Lý do chọn đề tài Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong tiến trình dựng nước và giữ nước đã hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi cuộc chiến tranh, mỗi giai
Trang 1KHOA LỊCH SỬ - µ -
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG CUỘC TỔNG
TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975
Chủ nhiệm đề tài NGUYỄN VĂN HẬU Sinh viên ngành LỊCH SỬ VIỆT NAM
KHÓA 2006 - 2010
Tp.Hồ Chí Minh
04 – 2009
Trang 2ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ - µ -
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975
Người hướng dẫn khoa học:
TS HỒ SƠN ĐÀI Chủ nhiệm đề tài : NGUYỄN VĂN HẬU
SV ngành lịch sử Việt Nam Khóa 2006 - 2010 Các thành viên :
LÊ THỊ THỦY
SV lịch sử Khóa 2007 -2011 DƯƠNG TRUNG KIÊN
SV ngành lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Khoá 2005 - 2009
Tp.Hồ Chí Minh 04 - 2009
Trang 3Đề tài “ Nghệ thuật quân sự trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975” là đề tài nghiên cứu do nhóm sinh viên khoa Lịch Sử thực hiện Trên cơ sở nghiên cứu và vận dụng các phương pháp chuyên môn cũng như các phương pháp liên ngành khác, đề tài hướng tới tìm hiểu một cách hệ thống và sâu sắc hơn lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta nói chung, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nói riêng Đây cũng là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm bàn thảo với nhiều vấn đề cần nghiên cứu, tìm hiểu Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu “ Nghệ thuật quân sự trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975”
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài của chúng tôi bao gồm hai chương Trong chương 1, chúng tôi trình bày các vấn đề sau:
- Khái niệm nghệ thuật quân sự
- Nghệ thuật quân sự Việt Nam qua các thời kì lịch sử
Trong chương 2, chúng tôi nghiên cứu: Nghệ thuật quân sự trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975
Trang 4Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Cơ sở lý luận – thực tiễn và phương pháp nghiên cứu 3
3.1 Cơ sở lý luận 3
3.2 Cơ sở thực tiễn 3
3.3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Kết cấu của đề tài 3
5 Đối tượng nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
8 Đóng góp của đề tài 5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ 6
1.1 KHÁI NIỆM NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ 6
1.2 NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ 6
1.2.1 Giai đoạn dựng nước và giữ nước thời Hùng Vương- An Dương Vương (từ thế kỷ II Tr.CN về trước) 7
1.2.2 Giai đoạn đấu tranh chống Bắc thuộc, giải phóng dân tộc (Từ thế kỷ II Tr CN đến thế kỷ X) 8
1.2.3 Giai đoạn đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc (từ thế kỷ X đến thế kỷ XV) 8
1.2.4 Giai đoạn nội chiến, khởi nghĩa nông dân và chiến tranh giữ nước từ đầu thứ kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX 9
1.2.5 Giai đoạn gần 100 năm chống sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân Pháp (từ 1858 đền Cách mạng Tháng Tám 1945) 10
1.2.6 Giai đoạn 30 năm đấu tranh cách mạng, gồm hai cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) 11
1.2.7 Giai đoạn đánh thắng chiến tranh xâm lược ở biên giới phía Bắc và phía Tây - Nam, xây dựng quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (từ sau năm 1975) 12 CHƯƠNG 2 NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975 14
2.1 SƠ LƯỢC DIỄN BIẾN CÁC CHIẾN DỊCH LỚN TRONG MÙA XUÂN 1975 14
2.1.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng ta trong năm 1975 14
2.1.1.1 Tình hình địch .14
2 1.1.2 Tình hình ta .15
2.1.2 Diễn biến các chiến dịch trong tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975 .15
Trang 52.1.2.3 Chiến dịch Hồ Chí Minh .22
2.2 NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975 27
2.2.1 Vận dụng sáng tạo nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh ở bước kết thúc 27
2.2.2 Đánh giá đúng so sánh lực lượng địch – ta, xác định thời cơ hạ quyết tâm kịp thời chính xác .27
2.2.3 Tổ chức lưc lượng, vân dụng phương thức tác chiến chiến lược và triển khai thế trận đúng đắn, sáng tạo .28
2.2.3.1.Về tổ chức lực lượng .28
2.2.3.2 Về phương thức tác chiến .28
2.2.3.3 Về triển khai thế trận chiến lược .28
2.2.4 Tổ chức chiến dịch khoa học, vận dụng nghệ thuật chiến dịch ở bước phát triển cao .29
2.2.4.1 Về tổ chức, sử dụng lực lượng .29
2.2.4.2 Về nghệ thuật chọn hướng chủ yếu .29
2.2.4.3 Về phương thức tác chiến .30
2.2.4.4 Về nghệ thuật tạo tình huống và thời cơ chiến lược .30
2.2.4.5 Về nghệ thuật tạo ra đột biến và chiến lược dẫn đến nhảy vọt về cục diện chiến tranh và sụp đổ dây chuyền về chiến lược 30
2.2.5 Nghệ thuật và tác chiến phòng không – không quân .36
2.2.5.1 Về phòng không .36
2.2.5.2 Về không quân .40
2.2.6 Nghệ thuật sử dụng các binh chủng chiến đấu và đảm bảo chiến đấu .43
2.2.6.1.Về đặc công 43
2.2.6.2 Về pháo binh .44
2.2.6.3 Về bộ đội tăng thiết giáp 48
2.2.6.4 Về công binh .49
2.2.8 Công tác đảm bảo hậu cần, kỹ thuật cho tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 – một sáng tạo của chiến tranh nhân dân .52
2.2.8.1 Về công tác hậu cần .52
2.2.8.2 Về công tác kỹ thuật .53
KẾT LUẬN 54
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong tiến trình dựng nước và giữ nước đã hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi cuộc chiến tranh, mỗi giai đoạn lịch sử, thời kỳ đấu tranh chống ngoại xâm để giải phóng và bảo vệ đất nước Lịch sử tiến hành các cuộc chiến tranh yêu nước, chính nghĩa chống ngoại xâm của dân tộc ta là lịch sử của ngững cuộc chiến tranh nhân dân Nghệ thuật quân
sự Việt Nam là nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân
Thắng lợi của nhân dân ta trong các cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc vừa qua là thắng lợi của đường lối quân sự của Đảng Đường lối ấy vận dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh
về chiến tranh và quân đội vào điều kiện thực tế của Việt Nam, kế thừa và phát triển truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc đồng thời tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm quân sự tiên tiến trên thế giới
Những biểu hiện tập trung của truyền thống quân sự Việt Nam là: Truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần tự lập tự cường, anh dũng bất khuất, quyết chiến quyết thắng Trong quá trình đấu tranh chống ngoại xâm với ý chí “ đánh cho lịch sử biết rằng nước Nam anh hùng chi hữu chủ”, “ thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “ không có gì quý hơn độc lập tự do”, nhân dân Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục Khi ngọn cờ đại nghĩa được phất cao thì cả dân tộc vùng lên quyết chiến quyết thắng
Truyền thống quân sự nổi bật của dân tộc Việt Nam là truyền thống cả nước đồng lòng, chung sức đánh giặc Từ lâu trước họa ngoại xâm, nhân dân Việt Nam
đã sớm có ý thức cố kết dân tộc để giữ nước, sớm biết gắn quyền lợi của Tổ quốc với quyền lợi của gia đình và bản thân, gắn bó nước với nhà, làng với nước trong mối quan hệ keo sơn Mỗi khi có giặc thì “ cả nước chung sức đánh giặc”, thực hiện
“tân dân vi binh”, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, đánh giặc bằng mọi thứ vũ khí
có trong tay như: mác, rìu, dao, gậy tầm vông vốt nhọn…đến những vũ khí tương đối hiện đại Lực lượng tiến hành chiến tranh yêu nước không chỉ có quân đội mà dân chúng cả nước cùng tham gia Trong xây dựng lực lượng với chính sách “ngụ binh ư nông”, đã biết tổ chức ra nhiều thứ quân (quân địa phương, quân trung ương), có lực lượng vũ trang và bán vũ trang
Truyền thống quân sự Việt Nam còn thể hiện ở một nền nghệ thuật quân sự độc đáo của một dân tộc nhỏ chống lại những đạo quân xâm lược lớn mạnh Nét nổi bật về nghệ thuật quân sự của dân tộc Việt Nam là nghệ thuật toàn dân đánh giặc với nhiều hình thức linh hoạt nghệ thụât dùng mưu và dùng thế của một đội quân lấy ít địch nhiều, nhỏ thắng lớn; nghệ thuật thắng địch trong những cuộc đấu tranh lâu dài, đồng thời lại có nghệ thuật đánh thắng địch trong những cuộc đấu tranh tương đối ngắn; luôn quán triệt tư tưởng quân sự truyền thống – tư tưởng tiến công, phát huy cao độ tinh thần anh dũng và trí thông minh, vận dụng nhiều cách đánh phù hợp, tạo thành thế trận cả nước đánh giặc, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh, kết hợp đánh du kích với đánh tập trung, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh
Trang 7lớn; kết hợp tiến công quân sự với đấu tranh chính trị, chú trọng “tâm công” (binh vận) với tinh thần “lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, đem chí nhân thay cường bạo”; kết hợp đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao…tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh thắng địch Truyền thống quân sự Việt Nam là một tài sản
vô giá, là một nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh quân sự mang bản sắc Việt Nam cần được phát huy và kế thừa trong điều kiện mới, góp phần bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ công cuộc lao động hòa bình của nhân dân Việt Nam
Hệ thống các quan điểm và chủ trương chỉ đạo việc chuẩn bị và tiến hành chiến tranh nhân dân chống lại sự xâm lược và ách thống trị của đế quốc nhằm giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Đó là các quan điiểm cơ bản về tính chất và đặc điểm của khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng; về đối tượng tác chiến chiến lược; về nhiệm vụ quân sự của Nhà nước và của lực lượng vũ trang,
về xây dựng các lực lượng vũ trang, xây dựng hậu phương, xây dựng nền quốc phòng; về phương thức tiến hành chiến tranh và nghệ thuật quân sự Đường lối quân
sự của Đảng cộng sản Việt Nam là một bộ phận của đường lối của cách mạng Việt Nam
Lịch sử chiến tranh và bảo vệ đất nước của nhân dân ta đã ghi nhận rằng: Nghệ thuật quân sự là một nhân tố quan trọng trong chiến tranh Nhân dân Việt Nam thắng giặc ngoại xâm không chỉ bằng ý chí quật cường mà còn là sự kết hợp chặt chẽ ý chí với tài trí sáng suốt, thông minh, đánh bằng mưu kế - thắng bằng thế thời Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mà đỉnh cao
là cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân năm 1975 là bước phát triển mới cả về chỉ đạo chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật Nghệ thuật quân sự Việt Nam đạt tới đỉnh cao vừa hàm chứa tính hiện đại của cuộc chiến tranh ở thế kỷ XX, vừa mang nét đặc trưng nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc Biết bao thế hệ người Việt Nam đã chiến đấu vô cùng anh dũng, cực kỳ thông minh và trí tuệ đã để lại một di sản tinh thần, một di sản đạo đức vô giá, một di sản nghệ thuật quân sự phong phú Những di sản có giá trị lý luận và thực tiễn đó, kể cả truyền thống quân
sự ưu Việt cần được trân trọng giữ gìn nghiên cứu, vận dụng và phát triển trong điều kiện mới, góp phần xây dựng, củng cố vững mạnh nền quốc phòng toàn dân theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đường lối quân sự của Đảng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Nhân dịp kỷ niệm 34 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/04/1975 – 30/04/2009), nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài “Nghệ thuật quân sự trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975” làm đề tài nghiên cứu
khoa học sinh viên, nhằm tìm hiểu nghệ thuật quân sự độc đáo trong cuộc tổng tiến
công và nổi dậy xuân 1975 , góp phần làm phong phú thêm kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi tập trung vào các mục đích sau:
Tìm hiểu nghệ thuật quân sự trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân
1975, từ đó tìm ra những nét độc đáo về nghệ thuật quân sự của sự kiện lịch sử này trong kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam Qua đó để hiểu một cách hệ thống và
Trang 8sâu sắc hơn lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta nói chung, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nói riêng
3 Cơ sở lý luận – thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
và nổi dậy xuân 1975
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, nhóm chúng tôi sử dụng hai phương pháp nghiên cứu cơ bản là: Phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra đề tài còn sử dụng một số phương pháp liên ngành khác như: so sánh, phân tích
4 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm hai chương:
Chương I: Tìm hiểu nghệ thuật quân sự Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử Chương II: Tìm hiểu nghệ thuật quân sự độc đáo trong cuộc tổng tiến công
và nổi dậy xuân 1975
5 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng: Những nội dung thuộc nghệ thuật quân sự, bao gồm: chỉ đạo chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975
6 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Chiến trường miền Nam
Thời gian: Từ chiến dịch Buôn Ma Thuột đến chiến dịch Hồ Chí Minh
7 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, giới sử học đã lần lượt công bố rất nhiều công trình khoa học lịch sử, nhiều tác phẩm sử học, trong đó phản ánh từng
Trang 9khía cạnh khác nhau của lịch sử quân sự Các công trình nghiên cứu đó đề cập đến lịch sử dân tộc nói chung, các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh yêu nước, các trận đánh lớn hoặc các danh nhân quân sự, các anh hùng dân tộc Việt Nam Những bộ lịch sử lớn được xuất bản như Lịch sử Việt Nam (2 tập) do Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam tổ chức thực hiện, các bộ Giáo trình lịch sử Việt Nam của Đại học Tổng hợp và Đại học Sư phạm Hà Nội , đều là những công trình thông sử có đề cập đến nội dung và truyền thống quân sự - truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc ta
Nhiều công trình chuyên khảo về các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh lớn trong lịch sử được xuất bản như Kháng chiến chống Tống, Kháng chiến chống
Nguyên - Mông, Khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước, Cách
mạng Tây Sơn Thiên tài quân sự Nguyễn Huệ, 80 năm chống Pháp, Chống xâm lăng, Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp và Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Những danh nhân đã và đang được quan tâm nghiên cứu như các anh hùng dân tộc Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, Hồ Chí Minh v.v
Nhiều nhà sử học Việt Nam đã có đóng góp lớn trong việc nghiên cứu v ề truyền thống quân sự anh hùng của dân tộc Giới sử học nước ngoài như ở Trung Quốc, Pháp, Nga, Mỹ, Anh, Nhật Bản, v.v trên những quan điểm và mục đích khác nhau đều đã nghiên cứu và công bố một số công trình lịch sử Việt Nam, về các cuộc chiến tranh và một số nhân vật quân sự tiêu biểu của Việt Nam
Nhiều nhà sử học nước ngoài tìm hiểu để trả lời câu hỏi lớn: Tại sao dân tộc Việt Nam có sức sống mãnh liệt và có truyền thống quân sự đặc biệt như vậy? Tại sao một nước nhỏ và nghèo như Việt Nam lại có thể chiến thắng những kẻ thù to lớn và hùng mạnh?
