1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực ngành công nghệ thực phẩm trình độ cao đẳng được đào tạo tại trường cao đẳng cộng đồng vĩnh long giai đoạn 2005 2010

97 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 21,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ NGỌC GIÀU THỰC TRẠNG VIỆC ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM TRÌNH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ NGỌC GIÀU

THỰC TRẠNG VIỆC ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG ĐƯỢC

CỘNG ĐỒNG VĨNH LONG GIAI ĐOẠN 2005-2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

MÃ NGÀNH: 601405

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ NGỌC GIÀU

THỰC TRẠNG VIỆC ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG

NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM

TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG ĐƯỢC ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG VĨNH LONG

GIAI ĐOẠN 2005-2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

MÃ NGÀNH: 601405

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS HOÀNG MAI KHANH

Thành phố Hồ Chí Minh-2012

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Ba năm theo học chương trình đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục

do Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn TPHCM đào tạo là bấy nhiêu thời gian chất chứa những tình cảm, lòng biết ơn của các học viên lớp Cao học Quản lý giáo dục K01, trong đó có bản thân tôi đối với Quý Thầy Cô giáo đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho chúng tôi những kiến thức quý báu của chuyên ngành này Với tình cảm chân thành và trân trọng, xin cho tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu, tập thể quý thầy cô Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn TPHCM, khoa Giáo dục, phòng Sau đại học đã tạo điều kiện cho chúng tôi tham gia học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm

vụ được giao Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Hoàng Mai Khanh – Cô

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn này Được Cô hướng dẫn là một cơ hội tốt cho tôi học tập, rèn luyện cả về kiến thức chuyên môn và tinh thần làm việc Một lần nữa xin chân thành cảm ơn Cô

Xin cảm ơn Ban Giám hiệu, các anh, chị và bạn bè đồng nghiệp Trường Cao đẳng Cộng đồng Vĩnh Long, nơi tôi đang làm việc đã tạo điều kiện cho tôi được học tập và thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn các công ty, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh Vĩnh Long; cảm ơn các em cựu SV các khóa 4, khóa 5, khóa 6 và các em sinh viên trường Cao đẳng Cộng đồng Vĩnh Long đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu và thu thập số liệu

Tôi xin gửi đến chồng, con gái và các cháu tôi lời cám ơn và tình yêu thương sâu sắc, những người đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần, luôn đồng hành cùng tôi trên con đường tôi ôn thi, học tập, nghiên cứu và viết đề tài này Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn những tấm lòng mà mọi người dành cho tôi

Mặc dù bản thân đã cố gắng nỗ lực hoàn thành luận văn, song không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của Quý Thầy, Cô, bạn bè và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Giàu

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Phụ bìa

Lời cảm tạ

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục biểu bảng

MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

4.Giả thuyết nghiên cứu 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3

6 Giới hạn đề tài nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Nội dung nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Những nghiên cứu nước ngoài 6

1.2.2 Những nghiên cứu trong nước 7

1.2 Một số khái niệm cơ bản 12

1.2.1 Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực 12

1.2.2 Sử dụng nguồn nhân lực 15

1.3 Yêu cầu phát triển NNL đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp CNH-HĐH 16

1.4 Vai trò nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế xã hội 18

1.4.1 Nguồn nhân lực-mục tiêu và động lực chính của sự phát triển 18

1.4.2 Vai trò nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước 19

Trang 6

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc đào tạo nguồn nhân lực 20

1.5.1 Chương trình, mục tiêu, nội dung đào tạo và phương pháp giảng dạy 21

1.5.2 Đội ngũ giảng viên 23

1.5.3 Cơ sở vật chất 24

1.5.4 Chế độ chính sách cho giảng viên 25

1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nguồn nhân lực 26

1.6.1 Chất lượng đào tạo 26

1.6.2 Những yêu cầu của nhà tuyển dụng 27

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VIỆC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG ĐƯỢC ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG 2.1 Sơ lược về Vĩnh Long 29

2.1.1 Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Vĩnh Long 29

2.1.2 Vai trò ngành CNTP và NNL ngành CNTP trong phát triển KTXH của Vĩnh Long 30

2.1.3 Vai trò NNL ngành CNTP và NNL ngành CNTP trong phát triển KTXH của Vĩnh Long 31

2.2 Tổng quan về trường Cao đẳng Cộng đồng 32

2.3 Thưc trạng việc đào tạo nguồn nhân lực ngành Công nghệ thực phẩm trình độ cao đẳng của trường giai đoạn 2005-2010 35

2.3.1 Chương trình đào tạo, mục tiêu đào tạo 35

2.3.2 Kế hoạch đào tạo và việc thực hiện kế hoạch 35

2.3.3 Phương pháp giảng dạy và thức đánh giá kết quả học tập 39

2.3.4 Các nguồn lực phục vụ việc đào tạo NNL ngành CNTP 40

2.4 Đánh giá của SV và cựu SV về chất lượng đào tạo chuyên ngành CNTP 46

2.4.1 Đánh giá của cựu SV 46

2.4.2 Đánh giá của cựu SV và SV 48

Trang 7

2.5 Thực trạng việc sử dụng NNL ngành CNTP trình độ cao đẳng của trường giai

đoạn 2008-2010 53

2.5.1 Nhu cầu nguồn nhân lực của các cơ quan, doanh nghiệp và thực trạng việc làm của SV 54

2.5.2 Hiểu biết của SV và cựu SV về ngành học và thị trường lao động 55

2.5.3 Đánh giá của nhà tuyển dụng về chất lượng NNL ngành CNTP của trường CĐCĐ 56

2.5.4 Yêu cầu của nhà tuyển dụng đối với NNL ngành CNTP 59

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG TRONG GIAI ĐOẠN MỚI 3.1 Cơ sở đề xuất các giải pháp 63

3.1.1 Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý 63

3.1.2 Cơ sở thực tiễn 64

3.2 Nội dung các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả sử dụng NNL ngành CNTP 64

3.2.1 Nhóm giải pháp đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy65 3.2.2 Nhóm giải pháp đảm bảo các nguồn lực 69

3.2.3 Nhóm giải pháp quan hệ doanh nghiệp 75

3.3 Kết quả khảo nghiệm 77

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

1 Kết luận 81

1.1 Về mặt lý luận 81

1.2 Kết quả nghiên cứu thực tế 81

2 Kiến nghị 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 CĐ Cao đẳng

2 CĐCĐ Cao đẳng Cộng đồng

3 CIDA Canadian International Development Agency

(Tổ chức Hợp tác Phát triển Quốc tế Canada)

13 HACCP Hazard Analysis and Critical Control Points

(Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn)

14 HSSV Học sinh sinh viên

15 ILO International Labor Organization (Tổ chức Lao động quốc tế)

16 ISO International Organization for Standardization

(Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế)

22 UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural Organization

(Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc )

23 UNIDO United Nations Industrial Development Organization

(Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc)

24 XHCN Xã hội chủ nghĩa

25 PHE Pathway of Higher Education

26 WUSC World University Service of Canada

(Tổ chức Hỗ trợ Đại học Thế giớ Canada)

Trang 9

DANH MỤC BIỂU BẢNG

Trang Bảng 2.1 Tăng trưởng của một số ngành công nghiệp tính bằng giá trị SX 30

Bảng 2.2 Dân số và lao động tỉnh Vĩnh Long 32

Bảng 2.3 Số lượng GV chuyên ngành CNTP 33

Bảng 2.4 Bảng thống kê số lượng sinh viên ngành CNTP các năm 35

Bảng 2.5 Kết quả đánh giá cựu SV về chương trình đào tạo, mục tiêu đào tạo 36 Bảng 2.6 Kết quả đánh giá cựu SV và về chương trình đào tạo, mục tiêu đào tạo 38

Bảng 2.7 Kết quả đánh giá của SV và cựu SV về đội ngũ GV 42

Bảng 2.8 Kết quả khảo sát ý kiến SV và cựu SV về cơ sở vật chất 45

Bảng 2.9 Đánh giá của cựu SV về các kỹ năng cần thiết cho nghề nghiệp 47

Bảng 2.10 Đánh giá mức độ quan trọng của kiến thức đối với công việc 48

Bảng 2.11 Đánh giá mức độ quan trọng của kỹ năng, năng lực, phẩm chất đối với công việc 49

Bảng 2.12 Đánh giá của cựu SV, SV về kiến thức, kỹ năng được trang bị tốt 51 Bảng 2.13 Đánh giá của cựu SV, SV về kiến thức, kỹ năng chưa được trang bị tốt 52

Bảng 2.14 Đánh giá của các đơn vị tuyển dụng về các kỹ năng của SV 56

Bảng 2.15 Đánh giá của các đơn vị tuyển dụng về đạo đức, phẩm chất của SV 57 Bảng 2.16 Đánh giá của các đơn vị tuyển dụng về năng lực chuyên môn của SV 58

Bảng 2.17 Đánh giá mức độ quan trọng của các kiến thức SV cần có để đáp ứng yêu cầu công việc 60

