Trong đó, đặc biệt là tư tưởng đạo đức của triết học Ấn Độ cổ đại, được thể hiện qua các tác phẩm có giá trị như: Veda, Upanishad, sử thi Mahàbhàrata, Ràmàyana, Bhagavad – Gità, hay Đại
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN NGỌC KIM NGÂN
TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC
ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI – ĐẶC ĐIỂM
VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN NGỌC KIM NGÂN
TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, chưa được ai công bố, dưới sự hướng dẫn của PGS TS TRỊNH DOÃN CHÍNH Tư liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực
Tp Hồ Chí Minh, ngày… tháng… năm 2013
Tác giả
NGUYỄN NGỌC KIM NGÂN
Trang 4MỤC LỤC
trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ VẤN ĐỀ TRUNG TÂM TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 8
1.1 KHÁI QUÁT NHỮNG ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 81.1.1 Đặc điểm điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội với việc hình thành tư tưởng đạo đức trong triết học Ấn Độ cổ đại 8 1.1.2 Các giai đoạn hình thành và phát triển của triết học
Ấn Độ cổ đại 22
1.2 TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC – VẤN ĐỀ TRUNG TÂM TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 271.2.1 Khái niệm đạo đức trong triết học Ấn Độ cổ đại27
1.2.2 Tư tưởng đạo đức một trong những vấn đề nổi bật trong triết học
Ấn Độ cổ đại 42
Kết luận chương 1 50 Chương 2 NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 52
2.1 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC
TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 522.1.1.Tư tưởng đạo đức của triết học tôn giáo Ấn Độ trong thời kỳ Veda – Sử thi (từ thế kỷ XV trước Công nguyên đến thế kỷ VII
Trang 5trước Công nguyên) 52
2.1.2 Tư tưởng đạo đức của triết học Ấn Độ trong thời kỳ Cổ điển hay thời kỳ Phật giáo, Bàlamôn giáo (từ thế kỷ VI trước Công nguyên đến thế kỷ III sau Công nguyên) 72
2.2 ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 117
2.2.1 Đặc điểm cơ bản của tư tưởng đạo đức trong triết học Ấn Độ cổ đại 117
2.2.2 Ý nghĩa lịch sử của tư tưởng đạo đức trong triết học Ấn Độ cổ đại với việc xây dựng con người Việt Nam hiện nay 139
Kết luận chương 2 158
KẾT LUẬN CHUNG 161
TÀI LIỆU THAM KHẢO 165
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người là hệ thống cấu trúc tổng hợp của tự nhiên và xã hội, thể xác và tinh thần vô cùng phức tạp Cùng với đời sống vật chất, là đời sống tinh thần phong phú của con người Trong các yếu tố cấu tạo nên đời sống
tinh thần thì đạo đức là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng góp
phần hình thành nên bản tính con người Đây chính là một trong những tiêu chuẩn phân biệt con người với tất cả các sinh vật khác Vấn đề này đã được các nhà tư tưởng phương Đông lẫn phương Tây bàn đến từ rất sớm Trong
đó, đặc biệt là tư tưởng đạo đức của triết học Ấn Độ cổ đại, được thể hiện qua các tác phẩm có giá trị như: Veda, Upanishad, sử thi Mahàbhàrata, Ràmàyana, Bhagavad – Gità, hay Đại tạng kinh của Phật giáo… Tư tưởng đạo đức ấy mang ý nghĩa triết lý nhân sinh sâu sắc, luôn gắn chặt vấn đề có giá trị luân lý với vấn đề có ý nghĩa tâm linh tôn giáo Những tư tưởng đạo đức của triết học Ấn Độ cổ đại nảy sinh từ đời sống và đi vào đời sống nhằm
hướng con người đến chân, thiện, mỹ Vì thế, trong phần kết luận cuốn Lịch
sử văn minh Ấn Độ Will Durant đã viết: “Ấn Độ sẽ dạy cho chúng ta bài học
khoan dung cao thượng, dấu hiệu của một tâm hồn già dặn, dạy cho chúng ta
có một tâm hồn thanh thản, thỏa mãn, dễ tiếp thu những ý mới, có một trí óc bình tĩnh hiểu được hết thảy, tha thứ cho hết thảy, sau cùng có một tấm lòng nhân từ, thương yêu mọi sinh vật, chỉ tấm lòng đó mới đoàn kết mọi người với nhau được thôi” [98, tr 439]
Trong những năm qua, đất nước ta đang từng bước vươn lên trong công cuộc đổi mới Với quá trình đổi mới toàn diện đất nước, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực đời sống xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu mà chúng ta đã đạt được không thể tránh khỏi sự tác động từ những mặt trái của cơ chế mới đang ảnh hưởng tiêu cực đến đời
Trang 7sống xã hội Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương
khóa VIII của Đảng đã nhận định: “Cơ chế thị trường và sự hội nhập quốc
tế, bên cạnh những tác động tích cực to lớn cũng đã bộc lộ mặt trái của nó ảnh hưởng đến ý thức tư tưởng, đạo đức, lối sống của nhân dân” [31, tr 46] Điều đáng quan ngại là chúng ta phải trả giá bằng sự suy thoái của những giá trị đạo đức và những truyền thống văn hóa Bên cạnh đó, trong cơ chế mới còn nảy sinh cuộc đấu tranh giữa hai lối sống, lối sống có lý tưởng, lành mạnh, trung thực, sống bằng chính sự lao động của mình, chăm lo lợi ích của cộng đồng và lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền với những việc
làm bất chính của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên Vì thế, Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Tình trạng suy
thoái hóa về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn diễn biến phức tạp” [28, tr 173] Đây chính là một trong những nguyên nhân làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và nhà nước, tác động tiêu cực đến tiến trình đổi mới đất nước
Trước thực trạng trên, vấn đề đặt ra cho chúng ta là làm sao trong tiến trình phát triển đó vẫn có thể giữ được bản sắc, truyền thống văn hóa và cốt cách của dân tộc để hướng đến một sự phát triển bền vững, khắc phục tình trạng xuống cấp về đạo đức của một số bộ phận cán bộ, thanh thiếu niên trong xã hội, góp phần vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực hội đủ phẩm chất và năng lực chuyên môn, có thể đáp ứng các điều kiện cần thiết cho sự nghiệp đổi mới? Điều này đòi hỏi cần phải có đội ngũ những con người:
“Phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã
Trang 8hội” [26, tr 114] Vì thế, bên cạnh việc giáo dục đạo đức, và trên cơ sở kế
thừa, phát huy những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, thì việc tiếp thu có chọn lọc những giá trị đạo đức của nhân loại ở phương Đông cũng như phương Tây, trong đó có triết lý đạo đức nhân sinh trong triết học tôn giáo Ấn Độ cổ đại là điều cần thiết hiện nay
Cùng với sự phát triển của lịch sử, bất kỳ một học thuyết, một tư tưởng nào đều khó tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Tư tưởng đạo đức
Ấn Độ cổ đại cũng không ngoại lệ Nhưng nếu chúng ta biết gạt bỏ những mặt hạn chế do điều kiện lịch sử và tính chất giai cấp xã hội để lại, ta thấy chúng vẫn có những giá trị và ý nghĩa nhất định trong cuộc sống hiện thực
Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng đạo đức Ấn Độ cổ đại là rất cần thiết để giúp chúng ta tìm hiểu rõ hơn về đời sống tinh thần đạo đức của dân tộc Việt Nam Từ đó góp phần vào việc rèn luyện và giáo dục đạo đức con người Việt Nam hiện nay Xuất phát từ những lý do trên mà người viết đã chọn
vấn đề “Tư tưởng đạo đức trong triết học Ấn Độ cổ đại – đặc điểm và ý
nghĩa lịch sử” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Nhìn chung các đề tài viết về tư tưởng đạo đức trong triết học Ấn
Độ cổ đại đã được không ít các học giả, các nhà khoa học quan tâm và tìm hiểu, với các công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau, nhưng tựu trung
chúng ta có thể khái quát lại thành các chủ đề nghiên cứu sau:
Thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về đạo đức trong triết học
Ấn Độ cổ đại ở khía cạnh lịch sử, văn hóa có các tác phẩm: Văn hóa Ấn Độ, của Nguyễn Tấn Đắc, Nxb Thanh Niên, 2000; Lịch sử thế giới cổ đại (Tập 1), của Chiêm Tế, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1977; Tư tưởng Ấn Độ theo dòng
lịch sử, của Alber Schweitzer, Nxb Văn hóa thông tin, 2008; Lịch sử văn minh Ấn Độ, của Will Durant, Nxb Lá Bối, Sài Gòn 1971; Phát hiện Ấn Độ,
Trang 9của Jawaharlal Neru, Nxb Văn học, Hà Nội, 3 tập, 1990; Triết lý trong văn
hóa phương Đông, của Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Đại học sư phạm, 2004; Văn học sử Phật giáo (Thành lập tam tạng), của Cao Hữu Đính, Nxb, Thuận
Hóa, Huế, 1996; Minh triết Đông phương, của Michael Jordan, Nxb Mỹ Thuật; Các nền văn minh thế giới (lịch sử và văn hóa), của Edward Mcnall
Burns – Philip Lee Ralph, (Người dịch: Lưu Văn Hy và nhóm Trí Tri), Nxb
Văn hóa thông tin, 2008; Đại cương văn hóa phương Đông, của Lương Duy Thứ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998; Lịch sử triết học phương Đông, của Nguyễn Đăng Thục Nxb, Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2006; Ấn Độ qua các
thời đại, của Nguyễn Thừa Hỷ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1986… Các công
