1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và những tác nhân ảnh hưởng đến kiến thức, hành vi, thái độ của các em học sinh lớp 12 về vấn đề sức khỏe sinh sản điển cứu trường ptth nguyễn huệ q 9 và trường ptth gia định q bình

197 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung các nghiên cứu trên đã đề cập đến tầm quan trọng của việc đưa giáo dục giới tính vào trường học, khảo sát về sự hiểu biết, thái độ của học sinh phổ thông, sinh viên nhằm tìm h

Trang 1

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

NĂM 2007

Tên công trình:

THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG TÁC NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIẾN THỨC, HÀNH VI, THÁI ĐỘ CỦA CÁC EM HỌC SINH LỚP 12

VỀ VẤN ĐỀ SỨC KHỎE SINH SẢN

(Điển cứu Trường PTTH Nguyễn Huệ - Q 9

và Trường PTTH Gia Định - Q Bình Thạnh)

Thuộc nhóm ngành: XH2b

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

0

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

NĂM 2007

Tên công trình:

THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG TÁC NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIẾN THỨC, HÀNH VI, THÁI ĐỘ CỦA CÁC EM HỌC SINH LỚP 12 VỀ

VẤN ĐỀ SỨC KHỎE SINH SẢN

(Điển cứu Trường PTTH Nguyễn Huệ - Q 9

và Trường PTTH Gia Định - Q Bình Thạnh)

Thuộc nhóm ngành: XH2b

Người hướng dẫn : GV Vũ Toản

Thực hiện : Nguyễn Thị Anh Vy (chủ nhiệm)

Võ Thị Như Quỳnh Phan Thị Kim Liên Trần Thị Quỳnh Ni

Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007

Trang 3

MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

BGD&ĐT : Bộ Giáo Dục và Đào Tạo

LHQ : Liên Hiệp Quốc

UNESCO : Tồ Chức Văn Hóa Thế Giới

UNFPA : Từ Cairô đến Bắc Kinh: Đưa những khuyến nghị của chương trình hành động thuộc hội nghị quốc tế về dân số và phát triển (ICPD) vào dự thảo chương trình hành động của hội nghị phụ nữ thế giới lần thứ tư

Trang 4

Mục lục

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu .2

3 Đối tượng nghiên cứu .5

4 Khách thể và phạm vi khảo sát 5

4 1 Khách thể nghiên cứu .5

4 2 Phạm vi khảo sát .5

5 Mục tiêu nghiên cứu .5

5 1 Mục tiêu tổng quát 5

5 2 Mục tiêu cụ thể .6

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn .6

6 1.Ý nghĩa lý luận .6

6 2.Ý nghĩa thực tiễn .6

7 Phươmg pháp nghiên cứu 7

Chương 1: Cơ sở lý luận 1 Lý thuyết sử dụng .8

1.1 Lý thuyết xã hội hóa 8

1.2 Lý thuyết về sự lựa chọn hợp lý 9

1.3 Lý thuyết hành động 9

2 Các khái niệm chính sử dụng trong đề tài 10

3 Khung lý thuyết 16

4 Giả thuyết nghiên cứu 16

Chương 2: Kết quả nghiên cứu

Trang 5

2 1 Vài nét sơ lược về trường Phổ thông Trung học Nguyễn Huệ và trường Phổ

thông Trung học Gia Định 19

2 1 1 Trường Phổ thông Trung học Gia Định 19

2 1 2 Trường Phổ thông Trung học Nguyễn Huệ .19

2 2 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 20

2 3 Những khó khăn và thuận lợi trong quá trình nghiên cứu đề tài 2 3 1 Khó khăn 20

2 3 2 Thuận lợi 21

2 4 Thực trạng kiến thức của học sinh phổ thông trung học về vấn đề sức khỏe sinh sản 21

2 4 1 Kiến thức của học sinh về vấn đề sức khỏe sinh sản 22

2 4 2 Thái độ của học sinh về vấn đề sức khỏe sinh sản 33

2 4 3 Hành vi của các em học sinh về vấn đề sức khỏe sinh sản 38

2.5 Các tác nhân tác động đến kiến thức, hành vi và thái độ của học sinh về vấn đề sức khỏe sinh sản 41

2.5.1 Tác nhân nhà trường 41

2.5.2 Tác nhân gia đình 47

2.5.3 Tác nhân bản thân - xã hội 52

2.6 Nhu cầu của các em học sinh về vấn đề sức khỏe sinh sản 54

2.6.1 Nhu cầu về kiến thức .55

2.6.2 Nhu cầu về sự hỗ trợ của gia đình, nhà trường và xã hội 57

Chương 3: Kết luận và đề xuất 3 1 Kết luận .64

3 2 Một số đề xuất 66

Tài liệu tham khảo 68

Trang 6

Phụ lục 69

Trang 7

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

Đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng kiến thức của các em học sinh lớp 12 về vấn đề sức khỏe sinh sản, đồng thời đi sâu nghiên cứu những tác nhân: gia đình, nhà trường

và bản thân học sinh đã tác động như thế nào đến mức độ hiểu biết của học sinh về vấn