Bảng 2.18 Đánh giá mức độ quan trọng của các kỹ năng SV cần có để đáp ứng yêu cầu công việc 61

Bảng 2.19 Đánh giá mức độ quan trọng của các năng lực, phẩm chất SV cần có để đáp ứng yêu cầu công việc 61

Trang 10

Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của giải pháp nâng cao

chất lượng đào tạo và hiệu quả sử dụng NNL ngành CNTP 78

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [4, tr.77], Đảng ta luôn xác định nước ta có nguồn lao động dồi dào – những con người Viêt Nam có truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hóa, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất – nguồn năng lực nội sinh Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, xây dựng nền kinh tế tri thức thì giáo dục đại học, cao đẳng ngày càng giữ vị trí quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho xã hội Sự phát triển kinh tế xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điều kiện nhưng chủ yếu nhất vẫn là phụ thuộc vào con người Nguồn nhân lực chiếm vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển KTXH Muốn có nguồn nhân lực có chất lượng tốt, chúng ta phải có những hoạt động tích cực để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Vĩnh Long là một trong 13 tỉnh, thành của đồng bằng ĐBSCL, kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, vì thế GDP bình quân đầu người còn rất thấp, tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010-2015, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực của Vĩnh Long, xem đây là cơ sở cho phát triển KTXH của tỉnh Phó Thủ tướng chỉ đạo Vĩnh Long cần thực hiện tốt công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn để chuyển đổi lao động sang lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ vì đào tạo quyết định sự phát triển của đất nước và quyết định sự phát triển của tỉnh Tiềm lực lớn nhất của Vĩnh Long là dân số trong độ tuổi lao động cao, cần tập trung giải quyết vấn đề chuyển dịch lao động, tạo ra một lực lượng lao động mới có năng suất, chất lượng, thu nhập cao hơn, đời sống tốt hơn và xóa đói giảm nghèo một cách bền vững nhất

Vĩnh Long là tỉnh nông nghiệp, mật độ dân số cao Theo số liệu thống kê, dân số trung bình tỉnh Vĩnh Long năm 2010 là 1.031.994 người, là một trong những tỉnh có mật độ dân số cao nhất đồng bằng sông Cửu Long (sau thành phố Cần Thơ)

Số người trong độ tuổi lao động (từ 16 đến 60 tuổi đối với nam và từ 16 đến 55 tuổi

Trang 12

đối với nữ) năm 2010 là 727,3 ngàn người, chiếm khoảng 70% dân số toàn tỉnh, phần lớn là lao động trẻ, khoảng 20% đã qua đào tạo nghề Chất lượng NNL thấp, lực lượng lao động chưa qua đào tạo, nhất là đối với ngành nghề mới, chiếm tỷ trọng lớn, lao động chưa qua đào tạo kỹ năng tay nghề còn thiếu nhiều Tỉnh Vĩnh Long thời gian qua cũng có nhiều nỗ lực trong công tác đào tạo và cung ứng NNL, tuy nhiên chất lượng đào tạo và phát triển NNL chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu sản xuất

Thực hiện chương trình mục tiêu kinh tế- xã hội của Nghị quyết đại hội tỉnh Đảng bộ lần VIII và Quyết định số 234/QĐ-UBND ngày 29/01/2007 của UBND tỉnh về phê duyệt đề án phát triển khu, cụm tuyến công nghiệp và làng nghề Vĩnh Long giai đoạn 2006-2010, Vĩnh Long hình thành hai khu công nghiệp tập trung (khu công nghiệp Hòa Phú và khu công nghiệp Bình Minh) và 01 tuyến công nghiệp Cổ Chiên Giai đoạn 2011-2015 tỉnh sẽ phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực Do vậy nhu cầu lao động qua đào tạo gia tăng mạnh trong thời gian tới Theo quy hoạch tổng thể phát triển KTXH tỉnh Vĩnh Long thời kỳ 2011-2020 thì tỷ lệ lao động công nghiệp được đào tạo chiếm khoảng 35% tổng số lao động công nghiệp Như vậy số lao động cần được đào tạo đến năm 2015 là trên 47,8 ngàn và năm 2020 khoảng 90 ngàn người.Trong định hướng giai đoạn 2005-2010 những ngành hàng

có lợi thế cạnh tranh và thu hút nhiều lao động được tỉnh Vĩnh Long khuyến khích phát triển là chế biến nông sản, lương thực thực phẩm…[16].Việc tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo và sử dụng NNL, đặc biệt NNL ngành CNTP hiện nay trên địa bàn Vĩnh Long là rất cần thiết.Với mong muốn giúp nhà trường và các cơ quan chức năng có cái nhìn tổng thể về thực trạng việc đào tạo và sử dụng NNL

ngành CNTP hiện nay, tôi chọn đề tài “Thực trạng việc đào tạo và sử dụng nguồn

nhân lực ngành Công nghệ thực phẩm trình độ cao đẳng được đào tạo tại trường Cao đẳng Cộng đồng Vĩnh Long giai đoạn 2005-2010” để thực hiện luận

văn tốt nghiệp

Trang 13

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu

3.2 Tìm hiểu thực trạng đào tạo nguồn nhân lực ngành CNTP trình độ cao đẳng tại trường Cao đẳng Cộng đồng Vĩnh Long từ năm 2005 đến năm 2010

3.3 Khảo sát thực trạng về việc sử dụng nguồn nhân lực ngành CNTP trình độ cao đẳng tại trường Cao đẳng Cộng đồng Vĩnh Long từ năm 2008 đến năm 2010 3.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trình độ cao đẳng trong thời gian tới

4 Giả thuyết nghiên cứu

- Giai đoạn 2005-2010 trường CĐCĐ Vĩnh Long đã đào tạo NNL ngành CNTP trình độ CĐ đáp ứng nhu cầu tuyển kỹ thuật viên KCS (kiểm tra chất lượng sản phẩm) của các công ty, doanh nghiệp lương thực và chế biến ở địa phương và các tỉnh vùng ĐBSCL, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế về chương trình, về các nguồn lực phục vụ đào tạo

- SV ngành CNTP ra trường chưa đáp ứng hoàn toàn yêu cầu nhà tuyển dụng

về kỹ năng, năng lực làm việc trong thời đại công nghiệp

5 Đối tượng nghiên cứu và khách thể khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng đào tạo và sử dụng NNL ngành CNTP trình độ CĐ được đào tạo tại trường CĐCĐ Vĩnh Long giai đoạn 2005-2010

3.2 Khách thể kháo sát: các nhà tuyển dụng, các giảng viên, cựu sinh viên và sinh viên trường CĐCĐ Vĩnh Long

6 Giới hạn đề tài nghiên cứu

Chỉ khảo sát đánh giá của SV, cựu SV về chương trình đào tạo NNL ngành CNTP và khảo sát việc sử dụng NNL ngành CNTP trình độ cao đẳng được đào tạo tại trường Cao đẳng Cộng đồng Vĩnh Long giai đoạn 2005-2010

Trang 14

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nhằm tổng hợp, phân tích những tài liệu liên quan để làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

7.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi cho sẵn nhằm làm rõ thực trạng về việc đào tạo và sử dụng NNL ngành CNTP trình độ cao đẳng đã được đào tạo tại trường CĐCĐ Vĩnh Long từ năm 2005 đến năm 2010 với mẫu điều tra được chọn ngẫu nhiên gồm các đối tượng được hỏi: sinh viên năm 3, cựu sinh viên và nhà tuyển dụng

- sinh viên năm 3 và cựu sinh viên: để tìm hiểu đánh giá của các em về cơ sở vật chất; đội ngũ GV; chương trình đào tạo; các kiến thức, kỹ năng; năng lực, phẩm chất mà nhà trường trang bị tốt và chưa tốt Đồng thời khảo sát mức độ quan trọng của kiến thức, kỹ năng; năng lực, phẩm chất đối với việc làm và việc thực tập

- nhà tuyển dụng: khảo sát đánh giá của nhà tuyển dụng về kỹ năng, đạo đức, phẩm chất và năng lực làm việc của SV Ngoài ra còn tìm hiểu các yêu cầu của nhà tuyển dụng về kỹ năng, đạo đức, phẩm chất và năng lực SV cần phải có để đáp ứng yêu cầu công việc

Bên cạnh đó đề tài còn khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả sử dụng NNL ngành CNTP mà

đề tài đề xuất

7.3 Phương pháp phỏng vấn nhằm bổ sung kết quả cho phương pháp điều tra Trong đó phỏng vấn nhà tuyển dụng để tìm hiểu đánh giá của họ đối với khả năng, tinh thần, thái độ làm việc của SV và ý kiến của họ về chương trình đào tạo làm sao

để SV đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp; phỏng vấn GV, SV và cựu SV về chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy của GV, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy-học tập và các đề xuất nâng cao chất lượng đào tạo