trình nghiên cứu trên chủ yếu nghiên cứu những điều kiện cơ bản hình thành
tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại và phân chia các thời kỳ lịch sử trong tư
tưởng triết học Ấn Độ cổ đại
Thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về đạo đức trong triết học
Ấn Độ cổ đại trên phương diện tôn giáo có các tác phẩm như sau: Veda -
Upanishad - Những bộ kinh triết lý tôn giáo Ấn Độ cổ đại, do Doãn Chính
chủ biên, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011; Ấn Độ vương quốc của
tâm linh, của Radhika Srinivasan, Nxb Lao động, 2010; Đạo đức Phật giáo
và hạnh phúc con người, của Thích Minh Châu, Nxb Tôn giáo, Hà Nội,
2002; Đức Phật và Phật pháp, Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, 1989; Đạo đức học Phật giáo, nhiều tác giả, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1995; Những lời đức Phật dạy về hòa bình và giá trị con
người, của Thích Minh Châu, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành,
1995; Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo, của Thích Thiện Tâm, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh; Đạo học con đường an vui trọn vẹn, của Vân Như – Bùi Vân Như, Nxb Từ điển bách khoa, 2006; Nhân quả - triết lý trung
tâm của Phật giáo, Người dịch: Đồng loại – Trần Nguyên Trung, Nxb Tổng
Trang 10hợp, thành phố Hồ Chí Minh, 2008; Những con đường tâm linh phương
Đông (Phần I: Các tôn giáo khởi nguyên từ Ấn Độ), của Theodore M
Ludwig, NXB Văn hóa – Thông tin, 2000… Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu phản ánh những nét cơ bản về đạo đức Phật giáo rất cần thiết trong việc bảo tồn và phát huy đạo đức truyền thống của dân tộc trong bối cảnh
giao lưu văn hóa với các nước hiện nay
Thứ ba, các công trình nghiên cứu về đạo đức trong triết học Ấn Độ
cổ đại trên phương diện tư tưởng triết học Tiêu biểu cho chủ đề này có các
tác phẩm như: Tác phẩm Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại, do Doãn Chính chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997; Đại cương lịch sử
triết học phương Đông, do Doãn Chính chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội,
1994; Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ cổ đại, do Doãn Chính chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010; Triết lý phương Đông giá trị và
bài học lịch sử, do Doãn Chính chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2005; Nhập môn triết học Ấn Độ và Upanishad, của Hoàng Sỹ Quý, Nxb Hưng giáo văn đông Sài Gòn, 1974; Triết học Đông Phương: Trung Hoa,
Ấn Độ và các nước Hồi Giáo, của M.T Stepaniants, Nxb Khoa học xã hội,
HN, 2003; Bhagavad Gita, Quảng Hóa, Sài Gòn, 1971 (Người dịch: Nguyễn Quỳnh); Áo nghĩa thư Upanishad, An Tiêm, Sài Gòn, 1972; Đạo đức học
phương Đông cổ đại, của Vũ Tình, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; Triết học Ấn Độ một cách tiếp cận mới, của Heinrich Zimmer, Nxb Văn
hóa thông tin, 2006; Đạo đức học phương Đông, của Thích Mãn Giác, Nxb Văn hóa, Sài Gòn, 2007; Mahabharata – sử thi Ấn Độ, Nxb Khoa học, Hà Nội, 1979; Các trường phái triết học trên thế giới, của David E Cooper, Nxb Văn hóa thông tin, 2005; Nhập môn triết học Ấn Độ, của Lê
Xuân Khoa, Nxb Trung tâm học liệu Bộ giáo dục, 1972… Các công trình
Trang 11nghiên cứu trên đã trình bày về quá trình hình thành, căn nguyên, nguồn
gốc, nội dung tư tưởng đạo đức chủ yếu trong triết học Ấn Độ cổ đại
Nhìn chung các công trình trên, chưa có công trình nào thật sự đi sâu, nghiên cứu một cách có hệ thống tư tưởng đạo đức trong triết học Ấn Độ cổ đại Do đó, trên cơ sở kế thừa và phát triển kết quả của các công trình nghiên cứu trên, người viết đã tiếp tục tìm hiểu và làm rõ những nội dung cơ bản về tư tưởng đạo đức trong triết học Ấn Độ cổ đại, để từ đó rút ra giá trị lịch sử của tư tưởng đạo đức này góp phần vào quá trình giáo dục đào tạo
con người Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích của luận văn
Thông qua việc nghiên cứu một cách có hệ thống tư tưởng đạo đức trong triết học Ấn Độ cổ đại, luận văn nhằm làm sáng tỏ những nội dung và đặc điểm của tư tưởng đạo đức trong triết học Ấn Độ cổ đại Từ đó rút ra ý nghĩa lịch sử của nó đối với quá trình giáo dục đạo đức con người ở Việt Nam
* Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn phải hoàn thành những nhiệm vụ
cơ bản sau:
Một là, trên cơ sở trình bày, những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị,
xã hội – cơ sở hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại, luận văn tập trung phân tích làm rõ những nội dung tư tưởng đạo đức cơ bản của triết học Ấn Độ một trong những vấn đề trung tâm trong triết học Ấn Độ
cổ đại, qua hệ thống những khái niệm, phạm trù và quan điểm đạo đức của nó
Hai là, từ sự trình bày và phân tích làm rõ những nội dung cơ bản
trong tư tưởng đạo đức Ấn Độ cổ đại, luận văn còn rút ra đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho con người Việt Nam hiện nay
Trang 124 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nêu trên, trước hết luận văn được thực hiện trên cơ sở, lập trường thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời trong quá trình thực hiện luận văn, người viết đã sử dụng một số phương pháp khoa học liên quan đến đề tài như: phương pháp lịch sử và logic, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp diễn dịch và quy nạp cùng một số
phương pháp liên quan khác…
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa về mặt khoa học, luận văn góp phần làm sáng tỏ những nội
dung cơ bản trong quan niệm về đạo đức của các trường phái triết học Ấn
Độ cổ đại và ý nghĩa của nó trong việc góp phần xây dựng, giữ gìn và phát huy những nét đẹp truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay
Ý nghĩa về mặt thực tiễn, thông qua việc đánh giá những giá trị và hạn
chế cũng như ý nghĩa lịch sử của tư tưởng đạo đức trong các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại, luận văn đã rút ra những bài học trong việc giáo dục đạo đức, lối sống cho người Việt Nam hiện nay Ngoài ra, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy và phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học về đạo đức, về lịch sử triết học ở các trường cao đẳng, đại học và cho những ai quan tâm nghiên cứu về đạo đức trong triết học Ấn
Độ cổ đại
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương, 4 tiết và 8 tiểu tiết
Trang 13Chương 1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ VẤN ĐỀ TRUNG TÂM
TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
Ấn Độ được biết đến như là xứ sở của triết học và tôn giáo, nơi mà đời sống tâm linh của người dân Ấn Độ vô cùng phong phú, với đất nước có nhiều tín đồ mộ đạo Đặc biệt những tư tưởng, học thuyết triết học Ấn Độ cổ đại vừa có giá trị sử học, văn học, vừa có ý nghĩa triết lý học đạo đức sâu
sắc Những tư tưởng đạo đức của các trường phái triết học Ấn Độ chịu ảnh
hưởng sâu sắc bởi điều kiện sống và sinh hoạt xã hội Ấn Độ cổ đại Đúng như C.Mác đã nói: “Chính con người khi phát triển sự sản xuất vật chất và
sự giao tiếp vật chất của mình, đã làm biến đổi cùng với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình Không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức” [56, tr 38] Vì vậy, khi nghiên cứu tư tưởng đạo đức Ấn Độ cổ đại không thể không tìm hiểu điều
kiện lịch sử xã hội và cơ sở xã hội hình thành tư tưởng này
1.1 KHÁI QUÁT NHỮNG ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ,
XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ
CỔ ĐẠI
1.1.1 Đặc điểm điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội với việc hình thành tư tưởng đạo đức trong triết học Ấn Độ cổ đại
Về điều kiện địa lý, Ấn Độ cổ đại bao gồm phần đất Ấn Độ hiện đại
cùng với Pakistan, Népal và Bangladesh Cả ba hướng Bắc, Nam và Tây Bắc Ấn Độ đều có núi non hiểm trở, ngăn cách Ấn Độ với thế giới bên ngoài, chỉ có phía Nam tương đối bằng phẳng, đưa Ấn Độ tiến ra vùng Ấn
Độ dương, đèo Taxila phía Tây Bắc sang vùng Trung Á Nhìn từ bản đồ, ta thấy Ấn Độ cổ đại là một bán đảo nằm ở khu vực Nam Á Ấn Độ như một
Trang 14hình tam giác mênh mông, đáy ở phía Bắc tức là dãy Himalaya (Hy mã lạp sơn), nổi tiếng Dịch từ tiếng Sancrit, Himalaya có nghĩa là nơi cư trú của tuyết Theo quan niệm của người Ấn Độ cổ thì đây là nơi cư trú và đi về của các vị thần linh Trong đó có 40 ngọn núi cao trên 7000 mét so với mực nước biển Đỉnh ở phía Nam, quanh năm nóng như thiêu đốt khiến cho đất đai khô cằn và con người trở nên chai sạn, lam lũ Những người nông phu làm việc cực khổ mới có thể làm ra được một chút ít sản phẩm chưa chắc đã đủ nuôi
mình Phía Tây là Ba Tư Tiến về phía Đông là Kandahar (xưa mang tên là