Hàng trăm công trình nghiên cứu lịch sử và tổng kết hai cuộc kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ đã được công bố Những bộ lịch sử quan trọng như Sự
nghiệp và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (6 tập), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (2 tập), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975 (9 tập), Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam (2
tập), Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam (2 tập), Giáo trình Lịch sử quân sự (5 tập), những công trình chuyên khảo như Nghệ thuật quân sự Việt Nam cổ - trung
đại (2 tập), và các tác phẩm như:
Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc – Đại tướng
Võ Nguyên Giáp – NXB Sự thật Hà Nội – 1979
Chiến tranh nhân dân quốc phòng toàn dân – Đại tướng Văn Tiến Dũng – NXB Quân đội nhân dân – 1979
Những tháng ngày quyết định – Đại tướng Hoàng Văn Thái – NXB Quân đội nhân dân
Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước: Thắng lợi và bài học – Ban chỉ đạo chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị - NXB Chính trị quốc gia Hà Nội –
Trang 10Ngoài những công trình nói trên, tạp chí Lịch sử quân sự thuộc Viện Lịch sử quân sự Việt Nam từ năm 1982 đến nay đã công bố nhiều chuyên luận khoa học về truyền thống quân sự Rất nhiều vấn đề thuộc lĩnh vực khoa học lịch sử quân sự đã được nghiên cứu, trao đổi Những năm qua, nhiều nội dung của lịch sử quân sự được nghiên cứu sâu sắc hơn Các cuộc hội thảo khoa học đã được tổ chức, nhiều đề tài khoa học cấp nhà nước, cấp bộ và cấp cơ sở được triển khai và công bố Nguồn
sử liệu phong phú và đa dạng Sự giao lưu và hợp tác khoa học giữa các cơ quan chuyên trách và các nhà nghiên cứu sử học được tiến hành thường xuyên và có hiệu quả
Thứ ba, qua đó làm rõ những đặc điểm, tính độc đáo của nghệ thuật quân sự trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 trong hệ thống, kho tang nghệ thuật quân sự Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM QUA CÁC
THỜI KỲ LỊCH SỬ
1.1 KHÁI NIỆM NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ
Nghệ thuật quân sự là lý luận và thực tiễn về chuẩn bị tiến hành chiến tranh, chủ yếu là đấu tranh vũ trang bao gồm chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật
Về lý luận: xác định tính chất, đặc điểm, loại hình, phương thức tiến hành chiến tranh
Về thực tiễn: toàn bộ các hoạt động trong quá trình chuẩn bị thực hành chiến tranh và kết thúc chiến tranh, gồm lập kế hoạch, điều hành chiến tranh và tổng kết khi chiến tranh kết thúc
Các yếu tố cấu thành nghệ thuật quân sự:
Thứ nhất, Chiến lược quân sự
Thứ hai, nghệ thuật chiến dịch: nghiên cứu đặc điểm, tính chất, nội dung từng chiến dịch và các hoạt động
Thứ ba, chiến thuật quân sự: là tên chung của các biện pháp giao chiến và đánh bại đối thủ trong một trận đánh Những thay đổi trong lý luận và kỹ thuật quân
sự theo thời gian được phản ánh trong những thay đổi chiến thuật quân sự Chiến thuật quân sự nghiên cứu tính chất, đặc điểm, nội dung của từng trận đánh và hoạt động của người đánh Chiến thuật quân sự là yếu tố nhỏ nhưng có ý nghĩa góp phần thay đổi chiến lược quân sự
1.2 NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI
KỲ LỊCH SỬ
Việt Nam là một quốc gia phát triển sớm và có lịch sử lâu đời Trong lịch sử Việt Nam, lịch sử quân sự được biểu hiện đậm nét và oanh liệt nhất Đó là lịch sử quá trình phát sinh và phát triển các hoạt động quân sự của dân tộc ta trong hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước
Việt Nam có vị trí quan trọng trên các lĩnh vực chính trị ‘-quân sự, văn hoá
và kinh tế, trong mối quan hệ giữa các quốc gia trên lục địa châu Á nói chung, vùng Đông - Nam á nói riêng ở một đầu mối giao thông tự nhiên trong vùng, Việt Nam
có điều kiện giao lưu, tiếp nhận ảnh hưởng của các nền văn minh khác, trở thành nơi hội tụ nhiều nền văn minh trong khu vực và thế giới Nơi đây có tài nguyên phong phú, là một địa bàn chiến lược trọng yếu mà bọn xâm lược qua các thời đại đều muốn chiếm lấy để thực hiện mưu đồ thực dân của chúng Các thế lực bành trướng liên tục gây chiến tranh thôn tính nước ta Vì thế, từ xa xưa hoạt động quân
sự của dần tộc ta đã xuất hiện và phát triển, trở thành một nhu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trang 12Đất nước ta là một trong những chiếc nôi của loài người, một xứ sở của văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, sớm có nền văn hoá bản địa với bản sắc riêng Thành quả lao động đáng tự hào của người xưa để lại là sớm tạo dựng nên một nền văn hoá - văn minh Việt mà tiêu biểu là văn minh Sông Hồng và văn minh Đại Việt rực rỡ, toả sáng trong vùng Đó là những nền văn minh cổ xưa nhưng xán lạn, tiêu biểu cho tài năng lao động sáng tạo, những phẩm giá cao quý và truyền thống tinh thần của tổ tiên Tuy nhiên, do vị trí địa lý và hoàn cảnh lịch sử riêng, Việt Nam thường xuyên phải gánh chịu những thử thách hiểm nguy trước thiên tai và địch hoạ
Trong lịch sử, dân tộc ta biết bao lần bị phong kiến phương Bắc tiến công xâm lược, nhiều lần và trong nhiều thế kỷ bị đô hộ với âm mưu Hán hoá; rồi đến thời cận đại và hiện đại phải chống nguy cơ Âu hoá và Mỹ hoá trong mưu đồ xâm lược của các đế quốc tư bản phương Tây Vốn có một nền văn hoá bản địa vững bền nên dân tộc ta không bị đồng hoá; những ảnh hưởng mạnh mẽ của văn minh phương Bắc hay phương Tây cũng không làm mất được bản sắc riêng của văn hoá dân tộc Việt Nam
Việt Nam còn là một đất nước sớm hình thành dân tộc, sớm thống nhất đất nước và cũng sớm hình thành nhà nước tập quyền Trước sự đe doạ của thiên tai và giặc ngoại xâm, nhân dân ta đã cố kết và hợp quần lại để có đủ sức mạnh dựng nước
và giữ nước Công cuộc lao động và chiến đấu gian khổ tạo nên sự gắn bó mật thiết giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với nhau trong mối quan hệ láng giềng, dòng họ; trong cộng đồng rộng lớn Nhà - Làng - Nước - Dân tộc Chính vì thế, người Việt đã sớm nhận thức được rằng, quê cha đất tổ, non sông đất nước này
là do bàn tay, khối óc và xương máu của biết bao thế hệ xây đắp nên, là tài sản vô giá truyền lại muôn đời Tình yêu quê hương đất nước, tinh thần đoàn kết, sức mạnh
và ý thức độc lập tự chủ của dân tộc đã nảy sinh và phát triển trên cơ sở đó Truyền thống quân sự là nét nổi bật của lịch sử Việt Nam Lịch sử quân sự Việt Nam xuất hiện từ buổi đầu dựng nước, có một quá trình phát triển liên tục, chủ yếu do nhu cầu chống ngoại xâm, luôn gắn liền trong mối quan hệ giữa chiến tranh và hoà bình, giữa dựng nước và giữ nước Suốt dọc dài lịch sử của mình, dân tộc Việt Nam đã nêu cao tinh thần bất khuất, tự lập tự cường, trí thông minh và tài thao lược; xây dựng nên một nền văn hoá quân sự độc đáo Mỗi giai đoạn lịch sử, dân tộc ta đều có những nỗ lực sáng tạo, đều giành được những chiến công vang dội, lập nên những chiến tích phi thường trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước Có thể phân chia các giai đoạn như sau:
1.2.1 Giai đoạn dựng nước và giữ nước thời Hùng Vương- An Dương Vương (từ thế kỷ II Tr.CN về trước)
Trong giai đoạn này nhiều truyền thống dân tộc đã được hình thành, lịch sử quân sự Việt Nam xuất hiện và phát triển bước đầu Nhân dân Văn Lang - Âu Lạc phải liên tục chống nhiều thứ giặc, tiêu biểu là hai cuộc kháng chiến chống Tần (thế
kỷ thứ III Tr CN) và chống Triệu (thế kỷ thứ II Tr.CN) Vừa dựng nước tổ tiên ta
đã phải đánh giặc giữ nước Qua cuộc đấu tranh chống thiên tai và địch hoạ, ý thức cộng đồng, ý chí chống ngoại xâm của dân tộc ta đã phát sinh và phát triển Người
Trang 13Việt đã rút ra được nhiều bài học, trong đó có bài học chiến thắng quân xâm lược Tần lớn mạnh và bài học mất nước thời An Dương Vương Thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ hơn 10 năm của nhân dân Văn Lang - Âu Lạc đã ghi vào lịch
sử trang mở đầu của truyền thống quân sự Việt Nam Thành Cổ Loa và các vũ khí bảo vệ thành như nỏ Liên Châu là những sáng chế lớn về kỹ thuật quân sự, thể hiện
tư duy quân sự độc đáo của nhân dân Âu Lạc
1.2.2 Giai đoạn đấu tranh chống Bắc thuộc, giải phóng dân tộc (Từ thế kỷ II Tr CN đến thế kỷ X)
Thất bại của An Dương Vương trong cuộc kháng chiến chống Triệu đã dẫn đến một thảm hoạ lớn: nước ta bị phong kiến phương Bắc qua nhiều triều đại như Triệu, Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tần, Tuỳ và Đường đô hộ Thời Bắc thuộc kéo dài hơn 1000 năm với âm mưu đồng hoá thâm độc của ngoại bang là một thử thách hết sức nghiêm trọng đối với sự mất còn của dân tộc ta Lịch sử quân sự Việt Nam giai đoạn này chứng tỏ, từ rất sớm người Việt đã có ý thức dân tộc ý chí quật cường và tinh thần bền bỉ đấu tranh bảo vệ giống nòi tổ tiên, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá lâu đời quyết tâm giành lại tự do, độc lập Tinh thần và ý chí đó được biểu hiện qua bao cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống ách đô hộ, chống sự đồng hoá tàn bạo, thâm hiểm của phong kiến phương Bắc Hai Bà Trưng, Bà Triệu tiêu biểu cho khí phách dân tộc, cho ý chí quật cường, quyết tâm “giành lại giang san, cởi ách nô lệ”
Khởi nghĩa Lý Bí thành công dẫn đến sự thành lập Nhà nước Vạn Xuân, kháng chiến chống Lương (545-550), chống Tuỳ (602) cùng với các cuộc khởi nghĩa lớn chống chính quyền đô hộ nhà Đường như khởi nghĩa của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687), của Mai Thúc Loan (722), của Phùng Hưng (766-791), của Dương Thanh (819-820) và cuộc nổi dậy khôi phục chính quyền tự chủ của Khúc Thừa Dụ (905) là những sự kiện lịch sử quân sự tiêu biểu trong quá trình chống Bắc thuộc và chống đồng hoá của nhân dân ta Hai cuộc kháng chiến chống Nam Hán các năm
931 và 938 do Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền lãnh đạo đã khẳng định quyết tâm giành và giữ độc lập tự do của cả dân tộc Chiến thắng Bạch Đằng lịch sử đánh tan giặc Nam Hán (938) là cột mốc lớn kết thúc giai đoạn mất nước, mở ra thời kỳ phát triển mới của lịch sử quân sự Việt Nam trong kỷ nguyên độc lập tự chủ từ thế kỷ thứ X
