Nghiên cứu folklore dựa trên văn bản và dựa trên kết cấu đã gặt hái được nhiều thành tựu nhờ vào công sức của nhiều nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ học; trong khi đó nghiên cứu bối cả
Trang 1-
LÊ THỊ THANH VY
TỤC NGỮ TRONG VĂN HỌC:
MỘT TRƯỜNG HỢP CỦA NGHIÊN CỨU
FOLKLORE TRONG BỐI CẢNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013
Trang 2-
LÊ THỊ THANH VY
TỤC NGỮ TRONG VĂN HỌC:
MỘT TRƯỜNG HỢP CỦA NGHIÊN CỨU
FOLKLORE TRONG BỐI CẢNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số : 60.22.34
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS CHU XUÂN DIÊN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013
Trang 31 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục đích khoa học và những đóng góp mới của luận văn 6
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và tính chất của luận văn 6
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Cấu trúc của luận văn 13
CHƯƠNG 1 : CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ NGHIÊN CỨU TỤC NGỮ TRONG BỐI CẢNH 15
1.1 Hướng tiếp cận “bối cảnh” trong folklore học - một hướng tiếp cận liên ngành 15
1.1.1 Nhóm “Những người Thổ trẻ tuổi” (Young Turks) và quan niệm mới về folklore 15
1.1.2 Sự thay đổi về quan niệm kéo theo sự thay đổi về phương pháp luận 20
1.1.3 Hasan M El-Shamy và sự hoàn thiện hướng tiếp cận tâm lý học 23
1.2 Tục ngữ và hướng tiếp cận folklore trong bối cảnh 26
1.2.1 Alan Dundes và E Ojo Arewa với công trình Proverbs and the Ethnography of Speaking Folklore (Tục ngữ và khảo tả dân tộc học về folklore lời nói) 26
1.2.2 Công trình Proverbs in Literature: An International Bibliography (Tục ngữ trong văn học: Một thư mục quốc tế) của Wolfgang Mieder với vấn đề nghiên cứu tục ngữ trong văn học 31
1.2.2.1 Thực trạng nghiên cứu tục ngữ trong văn học và những đề xuất 31
1.2.2.2 Khẳng định việc nghiên cứu tục ngữ trong văn học phải gắn với bối cảnh sử dụng và chức năng của tục ngữ 34
CHƯƠNG 2 : PHÂN LOẠI BỐI CẢNH CỦA TỤC NGỮ TRONG GIAO TIẾP VÀ NHỮNG NHẬN XÉT BƯỚC ĐẦU 37
2.1 Phân loại bối cảnh của tục ngữ trong giao tiếp 37
2.1.1 Bối cảnh gắn với chức năng nhận thức của tục ngữ 38
Trang 42.1.1.2 Bối cảnh trong đó tục ngữ được sử dụng để giải thích một sự việc, hiện
tượng 53
2.1.2 Bối cảnh gắn với chức năng hành động của tục ngữ 56
2.1.2.1 Tục ngữ làm cơ sở cho hành động của bản thân 57
2.1.2.2 Tục ngữ làm cơ sở cho hành động của người khác 63
2.1.2.3 Dạng đặc biệt: Tục ngữ được sử dụng như một công thức nói năng, giao tiếp 64
2.1.3 Các bối cảnh trung gian và bối cảnh đặc biệt 72
2.1.3.1 Dự đoán - bối cảnh trung gian giữa bối cảnh gắn với chức năng hành động và bối cảnh gắn với chức năng nhận thức của tục ngữ 72
2.1.3.2 Nói đùa - trường hợp đặc biệt của bối cảnh gắn với chức năng nhận thức và bối cảnh gắn với chức năng hành động của tục ngữ 74
2.2 Những nhận xét bước đầu về tục ngữ được sử dụng trong giao tiếp 81
2.2.1 Tục ngữ - mô hình của các loại cảnh huống khác nhau 81
2.2.2 Tục ngữ - vừa đóng vai trò chi phối hành động vừa phụ thuộc vào ý định chủ quan của người nói 85
2.2.3 Tranh luận - tình huống tiềm tàng của hầu hết các câu tục ngữ 90
2.2.4 Tục ngữ - thể loại văn học dân gian đa chức năng và đa bối cảnh 92
CHƯƠNG 3 : MỘT CÁCH XÁC ĐỊNH ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI TỤC NGỮ TỪ HƯỚNG TIẾP CẬN BỐI CẢNH 94
3.1 Tục ngữ và vấn đề khung thể loại 94
3.2 Diễn xướng tục ngữ và cách “khóa” một diễn xướng tục ngữ 98
3.2.1 Sử dụng tục ngữ có phải là “diễn xướng” hay không? 98
3.2.2 Cách khóa một diễn xướng tục ngữ (Hay định hướng về mặt hình thức của thể loại tục ngữ) 100
3.3 Nghĩa của tục ngữ trong bối cảnh 106
3.3.1 Các nghiên cứu về nghĩa của tục ngữ và nghĩa của tục ngữ trong bối cảnh 106
Trang 53.4 Đối tượng sử dụng tục ngữ 123
3.4.1 Một số đặc trưng về giới, nhóm xã hội, độ tuổi của người sử dụng tục ngữ 123
3.4.2 Vị thế giữa người nói và người nghe trong giao tiếp bằng tục ngữ 129
3.4.3 Một số trường hợp cá nhân sử dụng thành thạo tục ngữ 133
3.5 Vấn đề kênh thông tin (channel) 137
3.6 Một đề xuất xác định những đặc trưng của thể loại tục ngữ từ hướng tiếp cận bối cảnh 141
PHẦN KẾT LUẬN 143
DANH MỤC TÁC PHẨM LÀM TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ năm 1964, Alan Dundes - nhà foklore học người Mỹ - đã chỉ ra thực trạng nghiên cứu folklore thế giới vốn chú trọng phân tích một đơn vị folklore trên phương diện văn bản và kết cấu, mà “bỏ quên” bối cảnh - môi trường sinh hoạt, tình huống xã hội mà trong đó folklore được sử dụng thật sự [12] Sự thiếu cân đối trong nghiên cứu đó cho đến nay vẫn đang tiếp tục tồn tại ở Việt Nam Nghiên cứu folklore dựa trên văn bản và dựa trên kết cấu đã gặt hái được nhiều thành tựu nhờ vào công sức của nhiều nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ học; trong khi đó nghiên cứu bối cảnh hiện tồn của một đơn vị folklore vẫn là mảnh đất màu mỡ còn
để ngỏ Đề tài Tục ngữ trong văn học: một trường hợp của nghiên cứu folklore trong bối cảnh là một nỗ lực giới thiệu một hướng nghiên cứu mới nhiều triển vọng
và thử triển khai nó trên một thể loại văn học dân gian rất gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân: tục ngữ Thiết nghĩ nếu triển khai thành công, đây là một đóng góp nhỏ trong việc nghiên cứu folkore trong thực chất của nó - gắn chặt với đời sống đa dạng muôn màu muôn vẻ của con người
2 Lịch sử vấn đề
Trong chương 1 của luận văn, chúng tôi sẽ giới thiệu chi tiết về trường phái
“bối cảnh” trong nghiên cứu folklore ở Hoa Kỳ, các nhà nghiên cứu tiêu biểu và các phương pháp nghiên cứu dựa trên quan điểm lấy bối cảnh (hay diễn xướng) làm trung tâm Vì vậy, trong “Phần mở đầu” này, chúng tôi xin trình bày lịch sử giới thiệu hướng nghiên này tại Việt Nam và lịch sử nghiên cứu tục ngữ tại Việt Nam
Về lịch sử giới thiệu hướng tiếp cận “bối cảnh” tại Việt Nam
Từ nửa sau của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam
đã có nhiều nỗ lực để du nhập và giới thiệu các phương pháp luận nghiên cứu văn học dân gian nước ngoài và ứng dụng vào việc nghiên cứu văn học dân gian Việt
Trang 7Nam Chiếm chủ yếu trong số này là các công trình nghiên cứu của các học giả Xô
Viết với những tên tuổi như Zirmunxki, Meletinsky, Propp, Riptin, Xakhanốp,
Anhikin, Nôvicôva… với một số tác phẩm đã được dịch và giới thiệu ở Việt Nam
Trong khoa học về folklore ở Liên Xô (cũ), các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam đã tiếp nhận được nhiều kinh nghiệm nghiên cứu theo hướng tiếp cận văn bản và kết cấu Có thể thấy điều đó qua một số bài viết như: “Phương pháp loại hình học trong văn học dân gian và mối liên hệ với các trường phái thế kỉ XIX” (Lê
Chí Quế, tạp chí Văn hóa dân gian, số 3-1986), “Lý thuyết hình thái học của V.Ia.Prốp và truyện cổ tích thần kỳ của người Việt” (Trần Đức Ngôn, tạp chí Văn
hóa dân gian, số 3-1991), v.v
Gần đây, trên tạp chí Văn học và tạp chí Văn hóa dân gian cũng đã đăng
nhiều bài viết giới thiệu những phương pháp nghiên cứu folklore ở các nước phương Tây, trong đó có phương pháp mà chúng tôi đề cập đến trong luận văn này Trong bài viết, “Nghiên cứu văn học dân gian từ góc độ type và motif - Những khả
thủ và bất cập” (Tạp chí Văn học, số 7-2008), Trần Thị An có nhắc đến sự phản ứng
của những người tiên phong trong phương pháp tiếp cận folklore từ góc độ diễn xướng đối với hướng nghiên cứu từ góc độ type và motif Trần Thị An điểm qua một cách ngắn gọn về trường phái “bối cảnh” ở Hoa Kỳ:
Trong khi S Thompson chỉ quan tâm đến tư liệu folklore tồn tại ở các văn bản có giá trị văn học và chúng là sản phẩm của quá khứ thì các nhà nghiên cứu khác lại cho rằng, folklore vẫn tồn tại trong đời sống hôm nay, là biểu hiện của lĩnh vực rộng lớn của hành vi và văn hóa loài người Đó là cơ
sở cho sự ra đời của phương pháp nghiên cứu folklore từ đóc độ diễn xướng (context), một phương pháp nghiên cứu thịnh hành ở Hoa Kỳ vào nửa cuối thế kỷ XX và đang được cả thế giới ứng dụng ngày nay Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các nhà nghiên cứu William Bascom, R.M Dorson, Richard Bauman, Linda Dégh… Các nhà nghiên cứu tán đồng quan điểm này chỉ coi văn bản như là một yếu tố tham chiếu chứ không phải là toàn bộ tư liệu nghiên cứu Điều quan trọng đối với họ là phải quan tâm tìm hiểu xem
Trang 8các hiện tượng cụ thể của đời sống folklore đang tồn tại trong những điều kiện như thế nào, chẳng hạn, về truyện cổ tích, họ không còn thực sự quan tâm đến cốt truyện, motif (là những đơn vị mang tính văn học mà trường phái Phần Lan quan tâm) mà lại quan tâm đến vai trò người kể chuyện; về truyền thuyết, họ không quan tâm đến cốt truyện, hình tượng nhân vật mà lại quan tâm đến tín ngưỡng, nghi lễ, lễ hội… là môi trường mà truyền thuyết đã
và đang sống [2]
Đáng chú ý là hai bài viết của Nguyễn Thị Hiền: “Quan niệm mới về folklore
và quá trình văn bản hóa folklore ở Hoa Kỳ” (Tạp chí Văn hóa dân gian, số 1999), “Một số phương pháp nghiên cứu folklore ở phương Tây”(Tạp chí Văn hóa
4-dân gian, số 3-2000) Trong bài viết “Một số phương pháp nghiên cứu folklore ở