Gandhara), nơi mà nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp và Ấn Độ dung hòa với nhau trong một thời gian rồi tách ra nhau Ở cực Bắc Ấn Độ là tỉnh Kashmir nơi đây từng trải qua những tháng ngày vinh quang của nghệ thuật dệt Ấn Độ
Ấn Độ chia làm hai miền Nam Bắc Miền cực Bắc Ấn Độ có hai con sông lớn là sông Ấn (Indus) gọi theo tiếng Hy Lạp, cư dân địa phương gọi là Sindhu và sông Hằng (Gange) Hai con sông này đều chảy từ ngọn núi vĩ đại Himalaya, tạo nên đồng bằng Ấn Độ phì nhiêu nổi tiếng Tuy cùng bắt nguồn
từ chân Himalaya nhưng chúng lại chảy theo hai hướng ngược nhau Trong đó, sông Ấn chia làm năm nhánh, nên vùng đồng bằng ở năm nhánh sông ấy được gọi là vùng Pendjab, nghĩa là vùng năm con sông Trong đó gồm sông Indus và bốn nhánh sông chính là: Ravi; Thelum; Chenar; Sutleji bồi đắp thành một vùng đồng bằng rộng lớn Tên nước Ấn Độ là gọi theo tên dòng sông này Sông Ấn dài trên 1500km chảy theo hướng Tây Nam qua vùng Pendjab Tây,
đổ ra vịnh Oman Chính nơi đây từ thiên niên kỷ thứ III trước Công nguyên đã nảy sinh ra nền văn hóa nổi tiếng là Mohenjo Daro và Harappa
Sông Hằng ở phía Đông được coi là một dòng sông linh thiêng Nó bắt nguồn từ dãy Hymalaya, choàng ngang cả phía Bắc Ấn Từ xưa nhân dân Ấn Độ thường đến khúc sông ở thành phố Vanarasi (Benares) để cử hành lễ tắm mang tính chất tôn giáo Với dòng nước mát và phù sa màu mỡ
Trang 15của nó, sông Hằng là cái nôi phát triển của nền nông nghiệp lúa nước cổ xưa
và là nơi phát sinh ra các quốc gia chiếm hữu nô lệ đầu tiên ở Ấn Độ cổ đại Đặc biệt nước sông Hằng đối với người Ấn Độ có sức thanh tẩy rất màu nhiệm Đến với sông Hằng và được tắm nước sông Hằng người ta cảm thấy tĩnh tâm, thanh thản và như trút đi hết mọi cực khổ, lo âu của cuộc đời Do vậy, sông Hằng được coi là người mẹ bao dung nhân từ Chính vì phẩm chất thanh lọc đặc biệt ấy mà việc tắm nước sông Hằng đã trở thành một sinh hoạt tôn giáo thiêng liêng Nơi đây cũng đã chứng kiến bao nhiêu cảnh suy hưng của các triều đại
Ở miền Bắc, đồng bằng lưu vực sông Indus và sông Gange bị chia thành hai phần Đông và Tây bởi dãy núi Aryawatar và vùng sa mạc Thar nóng nực như thiêu như đốt Cả hai dòng sông này bồi đắp thành hai đồng bằng màu mỡ
ở miền Bắc Ấn Độ, vì vậy nơi đây đã trở thành cái nôi của nền văn minh của đất nước này Cư dân Ấn Độ gồm hai thành phần chính: người Dravida chủ yếu cư trú ở miền Nam và người Arya chủ yếu cư trú ở miền Bắc
Miền nam Ấn Độ là cao nguyên Decan rộng lớn có nhiều rừng rú và khoáng sản Vùng cao nguyên Decan có rất nhiều sông ngòi chảy qua và đổ
ra biển, song mực nước của các con sông này chảy không đều nên không thuận lợi cho việc giao thông Miền Bắc Ấn Độ dãy Hymalaya quanh năm tuyết phủ, các cơn cuồng phong ào ào thổi bất tận, khi những cơn gió lạnh thấu xương đó gặp hơi nước nóng tạo thành những đám sương mù dày đặc u
ám Cùng với sự phong phú và phức tạp của điều kiện thiên nhiên, khí hậu
Ấn Độ cũng vô cùng khắc nghiệt, gây ra cho con người biết bao hiểm họa khôn lường Do đó, con người cảm thấy mình nhỏ bé khi đứng trước thiên nhiên hùng vĩ Chính điều kiện thiên nhiên kỳ diệu, phong phú và khắc nghiệt ấy đã tác động mạnh mẽ đến đời sống vật chất và tinh thần, đến phong tục tập quán, tâm lý, tín ngưỡng tôn giáo, đặc biệt là ảnh hưởng đến
Trang 16quá trình hình thành tư duy cao siêu của dân tộc Ấn Độ Những tư tưởng của người Ấn Độ không chỉ ảnh hưởng từ điều kiện tự nhiên mà còn bởi môi trường xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hóa, lịch sử… Do vậy, khi tìm hiểu
về những tư tưởng hay bất kì một học thuyết triết học nào chúng ta phải gắn
nó với những điều kiện hình thành nhất định
Về kinh tế, khoảng 6000 năm trước, người Dravidian đã sống quần cư
dọc theo lưu vực hai con sông lớn – sông Ấn và sông Hằng Họ sống chủ yếu là canh tác nông nghiệp, thuần dưỡng gia súc, chế tạo đồ gốm Khoảng
3000 năm trước Công nguyên con người đã biết dùng rìu đồng và rìu đá để chặt cây, khẩn hoang Ngoài ra, họ còn biết chế tạo nhiều loại công cụ như: liềm, cưa, dao, kiếm, lưỡi câu từ đồng thau Cư dân Harappa chủ yếu sống bằng nghề nông Họ đã biết đắp đê, đào sông dẫn nước vào đồng ruộng, biết chế tạo ra cày bằng đồng do trâu kéo, biết thuần dưỡng trâu bò, dê, lợn, chó… Cùng với sự phát triển kinh tế ở Ấn Độ đã xuất hiện nhiều thành thị tiêu biểu như Harappa và Mohendjo – Daro Nhìn chung thời kỳ Ấn Độ cổ đại lãnh vực kinh tế có những bước tiến vượt bậc
Khoảng năm 2000 trước Công nguyên, Ấn Độ thuộc về người Aryan
là bộ lạc du mục, họ đến Ấn Độ định cư, phát triển sản xuất nông nghiệp, dùng trâu bò làm sức kéo Nhưng vị trí quan trọng nhất trong kinh tế của họ
là đàn gia súc Đặc biệt sau thời gian dài chung sống, người Aryan và người Dravidian đã đồng hóa với nhau Người Aryan đã sớm tiếp thu kỹ thuật, văn minh của người Dravidian, do chiếm được những vùng đất đai màu mỡ và thuận lợi, người Aryan bắt đầu chuyển từ chăn nuôi du mục sang đời sống nông nghiệp định cư, phát triển các nghề thủ công nghiệp và thương nghiệp
Từ đó tạo ra bước thay đổi các quan hệ xã hội Mặc dù người Aryan mới đầu sống chủ yếu nhờ chiến tranh, cướp bóc nhưng sau đó họ biết trồng lúa mạch Dưới thời Magadha công cụ lao động bằng sắt đã được sử dụng phổ
Trang 17biến Bên cạnh đó họ còn biết sử dụng những công cụ để khai thác kim loại vàng và bạc
Về nông nghiệp, Ấn Độ cổ đại đã có sự phát triển tương đối cao, họ mở
rộng diện tích đất canh tác, khai khẩn đất đai, trồng trọt các loại ngũ cốc mới, đồng thời mở mang các công trình thủy lợi, trên bộ, giao thông và chuyên chở dùng ngựa và xe bò hai bánh Ngoài ra, thời kỳ này người Ấn Độ cổ đại còn biết sử dụng các tàu buồm nhỏ, dùng nhiều mái chèo chở các thổ sản như: hương liệu, tơ lụa, bông vải, khăn san, sa lược, trân châu, hồng ngọc, mun, gỗ quí, kim tuyến, gấm thêu ngân tuyến… qua bán ở Ả Rập, Ai Cập
Nghề thủ công, cũng đạt được một số thành tựu đáng kể, nó tách khỏi
nông nghiệp và những người thợ thủ công tụ tập thành những tổ chức đặc biệt kiểu như phường hội, những nghề thủ công phát triển nhất thời đó là nghề dệt bông, đay, đồ trang sức Kinh tế tự nhiên trong thời kì này rất phát triển song hành với thương nghiệp, sự xuất hiện một tầng lớp mới – tầng lớp thương nhân quý tộc, nhiều thành phố trở thành trung tâm thủ công nghiệp
và thương nghiệp quan trọng, các thành thị được nối liền với nhau bằng những con đường giao thông thương mại – thủy bộ Người Ấn Độ cổ đại đã
có sự giao lưu buôn bán từ Ấn Độ qua Trung Hoa, Ai Cập và miền trung Á
Đặc trưng của nền kinh tế trong công xã nông thôn thời kỳ này là kinh
tế tiểu nông kết hợp chặt chẽ với thủ công nghiệp gia đình nên tính chất tự cấp tự túc là nổi bật và việc quan hệ trao đổi giữa các công xã rất yếu ớt Các thợ thủ công còn biết tổ chức chặt chẽ thành các phường như: phường
da, phường kim thuộc, phường mộc, phường đan thúng, phường ngà, chèo ghe, săn bắn, làm mứt, làm bếp, cạo râu Điều này chứng tỏ đời sống của người dân trong thời kỳ này khá phát triển Phường tự qui định lấy công việc làm ăn và có khi còn làm trọng tài xử các cuộc xích mích trong gia đình, cũng như giữa những người trong phường Nguyên tắc buôn bán trong thời
Trang 18kỳ này không lệ thuộc vào quy luật cung cầu, người bán nói thách mà kẻ nào ngớ ngẩn thì phải mua đắt, tuy nhiên ở triều đình cũng có một viên chức xem xét các món hàng và định giá bán cho người sản xuất
Tiền tệ, ban đầu biểu hiện dưới dạng bằng các hiện vật và trao đổi
bằng hiện vật, sau đó dùng gia súc làm bản vị, sau cùng người ta dùng một thứ tiền đồng rất nặng, chỉ được tư nhân đảm bảo thôi không có ngân hàng, tiền dành dụm được thì để trong nhà, chôn dưới đất hoặc giao cho bạn bè giữ dùm Tới thời Thích Ca người ta bắt đầu dùng tín dụng, lãi 18 phân mỗi năm, họ cũng dùng nhiều hối phiếu Có lúc vua mở sòng bạc cho dân chúng nướng tiền, mục đích làm cho quốc khố dồi dào Như vậy, thời kỳ này nhìn chung kinh tế khá phát triển nó đã kéo theo đời sống vật chất sung túc, do đó con người có nhiều điều kiện học hỏi, nghiên cứu, tìm tòi, mở rộng tư duy nhận thức, đây cũng là cơ sở góp phần hình thành những học thuyết, tư tưởng triết học, đạo đức, tôn giáo Ấn Độ cổ đại C.Mác – Ph.Ănghen nhận định: “Con người dù tự giác hay không tự giác, rút cuộc đều rút ra những quan niệm đạo đức của mình từ những quan hệ thực tiễn đang làm cơ sở cho
vị trí giai cấp của mình, tức là từ những quan hệ kinh tế trong đó người ta sản xuất và trao đổi” [57, tr 136]
Về chính trị - xã hội, trong thời kỳ người Aryan xâm chiếm Ấn Độ và
chinh phục người Dravidian thì người Aryan đã bị chính người bản địa đồng hóa bởi lối sống nông nghiệp, định cư và ngược lại người Dravidian cũng đã
bị ảnh hưởng bởi lối sống du mục của người Aryan, sự kết hợp tuyệt vời giữa hai lối sống này đã hình thành nên thời đại đồ sắt Từ đó đưa xã hội Ấn