1.2.3 Giai đoạn đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc (từ thế kỷ X đến thế kỷ XV)
Nước Đại Việt độc lập đang vươn lên xây dựng một quốc gia văn minh, thịnh vượng, thì ở phương Bắc xuất hiện những thế lực bành trướng, xâm lược lớn mạnh và nạn ngoại xâm vẫn không ngừng đe doạ Nhân dân ta lại phải tiếp tục sự nghiệp đánh giặc giữ nước Hai nhiệm vụ dựng nước và giữ nước luôn luôn gắn bó khăng khít trong lịch sử Việt Nam Năm thế kỷ phục hưng đất nước cũng là một giai đoạn huy hoàng của lịch sử dân tộc ta với bao thành tựu rạng rỡ của nền văn
Trang 14hoá Thăng Long và nhiều võ công hiển hách trong sự nghiệp giữ nước Chiến công của Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên “loạn 12 sứ quân” thống nhất giang sơn cùng với chiến thắng trong kháng chiến chống Tống do Lê Hoàn lãnh đạo (981), khẳng định chủ quyền quốc gia, tạo điều kiện cho đất nước bước vào kỷ nguyên văn minh Đại Việt dưới các vương triều Lý (1010-1225), Trần (1226-1400), Hồ (1400-1407) và Lê Sơ (1428-1527)
Giai đoạn này khẳng định sự phát triển của binh chế và kế sách giữ nước tiến
bộ của Nhà nước Đại Việt Một tổ chức quân sự với nhiều thứ quân ra đời bao gồm cấm quân (quân triều đình), quân các đạo, lộ (quân địa phương) và dân binh, hương binh các làng bản Lịch sử kỹ thuật quân sự giai đoạn này có bước phát triển mới, từ bạch khí chuyển sang hoả khí Tư tưởng và nghệ thuật quân sự đã đạt đến một đỉnh cao chói lọi, thể hiện trí tuệ, tài năng quân sự của dân tộc ta
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý và bài thơ Nam quốc sơn hà - tuyên ngôn độc lập đầu tiên nổi tiếng, chứng tỏ sự phát triển của tinh thần yêu nước, cũng như hành động và nhận thức về chủ quyền của dân tộc ta Ba lần kháng chiến chống Nguyên - Mông thắng lợi cùng với những bộ Binh thư, Hịch tướng sĩ, Di chúc của Trần Quốc Tuấn phản ánh bước trưởng thành về tư tưởng, lý luận quân sự Việt Nam, của tư duy quân sự gắn nước với dân, dựa vào dân để tiến hành cuộc chiến tranh giữ nước Cuộc kháng chiến chống Minh thời Hồ đã để lại bài học sai lầm trong tổ chức và chỉ đạo chiến tranh Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) nêu cao ngọn cờ đại nghĩa, phát triển thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc mang tính chất nhân dân sâu rộng Bình Ngô đại cáo vang động núi sông, thể hiện ước vọng của cả nước: “Mở nền muôn thuở thái bình” Lịch sử quân sự dân tộc thế kỷ X - XV để lại những bài học lớn về tổ chức, xây dựng lực lượng và tiến hành chiến tranh nhân dân chống xâm lược, về kế sách và nghệ thuật đánh giặc giữ nước
Kỷ nguyên Đại Việt thật đáng tự hào với bao thành tựu trên cả hai lĩnh vực xây dựng và bảo vệ đất nước, rực rỡ văn trị, chói lọi võ công
1.2.4 Giai đoạn nội chiến, khởi nghĩa nông dân và chiến tranh giữ nước từ đầu thứ kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX
Từ thế kỷ XVI, trong khi nhiều nước châu Âu chuyển sang giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, thì ở Đại Việt, Nhà nước phong kiến đang bước sang giai đoạn khủng hoảng và trở thành lực cản của sự phát triển xã hội Nước ta đắm chìm trong một thời kỳ dài hơn hai thế kỷ bị chia cắt và nội chiến với chiến tranh Lê - Mạc (1543-1592) và chiến tranh Trịnh - Nguyễn (1627-1672) Lịch sử quân sự Việt Nam thời kỳ này tiếp tục phát triển với sự hoàn thiện của các tổ chức quân sự, trang
bị vũ khí kỹ thuật, tư tưởng - lý luận mới trong điều kiện hoả khí phát triển; đặc biệt nổi bật là hoạt động chiến tranh giữa các phe phái phong kiến và những cuộc khởi nghĩa nông dân chống áp bức Mâu thuẫn xã hội gay gắt dẫn đến sự bùng nổ cao trào khởi nghĩa nông dân và đưa đến thắng lợi của phong trào Tây Sơn Từ một cuộc khởi nghĩa nông dân, phong trào Tây Sơn phát triển thành một phong trào dân tộc rộng lớn, xoá bỏ tình trạng chia cắt đất nước, bước đầu lập lại nền thống nhất quốc gia và thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống Xiêm (1784 - 1785) và chống Thanh (1788-1789) Quang Trung - Nguyễn Huệ, một thủ lĩnh áo vải của
Trang 15phong trào nông dân trở thành anh hùng dân tộc với tài năng chính trị - quân sự kiệt xuất Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoả khí, nghệ thuật tập trung binh lực, hiệp đồng giữa các loại quân với cách định thần tốc, táo bạo trên nhiều mũi, nhiều hướng đã phát huy được hiệu quả chiến đấu rất cao
Sau khi Quang Trung mất (1792), triều đại Tây Sơn suy yếu và bị Nguyễn Ánh đánh bại Triều Nguyễn thành lập (1802), đóng đô ở Phú Xuân (Huê) với tên nước là Việt Nam Nhà Nguyễn tổ chức một quân đội lớn, đắp thành luỹ, đúc nhiều súng thần công, nhằm chống lại các cuộc khởi nghĩa nông dân và đề phòng sự xâm lược của ngoại bang Nhưng trong bối cảnh thế giới thế kỷ XIX, triều Nguyễn là một vương triều quân chủ chuyên chế bảo thủ, không có khả năng đưa đất nước tiến kịp trào lưu tiến hoá của thời đại mới, làm cho thế nước suy yếu Vì vậy, từ giữa thế
kỷ XIX, Việt Nam đã bị thực dân Pháp xâm lược
1.2.5 Giai đoạn gần 100 năm chống sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân Pháp (từ 1858 đền Cách mạng Tháng Tám 1945)
Bước sang thế kỷ XIX, các nước tư bản phương Tây, trong đó có Pháp đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa và ráo riết tìm kiếm thị trường, tiến hành chiến tranh xâm lược ở Đông Nam Á và châu Á Đối tượng cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc ta từ đây không phải là một quốc gia phong kiến phương Đông nữa mà là một cường quốc tư bản phương Tây đi trước ta một phương thức sản xuất, có nền kinh tế phát triển, có quân đội mạnh với vũ khí trang bị hiện đại
Lịch sử quân sự Việt Nam bước sang giai đoạn chống thực dân Pháp xâm lược Hoạt động quân sự của dân tộc trong giai đoạn này chủ yếu là đấu tranh vũ trang của quân và dân cả nước chống lại ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập tự do Đó là cuộc kháng chiến chống Pháp dưới sự lãnh đạo của một
số vị vua có tinh thần yêu nước thuộc triều đình nhà Nguyễn, của các sĩ phu hoặc những nhà yêu nước nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; là hoạt động vũ trang cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình vận động tiến tới Cách mạng tháng Tám 1945 Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sau bao năm bôn ba tìm đường cứu nước đã trở về
Tổ quốc, trở thành lãnh tụ của Đảng và của cả dân tộc Trong giai đoạn này, lực lượng vũ trang cách mạng ra đời, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh xuất hiện và trở thành ngọn đuốc soi đường cho các hoạt động vũ trang cách mạng ở Việt Nam Sự xuất hiện Đảng Cộng sản do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo là nhân tố
cơ bản, tất yếu, quyết định những thắng lợi oanh liệt và các bước nhảy vọt lớn trong lịch sử nói chung và lịch sử quân sự Việt Nam nói riêng Đảng kết hợp tinh thần cách mạng của giai cấp công nhân với truyền thống yêu nước kiên cường, bất khuất của dân tộc, đưa sự nghiệp giải phóng đất nước từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng trong vòng 15 năm (1930-1945), cách mạng Việt Nam trải qua cao trào (1930-1931), cao trào dân chủ (1936-l939) cao trào cứu nước trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai (l939-1945) dẫn tới thắng lợi rực rỡ của Cách mạng tháng Tám 1945 Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Bà Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ
Trang 16Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 là thành tựu tuyệt vời của ý chí, tinh thần, trí tuệ con người và văn hoá cứu nước, giữ nước Việt Nam Tinh thần và trí tuệ ấy xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc, được nâng lên một tầm cao mới Nó kết tinh truyền thống quân sự của một dân tộc có lịch sử hàng ngàn năm chống phong kiến bành trướng xâm lược phương Bắc và gần một thế kỷ đấu tranh chống ách thống trị của chủ nghĩa thực dân đế quốc Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội Lịch sử quân sự Việt Nam chuyển sang một giai đoạn phát triển mới: giai đoạn đấu tranh bảo vệ độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc, bảo vệ nhà nước và chế độ mới ở Việt Nam
1.2.6 Giai đoạn 30 năm đấu tranh cách mạng, gồm hai cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)
Ngày 23-9-1945 thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn, một lần nữa phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vừa ra đời
đã đứng trước một thử thách khắc nghiệt như “ngàn cân treo sợi tóc” Lợi dụng nước ta đang chồng chất khó khăn, bè lũ đế quốc “định hãm ta trong thế cô độc, buộc ta phải đánh với nhiều kẻ thù một lúc” Nhưng Trung ương Đảng và Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã vận dụng sách lược tài tình, khéo lợi dụng mâu thuẫn của kẻ địch, tranh thủ hoà hoãn với Pháp để đẩy gần 20 vạn quân Tưởng về nước, chuẩn bị kháng chiến lâu dài với thực dân Pháp Đêm 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ Cả dân tộc Việt Nam nhất tề đứng lên theo lời kêu gọi của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, đoàn kết chặt chẽ, quyết chiến đấu đến cùng vì độc lập tự do, với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” Từ 1945 đến 1954, quân dân cả nước đã tiến hành một cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh, giành được những thắng lợi rực
rỡ, làm thất bại nhiều kế hoạch chiến lược của thực dân Pháp Lịch sử quân sự dân tộc phát triển lên tầm cao mới, ghi thêm nhiều chiến công lớn Tiêu biểu là chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, chiến thắng Biên Giới (1950), chiến thắng Hoà Bình, Tây Bắc (1952) và cuối cùng là chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ chấn động địa cầu Chiến công này là mốc vàng lịch sử đánh dấu sự thất bại của chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp, dẫn đến ký Hiệp định Giơnevơ (1954), giải phóng hoàn toàn miền Bắc Việt Nam và quy định sau hai năm, tiến tới hoà bình thống nhất Bắc - Nam Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chứng tỏ sức mạnh của một quân đội kiểu mới, thể hiện một đường lối quân sự và nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân sáng tạo của Đảng ta
