh ra chúng Ví dụ, hình mẫu người Ai-len với phẩm tính nóng nảy và bốc đồng là hình mẫu phổ biến trong nền văn hóa Anh – Mỹ ở giai đoạn

mà người Ai-len bị xem là những kẻ nhập cư thuộc tầng lớp thấp mà ở thời hiện đại, quan điểm đánh giá này đã có sự đổi khác

Nguyên văn:

The first usage simply denotes a conventional way of treating some specific thing

or person [ ] By extension, any form of cultural stereotype commonly found in literature—red-headed, hot-tempered Irishmen, brilliantly analytical and eccentric detectives, virginal blondes, and sexy brunettes—is frequently referred

to as formulaic The important thing to note about this usage is that it refers to patterns of convention which are usually quite specific to a particular culture

Trang 21

and period and do not mean the same outside this specific context The formula

of the Irishman’s hot temper was particularly characteristic of English and American culture at periods where the Irish were perceived as lower-class social intruders

(John G Cawelti, 1976)

Cách hiểu thứ hai của thuật ngữ này đề cập đến các loại cốt truyện có tính phổ quát Ta thường bắt gặp cách hiểu này trong các hướng dẫn cung cấp những công thức tự sự phổ biến dành cho các nhà văn muốn sáng tác theo thị hiếu của độc giả đại chúng Các công thức này sẽ bao gồm các tình tiết quen thuộc, kiểu như sự phát triển của một mối quan hệ tình cảm lãng mạn: từ lúc chàng trai gặp cô gái, sau đó chàng trai và cô gái có một sự hiểu lầm, rồi hiểu lầm được hóa giải, chàng trai và cô gái được hạnh phúc bên nhau Những mô hình cốt truyện chung này không giới hạn trong một nền văn hóa hoặc thời kỳ cụ thể nào Thậm chí, ta còn dễ dàng bắt gặp chúng trong nhiều nền văn hóa, ở nhiều giai đoạn khác nhau Trên thực tế, chúng là những

ví dụ minh họa cho một khái niệm mà các nhà nghiên cứu hay gọi là những “cổ mẫu” (archetypes), vốn tồn tại trong nhiều nền văn hóa khác biệt

Nguyên văn:

The second common literary usage of the term formula refers to larger plot types This is the conception of formula commonly found in those manuals for aspiring writers that give the recipes for twenty-one sure-fire plots—boy meets girl, boy and girl have a misunderstanding, boy gets girl These general plot patterns are not necessarily limited to a specific culture or period Instead, they seem to represent story types that, if not universal in their appeal, have certainly been popular in many different cultures at many different times In fact, they are examples of what some scholars have called archetypes or patterns that appeal

in many different cultures

(John G Cawelti, 1976)

Trang 22

John G Cawelti chỉ ra rằng, nếu chúng ta quan sát các tác phẩm văn học đại chúng như tác phẩm về cao bồi miền viễn Tây, tác phẩm trinh thám, hoặc tác phẩm

về điệp viên, ta sẽ dễ dàng nhận thấy chúng chính là những tác phẩm kết hợp hài hòa

cả hai đặc điểm trên Trên nền một cốt truyện chung có tính phổ quát (có thể là hành trình mạo hiểm của người anh hùng, hành trình đi khám phá bí mật ẩn giấu hoặc câu chuyện tình yêu lãng mạn ), mỗi tác phẩm lại sử dụng những chất liệu văn hóa khác nhau để tạo điểm nhấn cho câu chuyện, tùy thuộc vào nền văn hóa/giai đoạn cụ thể

đã sản sinh ra tác phẩm ấy Vì vậy, John G Cawelti cho rằng, mô thức văn học chính

là cách thức mà các chủ đề và khuôn mẫu văn hóa cụ thể hiện thân trong những cổ

mẫu truyện kể có tính phổ quát của nhân loại Nguyên văn: “Thus formulas are ways

in which specific cultural themes and stereotypes become embodied in more universal story archetypes” (John G Cawelti, 1976)

John G Cawelti cũng lý giải nguyên nhân vì sao các mô thức (formulas) lại được kiến tạo theo phương thức này Ông cho rằng, trong khi các cổ mẫu truyện kể

có tính phổ quát thỏa mãn nhu cầu tâm lý (hướng đến sự giải trí và thoát ly) thuộc về bản chất chung của nhân loại thì các chất liệu văn hóa cụ thể giúp chúng trở nên gần gũi và dễ được đón nhận hơn bởi nền văn hóa cụ thể đã sản sinh ra chúng Một nhà văn không thể tạo ra câu chuyện hành trình phiêu lưu mạo hiểm của người anh hùng thành công nếu độc giả của nền văn hóa sản sinh ra tác phẩm ấy không hình dung nhân vật đó như một hình mẫu anh hùng Đó lý do vì sao ở nền văn hóa Âu – Mỹ, chúng ta có rất ít câu chuyện hành trình phiêu lưu mạo hiểm của người anh hùng với hình tượng nhân vật trung tâm là một người lao động bình thường như người thợ sửa ống nước, người gác cổng hoặc người quét đường Tuy vậy, ta dễ dàng bắt gặp các hình mẫu nhân vật kiểu này trong các tác phẩm kinh điển của văn học Xô-viết Đây chính là một ví dụ tiêu biểu minh họa cho bản chất của mô thức văn học Từ đó, John

G Cawelti kết luận: Mô thức văn học chính là sự kết hợp của các quy ước văn hóa thuộc về một nền văn hóa cụ thể trên nền những cổ mẫu truyện kể có tính phổ quát của nhân loại Nguyên văn: “A formula is a combination or synthesis of a number of specific cultural conventions with a more universal story form or archetype” (John

G Cawelti, 1976)

Trang 23

1.1.2 Đặc điểm nghệ thuật của văn học công thức (formulaic literature)

Văn học công thức, trước hết, là một loại hình của văn học Do đó, nó có thể được phân tích và đánh giá như bất kỳ loại hình văn học nào khác Tuy vậy, trong suốt chiều dài lịch sử, văn học công thức đã không được nhìn nhận một cách công bằng Hai khía cạnh trung tâm của các cấu trúc tự sự có tính công thức khiến chúng vẫn bị chỉ trích trong hệ tư tưởng nghệ thuật chính thống, đối lập với các tác phẩm văn học tinh hoa trong suốt một thế kỷ qua là: (1) sự quy chuẩn hóa và (2) mục đích hướng đến việc thỏa mãn nhu cầu giải trí và thoát ly cho độc giả Theo John G Cawelti, để xem xét loại hình văn học này một cách khách quan chứ không chỉ đơn thuần là phê phán nó, chúng ta phải khám phá một số ý nghĩa thẩm mỹ của hai đặc điểm cơ bản này

1.1.2.1 Sự quy chuẩn hóa (standardization)

Mặc dù sự quy chuẩn hóa không được đánh giá cao trong hệ tư tưởng nghệ thuật hiện đại, nhưng không thể phủ nhận, đây vẫn là bản chất của mọi loại hình văn học