Độ cổ đại bước sang thời đại mới và cũng từ sự kết hợp này đã làm nảy sinh trong lòng xã hội Ấn Độ những mâu thuẫn sâu sắc, khi người Aryan tự cho mình là tộc người thượng đẳng, bề trên, cho mình cái quyền thống trị kẻ khác, do đó đã hình thành chế độ phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt, tác động
Trang 19sâu sắc toàn bộ đời sống xã hội Ấn Độ cổ đại: “Việc người Aryan đến Ấn
Độ đã làm nảy sinh những vấn đề mới – chủng tộc và chính trị Người Dravidian, chủng tộc bị người Aryan chinh phục, đã hưởng thụ một nền tảng văn minh lâu đời, nhưng chắc chắn người Aryan đã tự coi mình là siêu đẳng hơn, do đó đã tồn tại một hố sâu ngăn cách hai chủng tộc Từ sự xung đột và tác động qua lại giữa các chủng tộc này, đã dần dần hình thành nên hệ thống đẳng cấp, và qua nhiều thế kỷ liên tiếp, hệ thống đẳng cấp này đã ảnh hưởng rất sâu sắc đến đời sống Ấn Độ” [48, tr 170] Do vậy, có thể kết luận khi người Aryan đến Ấn Độ đã làm phát sinh mâu thuẫn xã hội đó là vấn đề chủng tộc và chính trị, là cơ sở cho sự ra đời của chế độ phân biệt đẳng cấp
ở Ấn Độ sau này
Hệ thống đẳng cấp là một hiện tượng xã hội, nó có nguồn gốc sâu xa hàng ngàn năm trong xã hội Ấn Ðộ cổ đại Trong Rig – Veda, một trong các văn bản thiêng liêng và sớm nhất của Ấn giáo, đã có giải thích về việc phân chia Thần Ngã (purusa), căn cứ theo sự phân chia từng bộ phận của Ngài mà trong xã hội Ấn Độ cổ đại đã phân hóa thành các đẳng cấp khác nhau
“Varna” có nghĩa là màu sắc, một đặc điểm về chủng tộc, mà người Aryan vẫn lấy làm hãnh diện và tự phân biệt với dân bản sứ có màu da nâu sậm Varna là những nhóm xã hội khác nhau của những người tự do, không bình đẳng về quyền hạn, trách nhiệm và vị trí xã hội Thời kỳ đầu: “Khi đến Ấn
Độ, xã hội bộ lạc của người Aryan đã có sự phân chia thành hai đẳng cấp: quý tộc (Kshatriya) và thường dân (Vaishya) Đến cuối thời Rig – Veda, số đẳng cấp trong xã hội Aryan đã tăng lên tới bốn đẳng cấp” [9, tr 24] Như vậy, nguồn gốc của sự phân chia đẳng cấp được tìm thấy trong kinh Rig – Veda, trong những Veda đã ghi rõ có 4 loại đẳng cấp chính:
1) Đẳng cấp Brahmana, là những tăng lữ, tu sĩ Bàlamôn Đẳng cấp này được coi là cao quý nhất, có quyền giảng kinh Veda và tiến hành các
Trang 20nghi thức tôn giáo, nắm mọi quyền lực không ai được xâm phạm Theo quan niệm của người Ấn Độ cổ, đẳng cấp Bàlamôn được sinh ra từ miệng thần Brahmana, là đẳng cấp sinh ra sớm nhất và có sự hiểu biết về kinh Veda nên cần phải thống trị toàn thế giới Do đó, họ là đẳng cấp ưu tú nhất trong loài người Với quyền uy được thần thánh hóa nên họ có nhiệm vụ chăn dắt phần hồn, phần tinh túy nhất của con người Họ được hưởng mọi đặc quyền đặc lợi trong xã hội được coi là “bá chủ vũ trụ”, được tăng cường bảo vệ bằng pháp luật hình sự Giáo sĩ Bàlamôn là những người hoàn thiện và do đó được phục vụ cho họ là đặc ân đối với các Shudra Kinh của Bàlamôn giáo từng ghi rõ: “Một người Bàlamôn dưới 10 tuổi cũng có thể coi là cha của một kẻ ở các đẳng cấp dưới, dầu cho kẻ ấy 100 tuổi” Vì những nguyên nhân trên mà dân chúng phải nuôi họ hoặc riêng biệt từng người, hoặc góp sức cùng nhau mà cúng dường nuôi họ, công việc đó không phải là chuyện bố thí
mà được coi là bổn phận thiêng liêng của mỗi người dân Nếu người thuộc đẳng cấp Bàlamôn không may bị người Paria giẫm lên cái bóng của mình thì người Bàlamôn phải làm lễ thanh tẩy bằng cách nhịn ăn và tắm nước thánh suốt cả ngày hôm đó Luật Menu còn đưa ra quy định kẻ nào mới có ý định đánh người Bàlamôn thì sẽ bị đẩy xuống địa ngục một trăm năm, nếu thực sự đánh người Bàlamôn sẽ bị đẩy xuống địa ngục một ngàn năm
2) Đẳng cấp Kshatriya, họ là những vương công, võ sĩ, có nhiệm vụ trông coi việc nước, duy trì trật tự xã hội Đồng thời có nhiệm vụ bảo vệ vua chúa, lãnh thổ và mùa màng, họ được đọc kinh Veda và tham dự các buổi tế
lễ, họ là những người nắm quyền lực về chính trị Theo quan niệm của người Ấn Độ đẳng cấp Ksatriya được sinh ra từ hai vai thần Brahmana Theo kinh sách đạo Jaina cho rằng đẳng cấp Kshatriya là cao quý hơn cả Trong thời chiến những người Kshatriya đóng vai trò quan trọng với tư cách
là những người đứng đầu việc tổ chức kiến thiết quốc gia và chỉ huy quân
Trang 21đội, các vương công, tướng lĩnh được coi là đẳng cấp cao nhất trong xã hội
Vì họ cho rằng chết trên sa trường mới là vinh quang, còn chết trên nhung lụa là nhục nhã Nhưng dần dần khi chiến tranh chấm dứt, hòa bình lập lại, người ta cần phát triển sản xuất canh nông, mở mang tri thức và sinh hoạt tôn giáo, đặc biệt theo người Ấn Độ cổ thì chỉ với việc cúng tế qua các nghi
lễ tôn giáo mới có thể giúp cho con người tiếp xúc được với thượng đế, cầu cho tai qua nạn khỏi, mùa màng bội thu, khi đó cần có một hạng người chuyên môn làm trung gian giữa người và quỷ thần cho nên vị thế của đẳng cấp Kshatriya cũng theo đó mà giảm dần
3) Đẳng cấp Vaishya – những người làm ruộng công xã, thợ thủ công, thương nhân, điền chủ và dân tự do, nắm quyền lực về kinh tế Họ thuộc tầng lớp bình dân, có một số giàu có lên Tuy họ không có được đặc quyền trong xã hội, phải nộp sưu thuế, phục vụ lớp người bóc lột thuộc hai tầng lớp trên, song họ vẫn có thân phận tự do Không phải là nô lệ mà dưới thời Phật Thích Ca, chưa thành một tập cấp rõ rệt nhưng họ có thể cũng được học kinh Veda và tham gia các buổi tế lễ Trong cuốn Rig – Veda cho rằng đẳng cấp Vaishya được sinh ra từ bắp đùi thần Theo thuyết Bàlamôn hai Varna đầu là cao quý nhất, do đó họ có quyền điều khiển công việc quốc gia và Vaishya chỉ có vai trò làm ruộng, nghề thủ công và buôn bán
4) Đẳng cấp Shudra – là những người lao động, gồm đa số tiện dân và
nô lệ Đẳng cấp này được sinh ra từ chân thần Brahmana và có nhiệm vụ phục vụ các đẳng cấp trên nhưng không được học kinh và làm lễ Họ cũng không được hưởng đặc quyền, đặc lợi gì Công việc chủ yếu của họ là đánh
cá, săn bắn và những việc nặng nhọc khác, không được pháp luật bảo hộ, không được tham gia vào các hoạt động tôn giáo Theo quy định giáo lý Bàlamôn “nếu một người Shudra mà nghe thánh kinh thì tai sẽ bị điếc, bị đổ chì vào tai, nếu tụng thánh kinh thì lưỡi sẽ bị cắt ra, nếu muốn học thuộc
Trang 22lòng thánh kinh thì thân thể sẽ bị chặt làm đôi” [16, tr 48] Hay “một người Shura mà giết một người Shura thì có thể được tha tội nếu nộp phạt 10 con
bò cái; một người Shura mà giết một người Vaishya sẽ có thể được tha tội chết nếu nộp phạt 100 con bò cái; một người Shura giết một người Kshatriya thì phải nộp 1000 con bò cái mới được tha tội chết Nhưng nếu họ giết một người Bàlamôn thì không có cách gì chuộc tội được, nhất định sẽ bị xử tội chết” [16, tr 51 – 52]
Ngoài ra, trong xã hội Ấn Độ cổ đại còn có những người ở ngoài bốn đẳng cấp trên, đó là tầng lớp dân cùng đinh, hạ đẳng, ti tiện nhất gọi là Paria
Họ gồm những bộ lạc thổ dân không cải tôn, như bộ lạc Chandala, những tù binh những kẻ bị tội mà thành nô lệ Về nguyên tắc, đẳng cấp này không được sinh hoạt giao tiếp với những người ở đẳng cấp trên Vì họ bị coi là những người làm nghề thấp hèn, không trong sạch, ô uế như: thợ đồ tể, thợ thuộc da, phu đòn đám ma và những đứa con ngoài giá thú bị giáng đẳng cấp Luật Manu quy định họ phải sống ngoài rìa làng và ở cuối gió để các đẳng cấp khác khỏi bị nhiễm sự xú uế do họ mang lại Họ phải ăn bằng những bát mẻ và dùng những đồ giống như chó và lừa Những người làm nghề tôn giáo chăn dắt phần hồn của con người tuyệt đối không được tiếp xúc với họ vì có thể bị nhiễm sự ô uế Khi họ muốn đi qua cổng của một khu phố hay khu chợ nào đó thì phải dùng hai thanh gỗ gõ vào nhau để báo trước cho mọi người ở đẳng cấp trên biết mà kịp thời tránh xa
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng mục đích của việc phân chia đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ cổ đại là nhằm bảo vệ quyền lợi và địa vị của giai
cấp thống trị dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, và thiết lập một trật tự xã hội có
giá trị vĩnh viễn Ngoài ra, để bảo vệ địa vị và quyền lợi bất di bất dịch cho những đẳng cấp bên trên, các bộ luật cổ Ấn Độ còn đặt ra các điều luật rất nghiêm ngặt quy định quyền lợi, nghĩa vụ cho mỗi đẳng cấp xã hội, mà họ cho
Trang 23rằng đó là trật tự an bài có tính thiền định, theo ý chí của thần thánh Việc phân chia ngặt nghèo các varna còn được thông qua pháp lí là luật Manu và hậu quả tất nhiên do tiền kiếp tạo thành, con người phải thản nhiên chịu đựng và cố gắng tôn trọng kỷ luật của đẳng cấp Do đó, chế độ đẳng cấp Varna đã ảnh hưởng tới văn hóa và xã hội Ấn Độ cổ đại, nó đóng vai trò nhất định giữ cho xã hội Ấn Độ cổ đại phát triển ổn định, được coi là bất biến