7.4 Phương pháp thống kê toán học: phần mềm SPSS được dùng để xử lý các

dữ kiện thu được phục vụ cho việc phân tích số liệu cũng như đảm bảo tối đa tính khách quan trong quá trình nghiên cứu

Trang 15

8 Nội dung nghiên cứu

Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận, kết quả nghiên cứu gồm 3 chương:

Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực

Chương II: Thực trạng đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực ngành CNTP trình độ

cao đẳng được đào tạo tại trường CĐCĐ Vĩnh Long giai đoạn 2005-2010

Chương III: Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả sử

dụng nguồn nhân lực ngành CNTP trình độ cao đẳng trong giai đoạn mới

Trang 16

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÀO TẠO

VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay không thành công trong phát triển KTXH của quốc gia, do vậy đây

là vấn đề được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm

1.1.1 Những nghiên cứu nước ngoài

Cuối những năm 1960, khái niệm “vốn con người” (Human Capital) ra đời

và được bàn luận sôi nổi Nhà kinh tế Mỹ Theodore William Schultz đã cho ra đời cuốn sách “Đầu tư vào vốn con người” Gary Stanley Backer đã làm sâu sắc thêm quan điểm đầu tư vào vốn con người bằng một loạt bài giảng về “Nguồn vốn con người: phân tích lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn” Trong công trình này ông đã

đề cập đến tác động của giáo dục đến nguồn vốn con người Ông cho rằng giáo dục làm cho vốn con người không ngừng tăng trưởng.[11, tr.289]

Từ những năm 1980, nhà xã hội học người Mỹ, Leonard Nadler đã đưa ra sơ

đồ quản lý NNL để diễn tả mối quan hệ và các nhiệm vụ của công tác quản lý nguồn nhân lực Ông cho rằng quản lý NNL có 3 nhiệm vụ chính là phát triển NNL (đào tạo, bồi dưỡng, phát triển), sử dụng NNL (tuyển dụng, sàng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ), môi trường NNL (mở rộng chủng loại việc làm, mở rộng qui mô làm việc, phát triển tổ chức) Kết quả nghiên cứu của Leonard Nadle đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng [6, tr.15]

Christian Batal (Pháp) trong bộ sách “Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước” cũng đã khai thác theo hướng này và đưa ra một lý thuyết tổng thể về phát triển NNL Trong đó Christian Batal đã sử dụng kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học khác (giáo dục học, dự báo, dân số học, toán học…) để đưa ra một bức tranh hoàn chỉnh của nhiệm vụ phát triển NNL Các tác giả Brian E.Becker và Markv A.Huselid cũng có sự khai thác tương tự, nhưng để phục vụ cho quản trị nhân sự trong các doanh nghiệp [6, tr.15]

Trang 17

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước

Trong những năm qua, vấn đề đào tạo và sử dụng NNL được nhiều nhà khoa học trong nước quan tâm và đã được trình bày qua nhiều tài liệu khác nhau như bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành, sách, đề tài nghiên cứu, tham luận hội thảo

Bài “Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế” của Nguyễn Ngọc Hội – giảng viên Khoa Công nghệ trường Chính trị Nghệ An, tác giả cho rằng muốn thực hiện phát triển kinh tế nhất thiết phải có những điều kiện cần thiết phục vụ cho phát triển, trong đó có nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu Việc lên kế hoạch đào tạo NNL phải được đồng xây dựng bởi cơ quan chức năng nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp, trong đó cơ quan chức năng nắm vai trò chủ đạo xây dựng kế hoạch lâu dài, nhà trường đóng góp bằng kế hoạch ngắn hạn và cụ thể, doanh nghiệp đóng góp qua góp ý, thỏa thuận hoặc cam kết sử dụng nhân lực trong tương lai

Bài viết “Các nhân tố tác động tới khuynh hướng thay đổi nguồn nhân lực” của tác giả Đoàn Gia Dũng – Đại học Đà Nẵng – đã mô tả các thay đổi cần thiết trong lực lượng lao động của mỗi quốc gia do thách thức của xu thế toàn cầu hóa mang lại Đây được xem là những thay đổi định hướng, căn bản có thể giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các doanh nhân thấy được và định hướng sự phát triển nguồn nhân lực của mình và từ đó đáp ứng các cơ hội và thách thức do hội nhập quốc tế mang lại Trong đó tác giả đưa ra 04 nhân tố chủ yếu: Sự thay đổi về cấu trúc nền kinh tế , Đầu tư xuyên quốc gia ở các nước Châu Á , Những thay đổi trong cấu trúc tổ chức, Sự lỗi thời kiến thức một cách nhanh chóng

Bài viết “Một số giải pháp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam” của thạc sĩ Nguyễn Văn Lượng – Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia

Hồ Chí Minh đăng trong tạp chí Giáo dục số 243 kì 1 tháng 8 năm 2010 – đã phân tích thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam trong những năm qua Theo tác giả nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta đang thiếu hụt trầm trọng, thầy nhiều hơn thợ Cơ cấu nguồn nhân lực tỷ lệ ĐH (cử nhân, bác sĩ, kỹ sư)/ trung học chuyên nghiệp/

Trang 18

công nhân kỹ thuật trung bình ở nước ta là 1:1,16:0,92 ; còn trung bình của thế giới

là 1:4:10 Việc thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao đem lại những hệ lụy xấu cho nền kinh tế Việt Nam như làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế (lợi thế cạnh tranh bằng lao động dồi dào, giả rẻ sẽ mất đi) hoặc làm đánh mất cơ hội tham gia thị trường lao động quốc tế - nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu lao động Từ những phân tích về thực trạng nguồn nhân lực, tác giả đã đưa ra một số giải pháp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Theo tác giả Việt Nam cần phải thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ và hiệu quả để phát triển NNL chất lược cao cho hội nhập kinh

tế thế giới Đã đến lúc Viêt Nam đặt vấn đề lấy sự phát triển NNL làm động lực cho tăng trưởng kinh tế thông qua sự kết hợp chặt chẽ các chiến lược phát triển kinh tế

và phát triển nguồn nhân lực Chỉ có như vậy chúng ta mới giải quyết tận gốc tình trạng thiếu hụt nhân lực, đồng thời biến gánh nặng dân số hiện nay thành lợi thế cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam trong thế kỷ XXI

Bài “Chính sách phát triển nguồn nhân lực đối với các doanh nghiệp trong nông thôn Thái Bình” đăng trên Tạp chí Khoa học và Phát triển của trường đại học Nông nghiệp Hà nội – tập 7, số 6-2009 của đồng tác giả Phạm Vân Đình và Ngô Văn Hoàng (Viện Kinh tế và Phát triển Trường Đại học Nông nghịêp Hà Nội) nghiên cứu các vấn đề liên quan tới việc sử dụng NNL; sự liên kết giữa các doanh nghiệp ở nông thôn Thái Bình với cơ sở đào tạo và tính phù hợp của các chính sách phát triển NNL cho các doanh nghiệp này Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng NNL ở các doanh nghiệp thuộc vùng ven đô cao hơn sơ với các doanh nghiệp thuộc vùng thuần nông Tuy nhiên, sự liên kết giữa các doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo trong vấn đề phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp còn lỏng lẻo Bên cạnh đó, các chính sách phát triển NNL cho các doanh nghiệp còn chưa thực sự phù hợp Bài báo cũng gợi mở những định hướng nhằm phát triển NNL trong các doanh nghiệp ở nông thôn Thái Bình

Bài “Bàn về chất lượng và các giải pháp đảm bảo đào tạo chất lượng cao của

ĐH QGHN” của PGS TS Lê Đức Ngọc đã nhấn mạnh chất lượng đào tạo thể hiện chính qua năng lực của người được đào tạo sau khi hoàn thành chương trình đào tạo Năng lực này bao gồm các thành tố: 1 Khối lượng và trình độ kiến thức được

Trang 19

đào tạo; 2 Kỹ năng thực hành được đào tạo, 3 Năng lực nhận thức và năng lực tư duy được đào tạo, 4 Phẩm chất đạo đức nhân văn được đào tạo.[10, tr.9]

Bên cạnh các bài viết về NNL, còn có khá nhiều đề tài nghiên cứu khoa học

ở cấp nhà nước của các nhà khoa học nổi tiếng đề cập đến vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH HĐH đất nước, trong đó phải kể đến

GS Phạm Minh Hạc là người đã khởi xướng và chủ trì nhiều Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước nghiên cứu về con người Việt Nam nói chung và nghiên cứu về phát triển NNL nói riêng và đã công bố nhiều công trình về con người Việt nam trong sự nghiệp CNH HĐH [10, tr 286] và một số đề tài NCKH khác như:

Đề tài KHCN cấp nhà nước KX-07-14 “Vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại các loại hình lao động nhằm đáp ứng nhu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội trong nền kinh tế mới” (1996) của Giáo sư Nguyễn Minh Đường đã đề cập đến thực trạng đào tạo và bồi dưỡng lại ở Việt Nam, vấn đề sử dụng NNL sau đào tạo, bồi dưỡng Cuối cùng, ngoài những kiến nghị về đào tạo và bồi dưỡng, giáo sư còn đưa ra khuyến nghị về tuyển dụng, sử dụng, chính sách với người lao động được đào tạo, bồi dưỡng lại Nghiên cứu chỉ xem xét NNL trong giai đoạn đang hình thành, trong giai đoạn đào tạo nghề nghiệp

Đề tài KHCN cấp Nhà nước KX-07-13 “Vấn đề phát huy và sử dụng đúng đắn vai trò động lực của con người trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội” của

GS Lê Hữu Tầng đã chú trọng đến những yếu tố tạo động lực làm việc của con người như lợi ích, nhu cầu, trong đó sự phân phối theo lao động là nguồn động lực

có hiệu quả đối với người lao động Ngoài ra các yếu tố dân chủ, môi trường tâm lý

xã hội, niềm tin, các hoạt động văn hóa, thể thao cũng tác động như những động lực chính trị, động lực tinh thần trong xã hội

Đề tài NCKH “Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực ở Đồng bằng sông Cửu Long” (2009) của PGS,TS Huỳnh Thị Gấm- Học viện Chính trị-Hành chính KV2 và TS Phạm Ngọc Trâm-ĐH KHXHNV-ĐHQG TP HCM đã phân tích những lợi thế của đồng bằng sông Cửu Long về vị trí địa lý, sự ưu đãi của thiên nhiên, nguồn nhân lực trẻ, dồi dào và năng động Đồng thời các tác giả cũng đã mô

Trang 20

tả thực trạng nguồn nhân lực tại vùng đồng bằng sông Cửu Long Qua khảo sát các tác giả cho biết chất lượng NNL đồng bằng sông Cửu Long còn thấp, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm 83,25%, trong đó có nhiều tỉnh tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm hơn 90%, như: Đồng Tháp, Kiên Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng… Trong khi đó tỷ lệ chung cả nước là 74,6% Với tỷ lệ này, đồng bằng sông Cửu Long xếp thứ 7/8 vùng của cả nước Sau cùng các tác giả đã đưa ra 06 giải pháp phát triển nguồn nhân lực ở đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có tiếp tục xã hội hóa việc đào tạo nguồn nhân lực; có tầm nhìn chiến lược, tạo mối liên kết đa chiều trong đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội

Ngoài ra nhiều luận văn thạc sĩ cũng đã nghiên cứu về vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, trong đó có:

Luận văn “Tìm hiểu thực trạng và sử dụng nguồn nhân lực ở Việt nam” của Nguyễn Thị Quế Phụng – 2004 bằng phương pháp thống kê, phân tích số liệu đã khái quát hóa hiện trạng đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực Tác giả cho rằng sự không phù hợp của giáo dục đào tạo với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội làm gia tăng nạn thất nghiệp, do số sinh viên ra trường không tìm được việc làm và tạo sự mất cân đối trong cơ cấu lao động, thừa thầy, thiếu thợ Tác giả cũng đã đưa ra 03 mục tiêu phát triển giáo dục (nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, mở rộng qui mô giáo dục đào tạo và tăng cường các hoạt động hỗ trợ cho giáo dục đào tạo) và một

số chiến lược hành động để đạt được mục tiêu phát triển giáo dục đào tạo

Luận văn thạc sĩ “Điều tra nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp ở

An Giang” của tác giả Tô Thiện Hiền, bằng phương pháp thông kê, phân tích số liệu thu thập được tác giả đã nghiên cứu hiện trạng và nhu cầu nhân lực của các đơn vị thuộc ngành nông nghiệp, Hợp tác xã nông nghiệp của tỉnh Qua đó tác giả đã xác định được những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển nhân lực ngành nông nghiệp và đề xuất các giải pháp phát triển nhân lực nông nghiệp của tỉnh Luận văn thạc sĩ “Sử dụng NNL nông thôn Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” của tác giả Bùi Quang Minh, bằng phương pháp thông kê, phân tích số liệu thu thập được tác giả đã đánh giá tình hình sử dụng NNL ở nông thôn Việt Nam

Trang 21

dưới góc độ xem xét cung cầu trên thị trường lao động ở khu vực này Trên cơ sở

đó, tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần thúc đẩy sự phát triển KTXH của nông thôn Việt Nam

Giáo sư Phạm Minh Hạc, ngoài việc chủ xướng nhiều đề tài NCKH về nguồn nhân lực còn viết rất nhiều sách đề cập đến vấn đề này Sách “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào CNH, HĐH” nhà xuất bản Chính tri Quốc gia của ông đã đề cập khá toàn diện đến vấn đề nguồn nhân lực Tác giả đã trình bày một số nghiên cứu cụ thể về nguồn nhân lực, việc đào tạo, bồi dưỡng, tạo động lực làm việc cho người lao động, nhấn mạnh tư tưởng phát triển bền vững con người, mỗi con người là cá nhân độc lập, làm chủ quá trình lao động, lấy lợi ích cơ bản người lao động làm nguyên tắc cơ bản của quản lý lao động, phát triển nguồn nhân lực bám sát yêu cầu thị trường

Sách “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam”, nhà xuất bản Lao động, 2003 của TS Nguyễn Hữu Dũng đã phân tích khá rõ nét về thực trạng phát triển, phân bố, sử dụng nguồn lực con người ở Việt Nam Việc khai thác hiệu quả nguồn lực con người được đánh giá trên bình diện quốc gia trên cơ sở một số chỉ tiêu như số người làm việc trong nền kinh tế quốc dân, mức tiền công bình quân giờ theo trình độ chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ thất nghiệp thành thị, mối quan hệ giữa tiền lương với doanh thu, nộp ngân sách và lợi nhuận, v…v…Trên cơ sở đó tác giả đưa ra một số giải pháp phân bố và sử dụng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực một cách hợp lý Đặc biệt tác giả đã đề cập đến một số chínhh sách mang tính định hướng cho việc sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người đến năm 2010 Tuy nhiên các chính sách chưa được xem xét theo đặc trưng các ngành khác nhau Thêm vào đó nhiều Hội thảo khoa học xoay quanh vấn đề đào tạo NNL trong giai đoạn CNH HĐH với sự tham gia của hàng trăm nhà khoc học trong và ngoài nước được tổ chức trong những năm gần đây Có thể kể tới một số Hội thảo lớn như:

Hội thảo “Đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học Việt Nam” được tổ chức tại Đà lạt năm 2000 [10, tr 8]

Trang 22

Hội thảo “Đổi mới phương pháp dạy-học ở đại học và cao đẳng” tổ chức tại

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đề tài nghiên cứu

1.2.1 Nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực

- Nguồn nhân lực: Thuật ngữ nguồn nhân lực (human resources) xuất hiện vào

thập niên 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý,

sử dụng con người trong kinh tế lao động Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực Chẳng hạn:

Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới [13, tr.265] Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi NNL

là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức;

Trong báo cáo của Liên hiệp quốc đánh giá về những tác động của toàn cầu hoá đối với NNL đã đưa ra định nghĩa NNL là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con

Trang 23

người Quan niệm về NNL theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng của NNL;

Ngân hàng thế giới cho rằng Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân; như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên

Trong khi đó Tổ chức lao động quốc tế cho rằng Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động;

Nguồn nhân lực, theo GS Phạm Minh Hạc, là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH [7, tr.269]

Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức [13]

Từ việc tham khảo các định nghĩa về NNL nêu trên, theo chúng tôi, nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết & cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế- xã hội nhất định Như vậy NNL ngành CNTP là tổng thể tiềm năng lao động của con người gồm thể lực, kiến thức chuyên môn ngành CNTP và yêu cầu kỹ năng, phẩm chất của ngành nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội nói chung và của nhà tuyển dụng nói riêng

Để có được NNL đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu KTXH nhất định, phải chú trọng việc đào tào Đào tạo nguồn nhân lực là cần thiết cho sự

thành công của tổ chức và sự phát triển chức năng con người Theo tác giả Võ Xuân Tiến “đào tạo nguồn nhân lực là hoạt động làm cho con người trở thành người có

năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định Là quá trình học tập để làm cho người

Trang 24

lao động có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ”[13, tr 264]

Vậy đào tạo NNL nhằm giúp cho người lao động tiếp thu các kiến thức kỹ thuật nhằm thực hiện công việc một cách hoàn hảo hơn và nâng cao khả năng, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ của mình Đào tạo có nhiều hình thức khác nhau: đào tạo

cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo…Đào tạo NNL ngành CNTP là trang bị cho NNL kiến thức cơ

sở và kiến thức chuyên ngành cùng các kỹ năng cần thiết đáp ứng yêu cầu của ngành nhằm thực hiện công việc một cách hiệu quả hơn

