1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu tổ chức giáo dục trung học ở đô thành sài gòn giai đoạn 1954 1975

62 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Tổ Chức Giáo Dục Trung Học Ở Đô Thành Sài Gòn Giai Đoạn 1954 – 1975
Tác giả Phạm Thanh Tân, Phạm Thị Thanh Thảo, Hà Ngọc Hương Trà, Phùng Văn Thuần, Phạm Hồng Vương
Người hướng dẫn TS. Hà Minh Hồng
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại Đề Tài Sinh Viên Nghiên Cứu Khoa Học
Năm xuất bản 2008
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 780,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nền giáo dục lúc bấy giờ của chính phủ Việt Nam Cộng hòa được xem là chịu ảnh hưởng của Chủ nghĩa thực dân mới, hoàn toàn là sản phẩm của người Mĩ, thực dụng, nô dịch và thậm chí là nguy

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- o0o -

ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG – NĂM HỌC 2007 – 2008

TÌM HIỂU TỔ CHỨC GIÁO DỤC TRUNG HỌC Ở ĐÔ THÀNH SÀI GÒN

GIAI ĐOẠN 1954 – 1975

Chủ nhiệm đề tài:

PHẠM THANH TÂN

SV CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ KHÓA 2005 – 2009

TP HỒ CHÍ MINH – 2008

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- o0o -

ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG – NĂM HỌC 2007 – 2008

TÌM HIỂU TỔ CHỨC GIÁO DỤC TRUNG HỌC Ở ĐÔ THÀNH SÀI GÒN

Các thành viên:

PHẠM THỊ THANH THẢO

SV chuyên ngành lịch sử khóa 2005 – 2009

HÀ NGỌC HƯƠNG TRÀ

SV chuyên ngành lịch sử khóa 2005 – 2009

PHÙNG VĂN THUẦN

SV chuyên ngành lịch sử khóa 2005 – 2009

PHẠM HỒNG VƯƠNG

SV chuyên ngành lịch sử khóa 2005 – 2009

TP HỒ CHÍ MINH – 2008

Trang 3

MỤCLỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: BỘ MÁY GIÁO DỤC TRUNG HỌC Ở ĐÔ THÀNH SÀI GÒN (GIAI ĐOẠN 1954 – 1975) 7

1.1 Chính sách giáo dục chung ở miền Nam (1954 – 1975): 7

1.1.1 Bối cảnh lịch sử : 7

1.1.2 Chính sách giáo dục của Mĩ – ngụy : 9

1.2 Bộ máy quản lí giáo dục Trung học: 13

1.2.1 Hệ thống cố vấn của Mĩ: 13

1.2.2 Bộ giáo dục của Việt Nam Cộng hòa: 14

1.3 Cơ quan biên soạn chương trình: 18

CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC GIÁO DỤC TRUNG HỌC Ở ĐÔ THÀNH SÀI GÒN (GIAI ĐOẠN 1954 – 1975) 19

2.1 Điểm qua hoạt động giáo dục Trung học ở Đô Thành Sài Gòn: 19

2.1.1 Giai đoạn Bộ quốc gia giáo dục: 20

2.1.2 Giai đoạn Bộ văn hóa giáo dục: 24

2.1.3 Giai đoạn Bộ văn hóa giáo dục và thanh niên: 27

2.2 Ảnh hưởng của Mĩ trong giáo dục Trung học ở Đô thành Sài Gòn: 28

2.2.1 Chính sách giáo dục thực dân mới: 28

2.2.2 Quy mô ảnh hưởng của Mĩ trong giáo dục Trung học: 29

2.2.3 Nội dung giảng dạy chịu sự chi phối của chính sách thực dân mới: 32

2.2.4 Viện trợ của Mĩ cho giáo dục Trung học ở Đô thành Sài Gòn: 35

2.3 Chương trình giáo dục: 37

2.4 Hệ thống trường Trung học Công – Tư: 39

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRUNG HỌC Ở ĐÔ THÀNH SÀI GÒN (GIAI ĐOẠN 1954 – 1975) 46

3.1 Bộ máy hoạt động : 46

3.2 Chính sách giáo dục: 47

3.3 Hoạt động giáo dục: 49

KẾT LUẬN 51

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, giáo dục trong giai đoạn 1954 – 1975 ở miền Nam Việt Nam, mà cụ thể là nền giáo dục của chính phủ Việt Nam Cộng hòa được xem là có nhiều vấn đề còn phải nghiên cứu và đánh giá Nền giáo dục lúc bấy giờ của chính phủ Việt Nam Cộng hòa được xem là chịu ảnh hưởng của Chủ nghĩa thực dân mới, hoàn toàn là sản phẩm của người Mĩ, thực dụng, nô dịch và thậm chí là nguy hiểm hơn rất nhiều so với nền giáo dục mà Pháp áp dụng trước đây ở Việt Nam, một nền giáo dục áp dụng chính sách “ngu dân”, chỉ nhằm đào tạo hệ thống viên chức phục vụ cho bộ máy cai trị là chính Đó là những quan niệm phổ biến hiện nay khi nhìn về giáo dục của chính phủ Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn 1954 – 1975

Tuy nhiên, nếu nhìn về một thực tế khách quan thì một mô hình tổ chức nào cũng phải có điểm tích cực cũng như hạn chế Có thể là nội dung giáo dục của Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn 1954 – 1975 mang nặng tính thực dụng, bộ máy tổ chức chịu sự chi phối khá nhiều của người Mĩ nhưng không có nghĩa là chúng ta có quyền phê phán nó một cách chung chung, cần có sự đánh giá sát đáng và khoa học với 1 nền giáo dục cũng từng có vị trí của mình trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Đồng thời, trong hoàn cảnh hiện nay, việc đưa ra nghiên cứu sâu sắc hơn các vấn đề về giáo dục Việt Nam là cần thiết để giúp ích cho quá trình đổi mới giáo dục được thuận lợi hơn, tránh gặp phải những sai lầm đã từng xảy ra trong quá khứ, tiếp thu những giá trị hay từ những mô hình giáo dục cũ để áp dụng vào hiện tại

2 Giới hạn của đề tài:

Với giới hạn của đề tài chỉ là đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên, lại tìm hiểu về một giai đoạn lịch sử mà hiện nay nguồn tài liệu viết về nó còn khá ít ỏi, nhóm nghiên cứu chúng tôi do đó chỉ tiến hành thực hiện đề tài ở 2 khía cạnh chủ yếu:

Trang 5

 Tổ chức giáo dục Trung học ở Đô thành Sài Gòn: nội dung chủ yếu là điểm qua về hoạt động tổ chức giáo dục Trung học của chính phủ Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn 1954 – 1975 ở Đô thành Sài Gòn, dinh lũy cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng hòa, nơi mà ảnh hưởng của cuộc chiến tranh tuy nhiều nhưng vẫn có những giai đoạn nhất định để phát triển nền giáo dục, nơi mà những chính sách giáo dục mới của chính quyền Việt Nam Cộng hòa thường được đưa ra áp dụng đầu tiên

 Phác họa sơ lược về bộ máy giáo dục Trung học của chính phủ Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn 1954 – 1975, đưa ra những nhận định của nhóm nghiên cứu về hệ thống trường Trung học Công – Tư, ảnh hưởng của Mĩ đối với nền giáo dục Trung học trong giai đoạn 1954 – 1975 ở Đô thành Sài Gòn

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:

Mục tiêu chủ yếu của nhóm nghiên cứu chúng tôi muốn đạt được sau khi thực hiện đề tài này là giúp có cái nhìn chính xác và tích cực hơn về giáo dục Trung học của chính phủ Việt Nam Cộng hòa ở Đô thành Sài Gòn trong giai đoạn 1954 – 1975

Tìm ra những mặt tích cực trong mô hình giáo dục này cũng như những cách thức giảng dạy hiệu quả (nếu có) để áp dụng cho giáo dục nước ta hiện nay Nhận diện rõ đâu là những hạn chế, mặt yếu kém, nguyên nhân của những thực trạng đó trong nền giáo dục Trung học ở Đô thành Sài Gòn trong giai đoạn 1954 – 1975

Rút ra bài học kinh nghiệm trong việc tổ chức nền giáo dục Trung học của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ngày trước, đặc biệt là ở Đô thành Sài Gòn, để tránh những sai lầm có thể gặp phải trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:

Là một đề tài thuộc về chuyên ngành lịch sử Việt Nam nên phương pháp nghiên cứu chính mà nhóm nghiên cứu chúng tôi lựa chọn là phương pháp lịch sử

Trang 6

Phương pháp logic được áp dụng song song để lập luận, phân tích và tổng hợp các vấn đề được nêu lên trong đề tài