Ở khía cạnh khác, chế độ phân biệt đẳng cấp đã chia cắt xã hội thành những tập đoàn khép kín, biệt lập, làm xã hội Ấn Độ cổ đại thêm mâu thuẫn, phức tạp, tính chất ngày càng gay gắt, cản trở bước tiến của sản xuất và nó còn tồn tại dai dẳng tới tận ngày nay “Chế độ phân biệt đẳng cấp không chỉ góp phần quy định cơ cấu, trật tự xã hội Ấn Độ mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến nội dung và tính chất của các quan điểm triết lý tôn giáo Ấn Độ cổ đại” [15, tr 32]
Ngoài việc bị chi phối bởi chế độ phân biệt đẳng cấp thì xã hội Ấn Độ
cổ đại còn bị kìm hãm bởi sự kiên cố của chế độ công xã nông thôn Trong số các quốc gia phương Đông, Ấn Độ là nơi công xã nông thôn tồn tại vững chắc và lâu dài nhất Cơ sở của sự tồn tại vững chắc của công xã nông thôn gồm hai mặt chủ yếu là ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước và nền kinh tế tự cấp tự túc, trong đó chủ yếu là sự kết hợp chặt chẽ giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp Trên cơ sở toàn bộ ruộng đất thuộc về nhà nước, ở các địa phương ruộng đất được giao cho các làng quản lý Vốn dựa trên mối liên hệ có tính chất gia trưởng giữa lao động nông nghiệp và lao động thủ công nghiệp vì vậy nó làm cho đời sống xã hội hết sức trì trệ và chậm chạp
Công xã nông thôn ở Ấn Độ cổ đại không chỉ là một đơn vị kinh tế độc lập mà còn là đơn vị hành chánh có quyền tự trị rất lớn Nhà nước hầu như không hề can thiệp vào nội bộ của công xã và làng xã Mọi nghĩa vụ đối với nhà nước đều bổ vào công xã chứ không bổ vào đầu cá nhân mỗi thành viên công xã Trong mỗi công xã có cơ quan hành chính riêng và những
Trang 24chức vụ hành chính của cơ quan này do công xã bầu ra hoặc cha truyền con nối Chính vì thế nó đã tác động mạnh mẽ đến đời sống vật chất và ghi dấu
ấn sâu đậm trong đời sống tinh thần tư tưởng, tôn giáo của dân tộc Ấn Độ
cổ Vì vậy, nó đã hạn chế lý trí con người, biến con người trở thành công cụ ngoan ngoãn của niềm tin tôn giáo, cam chịu trước mọi hoàn cảnh Tạo điều kiện cho giai cấp quý tộc chủ nô lợi dụng bộ máy nhà nước ra sức bóc lột nô
lệ một cách tàn khốc Vì thế, C.Mác đã viết: “Chúng ta không được quên
rằng những công xã nhỏ bé ấy mang dấu ấn của sự phân biệt đẳng cấp và của chế độ nô lệ, rằng những công xã ấy làm cho con người phục tùng những hoàn cảnh bên ngoài, chứ không nâng con người lên địa vị làm chủ những hoàn cảnh ấy, rằng những công xã ấy đã biến trạng thái tự động phát triển của xã hội thành một số phận bất di bất dịch do thiên nhiên quyết định trước, và do đó, đã tạo ra sự sùng bái thiên nhiên một cách thô lỗ, mà sự thoái hóa biểu hiện đặc biệt ở chỗ con người, kẻ làm chủ thiên nhiên, lại phải thành kính quỳ gối trước con khỉ Hanuman và trước con bò cái Sabbala” [57, tr 177 – 178] Với tính chất kìm hãm của chế độ công xã nông thôn như thế, buộc những người bị áp bức phải có ý nghĩ về sự cần thiết phải phục tùng và quy thuận điều luật xã hội đặt ra Từ bỏ những ý nguyện cải tạo điều kiện sống của mình, từ bỏ những ý nguyện cải tạo xã hội Đây là một trong những nguyên nhân góp phần làm nảy sinh tư tưởng đạo đức trong triết học Ấn Độ cổ đại
Cũng trong thời kỳ này, khoảng thế kỷ thứ VI trước Công nguyên đến thế kỷ I trước Công nguyên chế độ nô lệ phát triển khá mạnh và để lại dấu
ấn sâu đậm trong lòng xã hội Ấn Độ cổ đại Theo ngôn ngữ Ấn Độ cổ, nô lệ được gọi là “dasa”, vừa có nghĩa là nô lệ vừa có nghĩa là kẻ tôi tớ Đó là danh từ dùng để chỉ những hạng người mà thân phận bị lệ thuộc hoặc ít hoặc nhiều vào kẻ khác, kể cả nô lệ bị lệ thuộc hoàn toàn vào chủ nô Theo tập
Trang 25Arthashatra của Cautilya viết vào thế kỷ thứ IV trước Công nguyên cho rằng
có 15 loại nô lệ trong xã hội chiếm hữu nô lệ Ấn Độ cổ đại Đa số nô lệ đều thuộc chủng tính thấp nhất, do đó họ phải lao động khổ sai nặng nhọc trong các trang trại, xưởng thủ công, hầm mỏ dưới quyền sở hữu của nhà nước hay dưới quyền sở hữu cá nhân chủ nô Họ được coi là loại tài sản hai chân (dipada) thuộc quyền sở hữu của chủ nô như mọi tài sản khác Do đó, chủ nô
có quyền đem bán hoặc trao đổi như một loại gia súc trong nhà và có quyền phạt tội bắt lao động khổ sai, bắt nhịn ăn, nhịn uống cả ngày, cùm kẹp, đánh đập, thích dấu vào mặt… Mặc dù vậy, chế độ chiếm hữu nô lệ Ấn Độ cổ đại chưa đạt tới trình độ phát triển thuần thục như ở Hy Lạp – La Mã cổ đại Với tính chất đặc biệt đó đã tác động mạnh mẽ đến đời sống vật chất và ghi dấu ấn sâu đậm trong đời sống tinh thần, tư tưởng, tôn giáo của người dân
Ấn Độ cổ đại
Về văn hóa, mặc dù chịu sự chi phối sâu sắc của tôn giáo và sự bóp
nghẹt của chế độ phân chia đẳng cấp nghiệt ngã nhưng xã hội Ấn Độ cổ đại vẫn có những bước tiến lớn về văn hóa, khoa học, nghệ thuật Người Ấn Độ
cổ bị chi phối bởi những quan niệm xa xưa về luân hồi, nghiệp báo, thần linh, phần hồn, phần xác Họ xem cuộc đời con người được giới hạn bởi hai đầu sinh tử, cuộc đời của kiếp này là nghiệp, là kết quả nghiệp của kiếp trước, được phản ánh rõ qua những bài ca tụng trong kinh Veda Ngoài ra, với việc sáng tạo bộ kinh Veda, hai bộ sử thi Mahabarata, Ramayana, Bhagavad – Gita thể hiện rõ nét tư tưởng triết lý thần thoại tôn giáo và tư tưởng triết lý đạo đức nhân sinh sâu sắc, đây cũng là niềm tự hào của người Ấn Độ
Chữ viết, cũng được phát hiện sớm ở Ấn Độ, thời kỳ văn hóa sông Ấn
đã có chữ viết, phần lớn khắc trên đá hoặc đồ gốm chế thành các con dấu, có gần 100 chữ, trên các đồ gốm thuộc các thời kỳ đồ đá mới đã có ghi bằng chữ Brami Khi người Aryan xâm nhập vào Ấn độ họ đã dùng tiếng nói của
Trang 26mình để sáng tác ra bộ Kinh Veda (ngôn ngữ Veda) Từ thế kỷ VII và VI trước Công nguyên, Panini là một trong những nhà ngữ pháp vĩ đại nhất của mọi thời đại, đã viết bộ ngữ pháp đồ sộ bằng tiếng Phạn và đã sáng tác ra ngôn ngữ Sanskrit (ngôn ngữ này chỉ sử dụng trong tầng lớp quý tộc) Dân chúng mỗi vùng có một thứ tiếng khác nhau Do vậy, ở Ấn độ có rất nhiều ngôn ngữ bình dân như Pali (ngôn ngữ của Phật giáo), tiếng Tamin của người Dravidian ở miền Nam Ấn Ngoài ra, âm nhạc, khiêu vũ, nghệ thuật cũng phát triển mạnh mẽ vào thời kỳ này, những đồ cổ được đào ở Mohenjodaro như : tượng đàn ông bằng đá vôi, hình đàn bà và loài vật bằng đất nung, những hạt trai bằng hồng – mã não, bằng vàng rất bóng có thể sánh ngang bằng với nghệ thuật thời nay
Âm nhạc của Ấn Độ cổ đã có một lịch sử dài khoảng mấy ngàn năm
Các thánh ca trong kinh Veda mà ngay cả thơ Ấn cũng là để hát lên, theo nghi thức cổ thi và ca, nhạc và vũ chỉ là một Trong lịch sử Ấn Độ, rất nhiều thời đại cho vũ là một hình thức sùng bái thần linh, biểu diễn các cử động đẹp đẽ, uyển chuyển, nhịp nhàng để tỏ niềm tôn kính các thần linh Đối với người Ấn, vũ không phải chỉ nhằm mục đích cho khán giả coi mà đôi khi còn là diễn các tiết điệu, vận hành của vũ trụ Chính Shiva là thần vũ và vũ khúc Shiva tượng trưng sự vận hành của vũ trụ Nhạc sĩ Ấn cũng ở trong hoàn cảnh với các triết gia Ấn, cùng khởi đầu từ cái hữu hạn để cho tinh thần bay bổng lên chổ vô cùng nhằm đạt tới một tâm trạng gần như người tu
hành yoga, mất cả ý chí, quên cả bản ngã, tâm thần lần lần chìm vào một cõi
hòa hợp bí ẩn với một bản thể mênh mong và tĩnh, coi thường mọi ý muốn, ngay cả sự chết
Tóm lại, từ việc phân tích những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị,
xã hội, cùng với mong ước thân phận được giải thoát bởi những trói buộc của xã hội, mối quan hệ giữa người với người ngày càng được tốt đẹp hơn,
Trang 27giá trị con người được đề cao, là cơ sở thúc đẩy tư tưởng đạo đức trong triết học Ấn Độ cổ đại ra đời Thực tiễn cuộc sống đã chứng minh rằng: “Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ” [57, tr 136 – 137]
1.1.2 Các giai đoạn hình thành và phát triển của triết học Ấn Độ
cổ đại
Ấn Độ cổ đại là một trong những trung tâm văn hóa, tư tưởng lớn của nhân loại và cũng chính nơi đây đã khai sinh ra nhiều trường phái triết học
và tôn giáo lớn trên thế giới, với những học thuyết triết học, tôn giáo hết sức
đa dạng, sâu sắc nhằm lý giải căn nguyên của vũ trụ vạn vật, triết lý về bản chất và ý nghĩa của đời sống con người Điểm đặc biệt là, dù trải qua thời gian rất dài, triết học Ấn Độ vẫn luôn giữ được tính truyền thống đặc trưng của mình Với tính cách là hình thái ý thức xã hội triết học Ấn Độ đã phản ánh toàn bộ đặc điểm và quá trình biến đổi của đời sống xã hội Ấn Độ cổ đại Có thể phân chia quá trình hình thành và phát triển của triết học Ấn Độ
cổ đại thành hai thời kỳ chính:
Thời kỳ thứ nhất: Thời kỳ Veda – Sử thi (Từ thế kỷ XV trước Công nguyên đến thế kỷ VII trước Công nguyên) Trong thời kỳ này, việc tế tự