Nhưng đế quốc Mỹ đã phá hoại Hiệp định Giơnevơ, dựng lên chính quyền tay sai và biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành căn cứ quân sự của Mỹ, nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta, ngăn chặn làn sóng cách mạng thế giới, dẫn đến cuộc đụng đầu lịch sử giữa dân tộc Việt Nam anh hùng với đế quốc Mỹ - kẻ hiếu chiến lớn mạnh và tàn bạo nhất thời đại Nhân dân miền Nam đã anh dũng
Trang 17đứng lên Cả nước cùng đánh Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Miền Nam là tiền tuyến lớn; miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, là căn cứ địa, hậu phương lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Quân và dân Việt Nam anh hùng đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược trải qua năm đời tổng thống Mỹ nối tiếp nhau, làm thất bại bốn chiến lược chiến tranh xâm lược với quy mô ngày càng lớn, với tính chất ác liệt, dã man của chúng Đòn tiến công chiến lược Mậu Thân 1968, thắng lợi của cuộc tiến công năm 1972, cùng với chiến công xuất sắc của quân dân ta đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 của Mỹ vào Hà Nội và Hải Phòng đã buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, rút quân về nước Đại thắng mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là Chiến dịch
Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Quân và dân cả nước thực hiện trọn vẹn quyết tâm chiến lược “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc Cuộc kháng chiến chống Mỹ là cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm vô cùng oanh liệt của dân tộc Việt Nam Thắng lợi đó “mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời
về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm cỡ quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.1 Đây là giai đoạn hào hùng nhất của lịch sử quân sự Việt Nam, giai đoạn phát triển mạnh mẽ của đường lối tiến hành chiến tranh nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; nâng tư tưởng
và nghệ thuật quân sự Việt Nam lên một tầm cao mới
1.2.7 Giai đoạn đánh thắng chiến tranh xâm lược ở biên giới phía Bắc và phía Tây - Nam, xây dựng quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (từ sau năm 1975)
Nước Việt Nam vừa độc lập, thống nhất, đang bước vào công cuộc xây dựng trong hoà bình thì các thế lực thù địch mưu toan phá hoại thành quả cách mạng của nhân dân ta, dùng hành động tiến công xâm lược, gây nên nhiều tội ác man rợ từ hai đầu biên giới phía Tây - Nam và phía Bắc Tổ cuốc Quân, dân ta buộc phải tiếp tục cầm súng bảo vệ Tổ quốc và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Trong giai đoạn đất nước đổi mới, các lực lượng vũ trang của ta được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, phù hợp với tình hình mới và thực hiện nhiệm vụ xây dựng quốc phòng bảo vệ nền độc lập, tự
do và chủ quyền đất nước Việt Nam
Dân tộc ta đã trải qua mấy nghìn năm lịch sử với nhiều biến cố thăng trầm, lúc thịnh lúc suy, khi thành công khi thất bại, nhưng lịch sử quân sự nước ta là một quá trình phát triển liên tục, khi hoà bình thì xây dựng tiềm lực, hễ giặc đến là toàn
1
Đảng Cộng sản Việt Nam: “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1977, tr 5, 6
Trang 18dân, cả nước một lòng đứng lên chiến đấu và chiến thắng Nhân dân ta đã vượt qua mọi gian nan thử thách, đạt được nhiều thành tựu lớn lao trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Lịch sử quân sự luôn luôn là nội dung nổi bật của lịch sử Việt Nam Tất cả những hoạt động quân sự, trong đó nổi bật là chiến tranh và khởi nghĩa
vũ trang yêu nước chống ngoại xâm nói trên đã tô đậm và làm rạng rỡ truyền thống quân sự Việt Nam Đó là những cuộc chiến đấu chính nghĩa, anh dũng và tài giỏi của một dân tộc nhỏ chống lại sự xâm lăng của những thế lực xâm lược to lớn quân đông và giàu mạnh Lịch sử quân sự Việt Nam để lại những trang oanh liệt, hào hùng - của một dân tộc anh hùng
Trang 19CHƯƠNG 2
NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG
VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975
2.1 SƠ LƯỢC DIỄN BIẾN CÁC CHIẾN DỊCH LỚN TRONG MÙA XUÂN 1975
2.1.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng ta trong năm 1975
2.1.1.1 Tình hình địch
Vào tháng 12 năm 1974 Nguyễn Văn Thiệu đã họp với tư lệnh các quân đoàn, quân khu tại phủ tổng thống ngụy quyền để phán đoán hoạt động của ta trong năm 1975 Chúng nhận định rằng: Năm 1975 ta có thể đánh với quy mô lớn hơn năm 1974, nhưng không thể có quy mô như năm 1968 (Mậu Thân) và không bằng năm 1972; Quân ta chưa có khả năng (quân giải phóng) đánh chiếm thị xã lớn hoặc thành phố và dù có đánh chiếm cũng không giữ được; Về phương hướng, thời gian: đầu năm 1975 phương hướng tiến công của ta là Quân khu III, chủ yếu là Tây Ninh,
và ta sẽ đánh trước hoặc sau tết cho đến tháng 6 năm 1975(trước mùa mưa)
Từ nhận định tình hình, Thiệu đã lệnh chỉ huy quân ngụy chủ động đánh trước để phá kế hoạch của ta Cụ thể: Ráo riết mở các chiến dịch “bình định” ngăn chặn hoạt động Đông Xuân của ta; Vẫn giữ nguyên thế bố trí chiến lược mạnh ở hai đầu (Quân khu I và Quân khu III), chưa tăng cường lực lượng gì đáng kể cho Quân khu II, trong đó có địa bàn chiến lược quan trọng là Tây Nguyên; Đến đầu năm
1975, lực lượng quân sự địch trên chiến trường miền Nam là rất lớn: với đầy đủ binh chủng, quân chủng, hải lục, không quân khá mạnh Ngoài ra còn có lực lượng cảnh sát lên tới 15 vạn tên để củng cố hệ thống kìm kẹp của chúng, bố trí theo yêu cầu của cái gọi là “chiến tranh diên địa” nhằm “bảo vệ đến tối đa an ninh lãnh thổ”, với hệ thống kiểm soát gồm 8000 đồn bốt cắm sâu xuống tận xã, cấp
Trên vùng Quân khu I: Trị Thiên, Quảng Nam-Đà Nẵng, Quảng Ngãi là địa bàn tiếp giáp miền Bắc, có căn cứ quân sự liên hợp lớn Đà Nẵng Tại đây lực lượng của địch khá mạnh gồm năm sư đoàn, bốn liên đoàn biệt động, hai mươi mốt tiểu đoàn, một số đại đội, trung đội pháo, năm thiết đoàn, sáu chi đội xe tăng thiết giáp, một sư đoàn không quân tập trung phòng ngự mạnh ở Huế và Đà Nẵng; Quân khu
II : gồm Tây Nguyên và các tỉnh ven biển từ Bình Định đến Bình Thuận Địch bố trí hai Sư đoàn chủ lực, bảy liên đoàn biệt động quân, mười bốn tiểu đoàn và nhiều đại đội trung đội pháo, năm thiết đoàn, mười ba chi đội xe tăng thiết giáp, hai sư đoàn không quân tập trung phòng ngự ở Bắc Tây Nguyên và Bình Định Các tỉnh khu V
và một số tỉnh ở Cao Nguyên Trung Bộ: Tuyên Đức- Lâm Đồng chỉ bố trí quân địa phương phòng ngự vì chúng cho rằng ở đó khó có hoạt động lớn của bộ đội chủ lực ta; Quân khu III : tức Miền Đông Nam Bộ địch bố trí một lực lượng chủ lực mạnh với ba sư đoàn, bảy liên đoàn biệt động quân, mười bốn tiểu đoàn và một số đại đội trung đội pháo, bảy thiết đoàn, mười lăm chi đoàn tăng thiết giáp, hai sư đoàn
Trang 20không quân chiến đấu Miền Đông Nam Bộ có Sài Gòn là thủ đô của miền Nam, đây là địa bàn xung yếu và quan trọng bậc nhất, nên địch triển khai phòng ngự theo hình vòng cung từ tây Bắc và đông Bắc để bảo vệ Sài Gòn từ xa trên dưới 50 km; Quân khu IV: gồm các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long địch cho rằng ở đây lực lượng của ta không mạnh lắm nên chúng bố trí ba sư đoàn bộ binh, mười tám tiểu đoàn bảo an, mười lăm tiểu đoàn, mười lăm đại đội pháo, năm thiết đoàn, mười bảy chi đội thiết giáp, một sư đoàn không quân Quân chủ lực giữ Cần Thơ, Chương Thiện, đường số 4, và toàn bộ tuyến biên giới Ngoài ra, trên mỗi quân khu địch còn
bố trí một lực lượng đông đảo quân địa phương và phòng vệ dân sự
Như vậy, qua cách nhận định và hình thái bố trí lực lượng chiến lược như trên của địch ta có thể thấy rằng đến đầu năm 1975 địch còn có lực lượng mạnh, song lại bị phân tán trên một địa bàn quá rộng lớn, bộc lộ nhiều điểm yếu, sơ hở đặc biệt trên địa bàn khu II gồm Tây Nguyên và các tỉnh ven biển miền Trung Mặt khác so sánh lực lượng và cục diện chiến trường có lợi cho ta, trong khi đó địch lại đánh giá ta không đúng, sai lầm trong bố trí lực lượng chiến lược và chủ trương tác chiến, do đó đây chính là chỗ yếu của địch để chúng ta khai thác, để tiến công địch
Từ phân tích tình hình địch đã bị động phân tán và nhất là không phán đoán được ý định chiến lược của ta, cùng với so sánh lực lượng có lợi cho ta, được chuẩn
bị đầy đủ về mọi mặt cả lực lượng và thế trận, cũng như tinh thần quyết tâm thực hiện di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào, với tốc độ “một ngày bằng hai mươi năm” chỉ trong 55 ngày đêm quân ta đã dành toàn thắng bằng ba đòn tiến công chiến lược mạnh mẽ nối tiếp nhau Đó là: Chiến dịch Tây Nguyên (4/3-24/3) (mở đầu bằng trận đánh Buôn Ma Thuột tạo bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh); Chiến dịch Huế và chiến dịch Đà Nẵng (quét sạch địch ở ven biển miền Trung); Chiến dịch Hồ Chí Minh (đòn quyết định kết thúc chiến tranh, giải phóng Sài Gòn, Gia Định dẫn tới giải phóng các tỉnh còn lại)
2.1.2 Diễn biến các chiến dịch trong tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975
Trang 212.1.2.1 Chiến dịch Tây Nguyên
Tây Nguyên là vùng cao nguyên rộng lớn, đây là một chiến trường rừng núi nối liền với ven biển miền Trung có vị trí chiến lược quan trọng, có địa hình hiểm trở gồm 5 tỉnh: Kom Tum, Gia Lai, Phú Bổn, Đắc Lắc, Quảng Đức Các lực lượng
vũ trang và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên đã giành được những thắng lợi liên tiếp biến Tây Nguyên thành một chiến trường được chuẩn bị tốt, và thuận lợi cho các binh đoàn cơ động chiến lược của ta hoạt động tiến công địch trên một thế trận rất mạnh
Về phía địch, tại Tây Nguyên là Quân khu II của địch, nhưng do chủ quan
đánh giá sai lầm ý định tác chiến của ta nên địch chỉ bố phòng ở đây một sư đoàn chủ lực, bảy liên đoàn biệt động quân, bốn thiết đoàn xe tăng, xe bọc thép Chúng phán đoán rằng nếu ta có đánh Tây Nguyên thì sẽ đánh phía Bắc là Kom Tum và Plâyku nên chúng tập trung lực lượng giữ Plâyku- Kom Tum; Ở Nam Tây Nguyên