Cơ sở lý luận chính vẫn là phương pháp luận của sử học Marxit

Việc áp dụng các phương pháp liên ngành trong đề tài này chỉ thu gọn ở việc tiến hành định tính và định lượng một số nguồn tài liệu, đối chiếu, so sánh để có được

số liệu chính xác phục vụ cho quá trình viết đề tài Phương pháp điều tra giới hạn ở việc tìm kiếm những tài liệu gốc có liên quan đến nền giáo dục Trung học của chính quyền Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn 1954 – 1975 ở Đô thành Sài Gòn

5 Tổng quan nghiên cứu đề tài:

Việc nghiên cứu về nền giáo dục của chính phủ Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn 1954 – 1975 đã được bắt đầu từ rất sớm Có nhiều quan điểm nhận xét về nền giáo dục này, của chính những người Việt Nam sống trong chính chế độ Việt Nam Cộng hòa ngày trước, của những nhà nghiên cứu miền Bắc từ trước 1975 và về sau này, đặc biệt là có cả những nghiên cứu và đánh giá của những chuyên gia người Mĩ được cử sang Việt Nam để giúp xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương của chính quyền Việt Nam Cộng hòa – mà nền giáo dục khi đó được coi là một mặt trận quan trọng, luôn được chú trọng đề cao

Tuy có nhiều quan điểm và nhiều nghiên cứu như đã nêu ra ở trên nhưng nhóm nghiên cứu vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài, mà khó khăn

về nguồn tư liệu là khó khăn hàng đầu Có thể nêu ra một số khó khăn sau:

 Vì là đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên và các thành viên trong nhóm đều là sinh viên năm thứ 3 nên không thể tiếp cận được (nếu có cũng là rất hạn chế) nguồn tài liệu bằng ngoại văn, mà nguồn tài liệu này hiện cũng chỉ tìm thấy ở nước ngoài hoặc Phông lưu trữ cá nhân của một số nhà nghiên cứu

Trang 7

 Tài liệu gốc về giáo dục Trung học của chính quyền Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn 1954 – 1975 chủ yếu tập trung trong Phông lưu trữ Bộ Quốc gia giáo dục, hiện đang lưu trữ trong Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, nhưng Phông lưu trữ này hiện nay vẫn chưa được đem ra khai thác rộng rãi

 Tài liệu gốc về giáo dục mà nhóm nghiên cứu tiếp cận được trong Trung tâm lưu trữ Quốc gia II chỉ là những tập hồ sơ, quyết định, báo cáo có liên quan đến giáo dục, hoặc do Bộ Quốc gia giáo dục (mà sau là Bộ văn hóa giáo dục và thanh niên) ban hành và đệ trình lên các cơ quan chính phủ trong suốt giai đoạn từ 1954 – 1975 Nguồn tài liệu gốc này tập trung chủ yếu trong 3 Phông lưu trữ chính: Phông Phủ Thủ tướng, Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa, Phông Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa

 Nguồn tài liệu nghiên cứu trước 1975 được viết ở Sài Gòn hiện nay đã thất lạc rất nhiều, những sách, bài viết còn lưu giữ lại được chỉ có thể tìm thấy rất hạn chế ở các thư viện như Thư viện Tổng hợp, Thư viện khoa học xã hội Mà một

số tài liệu trong đó cũng quy định hạn chế tiếp cận đối với đối tượng nghiên cứu là sinh viên

 Nguồn tài liệu viết về nền giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1954 – 1975 được đăng tải trên các website hiện nay thường do người Việt ở nước ngoài viết Những tư liệu này phần lớn có khuynh hướng chính trị tiêu cực, đơn phương do đó không thể dùng làm tài liệu nghiên cứu Đó là chưa

kể đến tính xác thực và khả năng đối chiếu thông tin của những nguồn tư liệu này luôn được đánh giá là rất thấp

Trong giai đoạn 1954 – 1975, những đánh giá đầu tiên về nền giáo dục Việt Nam Cộng hòa đã được đăng tải trên các báo xuất bản ở miền Nam Có quan điểm cho rằng nền giáo dục này thực chất là giả hiệu, sáo rỗng Có quan điểm thì cho rằng đấy chỉ là khó khăn bước đầu của một nước chưa “văn minh” và đổ lỗi cho nguyên

Trang 8

nhân trì trệ, khó khăn của nền giáo dục Việt Nam Cộng hòa là do hậu quả của giáo dục hạn chế thời Pháp

Đến giai đoạn 1967 – 1968 thì đã có những sách nhận định về giáo dục Việt Nam Cộng hòa xuất hiện với việc trình bày có hệ thống, đánh giá bước đầu những mặt làm được và chưa làm được của nền giáo dục khi ấy Như cuốn “Đóng góp một nền giáo dục dân chủ trong tương lai” của Nguyễn Thanh Nhàn, bài viết “Nhìn lại 5 năm phát triển giáo dục” của Võ Thành Nho trong Tạp chí học tập số 8, xuất bản năm

1967

Sau khi đất nước thống nhất, khi nói về giáo dục miền Nam giai đoạn 1954 –

1975 người ta chỉ nhắc nhiều đến giáo dục trong vùng giải phóng, giáo dục cách mạng, nếu có nhắc về giáo dục Trung học ở Đô thành Sài Gòn thì gắn liền nó với giáo dục thực dân mới mà Mĩ đã áp dụng ở miền Nam với đầy những hạn chế, khuyết điểm

Những bài viết và nhận định ở giai đoạn sau này chủ yếu tìm thấy ở trên Tạp chí Xưa và nay, tạp chí nghiên cứu lịch sử, Tạp chí cộng sản…

Trong quá trình nghiên cứu, để tìm được tư liệu khách quan và xác thực, tái hiện lại lịch sử tốt hơn, nhóm nghiên cứu chủ yếu tìm kiếm và khai thác nguồn tài liệu gốc về giáo dục Việt Nam Cộng hòa hiện đang lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia

II

6 Kết cấu của đề tài:

Chương I: BỘ MÁY GIÁO DỤC TRUNG HỌC Ở ĐÔ THÀNH SÀI GÒN (GIAI ĐOẠN 1954 – 1975)

1.1 Chính sách giáo dục chung ở miền Nam (1954 – 1975)

1.2 Bộ máy quản lí giáo dục Trung học

1.3 Cơ quan biên soạn chương trình

Trang 9

Chương II: HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC GIÁO DỤC TRUNG HỌC Ở ĐÔ THÀNH SÀI GÒN (GIAI ĐOẠN 1954 – 1975)

2.1 Điểm qua hoạt động giáo dục Trung học ở Đô Thành Sài Gòn (giai đoạn 1954 – 1975)

2.2 Ảnh hưởng của Mĩ trong giáo dục Trung học ở Đô thành Sài Gòn

2.3 Chương trình giáo dục

2.4 Hệ thống trường Trung học Công – Tư

Chương III: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRUNG HỌC

Ở ĐÔ THÀNH SÀI GÒN (GIAI ĐOẠN 1954 – 1975)

3.1 Bộ máy hoạt động

3.2 Chính sách giáo dục

3.3 Hoạt động giáo dục

Trang 10

CHƯƠNG 1: BỘ MÁY GIÁO DỤC TRUNG HỌC Ở ĐÔ THÀNH SÀI GÒN

Về phía chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã thực hiện theo đúng những điều khoản hiệp định đã quy định Nhưng thực dân Pháp cố tình trì hoãn, không chịu thực hiện hiệp định Chúng ta đã phải kiên quyết đấu tranh mới buộc Pháp rút hết quân ra khỏi miền Bắc đúng theo những gì Hiệp định đã kí kết quy định Ngày 10/10/1954, lực lượng ta đã tiến vào giải phóng thủ đô, đưa các cơ quan trung ương

về lại Hà Nội Đến ngày 16/5/1955, Pháp phải rút tên lính cuối cùng ra khỏi miền Bắc Nhân dân ta ở miền Bắc đã được hưởng hòa bình, bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, thực hiện tiếp những nhiệm vụ còn lại của cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, tiến lên xây dựng chế độ chủ nghĩa xã hội

Trong khi đó, ở miền Nam, thực dân Pháp với sự tác động của Mĩ đã cố tình trì hoãn hoặc phá hoại việc thi hành hiệp định Khi rút khỏi miền Bắc, chúng đã dụ dỗ, lôi kéo, ép buộc hàng triệu đồng bào công giáo di cư vào Nam với khẩu hiệu “Chúa

đã vào Nam” Không những thế, chúng còn kích động các giáo dân phá hủy hoặc mang theo các máy móc trong nhà máy, xí nghiệp gay khó khăn cho quá trình khôi phục kinh tế của nhân dân ta