được chú trọng nhiều hơn vì người ta tin rằng nhờ những nghi thức tế lễ mà con người được thần linh thông cảm, được thần linh che chở và giúp cho giải thoát Mặt khác người ta vẫn không xao lãng công việc tư duy để tìm cách giải đáp cho những thắc mắc về sự cấu tạo của vũ trụ và đời người Dù nặng về tôn giáo và nhẹ về triết lý, Veda vẫn được coi là khởi nguyên của tất
cả mọi hệ thống tư tưởng và hình thức tôn giáo chính thống của Ấn Độ Thời kỳ này đã xuất hiện các quốc gia chiếm hữu nô lệ đầu tiên của người Aryan trên lưu vực sông Hằng Thời kỳ này triết học Ấn Độ đã trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau, phản ánh các thời đại khác nhau của xã hội
Trang 28Ấn Độ: Thời đại thứ nhất là thời đại Rig Veda (khoảng 1500 – 1000 trước Công nguyên) hay còn gọi là thời đại “Thần thoại vũ trụ quan” “Khi người
Aryan xâm chiếm Ấn Độ, họ đã có tục thờ phụng một thứ rượu mạnh làm từ cây Soma Vì thế Soma trở thành một thứ rượu dùng để dâng lên các thần linh Trong khi hành lễ, người chủ tế (hotri) vừa dâng rượu Soma vừa hát một bài thơ để xưng tụng vị thần của buổi lễ Đó là khởi nguyên của tập Rig – Veda, Rig nghĩa là xưng tụng” [52, tr 56] Đây là bộ kinh cổ của văn hóa Ấn Độ, gồm 1028 khúc hát, dùng để cầu nguyện những nhu cầu trong sinh hoạt hàng ngày cầu cho sự an cư lạc nghiệp, chăn nuôi phát triển, mưa thuận gió hòa…
Ngoài ra, Rig – Veda còn tụng niệm công đức của các vị thần linh, là hình thức đặc sắc của thế giới quan thần thoại tôn giáo, họ chưa phân biệt được sự khác nhau giữa con người với tự nhiên, lối tư duy có tính triết lý
dân gian cũng giống như Kinh Thi của Trung Hoa Đứng về phương diện tư
tưởng, thế giới quan thần thoại, tôn giáo mang tính chất đa thần tự nhiên thể hiện những quan niệm nguyên sơ về vũ trụ, nhân sinh của người Ấn Độ đã hình thành Tư tưởng Rig – Veda là tư tưởng mở đầu cho nền triết lý Ấn Độ
và cũng là cơ sở để triển khai những trào lưu tư tưởng sau này “Về sau, các nghi thức tế tự ngày càng phức tạp, người ta phải lập ra những trường đào tạo các nhà tư tế, soạn ra các bản thánh ca có vần điệu, tiết tấu để hát kèm với âm nhạc do đó có tập Sama – Veda, Sama nghĩa là tu điệu” [52, tr 56] Sama – Veda là tuyển tập các đoạn trong Rig – Veda, dùng để ca chầu trong khi tiến hành lễ nghi tôn giáo thường ngày “Trong các buổi lễ ngoài việc hát những bản thánh ca, nhà tư tế còn phải niệm những câu thần chú kèm theo mỗi động tác tế lễ, do đó có tập Yajur – Veda và Yajur có nghĩa là thần
chú” [52, tr 56] Các nhà nghiên cứu gọi thời đại này là thời đại Yajur –
Veda (thời đại Brahmana), đây là thời đại thứ hai (khoảng từ năm 1000 năm
trước Công nguyên đến năm 800 trước Công nguyên), thời đại này còn gọi
Trang 29là thời đại “Tế đàn vũ trụ quan” Yajur – Veda là bộ kinh tế tự, gồm những
công thức khấn vái, cầu xin thần linh, cách thức bài biện những đồ tế lễ
Yajur – Veda gồm hai bộ phận, Yajur – Veda trắng: gồm những công thức
thần chú tôn giáo và Yajur – Veda đen: nêu lên những ý kiến và thảo luận về
những nghi thức trên
Trong giai đoạn này cùng với việc xây dựng nên các quốc gia chiếm hữu nô lệ, chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội và những nghi lễ tôn giáo khá phức tạp và tôn nghiêm cũng được thiết lập Vì đẳng cấp Bàlamôn là người chuyên chủ trì các nghi lễ tôn giáo nên họ đã chế tác ra bộ kinh điển Brahmanas để chú thích và thuyết minh cho các nghi thức của Veda Tư tưởng Bàlamôn giáo có tính chất bao quát cả mặt thế giới quan, nhân sinh quan lẫn mặt nghi thức tế lễ
Riêng bộ Atharva – Veda (do đạo sĩ Atharva truyền lại), có tính chất
tham bác và khai triển ý nghĩa của ba bộ Rig – Veda; Sama – Veda; Yajur –
Veda Atharva – Veda là tuyển tập các thần chú ma thuật dùng cho các sự
khẩn cầu khác nhau như khấn vái, cầu phúc, cầu tài, giải hạn… gồm 731 bài Dần dần cùng với sự phát triển của thực tiễn đời sống và trình độ nhận thức, người Ấn Độ đã phát hiện giữa các sự vật, hiện tượng phong phú đa dạng của thế giới luôn có sự liên hệ thống nhất hữu cơ với nhau và đằng sau
có một lực lượng vô hình mạnh mẽ chi phối Do đó, quan niệm có tính chất
tự nhiên về các vị thần tượng trưng cho các hiện tượng tự nhiên và xã hội của thời kì đầu đã dần mờ nhạt thay vào đó tư tưởng về nguyên lý tối cao sáng tạo và chi phối vũ trụ vạn vật được gọi là thần tối cao “Prajapati”,
“Thần ngã” hay “Tinh thần thế giới vô ngã” Brahman… đã trở thành thế giới quan thống trị trong đời sống tinh thần xã hội
Người Ấn Độ đã bắt đầu ý thức về sự tồn tại của mình, họ suy ngẫm
về cuộc đời, số phận và đi tìm lẽ sống cho con người Người ta gọi thời đại
Trang 30này là thời đại Upanishad (khoảng 800 – 500 trước Công nguyên) Với sự
xuất hiện của Upanishad đánh dấu bước chuyển từ tư duy thần thoại tôn giáo sang tư duy triết học, nó đánh dấu một bước tiến bộ, cố gắng tách khỏi tư duy thần thánh, tôn giáo, đặc biệt là triết học về đời sống tâm linh con người
để lý giải mọi vấn đề theo tinh thần triết học như: đâu là bản nguyên của vũ trụ, vũ trụ do yếu tố nào cấu tạo nên, ý nghĩa sự sống, sự chết, những vấn đề thuộc nhận thức luận Trong giai đoạn này quan niệm về vũ trụ vạn vật của người Ấn Độ dần dần có sự thay đổi và cuối cùng họ đã khai sáng ra một thời đại triết học, lấy con người làm trung tâm để giải quyết các vấn đề triết
lý khác Đây chính là thời kỳ triết học tôn giáo Ấn Độ đi vào tìm hiểu, khai thác cái gọi là “bản ngã”, “tự thể” và đời sống tâm linh con người
Thời kỳ thứ hai: Thời kỳ Cổ điển hay thời kỳ Phật giáo – Bàlamôn giáo (bắt đầu từ thế kỷ thứ VI trước Công nguyên đến thế kỷ thứ III sau Công nguyên) Tư tưởng triết học thời kỳ này thể hiện cuộc đấu tranh giữa
kinh Veda, Upnishad và những tư tưởng ngoại đạo khác như Phật giáo, đạo Jaina, phái Lokayata, đặc biệt dưới triều vua Ashoka, Ấn Độ phát triển đến giai đoạn phồn thịnh nhất, Phật giáo được tôn vinh làm quốc đạo và được truyền bá rộng rãi Người ta gọi thời kỳ này là thời kỳ Phật giáo hay Bàlamôn giáo vì các trào lưu triết học thời kỳ này đều bắt nguồn từ tư tưởng truyền thống Veda và chịu ảnh hưởng sâu rộng bởi triết lý tôn giáo Bàlamôn Do đó, Bàlamôn được mệnh danh là hệ tư tưởng chính thống Nhưng cũng chính thời kỳ này xuất hiện những triết thuyết mới, chống lại tư tưởng truyền thống và giáo lý đạo Bàlamôn, đòi tự do tư tưởng và bình đẳng
xã hội, tiêu biểu là Phật giáo
Thời kỳ này những tư tưởng của chủ nghĩa duy tâm tôn giáo trong kinh Véda, Upanishad và giáo lý đạo Bàlamôn đã trở thành hệ tư tưởng chính thống trong xã hội Ấn Độ đương thời Mặc dù thời kỳ này tư tưởng
Trang 31truyền thống Bàlamôn vẫn chi phối đời sống tinh thần xã hội, vẫn đóng vai trò cho sự hình thành các trào lưu, các khuynh hướng triết học đương thời
nhưng do sự biến đổi trong đời sống xã hội, nên đã phát sinh ra những học
thuyết mới đầy sức sống, dám đương đầu với tư tưởng có tính kinh viện được coi là những tri thức mặc khải trong kinh Veda
Các trường phái triết học có tính chất thế giới quan và chủ trương tính ngưỡng khác nhau lần lượt xuất hiện, đặc biệt là tư tưởng triết lý, đạo đức nhân sinh mang tính nhân bản sâu sắc của Phật giáo và các môn phái triết học duy vật mà các kinh điển của Phật giáo cổ gọi là “Lục sư ngoại đạo” và phong trào
“hư vô chủ nghĩa” Dưới sự ảnh hưởng của tư tưởng triết lý Veda và giáo lý đạo Bàlamôn, các trường phái triết học đa dạng thời kỳ này tuy có nhiều xu hướng, nhưng nhìn chung có thể chia thành hai hệ thống chính: Hệ thống triết học chính thống, thừa nhận uy thế của kinh Veda và giáo lý đạo Bàlamôn, bảo
vệ cho chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội gọi là astika, gồm sáu trường phái triết học chính: Samkhya, Nyaya, Vaisesika, Yoga, Mimansa, Vedanta
Đối lập với sáu trường phái triết học trên là hệ thống triết học không chính thống, thoát ly văn hóa tư tưởng cổ truyền Veda, không thừa nhận uy thế tối cao có tính thiên khải của Veda, phê phán giáo lý đạo Bàlamôn, phản đối chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội gọi là nastika, gồm: Phật giáo, đạo Jaina và các môn phái “Lục sư ngoại đạo”, trong đó nổi bật là trường phái duy vật vô thần Lokayata hay còn gọi là phái Charvaka Với sự ra đời của phái Charvaka chấm dứt thời đại của các Veda và Upanishad
Như vậy, có thể khẳng định, triết học Ấn Độ là một nền triết học chịu ảnh hưởng lớn của những tư tưởng tôn giáo Trừ trường phái Lokayata, các trường phái còn lại đều có sự thống nhất giữa tư tưởng triết học và những tư tưởng tôn giáo Tuy nhiên, tính tôn giáo của Ấn Độ cổ đại có xu hướng là hướng nội, đặc biệt Phật giáo là một hệ thống tư tưởng thống nhất mà tất
Trang 32cả giáo lý Phật là nền tảng cho việc xây dựng con người vị tha và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình, tiến tới con người từ, bi,
hỷ, xả, con người Phật Chính vì vậy, xu hướng chú giải và thực hành những vấn đề nhân sinh dưới góc độ tâm linh tôn giáo nhằm đạt tới sự