Hi vọng đề tài sẽ là tài liệu tham khảo có ý nghĩa thực tiễn cho các ban ngành

có liên quan và những ai quan tâm đến vấn đề sức khỏe sinh sản

Trang 8

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, tình trạng mang thai ngồi ý muốn trong giới trẻ thành thị ngày càng trở nên đáng báo động, Theo bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, nguyên giám đốc bệnh viện Từ Dũ: trên thế giới, mỗi năm có khoảng 600 ngàn người chết do thai nghén và 70 ngàn người chết do nạo phá thai Trong đó, Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, 70 ngàn ca mỗi năm mà phần lớn là những phụ nữ chưa lập gia đình Một thực tế cụ thể như ở Thành phố Hồ Chí Minh với khoảng 8 triệu dân, mỗi năm có hơn 10 ngàn ca sinh trong đó số lượng ca nạo phá thai cũng chiếm tỷ lệ tương đương, Bác sĩ Ngọc Phượng có cho biết thêm: năm 2004, bệnh viện có thêm 30 ngàn trường hợp nạo phá thai, trong đó gần 5 ngàn

em gái dưới 19 tuổi, đây là một con số đáng báo động cho bản thân trẻ vị thành niên, gia đình và cả toàn xã hội Gần đây các nhà Xã Hội Học thường nhấn mạnh đến việc quan hệ tình dục trước hơn nhân, đặc biệt là vấn đề quan hệ tình dục tuổi vị thành niên, một nghiên cứu mới đây cho thấy có từ 6% – 8% học sinh, sinh viên đã có quan

hệ tình dục trước hôn nhân dẫn đế tình trạng nạo phá thai và quan hệ tình dục không

an toàn, đây là môi trường thuận lợi dễ lây lan các bệnh truyền nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm lý của phụ nữ nói chung và nữ học sinh, sinh viên nói riêng Những hậu quả nêu trên cho ta nhìn nhận một thực trạng bất cập, báo động về tình trạng nạo phá thai gia tăng ở tuổi vị thành niên, trong khi vấn đề này được nhắc đến rất nhiều trên các phương tiện truyền thông đại chúng, phải chăng là nội dung thông tin và mô hình truyền thông chưa đáp ứng đúng nhu cầu tìm hiểu thông tin về vấn đề sức khỏe sinh sản của học sinh? Để tìm ra mấu chốt của vấn đề này chúng tôi mong muốn tìm hiểu mức độ kiến thức của học sinh về vấn đề này, đồng thời xác lập mô hình truyền thông

và mô hình giáo dục phù hợp về sức khỏe sinh sản nhằm trang bị cho các em đầy đủ kiến thức, tự tin bước vào tương lai Với những lý do trên chúng tôi đã chọn vấn đề

“Thực trạng và những tác nhân ảnh hưởng tới sự hiểu biết, thái độ và hành vi về sức khỏe sinh sản của các em học sinh lớp 12 tại TPHCM” (trường hợp Trường PTTH Nguyễn Huệ - quận 9 và Trường Gia Định - quận Bình Thạnh) làm đề tài nghiên cứu

Trang 9

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

- Trên thế giới:

Vấn đề giáo dục giới tính, chăm sức sức khỏe sinh sản là một vấn đề mang tính toàn cầu, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, hoạch định chính sách thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Có thể nói cho đến nay, mảng chủ đề nghiên cứu này khơng mới nhưng các công trình nghiên cứu liên quan thường mới tập trung đề cập đến sự biến đổi hành vi giới tính và vấn đề giáo dục giới tính nhìn từ góc

độ y học và đạo đức Các kết quả nghiên cứu này đã phản ánh sự biến đổi to lớn về độ tuổi quan hệ tình dục lần đầu phụ thuộc vào đặc điểm văn hóa, chuẩn mực xã hội Thanh thiếu niên ở các nước phương Tây quan điểm về vấn đề giới tính, quan hệ tình dục, sống thử trước hôn nhân phóng thoáng hơn ở các nước phương Đông phong kiến cho nên tỷ lệ thanh thiếu niên có quan hệ tình dục trước hôn nhân khá cao

- Ở Mỹ tỉ lệ quan hệ tình dục ở tuổi 19 khá cao 77% ở nam và 69% ở nữ (nghiên cứu 1979)

- Ở Brazin tỉ lệ quan hệ tình dục rất cao 91% ở nam và 48% ở nữ có quan hệ tình dục ở tuổi 20, 21

- Ở Australia, một cuộc khảo sát cho thấy ở độ tuổi 20 có 58% nam và 48% ở nữ

có quan hệ tình dục

- Ở Châu Á, thanh thiếu niên có QHTD muộn hơn:

- Ở Nhật chỉ 15% nam và 7% nữ có QHTD ở tuổi 16 đến 21, hay là Thái Lan có 15% nữ ở tuổi 19 có QHTD trước khi lập gia đình

Những nghiên cứu trên đã cho thấy có sự thay đổi hành vi ứng xử tình dục, vấn

đề chăm sức sức khỏe nói chung và sức khỏe sinh sản nói riêng Tuy nhiên, cũng chỉ dừng lại ở khuôn khổ của vấn đề tình dục, giáo dục giới tính và sự phát triển ấy chỉ dừng lại ở một số nước phương Tây, còn ở phương Đông vấn đề này còn bị xem là nhạy cảm, tế nhị, bị cấm

Bắt đầu từ năm 1968 giáo dục giới tính và sức khỏe tình dục đã được khẳng định

và trở thành một trong những nội dung trọng tâm của Liên Hợp Quốc về giáo dục nâng cao chất lượng dân số

Trang 10

1980 UNESCO đã đánh dấu tầm quan trọng của giáo dục đời sống gia đình và giới tính trong giáo dục con người

- Ở nước ta:

Việt Nam là một nước phương Đông phong kiến, ảnh hưởng từ văn hóa Nho giáo nên vấn đề giới tính và tình dục thường là vấn đề nhạy cảm, ít được nói ra Từ sau thời kỳ đổi mới, giáo dục giới tính đã được bắt đầu nói đến trên các tạp chí và môn học

ở trường sư phạm, các chương trình nghiên cứu dân số

Nghị quyết đầu tiên của chính phủ 1961 về dân số đã ghi rõ ở điều 1 “vì sức khỏe người mẹ, vì hạnh phúc và sự hài hòa của gia đình, để giáo dục và chăm sóc con cái tốt hơn cần hướng dẫn sinh đẻ một cách thích hợp” Như vậy, từ lâu chính sách phát triển dân số đã gần như kế hoạch hoá gia đình với sức khỏe sinh sản, năm 1988 BGD&ĐT đã giao cho viện khoa học và giáo dục Việt Nam thực hiện đề án VIE/88/P09 dưới sự tài trợ của UNFPA và UNESCO LHQ