Cuộc chiến tranh Đông Dương trong những năm cuối cùng đã vượt quá khả năng chịu đựng của Pháp Thất bại tại Việt Nam càng làm cho tình hình nước Pháp

Trang 11

thêm rối ren Những năm cuối của cuộc chiến tranh, Pháp phải dựa vào viện trợ của

Mĩ để duy trì cuộc chiến Viện trợ cuả Mĩ đóng vai trò ngày càng quan trọng, đến năm cuối của cuộc chiến tranh (năm 1954) thì chi phí do Mĩ chi trả đã chiếm đến hơn 73% chi phí chiến tranh Thực dân Pháp ngày càng phụ thuộc vào Mĩ

Lợi dụng điều đó, Mĩ nhảy vào thay chân Pháp ở miền Nam Việt Nam sau hiệp định Geneve Mĩ muốn biến miền Nam Việt Nam thành một thuộc địa kiểu mới như những gì đã làm ở một số nước Châu Mĩ La Tinh Ngay trước khi hiệp định Geneve được kí kết, Mĩ đã ép buộc Pháp đưa Ngô Đình Diệm – tay sai của Mĩ, người đã được đưa sang Mĩ để đào tạo, một sản phẩm của Tình báo Trung ương Mĩ (CIA) – lên làm Thủ tướng thay thế cho Bửu Lộc – một tay sai của Pháp Hàng loạt vị trí quan trọng trong chính quyền Bảo Đại đã đươc thay thế bằng những người thân Mĩ Mĩ đã gây sức ép buộc Pháp phải rút hết quân ra khỏi miền Nam, giao miền Nam Việt Nam lại cho chúng – hay thực tế là chính quyền của Ngô Đình Diệm chịu sự ảnh hưởng và chi phối của Mĩ

Mĩ – Diệm đã vi phạm trắng trợn hiệp định Geneve Ngày 17/7/1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố sẽ không có tổng tuyển cử nhằm hiệp thương thống nhất 2 miền Nam – Bắc như những gì Hiệp định Geneve đã thống nhất Ngày 10/10/1955, Mĩ tổ chức cái gọi là “trưng cầu dân ý” để phế truất Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống Từ đây, chế độ thực dân mới của Mĩ đã chính thức được thiết lập ở miền Nam Việt Nam

Chế độ thực dân mới của Mĩ là một sự khác biệt với chế độ thực dân cũ của Pháp Nếu như Pháp duy trì chế độ trực trị với bộ máy chính quyền từ trung ương đến cấp tỉnh đều do người Pháp nắm giữ, triều đình Huế (trong thời thuộc Pháp) hay chính quyền Sài Gòn (sau năm 1945) chỉ là một bộ máy bù nhìn không hơn không kém Bộ máy đó chỉ tồn tại trên danh nghĩa mà không có thực quyền nào đáng kể Trong khi

đó, chế độ thực dân mới của Mỹ lại chú trọng xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền tay sai, dùng nó làm công cụ phục vụ đắc lực cho những mưu đồ chính trị Tổ chức hệ thống chính quyền Sài Gòn cũng theo thể chế dân chủ của Mĩ, gồm có hai

Trang 12

viện, theo chế độ tổng thống dân cử (mà thật ra chỉ là trên hình thức) chính quyền đó thực hiện mọi công việc để điều hành đất nước dưới sự cố vấn của hệ thống cố vấn

Mĩ Mĩ không thiết lập hệ thống tổ chức chính quyền mà chỉ duy trì lực lượng cố vấn,

bộ chỉ huy quân sự để điều khiển chính quyền Sài Gòn, tiến hành cuộc chiến tranh chống lại sự bành trướng ảnh hưởng của Chủ nghĩa Cộng sản và phong trào Hòa bình, dân chủ, tiến bộ trên thế giới

Mĩ đã viện trợ ngày càng lớn cho chính quyền Sài Gòn Chính quyền này đã tổ chức một lực lượng quân đội đông đảo với những loại vũ khí tối tân do Mĩ viện trợ để sẵn sàng đàn áp những cuộc nổi dậy của dân chúng cũng như tiêu diệt các lực lượng cách mạng Ngay sau khi Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống, Mĩ – Diệm đã đẩy mạnh tố cộng, diệt cộng, đàn áp các lực lượng cách mạng còn trụ lại ở miền Nam, trấn

áp các lực lượng đối lập… Từ đó, các hoạt động quân sự ngày càng tăng, làm cho đời sống nhân dân chịu nhiều ảnh hưởng Không những thế, về sau này, Mĩ còn trực tiếp đưa hơn nửa triệu quân vào miền Nam để làm nòng cốt cho quân ngụy, để tiến hành cuộc chiến tranh với các lực lượng cách mạng ở miền Nam cũng như quân đội miền Bắc vào giúp sức

Không chỉ trên lĩnh vực quân sư, ở các lĩnh vực khác (trong đó có giáo dục) Mĩ tuy không trực tiếp nắm những vị trí then chốt nhưng chúng luôn duy trì một lực lượng cố vấn thường trực, xâm nhập khắp nơi để điều chỉnh mọi hoạt động của chính quyền Sài Gòn, để những hoạt động ấy phải phục vụ cho lợi ích cũa Mỹ

Trong bối cảnh như thế, nền giáo dục miền Nam nói chung, giáo dục Trung học nói riêng của miền Nam cũng như đô thành Sài Gòn nói riêng đã phải chịu nhiều tác động, ảnh hưởng của Mĩ như là một tất yếu

1.1.2 Chính sách giáo dục của Mĩ – ngụy :

Giáo dục luôn là một lĩnh vực quan trọng đối với bất kì một quốc gia nào Nền giáo duc nhằm đào tạo con người cho tương lai, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước nên nó luôn được các nhà nước quan tâm Dưới chế độ Mĩ – nguỵ

Trang 13

cũng không phải là ngoại lệ Do đó, Mỹ – nguỵ ra sức phát triển một nền giáo dục phục vụ cho các mưu đồ của chúng, phục vụ cho những lợi ích của chúng

Sau khi thay thế Pháp ở miền nam, Mĩ loại bỏ những người có tư tưởng thân Pháp khỏi vị trí họ đang nắm giữ Mặc khác, chế độ thực dân mới cần một bộ máy chính quyền thuộc địa to lớn nên Mỹ cần một lượng tay sai lớn hơn nhiều Mỹ đã mở rộng hệ thống trường học để đào tạo một đội ngũ tay sai đông đảo Mặc khác Mỹ cũng chủ trương dùng văn hóa Mỹ để nô dịch, đầu dộc người Việt nam bằng các loại hình văn hóa đồi trụy, tuyên truyền chủ nghĩa chống cộng

Mỹ đã biến bộ máy của chính quyền Việt Nam Cộng hòa thành một công cụ xâm lược thực dân kiểu mới Bình định cơ quan giáo dục là một trong những mục tiêu quan trọng của Mỹ, góp phần trực tiếp vào các công cuộc bình định miền Nam Hệ thống giáo dục miền Nam còn có sự thay đổi tùy thuộc vào diễn biến của nền chính trị lúc bấy giờ, đặc biệt là chương trình thành lập trường trong các ấp chiến lược (chương trình giáp dục ấp tân sinh) Đưa con em nhân dân trong các ấp vào trường lớp phục vụ

ý đồ giành dân, giành đất, tách người dân ra khỏi ảnh hưởng của Cộng sản

Không chỉ mở và duy trì các trường Trung học, Trung học tổng hợp, chính quyền còn cấp phép cho mở các trường Tư thục, đặc biệt là hệ thống trường mang tính chất tôn giáo như các trường Đại học của Công giáo, Phật giáo, Cao Đài, Hòa Gỏa…nhằm nắm lấy lực lượng của các tôn giáo Giai đoạn 1954 – 1975 còn chủ trương mở các trường chuyên nghiệp dù rất ít để đào tạo một đội ngũ lao động có kĩ thuật cấp thấp để sửa chữa tại chỗ các loại máy móc thiết bị thông thường như máy bơm, máy đuôi tôm…(như các trung tâm kĩ thuật Phú Thọ, Cao Thắng… )

Không chỉ nhằm mục đích đào tạo nhân lực phục vụ cho bộ máy chính trị, văn hóa, xã hội… nhà trường còn là nơi Mĩ – ngụy thực hiện các hoạt động quân sự như: bắt lính, đôn quân… gắn với các hoạt động tâm lí chiến Tầng lớp trí thức ( giáo chức, học sinh) có trình độ văn hóa, khoa học kĩ thuật bị Mĩ lợi dụng để nhanh chóng đào tạo thành những người có khả năng sử dụng vũ khí, máy móc, trang thiết bị chiến tranh của Mĩ hoặc đưa vào các quân chủng hải lục không quân, bổ sung đội ngũ sĩ