Kết quả của quá trình đào tạo NNL sẽ nâng cao chất lượng, phát triển NNL

đó Theo PGS.TS Nguyễn Thị Doan “Phát triển NNL là việc tạo ra sự tăng trưởng

bền vững về hiệu năng của mỗi thành viên người lao động và hiệu quả chung của tổ chức, gắn liền với việc không ngừng tăng lên về chất lượng và số lượng của đội ngũ cũng như chất lượng sống của nhân lực.” [2, tr.25] Quan điểm của GS.TSKH Nguyễn Minh Đường “Phát triển NNL được hiểu là gia tăng giá trị cho con người trên các mặt trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, đạo đức, tâm hồn để họ có thể tham gia vào lực lượng lao động, làm giàu cho đất nước, góp phần cải tạo xã hội, cũng như phát huy truyền thống của dân tộc và góp phần tô điểm thêm bức tranh muôn màu của nhân loại Do vậy, phát triển NNL phải được tiến hành trên cả ba mặt: phát triển nhân cách, phát triển sinh thể, đồng thời tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho NNL phát triển"; [16]

Theo quan niệm của Liên hiệp quốc: Phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển KTXH và nâng cao chất lượng cuộc sống nguồn nhân lực; [13]

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) khi nói về sử dụng năng lực con người cho rằng “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm không chỉ sự chiểm lĩnh trình độ ngành nghề, mà bên cạnh phát triển năng lực, là làm cho con người có nhu cầu sử dụng năng lực đó để tiến đến có việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”[16]

Trang 25

Quan niệm của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO): Phát triển con người một cách hệ thống vừa là mục tiêu, vừa là đối tượng của sự phát triển của một quốc gia Nó bao gồm mọi khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội như nâng cao khả năng cá nhân, tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo [13]

Từ những luận điểm trên, phát triển NNL chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng NNL trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu NNL Nói một cách khái quát nhất, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ KTXH và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người Phát triển NNL với nội hàm trên đây thực chất là đề cập đến vấn đề chất lượng NNL và khía cạnh xã hội của nguồn nhân lực của một quốc gia Như vậy có thể nói phát triển NNL ngành CNTP là sự gia tăng số lượng và sự hoàn thiện, nâng cao chất lượng NNL, được biểu hiện ở việc nâng cao trình độ chuyên ngành CNTP, sức khỏe

và thể lực cũng như ý thức, đạo đức nghề nghiệp đối với ngành CNTP của NNL nhằm đáp ứng đòi hỏi về NNL cho sự phát triển KTXH nói chung, cho ngành CNTP nói riêng trong từng giai đoạn phát triển

1.2.2 Sử dụng nguồn nhân lực

Cũng như mọi nguồn tài nguyên khác, NNL chỉ thực sự có giá trị khi nó

được khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả Sử dụng nguồn nhân lực theo

nghĩa rộng, là quá trình thu hút và phát huy lực lượng lao động vào hoạt động lao động xã hội nhằm tạo ra của cải vật chất và văn hóa đáp ứng nhu cầu của xã hội và mỗi thành viên trong xã hội Thước đo chung nhất biểu hiện trình độ sử dụng NNL

xã hội là tỷ lệ người có việc làm và ngược lại là tỷ lệ người thất nghiệp trong nguồn nhân lực so với lực lượng lao động xã hội Vì vậy nói đến vấn đề sử dụng nguồn nhân lực là đề cập đến tình trạng có việc làm và thất nghiệp trong xã hội [8, tr.109]

Theo nghĩa hẹp, sử dụng nguồn nhân lực là quá trình kết hợp sức lao động với tư liệu lao động (máy móc, thiết bị, công cụ) và đối tượng lao động (nguyên, nhiên, vật liệu, đất đai) nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ có ích đã được xác định Theo nghĩa này thì việc sử dụng có hiệu quả NNL biểu thị bởi các chỉ tiêu chủ yếu như mức độ sử dụng thời gian lao động trong quá trình làm việc (ví dụ tỷ lệ số giờ,

Trang 26

ngày giờ lao động thực tế so với tổng số giờ, ngày lao động theo chế độ hoặc theo

kế hoạch) và mức tăng năng suất lao động cá nhân [8, tr.110]

Để NNL đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng, được sử dụng hợp lý, hiệu quả phải dựa vào chất lượng của NNL đó Chất lượng NNL đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội Vậy chất

lượng nguồn nhân lực là gì? Chất lượng nguồn nhân lực - theo PGS TS Phùng

Rân – được thể hiện ở hai tiêu chí là phẩm chất đạo đức và năng lực hoạt động

“Chất lượng NNL là trạng thái nhất định của NNL thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của NNL Đó là các yếu tố về tinh thần, thể lực, trí lực” [8, tr.82]

Như vậy chất lượng nguồn nhân lực chính là trình độ, kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động đối với công việc Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ yêu cầu người lao động phải có trình độ học vấn cơ bản, trình độ chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động tốt để có khả năng tiếp thu và áp dụng công nghệ mới, làm việc chủ động, linh hoạt, sáng tạo, sử dụng được các công cụ, phương tiện lao động hiện đại, tiên tiến Ngoài yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, quá trình lao động đòi hỏi người lao động hàng loạt phẩm chất như tính kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong lao động công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao NNL có chất lượng nghĩa là NNL thỏa điều kiện về trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước

1.3 Yêu cầu phát triển NNL đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp CNH-HĐH

Thực chất CNH-HĐH là áp dụng các phương pháp sản xuất công nghiệp và

áp dụng các phương tiện kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Sự nghiệp CNH-HĐH đặt ra những yêu cầu cao đối với sự phát triển NNL trên cả ba phương diện thể lực, trí lực và phẩm chất tâm lý xã hội

- Thể lực: có sức chịu đựng dẻo dai, đáp ứng những quá trình sản xuất liên tục, kéo dài; có các thông số nhân chủng học đáp ứng được các hệ thống thiết bị công nghệ được sản xuất phổ biến và trao đổi trên thị trường (việc thiết kế và sản xuất các thiết

bị công nghệ đáp ứng các yếu tố nhân chủng học của từng quốc gia thường có giá

Trang 27

thành cao, mặt khác nếu các yếu tố nhân chủng học của người lao động không đáp ứng kích thước của các thiết bị công nghệ phổ biến trên thị trường thì sẽ không phát huy được công suất của thiết bị và làm tăng tai nạn lao động, giảm chất lượng sản xuất.); luôn có sự tỉnh táo, sáng khoái tinh thần (kỹ thuật và công nghệ ngày càng tinh vi, đòi hỏi sự chính xác và an toàn cao độ, mặt khác giá trị của nhiều loại sản phẩm rất lớn, chỉ một sơ suất nhỏ trong động tác, thao tác lao động có thể sẽ gây tổn thất to lớn)

-Trí lực: có trình độ quản lý, chuyên môn và kỹ thuật cao có khả năng đảm nhiệm các chức năng quản lý ngày càng phức tạp và các phương pháp quản lý hiện đại, nắm bắt và phát triển các công nghiệp hiện đại trong tất cả các lĩnh vực của sản xuất

xã hội

- Phẩm chất tâm lý xã hội: có tác phong công nghiệp, có ý thức kỷ luật tự giác cao,

có niềm say mê nghề nghiệp chuyên môn, sáng tạo, năng động trong công việc, có khả năng chuyển đổi công việc cao, thích ứng với những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý [8, tr 90-93]

NNL ngành CNTP nằm trong tổng thể NNL chung của cả nước cho nên cũng không ngoại lệ, không thể nằm ngoài các yêu cầu chung đối với NNL, nghĩa là phải

có sức khỏe tốt, có năng lực chuyên môn về kiểm tra, đánh giá chất lượng thực phẩm, an toàn, vệ sinh thực phẩm và phẩm chất đạo đức Sức khỏe tốt không chỉ được hiểu là tình trạng không có bệnh tật, mà còn là sự hoàn thiện về mặt thể chất

và tinh thần Dù là lao động chân tay hay lao động trí óc đều cần có sức vóc thể chất tốt để duy trì và phát triển trí tuệ, để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, biến tri thức thành sức mạnh vật chất Hơn nữa cần có sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, niềm tin và ý chí, khả năng vận động của trí lực trong những điều kiện khác nhau Năng lực trí tuệ, phẩm chất đạo đức ngày nay biểu hiện ở sự nhạy bén, khả năng thích nghi nhanh và làm chủ được những kỹ thuật-công nghệ hiện đại; khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghề nghiệp thể hiện qua trình độ tay nghề, mức độ thành thạo chuyên môn nghề nghiệp NNL được đào tạo đáp ứng các yêu cầu về sức khỏe, năng lực chuyên môn và kỹ năng phẩm chất là một trong

Trang 28

những nhân tố quan trọng hàng đầu đối với phát triển KTXH, góp phần thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ của công cuộc CNH-HĐH.