“giải thoát” là xu hướng nổi bật của nhiều học thuyết triết học – tôn giáo
Ấn Độ cổ đại Cùng với sự tác động của chế độ chiếm hữu nô lệ mang nặng tính chất của chế độ công xã nông thôn, song hành với nó là sự thống trị của chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt, triết học Ấn Độ cổ đại
đã hình thành và phát triển
1.2 TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC - VẤN ĐỀ TRUNG TÂM TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1.2.1 Khái niệm đạo đức trong triết học Ấn Độ cổ đại
Dưới sự vận động của nền sản xuất xã hội, mối quan hệ giữa người với người ngày càng trở nên phức tạp, đa dạng hơn Từ đó tạo nên sự khác biệt về quyền lợi, nghĩa vụ cũng như vai trò, vị trí của từng cá nhân trong xã hội, vì thế, đánh dấu sự xuất hiện của tư tưởng đạo đức Với tư cách là một
bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức đã xuất hiện cách đây hàng ngàn năm trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại “Ở phương Tây, khái niệm đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là mos có nghĩa là
lề thói Moralis có nghĩa là thói quen, đạo nghĩa Ngoài ra, trong tiếng Hy Lạp còn có khái niệm Ethicos cũng có nghĩa là tập tục gắn với thói quen, còn luân
lí thường xem như đồng nghĩa với đạo đức Cả hai danh từ này đều chỉ đạo đức của xã hội, tức là nói về tập quán, tập tục, lề thói trong các quan hệ giao tiếp giữa con người với con người” [5, tr 9 – 10]
Phương Tây cổ đại, cách đây hàng ngàn năm trước Công nguyên, đã sản sinh nhiều bộ óc vĩ đại cùng với những tư tưởng, học thuyết đạo đức lớn cho nhân loại Do đó, khi tìm hiểu tư tưởng về đạo đức chúng ta không thể
Trang 33không tìm hiểu một số quan niệm về đạo đức của các triết gia tiêu biểu trong thời kỳ cổ đại như: Socrate, Démocrite, Platon, Aristotle…
Socrate (469 – 399 trước Công nguyên) là triết gia đầu tiên nêu lên
vấn đề đạo đức con người Theo ông: “Triết học là phương tiện dạy con người sống, là tri thức về con người, dành cho con người, nói cách khác tri
thức ấy là tri thức về cái Thiện Nếu đạo đức là hành động, là xử thế đẹp, thì đạo đức cũng phải trở thành một tri thức, một khoa học, gọi là khoa học về
cái Thiện, dạy con người tự hoàn thiện mình tức là dạy con người hiểu bản
chất sự vật và hành động phù hợp với cái Thiện, theo sự hướng dẫn của lý trí” [32, tr 91] Như vậy, giữa đức hạnh và tri thức có sự đồng nhất với nhau, nếu đức hạnh liên quan tới việc làm cho linh hồn tốt đến mức nhiều nhất có thể thì điều cần thiết trước hết là phải biết cái gì làm cho linh hồn trở nên tốt Có như thế sẽ định hướng con người đi đúng trên con đường hoàn thiện bản thân thì đạo đức buộc phải trở thành một khoa học, đó là khoa học
về cái thiện Đức hạnh và những biểu hiện của nó như lương tri, gan dạ, sự ngoan đạo, công bằng… Đều là tri thức, giúp lựa chọn điều lành và tránh xa điều dữ Với tính cách đạo đức là khoa học, nó đòi hỏi con người phải biết ý thức về cái thiện, về đức hạnh nói chung Nó phải trở thành khoa học về sự hoàn thiện phẩm chất con người Socrate nhấn mạnh bốn đức hạnh: “Khôn
ngoan, tiết độ, can đảm, khiêm tốn Khôn ngoan: biết mình cư xử đúng, chủ động trong mọi tình huống; tiết độ: tiết chế dục vọng, biết chịu đựng, giữ trạng thái cân bằng; can đảm: chống lại các ham muốn thái quá, không sợ chết
Khiêm tốn: luôn nhủ rằng mình còn dốt, đặt mình ở điểm xuất phát, để đi từng
bước một, thận trọng, vững chắc, trên con đường hướng tới chân lý” [32, tr 94] Điều này cho thấy quan điểm đạo đức của Socrate thiên về sùng bái con người lý trí, do đó dễ dẫn đến cực đoan Như vậy, tri thức và đức hạnh đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành quan niệm đạo đức của Socrate
Trang 34Démocrite (460 – 370 trước Công nguyên), quan niệm đạo đức của
ông chứa nhiều điểm có giá trị Theo Démocrite, là con người trước hết sống phải sống có đức hạnh, cái quý của con người là ở tính cách tinh thần, con người tốt không làm điều phi nghĩa ngay cả trong ý nghĩ, chính trong bất hạnh ta cần trung thành hơn với nghĩa vụ thiêng liêng Nhưng đức hạnh đạt được không bằng cưỡng chế, mà bằng thuyết phục với những chứng lý của trí tuệ, bằng giáo dục, học vấn Giáo dục tốt nhất là giáo dục trong môi trường gia đình “Triết lý đạo đức của Démocrite xây dựng mẫu hiền nhân, tương tự như mẫu người quân tử trong triết học Nho giáo phương Đông Hiền nhân không màng danh lợi, không ham của cải, cảm nhận hạnh phúc nơi tâm hồn Con người hơn con vật ở nguồn lực tâm hồn Ông đánh giá cao trung dung và điều độ trong thái độ sống” [32, tr 76] Như vậy, khi bàn về đạo đức Démocrite đề cao vai trò của đức hạnh
Platon (427 – 347 trước Công nguyên), cho rằng “con người phải biết
sống thiện Chính Thượng đế đã đem lại cho con người điều thiện Do đó, con người phải biết vâng lệnh Thượng đế để sống thiện và làm điều thiện” [5, tr 212] Đối với con người sống hạnh phúc là cái thiện, đồng thời là điều lợi Đạo đức của Platon hướng về đời sống nội tâm, an lạc và hạnh phúc Theo ông, nếu các yếu tố của linh hồn thống nhất với nhau thì các chức năng
sẽ được thực hiện tốt Sự phát triển đạo đức song song với tri thức của người
ấy, sự tăng lên của tri thức sẽ làm gia tăng tình yêu đối với chân, thiện và
mỹ Đức hạnh là tri thức, là hành trình đi tìm kiếm khôn ngoan để biết hành động nào là đúng thật sự, tri thức đích thực về những hậu quả của mọi hành
vi, đức hạnh là sự hoàn thành một chức năng độc đáo Đức hạnh công bằng
là đức hạnh tổng hợp, phản ánh khả năng đạt đến trạng thái an lạc và hài hòa nội tâm con người Đức hạnh như sự hoàn thành chức năng Đời sống tốt
Trang 35lành là đời sống có sự hài hòa nội tâm, an lạc và hạnh phúc Như vậy, trong quan niệm đạo đức của Platon đức hạnh và tri thức đóng vai trò quan trọng
Aristotle (384 – 322 trước Công nguyên), theo ông đạo đức là: “Một
phẩm chất do linh hồn đạt được trong cuộc sống không bằng con đường tự nhiên bẩm sinh, mà bằng sự tự rèn luyện và hoạt động” [32, tr 178] Nếu Platon hướng con người đến thế giới lý tưởng, sự thiện tối cao, thì Aristotle trong quan niệm đạo đức của mình cố gắng bám sát vào thực tiễn, vào những phong tục, tập quán, kinh nghiệm sống thường nhật của con người, rồi từ đó khái quát thành những quan niệm, những phương châm xử thế Như vậy, ta có thể hiểu cái vốn có của con người, trong đó quan trọng nhất
là phẩm hạnh “phương tiện của sự hoàn thiện đạo đức là đức hạnh, mà để có đức hạnh phải biết đức hạnh, để biết đức hạnh phải tìm hiểu đức hạnh, tìm hiểu đức hạnh tốt nhất ở học và hành” [32, tr 179] Ông chia phẩm hạnh thành hai loại, đó là phẩm hạnh trí tuệ, phẩm hạnh này là kết quả của giáo dục và phẩm hạnh luân lý, phẩm hạnh này là sản phẩm của thói quen, tập quán Con người cần phải hoàn thiện cả hai loại này để có một đời sống đạo đức Aristotle nối kết đạo đức với toàn bộ tri thức về đời sống con người Ngoài ra, ông còn cho rằng phẩm hạnh là cái tốt đẹp nhất, là lợi thế tối cao
mà mọi công dân cần phải có: “Là biết định hướng, biết làm việc, biết tìm tòi suy nghĩ, phẩm hạnh là cơ sở của hạnh phúc Như vậy, theo ông hành động nhận thức là quan trọng bởi từ đó mới đưa đến cho con người làm điều thiện” [93, tr 34] Do đó, theo ông mọi hành động của con người đều hướng tới mục đích nhất định, nhưng không phải mục đích nào cũng mang lại một giá trị về đạo đức Nhìn chung, những tư tưởng đạo đức của phương Tây cổ đại đa phần chú trọng vào việc lý giải sự hình thành các chuẩn mực luân lý
và tập tục, tìm cách phân biệt thật giả, thiện ác Do đó, các tư tưởng đạo đức của phương Tây cổ đại thường chú trọng về phẩm hạnh và tri thức hơn
Trang 36Bên cạnh đó, những tư tưởng đạo đức của các quốc gia phương Đông cũng ra đời từ rất sớm trước công nguyên: “Theo quan niệm của người phương Đông, trong các học thuyết của Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo đều lấy đạo đức làm cơ sở trong đối nhân xử thế và tự rèn luyện mình, khuyên con người làm điều thiện, tránh điều ác Những học thuyết ấy đề xuất các quy tắc, các chuẩn mực, sự ràng buộc trong các hoạt động sống của con người Có thể nói, khái niệm đạo đức ở phương Đông có nghĩa là đạo làm người, bao gồm rất nhiều chuẩn mực về các mối quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, làng xóm, bạn bè, tu thân, dưỡng tâm, rèn luyện khí tiết… Theo những định hướng nhất định” [5, tr 9]
Khái niệm về đức, theo các nhà khảo cứu Trung Quốc, lần đầu tiên
xuất hiện trong kim văn (Văn tự khắc trên kim khí) đời nhà Chu và từ đó trở
đi nó được người Trung Quốc sử dụng khá nhiều: “Xét chung theo chiều dài lịch sử, chữ “đức” của Trung Quốc được hiểu là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân
lí, nó đồng nghĩa với đạo” [97, tr 14] Như vậy, khái niệm đạo đức trong triết