Trang 14

quan chỉ huy… Học sinh ngay từ cấp tiểu học đã phải học quân sự, trong sách giáo khoa đã có hình ảnh người lính cộng hòa, luật nghĩa vụ quân dịch Ngay cả giáo chức chúng cũng bắt đi lính Một số giáo chức sau khi đi học quân sự trở về trường với tư cách quân nhân biệt phái, sẵn sàng trở lại quân đội khi có lệnh động viên

Chúng mô phỏng mô hình giáo dục Mĩ vào nền giáo dục miền Nam Việt Nam:

Đó là sự gắn liền chặc chẽ giữa nền giáo dục và nền chính trị Giáo dục trở thành một công cụ chính trị, phục vụ cho các mưu đồ chính trị

Giáo dục: một công cụ xâm lược thực dân kiểu mới

 Để thực hiện được điều đó, Mĩ tăng cường viện trợ cho giáo dục miền Nam

Mỹ đã viện trợ chi phí cho giáo dục của chính quyền Sài Gòn ngày càng tăng Đồng thời, Mỹ đã đưa sang miền Nam hàng loạt đoàn cố vấn của các trường Đại học Mỹ nhằm vạch kế hoạch và góp phần xây dựng nền giáo dục miền Nam Trong đó có phái đoàn của Đại học Ohio được mời sang để chuyên lo việc cải tổ lại hệ thống Trung học

 Ngoài ra, trong Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ USAID Mĩ còn thiết lập Văn phòng giáo dục để quản lí công tác giáo dục của chính quyền Sài Gòn

 Để loại bỏ những ảnh hưởng của nền giáo dục do Pháp để lại, chúng cho biên soạn lại chương trình cho phù hợp và theo đúng ý đồ của mình Đó là một chương trình mang nặng tính thực dụng và phục vụ cho mưu đồ thực dân của

 Bằng các chính sách trên, Mỹ hy vọng nền giáo dục miền Nam Việt Nam có thể phục vụ đắc lực cho công cuộc xâm lược của chúng Nền giáo dục đó có những điểm thay đổi so với trước đây để phù hợp hơn với chính sách thực dân mới của Mỹ Giáo dục miền Nam thực sự là trở thành một công cụ để Mỹ thực hiện các mưu đồ chính trị, quân sự của mình

Đào tạo con người phù hợp với xã hội mới

Trang 15

 Đó là xã hội tư bản chúng xây dựng ở miền Nam Song, đó không phải là một

xã hội tư bản công nghiệp mà là một xã hội tư bản tiêu thụ Mỹ đổ hàng hóa, đồng đôla vào miền Nam, khuyến khích một cuộc sống thực dụng, hưởng lạc trong mọi hoạt động thực tiễn, thúc đẩy con người tìm mọi cách đem lại lợi ích cho bản thân bất chấp luân thường đạo lý, tình cảm… Đó là một lối sống đề cao chủ nghĩa cá nhân, chạy theo giá trị đồng tiền và vật chất

 Lối sống tiêu thụ gấp gáp đó đã ảnh hưởng to lớn đến xã hội và nền giáo dục miền Nam Nó làm cho nhiều giá trị đạo đức xã hội truyền thống bị thay đổi, đảo ngược Người ta giờ đây đi tìm mọi thủ đoạn để kiếm tiền một cách dễ dãi thay vì phải lao động chân chính vất vả Lối sống đó đã làm băng hoại đạo đức con người Nó tạo cho con người một hình ảnh hết sức tốt đẹp về thế giới

tự do, về sự phồn vinh của chủ nghĩa tư bản Âu Mĩ Nó cũng tạo ra tâm lý phục

Mĩ, tâm lí tự ti dân tộc, thích dùng hàng ngoại, xem thường hàng nội… Tất cả những điều đó nhằm mục đích làm cho dân miền Nam xa rời cách mạng, tin và

đi vào con đường chống Cộng sản một cách mù quáng

 Mĩ luôn tuyên truyền cho chế độ Tư bản và che dấu bản chất xâm lược của chúng Chúng luôn rêu rao về sự nghiệp bảo vệ thế giới tự do trước nguy cơ

“bành trướng” của Cộng sản Mĩ cho rằng việc đó sẽ làm cho giới trí thức nhận thức được “hiểm họa” từ những người Cộng sản miền Bắc mà ra sức phục vụ cho “chủ nghĩa chống Cộng” do họ đang ra sức tuyền truyền

 Việc đào tạo lúc này nhằm cho ra một mẫu người có lối sống tha hóa, có tư tưởng, lập trường phản động, chống Cộng sâu sắc Đó là một mẫu người có lối sống theo chủ nghĩa cực đoan, cá nhân, chạy theo những giá trị vật chất, chạy theo giá trị đồng tiền Đó là một lối sống thoát ly thực tiễn, hoặc là cầu an hưởng thụ hoặc là sẵn sàng làm tay sai cho Mỹ

 Chính quyền Sài Gòn khi được Mỹ viện trợ cũng cần có một tầng lớp trí thức, cán bộ viên chức có trình độ để làm việc trong bộ máy hành chính, một lực

Trang 16

lượng lao động để phát triển kinh tế Lực lượng này chỉ có thể có được thông qua giáo dục nên chúng cũng ra sức phát triển nền giáo dục

 Chính quyền Sài Gòn luôn nêu ra tư tưởng “quốc gia dân tộc”, xem đây là một trong những giá trị xã hội Để chống lại sự lớn mạnh của Cộng sản, phong trào cách mạng họ đã chủ trương vũ trang cho thanh thiếu niên một tinh thần quốc gia mãnh liệt, một ý chí đấu tranh bền bỉ cho cái mà chúng gọi là “tự do, dân chủ” Chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho rằng, sự sinh tồn của quốc gia gắn liền với sự nghiệp tiêu diệt các lực lượng cách mạng, cộng sản

 Chính điều này đã giải thích vì sao lại đưa giáo dục vào các ấp chiến lược, thực hiện các hoạt động giáo dục ở các trường học mang tính phục vụ cho các hoạt động quân sự, bình định nông thôn, tình báo…

1.2 Bộ máy quản lí giáo dục Trung học:

Để thực hiện được những mục tiêu trên, Mĩ – ngụy đã phải tổ chức bộ máy quản lí nền giáo dục thật sự có tổ chức cho Việt Nam Cộng hòa Dựa trên cơ sở bộ máy quản lí giáo dục của Pháp để lại, Mĩ – ngụy đã tổ chức Bộ quốc gia giáo dục một cách rất có quy củ Do giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ trình bày hệ thống tổ chức quản lí bậc Trung học

1.2.1 Hệ thống cố vấn của Mĩ:

Giáo dục là một lĩnh vực, một công cụ mà đế quốc Mỹ sử dụng để thực hiện chủ nghĩa thực dân mới, can thiệp một cách sâu rộng vào miền Nam Việt Nam Cùng với các hình thức viện trơ cho giáo dục, Mỹ đã tổ chức một đội ngũ cố vấn để chỉ đạo mọi hoạt động giáo dục ở miền Nam Việt Nam

Đội ngũ cố vấn đó có 2 loại: cố vấn chính ngạch làm việc trong Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kì và cố vấn khế ước đến từ các viện Đại học Mĩ sang miền Nam Việt Nam

Cố vấn chính ngạch:

Trang 17

Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kì (United States Agency for International Development, viết tắt là USAID) có 6 khối, trong đó có một phân bộ giáo dục và sinh hoạt tuổi trẻ ở khối phát triển địa phương Bộ phận giáo dục của USAID có tổ chức tượng ứng với tổ chức Bộ quốc gia giáo dục của chính quyền Sài Gòn Mỗi phòng của

bộ phận giáo dục của USAID liên hệ chặt chẽ với các nha, sở của Bộ quốc gia giáo dục

Theo cách thức tổ chức đó, phòng phụ trách Trung học của USAID cũng sẽ phối hợp với Nha Trung học (hoặc Nha Trung Tiểu học và Bình dân giáo dục tùy theo từng thời kì) của Bộ quốc gia giáo dục trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa để điều tra nghiên cứu tình hình, đề ra các chính sách giáo dục liên quan đến bậc Trung học Trên thực tế, đây chính là tổ chức quyết định chính sách giáo dục ở miền Nam

Các cố vấn khế ước:

Đây là những cố vấn đến từ các trường Đại học của Mĩ Có nhiều trường Đại học Mĩ tham gia vào việc hoạch định đường lối, kế sách giáo dục cho miền Nam Trong số đó, nhóm cố vấn của trường Đại Học Ohio đã được mời sang miền Nam trong những năm 1962 – 1972 nhằm nghiên cứu và cải tổ cấp Trung học

