Lý do chọn đề tài Gia đình là một yếu tố quan trọng của xã hội, là một thiết chế xã hội dựa trên cơ sở sự kết hợp của các thành viên khác giới, thông qua hôn nhân để thực hiện các chức
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC [ o0o \
Đề tài NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THCS TP HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
(Điển cứu tại trường THCS Đức Trí và THCS Tân Phú)
Người hướng dẫn: ThS Lê Văn Bửu
Nhóm sinh viên thực hiện:
1 Phạm Thị Huyền Trang (chủ nhiệm)
2 Phạm Thị Quỳnh Trang
3 Bùi Thị Thúy Vân
4 Phan Thị Kim Liên
5 Huỳnh Hồ Mai Ca
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU - 1 -
1 Lý do chọn đề tài - 1 -
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - 2 -
3 Nội dung nghiên cứu - 3 -
4 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu - 4 -
5 Phạm vi nghiên cứu - 4 -
6 Phương pháp nghiên cứu - 5 -
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài - 5 -
8 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài - 5 -
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN - 7 -
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu - 7 -
2 Các lý thuyết nghiên cứu ứng dụng của đề tài - 8 -
2.1 Lý thuyết xã hội hóa - 8 -
2.2 Lý thuyết vai trò - 9 -
3 Các khái niệm công cụ - 9 -
3.1 Khái niệm gia đình - 9 -
3.2 Khái niệm học sinh - 12 -
3.3 Khái niệm học sinh trung học cơ sở - 13 -
3.4 Khái niệm thiếu niên - 13 -
3.5 Khái niệm học tập - 14 -
3.6 Khái niệm vai trò - 16 -
4 Giả thuyết nghiên cứu - 17 -
5 Mô hình lý luận - 18 -
Chương 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU - 19 -
1 Vài nét về cuộc nghiên cứu thực nghiệm - 19 -
Trang 31.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu - 19 -
1.2 Một vài đặc điểm xã hội của mẫu nghiên cứu - 21 -
2 Kết quả nghiên cứu - 22 -
2.1 Thái độ của học sinh đối với học tập - 22 -
2.2 Thái độ của học sinh đối với vai trò của gia đình trong việc học tập - 32 -
KẾT LUẬN - 62 -
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 64 -
PHỤ LỤC - 66 -
Trang 4MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gia đình là một yếu tố quan trọng của xã hội, là một thiết chế xã hội dựa trên cơ
sở sự kết hợp của các thành viên khác giới, thông qua hôn nhân để thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hóa, xã hội… Khi gia đình đã có con, các thành viên trong gia đình được liên kết với nhau vừa bằng quan hệ hôn nhân, vừa bằng quan hệ huyết thống Gia đình là nơi để mỗi thành viên có thể bồi dưỡng về vật chất, tinh thần, chỗ dựa khi cuộc sống ngoài xã hội gặp khó khăn Sinh hoạt của gia đình ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, thể chất và tâm lý của mỗi thành viên, đặc biệt ảnh hưởng đến sự trưởng thành của trẻ em Tạo điều kiện cho mỗi gia đình thành một tổ ấm là mối quan tâm hàng đầu trong chiến lược xã hội của nước ta, nhất là ở một thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) hiện nay
Tính chất của gia đình thay đổi tùy theo biến động của xã hội, phương thức sản xuất và các kỷ cương xã hội chi phối mạnh mẽ các chức năng, vai trò của gia đình Trong
xã hội truyền thống gắn liền với nền văn minh nông nghiệp thì hình thức gia đình phổ biến là gia đình nhiều thế hệ (có thể gọi là tam đại đồng đường, tứ đại đồng đường…) Gia đình truyền thống chủ yếu thực hiện chức năng giáo dục con cái, con cái rất ít chịu sự giáo dục của xã hội (chỉ có một số ít người thời bấy giờ được đi học) Ông bà, cha mẹ dạy cho con cháu mình những kinh nghiệm sống, những quy tắc, chuẩn mực của xã hội phong kiến Nho giáo Còn trong thời đại hiện nay, nền văn minh công nghiệp tạo ra những thay đổi xã hội to lớn hướng tới nền kinh tế tri thức thì gia đình tất yếu cũng thay đổi theo Hình thức gia đình chủ yếu là gia đình hạt nhân (có vợ chồng và con còn nhỏ tuổi) Gia đình giảm dần vai trò trong việc giáo dục con cái, thay vào đó là phó thác trách
Trang 5nhiệm này cho nhà trường và xã hội Học sinh hiện nay được giáo dục để có kiến thức khoa học vững vàng và có đạo đức tốt
Mọi gia đình đều mong con cái mình có một đạo đức tốt và đầy đủ kiến thức, do vậy họ đưa con em tới các trường học Họ đa số đều tin tưởng khi đưa con đến trường và giao toàn bộ việc giáo dục cho giáo viên và nhà trường Tuy nhiên có những người trong
số họ lại quên mất rằng để phát triển toàn diện, một đứa trẻ cũng rất cần sự quan tâm, dạy
dỗ của gia đình
Học sinh trung học cơ sở (THCS) là một bộ phận của thiếu niên – độ tuổi bắt đầu
có những thay đổi về thể chất và tâm lý Nếu không có sự quan tâm, chia sẻ của gia đình thì trẻ dễ rơi vào trạng thái mệt mỏi, buồn chán, có khi dẫn tới trầm cảm, thậm chí là tự
tử Do vậy rất cần sự quan tâm, chăm sóc của gia đình đối với việc học tập của trẻ khi mà
áp lực học tập từ phía nhà trường, gia đình và xã hội đang ngày càng nặng nề hơn
Nắm bắt được thực trạng trên, nhóm chúng tôi đã quyết định tiến hành nghiên cứu
về vai trò của gia đình đối với việc học tập của học sinh THCS tại TP.HCM hiện nay
- Tìm hiểu sự tự ý thức của học sinh trong việc học tập
- Tìm hiểu ảnh hưởng của sự quan tâm của gia đình tới việc học tập của học sinh
- Tìm hiểu ảnh hưởng của những mong đợi, kỳ vọng của gia đình tới việc học tập của học sinh
- Tìm hiểu thái độ của học sinh đối với sự quan tâm của gia đình
- Tìm hiểu mong ước của học sinh đối với gia đình
Trang 6- Mô tả thực trạng học tập hiện nay của học sinh THCS tại hai trường THCS Đức Trí
và trường THCS Tân Phú
+ Kết quả học tập học kỳ vừa rồi của học sinh
+ Thực trạng học thêm của học sinh
+ Việc tự học của học sinh
+ Thời gian tự học ở nhà của học sinh
+ Thời gian nghỉ ngơi, thư giãn của học sinh
- Tìm hiểu thái độ của học sinh đối với việc học tập:
+ Nhận thức của học sinh về tầm quan trọng củaviệc học tập
+ Thái độ của học sinh về kết quả học tập của mình
+ Mức độ ý thức tự học của học sinh
- Tìm hiểu vai trò của gia đình đối với việc học tập của học sinh THCS:
+ Hoàn cảnh gia đình của học sinh: nghề nghiệp, học vấn của cha mẹ, không khí gia đình, thu nhập của gia đình
+ Hoàn cảnh gia đình có ảnh hưởng tới việc học tập của học sinh hay không, và nếu
có ảnh hưởng thì ảnh hưởng như thế nào
+ Sự hiểu biết của gia đình về các vấn đề học tập của học sinh: kết quả học tập, thời gian học, thời gian thư giãn, các môn học, tâm tư của con cái về việc học ở trường, ở nhà…
+ Thái độ của gia đình khi biết về các vấn đề học tập của học sinh: có thưởng hay phạt không
+ Các hình thức kèm cặp học sinh của gia đình: dạy con học bài, làm bài cho con, cho con đi học thêm, thuê gia sư, kiểm tra sách vở, bài kiểm tra…
+ Những kỳ vọng của gia đình đối với việc học của học sinh: học giỏi, thi đỗ vào trường chuyên, lớp chọn, thi đỗ đại học, đi du học, có việc làm…
- Tìm hiểu thái độ của học sinh trước những tác động của gia đình đối với việc học tập: + Thái độ của học sinh trước việc thưởng, phạt của gia đình
Trang 7+ Thái độ của học sinh trước sự kèm cặp của gia đình
+ Thái độ của học sinh trước những kỳ vọng của gia đình
+ Những mong ước của học sinh đối với gia đình về vấn đề học tập
4. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Tìm hiểu học sinh THCS
- Tìm hiểu phụ huynh của học sinh THCS
- Tìm hiểu thầy cô giảng dạy THCS
Khách thể nghiên cứu
- Môi trường gia đình
- Môi trường học tập tại trường lớp
5. Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi đa phần nghiên cứu gia đình với hình thức gia đình hạt nhân, bao gồm bố mẹ và con cái còn nhỏ tuổi Bởi vì đây là loại hình gia đình phổ biến trong cuộc sống đô thị hiện nay, nó thể hiện những đặc trưng cơ bản của một gia đình hiện đại, có điều kiện để chăm sóc cho con cái cả về học tập lẫn rèn luyện nhân cách và
nó dễ dàng chịu sự tác động của những biến đổi xã hội
Do đề tài có nhiều giới hạn nên chúng tôi lựa chọn điển cứu tại hai trường THCS Đức Trí, quận 1 và THCS Tân Phú, quận 9 Đây là hai trường THCS mang những tính chất đặc thù của trường THCS Đồng thời khi nghiên cứu hai trường này, chúng tôi có điều kiện đề so sánh về hiện trạng học tập của một trường nội thành với một trường ngoại thành
Hy vọng rằng trong phạm vi nghiên cứu đã lựa chọn, chúng tôi vẫn có thể khái quát được vai trò của gia đình đối với việc học tập của học sinh THCS tại TP.HCM hiện nay
Trang 8- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin sẵn có
- Phương pháp định tính: 2 cuộc thảo luận nhóm, 13 cuộc phỏng vấn sâu
- Phương pháp định lượng: phiếu điều tra (268 mẫu)
7. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận
Nhóm chúng tôi hy vọng đề tài này sẽ góp phần làm sáng tỏ một số lý thuyết xã hội học, như lý thuyết xã hội hóa và lý thuyết vai trò Đồng thời đề tài này có thể đóng góp làm phong phú thêm kho tàng lý thuyết của môn xã hội học như là một ví dụ cho phương pháp thực chứng, và là cơ sở thông tin, cơ sở lý luận cho những đề tài nghiên cứu
về sau có cùng hướng quan tâm nghiên cứu với đề tài này
Và cuối cùng, nghiên cứu này tìm ra mối liên hệ giữa gia đình và việc học tập của học sinh THCS
8. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài
Thuận lợi
Đề tài này đã được thầy cô trong khoa Xã hội học trường đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn giúp đỡ, chỉ bảo cũng như đôn thúc thực hiện Thầy cô đã chỉ bảo cho nhóm một số vấn đề thuộc về chuyên môn của nghiên cứu khoa học, đồng thời giúp đỡ nhóm khi nhóm gặp khó khăn khi tiến hành nghiên cứu tại địa bàn Và nhóm chúng tôi còn
Trang 9được sự giúp đỡ của một số anh chị khóa trước của khoa Xã hội học, đã nhiệt tình giúp nhóm chúng tôi trước những bỡ ngỡ khi thực hiện đề tài
Trong khi thực hiện đề tài này, nhóm nghiên cứu rất may mắn là đã được ban giám hiệu và giáo viên hai trường THCS Đức Trí và THCS Tân Phú tạo những điều kiện thuận lợi nhất để chúng tôi dễ dàng nghiên cứu Các lớp học mà chúng tôi chọn đã hết sức hợp tác khi phát phiếu điều tra, cũng như tạo không khí vui vẻ trong khi thảo luận nhóm Đồng thời khi chúng tôi phỏng vấn sâu giáo viên, học sinh cũng như phụ huynh thì cũng khá nhanh chóng Đặc biệt là các thầy cô giáo rất nhiệt tình trả lời các câu hỏi cũng như đóng góp những ý kiến, suy nghĩ tâm huyết của người giáo viên về vấn đề học tập hiện nay của học sinh, cũng như những nhận xét về ảnh hưởng của gia đình đối với việc học tập
Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng gặp khó khăn khi bước đầu đến địa bàn nghiên cứu, gặp phải sự bất hớp tác của ban giám hiệu nên phải thay đổi địa bàn nghiên cứu
Ngoài ra, do các thành viên ở xa nhau nên mỗi lần họp nhóm hay đi nghiên cứu tại các trường thì gặp khó khăn về phương tiện đi lại cũng như thời gian hạn hẹp Và do nhóm tiến hành đề tài trong thời gian học nên không thể tránh khỏi ảnh hưởng tới việc học trên lớp cũng như việc nghiên cứu đề tài
Nhưng những khó khăn trên thực sự đã giúp nhóm hiểu biết thêm rất nhiều không những về các bước thực hiện nghiên cứu khoa học mà còn về nhiều vấn đề thực tiễn
Trang 10- “Gia đình xã hội”, công trình do Mai Quỳnh Nam chủ biẽn, 2004 Công trình bàn
về những yếu tố ảnh hưởng của giáo dục gia đình, vai trò của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cáhc của trẻ em
- “Bước đầu tìm hiểu những yếu tố tạo nên áp lực học tập đối với học sinh THPT”, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Xuân Hương (trường ĐH KHXAHV),
2005 Đề tài này tìm hiểu sức ép của những yếu tố gia đình, nhà trường và xã hội đối với học sinh THPT tại TP.HCM, cụ thể là tại hai trường THPT Lê Quý Đôn và trường THPT dân lập Huỳnh Thúc Kháng