cụ thể là ở Đắc Lắc với thị xã Buôn Ma Thuột là trung tâm chính trị- kinh tế của địch, nơi đặt sở chỉ huy của Sư đoàn 23 ngụy thì chúng lại đánh giá ta sai lầm khi cho rằng ta chưa đủ sức đánh thị xã lớn và thành phố, mà dù có đánh cũng không giữ được, do vậy ở Buôn Ma Thuột địch bố trí lực lượng không mạnh mà còn nhiều
sơ hở
Về phía ta, từ phân tích tình hình địch, và chiến trường đối với ta giải phóng
được Buôn Ma Thuột sẽ đập tan được hệ thống phòng ngự của địch ở Tây Nguyên, tạo ra được một thế trận hiểm, cơ động có thể làm thay đổi nhanh cục diện chiến trường Bộ tư lệnh mặt trận Tây Nguyên đã bàn kế hoạch và thống nhất nhiệm vụ mục tiêu của chiến dịch Lần này rút kinh nghiệm từ Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968 và Tiến công chiến lược Xuân hè năm 1972 sau khi giải phóng được Quảng Trị song vẫn không giữ được Quảng Trị Về cách đánh chúng ta có sự phát triển mới Cách đánh của chiến dịch Tây Nguyên đó là: Thứ 1: phải sử dụng lực lượng tương đối lớn cỡ trung đoàn và sư đoàn đánh chia cắt địch về chiến lược, tách Tây Nguyên với đồng bằng ven biển, cô lập Buôn Ma Thuột, đồng thời đánh nghi binh để tạo ra sự bí mật bất ngờ khi nổ súng đánh Buôn Ma Thuột ở phía nam Tây Nguyên; Thứ 2: phải tổ chức thực hiện chắc thắng trận then chốt mở màn đánh chiếm Buôn Ma Thuột bằng cách tổ chức lực lượng đột kích binh chủng hợp thành tương đối mạnh cỡ trung đoàn, tập kết từ xa vận động đến, bỏ qua những mục tiêu vòng ngoài, bất ngờ thọc sâu vào bên trong thị xã phối hợp với các đơn vị đặc công
và bộ binh bí mật bố trí sẵn từ trước nhanh chóng tiêu diệt các mục tiêu chỉ huy đầu não và vị trí xung yếu Sau đó, từ bên trong đánh ra ngoài, tiêu diệt các cứ điểm bị
cô lập đã mất chỉ huy, đồng thời nhanh chóng hình thành một lực lượng dự bị binh chủng hợp thành để sẵn sàng đánh bại các cuộc phản kích của địch hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột
Đây chính là cách đánh tiết kiệm thời gian, giảm tổn thất tối đa, nhanh chóng
tiêu diệt địch giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột tạo biến động mạnh trên chiến trường đây là một cách đánh rất sáng tạo của quân đội cách mạng, song cách đánh này bộc lộ hai vấn đề khó đó là: Tổ chức hiệp đồng và chỉ huy cánh quân phải thống nhất được về thời gian, hành động theo kế hoạch, vượt sông, vượt qua các chốt
Trang 22phòng ngự của địch từ xa đến sát thị xã; Giữ được bí mật đến lúc ta nổ súng tạo cho địch sự bất ngờ.Thực hiện cách đánh đó: Ta tung vào chiến dịch một lực lượng lớn hơn địch nhiều lần tổ chức thành binh chủng hợp thành, kết hợp với đặc công, bộ binh được bí mật triển khai để tấn công nhanh, mạnh mẽ vào thị xã Buôn Ma Thuột khiến địch không kịp trở tay Để thực hiện chiến dịch, bên cạnh các Sư Đoàn 320,
Sư đoàn 10, và Sư đoàn 968 hiện đóng sẵn ở Tây Nguyên, cuối tháng 12 năm 1974,
Bộ Tổng tư lệnh điều thêm Sư đoàn 316 lên Tây Nguyên, đưa lực lượng của họ tại đây lên bốn Sư đoàn, cùng với bốn Trung đoàn bộ binh 25, 29B, 271, 95A, Trung đoàn đặc công 198, hai Tiểu đoàn đặc công 14, 27, hai Trung đoàn pháo binh 40,
675, Trung đoàn tăng thiết giáp 273, ba Trung đoàn phòng không 232, 234, 593, hai Trung đoàn công binh 7, 575, và Trung đoàn ô tô vận tải Ngoài ra, Sư Đoàn 3 của Quân khu V tại Bình Định đánh chia cắt đường 19 và tấn công Sư đoàn 22 địch không cho ứng cứu để phục vụ trực tiếp chiến dịch này
Diễn biến, ngày 1/3 Sư đoàn 968 đánh diệt hai cứ điểm trên đường 19
phía tây Plâyku, áp sát quân lỵ Thanh An để nghi binh cho hướng tiến công chính Buôn Ma Thuột, khiến cho địch càng tin chắc ta đánh Plâyku và Bắc Tây Nguyên Ngày 4/3 Trung đoàn 95A và Sư đoàn 3 quân khu V đánh diệt nhiều vị trí và cắt đứt đường số 19 trên hai đoạn Tây và Đông An Khê, khởi đầu chiến dịch Tây Nguyên địch tung hai trung đoàn của Sư đoàn 22, Lữ đoàn kỵ binh số 2 từ Plâyku xuống giải cứu An Khê, tung liên đoàn biệt động số 4, số 6 thọc sâu vào Kom Tum, Tây Bắc Plâyku để tìm Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 của ta Đêm ngày 5/3 trung đoàn 1
bộ binh 25 của Tây Nguyên cắt đứt đường 21 phía đông Chư Cúc Ngày 7/3 ta tiêu diệt cứ điểm Chư Xê trên đường 14 và giữ chắc đường 14 Ngày 8/3 Trung đoàn 48,
Sư đoàn 320 đánh chiếm chi khu quân sự Thuần Mẫn, cắt đứt hẳn đường 14 tạo thế bao vây cô lập Buôn Ma Thuột, tiêu diệt Đắc Soong, Núi Lửa mở toang hành lang chiến lược Bắc Nam phía đông Trường Sơn Đến ngày 9/3 quân ta đã triển khai lực lượng cài xong thế chiến lược, chia cắt hoàn toàn Tây Nguyên với đồng bằng ven biển, chia cắt phía Bắc với phía Nam Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cô lập Đến lúc này địch vẫn chủ quan , nhận định sai lầm, vẫn loay hoay tập trung đối phó ở Tây Plâyku 2h sáng ngày 10/3 ta tấn công Buôn Ma Thuột mở đầu bằng cuộc tấn công vào sân bay Hòa Bình, hậu cứ Trung đoàn 53, sân bay thị xã, kho mai Hắc
Đế Hỏa tiễn của ta bắn mạnh vào sư đoàn 23 ngụy kéo dài đến 6h30 sáng khiến địch rối loạn, cơ quan đầu não tê liệt Các loại xe cơ giới, xe tăng, xe pháo của ta kéo thẳng vào thị xã 17h30 ta làm chủ hoàn toàn sở chỉ huy tiểu khu Đắc Lắc Ngày 10/3 ta đánh chiếm phần lớn thị xã, còn lại khu vực Sư đoàn bộ Sư đoàn 23 và một số mục tiêu phía Đông 7h20 pháo hạng nặng của ta bắn vào Sư đoàn bộ Sư đoàn 23 địch, bộ binh tiến đánh Sư đoàn 23, bắt được tên đại tá tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Đắc Lắc và tên đại tá Sư đoàn phó Sư đoàn 23 cùng nhiều tên khác Đến 10h30 ngày 11/3 ta chiếm hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột
Trận Buôn Ma Thuột thắng lợi nhanh tới mức kì diệu Sau khi chiếm được Buôn Ma Thuột ta khẩn trương triển khai lực lượng sẵn sàng đánh bại địch phản kích đồng thời giải phóng các địa bàn: Buôn Hồ (12/3), Chư Nga (13/3), Bản Đôn (14/3), Lạc Thiện (13/3) Ngày 12-13/3 địch dùng máy bay lên thẳng đổ Trung đoàn
bộ binh 45 Sư đoàn 23 và một Đại đội pháo xuống điểm cao 581(Đông Buôn Ma Thuột), đổ Trung đoàn 44 và sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 23 xuống Phước An Ta bố trí
Trang 23sẵn lực lượng pháo kích, cùng các loại súng cao xạ của ta bắn cấp tập vào đội hình chưa kịp chấn chỉnh của địch, xe tăng, xe bọc thép của ta càn thẳng vào đội hình vừa đổ bộ xuống của địch tiêu diệt phần lớn địch, bộ phận còn lại hốt hoảng tháo chạy về phía đường 21, bỏ lại nhiều vũ khí, quân dụng Ngày 14/3 ta tiêu diệt Trung đoàn 44, 45 cùng tàn quân Trung đoàn 53 và Liên đoàn biệt động số 21 của địch
Như vậy cuộc phản kích của Quân đoàn 2 địch ở Tây Nguyên đã bị ta đập tan, Sư đoàn 23 ngụy bị xóa sổ, địch lún sâu vào thế bị động và thất bại thêm một bước Ngày 14/3 Nguyễn Văn Thiệu quyết địch cho quân địch rút khỏi Kom Tum, Plâyku về đồng bằng ven biển, chọn đường số 7 để rút quân Từ sáng 15/3 Quân đoàn 2 ngụy bắt đầu cuộc rút chạy Ta nhanh chóng nắm bắt tình hình, Bộ tư lệnh mặt trận Tây Nguyên vừa bám sát tình hình địch vừa ra lệnh cho các Trung đoàn 92,
25, Sư đoàn 320; Sư đoàn 10 trên đường 14, 19, 21 sẵn sàng chặn đánh địch Ngày 16/3 phát hiện địch rút chạy trên đường số 7, Bộ tư lệnh mặt trận ra lệnh cho Sư đoàn 320 truy đuổi cấp tốc địch ngay đêm 16/3 Sáng ngày 17/3 quân ta băng rừng chặn đánh địch ở Phú Bổn Ngày 17/3 đánh địch ở Cheo Reo địch chạy về Phú Túc, Củng Sơn, còn một vạn tên bị chặn lại ở Cheo Reo Ngày 18/3 ta giải phóng thị xã Phú Bổn, ngày 19/3 giải phóng quận Phú Nhơn, Mỹ Trạch, Phú Thiện Ngày 21/3 đánh địch ở Phú Tức, ngày 24/3 đánh địch ở Củng Sơn diệt và bắt sống gần hết địch Ta tiêu diệt sáu Liên đoàn biệt động quân, ba Trung đoàn thiết giáp, bắt sống
8000 tên, phá hủy 1400 xe các loại trong đó có 124 xe tăng Trong tình thế nguy ngập, địch điều Trung đoàn bộ binh 44 Sư đoàn 22 từ Bồng Sơn và Lữ đoàn 3 từ Đà Nẵng và Sài Gòn lên Khánh Dương, và đèo Mađrắc (đèo Phượng Hoàng) Trên đường truy đuổi địch tại đường số 7 ta giải phóng thị xã Kon Tum (18/3), giải phóng Plâyku (18/3), giải phóng Thanh Bình (19/3) Chiến dịch Tây Nguyên đã toàn thắng
Kết quả, ta giải phóng cả vùng Tây Nguyên chiến lược rộng lớn với hơn
60 vạn dân Ta tiêu diệt và làm tan rã 12 vạn tên địch, thu toàn bộ vũ khí và phương tiện chiến tranh của địch
Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng có ý nghĩa lịch sử hết sức to lớn Sau thắng lợi này quân ta đã ở thế uy hiếp trực tiếp tuyến phòng ngự ven biển miền Trung của địch Hệ thống bố trí chiến lược của chúng trên chiến trường miền Nam đứng trước nguy cơ bị chia cắt làm hai Quân khu III bị uy hiếp, Quân khu I bị cô lập Toàn bộ
hệ thống quân sự và kìm kẹp của địch ở miền Nam bị rung chuyển dữ dội Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã giáng một đòn quyết định vào lực lượng chủ yếu của địch ở Quân khu II, tạo điều kiện hết sức thuận lợi để giải phóng các tỉnh còn lại của Quân khu II với nhịp độ dồn dập: Ngày 1/4 giải phóng tỉnh Bình Định với thành phố Quy Nhơn; Ngày 2/4 giải phóng tỉnh Lâm Đồng với thị xã Bảo Lộc; Ngày 2,3/4 giải phóng tỉnh Khánh Hòa với thành phố Nha Trang và quân cảng Cam Ranh; Ngày 4/4 giải phóng tỉnh Tuyên Đức với thành phố Đà Lạt
Nhìn lại chiến dịch Tây Nguyên đã cho thấy sự sắc sảo về chỉ đạo chiến lược quân sự và nghệ thuật tác chiến chiến dịch của ta Trận Buôn Ma Thuột là đòn táo bạo, bất ngờ, choáng váng đánh mạnh, đánh dứt điểm nhanh khiến địch không kịp trở tay Tiếp đó là đánh tiêu diệt nhanh gọn quân địch ứng cứu Tây Nguyên bằng đường không làm địch hoảng loạn, rung chuyển mạnh tới tận cơ quan đầu não ngụy quyền Sài Gòn Thất bại liên tiếp đã làm cho địch mắc hết sai lầm này đến sai lầm
Trang 24khác, từ sai lầm về chiến thuật đi đến sai lầm về chiến lược khi quyết định rút chạy
ở Tây Nguyên, về co cụm giữ đất dọc duyên hải miền Trung Nhưng đó là thời cơ
để quân ta thực hiện truy kích chặn đánh tiêu diệt địch trên đường rút chạy Điều đó cũng đã chứng minh sai lầm về chiến lược thì thất bại là điều tất yếu Bằng nghệ thuật chỉ đạo trong chiến tranh và nghệ thuật chiến dịch, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sự thông minh và quyết tâm cao chúng ta đã điều địch theo ý định của ta, tạo
ra thời cơ, nắm thời cơ để tạo ra từng bước ngoặt của chiến tranh
2.1.2.2 Chiến dịch Huế và chiến dịch Đà Nẵng