phương Tây”, Nguyễn Thị Hiền đã giới thiệu phương pháp tiếp cận folklore theo bối cảnh diễn xướng cùng với một số phương pháp nghiên cứu khác như: Phương pháp khôi phục lại lịch sử của anh em Grim, Phương pháp thần thoại Anh thế kỷ XIX của Max Muller, Tiến hóa luận của Edward Taylor, Andrew Lang, Phương pháp lịch sử - địa lý Phần Lan, Phương pháp nghiên cứu folklore theo hệ tư tưởng, Chức năng luận, Phân tâm học, Cấu trúc luận Tuy nhiên, sự giới thiệu trường phái này nói riêng và bài viết nói chung còn khái quát, chủ yếu lược thuật lại bài viết mở
đầu trong cuốn sách của Richard M Dorson (1972), Folklore and Folklife: An
Introduction (Dẫn nhập về folklore và đời sống dân gian) (Chicago, University of
Chicago Press) (Chúng tôi cũng sẽ đề cập đến bài viết này của Richard M Dorson trong chương 1 luận văn) Cách tiếp cận diễn xướng là đối tượng chính trong bài viết của Nguyễn Thị Hiền “Quan niệm mới về folklore và quá trình văn bản hóa folklore ở Hoa Kỳ” Trong bài viết này, tác giả đã nêu lên thực tế: “Trong suốt hơn
30 năm qua, ngành folklore học Hoa Kỳ đã chuyển hướng theo nghiên cứu folklore hiện đại, folklore như là một quá trình, là một hệ thống mang tính truyền thống Thật sự, thuật ngữ folklore đã bắt đầu đi chệch nghĩa gốc của nó từ khi có quan niệm mới về folklore (như là một quá trình, trong ngữ cảnh và diễn xướng)” [17,82] Biểu hiện của sự thay đổi trong quan niệm này là sự ra đời của cách tiếp
Trang 9cận diễn xướng vào cuối những năm 60 Nguyễn Thị Hiền đã nêu ra những học giả tiêu biểu và các quan niệm của họ thể hiện trong các bài viết cơ bản, như Dan Ben - Amos (1972) với “Toward a Definition of Folklore in Context” (Tiến tới một định nghĩa về folklore trong ngữ cảnh1), Roger Abrahams (1968) với “Introductory Remarks to a Rhetorical Theory of Folklore” (Những nhận xét ban đầu về lý thuyết
tu từ học của Folklore), Robert Georges (1969) với “Toward an Understanding of Storytelling Events” (Tiến tới một sự hiểu biết về các buổi kể chuyện) Đặc biệt, với Richard Bauman (1975) với “Verbal Art as Performance” (Nghệ thuật nói là sự trình diễn), những khái niệm cơ bản về diễn xướng đã ra đời Và theo Nguyễn Thị Hiền, “khái niệm về phương pháp tiếp cận diễn xướng mới có một ngụ ý sâu xa về văn bản hóa diễn xướng” [17,92] Tác giả đã đưa ra một số dẫn chứng về những thử nghiệm của các học giả Hoa Kỳ trong việc văn bản hóa folklore kết hợp với các yếu
tố của nghệ thuật diễn xướng Chẳng hạn như Barre Toelken (1969) trong bài ““Lời
nói hoa mĩ” của Người da vàng: thể loại, phương thức và bố cục ngôn từ trong
truyện kể về con chó sói ở Navaho” (The “Pretty Language” of Yellowman: Genre, Mode and Texture in Navaho Coyote Narratives) đã bổ sung vào văn bản trước đó của ông về câu chuyện con chó sói của người Navaho phong cách biểu diễn của người kể và sự phản ứng của người thưởng thức ngay bên lề phải của từng dòng thơ, nhờ đó người đọc có thể hiểu phần nào câu chuyện được diễn xướng ra sao
Nhìn chung, tại Việt Nam, hướng tiếp cận “bối cảnh” hay hướng tiếp cận diễn xướng trong nghiên cứu folklore được giới thiệu chưa nhiều, chỉ dừng lại ở những thông tin cơ bản, khái quát nhất Nếu hiểu hướng tiếp cận này như một phương pháp nghiên cứu có tính hệ thống cả về lí thuyết và thao tác nghiên cứu, thì
có thể nói ở Việt Nam, sự vận dụng hướng tiếp cận này để nghiên cứu một hiện tượng văn học dân gian cụ thể là hoàn toàn vắng bóng Vì vậy, tuy ít ỏi nhưng những thông tin trong bài viết của Nguyễn Thị Hiền cũng sẽ là những chỉ dẫn, những tham khảo cần thiết để chúng tôi bước đầu phát triển đề tài của mình
1
Ở đây, Nguyễn Thị Hiền dịch “context” là “ngữ cảnh” Theo chúng tôi, việc dịch “context” là “bối cảnh” sẽ phù hợp với tính chất của bài viết hơn
Trang 10Về lịch sử nghiên cứu tục ngữ tại Việt Nam
Song song với những công trình sưu tầm, biên soạn và chú giải tục ngữ, các công trình nghiên cứu về tục ngữ xuất hiện ngày càng nhiều và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Nhìn chung, tại Việt Nam, tục ngữ được khai thác chủ yếu ở hai phương diện: nội dung và hình thức Khai thác chủ yếu về nội dung của tục ngữ,
đáng chú ý nhất là phần Tiểu luận công trình Tục ngữ Việt Nam của Chu Xuân Diên
(Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri, Nxb Khoa học xã hội, H., 1975) Quan niệm cơ bản của tác giả là tục ngữ không chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ mà còn là một hiện tượng ý thức xã hội, và tục ngữ nên được nghiên cứu không chỉ như một sản phẩm của hoạt động nhận thức mà còn như một công cụ của hoạt động nhận thức Từ nội dung tục ngữ, tác giả đã phân tích, tổng hợp để đi đến kết luận tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã hội hỗn hợp, vừa thuộc lĩnh vực nhận thức khoa học, vừa thuộc lĩnh vực nhận thức nghệ thuật Nghiên cứu về phương diện hình
thức tục ngữ phải kể đến một số công trình xuất hiện gần đây như Tục ngữ Việt
Nam: cấu trúc và thi pháp của Nguyễn Thái Hòa (Nxb Khoa học xã hội, 1997), Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam của Phan Thị Đào (Nxb Thuận Hóa, Huế,
2001) Từ góc độ ngôn ngữ học, các tác giả này đã phân tích khá cụ thể để tìm ra cấu trúc và thi pháp tục ngữ Những vấn đề về phân biệt thành ngữ và tục ngữ, vấn
đề nguồn gốc của những câu tục ngữ cụ thể, so sánh tục ngữ Việt với tục ngữ các dân tộc khác, tục ngữ với các thể loại văn học dân gian khác, v.v cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm lí giải
Nguyễn Văn Nở trong công trình Biểu trưng trong tục ngữ người Việt (Nxb
Đại học quốc gia Hà Nội, 2010) cũng có đề cập đến “context” khi nghiên cứu biểu trưng của tục ngữ người Việt Tuy nhiên trong chuyên luận của mình, Nguyễn Văn
Nở hiểu “context” theo cách hiểu ngôn ngữ học là “ngữ cảnh”/ “văn cảnh”, tức
“một trích đoạn văn bản có chứa đơn vị được xác định để phân tích; là điều kiện, đặc điểm sử dụng của đơn vị ngôn ngữ trong lời nói” [31, 178] Đây không phải là cách hiểu về “bối cảnh” (context) của các nhà folklore học theo trường phái “bối
Trang 11cảnh” của Hoa Kỳ Nguyễn Văn Nở rút tách những trích đoạn trong tác phẩm văn học, báo chí… có sử dụng tục ngữ, bao hàm cả những đoạn hội thoại và những đoạn nghị luận/ tự sự Tác giả khảo sát cách tục ngữ được vận dụng trong ngữ cảnh về hai phương diện: hình thức và nghĩa biểu trưng Về hình thức, bên cạnh phần lớn được sử dụng nguyên dạng, nhiều câu tục ngữ được cải biến, bao hàm cải biến về ngữ âm, từ vựng và cấu trúc Về nghĩa biểu trưng, tác giả so sánh sự dị biệt giữa biểu trưng của văn bản tục ngữ với biểu trưng của tục ngữ trong ngữ cảnh, để đi đến kết luận về khả năng mở rộng nghĩa của tục ngữ cũng như nghĩa biểu trưng tiềm tàng của nó Tuy nhiên, quan điểm của tác giả về khả năng mở rộng nghĩa/ tạo ra nét nghĩa mới của tục ngữ khi được sử dụng trong ngữ cảnh cũng cần phải trao đổi thêm Tác giả lấy “định nghĩa” về một câu tục ngữ trong các từ điển tục ngữ để so sánh với ý nghĩa của tục ngữ trong từng tình huống sử dụng cụ thể để đi đến kết luận này Tuy nhiên các định nghĩa trong từ điển tục ngữ này chưa phải đều là những định nghĩa tốt nhất, thỏa đáng và bao quát nhất
Như vậy, nhìn chung, việc vận dụng hướng tiếp cận “bối cảnh” trong nghiên cứu tục ngữ Việt Nam là một hướng tiếp cận còn để ngỏ
3 Mục đích khoa học và những đóng góp mới của luận văn
Luận văn này đặt ra hai mục tiêu cơ bản:
- Giới thiệu hướng tiếp cận “bối cảnh” trong nghiên cứu folklore, tổng thuật các quan niệm lý thuyết, các công trình vận dụng của các học giả tiêu biểu
- Bước đầu vận dụng các lý thuyết đó để nghiên cứu tục ngữ Việt Nam, từ đó thử xác lập những đặc trưng của thể loại tục ngữ từ hướng tiếp cận “bối cảnh”
Nếu hoàn thành hai mục tiêu cơ bản này, đây sẽ là những đóng góp mới của luận văn
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và tính chất của luận văn
Một khái niệm sẽ trở đi trở lại trong luận văn này là “bối cảnh” “Bối cảnh”
Trang 12(context) hiểu một cách khái quát nhất là những gì nằm ngoài văn bản (text 2), góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa của văn bản đó
Khái niệm “bối cảnh” có nhiều cách hiểu, tùy thuộc vào tình huống sử dụng
Có những cách hiểu rất rộng như: bối cảnh lịch sử, bối cảnh xã hội, bối cảnh văn hóa,… Lại có những cách hiểu rất hẹp như “một trích đoạn văn bản có chứa đơn vị
được xác định để phân tích” (tương đương với “văn cảnh”/ “ngữ cảnh” trong ngôn ngữ học) L.T Helen trong tác phẩm Language and Context: A Functional
linguistic theory register đã tổng kết lại ba mức độ bối cảnh, đó là bối cảnh văn hóa
(Context of Culture), bối cảnh tình huống (Context of Situation) và bối cảnh văn bản (Textual Context)3 Khái niệm “bối cảnh” mà chúng tôi sử dụng trong công trình này thuộc về cấp độ “bối cảnh tình huống” “Bối cảnh” được hiểu là bối cảnh được miêu tả, được nói đến trong tác phẩm, cụ thể hơn là tình huống mà nhân vật rơi vào, để từ đó nảy sinh những đối thoại có sử dụng tục ngữ
Cứ liệu bối cảnh “lý tưởng” nhất để tiến hành phân tích là bối cảnh mà người nghiên cứu được trực tiếp chứng kiến hay tham dự, càng tự nhiên càng tốt, được ghi lại bằng các công cụ như máy ghi âm, camera; thậm chí sau khi bối cảnh diễn ra, người nghiên cứu có điều kiện phỏng vấn sâu những người tham dự Tuy nhiên trong bước đầu nghiên cứu, với khả năng còn hạn chế chưa thể tiến hành được điều