- “Chức năng xã hội hóa của gia đình đối với trẻ em”, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Nữ Nguyệt Anh (trường ĐH KHXNNV), 2006 Đề tài này đã tìm hiểu hiện trạng vấn đề thực hiện chức năng xã hội hóa của gia đình đối với trẻ em trong bối cảnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước hiện nay, đặc biệt là ở khu vực đang trong quá trình đô thị hóa nhanh chóng như thị trấn Lái Thiêu, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương
Trang 11Cũng còn những nghiên cứu có liên quan tới mối quan hệ giữa gia đình và học sinh, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này chúng tôi chưa thể liệt kê hết được Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đề cập tới vai trò của gia đình trong việc học tập của học sinh THCS tại TP.HCM nên đề tài của chúng tôi là hoàn toàn mới
Quá trình xã hội hóa của một cá nhân diễn ra trong 3 môi trường chính, đó là: môi trường gia đình, môi trường xã hội hóa trong trường học và môi trường xã hội Trong đó môi trường gia đình là môi trường xã hội hóa quan trọng bậc nhất của cá nhân, bởi vì hầu hết cá nhân sinh ra và lớn lên trong gia đình
Ở lứa tuổi thiếu niên, trẻ em tiếp xúc đa dạng với thế giới xung quanh, bước đầu hình thành những giá trị, chuẩn mực, thiết lập quan hệ với những người xung quanh, trước hết là với những người trong gia đình Ở giai đoạn này, gia đình giúp đỡ và cung cấp cho các em những kinh nghiệm xã hội trong quan hệ và ứng xử với những người xung quanh, động viên, thông cảm, nâng đỡ các em khi thất bại và nản chí, giúp các em những kiến thức và hiểu biết cần thiết để tự chủ ở giai đoạn tiền dậy thì
Tuy nhiên hiện nay có nhiều gia đình đã đi đến chỗ đồng nhất giáo dục gia đình với giáo dục nhà trường, giáo dục con cái đối với họ nếu có chỉ là sự tiếp tục, sự nối dài giáo dục của nhà trường, đoàn thể xã hội chứ không phải là giáo dục gia đình với tư cách
là một thiết chế, một môi trường giáo dục có nội dung và phương pháp giáo dục riêng Nhiều bậc cha mẹ thành thật tin tưởng rằng giáo dục trẻ em ngày nay là công việc của
Trang 12nhà trường và xã hội Họ hoàn toàn yên tâm về tương lai của con cái mình khi đã gửi được con em vào trong hệ thống giáo dục xã hội
Gia đình có vai trò nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái Tuy nhiên mỗi người
bố, người mẹ còn đảm nhận những vị trí khác trong xã hội, đó là người nhân viên, người bạn, người cấp dưới, cũng có thề là người cấp trên… do đó họ cũng phải thực hiện những vai trò của những vị trí xã hội đó Khi đó không thể tránh khỏi có những xung đột giữa các vai trò, và hậu quả có thể là họ sẽ sao nhãng vai trò giáo dục gia đình của mình khi làm cha, làm mẹ
3. Các khái niệm công cụ
3.1 Khái niệm gia đình
Gia đình là khái niệm được rất nhiều môn khoa học nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau, và mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra những dịnh nghĩa của riêng mình để phục vụ cho công tác nghiên cứu của họ Do vậy khái niệm gia đình vô cùng đa dạng, phong phú
Trước hết phải kể đến những khái niệm gia đình của các nước khác Trong
“Dictionnairre de Sociologie” định nghĩa về gia đình như sau: “Nhóm người gắn bó với nhau bằng một liên hệ hôn nhân, huyết thống hay là việc nhận con nuôi Có sự tác động
Trang 13qua lại giữa chồng và vợ, giữa bố và mẹ, giữa cha mẹ với con cái, giữa anh chị em và họ hàng xa hơn”1
Một định nghĩa khác trong “La Sociologie et les Sciences de Societé”: “Gia đình chỉ có vợ chồng hay gia đình hẹp, gồm có bố, mẹ và con cái còn nhỏ tuổi là hình thức gia đình phương Tây hiện đại Người ta cũng gọi nó là “gia đình học sinh”, “gia đình hạt nhân”, “gia đình mở rộng” Tất cả các hình thức gia đình của nền văn minh khác nhau hiện nay trong sự phát triển của chúng ta cho thấy một khuynh hướng đi tới gia đình một
vợ, một chồng ấy Mỗi thành viên của cặp vợ chồng thuộc về hai gia đình: gia đình mà người đó sinh ra, gia đình định hướng và gia đình mà người đó tạo ra do cuộc hôn nhân của anh ta, gia đình sinh sản.”2
Hai định nghĩa trên đều thể hiện được những đặc trưng của gia đình phương Tây hiện đại đó là nhắc tới việc nhận con nuôi, chứ không bó cứng gia đình trong mối quan hệ ruột thịt với những người con như một số định nghĩa khác3 Đồng thời nó chỉ ra xu hướng gia đình trong xã hội hiện nay: gia đình hạt nhân – gia đình chỉ có vợ chồng và con nhỏ
Theo Liên Hiệp Quốc thì: “Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng cùng sống chung và có ngân sách chung Gia đình hôn phối hay gia đình hạt nhân gồm có bố
mẹ, con cái sống chung một nhà là hình thức chiếm số đông hiện nay Gia đình hôn phối được tạo nên bằng hôn nhân và được giải thể cùng với sự giải thể hôn nhân (ly dị)”.4Định nghĩa này nhắc tới môt hiện tượng cũng đang diễn ra ngày càng phổ biến trong xã hội, đó là việc ly dị, được xem như là việc làm tan rã một gia đình
Ở Việt Nam thì cũng có rất nhiều khái niệm khác nhau về gia đình về những khía cạnh khác nhau Từ hướng tiếp cận Triết học, GS Hồ Ngọc Đại khẳng định: “gia đình là một khái niệm mới được hình thành, từ ba thành phần, gồm những “đại lượng khác tên”
là Bố, Mẹ và Con cái Tôi gọi là tam giác gia đình.”5 Như vậy theo GS Hồ Ngọc Đại thì
đã là gia đình thì phải là một “tam giác” gồm có bố, mẹ và con cái, không thể thiếu ai
Trang 14được, trong khi đó hiện nay tồn tại những gia đình đặc biệt, như “gia đình đơn thân” (chỉ
có vợ hoặc chồng + con cái), “gia đình đồng thuận” (không có quan hệ hôn nhân, huyết thống nhưng vẫn ở với nhau), “gia đình biến thái” (gia đình tái hôn, gia đình đồng tính luyến ái, gia đình đa thê…) Vậy những gia đình ấy có được gọi là gia đình không?