Chiến dịch tiến công Huế
Thắng lợi của Tây Nguyên đã đánh một bước suy sụp mới của Mỹ- Ngụy, tạo ra một bước ngoặt trong cục diện quân sự chính trị miền Nam Từ chiến thắng Tây Nguyên, chiến tranh cách mạng ở miền Nam bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt từ tiến công chiến lược phát triển thành tổng tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam Tháng 3 năm 1975 phối hợp với chiến trường Tây Nguyên tại Mặt trận Trị Thiên cũng như Mặt trận đồng bằng khu V ta đẩy mạnh hoạt động tiến công địch Chiến trường Trị Thiên- Huế và chiến trường đồng bằng khu V (gồm Đà Nẵng) là địa bàn rộng lớn lực lượng của ta phát triển mạnh có đầy đủ điều kiện để đứng chân và triển khai tiến công Huế và Đà Nẵng trên một thế trận được chuẩn bị tốt
Huế và Đà Nẵng là hai thành phố đông dân ở phía Bắc miền Nam là khu vực phòng thủ mạnh nhất của quân khu I Ngụy Tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên Huế
có trên bốn vạn quân thiện chiến Còn Đà Nẵng là căn cứ quân sự liên hợp hải- lục- không quân hiện đại và mạnh bậc nhất ở miền Nam
Về phía ta: Sau thắng lợi ở Tây Nguyên, Bộ Chính Trị, Quân ủy Trung ương,
Bộ tổng tư lệnh đã kịp thời chỉ đạo mặt trận Trị Thiên và Quân đoàn 2 của ta nhận
rõ thời cơ, nhanh chóng chuyển hướng tiến công địch Khi Tây Nguyên thất thủ nhận rõ thời cơ xuất hiện, Bộ Chính Trị, Quân ủy Trung ương và Bộ tổng tư lệnh kịp thời chỉ đạo chuyển hướng tiến công Phán đoán địch có thể rút bỏ Huế để về
Đà Nẵng phòng thủ từ đèo Hải Vân trở vào, Bộ tổng tư lệnh đã chỉ thị cho Quân khu Trị Thiên và Quân đoàn 2 táo bạo đưa lực lượng thọc qua tuyến phòng thủ bên ngoài, cắt đứt đường số 1 và áp sát Huế nhằm mục tiêu: tiêu diệt Sư đoàn 1 bộ binh địch không cho chúng rút về Đà Nẵng, giải phóng Huế và toàn bộ Trị Thiên Ngày 19/3 chúng ta giải phóng thị xã Quảng Trị rồi toàn bộ tỉnh Quảng Trị, phá vỡ tuyến phòng thủ phía Bắc Ngày 19/3 Bộ tổng tư lệnh hạ quyết tâm mở trận tiến công lớn tiêu diệt tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên Huế Thực hiện mệnh lệnh Bộ tổng tư lệnh, ngày 21/3 từ ba hướng Bắc- Tây- Nam các lực lượng vũ trang quân khu Trị Thiên và Quân đoàn 2 đồng loạt tiến công hình thành nhiều mũi bao vây Huế Ngày 22/3 quân ta bắt đầu tiến công Huế cánh quân chủ yếu thuộc Quân đoàn 2 từ hướng Nam đang đánh địch ở Núi Bông, kịp thời thay đổi hướng đánh thọc sâu vào đường
số 1 đánh chiếm quận lỵ Phú Lộc triệt đường rút không cho địch chạy về Đà Nẵng Đồng thời một đơn vị quân của ta chặn đường rút ra biển ở cửa Tư Hiền Ta đã đánh
Trang 25thiệt hại nặng Sư đoàn bộ binh số 1 của địch và Lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ, cắt đứt Huế và Đà Nẵng
Từ hướng Bắc, quân ta vượt qua tuyến phòng thủ Mỹ Chánh, qua Phong Điền, Hướng Điền tiến về của Thuận An Đồng thời pháo binh tầm xa của ta chế áp sân bay Phú Bài, sở chỉ huy sư đoàn Ngụy số 1 ở Mang Cá Đường bộ bị cắt, đường không bị khống chế, hệ thống phòng thủ bị phá vỡ, địch hoang mang hoảng loạn rút chạy về cửa Tư Hiền, Thuận An để rút chạy theo đường biển về Đà Nẵng Pháo binh của ta pháo kích dữ dội vào cửa Tư Hiền, Thuận An không cho tàu địch vào, đồng thời pháo kích vào đội hình đông, hoảng loạn của địch gây cho chúng thiệt hại nặng Ngày 24/3 quân ta đã bao vây chặt toàn bộ tập đoàn phòng ngự của địch ở Huế Ngày 25/3 các cánh quân của ta tiến công vào cảng Tân Mỹ- Thuận An, và nhiều hướng trong thành phố tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân địch dồn về đây 10h30 ngày 25/3 quân ta kéo cờ cách mạng trên đỉnh cột cờ trước Ngọ Môn.Thành phố Huế hoàn toàn giải phóng
Sau bốn ngày chiến đấu khẩn trương, quân và dân ta đã tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên Huế Tiêu diệt Sư đoàn 1 Ngụy Thắng lợi vang dội này đã giáng một đòn nặng nề vào âm mưu co cụm chiến lược của địch ở vùng đồng bằng ven biển miền Trung, làm suy yếu và uy hiếp rất mạnh Quân đoàn 1 và Quân khu I Ngụy Thắng lợi này khẳng định quân ta không những có khả năng quét sạch những tập đoàn phòng ngự mạnh của địch ở chiến trường rừng núi mà còn có khả năng tiêu diệt các tập đoàn phòng ngự mạnh ở đồng bằng ven biển và thành phố Thắng lợi của Thừa Thiên Huế đã càng đẩy quân Ngụy nhanh hơn trên đường suy sụy tinh thần, tổ chức
Chiến dịch Đà Nẵng
Đà Nẵng là một căn cứ liên hợp Hải- Lục- Không quân hiện đại và mạnh bậc nhất ở miền Nam Sau khi thất thủ ở Huế, quân địch tập trung về Đà Nẵng khoảng bảy vạn năm nghìn quân Ngoài ra địch còn một Sư đoàn không quân bố trí ở sân bay Đà Nẵng, sân bay nước Mặn và nhiều tàu chiến ở cảng và bờ biển Nguyễn Văn
Thiệu tuyên bố “Tử thủ Đà Nẵng bằng mọi giá”
Phát triển đà thắng lợi, với tinh thần tiến công mạnh khẩn trương, nắm lấy thời cơ mới Bộ tổng tư lệnh và Quân ủy Trung ương lệnh cho Quân khu V tiến xuống cắt đường số 1 giữa Tam Kỳ và Đà Nẵng, tiêu diệt Sư đoàn bộ binh số 2 Ngụy, không cho chúng co cụm về Đà Nẵng đồng thời nhanh chóng tổ chức pháo kích vào Đà Nẵng chuẩn bị cho trận tiến công lớn vào Đà Nẵng Ngày 24/3 Sư đoàn
bộ binh số 2 của ta có xe tăng và pháo yểm trợ tiến vào giải phóng thị xã Tam Kỳ Ngày 24/3 Trung đoàn bộ binh 94 (thiếu) và bộ đội địa phương tỉnh Quảng Ngãi, cùng hai tiểu đoàn đặc công, pháo binh thiết giáp khu V giải phóng thị xã Quảng Ngãi Ngày 25/3 giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Ngãi
Bộ chính trị, Quân ủy Trung ương đánh giá xu thế phát triển của tình hình quyết định mở trận tiến công lớn vào Đà Nẵng với tư tưởng chỉ đạo: “kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất, bất ngờ nhất và chắc thắng” Thực hiện quyết tâm
đó Bộ tổng tư lệnh chỉ thị cho Quân đoàn 2 và Quân khu V: “hành động táo bạo, bất ngờ làm cho địch không kịp trở tay, tập trung lực lượng diệt sinh lực lớn của địch ở
Trang 26Đà Nẵng, chủ yếu là sư đoàn lính thủy đánh bộ và sư đoàn 3 Ngụy, giành thắng lợi lớn trong trận quyết chiến này, tạo điều kiện cho trận quyết chiến lần sau.”
Như vậy, đối tượng chiến dịch của chúng ta lúc này là tập trung vào đội quân chủ lực Ngụy còn lại ở Quân khu I tại căn cứ lớn Đà Nẵng, đó là Sư đoàn lính thủy đánh bộ và Sư đoàn 3 bộ binh Ngụy Đánh gục lực lượng này sẽ làm sụp đổ toàn bộ
hệ thống phòng thủ của Ngụy ở Quân khu I, đưa quân Ngụy vào thế suy sụp đột biến về chiến trường Với phương châm đề ra, ta huy động một lực lượng lớn từ các hướng kết hợp với lực lượng tại chỗ, kết hợp tiến công với nổi dậy của quần chúng tấn công mạnh vào Đà Nẵng Ta dự kiến trước sức mạnh tiến công của ta, địch nhất định buộc phải rút chạy khỏi Đà Nẵng, do vậy quân ta quyết định đánh địch theo tình huống chúng rút nhanh Từ 6h 5 phút ngày 28/03 pháo lớn của Quân đoàn 2 và Quân khu V bắt đầu bắn phá mãnh liệt vào sân bay, quân cảng Đà Nẵng, sở chỉ huy Quân đoàn 1 Ngụy rồi sân bay Nước Mặn và bán đảo Sơn Trà Ở phía Nam thành phố, pháo ta bắn vào Hòn Bằng, Trà Kiệu, Vĩnh Điện Đường rút chạy của địch bằng đường không và đường biển đã bị triệt Bộ binh và xe tăng của ta bắt đầu tiến công mạnh mẽ các hướng chiến lược, đánh chiếm các vị trí quan trọng, tiêu diệt lực lượng đề kháng của địch, tiến vào trong thành phố, thọc sâu vào chiếm bán đảo Sơn Trà với sức mạnh như chẻ tre Từ chiều tối ngày 28/03 đến sáng ngày 29/03 nhân dân thành phố Đà Nẵng đã tận mắt chứng kiến một cảnh tượng đặc biệt khác thường Khắp thành phố tràn ngập quân Ngụy với đủ các sắc lính : thủy quân lục chiến, biệt động quân, bộ binh, thiết giáp…quân tại chỗ và tàn quân trên các hướng
chạy về Tất cả chúng dồn về đây không phải để “ tử thủ” Đà Nẵng mà tìm đường
tháo thân, tạo nên một thảm cảnh hỗn quân, hỗn quan ít có trong các cuộc chiến tranh, thậm chí chúng còn bắn giết nhau để giành một chỗ trên xà lan, tàu thủy chạy
ra biển Quân Ngụy Sài Gòn rơi vào một trạng thái tinh thần hoang mang tan rã đến cực độ Trong khi đó, bộ binh và xe tăng của ta từ các hướng như vũ bão vượt qua mọi sự đề kháng yếu ớt của địch tiến sâu vào trung tâm thành phố, phối hợp nhịp nhàng với các mũi tiến công thần tốc của bộ đội chủ lực và phát huy thắng lợi, các lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng nhân dân Quảng Nam-Đà Nẵng nhất
tề nổi dậy giành chính quyền ở phường, quận, diệt ác ôn và truy quét tàn binh địch 15h ngày 29/03 các binh đoàn của ta trên các hướng tiến công vào Đà Nẵng đã gặp nhau ở trung tâm thành phố Trận tiến công và nổi dậy giải phóng Đà Nẵng đã kết thúc toàn thắng
Toàn bộ quân địch, trong đó có cơ quan bộ tư lệnh Quân đoàn 1 Ngụy đã bị tiêu diệt và tan rã hoàn toàn Căn cứ liên hợp mạnh nhất của địch ở miền Nam đã bị quân ta chiếm lĩnh trong một cuộc tiến công nổi dậy thần tốc trong 32h Ta đã thu toàn bộ vũ khí, khí tài và phương tiện chiến tranh Chiến dịch Huế và chiến dịch Đà Nẵng là một dạng chiến dịch đặc biệt được tổ chức chuẩn bị trong quá trình phát triển cuộc tổng tiến công chiến lược, từ hai chiến dịch quy mô nhỏ và vừa vào hai Quân khu nhằm tiêu diệt địch, giành dân… phát triển thành chiến dịch quy mô lớn
có ý nghĩa chiến lược do Bộ tổng tư lệnh trực tiếp nắm quyền chỉ huy và điều hành
Thắng lợi chiến dịch Huế và chiến dịch Đà Nẵng có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng Cùng với chiến thắng Tây Nguyên, thắng lợi ở Huế và Đà Nẵng đã làm thay đổi hẳn so sánh lực lượng về mặt chiến lược hoàn toàn có lợi cho ta, trực tiếp đánh bại âm mưu co cụm chiến lược của địch, thúc đẩy quân Ngụy nhanh
Trang 27chóng đi tới chỗ sụp đổ hoàn toàn tạo điều kiện rất thuận lợi cho ta tập trung lực lượng áp đảo trong trận quyết chiến cuối cùng
2.1.2.3 Chiến dịch Hồ Chí Minh
Trải qua một tháng liên tục tấn công và nổi dậy mạnh mẽ, quân và dân ta đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa cực kì to lớn qua hai đòn chiến lược đại thắng : chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Huế và Đà Nẵng Ta đã tiêu diệt hai Quân khu và Quân đoàn 1, 2 của địch ở phía Bắc, Ngụy quân-Ngụy quyền Sài Gòn lâm vào tình trạng tuyệt vọng, suy sụp đột biến về tinh thần, tan vỡ về tổ chức, tổn thất nặng nề về vật chất và kĩ thuật, bế tắc về chiến lược chiến thuật Bè lũ Nguyễn Văn Thiệu hết sức kinh hoàng, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc sửng sốt và lo sợ trước sức mạnh tấn công nhanh mạnh như gió lốc của chiến tranh cách mạng miền Nam