“lý tưởng” này, chúng tôi đề xuất một dạng tài liệu nghiên cứu khác: những trích đoạn đối thoại trong các tác phẩm văn học, chủ yếu là các tác phẩm tự sự (truyện ngắn, tiểu thuyết) trong đó nhân vật có sử dụng tục ngữ để giao tiếp với nhau Dạng tài liệu nghiên cứu này theo chúng tôi là có thể sử dụng được vì những lý do sau:
Dẫn lại theo Đỗ Thị Bích Lài, Ngữ cảnh, bối cảnh giao tiếp và vấn đề ngôi, số trong tiếng Việt (khảo sát
qua lớp từ xưng hô),
http://khoavanhoc- ngoi-s-trong-ting-vit-kho-sat-qua-lp-t-xng-ho&catid=71:ngon-ng-hc&Itemid=107
Trang 13ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=441:ng-cnh-bi-cnh-giao-tip-va-vn Tác phẩm văn học là sản phẩm của trí tưởng tượng nhà văn, nhưng nó vẫn là những “scene” (cảnh huống) của đời sống hằng ngày, khác với dạng tác phẩm viễn tưởng, siêu tưởng Đối thoại trong tác phẩm văn học
do nhà văn sáng tạo nên nhưng cũng dựa trên những trải nghiệm đời sống của chính nhà văn
- Văn đối thoại là một dạng của lời văn nghệ thuật (bao gồm văn xuôi, văn
vần, văn đối thoại) Để tạo nên lời văn nghệ thuật, nhà văn vận dụng toàn
bộ khả năng và phương tiện của ngôn ngữ toàn dân trên các bình diện ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, tu từ… Nhà văn cũng sử dụng các hình thức ngôn từ vốn có trong kho tàng ngôn ngữ một dân tộc như từ cổ, từ địa phương, biệt ngữ, tiếng lóng, thành ngữ, tục ngữ…, sử dụng vốn ngôn từ văn học đã định hình của dân tộc…, nghĩa là toàn bộ các phương tiện của ngôn ngữ dân tộc
Tác phẩm văn học cung cấp cứ liệu để nghiên cứu folklore trong bối cảnh, đồng thời, nghiên cứu folklore trong bối cảnh - trường hợp tục ngữ trong một số tác phẩm văn học - nếu thành công sẽ có đóng góp trong việc tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ, cách xây dựng nhân vật, tình huống trong tác phẩm văn học
Các tác phẩm mà chúng tôi chọn khảo sát chủ yếu thuộc giai đoạn văn học cận hiện đại, hiện đại Trong văn bản truyện kể dân gian, lời nhân vật thường được
kể lẫn vào lời tác giả, chưa được tách ra, ví dụ như: “Một hôm mụ dì ghẻ bảo hai
chị em đi xúc tép, đứa nào xúc được nhiều thì thưởng cho một cái yếm đỏ” (Tấm
Cám) Trong văn học cổ, lời tác giả vẫn chiếm vị trí chủ yếu Lời nhân vật có khi
tuy được tách ra nhưng chưa có giọng riêng, chưa được cá tính hóa mà thường là lời tác giả gán cho, nói theo giọng tác giả Cũng như trong truyện kể dân gian, lời nhân vật trong văn học cổ thường hoàn tan vào hay biến thành một bộ phận trong lời trần
thuật của tác giả, theo kiểu: “Lão thần họ Phạm tiến lên nói rằng…” (Truyền kì mạn
lục), “Người vợ nghe nói như vậy giận dữ nhìn chồng mà rằng…” (Thánh Tông di cảo)… Đến văn học cận hiện đại, đặc biệt là văn học hiện thực chủ nghĩa, lời nhân
Trang 14vật chiếm một vị trí khác và độc lập đối với lời tác giả Lời nhân vật được cá tính hóa cao độ, góp phần khắc họa tính cách nhân vật
Hạn chế lớn nhất của việc sử dụng các tác phẩm văn học để phân tích tục ngữ trong bối cảnh đó là các trích đoạn đối thoại trong tác phẩm thường không cung cấp đầy đủ thông tin về bối cảnh để phân tích Vì vậy, chúng tôi sẽ chọn một số trích đoạn khá “đầy đặn” thông tin về bối cảnh để làm đối tượng phân tích
Các tiêu chí khác để chọn các trích đoạn đối thoại có sử dụng tục ngữ để phân tích là:
- Đa dạng về môi trường giao tiếp: Bắc Bộ, Nam Bộ, nông thôn, thành thị, trong gia đình, trên lớp học, ở nông trường, trong nhà máy, trên sân ga, v.v
- Đa dạng về đối tượng giao tiếp: cha mẹ và con cái, vợ chồng, bạn bè, đồng nghiệp, v.v
- Đa dạng về thời điểm lịch sử: trong chiến tranh, trong thời bình,v.v Dựa vào các tiêu chí trên, chúng tôi chọn khảo sát tác phẩm sau (xếp theo thể loại):
Tiểu thuyết - Truyện dài
1 Nhất Linh (2009), Lạnh lùng, Nxb Văn học, Hà Nội
2 Nhất Linh (2009), Đôi bạn, Nxb Văn học, Hà Nội
3 Nhất Linh - Khái Hưng (2009), Đời mưa gió, Nxb Văn học, Hà Nội
4 Nhất Linh (2011), Đoạn tuyệt, Nxb Dân trí, Hà Nội
5 Khái Hưng (2011), Nửa chừng xuân, Nxb Dân trí, Hà Nội
6 Lưu Trọng Lư (2012), Khói lam chiều, Nxb Dân trí, Hà Nội
7 Vũ Trọng Phụng (2010), Số đỏ, Nxb Văn học, Hà Nội
8 Vũ Trọng Phụng (2010), Giông tố, Nxb Văn học, Hà Nội
Trang 159 Nguyễn Công Hoan (2008), Lá ngọc cành vàng, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội
10 Nguyễn Công Hoan (2006), Tắt lửa lòng, Nxb Văn hóa Sài Gòn
11 Ngô Tất Tố (2012), Lều chõng, Nxb Văn học, Hà Nội
12 Nguyên Hồng (2010), Bỉ vỏ, Nxb Văn học, Hà Nội
13 Nguyên Hồng (2011), Những ngày thơ ấu, Nxb Kim Đồng, Hồ Chí Minh
14 Tô Hoài (2006), Quê người, Nxb Văn hóa Sài Gòn
15 Đỗ Đức Thu (1989), Đứa con, Nxb Long An
16 Mạnh Phú Tư (1983), Sống nhờ, Nxb Văn học, Hà Nội
17 Phi Vân (1951), Đồng quê (phóng sự tiểu thuyết), Nxb Bốn phương
18 Lan Khai (2004), Đỉnh non thần, in trong Tinh tuyển văn học Việt Nam (tập 7
- quyển 1), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
19 Ma Văn Kháng (2011), Mùa lá rụng trong vườn, Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh
20 Nguyễn Nhật Ánh (2012), Bàn có năm chỗ ngồi, Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh
21 Nguyễn Nhật Ánh (2012), Chú bé rắc rối, Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh
22 Nguyễn Nhật Ánh (2012), Bong bóng lên trời, Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh
23 Nguyễn Nhật Ánh (2012), Nữ sinh, Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh
24 Nguyễn Nhật Ánh (2012), Buổi chiều windows, Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh
25 Nguyễn Nhật Ánh (2012), Phòng trọ ba người, Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh
Truyện ngắn:
1 Nam Cao (2004), Chí Phèo, in trong Tinh tuyển văn học Việt Nam (tập 7 -
quyển 2), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
2 Nam Cao (2004), Một đám cưới, in trong Tinh tuyển văn học Việt Nam (tập 7
- quyển 2), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
Trang 163 Vũ Trọng Phụng (2008), Cái ghen đàn ông, in trong Vũ Trọng Phụng (truyện
ngắn), Nxb Văn học, Hà Nội
4 Nguyễn Công Hoan (2007), Oẳn tà rroằn, in trong Nguyễn Công Hoan - tác
phẩm và lời bình, Nxb Văn học, Hà Nội
5 Nguyễn Công Hoan (2004), Tinh thần thể dục, in trong Tinh tuyển văn học Việt Nam (tập 7 - quyển 1), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
6 Ngô Tất Tố (2012), Họ vẫn ăn vào cái xác chết, trong Ngô Tất Tố tuyển tập,
10 Phan Du (2004), Ruốc cá, in trong Tinh tuyển Văn học Việt Nam (tập 7,
quyển 2), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
11 Nguyễn Huy Thiệp (2004), Tướng về hưu, in trong Tinh tuyển Văn học Việt Nam (tập 8), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
12 Sơn Nam (2011), Hương rừng Cà Mau (tập 1), Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh (7
Trang 1716 Nguyễn Ngọc Tư (2006), Nỗi buồn rất lạ, in trong Ngọn đèn không tắt, Nxb
Trẻ, Hồ Chí Minh
Tùy bút
1 Nguyễn Tuân (2004), Chiếc Valy mới, in trong Tinh tuyển Văn học Việt Nam
(tập 7, quyển 2), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
2 Nguyễn Tuân (2004), Phở, in trong Tinh tuyển Văn học Việt Nam (tập 8),
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
Kịch lịch sử
1 Nguyễn Huy Tưởng (2012), Vũ Như Tô, in trong Nguyễn Huy Tưởng - tuyển
tập, Nxb Văn học, Hà Nội
2 Nguyễn Đình Thi (2009), Rừng trúc, in trong Nguyễn Đình Thi toàn tập (tập
1), Hà Minh Đức (và những người khác) sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu,
Nxb Văn học, Hà Nội
Từ đây về sau, khi trích dẫn, chúng tôi sẽ ghi nguồn tác phẩm như sau: (tên tác phẩm, số trang) Với “tên tác phẩm” tên là tiểu thuyết/ truyện dài/ truyện ngắn/ tùy bút/ kịch… có chứa đoạn trích, “số trang” là vị trí của tác phẩm trong cuốn sách
có chứa tác phẩm đó, theo bảng danh mục trên đây Ví dụ như: (Chiếc Valy mới, tr.345), có nghĩa là: đoạn trích nằm trong tùy bút Chiếc Valy mới, trong Tinh tuyển
Văn học Việt Nam (tập 7, quyển 2), Nxb Khoa học xã hội, 2004 (theo bảng danh
mục ở trên), trang số 345
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận văn này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành: phương pháp phân tích xã hội học để chỉ ra những đặc trưng về giới, độ tuổi, nhóm xã hội của đối tượng sử dụng tục ngữ, phương pháp phân tích ngữ văn
để soi chiếu một số vấn đề về nghĩa của tục ngữ trong bối cảnh… Về phương pháp liên quan đến dân tộc học, do không thể điều tra thực tế (quan sát, tham dự, phỏng
Trang 18vấn), chúng tôi thay thế tài liệu khảo sát bằng những trích đoạn tác phẩm văn học có
sử dụng tục ngữ Tính phù hợp của loại tài liệu này đối với nghiên cứu đã được chúng tôi giải thích ở trên
6 Cấu trúc của luận văn
Xuất phát từ quy định chung và từ nội dung, mục đích, yêu cầu cụ thể, luận văn có cấu trúc như sau:
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề
3 Mục đích khoa học và những đóng góp mới của luận văn
4 Đối tượng, phạm vi và tính chất của luận văn
5 Phương pháp nghiên cưu
6 Cấu trúc luận văn
PHẦN NỘI DUNG LUẬN VĂN
(21 trang)
Trong chương này, chúng tôi sẽ giới thiệu về trường phái “bối cảnh” trong nghiên cứu folklore Hoa Kỳ: các tác giả tiêu biểu (điển hình là nhóm “Những người Thổ trẻ tuổi” (Young Turks)) và các quan niệm về mặt lý thuyết của họ Từ quan điểm chung là phản đối việc sưu tầm, nghiên cứu folklore tách rời bối cảnh ngôn ngữ, hành vi, giao tiếp, diễn xướng của nó, các nhà nghiên cứu đã triển khai thành một số nghiên cứu cụ thể, với sự hỗ trợ của các phương pháp nghiên cứu liên ngành: xã hội học, dân tộc học, tâm lý học, ngôn ngữ học, v.v Trong đó, có một số nhà nghiên cứu đã triển khai nghiên cứu tục ngữ dưới ánh sáng của quan niệm “bối cảnh” này như: Alan Dundes và E Ojo Arewa với công trình “Proverbs and the Ethnography of Speaking Folklore” (Tục ngữ và khảo tả dân tộc học về folklore lời nói) và “Proverbs in Literature: An International Bibliography” (Tục ngữ trong văn