Hệ quy ước được chuẩn hóa thiết lập một điểm chung giữa nhà văn và độc giả mà nếu không có điểm chung này thì hoạt động giao tiếp nghệ thuật sẽ không thể tiến hành được Đối với văn học công thức, những cấu trúc tự sự mang tính quy ước được thiết lập hoàn chỉnh đóng vai trò đặc biệt quan trọng và phản ánh mối quan tâm của

độc giả, nhà văn cũng như người phát hành tác phẩm Nguyên văn: “Well-established conventional structures are particularly essential to the creation of formula literature and reflect the interests of audiences, creators, and distributors” (John G Cawelti,

1976)

Trong tiến trình đọc, độc giả giả tìm thấy sự thỏa mãn và cảm giác an toàn trong các mô thức văn học quen thuộc Kinh nghiệm đọc sẵn có với những mô thức quen thuộc giúp độc giả có thể dễ dàng tiếp cận những tác phẩm loại này Đối với người sáng tạo, các công thức sẵn có cung cấp một phương tiện để họ có thể sáng tác nhanh chóng và hiệu quả các tác phẩm mới Một khi đã nắm bắt được các đặc điểm chính của một công thức nào đó, nhà văn có thể dễ dàng tạo ra hàng loạt các tác phẩm tương

tự mà không cần phải đưa ra các quyết định nghệ thuật khó khăn như khi sáng tác mà không dựa trên công thức sẵn có Vì vậy, các nhà văn sáng tác dựa trên công thức văn

Trang 24

học sẵn có là những nhà văn viết rất năng suất, tiêu biểu như Georges Simenon - một tiểu thuyết gia trinh thám nổi tiếng Sự nghiệp đồ sộ của ông bao gồm 183 tiểu thuyết,

158 truyện ngắn, nhiều hồi ký cùng các bài viết và tác phẩm khác mà ông ký tên dưới

27 bút danh khác nhau Ông chính là nhà văn Bỉ được đọc nhiều nhất trên thế giới, với hơn 550 triệu bản in được thống kê Đối với các nhà xuất bản hoặc hãng phim, việc sản xuất các tác phẩm công thức là một hoạt động hợp lý, thậm chí cần thiết vì

nó đảm bảo được yêu cầu về mặt lợi nhuận Các công thức văn học đóng vai trò như một hệ quy ước riêng, giúp cho quá trình giao tiếp nghệ thuật giữa người sáng tác và người tiếp nhận diễn ra thuận lợi và nhanh chóng Đây cũng chính là một trong những đặc điểm khiến các ấn phẩm văn học đại chúng dễ dàng tiếp cận và thỏa mãn thị hiếu thẩm mỹ của một bộ phận lớn độc giả

Tuy nhiên, nếu việc sản xuất các tác phẩm nghệ thuật công thức chỉ đơn giản xoay quanh lợi nhuận, thì vấn đề này sẽ thuộc về phạm trù nghiên cứu của các nhà kinh tế học Sâu xa hơn, ngay cả khi người ta thường lầm tưởng rằng lợi nhuận là động lực duy nhất đằng sau việc sản xuất các tác phẩm nghệ thuật công thức, John G Cawelti cho rằng còn có những động lực khác, quan trọng hơn Vì vậy, dưới lăng kính phê bình văn học, chúng ta vẫn cần nghiên cứu bản chất loại hình và các đặc trưng thẩm mỹ của các tác phẩm nghệ thuật công thức

Vì hiệu quả của một tác phẩm công thức phụ thuộc vào việc khơi gợi ở độc giả kinh nghiệm quen thuộc đã có, nó sáng tạo ra thế giới riêng khiến chúng ta trở nên quen thuộc bởi sự lặp lại Nhờ cách này, chúng ta có thể trải nghiệm thế giới tưởng tượng/hư cấu này mà không cần liên tục so sánh nó với trải nghiệm của chính mình trong thế giới thực Do đó, trong một vài khoảnh khắc, văn học công thức gần như là phương tiện thích hợp nhất để đem đến cho người đọc sự thư giãn và thoát ly Một trong những cách thức để loại hình văn học này thực hiện hai chức năng trên là tăng cường những trải nghiệm mong đợi (expected experience) nơi độc giả Ở khía cạnh này, mối quan hệ giữa một tác phẩm văn học công thức cụ thể với mô hình công thức chung mà từ đó tác phẩm được tạo ra là mối quan hệ tương tự như các tác phẩm biến thể từ một chủ đề Để trở thành một tác phẩm công thức thành công và có sức hấp dẫn, bên cạnh việc đáp ứng các quy ước tiêu chuẩn của công thức, mỗi tác phẩm còn

Trang 25

phải sở hữu một đặc điểm riêng biệt nào đó Ví dụ, khi chúng ta thưởng thức màn trình diễn mới của một vai diễn đã quá nổi tiếng như Hamlet trong vở kịch cùng tên của đại thi hào William Shakespeare, chúng ta sẽ ấn tượng về vai diễn nếu người diễn viên đem lại những sáng tạo mới cho vai diễn này Tuy nhiên, nếu như những sáng tạo ấy hoàn toàn lật ngược các quan niệm trước đây của chúng ta về nhân vật này thì nhiều khán giả sẽ cảm thấy khó có thể chấp nhận được Ngược lại, nếu như người diễn viên hoàn toàn không có chút sáng tạo nào trong phần biểu diễn của mình thì người xem cũng sẽ nhanh chóng cảm thấy nhàm chán với một phần trình diễn không lấy gì làm thú vị Vậy nên, cách thức tốt nhất để đảm bảo hứng thú của khán giả với một vai diễn đã trở thành kinh điển như vai diễn này đó là sự sáng tạo của cá nhân người diễn viên trong khuôn khổ cho phép Điều tương tự cũng đúng với trường hợp văn học hoặc âm nhạc Quan sát một bộ phận lớn tác phẩm trên các phương tiện truyền thông đại chúng, ta dễ dàng nhận thấy nguyên tắc nghệ thuật về các biến thể của một chủ đề này rõ ràng là một trong những phương thức biểu đạt cơ bản của nghệ

thuật đại chúng Nguyên văn: “This artistic principle of variations on a theme is clearly one of the fundamental modes of expression in popular culture, as can be seen from the tremendous importance of performance in almost all of the popular media”

(John G Cawelti, 1976)

Tuy nhiên, mỗi công thức đều có ranh giới riêng để xác định đâu là giới hạn cho phép của hàm lượng các yếu tố mới lạ và độc đáo thuộc về sáng tạo cá nhân mà không phá vỡ khuôn khổ của công thức Chúng ta có thể rút ra hai phẩm chất thuộc về tài năng nghệ thuật thường bắt gặp ở các nhà văn thành công trong việc sáng tạo tác phẩm văn học công thức là: (1) khả năng mang lại sức sống mới cho các khuôn mẫu (stereotypes) và (2) khả năng sáng tạo thêm những nét chấm phá độc đáo cho cốt truyện (plot) hoặc bối cảnh (setting) trong khuôn khổ của công thức