1.4 Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế xã hội

Trong thời đại ngày nay, các quốc gia trên thế giới đều hết sức coi trọng vai trò của nguồn nhân lực, quan tâm phát triển nguồn nhân lực, coi nguồn nhân lực như là một trong những nhân tố được quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển quốc gia Họ xem đầu tư cho NNL chính là tạo ra cơ sở vững chắc cho sự phát triển

bền vững và cường thịnh của mỗi quốc gia

1.4.1 Nguồn nhân lực – mục tiêu và động lực chính của sự phát triển

Nói đến vai trò NNL đối với sự phát triển là nói đến vai trò của con người trong sự phát triển, thể hiện ở hai mặt, thứ nhất, con người với tư cách là người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ và kho tàng văn hóa, thứ hai với tư cách là người lao động, tạo ra tất cả sản phẩm đó với sức lực và óc sáng tạo vô hạn

Để tồn tại và phát triển, con người phải được đáp ứng những nhu cầu về vật chất và tinh thần Sự tiêu dùng của con người không chỉ là sự tiêu hao kho tàng vật chất và văn hóa do con người tạo ra, mà chính là nguồn gốc của động lực phát triển

xã hội Để không ngừng thỏa mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao về số lượng và chất lượng trong điều kiện các nguồn lực đều có hạn, con người ngày càng phải phát huy đầy đủ hơn khả năng về thể lực và trí lực cho việc phát triển không ngừng kho tàng vật chất và tinh thần đó Chính vì vậy sự tiêu dùng của con người, sự đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầu của con người là động lực của sự phát triển

Với tư cách là người sản xuất, con người có vai trò quyết định đối với sự phát triển Tất cả các kho tàng vật chất và văn hóa đã có và còn tiếp tục được sáng tạo thêm làm phong phú sản phẩm lao động của con người, đều là kết quả hoạt động lao động của con người Trong bất kỳ một trình độ văn minh sản xuất nào, lao động của con người vẫn đóng vai trò quyết định Chỉ có khác nhau là sự phát triển của văn minh sản xuất sẽ dẫn đến sự thay đổi vị trí của lao động chân tay và lao động trí tuệ, trong đó lao động trí tuệ ngày càng có vai trò quyết định

Trang 29

Xem xét yếu tố con người với tư cách là nguồn lực cơ bản của sự phát triển KTXH, UNESCO nêu “ Con người đứng ở trung tâm của sự phát triển, là tác nhân

và là mục đích của sự phát triển” [8, tr.71]

Tóm lại sự phát triển KTXH phụ thuôc vào nhiều yếu tố, nhiều điều kiện nhưng chủ yếu nhất vẫn là phụ thuộc vào yếu tố con người Nếu so sánh các nguồn lực với nhau thì NNL có ưu thế hơn cả Do vậy, hơn bất cứ nguồn lực nào khác, nguồn nhân lực luôn chiếm vị trí trung tâm và đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ CNH-HĐH.” [4, tr.201]

1.4.2 Vai trò nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước

Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn

Các công trình nghiên cứu và thực tế phát triển của các nước đều đã khẳng định vai trò có tính chất quyết định của NNL đối với phát triển KTXH nói chung và đặc biệt với quá trình CNH HĐH Khoa học kỹ thuật tiến bộ như vũ bão, trang thiết

bị công nghệ mới, hiện đại, tiên tiến được đưa vào quy trình sản xuất, nhưng nếu thiếu đội ngũ lao động có trình độ, kỹ năng tương ứng, không đổi mới cơ chế quản

lý, điều hành cũng không thể phát huy được hiệu quả sản xuất Trong học thuyết tăng trưởng về kinh tế, Mankiw nhận định “Sự đầu tư cho con người trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của từng cá nhân làm nâng cao mức sống của toàn

xã hội và nhờ đó tạo khả năng tăng năng suất lao động” [8, tr.72] Đây là nhận định rất quan trọng và trong vài thập kỷ gần đây, một số nước Châu Á như Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore đã áp dụng quan điểm này vào chiến lược phát triển KTXH

Trang 30

của họ Xuất phát điểm của các nước Châu Á là những nước nghèo, chỉ có lao động đông và rẻ nhưng lại thiếu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật không thể tiến hành CNH-HĐH Muốn nâng cao mức sống, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế

họ đã chọn con đường đầu tư nâng cao chất lượng NNL Nghiên cứu về nguyên nhân thành công của những nước này, các nhà kinh tế đều thống nhất nhận định rằng NNL có trình độ cao là động lực chính thúc đẩy CNH-HĐH [8, tr.73]

Ở nước ta, nhận thức vai trò động lực của NNL đối với quá trình CNH HĐH đất nước, Đảng ta đã chỉ đạo “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”[4].Nguồn lực con người được coi là nội lực cơ bản nhất cần khai thác và phát huy để tiến hành CNH HĐH đất nước Nghị quyết Đại hội VIII đã khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Viêt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH HĐH.” [4, tr 21] Thế kỷ XXI là thế kỷ của trí tuệ và tri thức, các sáng tạo khoa học công nghệ tác động mạnh mẽ đến toàn nhân loại Trong khi đó Việt Nam

là nước nông nghiệp lạc hậu, đất hẹp, người đông, tài nguyên ít Con đường để Việt nam có thể đi lên cạnh tranh và hòa nhập là nhanh chóng nâng cao chất lượng NNL

“nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước

ta, khi nguồn tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp.” [3, tr.9]

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc đào tạo nguồn nhân lực

Công tác đào tạo và phát triển NNL chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, trong

đó có thể kể đến các nhân tố như chương trình đào tạo, mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp giảng dạy, các nguồn lực (đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất)

và chế độ chính sách dành cho giảng viên

1.5.1 Chương trình, mục tiêu, nội dung đào tạo và phương pháp giảng dạy Trong định hướng phát triển giáo dục đào tạo Đảng đã chỉ đạo “Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp”[4, tr 206 ] và nêu rõ “Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học” [4, tr.207]

- Chương trình đào tạo

Trang 31

NNL chất lượng cao, là những con người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo, nói cách khác, đó chính là năng lực thực hiện của NNL Năng lực thực hiện này chỉ có thể có được thông qua giáo dục – đào tạo và tích lũy kinh nghiệm trong quá trình làm việc Tuy nhiên, ngay cả việc tích lũy kinh nghiệm này cũng phải dựa trên một nền tảng là giáo dục- đào tạo nghề nghiệp cơ bản Như vậy, có thể thấy, vai trò quyết định của giáo dục- đào tạo nghề nghiệp đối với việc hình thành và phát triển năng lực thực hiện của con người Trong đó chương trình đào tạo đóng vai trò quan trọng, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng người học có được và một chương trình tiên tiến là chương trình

có thể liên thông lên bậc học cao hơn hoặc liên thông với các chương trình giáo dục khác Trong Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường CĐ (Ban hành kèm theo Quyết định số 66/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007 của Bộ trưởng BGDĐT)

ở điều 6 có nêu “Chương trình giáo dục có mục tiêu rõ ràng, cụ thể, cấu trúc hợp lý, được thiết kế một cách có hệ thống, đáp ứng yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng của trình độ đào tạo CĐ.” Trong Luật giáo dục của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 có nêu “Chương trình giáo dục đại học thể hiện mục tiêu giáo dục đại học; quy định chuẩn kiến thức,

kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình

độ đào tạo của giáo dục đại học; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương trình

giáo dục khác.” Thực hiện theo Luật giáo dục, chương trình đào tạo ngành CNTP

của trường CĐCĐ Vĩnh Long quy định chuẩn kiến thức được cung cấp là có kiến thức cơ bản về Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội và nhân văn phù hợp với ngành đào tạo đáp ứng việc tiếp thu kiến thức cơ sở về vi sinh, hóa sinh, thực phẩm, dinh dưỡng và chuyên môn về chế biếnvà sau khi hoàn thành chương trình đào tạo, sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn về công nghệ chế biến, bảo quản lương thực thực phẩm

- Mục tiêu đào tạo

Trang 32

Một chương trình đào tạo không thể gọi là hoàn chỉnh nếu như nó thiếu đi phần mục tiêu đào tạo Mục tiêu đào tạo có vai trò định hướng người học có được những gì sau khi hoàn thành khóa học hay học xong chương trình Theo Luật giáo dục năm 2005 “Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” Mục tiêu đào tạo ngành CNTP của trường CĐCĐ Vĩnh Long là đào tạo người học có phẩm chất đạo đức, sức khỏe; được trang bị kiến thức giáo dục đại cương, kiến thức cơ sở ngành và kiến thức ngành về thực phẩm, kiểm tra, đánh giá chất lượng thực phẩm và công nghệ chế biến, có khả năng áp dụng các quy trình công nghệ vào điều kiện sản xuất thực tế tại các cơ sở sản xuất thực phẩm;

có kỹ năng kiểm tra, đánh giá chất lượng thực phẩm, có kỹ năng thực hành thao tác công nghệ để tạo ra sản phẩm, tham gia công tác tổ chức, quản lý từng công đoạn sản xuất nhất định

- Nội dung đào tạo:

Nội dung đào tạo là phần cốt lõi, cơ bản của chương trình đào tạo Mục tiêu đào tạo có đạt được hay không tùy thuộc vào nội dung đào tạo Sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, thực hiện CNH-HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng đặt ra cho giáo dục, đào tạo những yêu cầu, nhiệm vụ, thách thức mới Để đào tạo NNL có trình độ cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế tri thức thì nội dung đào tạo phải có tính hiện đại, cơ cấu hợp lý giữa các loại kiến thức Luật giáo dục năm 2005 có quy định “Nội dung giáo dục đại học phải có tính hiện đại và phát triển, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản, ngoại ngữ và công nghệ thông tin với kiến thức chuyên môn và các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc; tương ứng với trình độ chung của khu vực và thế giới.” “Đào tạo trình độ CĐ phải bảo đảm cho SV có những kiến thức khoa học cơ bản và kiến thức chuyên môn cần thiết, chú trọng rèn luyện kỹ năng cơ bản và năng lực thực hiện công tác chuyên môn.”