Trang 19học: Một thư mục quốc tế) của Wolfgang Mieder Đây sẽ là những cơ sở lý luận quan trọng để chúng tôi thực hiện đề tài này
Chương 2: Phân loại bối cảnh của tục ngữ trong giao tiếp và những nhận xét bước đầu (56 trang)
Chương này chúng tôi dành để miêu tả các bối cảnh của tục ngữ trong giao tiếp và đề xuất cách phân loại dựa trên tiêu chí chức năng của tục ngữ trong bối cảnh Qua đó, chúng tôi nêu lên một số nhận xét bước đầu như: tục ngữ là mô hình của các loại cảnh huống khác nhau, tục ngữ vừa đóng vai trò chi phối hành động vừa phụ thuộc vào ý định chủ quan của người nói, tranh luận là tình huống tiềm tàng của hầu hết các câu tục ngữ, tục ngữ là một thể loại văn học dân gian đa chức năng và đa bối cảnh
Chương 3: Bước đầu xác định đặc trưng thể loại tục ngữ từ hướng tiếp cận bối cảnh (48 trang)
Trên cơ sở là những kết quả tư liệu đã thu nhận được ở chương 2, trong chương này, chúng tôi tiến hành khảo sát tục ngữ và bối cảnh sử dụng tục ngữ trên các phương diện: diễn xướng và cách “khóa” một diễn xướng tục ngữ, vai trò của bối cảnh đối với việc xác định nghĩa của tục ngữ, đối tượng sử dụng tục ngữ, vấn đề kênh thông tin Từ đó, chúng tôi nêu lên đề xuất của mình về một cách xác định đặc trưng thể loại tục ngữ từ hướng tiếp cận bối cảnh
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÁC PHẨM LÀM TÀI LIỆU KHẢO SÁT
THƯ MỤC THAM KHẢO
Trang 20PHẦN NỘI DUNG LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1
CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ NGHIÊN CỨU TỤC NGỮ TRONG BỐI CẢNH
1.1 Hướng tiếp cận “bối cảnh” trong folklore học - một hướng tiếp cận liên ngành
1.1.1 Nhóm “Những người Thổ trẻ tuổi” (Young Turks) và quan niệm mới về folklore
Năm 1982, trong bài viết dẫn nhập cho cuốn Folklore and Folklife: An Introduction (Dẫn nhập về folklore và đời sống dân gian), nhan đề: “Concepts of
đời sống dân gian”), Richard M Dorson - một trong những nhà folklore học lỗi lạc
người Mỹ - đã tổng kết mười hai lý thuyết, trào lưu quan trọng, cơ bản trong ngành nghiên cứu văn hóa dân gian Trong đó, trào lưu được đề cập cuối cùng và cũng xuất hiện gần đây nhất được Dorson gọi tên là trào lưu “Bối cảnh” (“Contextual” movement) Trào lưu này do một nhóm những nhà folklore học trẻ nhiệt huyết ở Hoa Kỳ khởi xướng - những người mà ông gọi là “Những người Thổ trẻ tuổi” (“Young Turks”)5, bao gồm: Roger Abrahams, Dan Ben-Amos, Alan Dundes,
4
Richard M Dorson, “Những khái niệm trong nghiên cứu folklore và đời sống dân gian”, trong Dẫn nhập về
folklore và đời sống dân gian, Richard M Dorson (biên tập) (1982), Chicago: University of Chicago Press,
tr.45
5
Tên gọi này sau này đã bị Hasan E.El-Shamy chỉ ra sự không thỏa đáng của nó Bởi nó “gợi chúng ta nghĩ tới bất cứ nhóm những người trẻ nào muốn giành lấy quyền hành trong một tổ chức, một đảng phái, một quốc
gia từ tay một nhóm người lớn tuổi nào đó” (Theo từ điển Webster’s New Word Dictionary of the American
language) - những người mà Dorson gọi là những nhà folklore học “chính thống” [37]
Trang 21Robert Georges, Kennet Goldstein6 Mặc dù không hình thành một trường phái có
sự cố kết chặt chẽ, nhưng họ cùng học chuyên ngành về folklore học tại trường đại học Indiana và Pennsylvania vào những năm 1960, và đặc biệt chia sẻ với nhau ở quan điểm: phản đối mạnh mẽ việc ghi chép văn bản folklore tách rời bối cảnh ngôn ngữ, hành vi, giao tiếp, biểu đạt và diễn xướng của nó Các nhà folklore học này có những đóng góp lớn trên phương diện lý thuyết Tên gọi “bối cảnh” mà Dorson gán cho họ xuất phát từ một trong những khái niệm trở đi trở lại trong các bài viết có tính lý thuyết cao của họ
Mở đầu cho hướng nghiên cứu này là bài viết của Alan Dundes (1964) -
Dundes đặt vấn đề định nghĩa folklore bằng con đường định nghĩa (hay miêu tả kỹ) các hình thức khác nhau của folklore (các thể loại folklore) Để giải quyết, ông đề xuất ba cấp phân tích Đối với một mục folklore nào đó, có thể phân tích kết cấu, văn bản và bối cảnh của nó và tốt nhất là cả ba Theo Dundes, bối cảnh là tình huống xã hội riêng mà trong đó mục này được sử dụng thật sự Tầm quan trọng của việc ghi lại bối cảnh được ông đúc kết:
- Có những dữ liệu đầy đủ về bối cảnh có thể giúp chúng ta giải thích vì sao một văn bản nào đó được dùng trong một tình huống nào đó;
- Bối cảnh khác nhau là nguyên nhân dẫn đến những dị bản khác nhau của cùng một truyện kể;
- Trong một số trường hợp, bối cảnh giúp phân biệt những thể loại khác nhau (ví dụ: phân biệt tục ngữ và câu đố, phân biệt tục ngữ và thành ngữ), đặc biệt
7
Alan Dundes (1964), “Texture, Text, and Context” (Kết cấu, văn bản và bối cảnh), Southern Folklore
Quarterly, số 28, tr.251-265; bản dịch tiếng Việt trong: Ngô Đức Thịnh, Frank Proschan (chủ biên) (2005), Folklore thế giới - một số công trình nghiên cứu cơ bản, Nxb Khoa học xã hội, H., tr 504-521
Trang 22khi chúng ta tiếp xúc với những văn bản mới lạ;
- Bối cảnh của tục ngữ có thể giúp chúng ta trả lời những câu hỏi: tục ngữ có ý nghĩa gì? Có thể được dùng lúc nào? Như thế nào? Tại sao?
Ông cũng chỉ ra sai lầm thường thấy khi ghi bối cảnh là chỉ giới hạn các dữ liệu bổ sung vào chỗ: “Ở đâu, khi nào, do ai mà câu tục ngữ được sử dụng?” Những dữ liệu như vậy chỉ là điểm bắt đầu chứ không phải là kết thúc Bối cảnh, cùng với văn bản và kết cấu, đều có thể được phân tích về mặt cấu trúc Ở mỗi cấp
đều có: etic (quan điểm của người ngoài cuộc) và emic (quan điểm của người trong cuộc) Nếu có những khe hở emic trong bối cảnh, chúng ta có thể lấp đầy bằng ví dụ
etic về những thể loại nào đó Tức là, nếu có vài điều không rõ về quan điểm của
người trong cuộc, chúng ta có thể dùng quan điểm của người ngoài cuộc để suy đoán, dựa trên những hiểu biết của chúng ta về một thể loại nào đó Alan Dundes cũng đặt vấn đề mối quan hệ qua lại giữa ba cấp cần phải được xem xét toàn diện (ví dụ: thay đổi trong bối cảnh có thể làm thay đổi trong kết cấu, cấu trúc văn bản
có thể cắt nghĩa cho cấu trúc bối cảnh)
Tuy nhiên, hướng tiếp cận “bối cảnh” này chỉ được đưa ra một môi trường học thuật rộng lớn hơn, đồng thời dẫn đến một cuộc tranh luận “văn bản - bối cảnh” kéo dài trong giới folklore học Hoa Kỳ từ khi có bài phát biểu của Dan Ben-Amos năm 1967 tại cuộc gặp mặt thường niên của Hội Folklore học Hoa Kỳ (AFS) tại
Toronto, Ontaria nhan đề “Folklore: The Definition Game Once Again”
(Folklore: Một lần nữa lật lại trò chơi định nghĩa) Trong đó, Dan Ben-Amos đã
tranh luận rằng sở dĩ các nhà folklore học đi trước thất bại trong việc xác định một sợi dây kết nối rất nhiều đối tượng nghiên cứu của folklore học để từ đó đạt đến một định nghĩa folklore, là do có những sai lầm trong cách nhận thức về folklore Các định nghĩa “folklore” trước đây có vấn đề ở chỗ chúng dựa trên quan niệm xem folklore là một tập hợp các vật thể; vì vậy, ông đề xuất việc quan niệm folklore như một quá trình giao tiếp, và định nghĩa folklore là “giao tiếp nghệ thuật trong nhóm nhỏ” Định nghĩa này ngày nay rất phổ biến và được chú ý, vì nó đã không đưa vào
Trang 23đó hai đặc tính “truyền thống” và “truyền miệng” vốn dĩ rất quen thuộc trong nếp nghĩ về folklore trước đây Theo Ben-Amos, “truyền miệng” hay “truyền thống” là những tính chất tiềm tàng chứ không phải là những thuộc tính bất biến của folklore
Bài phát biểu này đã được ông phát triển lên trong bài viết năm 1971 “Toward a
gian trong bối cảnh”) Theo Ben-Amos, folklore là hành động diễn ra lúc đó Nó là
một hành động nghệ thuật Nó bao hàm sự sáng tạo và sự đáp ứng thẩm mỹ, cả hai đều hội tụ về các hình thức nghệ thuật Folklore hiểu theo nghĩa đó là một sự tương tác xã hội thông qua phương tiện nghệ thuật Folklore khác với những giao tiếp không mang tính nghệ thuật ở chỗ hệ thống các quy ước văn hóa được tất cả các thành viên của một tộc người công nhận và chấp hành tách folklore ra khỏi mọi sự giao tiếp không mang tính nghệ thuật Folklore là một quá trình hiện thực, nghệ thuật và giao tiếp
Quan niệm này đã mở đầu cho một cuộc tranh luận “văn bản - bối cảnh”
(“text - context” controversy) kéo dài từ năm 1965 đến năm 1979 trong giới
folklore học Hoa Kỳ, giữa một bên là “những người Thổ trẻ tuổi” và một bên là những nhà folklore học quan niệm văn bản là trung tâm trong nghiên cứu folklore như Roger Welsch, D.K Wilgus, Stephen Jones Năm 1979, Stephen Jones nhận xét rằng với việc không đặt trọng tâm ở văn bản, các nhà folklore học đang “bẻ cong việc nghiên cứu folklore học sang nghiên cứu dân tộc học”, hay nói cách khác, folklore sẽ không còn là khoa học so sánh của các sản phẩm thẩm mỹ mà sẽ trở thành khoa học về nhân học chú trọng đến con người và sự kiện Đáp lại, Ben-Amos cho rằng sự khác nhau giữa hai hướng nghiên cứu lấy văn bản làm trung tâm
và lấy bối cảnh làm trung tâm chỉ là “sự khác nhau giữa một bên là quan niệm cho rằng folklore là một quá trình đối lập với quan điểm cho rằng folklore là một sự