và sự sụp đổ quá nhanh của quân Ngụy Sài Gòn Nhiều nhà chiến lược Mỹ phải thú nhận : “ cuộc tiến công của cộng sản là đèn hiệu báo trước chế độ tay sai Mỹ không
có cách gì chống đỡ, không có phép gì hồi phục được cả về quân sự, chính trị và kinh tế”2
Về phía địch :
Sài Gòn–Gia Định là thành phố lớn với 3,5 triệu dân, rộng 1835 km2, kể cả các quận ngoại thành với địa hình khá phức tạp Đây là nơi tập trung các cơ quan đầu não của Ngụy quân - Ngụy quyền, các kho tàng và căn cứ hậu cần chiến lược,
là trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế quan trọng bậc nhất của địch, là sào huyệt cuối cùng của chúng Để bảo vệ thủ phủ của Ngụy quyền Sài Gòn, quân Ngụy đã lập ra tuyến phòng thủ từ xa trên các hướng chiến lược tiến vào cửa ngõ Sài Gòn như : Tuyến phòng thủ Phan Rang : do Quân đoàn 3 Ngụy chiếm giữ; Hướng Đông
do Sư đoàn bộ binh 18 chiếm giữ; Hướng Bắc do Sư đoàn bộ binh số 5 chiếm giữ; Hướng Tây Bắc do Sư đoàn bộ binh 25 chiếm giữ; Hướng Tây Nam do Sư đoàn bộ binh số 22 chiếm giữ Ngoài ra chúng còn bố trí các chướng ngại vật ngăn chặn bộ binh, xe tăng của ta trên các tuyến đường tiến về Sài Gòn Trung tâm Sài Gòn-Gia Định do một đơn vị dù quân biệt động và các lực lượng thuộc biệt khu thủ đô phòng giữ Phía Tây (tức là vùng đồng bằng Sông Cửu Long), Sư đoàn bộ binh số 7, số 9
về đóng giữ bịt chặt cửa ngõ Sài Gòn
Nhìn chung, tập đoàn phòng ngự của địch ở Sài Gòn tuy số lượng còn khá đông song tinh thần và sức chiến đâu sa sút nghiêm trọng Bọn chỉ huy đầu não dao động cực độ, mất lòng tin vào khả năng chống đỡ trước những đòn tấn công sấm sét của ta
Về phía ta :
Hơn 100 năm sống dưới chế độ thực dân cũ của Pháp và tiếp đến là thực dân mới của Mỹ, nhân dân Sài Gòn-Gia Định chỉ được hưởng độc lập tự do dưới chế độ cách mạng không đầy một tháng Đồng bào Sài Gòn- Gia Định rất kiên cường bất khuất, gan dạ, thủy chung trong cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ, luôn hướng về
2
Văn Tiến Dũng “ về cuộc kháng chiến chống Mỹ”, Nxb Quân đội nhân dân, tr.440
Trang 28cách mạng và từ lâu ấp ủ nguyện vọng vùng dậy đạp đổ chế độ tàn bạo của tay sai
Mỹ giành lại độc lập tự do, cuộc sống hòa bình
Trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, quân dân ta đã xây dựng được một thế trận vững vàng độc đáo của chiến tranh cách mạng So sánh về thế và lực giữa
ta và địch đã có sự chuyển biến vượt bậc rất có lợi cho ta Tinh thần quân ta đang trên đà thắng lợi, chí khí càng hăng, đang xông lên với ưu thế như vũ bão Quân ta đang đứng trước một thời cơ lớn để hoàn thành giải phóng miền Nam Đánh giá tình hình thực tiễn, Bộ chính trị, Trung ương Đảng xác định : “ cục diện chiến tranh đã
có bước phát triển nhảy vọt, lực lượng quân sự, lực lượng chính trị và thế chiến lược của ta đã hoàn toàn áp đảo quân địch Quân Ngụy đang đứng trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn Mỹ hoàn toàn bất lực dù có can thiệp như thế nào cũng không thể cứu nổi quân Ngụy Thời cơ đã chín muồi để quân và dân ta thực hành tổng tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, thực hành cuộc quyết chiến lịch sử đánh thẳng vào hang
ổ của địch ở Sài Gòn tiêu diệt toàn bộ Ngụy quân, đánh đổ toàn bộ Ngụy quyền giành thắng lợi hoàn toàn”3
Trong phiên họp ngày 25/03/1975 Bộ chính trị đã khẳng định “ cuộc tổng tiến công chiến lược của ta đã bắt đầu với chiến dịch Tây Nguyên Thời cơ chiến lược mới đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng miền Nam”,
Bộ chính trị chủ trương: tập trung nhanh lực lượng binh khí kĩ thuật và vật chất giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa Nay từ giữa hạ tuần tháng 3, Bộ chính trị đã chính thức hạ quyết tâm mở chiến dịch lịch sử có ý nghĩa quyết định Chiến dịch này là
Chiến dịch tổng công kích và nổi dậy giải phóng Sài Gòn với ý nghĩa và quy mô
lớn nhất trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Ngày 31/03 Bộ chính trị họp và kết luận “ cuộc chiến tranh cách mạng ở miền nam không những đã bước vào giai đoạn nhảy vọt mà thời cơ chiến lược để tiến hành tổng, tổng khởi nghĩa vào sào huyệt của địch đã chín muồi Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu, nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc”4
Bộ chính trị quyết định chiến dịch giải phóng Sài Gòn mang tên Bác là “
Chiến dịch Hồ Chí Minh” theo toàn văn bức điện Bộ chính trị gửi mặt trận vào 19h
ngày 14/04/1975, điện số 37/ TK do đồng chí Lê Duẩn_bí thư thứ nhất Ban chấp
hành Trung ương Đảng kí tên với nội dung : “ đồng ý chiến dịch Sài Gòn lấy tên
là chiến dịch Hồ Chí Minh”
Như vậy, cách mạng nước ta đang ở thời cơ lịch sử phát triển với nhịp độ sôi nổi nhất, với nhịp độ một ngày bằng hai mươi năm Bộ chính trị hạ quyết tâm nắm vững hơn nữa thời cơ chiến lược, với tư tưởng chỉ đạo : “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân dốc sức biến quyết tâm chiến lược mới của Bộ chính trị thành hiện thực Nhân dân sống trong những ngày sôi động, nhộn nhịp, cả nước ra quân với khẩu hiệu : “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”
Bước chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng
Năm hướng tấn công của ta:
Trang 29Hướng Bắc: Quân đoàn 1 với tư lệnh là thiếu tướng Nguyễn Hòa, chính ủy
là thiếu tướng Hoàng Minh Thi, gồm các Sư đoàn bộ binh 312, 320B; Lữ đoàn pháo binh 452; Lữ đoàn tăng thiết giáo 202; Sư đoàn pháo cao xạ 367; Lữ đoàn công binh 299; được tăng cường thêm một số đơn vị pháo, tên lửa, và bộ binh Nhiệm vụ của quân đoàn là bao vây tiêu diệt đối phương ở Phú Lợi, Bình Dương, Lai Khê, Tân Uyên, chặn Sư đoàn 5 địch, chiếm Bộ Tổng tham mưu địch, các bộ tư lệnh binh chủng ở Gò Vấp, Bình Thạnh
Hướng Đông Nam: Quân đoàn 2 với tư lệnh là thiếu tướng Nguyễn Hữu
An, chính ủy là thiếu tướng Lê Linh, gồm các Sư đoàn bộ binh 325, 304, 3; Lữ đoàn pháo binh 164; Lữ đoàn tăng thiết giáp 203; Sư đoàn pháo cao xạ 673; Lữ đoàn công binh 219; Trung đoàn đặc công
116 Nhiệm vụ của quân đoàn là đánh
chiếm căn cứ Nước Trong, chi khu Long
Bình, căn cứ Long Bình, chi khu Nhơn
Trạch, thành Tuy Hạ, thị xã Bà Rịa, chi
khu Đức Thanh, pháo kích sân bay Tân
Sơn Nhất, đánh chiếm Vũng Tàu, quận 9
và quận 4 Sài Gòn
Hướng Tây Bắc: Quân đoàn 3
với tư lệnh là thiếu tướng Vũ Lăng,
chính ủy là đại tá Đặng Vũ Hiệp, gồm
các Sư đoàn bộ binh 316, 320A, 10; hai
Trung đoàn pháo mặt đất 40 và 675;
Trung đoàn xe tăng 273; hai Trung đoàn
pháo cao xạ 232, 234; hai Trung đoàn
công binh 575, 7; Trung đoàn đặc công 198 Nhiệm vụ của quân đoàn là thọc sâu vào nội thành Sài Gòn, đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, các quận Tân Bình, Phú Nhuận Sư đoàn 316 cùng binh chủng phối thuộc chặn đánh Sư đoàn 25 địch tại Gò Dầu, Trảng Bàng rồi làm lực lượng dự bị
Hướng Đông: Quân đoàn 4 với tư lệnh là thiếu tướng Hoàng Cầm, chính ủy
là thiếu tướng Hoàng Thế Thiện, gồm các Sư đoàn 7, 341, 6; Lữ đoàn bộ binh 7, 52; một tiểu đoàn pháo 130mm; một trung đoàn và một tiểu đoàn phòng không hỗn hợp, một tiểu đoàn xe tăng
Nhiệm vụ của quân đoàn là đánh chiếm khu vực Biên Hòa - Hố Nai, tiến về Sài Gòn chiếm các quận 1,2,3, căn cứ hải quân, bộ quốc phòng, đài phát thanh
Hướng Tây Nam: Đoàn 232 với tư lệnh là thiếu tướng Lê Đức Anh, chính
ủy là thiếu tướng Lê Văn Tưởng, gồm các Sư đoàn 5, 8, 9; bốn trung đoàn độc lập
16, 88, 24, 27B; một tiểu đoàn xe tăng T-54, một tiểu đoàn xe tăng PT-85; một tiểu đoàn pháo 130mm; một trung đoàn và một tiểu đoàn phòng không Nhiệm vụ của đoàn là cắt đường số 4 (Bến Lức - ngã ba Trung Lương), chiếm Tân An, Mỹ Tho, chia cắt Sài Gòn và miền Tây Nam Bộ, thọc sâu đánh chiếm biệt khu Sài Gòn, cầu Nhị Thiên Đường, Tổng Nha cảnh sát, các quận 5, 6, 7, 8, 10, 11 Cả năm hướng đều hợp điểm tại dinh Độc Lập
Ngày 09/04/1975 Quân đoàn 4 của ta gồm Sư đoàn 7, Sư đoàn 341, Sư đoàn
6 và lực lượng Khu VII nổ súng tấn công phòng tuyến Xuân Lộc bảo vệ phía Đông
Các hướng tấn công của Quân giải phóng trong chiến dịch Hồ Chí Minh
Trang 30Sài Gòn Phòng tuyến Xuân Lộc là tuyến phòng thủ chiến lược quan trọng mà địch sống chết để giữ bằng được Chúng chốt giữ ở đây một lực lượng mạnh, Quân đoàn
3 và riêng Sư đoàn 18 giữ ở Xuân Lộc, chúng còn tăng cường thêm nhiều đơn vị như kỵ binh số 3, một phần Sư đoàn 5, các tiểu đoàn pháo, các liên đoàn biệt động của Quân khu III, lữ đoàn dù Quân đoàn I để cố giữ Xuân Lộc bảo vệ Sài Gòn Kế hoạch tấn công Xuân Lộc của Quân đoàn 4 ta, chưa dự tính được sự phức tạp của các tình huống, chưa đánh giá được hết tính chất ngoan cố và khả năng chống đỡ của địch, do vậy các Sư đoàn của ta đánh vào Xuân Lộc, phải nhiều lần tổ chức đánh vào thị xã, đánh đi đánh lại bị tổn thất, tốn nhiều đạn pháo Do vậy, quân ta thấy cần phải thay đổi cách đánh mới Khi địch dồn quân giữ thị xã ta không cần tập trung lực lượng đánh thẳng vào đó mà chuyển lực lượng đánh vào các đơn vị đến phản kích đứng chân chưa vững ở vòng ngoài, chưa có công sự, chưa hiệp đồng chặt chẽ với nhau, đồng thời dùng pháo tầm xa bắn phá khống chế sân bay Biên Hòa không cho máy bay chiến đấu cất cánh Thực hiện cách đánh mới, quân ta đã cắt đứt Xuân Lộc với Sài Gòn, tiêu diệt Trung đoàn 52 Sư đoàn 18 địch, theo đường
20 phát triển xuống và chốt cứng một đoạn đường số 1, đánh lui Lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp từ Biên Hòa ra tiếp viện, diệt từng bộ phận Trung đoàn 48 và Lữ đoàn 1
dù mới tăng viện
Trên hướng đường số 1 ven biển, ngày 13/04 Quân đoàn 2 tiến sát đến phòng tuyến Phan Rang Ngày 14/04 Sư đoàn bộ binh 3 thuộc Quân khu V, được tăng cường thêm Trung đoàn bộ binh 25 Tây Nguyên đã nổ súng đánh Phan Rang Đến ngày 16/4 quân ta phá vỡ phòng tuyến Phan Rang, tiến vào giải phóng thị xã Phan Thiết, giải phóng Hàm Tân Quân ta đã tiêu diệt bộ tư lệnh tiền phương Quân đoàn
3 Ngụy, bộ tư lệnh Sư đoàn 6 không quân, bộ tư lệnh Sư đoàn 2 bộ binh, tiêu diệt