Đề án VIE/88/P09 về “Giáo dục đời sống gia đình” đã triển khai ở 19 tỉnh Đề

án nghiên cứu sâu và rộng các vấn đề như: quan niệm về tình yêu và tình dục trong hôn nhân, quan niệm về đới sống gia đình và kế hoạch hóa gia đình, nguyện vọng đối với việc học tập về đời sống gia đình Nội dung của đề án thể hiện sự thử nghiệm giáo dục đời sống gia đình và giới tính cho học sinh 9,10,12 Ở nước ta, nội dung giáo dục đời sống gia đình là trọng tâm của chương trình 9 và 12 (đây là chương trình giáo dục giới tính học đường của Bộ giáo dục, nhằm trang bị kiến thức về giới tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh phổ thông) Đây là lần đầu tiên học sinh học được một cách hệ thống về những điều bí ẩn, của chính mình và của mối quan hệ với người khác giới Bên cạnh đó còn có nhiều công trình nghiên cứu khác như: Điều tra cơ bản nhằm đưa GDGT và giáo dục đời sống gia đình vào nhà trường sư phạm (khoa tâm lý giáo dục, trường ĐHSPHN 1)

Đề tài nghiên cứu về “giáo dục giới tính, kế hoạch hóa gia đình và giáo dục đời sống gia đình” của Ngô Đặng Minh Hằng

Đề tài “nhận thức thái độ của học sinh trường sư phạm Phú Yên, về những nội dung cơ bản của kế hoạch hóa gia đình” của Đinh Thị Dậu cũng đề cập đến một số vấn

Trang 11

đề trong nội dung giáo dục giới tính

Đề tài việc mang thai, nạo phá thai ở tuổi vị thành niên tại TP HCM (Trần Tuấn Phát, luận văn thạc sĩ, khoa Xã Hội Học chuyên ngành Xã Hội Học, Hà Nội 1999)

Nhìn chung các nghiên cứu trên đã đề cập đến tầm quan trọng của việc đưa giáo dục giới tính vào trường học, khảo sát về sự hiểu biết, thái độ của học sinh phổ thông, sinh viên nhằm tìm hiểu thực trạng và kiến nghị về việc nâng cao kiến thức về giới tính cho học sinh, thái độ của học sinh về việc đưa giáo dục giới tính vào trường học Bên cạnh đó vấn đề này cũng được sự quan tâm của giới y học trong một số đề tài là:

Nghiên cứu kiến thức thái độ hành vi tính dục của sinh viên lứa tuổi 18 đến 24 tại TPHCM của tác giả Dương Đăng Hanh (luận văn thạc sĩ khoa học y học, chuyên ngành sản phụ khoa 1999)

“Đánh giá sự trưởng thành tích cực của học sinh từ 6 đến 10 tuổi nội thành TPHCM” thực hiện bởi Trương Thị Nguyệt Hảo (luận văn thạc sĩ khoa học y học chuyên ngành sản phụ khoa 1999)

Nghiên cứu sự trưởng thành tính dục, kiến thức và thái độ về sức khỏe sinh sản của học sinh Phổ thông Trung học tại TPHCM do Trần Anh Tuấn thực hiện (luận văn thạc sĩ khoa học y học, chuyên ngành sản phụ khoa 1999)

Nghiên cứu kiến thức thái độ hành vi tính dục của học sinh Phổ thông Trung học tại TPHCM do Nguyễn Đức Trí Dũng thực hiện 1999 (luận văn thạc sĩ khoa học y học, chuyên ngành sản phụ khoa 1999)

Nhìn chung các nghiên cứu kể trên tập trung vào tìm hiểu kiến thức của học sinh về vấn đề liên quan đến giới tính, sức khỏe sinh sản vị thành niên và quan hệ tình dục Ngồi ra còn có một số bài viết trên các đăng trên các báo, tạp chí liên quan khác

Từ mặt bằng nghiên cứu trên cho thấy nghiên cứu thực trạng về vấn đề có liên quan đến sức khỏe sinh sản không phải là ít Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng các nghiên cứu cụ thể về sức khỏe sinh sản và giới tính chỉ mới tập trung đến vấn đề đưa

mô hình giáo dục giới tính, tuyên truyền giáo dục sức khỏe sinh sản vào trường học Vấn đề nạo phá thai và quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh thiếu niên Nhưng

Trang 12

trong thực tế cho thấy các vấn đề này được đưa vào trường học chỉ mang tính hình thức sơ sài Do vậy chúng tôi mong muốn được dựa trên những công trình nghiên cứu

cũ sẽ tiến hành nghiên cứu về thực trạng và những nhân tố tác động đến kiến thức, thái

độ hành vi, về sức khỏe sinh sản lớp 12 Đi sâu nhằm khảo sát thực trạng và kiến thức sức khỏe sinh sản và làm rõ những tác nhân ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ và hành

vi của học sinh ở TPHCM qua việc nghiên cứu 2 trường cụ thể Qua đó tìm kiếm hình thức tiếp cận phù hợp với vấn đề vốn được xem là nhạy cảm này, đồng thời cũng làm

rõ sự khác biệt về giới trong nhu cầu tìm hiểu, cung cấp và chia sẻ thông tin

3 Đối tượng nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài đã xác định đối tượng nghiên cứu là thực trạng kiến thức của các em học sinh về sức khỏe sinh sản, đồng thời đi lí giải các tác nhân tác động đến kiến thức, thái độ hành vi về sức khỏe sinh sản của học sinh lớp 12

Sức khỏe sinh sản thì nó là một phạm trù khá rộng, ở giới hạn nghiên cứu đề tài này nhóm nghiên cứu chúng tôi chỉ khảo sát vấn đề sức khỏe sinh sản ở khía cạnh nhận thức, thái độ và hành vi về sức khỏe sinh sản học sinh lớp 12, đồng thời tìm hiểu nhu cầu của các em về những dịch vụ cung cấp thông tin SKSS trong học sinh hiện nay