Trang 26

seem to possess to some degree: (1) the ability to give new vitality to stereotypes and (2) the capacity to invent new touches of plot or setting that are still within formulaic limits

(John G Cawelti, 1976)

(1) Khả năng đem lại sức sống mới cho các nhân vật và tình huống đã trở thành khuôn mẫu là phẩm chất nghệ thuật mà chúng ta thường bắt gặp ở các tác phẩm văn học công thức được đánh giá cao Khi tìm đến với các tác phẩm văn học công thức, người đọc mặc định sẽ bắt gặp các kiểu nhân vật và tình huống điển hình quen thuộc của công thức đó Ví dụ ở các tác phẩm về cao bồi viễn Tây, ta thường thấy xuất hiện những tình huống điển hình như cuộc rượt đuổi trên lưng ngựa, cuộc cãi vã ở quán rượu, những vụ xả súng nảy lửa và chắc chắn không thể thiếu người anh hùng cao bồi dũng cảm, cũng là hình tượng trung tâm của tác phẩm Những tình huống và hình tượng nhân vật điển hình trên sẽ khơi gợi ở độc giả trải nghiệm đã có về các khuôn mẫu nghệ thuật này Vì vậy, các nhà văn tài năng luôn cố gắng làm mới những khuôn mẫu này bằng cách thêm vào các yếu tố mới lạ Người đọc trải nghiệm sự bất ngờ khi bắt gặp các hình mẫu nhân vật thú vị mà bản thân tưởng như đã quá quen thuộc khi tìm đến các tác phẩm văn học công thức dạng này Chính đặc điểm này đã đem lại sự hấp dẫn cho các tác phẩm văn học công thức mà sự phổ biến của loại công thức cao bồi viễn Tây (Western) hơn một trăm năm qua là một minh chứng điển hình cho sự thành công của loại hình văn học này

Để mang đến sức sống mới cho các khuôn mẫu quen thuộc, có hai phương thức phổ biến mà các nhà văn tài năng thường sử dụng Phương thức đầu tiên là khắc họa nhân vật với những tính cách trái ngược hoàn toàn với những đặc điểm của khuôn mẫu Chẳng hạn, Sherlock Holmes là hình mẫu tiêu biểu của một thám tử có trí tuệ siêu việt, tôn thờ lý trí, làm việc dựa trên chứng cứ khoa học nhưng đồng thời, nhân vật này cũng

sở hữu những phẩm tính hoàn toàn trái ngược với các đặc điểm trên Ở một khía cạnh khác, Holmes là người tin tưởng vào trực giác, hay mơ mộng, lãng mạn như một nghệ

sĩ và có thể dành hàng giờ bên cây vĩ cầm Holmes chơi đàn vĩ cầm rất hay Sự kết hợp hài hòa các đặc điểm tưởng như đối lập này là điều khiến Holmes trở thành hình mẫu

Trang 27

thám tử độc nhất vô nhị trong lịch sử văn học Dễ dàng nhận thấy một số chân dung nhân vật nổi bật khác của văn học công thức cũng được tạo ra theo cách tương tự như vậy

Phương thức phổ biến thứ hai mà các nhà văn tài năng thường sử dụng để đem lại sức sống mới cho các khuôn mẫu quen thuộc là xây dựng hình tượng nhân vật với những điểm bất toàn, thể hiện sự phức tạp trong tính cách và tâm lý Tuy vậy, đây là một kỹ thuật khó, đòi hỏi sự tinh tế và khéo léo của nhà văn vì nếu hình tượng nhân vật quá phức tạp đến nỗi phá vỡ cấu trúc của công thức thì tác phẩm sẽ thất bại hoàn toàn Một ví dụ tiêu biểu về hình mẫu nhân vật kiểu này hai nhân vật chính trong tác

phẩm Ride the High Country của Sam Peckinpah Đôi chân đau nhức, tấm lưng mỏi

rã rời và những cơn đau khớp mà Joel McCrea và Randolph Scott hài hước bàn luận với nhau trong quá trình thực hiện sứ mệnh anh hùng của họ làm cho họ trở thành những nhân vật thú vị mà không hề làm giảm đi hào quang của nhân vật Trong trường hợp này, rõ ràng những điểm khiếm khuyết/hạn chế của nhân vật giúp hình tượng nhân vật trở nên chân thật và gần gũi hơn với độc giả

(2) Xét đến yêu cầu sáng tạo thêm những nét mới cho cốt truyện hoặc bối cảnh trong giới hạn của công thức, một tác phẩm công thức thành công là khi nó vừa đảm bảo các quy ước tự sự quen thuộc, vừa sáng tạo thêm những tình tiết mới trong cốt truyện, thể hiện tài năng của cá nhân nhà văn Và nếu các yếu tố mới như vậy cũng trở nên phổ biến rộng rãi, chúng có thể lần lượt trở thành các khuôn mẫu phổ biến và

là cơ sở của một phiên bản mới của công thức hoặc thậm chí là một công thức hoàn toàn mới Các tác phẩm của Dashiell Hammett đã biến đổi câu chuyện trinh thám quen thuộc bằng cách tạo ra một loại thám tử mới trong một kiểu bối cảnh mới Nhưng

vì những yếu tố mới này đã được bắt chước một cách rộng rãi, nên tác phẩm của Hammett đã thực sự dẫn đến sự phát triển của một công thức truyện trinh thám mới, như chúng ta đã thấy, hoàn toàn khác với truyện trinh thám cổ điển Tại một số thời điểm nhất định trong lịch sử phát triển của phương Tây, một tác phẩm mới đồng thời cũng tạo ra một phiên bản mới của công thức văn học mà nó dựa trên Ví dụ khác về một tác phẩm thành công đánh dấu sự xuất hiện của phiên bản mới từ một công thức

văn học truyền thống là tiểu thuyết Bố già (The God Father) của Mario Puzo

Trang 28

1.1.2.2 Mục đích hướng đến chức năng giải trí (entertainment) và giải thoát (escape)

Bên cạnh sự quy chuẩn hóa, đặc điểm quan trọng thứ hai của văn học công thức

là hướng đến mục đích giải trí và mục đích giải thoát/thoát ly Nguyên văn: “Another major characteristic of formula literature is the dominant influence of the goals of escape and entertainment” (John G Cawelti, 1976) Cũng chính vì các thể loại văn

học công thức như hành trình mạo hiểm (adventure) hay khám phá bí mật (mystery) thường được sử dụng như một phương tiện để người đọc thoát ly khỏi hiện thực nhàm chán, bế tắc của cuộc sống hàng ngày mà các tác phẩm thuộc thể loại văn học này vẫn thường bị xem là dòng á văn học (subliterature) trong thế đối lập với văn học (literature), văn học giải trí (entertainment) trong thế đối lập với văn học hàn lâm (serious literature), nghệ thuật đại chúng (popular art) trong thế đối lập với nghệ thuật tinh hoa (fine art) và hàng loạt các cặp đối lập có tính chất quy hạ khác Hạn chế của cách tiếp cận này là nó khiến chúng ta có cái nhìn phiến diện về văn học công thức

mà không nhìn nhận chức năng giải thoát là một đặc điểm nghệ thuật quan trọng của loại hình văn học này Rõ ràng, nhu cầu giải thoát khỏi cuộc sống thực tại còn nhiều điều bất toàn và không như ý là một nhu cầu chính đáng của con người và việc tác phẩm văn học đáp ứng nhu cầu này cũng cần được công nhận là một giá trị