Trong 10 năm đó, 37 cố vấn của phái đoàn này đã thực hiện việc xây dựng các trường Trung học “tổng hợp” kiểu mới với các phương tiện nghe nhìn hiện đại, với nội dung giáo dục thực nghiệm với phương pháp trắc nghiệm… Chương trình này nhằm tạo một lớp người được trang bị những kiến thức, chuyên môn cụ thể, thoát li khỏi lí thuyết sách vở, sẵn sàng tham gia vào các ngành nông nghiệp, thủ công nghiệp, kế toán, thương mại… phục vụ cho chế độ thực dân mới mà Mĩ đang áp dụng

ở miền Nam Việt Nam

1.2.2 Bộ giáo dục của Việt Nam Cộng hòa:

Đây là tổ chức chịu trách nhiệm mọi mặt về nền giáo dục của chính quyền Sài Gòn Hệ thống tổ chức giáo dục thời kì này dựa trên những nguyên tắc dân chủ mà chính phủ “dân cử” đã đề ra Các chính phủ đã cố gắng thoát khỏi những ảnh huởng,

Trang 18

tàn dư của nền giáo dục thời Pháp Mặc dù vậy, về thực chất, nền giáo dục thời kì này vẫn chưa thoát khỏi hẳn sự ảnh huởng của những quy luật học chánh từ Pháp

Ngay từ khi thiết lập chế độ, các chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã cố gắng nuôi dưỡng một nền giáo dục mà họ cho là mang tính dân tộc, với chủ đích thiết lập một hệ thống trường sở khá lớn để đáp ứng những nhu cầu cấp thiết Kể từ đó, nhiều biến cố lịch sử xảy ra, dưới ảnh huởng của chiến tranh, những cuộc thanh trừng… có nhiều tác động đến tổ chức bộ máy giáo dục Bộ quốc gia giáo dục của chính quyền Sài Gòn nhiều lần thay đổi cơ câú, tổ chức để phù hợp với chính sách dân chủ của các chính phủ Bộ này đã có nhiều lần đổi tên, sáp nhập với các bộ khác rồi lại tách ra… nhưng nhìn chung, thì nó theo một cơ cấu như sau:

Theo nghị định số 945-GD/NĐ ngày 06/06/1958 thì tổ chức của Bộ quốc gia giáo dục gồm có các cơ quan và chức vụ sau:

 Đứng đầu hệ thống giáo dục là một Bộ trưởng(hay Tổng trưởng) được bổ nhiệm bởi Tổng thống dân cử với sự đề cử của Thủ tướng chính phủ, cố vấn của Hội đồng văn hoá – giáo dục quốc gia Bộ trưởng lãnh đạo và điều khiển mọi hoạt động của nền giáo dục Ngoài ra, Bộ trưởng còn có những quyền hạn

và nhiệm vụ được quy định trong Hiến pháp và luật pháp, phác hoạ chương trình giáo dục quốc gia, thiết lập tổ chức hành chính phụ tá trong văn phòng của mình, thuyên chuyển giáo chức và nhân viên trong toàn bộ ngành giáo dục

… Phụ tá cho Bộ trưởng có thể có từ bốn viên chức trở lên, tuỳ theo nhu cầu từng thời kì Các viên chức này cũng do Thủ tướng đề nghị và Tổng thống bổ nhiệm theo thể thức trên, và được gọi là Thứ trưởng giáo dục Mỗi Thứ trưởng trông coi một ngành như Văn hoá, Đại học, Kỹ thuật và chuyên nghiệp, Trung, Tiểu học và Bình dân giáo dục… Mỗi ngành gồm một số nha, sở do một Tổng giám đốc đứng đầu và mỗi nha sở có nhiều Trưởng phòng và nhân viên tuỳ theo nhu cầu

 Bộ quốc gia giáo dục có các cơ quan trung ương và địa phương để thực hiện chức trách của mình Ơ trung ương, Bộ có các Nha Đổng lý văn phòng, Nha

Trang 19

tổng thư kí và các cơ quan chuyên môn giúp việc Cơ quan quản lí giáo duc trung học là Nha Trung học trực thuộc Nha Tổng giám đốc Trung Tiểu học và Bình dân giáo dục

Nha trung học được tổ chức với người đứng đầu Nha trung học là một Giám đốc, có một Chánh sự vụ phụ tá về công việc hành chánh Về phần Nha Trung học thì bao gồm có các cơ quan sau:

 Ban thanh tra Trung học gồm một số Chánh thanh tra và thanh tra Trung học Ban thanh tra Trung học có nhiệm vụ thanh tra tất cả các trường Trung học Công lập, Tư thục và Ngoại kiều, phụ tá cho Giám đốc Trung học tất cả những vấn đề về chuyên môn và sư phạm

 Phòng nhân viên: phụ trách các vấn đề liên quan đến nhan viên thuộc các ngạch nhân viên giáo huấn bậc Trung học tùng sự tại Nha

 Phòng kế toán: có nhiệm vụ lập danh sách lương bổng và phụ cấp cho nhân viên ngành hành chánh và giáo huấn Trung học

 Phòng học chế và tu nghiệp: do một thanh tra điều khiển, phụ trách các vấn đề liên quan đến nền Trung học, các vấn đề về nguyên tắc, soạn thảo chương trình, thời khoá biểu, nghiên cứu việc đào tạo giáo sư Trung học, việc thiết lập các khoá tu nghiệp giáo sư Trung học…

 Phòng khảo thí và học bổng: có nhiệm vụ tổ chức các kì thi bậc Trung học, cứu xét đơn xin học bổng và trợ cấp học sinh

 Phòng tư thục Trung học phụ trách các việc liên quan đến các trường Trung học tư thục quốc gia và ngoại quốc, cứu xét đơn xin mở trường Trung học tư thục

Cơ cấu của Bộ quốc gia giáo dục như trên cũng như tên gọi của nó không cố định mà thường xuyên thay đổi theo sự thay đổi của nền chính trị miền Nam Đến

Trang 20

năm 1964 thì phòng tư thục Trung học được cơ cấu cụ thể vào phòng Trung học tư thục trực thuộc Nha Tư thục và bình dân giáo dục

1.2.3 Tổ chức hành chánh trong các trường Trung học:

Hiệu trưởng(Principal):

Hiệu trưởng là người đứng đầu tổ chức trong một trường Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản trị cả về mặt nhân sự và chương trình học, điều hành các công việc phát triển giáo dục trong trường Hiệu trưởng cũng là chủ tịch Hội đồng giáo chức nhân viên và bổ nhiệm các giáo chức trong trường Hiệu trưởng phải có một chương trình phát triển trường sở và đề nghị những phát kiến phát triển nền giáo dục, liên hệ chặt chẽ với phụ huynh học sinh… Có sự phân biệt giữa Hịêu trưởng trường Trung học công lập và trường Tư thục Hiệu trưởng trường Tư thục không có chức danh giáo sư thì cũng không được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng trường công lập

Giám học(censor):

Giám học là người phụ tá cho Hiệu trưởng, trông coi về chương trình học và kỉ luật của nhà trường Nói chung, bổn phận của Giám học là thi hành những quyết định của Hiệu Truởng và xét duyệt những đề nghị của Tổng giám thị Giám học có trách nhiệm đóng góp vào sự gia tăng kĩ thuật, nghiệp vụ của giáo sư

Tổng giám thị(surveillant general):

Tổng giám thị trông coi về kỉ luật trong trường và thi hành những chỉ thị của Hiệu trưởng và giám học, chịu trách nhiệm về phương diện kỉ luật trong toàn trường

Giáo sư(teachers):

Giáo sư đóng vai trò nền tảng trong việc giáo huấn, giáo sư có bổn phận rất lớn trong việc hướng dẫn học sinh mở mang kiến thức và giúp đỡ chúng phát triển năng khiếu về mọi mặt, phát triển một cách toàn diện

Thư kí văn phòng(Secretaries):

Trang 21

Thư kí văn phòng là những người phụ tá cho Tổng giám thị, phụ trách các công việc xếp đặt thường xuyên trong tổ chức của nhà trường Công việc của họ là giữ gìn các thủ tục của nhà trường và làm tròn bổn phận trong văn phòng của mình

1.3 Cơ quan biên soạn chương trình:

Chương trình Trung học thời kì 1954 – 1975 khá phức tạp

Vì nhiều nguyên do mà trong nền giáo dục miền Nam thời kì này chưa có sự thống nhất với nhau Trong đó, chủ yếu là vì chiến tranh, không thể in đủ sách giáo khoa để dùng trong tất cả các trường, do các trường cũng nhiều lần phải đóng cửa vì nguyên do chính trị (phong trào đấu tranh của học sinh – sinh viên, những rối loạn kể

từ sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ), do ảnh hưởng lên đến cao trào của cuộc chiến (năm 1968) Mặc khác, sự thiếu thốn giáo chức cũng gây những trở ngại nhất định