5 Mục tiêu nghiên cứu

5 1 Mục tiêu tổng quát:

Tìm hiểu thực trạng và tìm kiếm các tác nhân ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ

Trang 13

và hành vi sức khỏe sinh sản của học sinh lớp 12 tại hai trường Phổ thông Trung học Nguyễn Huệ và Gia Định

- Những yếu tố (gia đình, nhà trường, xã hội) tác động đến vấn đề sức khỏe sinh sản của học sinh lớp 12

- Tìm hiểu nhu cầu thông tin của các em về sức khỏe sinh sản, nhu cầu của các

em muốn trang bị thêm kiến thức gì về sức khỏe sinh sản và hình thức truyền thông, giáo dục nào phù hợp, hiệu quả với các em

- Sự khác biệt về giới đối với nhu cầu và phương pháp tiếp cận thông tin về sức khỏe sinh sản

- Qua thực trạng và các nhu cầu tìm hiểu thông tin của các em về sức khỏe sinh sản, chúng tơi tìm kiếm một mô hình giáo dục phù hợp về vấn đề giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho một trường hợp khảo sát cụ thể Đó là trường PTTH Nguyễn Huệ và trường PTTH Gia Định

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn:

6.1 Ý nghĩa lý luận :

Với tính chất và đặc trưng của đề tài chúng tôi chọn lý thuyết xã hội hoá là lý thuyết nền tảng xuyên suốt đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài là quá trình vận dụng, củng cố lý thuyết xã hội hoá trong nghiên cứu ứng dụng Qua đó khẳng định vai trị to

lớn của môi trường gia đình, nhà trường và xã hội trong quá trình xã hội hoá cá nhân 6.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Đề tài giúp nhằm nghiên cứu có điều kiện vận dụng các kiến thức đã học vào

Trang 14

thực hành nâng cao năng lực, qua đó nắm vững kiến thức để áp dụng vào thực tế cuộc

sống Đồng thời cố gắng tìm kiếm, xây dựng mô hình tiếp cận phù hợp cho học sinh

Kết quả đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho khoa và trường, là cơ sở cho nghiên cứu về sau phát triển đề tài sâu và rộng hơn

7 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài đã sử dụng các phương pháp sau:

* Phương pháp thu thập thông tin:

- Thu thập và phân tích tư liệu sẵn có

- Phát phiếu điều tra: 173 bảng hỏi

- Phỏng vấn sâu:

+ Phỏng vấn sâu giáo viên: 9 cuộc

+ Phỏng vấn sâu học sinh: 2 cuộc

+ Phỏng vấn sâu phụ huynh: 3 cuộc

- Thảo luận nhóm: 2 cuộc (học sinh nam và học sinh nữ)

* Phương pháp xử lí thông tin theo phương pháp Xã hội học

- Mã hoá và phân tích thông tin định tính

- Xử lí SPSS và phân tích số liệu

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1 Các lý thuyết áp dụng:

1.1 Lý thuyết xã hội hoá

Các nhà xã hội học đã nhận định: quá trình xã hội hoá là quá trình làm cho con

người từ một thực thể sinh học trở thành một thực thể xã hội

Quá trình quá độ mà theo đó chúng ta có thể tiếp nhận được nền văn hóa của

xã hội nơi chúng ta được sinh ra – một quá trình chúng ta đạt được những đặc trưng xã hội của bản thân, học được các suy nghĩ, ứng xử thích hợp với xã hội của chúng ta được gọi là quá trình xã hội hóa

Xã hội hóa một trong những phạm trù cơ bản của Xã Hội Học Nhờ quá tình

xã hội hóa mà xã hội có thể tồn tại và luân chuyển nền văn hóa của mình từ thế hệ này qua thế hệ khác

Các nhà xã hội học đã thống nhất, phân chia xã hội hóa thành ba giai đoạn:

- Giai đoạn xã hội hoá trong gia đình

- Giai đoạn xã hội hoá trong nhà trường

- Giai đoạn xã hội hoá trong môi trường xã hội

Ngay từ trong gia đình vấn đề về sức khỏe sinh sản đã được quan tâm khi còn

bé thông qua những lời dạy dỗ, khuyên răn, … nhưng giáo dục về sức khỏe sinh sản trong gia đình không mang tính chính thức

Tuy nhiên, những kiến thức về sức khỏe sinh sản sẽ được củng cố, hình thành một cách có hệ thống khi tiếp thu ở trường, lớp Nhưng, hầu như ở các trường học hiện nay, giáo dục giới tính, trong đó, có giáo dục sức khỏe sinh sản, vẫn chưa được xem là một môn học chính thức như các môn học khác

Mặt khác, trong thời đại hiện nay, với sự bùng nổ thông tin, thì những vấn đề về sức khỏe sinh sản rất phong phú và đa dạng, nhưng đa phần đây là những thông tin thiếu định hướng, nên việc tiếp thu không có chọn lọc dễ dẫn đến sự sai lệch trong nhận thức và hành vi

Trang 16

Nhưng, trong môi trường xã hội, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến các nhóm bạn cùng trang lứa, cùng độ tuổi Chính những nhóm bạn này là nơi cung cấp, chia sẻ cho nhau những thông tin về sức khỏe sinh sản, điều đó chứng tỏ, tác động, vai trò to lớn của các nhóm bạn cùng lứa tuổi

Lý thuyết xã hội hóa sẽ là lý thuyết chủ đạo, xuyên suốt đề tài chúng tôi Ngoài

ra, chúng tôi còn áp dụng các lý thuyết khác nhằm bổ sung, làm rõ cho lý thuyết xã hội hoá

1.2 Lý thuyết về sự lựa chọn hợp lí

Đại diện cho lý thuyết này là nhà tâm lý học người Mỹ Coleman

Ông cho rằng: mỗi người tự xem xét một loạt các kích thích và lựa chọn ra những kích thích phù hợp, có ích cho bản thân mình, những kích thích nào không phù hợp hoặc không có ích sẽ bị loại bỏ, khước từ Đó chính là sự lựa chon hợp lí

Khi đứng trước những vấn đề giới tính, cách riêng là vấn đề sức khỏe sinh sản, học sinh sẽ đặt ra những câu hỏi: giới tính là gì? Sức khỏe sinh sản là gì? Học sức khỏe sinh sản để làm gì? Nó có giúp ích gì cho bản thân không?