Vậy cách thức mà các tác phẩm văn học công thức đem đến sự thoát ly cho người đọc là gì? Trước hết, John G Cawelti cho rằng, tác phẩm công thức nhấn mạnh vào các loại trải nghiệm đem đến sự phấn khích và hài lòng ngay lập tức cho độc giả, trái ngược với những phân tích phức tạp và đa nghĩa về các nhân vật và tình huống trong các tác phẩm văn học mô phỏng (mimetic literature) Đặc điểm này gần như đã trở thành một mẫu số chung cho các tác phẩm công thức Dễ dàng nhận thấy các tác phẩm văn học công thức luôn cung cấp các yếu tố có tính chất kích thích và hấp dẫn người đọc như bạo lực (violence) hay tình dục (sex) hoặc cả hai Điều này hoàn toàn

có thể lý giải được Để người đọc tạm thời có thể tạm quên đi sự hiện tồn của mình

và đắm chìm hoàn toàn vào thế giới hư cấu/tưởng tượng mà tác phẩm sáng tạo nên, tác phẩm cần phải đem lại những trải nghiệm và kích thích mãnh liệt nhất Một thể

Trang 29

loại điển hình cho khía cạnh này của tác phẩm công thức chính là các tác phẩm khiêu dâm

Tác phẩm khiêu dâm đặc trưng bởi cấu trúc tự sự hướng đến mục đích duy nhất

là thể hiện các cảnh quan hệ tình dục theo cách làm cho khán giả rơi vào trạng thái thỏa mãn về nhu cầu tình dục một cách trực tiếp, cả về thể chất lẫn tinh thần Đây chính là một trong những cấu trúc tự sự điển hình của các tác phẩm được sáng tạo theo công thức Trải nghiệm được đắm chìm vào một thế giới hư cấu, trong đó các nhân vật nữ tự nguyện hoặc bị buộc phải phục tùng quan hệ tình dục với nhân vật nam trong sự cuồng nhiệt đắm say là một cách thức hiệu quả để độc/khán giả (thường

là nam giới – đối tượng tiêu thụ chính của tác phẩm khiêu dâm) vượt thoát khỏi giới hạn của thế giới thực tại Mặc dù tác phẩm khiêu dâm cung cấp công thức thoát ly hiệu quả đối với một số người, tuy vậy, nó tồn tại quá nhiều hạn chế để có thể trở thành một công thức có tính nghệ thuật Bên cạnh việc nhiều người thấy tác phẩm khiêu dâm là không phù hợp về mặt đạo đức, do đó từ chối tiếp cận nó ngay từ đầu, trải nghiệm thoát ly được cung cấp bởi nội dung khiêu dâm diễn ra quá nhanh chóng

và khó có thể duy trì lâu dài, mặc dù những người sản xuất nội dung khiêu dâm đã cố gắng khắc phục hạn chế này bằng cách phát triển một cấu trúc tự sự đầy kịch tính nhằm duy trì và tăng cường khoái cảm tình dục thông qua một loạt các hoạt động tình dục ngày càng phức tạp và đồi trụy, thậm chí quái gở để kích thích người đọc/người xem Vì vậy, John G Cawelti cho rằng trải nghiệm nội dung khiêu dâm đối với hầu hết mọi người bao gồm những khoảnh khắc kích thích, cuồng nhiệt nhưng đan xen với những cảm xúc ấy là sự buồn chán và thất vọng kéo dài, thay vì hứng thú được duy trì liên tục

Ưu điểm của thể loại khiêu dâm trong việc đem đến sự thoát ly cho người đọc/người xem là sự hứng thú và phấn khích mãnh liệt mà nó có thể tạo ra trong một thời gian ngắn Tuy vậy, phim khiêu dâm có một điểm yếu là tạo ra sự kích thích quá mãnh liệt và đôi khi không thể kiểm soát được dẫn đến việc đòi hỏi một hành động thực tế để giải tỏa tức thì, thường là hành vi thủ dâm hoặc quan hệ tình dục Như vậy, trong trường hợp này, các tác phẩm khiêu dâm đã buộc người đọc/người xem phải quay trở về thế giới thực tại Rõ ràng, một phương thức thoát ly có tính nghệ thuật và

Trang 30

đem đến sự thỏa mãn thực sự phải là một hình thức đòi hỏi tự bản thân nó có khả năng duy trì hứng thú của người đọc/người xem trong một khoảng thời gian dài hơi

và đem đến cảm giác thỏa mãn cho người đọc/người xem trong chính thế giới hư cấu

mà nó kiến tạo Ví dụ tiêu biểu cho phương thức này chính là các tác phẩm trinh thám Đối với các tác tác phẩm này loại này, mặc dù sự hứng thú được tạo ra có thể không mãnh liệt như tác phẩm khiêu dâm nhưng hứng thú ấy được duy trì trong một khoảng thời gian lâu dài và đặc biệt là đem đến sự mãn cho người đọc/người xem mà không đòi hỏi hành động vật lý bên ngoài thế giới hư cấu mà tác phẩm tạo dựng So với thể loại khiêu dâm, thể loại sau mới là thể loại đem đến sự giải phóng nội tâm đúng nghĩa cho người đọc/người xem Mặc dù trong những năm gần đây, các tác phẩm khiêu dâm ngày càng trở nên phổ biến, nhưng việc đại đa số khán giả vẫn ưa chuộng các tác phẩm công thức kinh dị hoặc trinh thám đã cho thấy giá trị và sức hấp dẫn riêng của các thể loại này

John G Cawelti cho rằng, để có một cái nhìn toàn diện hơn về chủ nghĩa thoát

ly (escapism) trong văn học, ta cần truy xuất nguyên nhân từ hai nhu cầu tâm lý chính của con người Cả hai nhu cầu này đều đóng vai trò trong việc hình thành trải nghiệm trong thế giới tưởng tượng mà chúng ta theo đuổi để thư giãn và thoát ly khỏi thực tại Trước hết, John G Cawelti chỉ ra chúng ta tìm kiếm những khoảnh khắc thích thú

và phấn khích tột bậc để thoát khỏi sự nhàm chán, bó buộc của cuộc sống hàng ngày tương đối an toàn, có tổ chức mà đại đa số công chúng Mỹ và Tây Âu đương đại đang trải nghiệm Nhưng đồng thời, chúng ta cũng tìm cách thoát khỏi ý thức về những nỗi bất an và mơ hồ tột cùng vẫn âm thầm gặm nhấm cuộc sống tưởng chừng yên bình như: cái chết, sự thất bại của tình yêu, sự bất lực trong việc đạt đến những điều bản thân hằng khao khát mà trong một bài nghiên cứu của mình, nhà nghiên cứu Harry Berger đã miêu tả khá thú vị hai xung đột tâm lý này như sau:

Con người có hai nhu cầu cơ bản Nhu cầu thứ nhất là nhu cầu tìm kiếm sự yên bình, an ổn và trật tự trong một thế giới tưởng tượng quen thuộc và dễ đoán Nhưng nhu cầu thứ hai, dường như đối lập hoàn toàn với nhu cầu thứ nhất và cũng mãnh liệt không kém, đó là nhu cầu trải nghiệm sự rủi ro, bất trắc và thậm

Trang 31

chí là xáo trộn để chống lại sự nhàm chán, bó buộc của cuộc sống thường nhật

(dẫn theo John G Cawelti (1976), Adventure, Mystery, and Romance: Formula

Stories as Art and Popular Culture, Chicago: University of Chicago Press)

Trong quá trình trải nghiệm thông thường, hai nhu cầu này hiển nhiên xung đột với nhau Nếu chúng ta tìm kiếm trật tự và sự an ổn, kết quả dẫn đến là sự nhàm chán

và đơn điệu Nhưng từ chối trật tự để chạy theo sự thay đổi và điều mới lạ có thể mang lại sự bất ổn, xáo trộn Và con người luôn luôn bị giằng co giữa hai nhu cầu tưởng chừng đối nghịch nhau này Theo John G Cawelti, nguồn gốc của sự thoát ly trong văn học mà loại hình tác phẩm công thức mang lại cho người đọc là khả năng kết hợp hài hòa hai nhu cầu này để đem đến sự cân bằng và thỏa mãn cho người đọc Điều này giúp chúng ta kiến giải nguyên lý đặc trưng của các mô thức văn học đó là trong khuôn khổ một cấu trúc tự sự quen thuộc, các nhà văn sẽ kết hợp thêm các yếu

tố bất ngờ, thú vị, thu hút sự chú ý của độc giả mà nhiều khi những yếu tố này mang tính nguy hiểm hoặc bạo lực Vì vậy, khi đọc hoặc xem một tác phẩm công thức, chúng ta phải đối mặt với sự phấn khích tột cùng mà tác phẩm mang lại, nhưng theo cách mà ý thức về sự an toàn và trật tự của ta được tăng cường hơn là bị phá vỡ Vì thứ nhất, ta nhận thức rằng ta chỉ đang trải nghiệm những điều này trong thế giới hư cấu/tưởng tượng do tác phẩm kiến tạo chứ không phải trong thực tại Thứ hai, bản thân trải nghiệm phấn khích tột độ này luôn luôn được kiểm soát và giới hạn trong khuôn khổ cấu trúc tự sự quen thuộc của công thức

Nguyên văn:

In reading or viewing a formulaic work, we confront the ultimate excitements of love and death, but in such a way that our basic sense of security and order is intensified rather than disrupted, because, first of all, we know that this is an imaginary rather that a real experience, and, second, because the excitement and uncertainty are ultimately controlled and limited by the familiar world of the formulaic structure (John G Cawelti, 1976)

Trang 32

Được định hình bởi chức năng giải thoát nhằm đem đến sự thoát ly cho người đọc, thế giới hư cấu/tưởng tượng do tác phẩm văn học công thức kiến tạo cung cấp cho người đọc các huyễn tưởng tinh thần (moral fantasy), trong đó khán giả có thể trải nghiệm sự phấn khích tột độ mà không phải đối mặt với cảm giác bất an và nguy hiểm thường kèm theo những trải nghiệm như vậy trong thực tế Một tác phẩm văn học công thức thành công là tác phẩm mà nhà văn có khả năng đem đến sự trải nghiệm cảm giác mới lạ và phấn khích vô cùng chân thực cho người đọc, nhưng đồng thời, cũng làm cho người đọc cảm thấy an toàn trong cấu trúc tự sự quen thuộc của công thức 03 thủ pháp nghệ thuật phổ biến mà các nhà văn sáng tạo văn học công thức thường hay sử dụng để đem lại hiệu ứng tâm lý trên là: (1) sự trì hoãn, (2) sự định hình bản ngã/giá trị cá nhân (thông qua hình tượng nhân vật chính) và (3) sự kiến tạo thế giới hư cấu/tưởng tượng đặc trưng của tác phẩm

1 Sự trì hoãn (suspense) hiểu một cách đơn giản là khả năng của nhà văn trong việc khơi gợi nơi người đọc cảm giác bất an tạm thời về số phận của nhân vật mà chúng ta quan tâm Ta rất hay bắt gặp thủ pháp này trong các tác phẩm văn học công thức Ví dụ trong các tác phẩm về hành trình mạo hiểm của người anh hùng, người đọc hồi hộp, lo lắng khi thấy người anh hùng rơi vào tình huống nguy hiểm Dẫu người đọc biết rằng đến cuối tác phẩm, người anh hùng sẽ giành được chiến thắng và hoàn thành nhiệm vụ đặt ra ban đầu nhưng trong quá trình dõi theo diễn biến của tác phẩm, người đọc không tránh khỏi cảm giác hoang mang, bất an do hiệu ứng mà thủ pháp này mang lại Đây chính là cách mà văn học công thức cân bằng hai nhu cầu của tâm lý của độc giả Một mặt, người đọc trải nghiệm cảm giác bất an và phấn khích tột độ do những yếu tố bất ngờ về các thử thách mà nhân vật phải đối diện trên hành trình Nhưng mặt khác, người đọc vẫn cảm thấy yên tâm trong khuôn khổ cấu trúc tự

sự quen thuộc của công thức với kết cục đã được dự đoán trước: người anh hùng sẽ chinh phục được thử thách và hoàn thành sứ mệnh của mình Tương tự như vậy nhưng tinh vi hơn là loại tác phẩm trinh thám Đối với loại hình văn học công thức này, các nhà văn tạo có khả năng tạo ra sự trì hoãn hết sức phức tạp và thách thức trí tuệ của người đọc Trong suốt quá trình theo dõi diễn biến của vụ án, người đọc hoàn toàn có thể bị đánh lạc hướng bởi các manh mối giả, và nhiều khi người bị luận tội là hung

Trang 33

thủ ban đầu có thể chỉ là người vô tội Tuy người đọc vẫn biết rằng hung thủ thực sự

sẽ bị vạch trần bằng cách này hay cách khác, nhưng bí ẩn về hung thủ luôn được giữ kín đến tận phút cuối cùng của tác phẩm, khiến người đọc phải hồi hộp dõi theo và gần như vỡ òa xen lẫn phấn khích khi biết được chân tướng của sự thật