8
Dan Ben-Amos (1971), “Toward a Definition of Folklore in Context” (Tiến tới một định nghĩa về văn hóa
dân gian trong bối cảnh), Journal of American Folklore, số 84, tr.3-15, bản dịch tiếng Việt trong: Ngô Đức Thịnh, Frank Proschan (chủ biên) (2005), Folklore thế giới - một số công trình nghiên cứu cơ bản, Nxb
Khoa học xã hội, H., tr.209-231
Trang 24hoàn tất” – tức là các nhà folklore học chủ trương nghiên cứu bối cảnh muốn nghiên cứu folklore là một hành động chứ không phải là một sản phẩm đã hoàn tất9
Trong bài phát biểu nhan đề “The Text is the Thing” 10 (Văn bản chính là vấn đề) tại AFS năm 1972, Wilgus đã phát biểu nỗi quan ngại của ông khi mà việc
nghiên cứu lấy bối cảnh làm trung tâm đang ngày càng bộc lộ tính cực đoan của nó Theo ông, ông đã dần bắt đầu nhận thấy những biểu hiện đáng lo lắng, chẳng hạn như “văn bản” và “lấy văn bản làm trung tâm” đang trở thành những cách diễn đạt
có ý nghĩa tiêu cực và bị dè bỉu Đồng thời, ông cũng băn khoăn rằng vì không thể vận dụng hướng nghiên cứu này cho những tư liệu folklore đã được các nhà nghiên cứu đi trước sắp xếp và đang nằm trong văn khố, vì vậy nếu cứ chăm chăm theo đuổi hướng đi này, “chúng ta có thể đốt cháy toàn bộ văn khố” Wilgus cho rằng cuộc tranh luận văn bản - bối cảnh là một sự phân đôi sai lầm, bởi nó phủ nhận tính thống nhất cũng như phủ nhận tính nhất thiết phải nghiên cứu folklore trong chiều kích đồng đại và lịch đại của nó - đó là một phần không thể thiếu của bất kỳ “sự kiện” folklore nào
Wilgus đã rất xác đáng khi cho rằng cả hai hướng tiếp cận (văn bản và bối cảnh) đều quan trọng, và không nên quá chú trọng vào một hướng Tuy nhiên, theo quy luật, bất kì trường phái mới xuất hiện nào khi muốn khẳng định mình cũng thể hiện sự cực đoan và phủ nhận những trường phái đi trước Vì vậy, phải thừa nhận những đóng góp của trường phái “bối cảnh” này trong việc đánh thức mối quan tâm
về việc trả folklore trở về với bối cảnh thực tế - môi trường diễn xướng sống động
9
Ý kiến của Steven Jones nằm trong bài viết Jones, Steven (1979), “Slouching Towards Ethnography: The Text/Context Controversy Reconsidered” (Bẻ cong nghiên cứu folklore sang nghiên cứu dân tộc học: Nhìn
lại cuộc tranh luận Văn bản/bối cảnh), Western Folklore, số 38, tr.42-47 Ý kiến của Dan Ben-Amos nằm
trong bài viết Ben-Amos, Dan (1979), “The Ceremony of Innocence” (Tính nghi thức của sự ngây thơ),
Western Folklore, số 38, tr.47-52 Dẫn lại theo Gabbert, Lisa (1999), “The “Text/Context” Controversy and
the Emergence of Behavioral Approaches in Folklore” (Cuộc tranh luận “Văn bản/Bối cảnh” và sự nổi lên của hướng tiếp cận hành vi luận trong nghiên cứu folklore),
https://scholarworks.iu.edu/dspace/bitstream/handle/2022/2326/30(1-2)%20119-128.pdf?sequence=1
10
Wilgus, D.K (1973), “The Text is the Thing” (Văn bản chính là vấn đề), Journal of American Folklore, số
86, tr 241
Trang 25của nó
Richard Bauman, trong bài báo nổi tiếng nhan đề “Towards a Behavioral
(1969) đã chỉ ra rằng việc quan niệm về folklore như một quá trình giao tiếp chứ
không phải một bộ sưu tập những vật thể “không gì khác hơn là đang phát triển lý
thuyết nghiên cứu hành vi của folklore, do đó mở ra một hướng tiếp cận cho khoa học hành vi của folklore” Dorson sau này cũng đã chỉ ra bản chất “hành vi luận”
trong những nghiên cứu của “những người Thổ trẻ tuổi” này:
Sự nổi lên của một vòng tròn phức tạp những nhà nghiên cứu folklore trẻ tài năng dự báo cho sự ra đời của các công trình nghiên cứu folklore trong tương lai Văn bản và sự chú giải bị tách khỏi môi trường diễn xướng sẽ bị xếp xuống dưới những phân tích kĩ lưỡng về tính năng động của nhóm và mối quan hệ tâm lý - văn hóa Điền dã sẽ trở nên khó khăn phức tạp hơn chứ không còn chỉ là việc ghi chép nguyên văn từng chữ một [34,47]
1.1.2 Sự thay đổi về quan niệm kéo theo sự thay đổi về phương pháp luận
Quan niệm folklore là hành vi và giao tiếp của người với người đã xác định lại nhiệm vụ của folklore học: thay vì xác minh nguồn gốc và sự thay đổi theo thời gian của các thể loại folklore và các dị bản được biết đến, nhiều nhà folklore học bắt đầu tiến hành các miêu tả nhân học về bối cảnh liên quan đến sự sử dụng, tiến trình
và tính chất giao tiếp của folklore trong những cảnh huống cụ thể
Quan niệm mới đòi hỏi phương pháp mới tương ứng Những nhà folklore học thuộc trường phái “ngữ cảnh” này đã “sử dụng khái niệm hành vi lời nói (verbal behavior) xuất phát từ ngôn ngữ học, chức năng luận (functionalism) từ nhân học,
11
Bauman, Richard (1969), “Towards a Behavioral Theory of Folklore” (Hướng đến một lý thuyết hành vi
trong folklore học), Journal of American Folklore, số 82, tr.166-170
Trang 26khái niệm nhập vai (role-playing) từ xã hội học, khái niệm cơ chế cái tôi (ego mechanisms) từ tâm lý học, vận dụng những góc nhìn này vào nghiên cứu truyền thống folklore” [34, 47]
Trong “Verbal Art as Performance” 12 (“Nghệ thuật nói là sự trình diễn”)
(1975), Richard Bauman đã mở rộng khái niệm mà William Bascom đề xuất vào năm 1955 là “nghệ thuật ngôn từ” vốn là một quan niệm lấy văn bản làm trung tâm thành một quan niệm diễn xướng (performance), xem đó là đơn vị then chốt để phân tích một đơn vị folklore Sự diễn xướng tức là tình huống trong đó người diễn xướng đảm đương một số trách nhiệm đối với khán giả của mình Theo Bauman, phân tích một đơn vị folklore không phải là phân tích văn bản mà là phân tích sự diễn xướng (tức là văn bản trong tình huống sử dụng thực tế của nó, là một quá trình có tính chất giao tiếp) Diễn xướng ngày nay đã trở thành một trong những khái niệm then chốt của folklore học Và vì đặc tính phân biệt nghệ thuật ngôn từ với các phương thức giao tiếp khác là bản chất thẩm mĩ, do đó một trong những nhiệm vụ cơ bản của nhà folklore học là nắm bắt những giá trị thẩm mỹ của folklore trong diễn xướng
Sự chuyển hướng từ quan điểm tĩnh tại (lấy sản phẩm hoàn tất làm đối tượng trung tâm của nghiên cứu) sang một quan điểm nhấn mạnh tính quá trình của đối tượng trong nghiên cứu folklore đã được sự đóng góp từ nhiều nhà nghiên cứu
Trong bài viết “Introductory Remarks to a Rhetorical Theory of
cứu folklore”), Roger Abrahams (1968) dựa trên học thuyết của Kenneth Burke đã
12
Bauman, Richard (1975), “Verbal Art as Performance” (Nghệ thuật ngôn từ truyền miệng như một hình
thức diễn xướng), American Anthropologist, số 77, tr.290-311 Bản dịch tiếng Việt trong: Ngô Đức Thịnh, Frank Proschan (chủ biên) (2005), Folklore thế giới - một số công trình nghiên cứu cơ bản, Nxb Khoa học
xã hội, H., tr.744-803
13
Abrahams, Roger D (1968), “Introductory Remarks to a Rhetorical Theory of Folklore” (Một số điểm dẫn
luận về một lý thuyết hùng biện trong nghiên cứu folklore), Journal of American Folklore, số 81, tr.143-158 Bản dịch tiếng Việt trong: Ngô Đức Thịnh, Frank Proschan (chủ biên) (2005), Folklore thế giới - một số công
trình nghiên cứu cơ bản, Nxb Khoa học xã hội, H., tr.184-208
Trang 27đề xuất xem folklore là một hình thức của hùng biện (hay tu từ học) nhằm kết hợp những phân tích hình thức và chức năng, và ông sử dụng thuật ngữ “diễn xướng” để miêu tả cách mà một đơn vị folklore “bước ra cuộc sống” Ông đề nghị cách tiếp cận mang tính thẩm mỹ tốt nhất đối với folklore sẽ là phương pháp nhấn mạnh tất
cả các khía cạnh của diễn xướng mang tính nghệ thuật: “diễn xướng, thể loại và người thưởng thức”
Vào năm 1969, Dell Hymes, Richard Bauman, Barbara Gimblett và Bruce A Rosenberg tham gia một hội thảo do AFS tổ chức tên gọi
Kirshenblatt-“Folklore và Giao tiếp” (Folklore and Communication)14 Trong suốt hội thảo, họ
đã đưa ra nhiều ví dụ để chứng minh tầm quan trọng của việc xem xét folklore trong
bối cảnh văn hóa-xã hội Kirshenblatt-Gimblett trong bài viết “A parable in
(Truyện ngụ ngôn trong bối cảnh: Một phân tích có tính tương tác xã hội về
diễn xướng kể chuyện) đã chứng minh tầm quan trọng và ý nghĩa của folklore
không nằm trên văn bản mà dựa trên sự sử dụng thực tế ngoài xã hội Bà đã sử dụng công cụ xã hội học - mô hình của Erving Goffman về hành vi nghi thức giữa người
và người - để phân tích một sự kiện giao tiếp trong đó một truyện ngụ ngôn được sử dụng Mô hình của Goffman dựa trên tiền đề là đạo đức của một mối tương tác vốn gắn liền với nghĩa vụ đối phó Khi một luồng tương tác theo trật tự bị ngắt quãng bởi một “sự cố” (được Goffman định nghĩa như một sự kiện làm tăng mức độ căng thẳng do các chuẩn mực xã hội bị phá vỡ), thì khi đó sẽ nảy sinh các hiệu chỉnh xen
kẽ và điều này được cho là sẽ kết thúc trong việc nghi thức cân bằng được tái lập lại
14
Những báo cáo trong hội thảo này sau đó được in lại trong tuyển tập Folklore: Performance and
Communication (Folklore: diễn xướng và giao tiếp), Dan Ben-Amos, Kenneth S Goldstein (biên tập), Nxb
Walter de Gruyter, 1975
15
Bản dịch tiếng Việt trong: Ngô Đức Thịnh, Frank Proschan (chủ biên) (2005), Folklore thế giới - một số
công trình nghiên cứu cơ bản, Nxb Khoa học xã hội, H., tr.663-698
Trang 28Phản đối truyền thống nghiên cứu truyện kể dân gian thế kỷ XIX xem truyện
kể là những thực thể ngôn ngữ truyền thống hay còn sót lại, A Robert Georges