Từ những câu hỏi đó, học sinh đã biết đến sức khỏe sinh sản, và thời đại hiện nay, một cách dễ dàng nhất là các em chỉ cần online là có thể có được một số lượng kiến thức khổng lồ, từ những đều thu nhận được, các em sẽ có sự lựa chọn cho bản thân mình

Tuy nhiên, cần có sự định hướng để giúp cho các em nhìn nhận, quan tâm về sức khỏe sinh sản một cách đúng đắn

1.3 Lý thuyết hành động

Đại diện cho lý thuyết này là nhà Xã Hội Học người Đức: Max Weber

Ông đã đưa ra một hệ thống mang tính khuôn mẫu bao gồm bốn kiểu hành động:

- Hành động do cảm xúc: phần lớn hành động của con người là do cảm xúc Đây là những hành động mang tính tự phát, cũng một con người, cũng một hoàn cảnh nhưng có thể có những hành động khác nhau tùy theo cảm xúc Nhiều khi, các em

Trang 17

không có chủ đích tìm kiếm những kiến thức về sức khỏe sinh sản nhưng trong một hoàn cảnh nào đó, các em nghe bạn bè nói về sức khỏe sinh sản, các em lại mong muốn tìm hiểu nó, vì tò mò hơn là mục đích học tập

- Hành động mang tính truyền thống: Tức là khi con người hành động theo một thói quen, xuất phát từ những gì được xã hội hóa ngay từ thuở còn thơ Đối với truyền thống Á Đông thì những vấn đề về giới tính hay về sức khỏe sinh sản là những vấn đề hết sức tế nhị, vì thế, khi tiếp thu những vấn đề này thông thường chỉ được chấp nhận

ở một khía cạnh nào đó trong phạm vi cho phép, nếu vượt qua ngưỡng đó thì sẽ bị xã hội lên án

- Hành động hợp lí về giá trị: là những hành động có tính định hướng giá trị Khi nhìn nhận vấn đề giới tính, cách riêng là vấn đề sức khỏe sinh sản, các em sẽ tìm hiểu xem: những thông tin đó có thật sự cần thiết cho bản thân không? Có quan trọng không? Hay ở tuổi các em những vấn đề đó có phù hợp không? Vấn đề đó có được mọi người chấp nhận không? …

- Hành động hợp mục đích: người hành động phải suy nghĩ và quyết định xem mình chọn mục đích nào và dùng phương tiện nào để đạt được mục đích Khi các em nhận thấy, những kiến thức sức khỏe sinh sản là quan trọng và cần thiết thì các em sẽ quan tâm thông qua những nơi mà các em cho là đáng tin cậy, nơi tin cậy đó có thể là: cha, mẹ, hay anh chị, và bạn bè cùng lứa tuổi, … để tâm sự, chia sẻ về những vấn đề

đó

Tuy nhiên, bốn loại hành động này không có một ranh giới rõ ràng mà chúng có

sự đan xen với nhau

2 Các khái niệm:

- Khái niệm sức khỏe sinh sản:

Sức khỏe sinh sản là một trạng thái hồn hảo về thể chất, tinh thần và xã hội ở mọi vấn đề liên quan đến bộ máy sinh sản, đến các chức năng và quá trình hoạt động sinh sản, không chỉ đơn thuần là tình trạng không có bệnh tật hoặc đau ốm

Như vậy, sức khỏe sinh sản có nghĩa là mọi người có hoạt động giới tính thỏa mãn và an toàn, có khả năng sinh sản và được tự do quyết định thời gian sinh con và

Trang 18

số con, phụ nữ và nam giới có quyền được thông tin và có quyền hướng các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả theo sự lựa chọn của mình

- Khái niệm giới tính:

Là một khái niệm rộng, trước hết đó là giới sinh vật, nghĩa là thuộc nam hoặc

nữ về mặt sinh học (ngoại hình, nhiễm sắc thể khả năng sinh sản …) với những đặc tính sẵn có, bẩm sinh không thay đổi

Giới tính là một đặc điểm nền tảng có tính chất sinh học - xã hội của con người Những đặc điểm giới tính sinh học là tiền đề, là cơ sở vật chất tạo nên sự khác biệt giới tính Mặc khác giới tính còn do các mối quan hệ xã hội chi phối Xã hội quy định, đánh giá con người theo những phẩm chất đạo đức, tư thế tác phong riêng phù hợp với giới tính, thể hiện ở phong tục tập quán, đạo đức xã hội Xã hội quy định sự phân công lao động nam và nữ khác nhau Xã hội chi phối sự đánh giá những yếu tố có nguồn gốc sinh học Ngay cả lĩnh vực tình dục cũng được xã hội thừa nhận theo những tiêu chuẩn đạo đức, văn hóa nhất định

Còn giới là hành vi, tâm lý theo kiểu nam nữ được hình thành do ảnh hưởng của

xã hội hay một nền văn hóa nào đó Các tiêu chuẩn để xác định giới tính vì vậy không bền vững

Giáo dục giới tính tức là giáo dục phẩm chất của giới theo những chuẩn mực do nền văn hóa của xã hội đó quy định

- Khái niệm nhận thức:

Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan của chủ thể, là quá tình tạo thành trí thức trong bộ óc con người về hiện thực khách quan (theo tâm lý học nhận thức) Hoạt động nhận thức là hoạt động rất đặc trưng của con người Nó là một lĩnh vực hết sức phức tạp Nhận thức là hoạt động của chủ thể nhằm khám phá thế giới xung quanh, nhằm tìm ra chân lý hay sự thật về những thuộc tính và quy luật khách quan của một sự vật cụ thể Quá trình nhận thức diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau, song để đánh giá nhận thức của theo các mức độ nhận thức hay đánh giá con người về một vấn

đề nào đó chúng ta có thể đánh giá theo các mức độ nhận thức hay đánh giá một cách giản đơn theo hai hướng: nhận thức đúng hay chưa đúng

Trang 19

Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau ở những mức độ phản ánh khác nhau như: cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng … những quá trình này sẽ tạo ra những sản phẩm khác nhau Do đó, việc các em nhận thức về giáo dục giới tính cũng trải qua nhiều giai đoạn tuổi ấu thơ, thiếu nhi, vị thành niên Những hình ảnh mà các em bắt gặp trong thực tế cuộc sống đã đi vào trong tiềm thức các em và đến một giai đoạn nhất định thì cảm giác, tri thức, tư duy, tưởng tượng, của các em trở nên phong phú và nhận thức về vấn đề này một cách cụ thể hơn, chính xác hơn

Tuy nhiên mức độ nhận thức cao – thấp – đúng – sai của học sinh về vấn đề này khác nhau

- Khái niệm thái độ:

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “thái độ” được hiểu theo hai khía cạnh:

- Mặt biểu hiện bề ngoài của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hay việc gì, thông qua nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động

- Ý thức, cách nhìn nhận, đánh giá và hành động theo một hướng nào đó trước

sự việc, vấn đề gì

(Đại Từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý, NXB Văn hóa thông tin)

Vậy thì theo nhóm nghiên cứu, thái độ của học sinh đối với vấn đề sức khỏe sinh sản là những ý nghĩ, những suy nghĩ của học sinh về vấn đề này được bộc lộ ra bên ngoài thông qua những phản ứng của các em đối với vấn đề này (cởi mở hay ngại ngùng, e thẹn, ủng hộ hay không ủng hộ, đồng tình hay bác bỏ) theo quan điểm và cách nhìn nhận riêng của từng học sinh về vấn đề sức khỏe sinh sản mà học sinh có những phản ứng khác nhau

- Khái niệm hành vi:

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Giáo dục: Hành vi là cách ứng

xử trong hoàn cảnh nhất định được biểu hiện bằng lời nói, cử chỉ, hành động nhất định

Trang 20

“Hành vi” theo cách hiểu của nhóm nghiên cứu đó là việc học sinh thể hiện sự hiểu biết, nắm bắt được các kiến thức về sức khỏe sinh sản thông qua việc học sinh tự chăm sóc, vệ sinh cá nhân hành ngày, tìm kiếm các thông tin về sức khỏe sinh sản trên các phương tiện truyền thông đại chúng và qua những người xung quanh (gia đình, bạn bè, …) và hành vi còn là sự quan tâm và nhu cầu tìm hiểu thêm về những kiến thức về giáo dục giới tính mà học sinh chưa biết đến hoặc chưa được nghe nói, …

- Khái niệm gia đình

Gia đình là khái niệm được rất nhiều môn khoa học nghiên cứu dưới những góc

độ khác nhau, và mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra những định nghĩa của riêng mình để phục vụ cho công tác nghiên cứu của họ Do vậy khái niệm gia đình vô cùng đa dạng, phong phú

Trước hết phải kể đến những khái niệm gia đình của các nước khác Trong

“Dictionnairre de Sociologie” định nghĩa về gia đình như sau: “Nhóm người gắn bó với nhau bằng một liên hệ hôn nhân, huyết thống hay là việc nhận con nuôi Có sự tác động qua lại giữa chồng và vợ, giữa bố và mẹ, giữa cha mẹ với con cái, giữa anh chị

em và họ hàng xa hơn”.1

Một định nghĩa khác trong “La Sociologie et les Sciences de Societé”: “Gia đình chỉ có vợ chồng hay gia đình hẹp, gồm có bố, mẹ và con cái còn nhỏ tuổi là hình thức gia đình phương Tây hiện đại Người ta cũng gọi nó là “gia đình học sinh”, “gia đình hạt nhân”, “gia đình mở rộng” Tất cả các hình thức gia đình của nền văn minh khác nhau hiện nay trong sự phát triển của chúng ta cho thấy một khuynh hướng đi tới gia đình một vợ, một chồng ấy Mỗi thành viên của cặp vợ chồng thuộc về hai gia đình: gia đình mà người đó sinh ra, gia đình định hướng và gia đình mà người đó tạo

ra do cuộc hôn nhân của anh ta, gia đình sinh sản”2

Theo “Từ điển Xã Hội Học” của Gun Ter Endruweit và Gisela Trommsdorff,

“Gia đình là một nhóm thuộc loại đặc biệt vì nó biểu hiện một cấu trúc vai trị nhất định (bố/mẹ/con gái/con trai/cháu/em…), với nó thì sự tách biệt về giới tính và thế hệ

là tiêu chí của cơ cấu gia đình (một hay đa thế hệ; nam hay nữ) và qua nó sẽ chuyển

Trang 21

hóa một quan hệ hợp tác và đồn kết rất đặc biệt mà ở tất cả các xã hội đều tổ chức theo nghi lễ sự thành lập của nó Ngoài ra xã hội cũng trao cho nhóm đặc biệt này những chức năng rất đặc biệt ”3 Đó là chức năng tái sinh về mặt sinh học và xã hội

Theo Liên Hiệp Quốc thì: “Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng cùng sống chung và có ngân sách chung Gia đình hôn phối hay gia đình hạt nhân gồm

có bố mẹ, con cái sống chung một nhà là hình thức chiếm số đông hiện nay Gia đình hôn phối được tạo nên bằng hôn nhân và được giải thể cùng với sự giải thể hôn nhân (ly dị)” 4 Định nghĩa này nhắc tới một hiện tượng cũng đang diễn ra ngày càng phổ biến trong xã hội, đó là việc ly dị, được xem như là việc làm tan rã một gia đình