Trang 33

- Phương pháp giảng dạy

Phương pháp giảng dạy là cách thức giảng dạy, truyền đạt kiến thức, nội dung nhằm đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra Hiện nay chúng ta đang hội nhập với thế giới nhằm khai thác nguồn lực bên ngoài để tăng cường sức mạnh cho đất nước Hội nhập quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên ngoài; hội nhập nhưng không hòa tan, vẫn bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc mình và nhất là bảo

vệ được nền độc lập dân tộc Trong điều kiện như vậy, người lao động, ngoài bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức dân tộc cao, còn cần có trình độ trí tuệ ngang tầm Phương pháp giảng dạy chỉ nhằm chất đầy kiến thức vào đầu HSSV là không còn phù hợp Luật giáo dục năm 2005 xác định “Phương pháp đào tạo trình độ CĐ, trình

độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng.” “đổi mới mạnh

mẽ và cơ bản phương pháp giáo dục nhằm khắc phục kiểu truyền thụ một chiều, nặng lý thuyết, ít khuyến khích tư duy sáng tạo; bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề, phát triển năng lực thực hành sáng tạo cho người học, đặc biệt cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng Tích cực áp dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động dạy và học” [1]

Như vậy, để đào tạo được NNL có năng lực, phẩm chất, bản lĩnh, sáng tạo,

có khả năng tự học tập, nghiên cứu, phục vụ công cuộc CNH-HĐH đất nước thì chương trình, muc tiêu, nội dung đào tạo, phương pháp giảng dạy là những nhân tố ảnh hưởng rất lớn Ngoài ra các nguồn lực gồm đội ngũ GV, cơ sở vật chất cũng rất

quan trọng, mang tính quyết định đối với việc đào tạo NNL

Theo Luật giáo dục của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam

số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 nêu rõ: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục” Đánh giá về vai trò của nhà giáo,

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Các thầy cô giáo là những chiến sĩ vô danh”, Người còn khẳng định: “Không có thầy giáo thì không có giáo dục; không có giáo dục thì

Trang 34

không có cán bộ; không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế, văn hóa” [9, tr 184]

Như vậy, tư tưởng của Người đã chỉ rõ vai trò của nhân tố người thầy trong quá trình đào tạo, sự tác động của nhân tố người thầy đối với những vấn đề khác Phát huy truyền thống của dân tộc, tư tưởng của Hồ Chí Minh và từ thực tiễn sự nghiệp

giáo dục đào tạo nước nhà, Đảng ta khẳng định: “Giảng viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh” [3] Đây là cơ sở lý luận và thực

tiễn quan trọng để đánh giá đúng vai trò của nhân tố người thầy trong quá trình đào tạo GS TSKH Lê Ngọc Trà trong phát biểu trả lời phóng viên báo Nhân dân, cho rằng đổi mới giáo dục phải bắt đầu từ nhà trường; muốn nâng cao chất lượng giáo dục đại học, trước hết phải nâng cao chất lượng giáo viên; thầy giỏi thì trò giỏi Tuy nhiên đội ngũ GV đại học, CĐ có trình độ sau đại học hiện chưa nhiều, phần đông giảng viên cốt cán, chuyên gia đầu ngành đã cao tuổi Các trường chưa có kế hoạch đào tạo dài hạn, thiếu chủ động và chưa tận dụng thời cơ Việc chuẩn bị về trình độ chuyên môn và ngoại ngữ của GV các trường đại học, cao đẳng còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được các yêu cầu tuyển chọn của các đề án đào tạo cán bộ khoa học

kỹ thuật ở nước ngoài Đó là tổng kết đánh giá thực trạng đội ngũ GV đại học, CĐ hiện nay của Đề án “ Xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010” của Chính phủ

Cùng với hai yếu tố quan trọng là đội ngũ cán bộ giảng dạy và chương trình đào tạo, thì cơ sở vật chất và thiết bị đào tạo là yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo trong trường ĐH và CĐ

1.5.3 Cơ sở vật chất

Cơ sở vật chất được coi là điều kiện tiên quyết trong phát triển giáo dục, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Nếu thiếu cơ sở vật chất sẽ ảnh hưởng tiêu cực hoặc không thể triển khai các hoạt động dạy và học Trong Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường CĐ (Ban hành kèm theo Quyết định số 66/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007 của Bộ trưởng Bộ GDĐT) ở điều 11 có nêu rõ “Thư viện có đủ tài liệu, sách, báo, tạp chí để tham khảo và học tập theo yêu cầu của chương trình giáo dục theo quy định; có đủ các phòng học, có đủ các phòng thực hành, thí nghiệm và trang thiết bị theo yêu cầu của chương trình giáo dục.” Hiện nay so với nhu cầu

Trang 35

thực tế, thực trạng cơ sở vật chất thiết bị đào tạo các trường ĐH và CĐ mới chỉ đáp ứng ở mức rất thấp Theo kết luận của Bộ trưởng Bộ GDĐT Phạm Vũ Luận tại Hội nghị tổng kết đánh giá thực trạng cơ sở vật chất và thiết bị đào tạo các trường ĐH

và CĐ công lập thì hệ thống trang thiết bị đào tạo, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành mới đáp ứng được 40% nhu cầu đào tạo; hệ thống cơ sở vật chất mới đáp ứng được 50% nhu cầu; hệ thống thư viện, cơ sở vật chất công nghệ thông tin còn rất yếu, nhiều trường chưa có quy hoạch hoặc quy hoạch chưa được phê duyệt, một số trường đã có phê duyệt, một số trường đã có quy hoạch nhưng chất lượng chưa cao, phải thay đổi, điều chỉnh nhiều lần… So với các trường trong khu vực và trên thế giới, các trường ĐH và CĐ Việt Nam còn tồn tại một khoảng cách lớn, khả năng tụt hậu dài

Bên cạnh các nhân tố chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, đội ngũ GV thì các chế độ, chính sách dành cho GV cũng rất quan trọng, ảnh hưởng đến việc đào tạo NNL vì các chế độ, chính sách đó sẽ giữ “chân” đội ngũ GV có năng lực chuyên môn

và nhiệt huyết nghề nghiệp để đảm đương trọng trách mà xã hội kỳ vọng, giao phó

1.5.4 Chế độ, chính sách cho giảng viên

Giáo dục là vấn đề hệ trọng của đất nước Để giáo dục phát triển phải có những con người tâm huyết, yêu nghề, làm giáo dục xuất phát từ tấm lòng với thế

hệ tương lai “Chúng ta đều biết rằng muốn nâng cao chất lượng đào tạo ĐH thì việc làm đầu tiên là phải nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ giảng dạy Và muốn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy điều cần thiết là phải đảm bảo được những điều kiện sống và điều kiện làm việc ở mức độ nhất định để họ yên tâm và tập trung tốt nhất vào đảm trách sứ mệnh của mình”[12] Luật giáo dục của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005quy định “Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng, đãi ngộ, bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học” “Nhà nước có chính sách bồi dưỡng nhà giáo về chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao trình độ và chuẩn hóa nhà giáo” “Nhà giáo được cử đi học nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ được hưởng

Trang 36

lương và phụ cấp theo quy định của Chính phủ.” Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống “tôn sư trọng đạo”, nghề giáo và người thầy luôn được tôn vinh Ngày nay, khi đất nước đang trên đà đổi mới, vai trò, vị thế của người thầy càng được khẳng định Do đó, chăm lo đến đời sống tinh thần, vật chất của người GV là góp phần tạo động lực, khích lệ đội ngũ GV yên tâm đảm nhận sứ mệnh cao cả và hết sức vinh quang của mình

Tóm lại trong tiến trình CNH-HĐH đất nước, giáo dục đóng vai trò then chốt trong việc đào tạo NNL chất lượng cao Do đó hơn bao giờ hết, chất lượng giáo dục cần phải được chú trọng Những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng giáo dục

là chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, đội ngũ GV, các chế độ, chính sách dành cho GV v.v phải được quan tâm, xem xét, đổi mới căn bản, toàn diện tiến tới một nền giáo dục, đào tạo tiên tiến, hiện đại đáp ứng nhu cầu của xã hội và từng cá nhân người học

1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nguồn nhân lực

Để NNL được đào tạo ra có việc làm, nghĩa là được xã hội sử dụng, bị chi phối bởi nhiều yếu tố, trong đó chất lượng đào tạo là yếu tố quan trong hàng đầu

1.6.1 Chất lượng đào tạo

Chất lượng đào tạo ngày nay đã trở thành yếu tố hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia trong cơ chế thị trường cũng như trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập quốc tế “Chất lượng giáo dục, đào tạo phải đặt bên cạnh yêu cầu nâng cao chất lượng NNL và phát triển khoa học công nghệ trong thời đại kinh tế tri thức đang diễn ra trên phạm vi toàn thế giới”[17] Trong Quy định về quy trình kiểm định chất lượng giáo dục ĐH, CĐ ban hành kèm quyết định số 76/2007/QĐ-BGDĐT ngày 14/12/2007 có nêu “Chất lượng giáo dục trường là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục của Luật giáo

dục.”