(1969) trong bài viết “Toward an Understanding of Storytelling Events” 16 (“Để tìm hiểu về các buổi kể chuyện”) cũng phản đối công việc của nhà nghiên cứu là
tiếp tục đi thu thập và nghiên cứu văn bản Bởi theo ông, “văn bản không tạo nên cái gì khác ngoài sự biểu hiện bằng văn tự một bình diện của thông điệp về các sự kiện giao tiếp phức tạp” mà sau đó ông gọi là các “diễn xướng kể chuyện” Robert Georges đã sử dụng các khái niệm của xã hội học là “sự kiện giao tiếp”, “bản sắc xã hội”… để phát biểu quan niệm của mình Ông giả định mỗi một sự kiện kể chuyện
là một sự kiện giao tiếp, một trải nghiệm xã hội Trong mỗi một sự kiện kể chuyện, các thành viên tham gia thiết lập một chuỗi cụ thể các mối quan hệ bản sắc Một thành viên giả định bản sắc xã hội của người kể chuyện; ít nhất có một thành viên giả định bản sắc xã hội của người nghe chuyện Bản sắc xã hội của người kể và người nghe được chọn từ trong số rất nhiều bản sắc xã hội của con người xã hội của các thành viên trong sự kiện kể chuyện Tiếp đó tác giả cung cấp một mô hình trong
đó các bình diện khác nhau của diễn xướng kể chuyện và các mối quan hệ qua lại giữa chúng được sơ đồ hóa
1.1.3 Hasan M El-Shamy và sự hoàn thiện hướng tiếp cận tâm lý học
Trong luận án tiến sĩ nhan đề “Folkloric Behavior: A Theory for the Study
một lý thuyết để nghiên cứu tính năng động của văn hóa truyền thống”), Hasan
16
Georges, Robert A (1969), “Toward an Understanding of Storytelling Events” (Để tìm hiểu các buổi kể
chuyện), Journal of American Folklore, số 82, tr 313-328 Bản dịch tiếng Việt trong: Ngô Đức Thịnh, Frank Proschan (chủ biên) (2005), Folklore thế giới - một số công trình nghiên cứu cơ bản, Nxb Khoa học xã hội,
H., tr.602-621
17
El-Shamy, Hasan (1967), “Folkloric Behavior: A Theory for the Study of the Dynamics of Traditional Culture” (Hành vi luận trong folklore học: một lý thuyết để nghiên cứu tính năng động của văn hóa truyền thống), Luận án tiến sĩ, Folklore Institute, Indiana University
Trang 29M.El-Shamy đã góp phần hoàn thiện hướng tiếp cận tâm lý học trong nghiên cứu folkore theo quan điểm của trường phái “bối cảnh”
El-Shamy đã chỉ ra một thực tế là trên đường tìm kiếm những phương pháp tiếp cận mới đối với folklore học, một bộ phận nhà folklore học thuộc trường phái
“bối cảnh” này đã vay mượn những khái niệm và thuật ngữ của các lĩnh vực khác Đây chính là hướng tiếp cận liên ngành mà M Dorson cũng đã từng đề cập khi nhắc đến trường phái này: Họ đang phát triển “một hướng nghiên cứu thiên về khoa học
xã hội, đặc biệt là nhân học, ngôn ngữ học và khía cạnh văn hóa của tâm lý học xã hội” [37,45] Song theo El-Shamy, những khái niệm và thuật ngữ này được sử dụng một cách không có chủ ý, và bị tách ra khỏi tính hệ thống của nó Trong đó khái niệm “hành vi luận” được các nhà folklore học thuộc trường phái này nhắc đến nhiều nhất (tiêu biểu là công trình của Richard Bauman “Hướng tới một lý thuyết hành vi luận trong nghiên cứu folklore”) thực chất là sự vay mượn lí thuyết học hỏi hành vi của tâm lý học
Trong tâm lý học, có ba quan niệm về con người: con người kiểu homo
volens - con người là một sinh vật luôn bị thôi thúc một cách vô thức từ bên trong;
con người kiểu homo mechanicus - con người là một cỗ máy có thể được lập trình
và biết đưa ra những phản ứng nhất định trước các kích thích; con người kiểu homo
sapiens - con người là một sinh vật có ý thức có khả năng tự kiểm soát hành vi của
mình Ba quan niệm này tương ứng với ba lý thuyết tâm lý học: tâm lý học phân tích (phân tâm học), tâm lý học hành vi và tâm lý học nhận thức Trong đó, lý thuyết có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến folklore học là phân tâm học
Tâm lý học hành vi là ngành tâm lý học Mỹ, ra đời đầu thế kỷ XX, chịu ảnh hưởng của khuynh hướng thực chứng chủ nghĩa, đặc biệt là chủ nghĩa thực chứng mới thể kỷ XX, có nhiều cố gắng nghiên cứu tâm lý theo hướng khoa học khách quan kiểu như khoa học tự nhiên
Trong tiếng Anh, phương án Mỹ, từ “hành vi” (behavior) có gốc ở động từ
“behave” có nghĩa là “cư xử”, “ứng xử” Lúc đầu từ này được dùng trong hóa học
Trang 30với nghĩa nguyên sơ là “phản ứng” Khi nghiên cứu về phản xạ có điều kiện I.P.Pavlov, hai nhà tâm lý học là V.M Becherev và E.L Thordinke đã sử dụng thuật ngữ “phản ứng” (cư xử, ứng xử) này để thể hiện sự đáp trả lại “kích thích” từ bên ngoài tác động vào cơ thể Sau đó, J.B Watson - đại diện tiêu biểu nhất của tâm
lý học hành vi - đã tiếp nhận và khai thác triệt để nội dung “phản ứng” này và coi
đó là đối tượng của tâm lý học hành vi Như vậy “hành vi” được hiểu là phản ứng của cơ thể đối với kích thích bên ngoài vào cơ thể Hành vi với nghĩa như thế là cái hoàn toàn có thể quan sát được Việc chọn đối tượng nghiên cứu như thế làm cho tâm lý học mang tính khách quan Và cũng vì chọn “hành vi” như vậy làm đối tượng nghiên cứu, nên tâm lý học hành vi được gọi là Hành vi luận (Behaviorism) Thật ra chính xác phải gọi là Phản ứng luận (Reactionalism) Nhận xét về lý thuyết này, W.F.Hill phát biểu rằng: “Với những lí thuyết này, những khái niệm cơ bản duy nhất được chấp nhận là những khái niệm có sự chứng nhận thông qua quan sát trực tiếp…Kinh nghiệm chủ quan được xem là một thứ hiện thực “hạng hai” được suy ra từ hành vi được quan sát” [39, 216] Đây chính là chủ nghĩa hành vi luận mà Bauman đã đề cập đến trong “Hướng tới một lý thuyết hành vi trong folklore học” Đối lập với hướng tiếp cận này là nghiên cứu “phi hành vi học”, tức là chủ quan và
ấn tượng Nếu xét theo ý nghĩa rộng đó, chủ nghĩa hành vi không hề xa lạ với folklore học Trước đó, trường phái Lịch sử - địa lý đã cho thấy một hướng tiếp cận hành vi cực kỳ khách quan trong nghiên cứu folklore
Các nhà hành vi luận khái quát sự vận hành của hành vi vào mô hình: S →
R Cứ có kích thích (Stimulus, kí hiệu là S) từ bên ngoài tác động vào cơ thể thì cơ thể có phản ứng (Reaction, kí hiệu là R) đáp lại El-Shamy đã vận dụng mô hình này vào nghiên cứu folklore Trước tiên ông làm rõ hai phương diện khác nhau của phản ứng (R) Đó là: (1) Phản ứng đầu tiên tự thân nó, chẳng hạn như kể, hát, múa, trình diễn… và (2) Phong cách, kết cấu, hình thức và nội dung - các “thước đo” cho lời phản ứng đó (tức đơn vị folklore như là một tổng thể - mà từng thành tố của nó
có thể được nghiên cứu theo hành vi luận) Theo lý thuyết này, một tình huống diễn xướng folklore có thể được mô tả như sau: điều gì làm cho (kích thích - R, sự gợi ý
Trang 31(cues)) một cá nhân/ tổ chức kể (phản ứng) một câu chuyện (“thước đo” sự phản ứng (measurement of the response), trong hoàn cảnh như thế nào (sự gợi ý (cues))
và kết quả ra sao (kết quả)? Thường thì tiến trình này sẽ đúng với bất kì thể loại nào của folklore (vật thể, điệu bộ, âm nhạc, vv ) Mô hình này được ông vận dụng để phân tích hai tình huống diễn xướng được ông tham dự, kèm với các khái niệm của tâm lý học: sự ngăn chặn và sự quên (Inhibition and Forgeting), sự thay đổi gợi ý (changing in cues), những hành vi có khả năng xảy ra (behavior potential) và các phần của quyết định (fraction of decision), sự tham gia và sự ghi nhớ (ego-involvement and retention)
Có thể nói, dù có những cực đoan nhất định khi tuyệt đối hóa vai trò của bối cảnh, của hành vi… trong nghiên cứu folklore, không thể phủ nhận rằng các nhà nghiên cứu thuộc trường phái này đã có những đóng góp mang tính “cách mạng” Các hiện tượng folklore được đặt trong những phối cảnh mới mẻ, mở ra nhiều chiều kích suy tưởng Đó là một nỗ lực trong rất nhiều nỗ lực để giữ nguyên vẹn “chất sống” tươi ròng của folklore Một sự vận dụng thỏa đáng vào các hiện tượng folklore Việt Nam, rất có thể sẽ đưa đến nhiều kết quả thú vị
1.2 Tục ngữ và hướng tiếp cận folklore trong bối cảnh
1.2.1 Alan Dundes và E Ojo Arewa với công trình Proverbs and the
Ethnography of Speaking Folklore (Tục ngữ và khảo tả dân tộc học về folklore
Trong luận văn này, chúng tôi dịch “Ethnography of Speaking” theo cách dịch của nhóm dịch giả cuốn
sách Ngôn ngữ văn hóa và xã hội: một cách tiếp cận liên ngành (Nxb Thế giới, Hà Nội, 2006) là “Khảo tả
dân tộc học lời nói” Nhóm dịch giả đã giải thích về cách dịch này như sau: “Chúng tôi dịch “Ethnography of Speaking” là “Khảo tả dân tộc học lời nói” cho tiện dùng, mặc dù có thể dịch là “Khảo tả dân tộc học về sự nói năng” vì bản thân Hymes có phân biệt giữa “speech” (lời nói) và “speaking” (sự nói năng)” (tr.143)
Trang 32số sinh sống ở khu vực Tây Phi, với sự giúp đỡ của một sinh viên người Yoruba là
E Ojo Arewa Bài viết “Proverb and the Ethnography of Speaking Folklore” (Tục ngữ và khảo tả dân tộc học về folklore lời nói), một mặt, là một sự ứng dụng của lý thuyết về nghiên cứu folklore trong bối cảnh để nghiên cứu một thể loại cụ thể (tục ngữ) tại một cộng đồng người cụ thể (người Yoruba), với một nhóm tác phẩm cụ thể (những câu tục ngữ để giáo dục trẻ em); một mặt, cung cấp những tiền đề lý thuyết chung về nghiên cứu tục ngữ dưới hướng tiếp cận “bối cảnh”
Mở đầu bài viết, Alan Dundes khẳng định phải nghiên cứu tục ngữ với tư cách là một phương tiện giao tiếp Sự quan tâm của Alan Dundes khởi đầu từ một