2 Do hướng đến chức năng thoát ly, nhằm đem đến sự giải thoát cho người đọc, văn học công thức giúp người đọc định hình giá trị/bản ngã cá nhân thông qua hình ảnh lý tưởng hóa của nhân vật chính Nguyên tắc xây dựng hình tượng nhân vật chính trong các tác phẩm công thức đòi hỏi nhà văn phải thiết lập một số điểm chung giữa nhân vật và độc giả, đồng thời loại trừ tất cả các tác nhân ngăn trở sự hóa thân của độc giả vào nhân vật Khi đọc các tác phẩm công thức, các cấu trúc tự sự quen thuộc khơi gợi nơi người đọc kinh nghiệm sẵn có về các mô thức này Người đọc vì vậy nhanh chóng thâm nhập vào thế giới hư cấu mà tác phẩm kiến tạo và dễ dàng hóa thân vào nhân vật chính Điểm đáng lưu ý là các nhân vật chính của văn học công thức thường vượt trội hoặc may mắn hơn chúng ta ở một phương diện nào đó Họ có thể là người anh hùng có sức mạnh siêu việt và lòng can đảm phi thường để vượt qua những nguy hiểm khôn cùng, là người sau bao gian nan và thử thách sẽ tìm kiếm được tình yêu đích thực của mình, là người có trí tuệ mẫn tiệp và tinh nhạy để khám phá ra sự thật ẩn giấu Trong quá trình hóa thân vào nhân vật, khi nhân vật vượt qua được thử thách và đạt được kết cục như ý, người đọc đồng thời cũng đạt được sự thỏa mãn và cân bằng nội tâm

3 Đặc điểm thứ ba mà ta thường bắt gặp trong các tác phẩm văn học công thức

là thế giới hư cấu hoàn chỉnh mà tác phẩm kiến tạo Đặc điểm của thế giới hư cấu này

là không vận hành theo trật tự của thế giới thực tại nên người đọc không thể áp dụng các tiêu chuẩn thông thường để đánh giá nó Đắm chìm vào một thế giới như vậy, người đọc dễ dàng vượt thoát khỏi thực tại trần trụi, nhàm chán của cuộc sống thường ngày để thỏa mãn trí tưởng tượng của mình về một thế giới siêu việt, phi thường Các tác phẩm văn học công thức ăn khách bậc nhất và thành công trong việc lôi cuốn một

bộ phận lớn bạn đọc là nhờ kiến tạo được một thế giới hư cấu hoàn hảo mà tác phẩm

Đấu trường sinh tử (The hunger games) của Suzanne Collins hay Harry Potter của J

K Rowling là các ví dụ điển hình

Trang 34

1.2 Huyễn tưởng tinh thần (moral fantasy) – cơ chế giải phóng nội tâm của các

về các chàng cao bồi viễn Tây, cả hai đều thuộc loại câu chuyện về cuộc phiêu lưu của người anh hùng Do đó, cấu trúc tự sự cũng như mối quan hệ giữa nhân vật và hoàn cảnh của chúng có nhiều điểm chung

Có một số lý do quan trọng giải thích cho việc vì sao cần làm rõ định nghĩa về

các loại cấu trúc cổ mẫu (archetypal structures) này Đầu tiên, vì chúng xuất hiện ở

nhiều tác phẩm khác nhau, những cấu trúc này có thể phản ánh những hứng thú và nhu cầu tâm lý cơ bản, giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc về cơ chế hoạt động tâm lý của con người Đây cũng chính là một trong những đóng góp nổi bật của John G Cawelti đối với ngành nghiên cứu về văn hóa đại chúng nói chung, văn học đại chúng nói riêng khi phát hiện ra sức hút của các tác phẩm đại chúng, nhìn từ khía cạnh tâm

lý của người tiếp nhận thông qua việc đưa ra giả thuyết các tác phẩm văn học công thức cung cấp các huyễn tưởng tinh thần (moral fantasy) giúp người đọc đạt được sự

thỏa mãn nội tâm Thứ hai, việc xác định các cấu trúc này sẽ giúp phân định rõ ranh

giới nghệ thuật của từng loại công thức văn học khác nhau Những định nghĩa như vậy sẽ giúp chúng ta nhận thức rõ hơn về các khía cạnh nghệ thuật liên quan đến việc

tạo ra các tác phẩm văn học công thức Cuối cùng, thông qua việc nghiên cứu các loại

câu chuyện phổ quát này, chúng ta có thể phân định rõ những yếu tố thuộc về đặc trưng của một tác giả hoặc một thời kỳ nhất định với các nhu cầu tâm lý và nghệ thuật phổ quát của nhân loại

Trang 35

Nếu chúng ta xem xét kỹ thì ẩn sâu dưới sự phong phú và đa dạng của các mô thức văn học, là một số nguyên tắc chung Nhiều câu chuyện tập trung vào hành trình phiêu lưu của nhân vật chính là người anh hùng, và những câu chuyện này hoàn toàn khác với những câu chuyện mà mối quan tâm chính là chuyện tình của một đôi tình nhân (thường là một cặp nam nữ) Trong khi đó, có một kiểu loại câu chuyện tập trung vào việc làm sáng tỏ một bí mật ẩn giấu nào đó, và mặc dù nó cũng có thể chứa đựng các yếu tố của câu chuyện về người anh hùng và câu chuyện tình yêu lãng mạn, thì những yếu tố này chỉ đóng vai trò như một gia vị nhằm tăng thêm sức hấp dẫn cho câu chuyện Một số loại truyện khác thì tập trung vào việc thể hiện thế giới và các sinh vật giả tưởng Từ đó, John G Cawelti đặt ra câu hỏi: Liệu có tồn tại một nguyên tắc nào lý giải cho sự phổ biến của các mô thức văn học có tính tộc loài này hay không?

Lúc đầu, người ta tiến hành phân tích những câu chuyện công thức kiểu này giống như cách người ta phân tích các thể loại văn học truyền thống như bi kịch (tragedy), hài kịch (comedy), tình cảm lãng mạn (romance) Ví dụ như một tác phẩm

về cao bồi viễn Tây thường được nhìn nhận giống như một tác phẩm thuộc thể loại tình cảm lãng mạn đương đại Mặc dù cách tiếp cận này có một số giá trị nhất định, nhưng hạn chế của phương pháp này là không xét đến những điểm đặc trưng của văn học công thức, điểm phân biệt nó – vốn được xem là các tác phẩm văn học đại chúng (subliterature) với những tác phẩm văn học tinh hoa (serious/high literature) Các tác phẩm văn học công thức mang tính quy ước cao hơn và định hướng rõ ràng hơn nhằm hướng đến chức năng giải thoát thông qua việc tạo ra một thế giới tưởng tượng, trong

đó xuất hiện các nhân vật hư cấu thỏa mãn những mong muốn sâu thẳm của độc giả bằng cách giúp họ vượt qua những giới hạn của cuộc sống trần trụi, nhàm chán và bó buộc hàng ngày

Trong thế giới tưởng tượng ấy, người anh hùng vượt qua thử thách và hiểm nguy để giành chiến thắng trước kẻ thù; những người yêu nhau dù có phải trải qua bao biến cố và trắc trở rồi cũng sẽ hạnh phúc bên nhau; sự thật bị che giấu đến cuối cùng cũng sẽ được phơi bày Trong khi các tác phẩm văn học tinh hoa (serious/high literature) thường được xây dựng trên nguyên tắc buộc người đọc đối diện với hạn