Để giải quyết các vấn đề đó, Bộ quốc gia giáo dục cho phép các trường được tự chủ trong việc chọn chương trình để dạy Do vậy, các trường Trung học có thể sử dụng các chương trình khác nhau hoặc tự soạn chương trình cho riêng mình

Tuy vậy, Bộ quốc gia giáo dục vẫn có cơ quan chịu trách nhiệm nghiên cứu biên soạn chương trình và in ấn sách giáo khoa Đó là Sở học liệu và Phòng học vụ

Về sau, cơ quan biên soạn chương trình học tập trong các Nha phụ trách các bậc học

Trang 22

CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC GIÁO DỤC TRUNG HỌC Ở ĐÔ

THÀNH SÀI GÒN (GIAI ĐOẠN 1954 – 1975)

2.1 Điểm qua hoạt động giáo dục Trung học ở Đô Thành Sài Gòn:

(giai đoạn 1954 – 1975)

Hoạt động giáo dục Trung học ở Đô thành Sài Gòn trong giai đoạn 1954 –

1975 có thể chia ra làm 3 giai đoạn:

 Giai đoạn Bộ quốc gia giáo dục (Từ năm 1954 đến cuối năm 1964)

 Giai đoạn Bộ văn hóa giáo dục (Từ đầu năm 1965 đến tháng 06/1968)

 Giai đoạn Bộ văn hóa giáo dục và thanh niên (Từ tháng 07/1968 đến ngày 30/04/1975)

Đặc điểm chung của hoạt động giáo dục Trung học ở Đô thành Sài Gòn qua các giai đoạn đó là chịu ảnh hưởng sâu sắc của tình hình chính trị và chiến tranh Rất nhiều lần, các trường Trung học ở Đô thành Sài Gòn phải đóng cửa, phải thay đổi giờ dạy và rút ngắn chương trình giảng dạy để thích ứng với những biến động chính trị và chiến tranh, có thể điểm qua như: sự kiện đảo chính lật đổ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm (tháng 11/1963), tranh giành quyền lực giữa các tướng lĩnh trong quân đội của Việt Nam Cộng hòa (1963 – 1965), cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (năm 1968) Đó là chưa kể đến các sự kiện đấu tranh của phong trào học sinh – sinh viên Sài Gòn dưới sự lãnh đạo của những thành phần thanh niên yêu nước tiến bộ, của những tổ chức nghiệp đoàn chịu ảnh hưởng và đi theo tiếng gọi của phong trào cách mạng lúc đó Những sự kiện này tác động không nhỏ đến hoạt động tổ chức giáo dục Trung học ở Đô thành Sài Gòn

Nếu ít thì các phong trào này buộc nhà cầm quyền phải cho đóng cửa các trường học, vây bắt những đoàn học sinh – sinh viên xuống đường tham gia biểu tình, bãi thị, bãi khóa; nếu nghiêm trọng hơn thì có thể buộc nhà cầm quyền phải thay đổi

Trang 23

chính sách của mình, can thiệp sâu hơn và bài bản hơn vào môi trường giáo dục để ngăn chặn những nguy cơ bất ổn có thể tiếp tục lan rộng

Dấu ấn đậm nét của phong trào đấu tranh của học sinh – sinh viên trong giai đoạn 1954 – 1975 có rất nhiều, có thể biết đến như: phong trào đấu tranh đòi xé bỏ

“Hiến chương Vũng Tàu” và kết quả là dẫn đến việc từ chức vai trò lãnh đạo nhà nước của tướng Nguyễn Khánh – mà lúc bấy giờ tự phong cho mình là “Chủ tịch Việt Nam Cộng hòa” (năm 1964); những phong trào đấu tranh bí mật và công khai trong giai đoạn 1969 – 1972 nhằm ra sức phá hoại, làm tiêu tan ý chí xâm lược của Mĩ, đòi hòa bình, buộc Mĩ phải rút quân, đòi quyền lợi sống cho người dân…

Tuy nhiên, đề tài này sẽ không đi sâu vào tìm hiểu những tác động cụ thể của phong trào học sinh – sinh viên trong giai đoạn 1954 – 1975 đối với giáo dục Trung học ở Đô thành Sài Gòn Vì đề tài của nhóm nghiên cứu chúng tôi chỉ cố gắng sơ lược lại tình hình giáo dục Trung học lúc bấy giờ, khái quát nó ở dạng bộ máy tổ chức và

hệ thống trường học, ảnh hưởng của Mĩ đối với hoạt động giáo dục Trung học ở Đô thành Sài Gòn mà thôi Vấn đề phong trào đấu tranh của học sinh – sinh viên trong giai đoạn này chỉ nêu ra (nếu cần) để làm sáng tỏ một số vấn đề

2.1.1 Giai đoạn Bộ quốc gia giáo dục:

Giai đoạn này đánh dấu bằng việc thay đổi nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam từ nền giáo dục mang dấu ấn của người Pháp sang nền giáo dục mang dấu ấn của người Việt Nam, mà thực chất là do người Mĩ đứng đằng sau để điều hành, vạch

ra các phương hướng và đường lối, cố vấn về sơ đồ tổ chức bộ máy Giai đoạn này Bộ giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa có tên gọi là Bộ Quốc gia giáo dục và người đứng đầu nó là Bộ trưởng Nguyễn Dương Đôn

Khó khăn đầu tiên mà giáo dục Trung học ở Đô thành Sài Gòn gặp phải chính

là việc thiếu trường lớp rất nghiêm trọng Việc thiếu trường lớp bắt nguồn từ những nguyên nhân sau:

Trang 24

 Thứ nhất: có rất nhiều gia đình từ miền Bắc đã di cư vào Nam và một bộ phận rất lớn đã dừng chân ở Đô thành Sài Gòn Việc rao giảng “Chúa đã vào Nam”, tuyên truyền xuyên tạc về những chính sách của miền Bắc đối với đồng bào Công giáo và tầng lớp tư sản, trung lưu giàu có đã khuyến khích rất nhiều người bỏ miền Bắc để vượt vĩ tuyến 17 về với chính phủ của Ngô Đình Diệm ở miền Nam Đây thực sự là một động thái chính trị rất thành công của chính quyền Ngô Đình Diệm Nó giúp cho miền Nam lúc bấy giờ là nơi tập trung của những người không thiện cảm với chính quyền cách mạng, ủng hộ chính sách của Ngô Đình Diệm và sẽ có lợi thế nhất định cho Diệm nếu như cuộc Hiệp thương thống nhất 2 miền Nam – Bắc thật sự diễn ra theo những gì được thỏa thuận trong Hiệp định Geneve (được kí ngày 20/07/1954) Hệ quả của chính sách đó chính là dân số miền Nam tăng lên nhanh chóng trong một thời gian ngắn, hệ thống trường học ít ỏi mà Pháp xây dựng ở Sài Gòn trước đây hoàn toàn không đáp ứng được yêu cầu dạy và học lúc này Đầu tiên là thiếu về trường Tiểu học, sau đó là đến hệ thống các trường Trung học

 Thứ hai: Giáo viên không đáp ứng được chương trình giảng dạy mới nên việc

mở thêm trường lớp lúc đầu rất hạn chế Nền giáo dục Trung học lúc này vẫn giữ nguyên tên gọi các cấp học, hệ thống thi cử như trước đây dưới thời của người Pháp (từ trước 1954) nhưng bắt đầu thay đổi về nội dung với việc chuyển ngữ dần sang tiếng Việt và tiếng Anh, loại bỏ dần việc sử dụng tiếng Pháp và giờ dạy tiếng Pháp ở bậc Trung học Đội ngũ giáo viên có khả năng giảng dạy theo chương trình học mới vì vậy rất thiếu – do đa số đã quen với việc giảng dạy theo kiểu của người Pháp trước đây, chưa kể đến việc một số giáo viên bị loại khỏi nền giáo dục vì bị cho là “không có đủ khả năng chuyên môn cần thiết” (có thể hiểu theo một ý nghĩa khác của hành động này là loại dần những giáo chức chịu ảnh hưởng quá nhiều bởi người Pháp trong nền giáo dục cũ, để dễ dàng hơn trong việc xây dựng nền giáo dục mới)