Không nhắc đến thành viên cấu thành nên gia đình, nhà văn Ma Văn Kháng có cách nghĩ, cách nhìn, cách cảm, cách phân tích rất độc đáo về gia đình như sau: “Gia đình cái đơn vị nhỏ nhất của xã hội loài người, mặc những biến động lớn nhỏ, mặc sự tan rã có khi của một cộng đồng lớn này, khác, vẫn cứ tồn tại và vững bền… Trong bối cảnh đời sống của ngày hôm nay, vai trò gia đình càng nổi bật lên một môi trường gia đình cá biệt, toàn diện, có hiệu ích nhất Gia đình là một hình ảnh mái nhà chở che, nơi con người cư ngụ, chống trả mọi phong ba bão táp, nỗi cô đơn – căn bệnh phổ biến của thế giới hiện đại, nơi cân bằng mọi xô lệch của đời sống con người.”6
Nhà văn Ma Văn Kháng đã nhắc tới hình ảnh thân quen của gia đình, đó là mái nhà, mái ấm, nơi con người luôn tìm được sự bình yên và thanh thản sau những bon chen,
lo toan ngoài xã hội Tuy nhiên hiện nay đối với một số người thì gia đình đã trở thành
“nỗi ám ảnh” của những bạo hành gia đình, của sự lạnh lẽo khi bố mẹ chỉ lo làm kinh tế…
Còn theo TS Nguyễn Minh Hòa thì: “Gia đình là một tập hợp gồm những người chung sống với nhau, trong cùng một mái nhà Họ liên kết với nhau bởi quan hệ hôn nhân
và huyết thống Quan hệ này được chính thức thừa nhận bởi pháp luật hay luật tục Họ có trách nhiệm đạo đức đối với nhau bằng tình cảm máu thịt họ có quan hệ kinh tế đối với nhau, cùng có chung về tài sản và cùng có trách nhiệm xã hội hóa thế hệ sau Đó là quan
hệ vợ chồng, cha mẹ con cái, anh chị em ruột thịt.”7
Nhìn xơ qua chúng ta có thể nhận thấy rằng khi định nghĩa khái niệm gia đình chúng ta gặp phải khó khăn đặc biệt là do nó phải đúng với tất cả các dạng gia đình mà khác nhau rất nhiều về mặt văn hóa và lịch sử Đã có rất nhiều khái niệm, cách định
6 Ma Văn Kháng (1990), Một tổ hợp xinh xắn, cân đối và mạnh mẽ, Tạp chí Xã hội học, số 3, tr 45
7 Nguyễn Minh Hòa (1998), Hôn nhân và gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh (nhận diện và dự báo), Nhà xuất bản
Trang 15nghĩa khác nhau về gia đình, tùy theo khía cạnh mà người nghiên cứu quan tâm đến khi tìm hiểu về gia đình
Tóm lại, theo chúng tôi, gia đình là một nhóm xã hội, các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau bằng hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống Gia đình có những chức năng riêng biệt, đó là chức năng vĩ mô: chức năng tái sản xuất con người và chức năng xã hội hóa; chức năng vi mô: chức năng kinh tế và chức năng tâm sinh lý Gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên và quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc tạo dựng nhân cách cơ sở cho mỗi con người, thực hiện chức năng giáo dục và định hướng giá trị cho con cái Gia đình luôn có sự kỳ vọng ở con cái và luôn mong cho mỗi thành viên trong gia đình đạt đến một vị trí nhất định trong xã hội, trở thành một cá nhân ưu tú, hoàn thiện trong xã hội Đặc biệt trong hoàn cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, các gia đình đặc biệt chú trọng đầu tư cho con cái về việc học tập để con cái mình sẽ thành tài, thành đạt và thành nhân
3.2 Khái niệm học sinh
Trong gia đình thì con cái thực hiện vai trò của một người con, người cháu, người anh (chị), người em… Đồng thời con cái khi đến trường thì còn đảm nhận vai trò của người học sinh đối với nhà trường, thầy cô giáo.Theo “Đại từ điển Tiếng Việt”, học sinh được định nghĩa như sau: “người theo học ở trường, lớp.”8
Định nghĩa này còn chung chung, để hiểu rõ hơn, “Từ điển văn hóa giáo dục Việt Nam” cho rằng: “Học sinh là người đi học tại các trường phổ thông, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề Học sinh có nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, thực hiện nội quy, điều lệ của nhà trường Cuối cùng mỗi năm học, học sinh được đánh giá và xếp loại theo học lực, đồng thời còn được đánh giá và xếp loại toàn diện: tiên tiến, xuất sắc.”9
Như vậy học sinh là những người được sự giáo dục của nhà trường, thầy cô, không chỉ được dạy về những kiến thức khoa học, mà còn đồng thời được rèn luyện thể lực, đạo
Trang 16
đức Trong thời gian này, trẻ em không chỉ chịu sự xã hội hóa của gia đình, mà còn là nhà trường, bạn bè và xã hội Trẻ em cố gắng thực hiện những mong đợi của gia đình, nhà trường và bạn bè, đồng thời bắt đầu thể hiện mình
Cụ thể trong đề tài này chúng tôi quan tâm tới đối tượng học sinh trung học cơ sở
Và “Từ điển văn hóa giáo dục Việt Nam” cũng đưa ra khái niệm trung học cơ sở:
“Trình độ học vấn phổ thông thuộc bậc giáo dục trung học cấp cơ sở từ lớp 6 đến lớp 9, đối với trẻ em có tuổi từ 11 trở lên Gồm những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc, kiến thức về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ… Người thi đạt trình độ được cấp bằng tốt nghiệp trung học cơ sở.”12
Học sinh trung học cơ sở có độ tuổi từ 11 trở lên, học lớp 6 đến lớp 9 Đây cũng là giai đoạn trẻ em ở lứa tuổi thiếu niên với những đặc điểm tâm sinh lý rất đặc trưng Do vậy chúng ta cũng có cách nhìn khác về học sinh trung học cơ sở khi xem xét ở góc độ đó
là một bộ phận của thiếu niên
Trang 17Tuy nhiên cũng có khái niệm khác về thiếu niên: “là trẻ em thuộc lứa tuổi từ 11 đến 15 tuổi Là thời kỳ quan trọng trong cuộc đời của một con người, một mức phát triển đòi hỏi phải được đặc biệt quan tâm.”13
Thiếu niên là lứa tuổi chuyển tiếp, là bước nhảy vọt từ thời kỳ thơ ấu sang thời kỳ trưởng thành, lứa tuổi của những hành vi dũng cảm, những ý nghĩ sáng tạo độc lập đầu tiên và của những công trình tìm tòi độc đáo Thời kỳ này cũng diễn ra hoạt động tăng lên của các tuyến nội tiết, tuyến yên, tuyến giáp trạng và tuyến sinh dục Nhịp độ phát triển chiều cao nhanh hơn nhịp độ tăng về trọng lượng nên cơ thể dễ bị mệt mỏi Cần cho trẻ một chế độ ăn ngủ, học tập và làm việc hợp lý, nghiêm ngặt để trẻ có thể phát triển một cách đầy đủ nhất
Do sự phát triển nhanh chóng về thể chất và tâm sinh lý như vậy nên trẻ thường mệt mỏi, dễ cáu gắt, bướng bỉnh Ở lứa tuổi này trẻ bắt đầu có những rung động tình cảm,
có thể thích một bạn khác phái, biết nhớ nhung, mơ mộng, do vậy có thể chán nản, buồn