Trang 36

chế của thực tại thì các tác phẩm văn học công thức cung cấp các huyễn tưởng tinh thần (moral fantasy) về một thế giới thú vị hơn, hoàn thiện và nhân từ hơn thế giới

mà chúng ta đang sống Trong thế giới hư cấu tưởng tượng này, chúng ta đến gần với những mong muốn sâu thẳm trong nội tâm và thoát khỏi những giới hạn của cuộc sống thường nhật bằng cách đồng nhất bản thân với các nhân vật của tác phẩm Đó

là các nhân vật hoặc có khả năng phi thường để giải quyết các vấn đề mà họ gặp phải, hoặc được biệt đãi bởi sự may mắn của số phận, điều giúp họ vượt qua mọi khó khăn

và thử thách để cuối cùng “sống hạnh phúc mãi mãi về sau” như trong các câu chuyện

cổ tích

Nguyên văn:

We might loosely distinguish between formula stories and their “serious” counterparts on the ground that the latter tend toward some kind of encounter with our sense of the limitations of reality, while formulas embody moral fantasies of a world more exciting, more fulfilling, or more benevolent than the one we inhabit In these imaginary worlds we come temporarily nearer to our hearts’ desires and escape from the limiting reality around us by imaginatively identifying with characters who have an unusually great ability to deal with the problems they face, or who are so favored by luck or providence that they eventually overcome their difficulties and “live happily ever after”

(John G Cawelti, 1976)

Jonh G Cawelti cũng phân biệt hai khái niệm huyễn tưởng tinh thần (moral fantasy) và huyễn tưởng vật chất (physical or material fantasy) Ông cho rằng huyễn tưởng tinh thần phân biệt với huyễn tưởng vật chất ở chỗ, đối với huyễn tưởng vật chất, nhà văn tưởng tượng ra một thế giới vật chất khác với thực tế thông thường, nhưng trong đó các nhân vật và tình huống họ gặp phải vẫn bị chi phối bởi những quy

luật tự nhiên/logic của thế giới loài người Nguyên văn: “Moral fantasy can also be distinguished from the more mimetic form of physical or material fantasy in which

Trang 37

the writer imagines a world materially different from ordinary reality, but in which the characters and the situations they confront are still governed by the general truths

of human experience” (John G Cawelti, 1976) Chẳng hạn, tác phẩm Cuộc phiêu lưu của Alice ở xứ sở thần tiên diễn ra trong một thế giới nơi các vật thể, thời gian và

không gian không bị chi phối bởi các quy luật vật lý thông thường, nhưng hành vi của nhân vật chính hoàn toàn phù hợp với sự phát triển tâm lý của một cô gái trẻ ở độ tuổi của cô Trong khi những nhân vật khác thể hiện các nhìn mỉa mai hoặc châm

biếm về bản chất con người như chúng ta đã biết Và vì vậy, Cuộc phiêu lưu của Alice

ở xứ sở thần tiên hiển nhiên không phải là một huyễn tưởng tinh thần Trong khi đó,

các bộ phim về James Bond được xếp vào dạng huyễn tưởng tinh thần vì thế giới hư cấu được miêu tả trong tác phẩm là một thế giới vật chất có những đặc điểm tương tự như thế giới thực nhưng nhân vật chính lại là một điệp viên bình thường có năng lực phi thường Trong một số tình huống, năng lực ấy cho phép nhân vật đối mặt với những trở ngại khó khăn nhất và vượt qua chúng mà bản thân không hề bị tổn hại một chút nào, cả về tinh thần lẫn thể chất Đây rõ ràng là một loại huyễn tưởng tinh thần điển hình

Quan sát một loạt tác phẩm công thức, dễ dàng nhận thấy ẩn dưới cấu trúc tự sự của chúng là một số loại huyễn tưởng tinh thần cơ bản Vì vậy, John G Cawelti kết luận, việc phân tích các huyễn tưởng tinh thần làm nền tảng cho một số loại công thức chính có thể cung cấp cho chúng ta cái nhìn khái lược về bản chất của các tác phẩm văn học công thức Nghiên cứu một số lượng lớn các câu chuyện được sáng tạo theo công thức, Cawelti nhận thấy có 05 loại huyễn tưởng tinh thần (moral fantasy) chính

mà tác giả sẽ tập trung phân tích kỹ ở phần sau, đó là: Hành trình mạo hiểm (Adventure), Tình yêu lãng mạn (Romance), Khám phá bí mật (Mystery), Thế giới

công bằng (Melodrama); Sinh vật và thế giới ngoài trái đất (Alien Beings or

States)

1.2.2 Phân loại

1.2.2.1 Huyễn tưởng hành trình mạo hiểm (adventure)

Hành trình mạo hiểm có lẽ là câu chuyện lâu đời nhất và phổ biến nhất trong tất

cả các loại công thức tự sự Nó đã xuất hiện trong huyền thoại và sử thi từ thời kỳ

Trang 38

nguyên thủy của xã hội loài người và được lưu truyền dưới hình thức này hay hình thức khác, qua các hình thái xã hội cũng như các thời kỳ phát triển khác nhau của lịch

sử Điều này đã chứng tỏ được sức hấp dẫn của loại câu chuyện kiểu này Đối với loại câu chuyện hành trình mạo hiểm, nhân vật chính – đối tượng mà độc giả có xu hướng đồng nhất với bản thân luôn luôn vượt qua hiểm nguy và trở ngại để giành được chiến thắng John G Cawelti cho rằng huyễn tưởng tinh thần cơ bản ẩn sâu trong thể loại câu chuyện kiểu này là niềm vinh quang của sự chiến thắng cái chết và nhiều loại chiến công khác, phụ thuộc vào các chất liệu văn hóa cụ thể được sử dụng

Đó có thể là sự chiến thắng bất công và mối đe dọa từ tình trạng vô luật pháp trong các câu chuyện về cao bồi miền viễn Tây; chiến công giải cứu tổ quốc trong các câu chuyện điệp viên; chiến thắng nỗi sợ hãi và đánh bại kẻ thù trong các câu chuyện chiến đấu

Huyễn tưởng trung tâm của câu chuyện hành trình mạo hiểm là người anh hùng hoặc nhóm nhân vật anh hùng vượt qua những trở ngại và hiểm nguy để hoàn thành

các sứ mệnh đạo đức hoặc các sứ mệnh quan trọng Nguyên văn: “The central fantasy

of the adventure story is that of the hero - individual or group - overcoming obstacles and dangers and accomplishing some important and moral mission” (John G

Cawelti, 1976)

Dù không phải lúc nào cũng vậy nhưng ở phần lớn các câu chuyện hành trình mạo hiểm thì thử thách của người anh hùng thường là do một kẻ xấu tạo ra Và phần thưởng của người anh hùng, thường là tình yêu với một cô gái trẻ đẹp Sự hấp dẫn của câu chuyện hành trình mạo hiểm chủ yếu nằm ở tính cách của nhân vật chính và tính chất của những trở ngại mà nhân vật chính phải đối mặt