Trang 25

 Thứ ba: Nền giáo dục trong giai đoạn mới của chính quyền Việt Nam Cộng hòa cần phải đào tạo rất nhiều đội ngũ trí thức có năng lực, điều này khác biệt rất lớn so với nền giáo dục của Pháp trước đây vốn chỉ tập trung đào tạo những

kí lục, thông ngôn, bác sĩ, dược sĩ, kĩ sư… với số lượng hạn chế để làm trung gian giữa bộ máy cai trị của người Pháp và người bản xứ Theo tác giả Phong Hiền trong quyển “Chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ ở miền Nam Việt Nam” thì nguyên nhân của sự khác biệt này là do sự khác nhau trong chính sách thực dân

mà Pháp và Mĩ áp dụng ở Việt Nam Pháp đào tạo nguồn nhân lực để làm phụ

tá cho bộ máy cai trị trực tiếp của họ còn giáo dục với người Mĩ thì nhằm đào tạo cán bộ cho chế độ tay sai, cho một bộ máy ngụy quân ngụy quyền riêng

Do đó không khó để nhận thấy rằng nền giáo dục của chính quyền Ngô Đình Diệm lúc này cần phải được mở rộng và củng cố vững chắc hơn rất nhiều so với thời Pháp thuộc trước đây Và sự mở rộng này trong một thời gian ngắn là không khả thi đối với hoàn cảnh cơ sở vật chất giáo dục của chính quyền Ngô Đình Diệm trong những năm 1954 - 1958, do đó thiếu thốn trường học cũng một phần bắt nguồn từ nguyên nhân của việc phải mở rộng quy mô giáo dục trong giai đoạn này

Nền giáo dục của Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn này ở vào lúc bắt đầu đặt những viên gạch nền tảng đầu tiên Do đó trong một thời gian rất ngắn mà Bộ máy giáo dục của chính quyền Ngô Đình Diệm phải thay đổi liên tục về cơ cấu tổ chức, bố trí nhân sự, thành lập và sát nhập các sở, phòng Đây là giai đoạn mà chính quyền Ngô Đình Diệm dần được củng cố vững chắc do đó Bộ máy giáo dục cũng vì vậy mà

có điều kiện để càng ngày càng được hoàn thiện về cơ cấu và tổ chức

Cho đến năm 1962 thì giáo dục Trung học ở Việt Nam Cộng hòa, mà trong đó

có cả giáo dục Trung học ở Đô thành Sài Gòn, có một chuyển biến quan trọng Người

Mĩ bắt đầu đưa những chuyên gia cố vấn của Đại học Ohio (Ohio University) sang Việt Nam để nhằm giúp cải tổ cấp Trung học Chương trình của họ kéo dài trong 10 năm (từ năm 1962 đến năm 1972) và đã đạt được một số bước tiến nhất định, mà sự ra

Trang 26

đời của hệ thống trường Trung học “tổng hợp” ở Sài Gòn và một số vùng lận cận là một minh chứng rõ ràng nhất Quá trình người Mĩ đưa những đoàn cố vấn sang giúp

“kiến thiết” cho bộ máy của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã bắt đầu từ năm 1954 nhưng để lại dấu ấn cho giáo dục Trung học thì có thể ghi nhận sự kiện này là tiêu biểu

Giáo dục Trung học có một khoảng thời gian bị gián đoạn ngắn do phong trào đấu tranh của học sinh – sinh viên, tầng lớp giáo chức tiến bộ nhằm phản đối việc chính quyền Ngô Đình Diệm không công nhận Hiệp định Geneve, đòi thi hành Hiệp thương dân chủ thống nhất đất nước trong những năm 1955 – 1957 Đồng thời cũng

có 1 số phong trào đấu tranh đòi quyền lợi học đường, đòi giữ nguyên mức thu học phí (năm 1962), đòi chuyển ngữ hoàn toàn ở bậc Đại học, đòi mở thêm hệ thống trường công lập… diễn ra trong giai đoạn này cũng làm ảnh hưởng đến nền giáo dục

cả chỉ là ảo tưởng Một loạt những thể chế chính trị được dựng lên rồi lại sụp đổ chỉ trong một thời gian ngắn Nền giáo dục Trung học ở Đô thành Sài Gòn chịu ảnh hưởng nặng nề, vì tình hình chính trị căn thẳng nên các trường học liên tục bị đóng cửa, cả hệ thống trường công lẫn trường tư đều phải chịu ảnh hưởng tương tự như nhau

Phải cho đến cuối năm 1964 thì tình hình mới dần ổn định lại và các trường học mới được mở cửa lại theo từng đợt, đầu tiên là các trường công lập, sau đó mới đến các trường tư thục Trong đợt I, kể từ ngày 23/12/1964, đã có 45 trường Trung

Trang 27

học tư thục ở Sài Gòn và tỉnh lị Gia Định được Giám đốc nha tư thục và bình dân giáo dục lúc bấy giờ kí quyết định cho mở cửa trở lại

Đến tháng 11/1964 thì Bộ Quốc gia giáo dục được đổi tên là Bộ văn hóa giáo dục, tuy nhiên tên gọi Bộ Quốc gia giáo dục vẫn còn tồn tại trong một số văn bản của ngành giáo dục lúc bấy giờ cho đến tận đầu năm 1965 mới chấm dứt

2.1.2 Giai đoạn Bộ văn hóa giáo dục:

Năm 1965 trở về sau ghi nhận những thay đổi rất nhiều về giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, nhất là ở bậc Trung học

Sau khi được đổi tên thì bộ máy hoạt động của Bộ văn hóa giáo dục cũng được hoàn thiện lên một bước so với trước kia Sơ đồ tổ chức chặt chẽ hơn và vẫn dựa trên nguyên tắc tất cả các trường đều trực thuộc sự quản lý của Bộ Dựa vào những tài liệu gốc còn được lưu trữ trong Phông Phủ Thủ tướng, tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia II,

ta có thể hình dung được 1 giai đoạn khá sôi động của hoạt động tổ chức giáo dục Trung học ở Đô thành Sài Gòn nói riêng và cả Việt Nam Cộng hòa nói chung Những

hồ sơ đó bao gồm:

 Hồ sơ về công tác cải cách giáo dục tại Việt Nam Cộng hòa năm 1965 – 1966 (Phông Phủ Thủ tướng, hộp số 3.695, hồ sơ số 29.599)

 Hồ sơ về việc soạn thảo, ấn hành sách giáo khoa bậc Trung học năm 1965 –

1966 (Phông Phủ Thủ tướng, hộp số 3.695, hồ sơ số 29.607)

 Hồ sơ về việc cải cách chế độ thi cử tại Việt Nam năm 1965 – 1966 (Phông Phủ Thủ tướng, hộp số 3.695, hồ sơ số 29.600)

 Hồ sơ về quy chế tổ chức, hoạt động của chương trình thanh niên học đường trong giai đoạn năm 1964 – 1966 (Phông Phủ Thủ tướng, hộp số 3.695, hồ sơ

số 29.601)

Chương trình thanh niên học đường được coi là một hoạt động có quy mô lớn

và tổ chức chặc chẽ, được sự quan tâm ngay từ giai đoạn đầu của chính quyền Việt

Trang 28

Nam Cộng hòa Chương trình này được đánh giá là góp phần “giáo dục toàn diện”,

“gây cho học sinh một lí tưởng quốc gia vững chắc, phát huy tinh thần tự do dân chủ” Tuy nhiên, với một bộ phận học sinh – sinh viên Sài Gòn có tư tưởng tiến bộ và cách mạng trong giai đoạn đó thì đây là một hoạt động góp phần làm lệch lạc nhân cách, tạo môi trường để chính quyền Việt Nam Cộng hòa và người Mĩ giáo dục thanh thiếu niên thành lực lượng tay sai đắc lực, trung thành tuyệt đối với chính phủ và chống Cộng sản quyết liệt Chương trình này rất phong phú và đa dạng với rất nhiều hình thức Lúc đầu chỉ áp dụng vào 4 trường ở Đô thành là Petrus Ký, Chu Văn An, Gia Long, Trưng Vương nhưng về sau đã mở rộng ra cả nước, đi sâu cả vào hệ thống các trường tiểu học, các vùng nông thôn Tính cho đến tháng 10/1966 thì nó đã được triển khai ở Sài Gòn – Gia Định, 3 tỉnh của vùng I chiến thuật, 8 tỉnh của vùng II chiến thuật, 6 tỉnh của vùng III chiến thuật và 13 tỉnh của vùng IV chiến thuật Trong tháng 06/1966, tháng khởi đầu, đã thu hút được 3.428 trại sinh với 43 trại được tổ chức và tổng số 165 ngày trại

Các hoạt động cải cách giáo dục diễn ra có phần quyết liệt nhưng trên thực tế thì không thay đổi gì nhiều về chương trình giảng dạy và thi cử, có chăng là việc quy định rõ ràng hơn chức năng và quyền hạn của các cơ quan trực thuộc Bộ văn hóa giáo dục, rút ngắn lại 1 số chương trình học, điều chỉnh lại sao cho hợp lí hơn – điều mà giai đoạn trước đó đã bị gián đoạn vì rối loại chính trị sâu sắc Đã bỏ hẳn kì thi Trung học đệ nhất cấp kể từ năm 1965