bã khi không được như ý trong chuyện tình cảm Đồng thời trẻ cũng có những suy nghĩ muốn làm người lớn do được tiếp xúc nhiều với người lớn Trẻ bắt đầu học làm người lớn trong khi người lớn vẫn cứ nghĩ đây là những đứa con nít, chưa biết gì, còn phụ thuộc vào mình, do vậy trẻ có thái độ làm trái lời người lớn Nếu không hiểu tâm lý thiếu niên, người lớn và trẻ dễ dàng xảy ra mâu thuẫn trong một số việc, dẫn đến xung đột đáng tiếc Cha mẹ cần dành thời gian tìm hiểu tâm tư, tình cảm của con mình để có những định hướng và cách giáo dục đúng đắn, thích hợp, kịp thời, từ đó tạo nên mối quan hệ thân thiện giữa hai bên, cha mẹ trở thành nơi trẻ tìm đến mỗi khi gặp khó khăn, thắc mắc
Trang 18người Như vậy có thể hiểu học theo nghĩa rộng là vừa học vừa chơi như đã trình bày ở trên, còn hiểu theo nghĩa hẹp thì học là học tập Học tập có thể hiểu là học và rèn luyện cho có tri thức, cho giỏi, hoặc có thể hiểu là noi theo những người giỏi hơn mình ở lĩnh vực nào đó
Học tập, theo định nghĩa của GS Vũ Ngọc Khánh, là: “Quá trình tiếp thu kiến thức và rèn luyện kỹ năng dưới sự dạy bảo, hướng dẫn của giáo viên, Học tập luôn đi đôi và gắn liền với giảng dạy của giáo viên.”14
“Hoạt động học tập, theo nghĩa hẹp, là hoạt động lấy tri thức khoa học làm đối tượng hoạt động này có những đặc điểm sau:
1) Động cơ là việc chiếm lĩnh tri thức khoa học của loài người
2) Nội dung của hoạt động học tập là những tri thức khoa học mang tính hệ thống chặt chẽ, được thể hiện trong chương trình của các môn học, các môn học lại được cấu tạo theo logic nội tại cùa các bộ môn khoa học tương ứng
3) Được tiến hành trong các hình thức, được tổ chức chặt chẽ gọi là giờ học
4) Hoạt động học tập, hoạt động xã hội mang tính nghiêm túc, bắt buộc, là nghĩa
vụ của học sinh đối với xã hội, gia đình và bản thân
5) Hoạt động học tập đòi hỏi học sinh phải có kỹ năng và thói quen hoạt động trí
Tuy nhiên cha mẹ, ông bà, thậm chí anh chị trong gia đình cũng là những người
“thầy cô” luôn sẵn sàng chỉ bảo tận tình cho con em mình Phương pháp giảng dạy, giáo dục của gia đình có những ưu thế so với giáo dục của nhà trường và xã hội Trước hết vì
14 Vũ Ngọc Khánh, sđd, tr 157
Trang 19nó xuất phát từ tình cảm và thông qua tình cảm, có khi không cần lời nói mà thông qua thái độ, việc làm, cách đối xử trong gia đình… Giáo dục gia đình mang tính cá biệt và cụ thể, chú ý đến những nét cá biệt của từng đứa trẻ Nó linh hoạt theo sự phát triển của trẻ
em, theo sự thay đổi của cuộc sống gia đình và xã hội
Phương pháp giảng dạy của gia đình là thuyết phục, giảng giải, có lắng nghe và trao đổi ý kiến giữa thày và trò, mà không phải là truyền thụ từ trên xuống và ra lệnh Nói chung, cha mẹ là những người thầy dạy không tiếc công sức, thời gian để hướng dẫn con cái, nhưng đáng tiếc có nhiều trường hợp họ lại bị thiếu những kiến thức cần thiết
3.6 Khái niệm vai trò
Thông thường, chúng ta có thể hiểu vai trò là: “chức năng, tác dụng của cái gì hoặc của ai trong sự vận động, phát triển của nhóm, tập thể nói chung.”16 Cách hiểu này còn quá đơn giản, chưa nói hết được ý nghĩa của khái niệm vai trò Để có thể hiểu cặn kẽ
và thích hợp với đề tài này, ta nên nhìn nhận khái niệm vai trò trong lĩnh vực xã hội học
Thuật ngữ vai trò (xã hội) trong nhiều năm nay thuộc vào danh mục đương nhiên của xã hội học Chỉ có ít khái niệm xã hội học được chấp nhận và vận dụng rộng rãi như khái niệm vai trò, tuy nhiên cũng chỉ ít khái niệm không rõ nét và đa nghĩa như vậy Xã hội học nhắc đến vai trò tức là vai trò xã hội Theo Dahrendorf thì vai trò là: “một tập hợp những kỳ vọng ở trong một xã hội gắn với hành vi của những người mang các địa vị.”17
Nói đến vai trò xã hội là nói đến những hành vi mà xã hội mong đợi ở một cá nhân tương ứng với một địa vị nào đó Ví dụ khi nghĩ đến học sinh, ta thường mong đợi đó sẽ
là người trò giỏi, vâng lời thầy cô, đoàn kết cùng các bạn… chứ không phải là một đứa trẻ chỉ biết ăn và chơi Như vậy vai trò của học sinh là những gì xã hội mong đợi ở chúng
Nếu như địa vị xã hội cho biết một chỗ đứng của cá nhân trong không gian, thì vai trò xã hội là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những nghĩa vụ và quyền lợi gắn liền với địa
Trang 20
vị đó Vai trò không chỉ liên quan đến những hành vi được xã hội xem những cá nhân có thực hiện hay không mà thực tế là xã hội buộc những hành vi đó phải được thực hiện
Theo TS Vũ Quang Hà (2002), “một địa vị có thể có nhiều vai trò, tạo thành một tập hợp các cai trò Những vai trò liên quan đến chúng ta là một tập hợp của những chuẩn mực được coi là nghĩa vụ của chúng ta (những hành động mà người khác có quyền đòi hỏi) khi chúng ta ở địa vi nào đó Và ở cương vị đó chúng ta có quyền đòi hỏi người khác thực hiện đúng những chuẩn mực phù hợp với vai trò mà người đó diễn.”18 Như vậy quyền về vai trò của người này lại là nghĩa vụ về vai trò của người khác Ví dụ như vai trò của gia đình bao gồm tái sản xuất con người, giáo dục con cái…, quyền của cha mẹ là dạy dỗ con cái, do đó con cái phải có nghĩa vụ vâng lời cha mẹ
4. Giả thuyết nghiên cứu
Khi nghiên cứu về vai trò của gia đình đối với việc học tập của học sinh trung học
cơ sở hiện nay, chúng tôi đã đưa ra những giả thuyết nghiên cứu sau:
1) Vai trò của gia đình đối với việc học tập của học sinh THCS đang ngày càng giảm sút, gia đình ngày càng tin tưởng, phó thác vai trò đó cho nhà trường
2) Những gia đình có thu nhập khá, ổn định, cha mẹ có trình độ học vấn cao, không khí gia đình hạnh phúc thì con cái sẽ học tốt hơn Ngược lại, gia đình có thu nhập thấp, không ổn định, cha mẹ có trình độ học vấn thấp, không khí gia đình không hạnh phúc thì con cái sẽ học kém hơn
3) Nguyên nhân dẫn tới sự suy giảm vai trò của gia đình đối với việc học tập của học sinh là do cha mẹ bận làm kinh tế, thiếu thời gian quan tâm tới con cái, và do gia đình ngày càng tin tưởng vào nhà trường trong việc giáo dục, dạy học
Trang 21
- Kết quả học tập
- Ý thức học tập
- Thời gian học và nghỉ
Trang 22CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Vài nét về cuộc nghiên cứu thực nghiệm
1.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.1.1 Giới thiệu trường THCS Đức Trí
Trường THCS Đức Trí nằm trên con đường Nguyễn trãi, quận 1 – tại trung tâm TP.HCM Hiện nay trường có 76 cán bộ, giáo viên và công nhân viên trong trường, trong