Mặc dù đặc điểm cụ thể của nhân vật anh hùng phụ thuộc vào mô típ và chủ đề văn hóa được thể hiện trong từng câu chuyện nhất định, nhìn chung có hai hình mẫu phổ biến của người anh hùng mà chúng ta thường bắt gặp: hoặc (1) như một siêu anh hùng có sức mạnh và khả năng phi thường hoặc (2) như một người bình thường giống chúng ta, đặc trưng bởi những thiếu sót/hạn chế có thể dễ dàng nhận được sự chia sẻ

và đồng cảm từ phía độc giả Cả hai hình mẫu người anh hùng này đều khiến độc giả

dễ dàng hóa thân vào nhân vật Trong quá trình nhập thân vào hành trình phiêu lưu của

Trang 39

nhân vật, người đọc cùng với nhân vật trải qua hiểm nguy và thử thách để hoàn thành

sứ mệnh và đến cuối cùng, nhận lại một phần thưởng xứng đáng với phẩm chất dũng cảm của mình Đó cũng chính là cơ chế đem lại sự thỏa mãn nội tâm cho người đọc của các tác phẩm được viết theo công thức hành trình mạo hiểm

Ngoài cách phân chia thành hai loại như trên, các tác phẩm cụ thể được viết theo công thức này còn có thể được phân loại theo địa điểm và bản chất của các cuộc phiêu lưu vì đặc điểm của hành trình phiêu lưu trong từng tác phẩm có sự khác biệt đáng

kể từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác Theo John G Cawelti, nguyên nhân của sự khác biệt này liên quan đến quan điểm khác nhau của từng thời kỳ và từng nền văn hóa cụ thể Ở mỗi giai đoạn lịch sử/nền văn hóa cụ thể, bản chất của cuộc phiêu lưu sẽ là hiện thân của sự kết hợp giữa những mối quan tâm, giá trị và lợi ích khác nhau Các giai đoạn mới sẽ tạo ra các công thức phiêu lưu mới trong khi ở một mức

độ nào đó, vẫn giữ lại một số đặc trưng của các công thức ở thời kỳ trước Ví dụ ở thời hiện tại, cùng là câu chuyện về hành trình mạo hiểm của người anh hùng, chúng

ta có những câu chuyện hành trình mạo hiểm với những chất liệu khác như cao bồi miền viễn Tây chứ không còn là câu chuyện chàng hiệp sĩ đánh nhau với rồng như thời Trung cổ

1.2.2.2 Huyễn tưởng tình yêu lãng mạn (romance)

Câu chuyện hành trình mạo hiểm có lẽ chính là công thức tự sự cơ bản nhất của

xã hội loài người Xuất hiện ở mọi nền văn hóa, nó dường như thu hút tất cả các tầng lớp và đối tượng khác nhau, đặc biệt là nam giới Về phía nữ giới, câu chuyện có sức hấp dẫn tương đương với câu chuyện hành trình mạo hiểm là câu chuyện tình yêu lãng mạn (romance) Điều này không đồng nghĩa với việc nữ giới thì không đọc các câu chuyện hành trình mạo hiểm và cứ là câu chuyện tình yêu lãng mạn thì không được nam giới đón nhận Tuy nhiên, có một thực tế không thể phủ nhận là hầu hết các công thức hành trình mạo hiểm có nhân vật chính là nam giới trong khi hầu hết các tác phẩm tình yêu lãng mạn có nhân vật trung tâm là nữ Sự khác biệt này đã phản ánh mối quan tâm khác nhau của hai giới với hai loại cấu trúc công thức này

Điểm đặc trưng của các tác phẩm tình yêu lãng mạn không nằm ở chỗ ngôi sao của câu chuyện là nhân vật nữ mà ở chỗ cấu trúc tự sự của nó phản ánh sự phát triển

Trang 40

của một mối quan hệ tình yêu, thường là giữa một nhân vật nam và một nhân vật nữ Bởi vì đây là đường dây sự kiện chính của tác phẩm, câu chuyện tình yêu lãng mạn (romance) khác với câu chuyện hành trình mạo hiểm (adventure) và khám phá bí mật (mystery) Những câu chuyện hành trình mạo hiểm cũng thường chứa đựng yếu tố tình yêu lãng mạn, nhưng rõ ràng, yếu tố này chỉ đóng vai trò phụ trên nền huyễn tưởng chính là người anh hùng chiến thắng những nguy hiểm và trở ngại để hoàn thành sứ mệnh đạo đức hoặc sứ mệnh quan trọng Dễ dàng nhận thấy, trong các câu chuyện hành trình mạo hiểm, mối quan hệ giữa người anh hùng và nhân vật phản diện mới là mối quan hệ trung tâm, quan trọng hơn mối quan hệ giữa người anh hùng với nhân vật nữ Các câu chuyện tình yêu lãng mạn thì ngược lại Dù chúng cũng thường chứa đựng các yếu tố phiêu lưu mạo hiểm, nhưng trong trường hợp này, các yếu tố trên chỉ đóng vai trò như một phương tiện để thử thách và qua đó, góp phần gắn kết mối quan hệ tình cảm của cặp nhân vật chính

Bên cạnh đó, các câu chuyện tình yêu lãng mạn đương thời cũng thường sử dụng khá nhiều yếu tố bí ẩn (mystery) để gia tăng sức hấp dẫn cho tác phẩm Nhưng không giống như các câu chuyện khám phá bí mật mà ở đó hành trình khám phá bí mật ẩn giấu là đường dây sự kiện chính của cốt truyện, các câu chuyện tình yêu lãng mạn thường đan xen yếu tố bí ẩn này như là một phương tiện để gắn kết cặp đôi chính Bí

ẩn này chính là những trở ngại tạm thời trong mối quan hệ của họ, và kết quả của việc khám phá ra bí mật ẩn giấu chính là cặp đôi ban đầu vốn xa cách trở nên gắn bó hơn bao giờ hết

Huyễn tưởng tinh thần chính của các tác phẩm tình yêu lãng mạn, phân biệt nó với các loại tác phẩm công thức khác là tình yêu chiến thắng và trường tồn, vượt qua

mọi trở ngại và khó khăn Nguyên văn: “The moral fantasy of the romance is that of love triumphant and permanent, overcoming all obstacles and difficulties” (John G

Cawelti, 1976) Mặc dù kết cục thường bắt gặp là một đám cưới viên mãn và cặp đôi

sẽ hạnh phúc bên nhau nhưng những câu chuyện tình yêu lãng mạn phức tạp đôi khi cũng kết thúc bằng cái chết của một trong hai nhân vật chính hoặc là cả hai Nhưng

dù kết thúc theo cách như vậy, tình yêu của hai nhân vật vẫn để lại tác động lâu dài

Ngày đăng: 07/05/2021, 23:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w