lời phàn nàn của sinh viên người Ibo theo học tại trường đại học Californha ở Berkerley, mà ông đã đưa lên làm lời đề từ cho bài viết: “Tôi biết câu tục ngữ, nhưng tôi không biết phải vận dụng nó như thế nào” Alan Dundes chỉ ra: “Sự khác biệt giữa biết tục ngữ và vận dụng tục ngữ là một trong những vấn đề quan trọng nhất của phương pháp luận điền dã folklore (folklore field work methodology) Đặc biệt, nó khiến cho sự khác biệt giữa việc ghi lại văn bản và việc ghi lại sự sử dụng văn bản đó trở thành một vấn đề vô cùng nghiêm trọng Folklore được sử dụng chủ yếu như là một phương tiện giao tiếp và nghiên cứu nó như là một hoạt động giao
tiếp là cần thiết” [32, 70] Để nghiên cứu folklore nói chung và tục ngữ nói riêng
như một hoạt động giao tiếp, thì chúng ta không thể sử dụng những công trình ghi chép đơn thuần văn bản như từ trước đến nay Tức là để có thể sử dụng
phương pháp nghiên cứu mới, đòi hỏi những thay đổi trong công tác điền dã, sưu tầm folklore để có những tư liệu phù hợp cho các phương pháp mới này Và Alan Dundes đề xuất công tác sưu tầm và nghiên cứu tục ngữ theo hướng tiếp cận của dân tộc chí/ khảo tả dân tộc học về lời nói (ethnography of speaking) - một hướng tiếp cận do nhà ngôn ngữ học người Mỹ là Dell Hymes (1927 – 2009) đề xuất Từ năm 1962, Hymes đã tranh luận rằng việc nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ (linguistic structure) phải được bổ sung thêm sự nghiên cứu cấu trúc của hành vi lời nói (structures of acts of speech), với mục đích khám phá chính xác bằng cách nào ngôn ngữ được sử dụng trong những tình huống cụ thể Hướng tiếp cận này để nghiên
Trang 33cứu tục ngữ trong văn hóa được Hymes gọi là “khảo tả dân tộc học lời nói” (ethnography of speaking) Theo Hymes, trong loại nghiên cứu này, người nghiên cứu không chỉ chú ý đến những quy tắc (rules) của ngôn ngữ mà còn phải chú ý đến quy tắc của sự sử dụng ngôn ngữ Và Alan Dundes nhận thấy “Rõ ràng ý niệm về
“dân tộc học lời nói” này là cực kỳ phù hợp để nghiên cứu folklore” [32, 71]
Từ đó, Dundes đưa ra những yêu cầu cần phải có khi nghiên cứu tục ngữ bằng cách tiếp cận của khảo tả dân tộc học lời nói:
Để nghiên cứu dân tộc học lời nói của folklore (ethnography of speaking of folklore) (hay chính xác hơn là dân tộc học của folklore lời nói - ethnography of speaking folklore), rõ ràng chúng ta không thể tự giới hạn
trong việc chỉ sử dụng văn bản Chúng ta cần văn bản trong bối cảnh của nó
Chúng ta không chỉ cần biết tục ngữ là gì hay cái gì được gọi là tục ngữ, mà chúng ta cũng cần cả những thông tin cũng như những thành tố khác của tình huống trong đó tục ngữ được sử dụng Có những quy tắc gì chi phối việc ai
là người có thể sử dụng tục ngữ được hay không, hoặc những nhóm người nào có thể sử dụng những câu tục ngữ đặc thù nào, và người nghe là ai? Trong những tình huống nào? ở nơi nào? với những người khác nào đang có mặt hay vắng mặt? sử dụng những kênh thông tin nào (chẳng hạn như lời nói, đánh trống, v.v.) Có sự hạn chế hay lựa chọn nào để sử dụng một câu tục ngữ, hay một câu tục ngữ phải được dùng với những chủ đề nhất định nào đó? với mối quan hệ nhất định nào giữa người nói và người nghe? Chính xác thì những nhân tố bối cảnh đóng góp gì vào việc sử dụng tục ngữ, hay với một câu tục ngữ, có thể được dùng hay không thể được dùng, phù hợp hay không phù hợp trong bối cảnh đó [32, 71]
Alan Dundes cũng cho rằng khi thu thập bối cảnh, ta cũng nên thu thập cả những suy nghĩ, liên tưởng và bình luận của cộng tác viên cung cấp tục ngữ liên quan đến câu tục ngữ đó Bởi vì, những diễn giải và đánh giá của người nói về câu tục ngữ sẽ quyết định việc họ có chọn sử dụng một câu tục ngữ nào đó trong một
Trang 34tình huống nào đó hay không Theo ông, nếu như văn học thành văn làm nảy sinh phê bình văn học thành văn, thì có văn học truyền miệng cũng sẽ có phê bình văn học truyền miệng Nếu như phê bình văn học thành văn xuất phát từ cái nhìn của người ngoài (khác với tác giả - “phê bình ngoại sinh”) thì phê bình văn học truyền miệng lại xuất phát từ chính những người sáng tác và lưu truyền nó (“phê bình nội sinh”) Thực tế là “Kệ sách của các nhà nghiên cứu folklore đầy ắp những lời giải thích về ý nghĩa và giá trị của folklore, nhưng rất ít những sự giải thích và định giá
đó là của chính “người dân” (folk)” [32,73]
Từ những đòi hỏi mới mẻ đó, Dundes nhìn lại thực trạng các bộ sưu tầm tục ngữ:
Đáng tiếc thay, như chúng ta thấy, hầu hết các bộ sưu tập tục ngữ đều
là những văn bản thuần túy Thỉnh thoảng, thậm chí còn thiếu cả những dị bản trong ngôn ngữ gốc Thường thì ý nghĩa nêu lên không những không rõ ràng mà còn bị xuyên tạc bởi vì người sưu tầm mang nặng tư tưởng vị chủng khi giải thích một câu tục ngữ của một nền văn hóa khác bằng cách trích ra một câu tục ngữ trong nền văn hóa của anh ta mà anh ta cho là tương đương Khuynh hướng chuyển dịch folklore của một nền văn hóa bản địa vào folklore thuộc nền văn hóa của người sưu tầm đang vốn rất phổ biến này làm cho giá trị của những bộ sưu tập tục ngữ đó bị hạn chế đi rất nhiều đối với những người nghiên cứu nghiêm túc” [32, 73]
Để minh họa cho những phát biểu lý thuyết của mình, Alan Dundes dẫn ra một bộ sưu tập nhỏ những câu tục ngữ của người Yoruba về đề tài giáo dục trẻ em, được ông ghi chép theo quan điểm bối cảnh nói trên Xin trích dịch một trong số mười hai ví dụ này của Dundes:
Câu tục ngữ số (1): “Không được nói đùa là mẹ đang ngất xỉu” (Bản dịch tiếng Anh: “One should not say in jest that his mother is fainting”)
Một trong những khía cạnh quan trọng trong giáo dục trẻ em Yoruba là dạy cho đứa trẻ một hệ thống những quan hệ đúng mực luôn phải giữ gìn giữa đứa trẻ
Trang 35và cha mẹ, anh chị em, họ hàng và cả những người lớn không quen biết Bản chất của những mối quan hệ này, ít nhất là trong những nền văn hóa lí tưởng, thường được chuyển giao tới đứa trẻ thông qua tục ngữ Trẻ con được mong đợi là phải ngoan ngoãn và lệ thuộc vào cha mẹ Câu tục ngữ “Không được nói đùa là mẹ đang ngất xỉu” là câu tục ngữ mà cha mẹ có thể sử dụng để cho đứa trẻ biết rằng có những đề tài nhất định không nên đùa giỡn Câu tục ngữ thường được trích dẫn ngay sau khi đứa trẻ nói một điều gì đó mà lẽ ra nó không nên nói Một trong những
đề tài trẻ con nên tránh khi nói đùa là những sự kiện cá nhân quan trọng trong cuộc đời cha mẹ mình Chẳng hạn như, nếu người cha đã từng có lúc cãi nhau với người
mẹ thì đứa trẻ không được kể hay bàn luận về cuộc cãi vã này với bất kỳ ai Thậm chí nếu người cha hay người mẹ nói bóng gió về cuộc cãi vã khi đang có đứa trẻ ở
đó, đứa trẻ vẫn không được biểu lộ rằng mình biết về nó Nếu sau này đứa trẻ có tức giận bố mẹ mình, nó vẫn phải kìm chế đề cập đến sự kiện đó Nếu đứa trẻ kể cho người khác nghe cuộc cãi vã này, nó sẽ bị khiển trách bằng câu tục ngữ này Như mọi câu tục ngữ, có những bối cảnh khác mà câu tục ngữ này có thể được sử dụng Chẳng hạn như, nếu một người nói đùa với bạn mình: “Tớ nghe nói là cậu định ám sát thủ lĩnh của làng cậu”, người nghe có thể trả lời bằng câu tục ngữ đó với ý là có những thứ không nên đem ra nói đùa được Trong sự việc này, câu tục ngữ chỉ được
sử dụng khi mà người trích dẫn tin rằng người nói trước đó đang nói đùa Theo nghĩa đen, câu tục ngữ đề cập đến sự ngất choáng mà trong văn hóa Yoruba được hiểu là một bước chuyển quan trọng từ một giai đoạn bình thường của cuộc đời sang một giai đoạn khác Những bước chuyển như vậy là vấn đề nghiêm trọng và là một trong những vấn đề mà người ta không được xem nhẹ Nghĩa đen, câu tục ngữ
có thể đề cập tới bất cứ sự kiện nào trong lịch sử của gia đình khiến gia đình thấy xấu hổ Chẳng hạn như, nếu cha mẹ của một đứa trẻ bị nợ nần thì điều này sẽ là một chủ đề cấm kị không thể đưa ra đùa nghịch Vì vậy, trong bối cảnh dạy dỗ trẻ em, câu tục ngữ giúp cho đứa trẻ ngay từ khi còn nhỏ đã biết phân biệt giữa những điều liên quan đến cha mẹ nó mà nó nên và không nên nói Sự phân biệt này sẽ đặc biệt
Trang 36thú vị với những ai nghiên cứu khảo tả dân tộc học lời nói, hay nghiên cứu xã hội học ngôn ngữ về mối tương quan giữa người nói và đề tài được nói đến
Cuối cùng, Dundes khẳng định: “Sự nghiên cứu folklore phải bao hàm cả sự nghiên cứu “lore” (tri thức) và sự nghiên cứu “folk” (dân gian - người sáng tạo, sử dụng, lưu truyền những tri thức đó) Sự nghiên cứu folklore mà bỏ qua “folk” thì chắc chắn không thể trọn vẹn và thậm chí sẽ dẫn đến sai lầm” [32, 82] Ông kết lại bằng một lời kêu gọi thú vị, lấy ý từ câu nói của người Mỹ phê phán việc ngày lễ Giáng sinh đang bị thương mại hóa: “Hãy trả “Christ” (Chúa) về với “Christmas” (Ngày Chúa giáng sinh)” - “Hãy trả “folk” (dân chúng) về với “folklore” (văn hóa dân gian)”
1.2.2 Công trình Proverbs in Literature: An International Bibliography
(Tục ngữ trong văn học: Một thư mục quốc tế) của Wolfgang Mieder với vấn
đề nghiên cứu tục ngữ trong văn học
1.2.2.1 Thực trạng nghiên cứu tục ngữ trong văn học và những đề xuất
Wolfgang Mieder là giáo sư trường đại học Vermont (Mỹ), nhà nghiên cứu
tục ngữ nổi tiếng, chủ bút của tạp chí Proverbium - tạp chí xuất bản hàng năm của
Hội nghiên cứu tục ngôn quốc tế, một tạp chí chuyên ngành về tục ngôn học - từ
năm 1984 đến nay Công trình Proverbs in Literature: An International
Bibliography (Tục ngữ trong văn học: Một thư mục quốc tế) (NXB Peter Lang,