đó có 62 giáo viên Ban giám hiệu nhà trường vững chuyên môn, có uy tín với tập thể Tập thể giáo viên, công nhân viên luôn có ý thức phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công Thực hiện tốt xã hội hóa trong cải thiện cơ sở vật chất: phòng học, trang thiết
bị hiện đại phục vụ cho dạy và học theo phương pháp mới Trường đã xây dựng được một nề nếp trật tự kỷ cương trong mọi hoạt động của trường, các hoạt động của nhà trường đã tạo thành nề nếp
Trường có tổng cộng 1.342 học sinh, trong đó có 298 học sinh khối 6 (7 lớp), 345 học sinh khối 7 (8 lớp), 390 học sinh khối 8 (10 lớp) và 309 học sinh khối 9 (8 lớp) Cả trường có 6 lớp bán trú và 5 lớp tăng cường tiếng Anh
Trường ở trung tâm thành phố nên có địa bàn dân cư phức tạp, nhiều vùng trọng điểm về
tệ nạn xã hội (Đồng Tiến, Mã Lạng, Quốc Thanh, Cầu Kho, Bến Chương Dương…) ảnh hưởng đến việc giáo dục cho học sinh
Nhà trường trong năm học 2006 – 2007 tiếp tục làm cho toàn thể cán bộ, giáo viên, công nhân viên và phụ huynh học sinh quán triệt tư tưởng chỉ đạo về đổi mới sự nghiệp giáo dục theo chủ trương xã hội hóa giáp dục Toàn thể nhà trường thực hiện cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”
1.1.2 Giới thiệu trường THCS Tân Phú
Trang 23Địa chỉ trường THCS Tân Phú: 119 đường Nam Cao, phường Tân Phú, quận 9 Trường nằm trên địa bàn đang nằm trong diện quy hoạch đền bù giải tỏa để xây dựng khu công nghệ cao, vòng xoay Xuyên Á, đường Vành Đai và khu du lịch Suối Tiên mở rộng Dân nhập cư chiếm hơn 30% Vì thế đa phần học sinh thuộc gia đình lao động nghèo, nằm trong diện đền bù giải tỏa hoặc dân nhập cư từ nơi khác đến, cuộc sống bấp bênh, chưa ổn định, trình độ dân trí còn hạn chế, vấn đề xã hội hóa giáo dục chưa cao… nên hầu như việc học tập của con em dường như giao phó hết cho nhà trường
Tiền thân của trường THCS Tân Phú là trường PTCS Tân Phú, được xây dựng từ tháng 3 năm 1988 và được đưa vào sử dụng ngày 1 tháng 9 năm 1988 Tháng 8 năm 2006 trường được đầu tư nâng cấp với nhiều cơ sở hạ tầng tốt để phục vụ cho việc học tập của học sinh được hòan công vào tháng 12 năm 2006 Hiện nay trường đã có tất cả 20 phòng học, được trang bị đầy đủ bàn ghế Bên cạnh đó còn có các phòng bộ môn để giúp các em được thực hành các bộ môn như: lý, hóa, sinh, âm nhạc, thực hành công nghệ, vi tính, phòng nghe nhìn… các phòng trên đều được xây dựng đúng tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, quy cách xây dựng… ngoài ra còn có khu luyện tập thể dục thể thao, phòng truyền thống, phòng y tế học đường, thư viện…
Về đội ngũ giáo viên, trường có tất cả 37 giáo viên, trong đó có 36/37 giáo viên biên chế đạt chuẩn Trong đó có 24/ 37 giáo viên đạt trên chuẩn ( tỉ lệ: 64, 7%), 3/37 giáo viên đang học trên chuẩn Tất cả giáo viên đều theo học lớp bồi dưỡng thường xuyên và tập huấn thay sách giáo khoa đầy đủ Trong những năm qua trường có 13/ 37 giáo viên đạt giỏi cấp Quận trở lên (tỉ lệ 35, 1%), không có giáo viên xếp loại yếu về nghiệp vụ chuyên môn và đạo đức Tỉ lệ giáo viên 37/20 lớp tương đương với tỉ lệ 1, 85
Năm học 2005-2006, trường có tất cả 845 học sinh Về học tập: có 16, 7% học sinh xếp loại giỏi; 47, 3% xếp loại khá; 33, 4% xếp loại trung bình và 0, 6% xếp loại yếu
Về hạnh kiểm đạo đức: 71, 5% học sinh xếp lọai giỏi; 25, 1% xếp loại khá; 3, 4% xếp loại trung bình và không có học sinh nào xếp loại hạnh kiểm yếu kém Tỉ lệ lưu ban là 5/845 chiếm 0, 6% Tỉ lệ bỏ học là 8/861 chiếm 0, 9%
Với cơ sở hạ tầng ngày càng được nâng cấp, đội ngũ giáo viên có nghiệp vụ
Trang 24THCS Tân Phú đã đạt trường chuẩn quốc gia Tuy là 1 trường thuộc quận ven thành phố, nhưng với nỗ lực của tất cả cán bộ công nhân viên, giáo viên và học sinh, trường THCS Tân Phú đang từng bước nâng cao chất lượng giảng và dạy của giáo viên và học sinh
có người mới chỉ học hết tiểu học… Do đó thu nhập gia đình cũng khác nhau, nhưng hầu hết các gia đình đều nhận là mình thu nhập trung bình, đủ sống
Và mỗi gia đình cũng có sự khác biệt về không khí gia đình: có lúc vui vẻ, có lúc cãi lộn, thậm chí đánh lộn cũng có… Có gia đình thì hạnh phúc đủ đầy, có gia đình ly hôn, có gia đình mất cha hoặc mất mẹ… Điều này cũng ảnh hưởng tới tâm lý cũng như việc học của học sinh
Học sinh THCS đang bước vào lứa tuổi thiếu niên, có những chuyển biến tâm sinh
lý, đã có những rung động, những ham mê và muốn chứng tỏ bản thân Đặc biệt trong môi trường đô thị, nơi tập trung nhiều tụ điểm cũng như phương tiện vui chơi giải trí, nên học sinh dễ bị lôi cuốn, thu hút vào các trò chơi, phim ảnh… mà không chịu học hành
Học sinh ở thành phố còn có điều kiện đi học thêm, học gia sư hay đi học thêm các môn năng khiếu như bơi lội, võ thuật, diễn kịch, múa, … những hoạt động này cũng ảnh hưởng tới việc học tập của học sinh
Học sinh trung học cơ sở là những học sinh đã qua giai đoạn của tuổi nhi đồng và các em đang bắt đầu bước vào một giai đoạn mới, giai đoạn của tuổi thiếu niên Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất cuộc đời của một cá nhân, trong thời kì này, các em sẽ
có nhiều thay đổi mạnh mẽ về tâm sinh lý Xét về góc độ tâm lý, đây là thời kì mà các đang trong giai đoạn phát triển nhận thức đối với thế giới xung quanh mạnh mẽ nhất Các
em bắt đầu tự ý thức và cảm thấy có trách nhiệm hơn với chính bản thân, với gia đình và
Trang 25đối với những việc làm của mình, các em nhận thức các vấn đề một sâu sắc hơn và chủ động hơn
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Thái độ của học sinh đối với học tập
Lứa tuổi học sinh THCS là lứa tuổi mà các em đang ngồi trên ghế nhà trường để học tập, chính nền tảng của ngày hôm nay sẽ giúp các em vững chắc hơn trong tương lai Điều đó, cho thấy học tập đóng vai trò hết sức quan trọng đối với cuộc sống của một cá nhân.Vì thế, nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu xem học sinh trung học cơ sở có thái độ như thế nào đối với việc học tập – nhiệm vụ chính của học sinh trung học cơ sở Để từ đó thấy được tính tự lập, tự ý thức trong học tập của học sinh trung học cơ sở hay là sự ỷ lại, chán nản đối với việc học tập hay không
2.1.1 Nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của học tập
Trước tiên, những số liệu về nhận thức của học sinh THCS về tầm quan trọng của việc học tập cho thấy:
Bảng 6 Tầm quan trọng của việc học tập đối với học sinh
Trang 26thế, có thể thấy học sinh đã nắm bắt được mục đích và kết quả của việc học tập Điều này được thể hiện rõ trong các thông tin định tính mà nhóm nghiên cứu đã thu thập
- “Theo em, thì học tập là con đường để tích lũy kiến thức để mình có thể chuẩn bị một hành trang vững chắc bước vào cuộc sống và có thể mưu sinh lập nghiệp Học thì không
có thể nào ngừng được vì việc học thì cứ học hoài hoài, theo em thì học rất quan trọng đối với cuộc đời của mình”
Trích biên bản thảo luận nhóm số 2
- “Đối với em việc học rất quan trọng, nó tích lũy cho mình một vốn kiến thức để mai này mình có thể bước vào đời một cách vững vàng hơn Và nó cũng giúp cho mình tìm được một cuộc sống tốt đẹp hơn”
Trích biên bản thảo luận nhóm số 2
- “Em thấy mình học không chỉ vì mình mà còn học vì gia đình nữa, vì em học giỏi thì ba
mẹ mới vui lòng”
Trích biên bản phỏng vấn sâu số 8
2.1.2 Thái độ của học sinh đối với kết quả học tập
2.1.2.1 Kết quả học tập của học sinh
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập thông tin về kết quả học tập của học sinh hai trường trung học cơ sở Tân Phú, quận 9 và Đức Trí, quận 1
Bảng 41a So sánh kết quả học tập của học sinh hai trường THCS Đức Trí và THCS Tân
Trang 27So sánh kết quả học tập giữa hai trường cho thấy có sự chênh lệch khá rõ nét mặc
dù số lượng học sinh được khảo sát không đồng đều nhau Tỉ lệ học sinh giỏi của trường trung học cơ sở Đức Trí chiếm 25.0% trong tổng số 140 học sinh, trong khi đó, trường trung học cơ sở Tân Phú có số lượng học sinh giỏi được khảo sát trong tổng số 128 học
Trang 28học sinh hai trường (giữa một trường nằm trong trung tâm thành phố và một trường thuộc ngoại thành thành phố) khác nhau
2.1.2.2 Thái độ của học sinh đối với kết quả học tập
Vấn đề quan trọng nhất đối với học sinh trong việc học tập là kết quả học tập Kết quả học tập thể hiện sự tiếp thu và vận dụng kiến thức đã học và các bài kiểm tra, bài thi
Do đó, tâm lý chung của học sinh đều nhận thức rằng kết quả học tập chính là phương tiện thể hiện năng lực thực sự của bản thân, vì thế, khi nhận được kết quả học tập nhiều học sinh cảm thấy không đồng ý với kết quả mà mình đã đạt được trong học kì vừa qua (76.9%), trong khi đó, chỉ có 22% học sinh bằng lòng với kết quả học tập đã đạt được
Bảng 8 Sự hài lòng với kết quả học tập của học sinh
Trích biên bản thảo luận nhóm số 2
Trang 29- “Em thì em không ưng ý vơi kết quả của mình Bởi vì tuy là học sinh khá nhưng
em vẫn vi phạm một số nội quy, tuy nhiên mục đích của em là không vi phạm một lần nào”
Trích biên bản thảo luận nhóm số 2
- “Em cũng không bằng lòng với kết quả học tập của mình tại vì mấy học kỳ trước thì em đạt học sinh giỏi nay em lại được khá thì năm nay em sẽ cố gắng để đạt được học lựcc xuất sắc”
Trích biên bản thảo luận nhóm số 2 -“Em không bằng lòng với kết quả đó vì em thấy em còn lười học lắm nếu siêng học thì có lẽ em đã được học sinh giỏi rồi”
Trích biên bản thảo luận nhóm số 2
2.1.3 Thái độ của học sinh đối với việc học thêm
Thái độ của học sinh đối với học tập còn được thể hiện ở thời gian từ học của học sinh Hiện nay ở các thành phố lớn, đặc biệt là TP.HCM thì việc học thêm đã trở thành rất phổ biến và có thể xem như một phần tất yếu của giáo dục Trong tổng số 268 phiếu khảo sát thì có 67.9% học sinh trả lời là có đi học thêm
Khi tìm hiểu lý do: tại sao đi học thêm? Bảng thông tin định lượng và thông tin định tính đã cho thấy sự logic trong việc học sinh đang thực hiện các hành động có giá trị nhằm để đạt được mục đích lớn đã đặt ra trước đó
Trang 30Bảng 16 Lý do học sinh đi học thêm
- “Em thì học thêm môn toán của cô giám thị Vì kiến thức toán của em vẫn chưa nắm vững lắm, năm nay cũng là năm cuối cấp nên học để có kiến thức sâu hơn, để thi đạt vào trường cấp III mình mong muốn”
Trích biên bản thảo luận nhóm số 2
- “ Em đi học thêm là để bổ sung một số kiến thức mà mình chưa hiểu, để giúp mình nâng cao khả năng của mình tốt hơn”
Trích biên bản thảo luận nhóm số 1
Như vậy hầu hết học sinh đi học thêm là do bản thân thấy cần thiết, muốn trang bị thêm kiến thức mà trên trường chưa có điều kiện để học hết được
2.1.4 Thái độ của học sinh đối với việc tự học
Trang 31Khi một cá nhân nhận thức được một vấn đề mà cá nhân đó cho là quan trọng đối với cuộc đời của cá nhân thì cá nhân thường tìm nhiều cách thức, phương tiện để đạt được cái mà cá nhân cho là quan trọng đối với cuộc sống của họ, đặc biệt là cá nhận đó phải dành nhiều thời gian cho mục đích mà học đặt ra thì cá nhân đó mới có thể thành công Đối với việc học tập của học sinh cũng vậy, khi học sinh cảm nhận được việc học tập là cần thiết và quan trọng đối với tương lai của mình thì học sinh thường dành nhiều thời gian cho việc học (như đã phân tích ở phần trên)
Dành nhiều thời gian cho học tập ở đây không chỉ đơn thuần là thời gian học tập trên lớp và thời gian học sinh dành để học thêm mà nó còn bao gồm thời gian tự học ở nhà.Việc dành nhiều thời gian cho việc tự học thể hiện thái độ tích cực, tính tự giác cao đối với việc học mặc dù ở lứa tuổi này học sinh thường rất thích chơi nhiều hơn là học nhưng cũng trong giai đoạn này các em đã bắt đầu hình thành ý thức về học tập
Bảng 22 Thời gian tự học hàng ngày của học sinh ở nhà
Trang 32Tỉ lệ học sinh dành thời gian tự học ở nhà từ 2-3 giờ chiếm 41.8% và từ 1-2 giờ chiếm 30.6%, tình hình chung này cho thấy học sinh đã có ý thức đối với việc tự học khi
mà thời gian học sinh phải học ở trường khá là nhiều nhưng về nhà vẫn dành thời gian khá nhiều cho việc học Lượng thời gian mà học sinh dành cho học tập theo 77.6% học sinh là chỉ ở mức bình thường, nghĩa là thời gian đó vừa đủ với khả năng của học sinh không quá nhiều và cũng không quá ít Bởi vì, 71.6% học sinh cho rằng tự học là do cảm thấy rất cần thiết (theo bảng 23) Điều này cho thấy, học sinh đã hiểu được vai trò quan trọng của học tập cũng như những lợi ích mà học tập đem lại
Bảng 23 Thái độ của học sinh đối với thời gian tự học
là phạt, khiển trách Đây chính là việc học sinh đang cố gắng để đáp ứng được những kì