Lữ đoàn dù, Liên đoàn 31 biệt động quân, bắt sống tên trung tướng tư lệnh chỉ huy tiền phương Quân đoàn 3 và tên chuẩn tướng tư lệnh Sư đoàn 6 không quân, thu gần 40 máy bay còn nguyên vẹn Cánh quân phía Đông của ta tiến rất nhanh, ngày 20/4 bộ phận đi đầu tiến đến Rừng Lá gần Xuân Lộc, kịp thời phối hợp với Quân đoàn 4 uy hiếp rất mạnh Xuân Lộc, Long Khánh Đêm ngày 20/4 quân địch tháo chạy khỏi Xuân Lộc về phía Bà Rịa, bị chặn đánh chúng bỏ lại cả vũ khí, xe, pháo, súng đạn Xuân Lộc được giải phóng, cánh cửa phía Đông Sài Gòn mở toang đón lực lượng Quân đoàn 4, Quân đoàn 2, Sư đoàn 3 Quân khu V bước vào trận quyết chiến tại sào huyệt cuối cùng của Ngụy quân-Ngụy quyền Sài Gòn Phía Tây và Tây Nam lực lượng Quân khu IX đã áp sát Cái Vồn và Nam Cần Thơ, áp sát đường số 4
là động mạch chủ từ Sài Gòn về đồng bằng sông Cửu Long Phía Đông Nam , Quân đoàn 2 đã tiến sát đến Long Thành, Vũng Tàu, Nước Trong, Bà Rịa…Hướng Tây Bắc và hướng Bắc đã có một vùng giải phóng từ Lộc Ninh đến Phước Long, Quân đoàn 1 đã tiến vào khu vực tập kết ở nam Sông Bé Quân đoàn 3 ở khu vực Dầu Tiếng Lực lượng lãnh đạo của Đảng và chính quyền cách mạng đã về vùng ven Nhiều bộ phận đã vào sâu trong nội thành để phát động quần chúng nổi dậy và tiếp quản thành phố
Như vậy, thế trận tiến công và nổi dậy của trận quyết chiến cuối cùng đã hình thành hoàn chỉnh Ta chọn năm mục tiêu lớn nhất để đánh chiếm bằng được đó
là : Bộ tổng tham mưu Ngụy, dinh Độc Lập, biệt khu thủ đô, tổng nha cảnh sát và
Trang 31sân bay Tân Sơn Nhất Đây là những cái “tử huyệt” trong cơ thể đang suy nhược nghiêm trọng của Mỹ- Thiệu
Diễn biến , 17h ngày 26/4/1975 quân ta bắt đầu nổ súng mở màn chiến dịch
Hồ Chí Minh Quân ta mở cuộc tấn công lớn trên hướng Đông và Tây Nam Sài Gòn Từ chiều 26/4 đến 28/4 quân ta tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng địch trên tuyến phòng thủ vòng ngoài và xiết chặt vòng vây quanh Sài Gòn Chiều 28/4 trong bước đường cùng Dương Văn Minh lên làm tổng thống Việt Nam Cộng Hòa thay cho Trần Văn Hương Đánh giá tình hình chung trên các hướng tiến công,
Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh tổng công kích trên toàn mặt trận vào sáng 29/4 để tiến thẳng vào trung tâm Sài Gòn 5h sáng ngày 29/4 các cánh quân hùng mạnh của
ta từ các hướng đồng loạt đánh vào Sài Gòn Vòng vây Sài Gòn càng thít chặt, tổng thống Gieerron Pho ra lệnh cho người Mỹ tùy nghi di tản Rạng ngày 30/4 trên các hướng quân ta tiến ao ạt, khí thế thần tốc quyết thắng tiến thẳng đến các mục tiêu đã định 9h30 phút Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 tiến công vào sân bay Tân Sơn Nhất và chiếm được cổng sân bay Quân đoàn 1 tiến công vào Bộ tổng tham mưu Ngụy chiếm Bộ tổng tham mưu Ngụy Đoàn 232 trên hướng Tây Nam và Nam tiến đến đánh chiếm biệt khu thủ đô và tổng nha cảnh sát Quân đoàn 4 đánh chiếm bộ quốc phòng Ngụy, cảng Bạch Đằng và đài phát thanh Quân đoàn 2 đánh chiếm Dinh Độc Lập bắt gọn toàn bộ nội các Dương Văn Minh Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện 11h 45 phút ngày 30/04/1975 lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng sau 54h30 phút chiến đấu thần tốc, dũng mãnh
Trải qua 55 ngày đêm chiến đấu vô cùng anh dũng và sáng tạo, cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã giành thắng lợi hoàn toàn Thắng lợi nhanh chóng và triệt để của trận quyết chiến chiến lược lịch sử này là hồi kết thúc trọn vẹn, vẻ vang và hiển hách trên 20 năm chiến đấu chống mỹ cứu nước hết sức oanh liệt của nhân dân ta Quân và dân ta đã đập tan bộ máy chiến tranh quy mô lớn
và hiện đại của đế quốc Mỹ ở Đông Nam Á, quét sạch bộ máy Ngụy quyền Sài Gòn giành độc lập thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đưa cả nước đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội Sau 117 năm, đất nước mới sạch bóng quân thù xâm lược Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là một bước phát triển rực rỡ của đỉnh cao nghệ thuât quân sự của chiến tranh nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước Nó là biểu hiện sáng ngời của nghệ thuật lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta, biết mở đầu và kết thúc chiến tranh đúng lúc, đúng thời cơ, giành thắng lợi hoàn toàn, trọn vẹn với tổn thất thấp nhất
Trang 322.2 NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ
NỔI DẬY XUÂN 1975
2.2.1 Vận dụng sáng tạo nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh ở bước kết thúc
Đây là một thành công lớn của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh trong bước kết thúc với tất cả tính khiêm nhường, sự công bằng và khách quan lịch sử, sự chỉ đạo
ấy là kiên quyết, chính xác, sắc bén và linh hoạt Đó chính là đánh cho Mỹ cút, chúng ta đã mở một thời cơ lịch sử Vì vậy vấn đề tạo lực tạo thế là một yêu cầu bức thiết , vừa cơ bản trong giai đoạn mới này Chúng ta đã biết hành động đúng như tình thế đòi hỏi Khi cách mạng đã phát triển đến một đỉnh điểm “một ngày bằng 20 năm” thì phẩm chất cần thiết hàng đầu của người lãnh đạo là táo bạo, quyết đoán, mau lẹ Khi trận thắng đầu tiên mở được một khẩu chiến lược (Buôn Ma Thuột) lãnh đạo Đảng đã động viên và tổ chức toàn quân, toàn dân thừa thắng xông lên đánh tiếp một trận “sạch kinh ngạc”, rồi đánh trận nữa “tan tác chim muông”, khiến kẻ địch trở tay không kịp Chúng không kịp co cụm, từ hoang mang chuyển thành kinh hoàng, từ kinh hoàng trở nên hoảng loạn và do hoảng loạn mà tan rã, sụp
đổ dây chuyền không sao gượng dậy được Đoàn quyết chiến chiến lược cuối cùng đánh vào đầu não quân địch đã giành thắng lợi trọn vẹn, đập tan ý đinh của chúng muốn kéo dài cuộc chiến tranh hoặc co lực lượng về tử thủ ở Đồng bằng sông Cửu Long, đợi mùa mưa đặt vấn đề thương lượng
Tổ chức và đánh như thế nào để giành thắng lợi càng sớm, càng nhanh càng tốt Tổ chức tự bản thân nó cũng là một sức mạnh vật chất: nó nhân lên sức mạnh của quần chúng lên gấp bội Làm sao nhân dân ta, một xứ sở nghèo nàn, lạc hậu, thiếu thốn mọi bề, không có lực lượng vật chất gì đáng kể từ con người, lại có thể tạo ra được sức mạnh to lớn như vậy để quyết thắng trong cuộc đọ sức này Đó là Đảng ta biết huy động, khai thác, tập hợp, vận dụng mọi lực lượng tiềm tàng trong quần chúng, mọi khả năng dù lớn hay nhỏ, sáng tạo và kết hợp các hình thức đấu tranh, kết hợp nhiều hình thức đấu tranh phong phú thích hợp với điều kiện thời
gian và không gian, hướng vào những nhiệm vụ đã đặt ra
2.2.2 Đánh giá đúng so sánh lực lượng địch – ta, xác định thời cơ,
hạ quyết tâm kịp thời chính xác
Đây là vấn đề cực kì quan trọng có ý nghĩa quyết định trong đường lối cách mạng, chiến lược cách mạng, chiến lược quân sự Trong việc nắm bắt thời cơ, hạ quyết tâm chiến lược, nhất là trong việc đánh giá so sánh lực lượng địch – ta, Đảng
ta vận dụng thành thục phương pháp luận Mác – Lênin, vận dụng nhuần nhuyễn phép duy vật biện chứng Sự phân tích đánh giá so sánh lực lượng địch – ta của Đảng được thể hiện qua các Nghị quyết của Trung ương Đảng, của Bộ Chính trị, các tác phẩm của chủ tịch Hồ Chí Minh, của Tổng bí thư Lê Duẩn, có thể xem như
mẫu mực về đánh giá địch, đánh giá ta về so sánh lực lượng địch – ta
Trang 332.2.3 Tổ chức lưc lượng, vân dụng phương thức tác chiến chiến lược và triển khai thế trận đúng đắn, sáng tạo
2 2.3.1.Về tổ chức lực lượng
Muốn tổng tiến công chiến lược phải có lực lượng lớn, lực lượng mạnh, có các quả đấm mạnh, đủ sức làm nhiệm vụ tác chiến chiến lược Do yêu cầu khách quan của giai đoạn cuối cuộc chiến tranh và do đặc điểm điều kiện của ta, tổ chức đơn vị tác chiến cao nhất là cấp Quân đoàn ra đời Cuối năm 1973 Quân đoàn 1 ra đời và năm 1974 hai Quân đoàn nữa xuất hiện là Quân đoàn 2 và 4 Năm 1973 và
1974 là năm ta chuẩn bị xây dựng tổ chức lực lượng để bước vào năm 1975, với 3 Quân đoàn và các Sư đoàn, các Trung đoàn cùng lực lượng vũ trang địa phương tỉnh, huyện và dân quân du kích, với lực lượng chính trị hùng hậu, ta bước vào cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 có thế và lực mạnh hơn địch
2.2.3.2 Về phương thức tác chiến
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, ta tiến hành ba chiến dịch lớn hay ba đòn chiến lược Chiến lược Tây Nguyên, chiến lược Huế - Đà Nẵng và chiến dịch quyết chiến chiến lược Hồ Chí Minh Ba đòn chiến lược đó thể hiện được phương thức tác chiến chiến lược hay của ta xuất phát từ đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân toàn diện, với hai lực lượng, ba thứ quân, tác chiến cài xen
kẽ với địch không phân tuyến của ta, làm cho địch bị phân tán, chia cắt, bị động, ta chủ động tập trung cơ động linh hoạt Phương thức tác chiến của ta là chiến lược của chiến tranh nhân dân kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, giữa quân sự với chính trị; tiến hành tác chiến trên toàn bộ chiến trường, đánh địch trên toàn bộ chiến tuyến, đánh cả trước mặt địch và sau lưng địch trên cả
ba vùng chiến lược Phương pháp tiến công là tiến công kế tiếp nhau một cách liên tục, hoặc tiến công đối đầu, cao hơn nữa là đồng thời tiến công trên toàn bộ chiến tuyến hoặc trên phần lớn chiến tuyến Cuộc tổng tiến công năm 1975, ta đã bố trí được hai tập đoàn chiến lược ở hai đầu chiến tuyến và một tập đoàn chiến dịch ở quãng giữa chiến tuyến Tập đoàn chiến lược 1 gồm Quân đoàn 2 cùng Quân khu Trị Thiên và các vị trí ở Huế và Đà Nẵng Tập đoàn chiến lược 2 gồm Quân đoàn 4 cùng các Sư đoàn, Trung đoàn và lực lượng vũ trang địa phương của Quân khu 7 đứng chân ở chung quanh Sài Gòn Tập đoàn chiến lược 3, gồm 2 Sư đoàn, các trung đoàn của mặt trận Tây Nguyên cùng Sư đoàn 3 Sao Vàng của Quân khu 5 và các lực lượng vũ gtrang địa phương của các tỉnh Tây nguyên, Phú Yên, Nha Trang đứng chân trên địa bàn Tây Nguyên Trong giai đoạn Tổng tiến công chiến lược, việc tổ chức ra từ 2 tập đoàn chiến lược trở lên là rất cần thiết để đẩy mạnh nhịp độ tiến công chiến lược với tốc độ cao và làm cho kẻ địch khó bề chống cự nổi rồi bị đánh bại nhanh Cuộc Tổng tiến công chiến lược của ta trong mùa Xuân 1975 cũng
đi theo phương pháp hay này và đã giành thắng lợi nhanh chóng, giòn giã
2.2.3.3 Về triển khai thế trận chiến lược