Berne (Thụy Sỹ), 1978) của Mieder được in rất hạn chế với chỉ 400 bản Tuy là một công trình về thư mục, song bài viết “Lời giới thiệu” ở đầu cuốn sách có thể xem như một bài nghiên cứu về những nghiên cứu tục ngữ của các tác giả đi trước Qua
đó, tác giả chỉ ra những thiếu sót của các công trình này, đồng thời đề xuất một hướng nghiên cứu, cũng như những thao tác nghiên cứu cụ thể về vấn đề tục ngữ trong tác phẩm văn học nhằm đạt được những kết quả khoa học và hữu ích nhất Bài viết này sẽ cung cấp những “chỉ dẫn”, những gợi ý để chúng tôi tiến hành nghiên cứu tục ngữ trong một số tác phẩm văn học Việt Nam - đối tượng của luận văn này
Trang 37Từ đầu bài viết, Mieder đã khẳng định nghiên cứu tục ngữ trong văn học có thể được tiến hành bởi nhà folklore học, nhà phê bình văn học hoặc những học giả vừa thuộc ngành tục ngôn học vừa thuộc ngành văn học Bởi vì, “về bản chất, tục ngữ là phương tiện giao tiếp bằng lời nói hoặc bằng chữ viết (oral or written means
of communication) nên lẽ tự nhiên là cả nhà folklore học và nhà phê bình văn học đều chú ý đến chúng trong những văn bản thuộc tất cả các dạng thức” [41, 1] Và bên cạnh việc nghiên cứu tục ngữ trong đời sống, nghiên cứu tục ngữ trong văn học cũng có một ý nghĩa quan trọng, vì: “Tục ngữ hiện đại, đang được sử dụng có thể được nghiên cứu qua giao tiếp hằng ngày, nhưng tục ngữ thuộc các thời kỳ xa xưa hơn thì chỉ có thể tìm thấy trong các văn bản viết” [41, 1-2]
Trong công trình này, Mieder đã thống kê được 1031 công trình nghiên cứu
về tục ngữ trong sáng tác của các nhà văn phương Tây và 135 công trình nghiên cứu
lí thuyết chung về mối quan hệ qua lại giữa tục ngữ và văn học Thừa nhận rằng đây
là một con số đáng kinh ngạc, song tác giả cũng chỉ ra một thực tế là nhiều công trình trong số đó không sử dụng được vì không đạt được những yêu cầu thiết yếu của một nghiên cứu khoa học Những thiếu sót đó là: thu thập dữ liệu một cách ngẫu hứng, liệt kê một danh sách những câu tục ngữ được tìm thấy trong các tác phẩm văn học mà không có một chú thích nào về tài liệu tham khảo, không có sự thẩm tra bằng những từ điển tục ngữ thông dụng, không có lời trình bày, giải thích
về chức năng và vai trò của những câu tục ngữ này trong các sáng tác văn học đó, v.v
Archer Taylor đã từng chỉ ra: “Vấn đề liên quan tới folklore và văn học là sự nhận diện (identification) và sự diễn giải (interpretation) của những thành tố quen thuộc trong một tác phẩm văn học” [42, 221] Gần đây hơn, Alan Dundes đã nhắc lại tầm quan trọng của mối quan hệ qua lại giữa “sự nhận diện” và “sự diễn giải” trong những nghiên cứu về folklore và văn học: “Vấn đề là nhiều nhà folklore học kết thúc công việc của mình ở chỗ “nhận diện” thay vì “diễn giải” Sự nhận diện chỉ
là điểm khởi đầu, là bước nghiên cứu đầu tiên Những nhà folklore học tự giới hạn
sự nghiên cứu của mình ở chỗ “nhận diện” thì chính những tư liệu mà họ “nhận
Trang 38diện” được sẽ không có mấy giá trị vì họ đã không chứng minh được tầm quan trọng của chúng” [35, 136-137] Như vậy, sự nhận diện những câu tục ngữ được sử dụng trong các tác phẩm văn học chỉ là bước đầu tiên trên hành trình đi tìm câu trả lời cho việc: câu tục ngữ được sử dụng trong bối cảnh nào, chức năng của nó như thế nào, và nó giúp chúng ta hiểu thêm về quá trình sáng tạo của nhà ra sao? Như Alan Dundes cũng đã từng khẳng định: “Chúng ta cần văn bản trong bối cảnh của
nó Chúng ta cần đòi hỏi là phải có được không chỉ tục ngữ hay những cái được gọi
là tục ngữ, mà cả những thông tin cùng những nhân tố khác tham gia vào tình huống
mà trong đó tục ngữ được sử dụng” [32, 71]
Từ đó, về thao tác nghiên cứu, Mieder đề xuất: sau khi thiết lập được các
bối cảnh mà trong đó tục ngữ được sử dụng, người nghiên cứu cần viết thêm một bài thuyết minh để thảo luận về chức năng của những câu tục ngữ này Bài thuyết minh này là một phần không thể thiếu của bất cứ những nghiên cứu nào về tục ngữ trong văn học Mieder gợi ý: “Bài thuyết minh này nên thử tìm hiểu sự tương tác cũng như chức năng của tục ngữ trong các văn bản văn học, từ đó hiểu sâu sắc hơn quá trình sáng tác của nhà văn cũng như mối quan hệ giữa các sáng tác của ông với các yếu tố thuộc về folklore” [41, 3]
Về những tác phẩm văn học được chọn để nghiên cứu tục ngữ trong văn học, Mieder cũng có một số ý kiến và đề xuất Thể loại văn học thích hợp để nghiên
cứu tục ngữ thường là kịch và văn xuôi, trong khi đó thơ ca thường bị bỏ qua một cách đáng tiếc Những tác giả được chọn nghiên cứu cũng có một số nhà văn lớn phương Tây như Rabelais, Cervantes, Goethe, Shakespear, Dickens, nhưng chiếm chủ yếu vẫn là những nhà văn địa phương kém tiếng tăm hơn Cách chọn đối tượng này về cơ bản không có gì sai vì các tác phẩm của nhà văn địa phương thường là nguồn cung cấp tục ngữ hết sức dồi dào, có khả năng chứa đựng nhiều dị bản tục ngữ, thậm chí cả những dị bản chưa từng được biết đến Tuy nhiên, Mieder cũng chỉ
ra một thực tế là những nhà văn rất trí thức như Henry David Thoreau và Ralph Waldo Emerson cũng sử dụng tục ngữ với một tần suất rất lớn, sự xuất hiện tục ngữ không hề xa lạ trong các sáng tác của họ Điều này cũng đúng cả với những nhà văn
Trang 39trí thức hiện đại như Bert Brecht, Thomas Mann hay Gunter Grass Việc nghiên cứu tục ngữ trong sáng tác của các nhà văn hiện đại sẽ cho thấy một trong những thuộc tính cơ bản của tục ngữ, đó là tính thích nghi với mọi tình huống Trong suốt tiến trình lịch sử, tục ngữ đã tự thay đổi để thích ứng với những thời kỳ khác nhau
“Chúng được sát nhập một cách hoàn hảo vào khung cảnh mới và được diễn giải lại, đôi khi về phương diện nội dung, đôi khi về phương diện chức năng”19 Tiếp thu những gợi ý này của Mieder, chúng tôi sẽ khảo sát không chỉ những tác phẩm của những nhà văn chuyên viết về nông thôn Việt Nam như Tô Hoài, Kim Lân, mà cả những nhà văn viết về lối sống đô thị, những nhà văn hiện đại, những nhà văn trẻ, những nhà văn viết cho tuổi mới lớn, v.v như Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Nhật Ánh, v.v
1.2.2.2 Khẳng định việc nghiên cứu tục ngữ trong văn học phải gắn với bối cảnh sử dụng và chức năng của tục ngữ
Theo Mieder, nếu hiểu vấn đề dưới ánh sáng này, thì những nghiên cứu tục ngữ trong văn học thời gian qua chỉ mới là những nghiên cứu trên bề mặt Ông nhấn mạnh: “Điều tối quan trọng là một sự thảo luận thật chi tiết về chức năng của tục ngữ” [41, 4] Theo ông, chức năng của tục ngữ rất đa dạng:
Chức năng thường thấy nhất của tục ngữ là sự diễn đạt thuần túy những tri thức dân gian, là giải thích, khuyên nhủ, cảnh báo, hợp lý hóa, v.v Tất cả đều phụ thuộc vào bối cảnh mà trong đó tục ngữ được sử dụng Không phải lúc nào tục ngữ cũng được sử dụng trong một bối cảnh trang trọng, mà tục ngữ có thể đánh mất khuynh hướng cơ bản của nó là tính giáo huấn để tham gia vào một tình huống hài hước, mỉa mai hay thậm chí châm biếm Chính nhà văn sẽ là người phát hiện ra những chức năng nào đó cho tục ngữ,
và sẽ cần đến nhà nghiên cứu để chỉ ra những cách sử dụng tục ngữ phổ biến
và ấn tượng trong các tác phẩm văn học và thời kỳ mà nó đại diện… Mỗi
19
Abrahams, Roger D (1970), “Such Matters as Every Man Sould Know and Descant upon” (Những vấn đề
cần biết và bàn luận), tạp chí Proverbium, số 15-1970, tr.425 Dẫn lại theo Wolfgang Mieder (sđd), tr.4
Trang 40thời đại, mỗi nhà văn, mỗi tác phẩm, mỗi tình huống sẽ làm nảy sinh một chức năng mới cho tục ngữ Chính vì vậy mà tục ngữ trong những bộ sưu tập
là những tục ngữ chết! Tục ngữ chỉ sống khi nó được sử dụng, và như một tấm gương cuộc sống, nó được vận hành theo vô số cách khác nhau Tìm kiếm chức năng của tục ngữ trong các tác phẩm văn học là điều tối cần thiết của những nghiên cứu như vậy [41, 4-5]
Những quan niệm của Mieder về nghiên cứu tục ngữ trong văn học phải gắn với bối cảnh sử dụng và chức năng của tục ngữ là một gợi ý quan trọng cho chúng tôi, đặc biệt khi chúng tôi tiến hành thông kê, phân loại các bối cảnh của tục ngữ trong giao tiếp
Mieder kết lại bài viết bằng sự nhấn mạnh rằng nghiên cứu tục ngữ trong văn học là một mảnh đất rộng mở và một thách thức cả với nhà folklore học và nhà phê bình văn học Bố cục của những nghiên cứu này nên gồm hai phần: phần thứ nhất là một bài viết phân tích về chức năng của tục ngữ trong sáng tác của nhà văn; phần thứ hai là một danh mục tục ngữ không chỉ được liệt kê theo thứ tự Alphabet mà còn chứa cả những nguồn tham khảo và sự thẩm tra Những nghiên cứu tục ngữ trong văn học chỉ thực sự có ý nghĩa khi bao gồm được cả sự nhận diện (identification) và sự diễn giải (interpretation), từ đó đưa đến những hiểu biết mới
về mối quan hệ giữa folklore học và văn học
Riêng đối với các nhà folklore học, việc nghiên cứu tục ngữ trong văn học có
ý nghĩa quan trọng không chỉ về mặt phương pháp luận mà còn cả về đối tượng khảo sát nữa Trên quan điểm lịch sử, Mieder đã từng chỉ ra rằng “Tục ngữ hiện đại, đang được sử dụng có thể được nghiên cứu qua giao tiếp hằng ngày, nhưng tục ngữ thuộc các thời kỳ xa xưa hơn thì chỉ có thể tìm thấy trong các văn bản viết” [41, 1-2] Nhưng việc nghiên cứu tục ngữ hiện đại đang được sử dụng qua giao tiếp hằng ngày không phải là một việc làm dễ dàng Theo Alan Dundes, “tốt nhất là người sưu tầm nên tự mình quan sát bối cảnh các văn bản mình ghi” Nhưng ông cũng nhận xét: “Tuy nhiên trong thực tế thường có một bối cảnh giả tạo mà trong đó người