Trang 33vọng của gia đình thông qua việc tự ý thức được hành động học tập mà học sinh đang thực hiện và cũng chính là để đáp ứng sự “kì vọng” của chính bản thân học sinh vào tương lai về sau
2.1.5 Thái độ của học sinh đối với thời gian nghỉ ngơi, thư giãn
Trong đề tài này, khái niệm học tập được thao tác hóa ra là học ở trường, học thêm, học ở nhà và nghỉ ngơi, thư giãn Bởi vì nếu không có thời gian nghỉ ngơi hợp lý thì học sinh sẽ dễ bị căng thẳng, mệt mỏi Còn ngược lại, nếu học sinh thư giãn, giải trí quá nhiều thì sẽ sao nhãng việc học hành Số liệu thống kê về thời gian nghỉ ngơi, thư giãn của học sinh cho thấy:
Bảng 25 Thời gian nghỉ ngơi, thư giãn hàng ngày của học sinh
Thời gian nghỉ ngơi Tần suất %
Số liệu thống kê trên cho thấy đa số (46.6%) học sinh dành 1 đến 2 tiếng mỗi ngày
để nghỉ ngơi, thư giãn, sau đó thì có 19% học sinh dành 2 – 3 tiếng/ngày Và chỉ có 6.7% học sinh trả lời là hàng ngày thư giãn nhiều hơn 4 tiếng đồng hồ Số liệu trên cũng được
Trang 34củng cố qua những thông tin định tính, khi được hỏi về thời gian thư giãn, giải trí trong ngày của mình thì các em học sinh trả lời rằng:
- “Thường thì em không đi chơi, chỉ ở nhà học Thứ 7, chủ nhật thì đi với mấy đứa bạn, uống nước, uống trà ở trên đây nè Ngoài ra em ở nhà không, em ít đi chơi lắm”
Khi được hỏi rằng việc học tập hiện nay đối với học sinh có quá tải không, một học sinh nam đã trả lời:
- “Thường thì em đi học thêm như vậy đến lúc về thì cũng gần 6h rồi, mà đi học trên trường một ngày đến 8 tiếng rồi học thêm nữa thì về nhà rất là mệt, với lại mình
Trang 35không có sức đủ mà làm mấy bài tập nữa Thường em về nhà, bỏ tập vở ra rồi nằm đến 9h mấy mới học bài”
Trích biên bản thảo luận nhóm số 2
Do vậy, để giảm bớt những căng thẳng, mệt mỏi trong học tập, cũng như để việc học đạt hiệu quả tốt, thì học sinh cũng cần phải có thời gian nghỉ ngơi, thư giãn mỗi ngày hợp lý
Tổng hợp tất cả các yếu tố trên cho thấy thái độ của học sinh đối với học tập là tổng hoà nhiều yếu tố khác nhau trong cùng một mối tương quan là học tập, bao gồm: nhận thức của học sinh đối về tầm quan trọng của học tập, thái độ đối với kết quả học tập, vấn đề tự học và nguyên nhân đi học thêm và một yếu tố cũng góp phần quan trọng vào hoạt động học tập đó là thời gian nghỉ ngơi, thư giãn hợp lý Các yếu tố này đan xen vào nhau, bổ sung cho nhau và hình thành nên thái độ của học sinh đối với việc học tập
2.2. Thái độ của học sinh đối với vai trò của gia đình trong việc học tập
2.2.1 Vai trò của gia đình đối với việc học tập của học sinh
Trong cuộc sống đô thị ngày nay, các phụ huynh rất có ý thức và nhận biết được tầm quan trọng của việc học, và họ ra sức tạo mọi điều kiện cho con cái được đến trường Theo chương trình mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì học sinh THCS phải học 2 buổi một ngày, như vậy các em phải học sáng chiều ở trường Trường có tổ chức học bán trú cho các em không có điều kiện về nhà được vào giờ nghỉ buổi trưa
Bởi phụ huynh bận rộn không có nhiều thời gian dành cho con cái nên mới gởi con học bán trú, và khoảng thời gian các em ở trường quá nhiều, sự tiếp xúc với thầy cô bạn
bè còn nhiều hơn với cha me.Và cũng nhiều phụ huynh nghĩ rằng mình đóng tiền cho con
đi học đã là sự quan tâm và họ dường như phó thác trách nhiệm cho nhà trường, vai trò giáo dục của nhà trường giữ vai trò chủ đạo, vai trò gia đình trở nên mờ nhạt trong khi đó đáng nhẽ vai trò của cha mẹ cũng có tác động nhiều đến việc học tập của con cái
Tuy nhiên đối với việc học của con cái cha mẹ vẫn đóng một vai trò và có sự tác
Trang 362.2.1.1 Hoàn cảnh gia đình học sinh
Qua thực tế tiến hành khảo sát do tính chất riêng tư và tế nhị nên rất khó để hỏi thu nhập gia đình để tìm hiểu về hoàn cảnh học sinh, tuy không được chi tiết về thu nhập nhưng qua nghề nghiệp cha mẹ cũng thể hiện được phần nào hoàn cảnh gia đình học sinh
Do hai địa bàn khảo sát khác nhau nên tỷ lệ nghề nghiệp của cha mẹ học sinh cũng khác nhau Do trường Tân Phú nằm ở khu vực ngoại thành đang trong quá trình đô thị hoá, thành phần dân cư phức tạp, chủ yếu là dân nhập cư, nghề nghiệp phụ huynh chủ yếu là lao động tay chân, công nhân, buôn bán, hiếm có phụ huynh là trí thức, công nhân viên chức Trường Đức Trí do nằm ở khu vực nội thành trung tâm thành phố nên nghề nghiệp phụ huynh ổn định, phụ huynh trí thức, công nhân viên chức nhiều hơn so với trường Tân Phú
Bảng 39a So sánh nghề nghiệp của cha học sinh giữa 2 trường THCS Đức Trí và THCS
Tân Phú (1)
Trang 37Trường % Tần suất % Tần suất % Tần suất % Tần suất
là nội trợ tỷ lệ ngang nhau Đức Trí là 50.9% và Tân Phú là 49.1%
Từ nghề nghiệp cha mẹ cho thấy được mức độ ổn định cũng như thu nhập của gia đình học sinh từ đó có sự ảnh hưởng nhất định đến sự quan tâm của cha mẹ đối với việc học dành cho con cái Dưới đây là tỷ lệ nghề nghiệp phụ huynh của cả hai trường:
Bảng 4 Nghề nghiệp của cha học sinh
Trang 38Nếu số liệu thu được từ các bảng hỏi chỉ nêu bật được nghề nghiệp của cha mẹ thì qua bảng phỏng vấn sâu hoàn cảnh gia đình học sinh thể hiên rõ ràng hơn
- “ Đa phần là làm ăn buôn bán, gia đình cũng có điều kiện như thế mới đủ tiền để đóng học phí vì học phí thì cũng khá cao"
Trang 392.2.1.2 Tạo điều kiện cho học sinh học thêm
Mặc dù thời gian học tập trênn trường là từ sáng đến chiều nhưng tỷ lệ học sinh học thêm vẫn chiếm tỷ lệ cao 67.9%, và hầu hết các em đều được gia đình tạo điều kiện
cho đi học thêm
Bảng 18 Gia đình tạo điều kiện cho học sinh đi học thêm
lệ này chỉ chiếm 13.9%
Khi được hỏi về việc cho con đi học thêm, một phụ huynh đã trả lời rằng:
Trang 40- “ Có, tạo điều kiện tối đa luôn Ở nhà mình không kèm nó được thì cho nó đi học thêm"
Trích bảng phỏng vấn sâu số 13
Có một số gia đình và phần lớn là phụ huynh có con theo học ở trường Đức Trí thì
có mời gia sư về dạy cho con học tại nhà
Bảng 19 Gia đình mời gia sư về dạy cho học sinh
2.2.1.3 Việc kiểm tra bài của học sinh
Do các em là học sinh cấp hai đang ở lứa tuổi ham chơi còn nhiều lơ là trong việc học, ý thức học tập chưa cao, cần nhiều sự kiểm tra đôn đốc của thầy cô khi ở trường và khi về nhà cha mẹ cũng có sự kiểm tra bài vở đôn đốc các em và qua đó biết được thái độ
và tình hình học tập của con mình
Bảng 26 Mức độ thường xuyên kiểm tra bài của gia đình