Trong những năm qua giáo dục ĐH, CĐ còn nhiều bất cập, chất lượng nhìn chung còn thấp, chưa theo kịp đòi hỏi phát triển KTXH Tình trạng giáo dục chạy theo số lượng và sức ép vì bệnh thành tích chưa giảm trong khi xã hội chưa giám sát đầy đủ, chưa có biện pháp xử lý và chấn chỉnh kịp thời Để nâng cao chất lượng đào

Trang 37

tạo ĐH, CĐ không chỉ là việc kiểm tra chất lượng mà phải xây dựng phương án đào tạo cho phù hợp Muốn vậy cần xây dựng từ việc biên soạn các giáo trình học tập có chất lượng, cần nghiêm khắc với cách học đối phó, thụ động của SV, khuyến khích việc học nhóm, giao bài tập dạng tiểu luận có tính chất mở rộng, đồng thời không ngừng đầu tư trang thiết bị dạy học hiện đại tiên tiến Có thực hiện đồng bộ như vậy thì NNL được đào tạo ra mới có thế đáp ứng được những yêu cầu của nhà tuyển dụng

1.6.2 Những yêu cầu của nhà tuyển dụng

Một trong những nguyên nhân khiến Việt Nam thu hút đầu tư nước ngoài là

do lao động rẻ, dân số đang trong độ tuổi “vàng” để có thể đào tạo NNL có kỹ năng Tuy nhiên Việt nam đang phải đối mặt với thách thức lớn là lao động phổ thông không thiếu nhưng rất thiếu lao động kỹ năng được đào tạo theo tiêu chuẩn của CN Bên cạnh các kiến thức chuyên môn cần được trang bị trong trường ĐH, CĐ thì các đơn vị tuyển dụng cũng yêu cầu SV phải có một số kỹ năng mềm như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng xây dựng kế hoạch, kỹ năng phân tích, đánh giá vấn đề, v.v Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp mà các nhà tuyển dụng khác nhau có những đòi hỏi khác nhau về kỹ năng

NNL có vai trò quan trọng trong phát triển KTXH, là mục tiêu và động lực chính của sự phát triển, đặc biệt là trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Vì thế đã

có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề này và đưa ra những giải pháp, chính sách phát triển, nâng cao chất lượng NNL Tuy nhiên hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề bất cập trong việc đào tạo NNL Trên cơ sở tổng quan về vấn đề nghiên cứu, nêu ra các khái niệm chủ yếu, vai trò NNL trong phát triển KTXH, đồng thời chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến việc đào tạo và sử dụng NNL trong chương 1 này có ý nghĩa mang tính lý luận, giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về NNL Trong chương 2 đề tài nghiên cứu thực trạng việc đào tạo và sử dụng NNL ngành CNTP trình độ cao đẳng được đào tạo tại trường Cao đẳng Cộng đồng Vĩnh Long qua việc tìm hiểu chương trình đào tạo, mục tiêu đào tạo, đội ngũ GV và cơ sở vật chất phục vụ công tác đào tạo NNL ngành CNTP, các đánh giá của nhà tuyển dụng về chất lượng đào

Trang 38

tạo cùng các yêu cầu của họ về kiến thức, kỹ năng, năng lực, phẩm chất SV ngành CNTP cần phải có để đáp ứng công việc

Trang 39

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VIỆC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG VĨNH LONG

Trong chương 2 này ngoài phần giới thiệu sơ lược về tỉnh Vĩnh Long và vai trò ngành CNTP và NNL ngành CNTP đối với sự phát triển KTXH của tỉnh, giới thiệu tổng quan về trường CĐCĐ Vĩnh Long để có cái nhìn bao quát về quá trình hình thành, phát triển, giới thiệu về đội ngũ GV ngành CNTP và về cơ sở vật chất phục vụ công tác đào tạo NNL ngành này, đề tài chủ yếu tìm hiểu thực trạng việc đào tạo và sử dụng NNL ngành CNTP do nhà trường đào tạo qua khảo sát đánh giá của SV và cựu SV về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo cùng những kiến thức, kỹ năng các em được cung cấp và tìm hiểu đánh giá của nhà tuyển dụng

về chất lượng đào tạo và các yêu cầu của họ đối với NNL ngành CNTP

2.1 Sơ lược về Vĩnh Long

Vĩnh Long là một tỉnh nông nghiệp thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, giáp ranh với 4 tỉnh Tiền Giang, Trà Vinh, Cần Thơ, và Đồng Tháp Với địa thế nằm giữa hai thành phố lớn là TP Hồ Chí Minh và TP.Cần Thơ đã tạo cho Vĩnh Long vị thế quan trọng trong chiến lược phát triển vùng ĐBSCL, lưu vực sông Mêkông, có sức hấp dẫn, lôi cuốn về tiềm năng phát triển kinh tế trong tương lai

2.1.1 Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Vĩnh Long

Vùng ĐBSCL, trung tâm sản xuất lúa gạo, nuôi trồng thủy sản và trái cây của cả nước đã đóng góp lớn và tạo tăng trưởng của ngành nông nghiệp liên tục ổn định Vì vậy Đảng đã chỉ đạo “vùng đồng bằng sông Cửu Long cần tập trung đầu tư trước hết là phát triển kết cấu hạ tầng…, đồng thời phát triển mạnh công nghiệp chế biến” [4,tr.227]

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII đã đưa ra các chương trình mục tiêu KTXH, trong đó có Chương trình đào tạo NNL & giải quyết việc làm và Chương trình phát triển các khu, cụm, tuyến công nghiệp Đại hội yêu cầu “phải tạo bước chuyển mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế”, “ưu tiên phát triển ngành CN chế biến

Trang 40

nông sản” Chính kế hoạch phát triển của tỉnh đã mở ra nhiều cơ hội cho NNL ngành CNTP

Thực hiện Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ VIII trong tình hình cả nước tiếp tục phát huy thành tựu của gần 25 năm đổi mới, với sự ổn định chính trị cùng việc Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới tạo nhiều cơ hội để phát triển, Vĩnh Long thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực và đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triển KTXH, trong đó ngành CNTP và NNL ngành CNTP có vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế của tỉnh

2.1.2 Vai trò ngành CNTP trong phát triển KTXH của Vĩnh Long

Vĩnh Long năng lực CN chế biến ngày càng được mở rộng, không ngừng tăng lên, sản phẩm phong phú, góp phần quan trọng vào tăng trưởng ngành CN nói riêng và GDP của tỉnh nói chung “Các ngành CN chế biến chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất công nghiệp 95-96% và đóng góp từ 90-97% mức độ tăng trưởng của CN tỉnh Trong 22 phân ngành CN có trên địa bàn tỉnh, những phân ngành thường có đóng góp cao và ngày một tăng cho tăng trưởng CN là chế biến lương thực thực phẩm và đồ uống, dệt may, da, giả da, sản phẩm phi kim, hóa chất.v.v Nếu gộp thành 7 nhóm ngành CN thì những nhóm có tỷ trọng lớn, cũng như khả năng đóng góp cao cho tăng trưởng CN là chế biến lương thực thực phẩm và đồ uống; dệt may,

đồ da và hàng tiêu dùng khác; vật liệu xây dựng và hóa chất” [14, tr.36]

Bảng 2.1 Tăng trưởng của một số ngành công nghiệp tính bằng giá trị sản xuất

Các ngành CN

Tăng trưởng (%)

Tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng (%)

Tăng trưởng (%)

Tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng (%)

1 CN khai thác 52.2 1.6 27.0 0.4

2.CN chế biến lương thực

3 CN hóa chất 10.7 13.0 11.9 8.8 4.CN dệt, may mặc, đồ da

và hàng tiêu dùng khác 31.2 19.6 35.9 22.2

5 CN cơ khí, điện tử, công 10.5 3.9 9.5 2.0

Ngày đăng: 07/05/2021, 23:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w