học Trung Quốc cổ đại xuất phát từ những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống xã hội đặt ra Khái niệm đạo đức trong triết học Trung Quốc cổ đại thể hiện rõ nhất trong tư tưởng của Khổng Tử, Mặc Tử, Lão Tử…
Trong triết lý của Khổng Tử (551 – 479 trước Công nguyên), Khổng
Tử xem đạo đức là gốc của con người, nói đến con người trước hết là nói
đến đạo đức Khi bàn về đạo đức xã hội Khổng Tử đề cập đến “Chính
danh”, theo ông “Chính danh” là nền tảng mà trên đó tư tưởng đức trị và
những tư tưởng khác về xã hội được hình thành và phát triển Chính danh cũng là cơ sở để định hình những nội dung cơ bản của đạo đức đối với mỗi
cá nhân Khi bàn về đạo đức cá nhân, Khổng Tử đề cập đến nhân, lễ, nghĩa,
trí, tín, theo ông các yếu tố này có mối liên hệ thống nhất với nhau về nội
dung, trong đó nhân là gốc của các đức còn lại và được xem là toàn đức
Trang 37Các đức lễ, nghĩa, trí, tín chỉ ra cách thức và làm sáng tỏ nội dung của đức
nhân Khổng Tử coi "Nhân" là đức căn bản nhất của con người cả về xử thế
lẫn tu thân, nhân vừa là tu thân, vừa là ái nhân Người có nhân đồng nghĩa với người hoàn thiện nhất, nên nhân là nghĩa rộng nhất của đạo làm người Đối với mình, người có nhân: “Trước hết phải làm những việc khó, sau mới hưởng thành quả mới có thể gọi là nhân” [19, tr 52] Sau nhân, Khổng tử
bàn đến "Lễ", lễ là toàn bộ nghi lễ, chuẩn mực trong quan hệ giữa người với
người, lễ cần thiết để duy trì trật tự xã hội Lễ có mối quan hệ chặt chẽ với nhân, nhân là chuẩn để quy định lễ, lễ là phương tiện để thực hiện nhân, là chính đạo mà mọi người nên tuân theo Lễ giúp người ta nắm được quy tắc
cư xử Thực hiện đúng lễ vừa là biểu hiện của nhân, vừa là chính danh Sau
lễ là “Nghĩa”, nghĩa là việc phải làm theo đúng đạo lý và bổn phận, là thang bậc giá trị của con người, là tiêu chuẩn hành vi của con người Khổng tử nói: “Người quân tử có lòng dũng cảm mà không có nghĩa thì gây loạn nghịch Còn kẻ tiểu nhân có dũng khí mà chẳng có nghĩa, thì thành trộm
cướp” [14, tr 409] Kế nghĩa là “Trí” được hiểu là sự minh mẫn để phân
biệt đánh giá con người và tình huống, là biết người Trí là kết quả của quá trình học hỏi trong đời sống Theo ông phải có trí con người mới vươn tới được đức nhân, nên không thể là người nhân mà thiếu trí Sau cùng là
“Tín”, theo Khổng Tử tín có ý nghĩa là thành thực, tin tưởng, tín nghĩa Thể
hiện trong lễ nghĩa: “Tín là biểu trưng cho nhân cách hoàn chỉnh của con người, vận dụng vào trong quan hệ đặc biệt giữa con người, tín thuộc về đạo
lý bạn bè” [14, tr 728] Năm đức tính này trở thành trục chính trong tư tưởng đạo đức của Nho gia
Mục đích cao cả của việc tu luyện đạo đức theo Khổng Tử nói riêng
và Nho gia nói chung là để đào tạo thành mẫu người lý tưởng, người quân
tử, bậc thánh nhân, hiểu đạo lý, thiên mệnh, trung hòa, trung thứ, chính
Trang 38danh, định phận, có đủ “Tam cương ngũ thường”, phục vụ cho xã hội lý tưởng Vì thế sách Đại học đã viết: “Vật cách nhi hậu tri chí, nhi hậu ý hình
Ý hình nhi hậu tâm chính Tâm chính nhi hậu thân tu Thân tu nhi hậu gia tề Gia tề nhi hậu quốc trị Quốc trị nhi hậu thiên hạ bình” [22, tr 6] Như vậy, quan niệm về đạo đức của Khổng Tử nói chung không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển về nhân sinh quan của người Trung Quốc cổ đại mà còn hướng con người tìm ra sức mạnh đạo đức ngay ở bản thân mình
Trong triết lý của Mặc Tử (khoảng 479 – 381 trước Công nguyên),
khi bàn về đạo đức xã hội, ông chủ trương thuyết kiêm ái, Kiêm tức là gồm
cả, trái lại với biệt là chia ra Ái tức là yêu, chỉ về tấm lòng thương mến lẫn
nhau của loài người, trái với ố là thù ghét nhau Ông còn cho rằng con người phải yêu thương nhau, làm lợi cho nhau chớ đừng ghét nhau, làm hại nhau
Về khía cạnh xã hội, ông cho rằng, yếu tố quyết định bộ mặt đạo đức của xã hội đó chính là “kiêm ái”, thông qua việc xem nước người như nước mình, xem nhà người như nhà mình, xem thân người như thân mình (Thị nhân chi quốc nhược thi kỳ quốc, thị nhân chi gia nhược thi kỳ gia, thị nhân chi nhân nhược thi kỳ nhân) Ngoài ra, Mặc Từ còn chủ trương: “Phi mệnh, phi nho, phi nhạc, tiết tang, tuyên truyền thuyết “kiêm ái”, “thượng hiền”, “thượng đồng” theo “thiên chí” và “minh quỷ” Từ đó ông đặt tất cả các vấn đề luân
lý, đạo đức, chính trị - xã hội trên cơ sở tư tưởng “kiêm ái” và chủ nghĩa công lợi” [19, tr 72] Kiêm ái không chỉ là ý chí của trời mà còn là đạo lý của thánh nhân, là nhân nghĩa, cho nên: “Khi thực hiện được cái đức căn bản ấy sẽ làm cho đạo đức luân lý xã hội trở nên tốt đẹp và người ta có thể đạt được tất cả những phẩm chất đạo đức khác như huệ, trung, từ, hiếu, kính, để… Người người no đủ, nhà nhà hạnh phúc, quốc gia yên lành, thiên
hạ bình trị” [19, tr 83] Như vậy, trong quá trình hình thành tư tưởng đạo
Trang 39đức của Mặc Tử, “kiêm ái” đóng một vai trò quan trọng quyết định bộ mặt đạo đức của xã hội
Trong triết lý của Lão Tử (khoảng 580 – 500 trước Công nguyên), có thể nói “đạo” là nấc thang cao nhất của bậc thang tu dưỡng đạo đức của con người Theo Lão Tử việc tu dưỡng đạo đức của con người phải tiến hành theo yêu cầu của đạo, lấy đạo làm nội dung Lấy thể đạo hành đạo làm giới hạn cao nhất Đạo là một thứ tự nhiên vô vi, vì thế việc tu dưỡng đạo đức con người cũng phải lấy việc quay trở về bản tính thuần phác tự nhiên làm mục tiêu, thông qua rèn luyện tu dưỡng, làm cho con người thành chân nhân có đạo Theo ông những con người đó thật thà, khiêm tốn, trung thực, sống thanh tịnh không có những ham muốn, thèm khát, cần kiệm, giúp đỡ người ta nhiều nhưng không hề lên mặt ỷ thế ta đây, là bề trên nhưng không bao giờ hống hách, luôn sống nhã nhặn, khiêm nhường, những con người như vậy có thể đạt được “vô vi nhi trị”, xã hội sẽ ổn định vì không ai tranh giành ghen ghét nhau
Do đó, lão Tử viết: “đạo là quả ngầm chứa lẽ sống mà chưa hiện lộ Khi cây mọc thì “đức” là rễ, nhân là thân, nghĩa, lễ là lá cành, trí là hoa “Đạo”, “đức”
do đó cao hơn và là chủ của nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” [19, tr 109]
Bên cạnh đó, khi bàn về đạo đức xã hội, ông còn dựa trên “vô vi”,
trong học thuyết Lão Tử: “vô vi có nghĩa sống theo lẽ tự nhiên, không trái với bản tính mình, từ bỏ tính tham lam ích kỷ để không làm mất đức, trừ bỏ
tư lợi mới nhận thấy đạo mà mới “vô vi” được Ngoài ra, “vô vi còn có nghĩa không làm mất cái đức tự nhiên, thuần phác vốn có của vạn vật, không
ý chí, dục vọng, không ham muốn những gì trái với bản tính tự nhiên của mình và của vật Nếu để mất đức tự nhiên, ham muốn những gì trái với bản tính tự nhiên của mình, cố tìm cách thỏa mãn những dục vọng đó, dẫn tới sự can thiệp vào nguồn máy tự nhiên sẽ mang lại những tai họa” [19, tr 109]
Từ quan điểm “vô vi” Lão Tử rút ra những điểm căn bản trong nghệ thuật
Trang 40sống của con người, đó là những đức tính: từ ái, cần kiệm, khiêm nhường, khoan dung, tri túc và kiến vi Họ luôn giữ đồng nhất với “Đạo”, họ hòa mình vào khoảng không nhưng lại biết dành cho người khác một chỗ mà không làm mất chỗ của mình Họ biết giảm ánh sáng của mình để có thể đắm vào bóng tối của kẻ khác Họ ngập ngừng như kẻ phải lội qua sông trong mùa đông Đạt được nghệ thuật sống như vậy chính là người thực chân thiện, là người bước vào vương quốc của giấc mơ để tỉnh dậy trước thực tế vào lúc chết Như vậy, với Lão Tử “đạo” là nấc thang cao nhất của bậc thang tu dưỡng đạo đức của con người, mà “đạo” lại bắt nguồn từ “vô vi” sống theo lẽ tự nhiên
Với những quan niệm đặc sắc về đạo đức, các tư tưởng triết học cổ đại ở phương Đông lẫn phương Tây đã thật sự trở thành viên ngọc quý của nền triết học nhân loại Không những thế nó còn gợi mở, vạch đường cho việc hoàn thiện các tư tưởng đạo đức về sau Các quan niệm về đạo đức trong thời kỳ này đa phần xoay quanh việc đề cao vai trò của lý trí, phản ánh
và giải quyết những hoạt động trong đời sống thực tiễn, có ý nghĩa đối với việc định hướng và hoàn thiện con người về mặt nhân cách, do đó góp phần tác động tích cực đến đời sống con người, không những thế nó còn góp phần quan trọng trong việc thiết lập trật tự xã hội theo chiều hướng ngày càng tiến
bộ hơn Mặc dù vậy, những tư tưởng đạo đức ấy vẫn còn những hạn chế khó tránh khỏi do lợi ích giai tầng và điều kiện lịch sử
Ngoài các tư tưởng đạo đức nổi bật của Trung Quốc, còn phải kể đến tư tưởng đạo đức trong triết học Ấn Độ Đạo đức là một khái niệm được sử dụng phổ biến và có ảnh hưởng sâu rộng trong triết học Ấn Độ cổ đại Khái niệm
đạo đức của người Ấn Độ cổ bắt nguồn từ chữ dharma Bản thân dharma là một bộ phận của Rta (quy luật cơ bản về tinh thần chi phối hoạt động của vũ
trụ và tất cả những gì nó chứa đựng và là hiện thân của những nguyên tắc đạo