Bên cạnh điểm mới là chương trình thanh niên học đường thì còn có một điều mới khác cần ghi nhận: Bộ văn hóa giáo dục khuyến khích việc thành lập Hiệu đoàn trong các trường Trung học Hiệu đoàn này được giải thích là nơi tập hợp học sinh, tạo các hoạt động ngoại khóa có ích cho học sinh, nhưng theo nhận định của 1 số nhà nghiên cứu như Hồ Hữu Nhựt, Thanh Nam thì đây là một hình thức để theo dõi, giám sát các hoạt động của phong trào học sinh – sinh viên trong giai đoạn này

Biểu hiện rõ nhất chính là việc yêu cầu các Toán – Liên Toán – Ban chấp hành học sinh trong các trường Trung học đều phải có Hội đồng hướng dẫn, mà thành viên

Trang 29

là các giáo chức đã tham dự qua những lớp tập huấn tổ chức hoạt động Hiệu đoàn do

Bộ văn hóa giáo dục tổ chức

Đây là giai đoạn bắt đầu có sự hiện diện trực tiếp của lính Mĩ ở miền Nam Việt Nam, giai đoạn cao trào của chiến lược Chiến tranh cục bộ nên viện trợ của Mĩ vào đây cũng tăng lên nhanh chóng Cùng với sự tăng lên của viện trợ, sự ảnh hưởng của

Mĩ trong các hoạt động của chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng ngày càng rõ nét Giáo dục không nằm ngoài vòng xoáy đó, nếu không nói là luôn được quan tâm chú trọng Thời gian này có thể coi là một giai đoạn có nhiều chuyển biến và nhiều sự kiện trong hoạt động giáo dục Trung học ở Đô thành Sài Gòn

Nhiều hoạt động, nhiều mục tiêu giáo dục đã được Bộ văn hóa giáo dục đưa ra bên cạnh việc nhiều phong trào đấu tranh ủng hộ hòa bình, chống chiến tranh, chống

sự hiện diện của lính Mĩ ở miền Nam Việt Nam và leo thang ném bom miền Bắc được

tổ chức liên tục Ngày 04/04/1966, trước làn sóng đấu tranh dâng cao , Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã phải ban bố “tình trạng chiến tranh” và ra lệnh đóng cửa tất cả các trường học

Tất cả mọi khó khăn mà giáo dục trong giai đoạn này gặp phải chưa thật sự dừng lại ở đó Năm học 1967 – 1968 của Bộ văn hóa giáo dục đã phải chịu gián đoạn nghiêm trọng vì sự kiện Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân (năm 1968) Cuộc tấn công vào ngay chính Đô thành Sài Gòn đã biến nơi đây thành một chiến trường khốc liệt, hậu quả để lại vì vậy cũng thật tang thương Nhiều trường học đã bị biến thành nơi tị nạn của những người dân thường lánh bom đạn chiến tranh, nhiều trường học phải đóng cửa vì lí do an ninh (như trường Petrus Ký ở cạnh Tổng Nha cảnh sát, trường Trưng Vương, trường Võ Trường Toản ở sau Phủ Thủ Tướng) Quá trình cho

mở lại các trường học sau đó cũng phải đi cùng với giải quyết khó khăn về cơ sở vật chất, hỗ trợ cho các giáo viên và học sinh trỡ lại lớp họp như bình thường Các trường công lập thì chỉ có nữ Trung học Gia Long là có thể mở cửa lại ngay sau cuộc chính biến Tết Mậu Thân Trường tư thục không thể mở cửa lại thì có rất nhiều, có thể kể ra

Trang 30

như: Trí Đức, Kiến Thiết, Phan Sào Nam, Rạng Đông, Bác Ái, Việt Tú, Hưng Long, Đồng Đức, Bồ Đề Chợ Lớn, Khai Trí…

(Tham khảo “Tài liệu của Bộ văn hóa giáo dục và các tỉnh về hoạt động của các trường Trung học năm 1968”, Phông Phủ Thủ tướng, hộp số 3.722, hồ sơ số 29.933)

2.1.3 Giai đoạn Bộ văn hóa giáo dục và thanh niên:

Đến tháng 07/1968 thì Bộ văn hóa giáo dục lại được đổi tên thành Bộ văn hóa giáo dục và thanh niên Đây là tên gọi phổ biến mà nhiều tài liệu nghiên cứu về sau năm 1975 thường trích dẫn và dùng để gọi tên Bộ giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa

Đây là giai đoạn chứng kiến những thay đổi có phần bước ngoặt rất to lớn trong hoạt động tổ chức giáo dục Trung học ở Đô thành Sài Gòn nói riêng và cả nền giáo dục của Việt Nam Cộng hòa nói chung Có 2 sự lí giải cho việc có nhiều bước ngoặt thay đổi trong giai đoạn này:

 Trong nỗ lực “Việt Nam hóa chiến tranh”, cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kì

đã chi ra số tiền 505.700 đôla và 3 cố vấn để giúp “Việt Nam hóa” bộ máy giáo dục Sài Gòn Các cố vấn này đã vào làm việc trực tiếp trong Bộ văn hóa giáo dục và thanh niên và họ là tác giả của những chính sách đổi mới giáo dục được

đề xuất ra trong giai đoạn từ 1973 trở về sau (Trích dẫn theo tác giả Phong Hiền, “Chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam”, Hà Nội, năm 1984)

 Những đổi mới này là sự thay đổi để thích nghi của nền giáo dục Việt Nam Cộng hòa trong hoàn cảnh chiến tranh đang ngày càng có nhiều bất lợi cho họ Chính sách này nhằm bình định học đường (như việc lập ra Hội đồng văn hóa giáo dục Việt Nam ngày 01/05/1970 do Nguyễn Cao Kỳ đứng đầu, tiến hành cộng đồng hóa các trường Tiểu học, tổng hợp hóa các trường Trung học, mở thêm các Đại học tôn giáo); rút ngắn những kì thi không cần thiết (với việc bãi

bỏ kì thi Tú tài I, quyết định chuyển hình thức sang thi trắc nghiệm IBM thay

Trang 31

vì thi viết và vấn đáp như trước đây, nhưng chưa áp dụng được thì chính phủ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, kéo theo cả nền giáo dục lúc này cũng tan vỡ theo)

Đến năm 1972 thì bãi bỏ kì thi Tú tài I bởi nghị định số 939 GĐ/KHPC/HV/NĐ ngày 07/04/1972 để thiết lập Văn bằng Tú tài bắt đầu từ năm học

1973 – 1974 Như vậy là học sinh kể từ năm học 1973 – 1974 chỉ phải thi lấy 1 bằng

Tú tài duy nhất trong suốt quá trình học từ năm thứ 1 đến năm thứ 12, đây thực sự là điều mà nền giáo dục hiện đại của chúng ta vẫn đang hướng tới

Trong giai đoạn này, tình trạng thiếu trường lớp và giáo chức vẫn còn rất phổ biến Những khó khăn của nền giáo dục Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn 1954 –

1964 vẫn còn tồn tại và chưa được giải quyết triệt để Nguyên nhân được nêu ra là tình trạng các nam giáo viên phải thi hành nghĩa vụ quân sự, một bộ phận được “biệt phái” trở lại trường để tiếp tục công tác giảng dạy nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu Tình trạng này xảy ra phổ biến ở cả hệ thống trường Trung học công lập cũng như Tư thục

Đến giữa niên khóa 1974 – 1975, nền giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đi vào hồi kết và chấm dứt vai trò lịch sử của mình

2.2 Ảnh hưởng của Mĩ trong giáo dục Trung học ở Đô thành Sài Gòn:

2.2.1 Chính sách giáo dục thực dân mới:

Sau khi Hiệp định Geneve được kí kết (ngày 20/07/1954), sau khi thực dân Pháp chính thức rút khỏi Việt Nam, Đế quốc Mỹ ngay lập tức đã nhảy vào giành lấy quyền ảnh hưởng ở miền Nam Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới với bộ máy đầu tiên mang dấu ấn của Mĩ là chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm Người Mĩ đã cho sử dụng một loạt các chính sách về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội nhằm lừa mị, mê hoặc nhân dân Việt Nam Trong giai đoạn đầu nó

đã thực sự phát huy tác dụng, giúp củng cố được chính quyền Ngô Đình Diệm và tạo

cơ sở để chính quyền Việt Nam Cộng hòa thực sự trở thành một đối trọng đối với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc Xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ

Ngày đăng: 07/05/2021, 23:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w