Ở Việt Nam thì cũng có rất nhiều khái niệm khác nhau về gia đình về những khía cạnh khác nhau Từ hướng tiếp cận Triết học, GS Hồ Ngọc Đại khẳng định: “gia đình là một khái niệm mới được hình thành, từ ba thành phần, gồm những “đại lượng khác tên” là Bố, Mẹ và Con cái Tôi gọi là tam giác gia đình ”5 Như vậy theo GS Hồ Ngọc Đại thì đã là gia đình thì phải là một “tam giác” gồm có bố, mẹ và con cái, không thể thiếu ai được, trong khi đó hiện nay tồn tại những gia đình đặc biệt, như

“gia đình đơn thân” (chỉ có vợ hoặc chồng + con cái), “gia đình đồng thuận” (không có quan hệ hôn nhân, huyết thống nhưng vẫn ở với nhau), “gia đình biến thái” (gia đình tái hôn, gia đình đồng tính luyến ái, gia đình đa thê…) Vậy những gia đình ấy có được gọi là gia đình không?

Còn theo TS Nguyễn Minh Hòa thì: “Gia đình là một tập hợp gồm những người chung sống với nhau, trong cùng một mái nhà Họ liên kết với nhau bởi quan hệ hôn nhân và huyết thống Quan hệ này được chính thức thừa nhận bởi pháp luật hay luật tục Họ có trách nhiệm đạo đức đối với nhau bằng tình cảm máu thịt, họ có quan

hệ kinh tế đối với nhau, cùng có chung về tài sản và cùng có trách nhiệm xã hội hóa thế hệ sau Đó là quan hệ vợ chồng, cha mẹ con cái, anh chị em ruột thịt ”6

Tóm lại, theo chúng tơi, gia đình là một nhóm xã hội, các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau bằng hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân và quan hệ

Trang 22

huyết thống Gia đình có những chức năng riêng biệt, đó là chức năng vĩ mô: chức năng tái sản xuất con người và chức năng xã hội hóa; chức năng vi mô: chức năng kinh tế và chức năng tâm sinh lý Gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên và quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc tạo dựng nhân cách cơ sở cho mỗi con người, thực hiện chức năng giáo dục và định hướng giá trị cho con cái

- Khái niệm học sinh

Định nghĩa này còn chung chung, để hiểu rõ hơn, “Từ điển văn hóa giáo dục Việt Nam” cho rằng: “Học sinh là người đi học tại các trường phổ thông, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề Học sinh có nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, thực hiện nội quy, điều lệ của nhà trường Cuối cùng mỗi năm học, học sinh được đánh giá và xếp loại theo học lực, đồng thời còn được đánh giá và xếp loại toàn diện: tiên tiến, xuất sắc ”7

- Khái niệm nhà trường

Theo Đại từ điển tiếng Việt thì khái niệm “nhà trường” là trường học, ở đây ta

có thề hiểu một cách đơn giản, nhà trường là nơi cung cấp, bồi dưỡng kiến thức đồng thời cũng là nơi đào tạo hình thành nhân cách của con người một cách tốt hơn

7

Vũ Ngọc Khánh (2003), Từ điển văn hĩa giáo dục Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hĩa Thơng tin, Hà Nội, tr 156

Trang 23

3 Khung lý thuyết:

4 Giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở mục tiêu và nội dung của đề tài, nhóm nghiên cứu đã đưa ra các giả thuyết để nghiên cứu cụ thể sau:

- Sự bùng nổ thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng với việc tiếp thu các yếu tố của nền văn hóa mở phương Tây, trên các phương tiện truyền thông đại chúng hiện nay, các thông tin về giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản được đề cập phổ biến khá rộng rãi Đây là yếu tố thuận lợi giúp học sinh có thể tiếp cận các thông tin sức khỏe sinh sản dễ dàng hơn

MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI

THÔNG TIN

LOẠI HÌNH TIẾP CẬN

Trang 24

- Tuy nhiên có sự xuất hiện đại trà của các thông tin sức khỏe sinh sản trên các phương tiện truyền thông đại chúng như hiện nay dẫn đến hiện tượng loãng thông tin Hơn nữa, việc phổ biến thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt

là internet chưa nằm trong sự quản lý của các cơ quan chức năng Do đó, thông tin sức khỏe sinh sản được đăng tải nhưng không thông qua sự kiểm soát nên sẽ không có sự chọn lọc thông tin Vì thế, nếu không có sự định hướng từ phía gia đình, nhà trường và

xã hội thì học sinh dễ bị sai lệch khi tiếp xúc với các kiến thức sức khỏe sinh sản không có chọn lọc

- Văn hóa Việt Nam nói riêng và văn hóa Á Đông nói chung vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề khép kín, đặc biệt là sức khỏe sinh sản, tình dục,…được xem là những điều tế nhị, thậm chí là cấm kị để đem ra bàn tán Chính tư tưởng khép kín này làm cho việc tiếp cận kiến thức sức khỏe sinh sản của học sinh gặp nhiều khó khăn và thái

độ cởi mở của học sinh về vấn đề này bị hạn chế rất nhiều

- Mặt khác dưới sự ảnh hưởng sâu đậm của nền văn hóa phương Đông nên kiến thức về sức khỏe sinh sản vẫn chưa được quan tâm đúng mức từ phía gia đình, nhà trường

Trong gia đình, cha mẹ rất ngại, trao đổi với con cái những vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản vì họ sợ nói ra là “ vẽ đường cho hươu chạy”

Nhà trường, thầy cô giáo cũng e dè khi đề cập đến vấn đề này vì một phần là các thầy cô chuyên tâm vào bộ môn của mình nên không có nhiều thời gian để quan tâm đến vấn đề tâm sinh lý của học sinh Phần nữa là thầy cô không biết phải nói như thế nào để học sinh nghe mà không cảm thấy “sốc” vì vấn đề này quá tế nhị

- Có sự khác biệt về cơ học giữa hai giới tính nam và nữ nên nhu cầu cũng như tính chất thông tin về vấn đề sức khỏe sinh sản của hai giới tính là khác nhau Hơn nữa việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của nam thường dễ dàng hơn so với nữ vì nữ giới thường bị ảnh hưởng của các rào cản của văn hoá phương Đông

- Từ việc khảo sát hai trường Phổ thông Trung học, giả thiết nhóm nghiên cứu dặt ra là: có sự khác biệt về mặt nhận thức sức khỏe sinh sản giữa học sinh Phổ thông Trung học Gia Định và Phổ thông Trung học nguyễn Huệ Trong đó, học sinh Phổ

Trang 25

thông Trung học Gia Định có mức hiểu biết về sức khỏe sinh sản cao hơn so với học sinh Phổ thông Trung học Nguyễn Huệ

- Việc tiếp cận các thông tin và dịch vụ sức khỏe sinh sản Phổ thông Trung học Gia Định dễ dàng và thuận lợi hơn học sinh Phổ thông Trung học Nguyễn Huệ

Trang 26

CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1 Vài nét sơ lược về trường Phổ thông Trung học Gia Định và trường Phổ thông Trung học Nguyễn Huệ

2.1.1 Trường Phổ thông Trung học Gia Định:

Trường Phổ thông Trung học Gia Định - Quận Bình Thạnh được thành lập sau năm 1975, nguyên là trường dân lập giáo xứ Nguyễn Duy Khang, nay trở thành trường phổ thông trung học Gia Định

Hiện tại trường có 113 giáo viên với 11 bộ môn (hệ công lập lẫn hệ bán công) Trường gồm có 66 lớp học với tổng số 3200 học sinh Trong đó có:

+ Khối 12 gồm có 21 lớp học + Khối 11 gồm 22 lớp học + Khối 10 gồm có 23 lớp học

Tổ sinh của trường đảm nhận việc thực hiện các hoạt động ngoại khoá nhằm cung cấp kiến thức cho học sinh về

+ Vệ sinh phụ nữ + Kiến thức phòng chống HIV/AIDS Trường Phổ thông Trung học Gia Định có trang thiết bị hiện đại với 52 chỗ ngồi tăng cường cho việc học ngoại ngữ, có phòng vi tính, thư viện rộng rãi, thoáng mát, thường xuyên bổ sung sách, phục vụ học tập tham khảo của học sinh và giáo viên

2.1.2 Trường Phổ thông Trung học Nguyễn Huệ

Trường Phổ thông Trung học Nguyễn Huệ - Quận 9 được hình thành qua nhiều giai đoạn:

Năm 1985 - 1988: Phân hiệu của trường Phổ thông Trung học Nguyễn Duy Huân Năm 1989 - 1991: UBND TP Hồ Chí Minh ra quyết định số 559/QD ngày 22/9/89 thành lập trường Phổ thông Trung học Nguyễn Huệ, tọa lạc tại 43 Hoàng Diệu, huyện Thủ Đức

Trang 27

Năm 1991 - 1992: Sở giáo dục và đào tạo quyết định số 47/KH ngày 23/5/1991 trường Phổ thông C2 & 3 Nguyễn Huệ, chuyển trường từ ủy ban Hoàng Diệu về ấp Chân Phúc Cẩm, Phước Long, Thạnh Mỹ

Tháng 9/1991 đến nay đổi tên thành trường Phổ thông Trung học Nguyễn Huệ Trường có tổng số học sinh là 1895, gồm 12 bộ môn với 56 giáo viên

+ Khối 10 gồm 16 lớp

+ Khối 11 gồm 14 lớp

+ Khối 12 gồm 11 lớp

2.2 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Trong quá trình thu thập thông tin, nhóm nghiên cứu đã nhận thấy một số đặc điểm sau của mẫu nghiên cứu:

+ Mẫu nghiên cứu bao gồm 173 mẫu, trong đó, 76 nam (43,9%) và 96 nữ (55,5%) Tất cả mẫu nghiên cứu đều nằm trong lứa tuổi 17- 18 tuổi

+ Mẫu nghiên cứu tại hai trường là: trường Trung học phổ thông Nguyễn Huệ

là 90 mẫu và trường Trung học phổ thông Gia Định là 82 mẫu

+ Các học sinh hiện tại chủ yếu là sống với ba mẹ chiếm 94,2%

2.3 Những khó khăn và thuận lợi trong quá trình nghiên cứu

2.3.1 Khó khăn:

Trước hết, đây là một chủ đề tế nhị và có tính nhạy cảm cao, nên gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình tiếp xúc với khách thể, và đây là lần đầu tiên chúng tôi làm nghiên cứu khoa học đặc biệt là chúng tôi chưa được học môn phương pháp nghiên cứu Xã Hội Học nên còn gặp nhiều hạn chế trong quá trình thu thập thông tin cũng như trong cách thực hiện

Do cơ chế đặc thù trong việc quản lý học sinh của mỗi trường khác nhau nên việc tiếp cận với khách thể nghiên cứu gặp nhiều khó khăn Đối với trường PTTH Nguyễn Huệ nhóm nghiên cứu có thể tiếp cận với học sinh dễ dàng nên rất thuận lợi cho việc thu thập thông tin, nhưng ở trường PTTH Gia Định, nhóm nghiên cứu rất khó

để được tiếp cận với học sinh nên việc thu thập thông tin chỉ dừng lại ở khâu thu thập

Trang 28

thông tin định lượng, còn đối với các thông tin định tính thì nhóm nghiên cứu không thể tiến hành Đây là hạn chế lớn nhất của đề tài

2.3.2 Thuận lợi:

Trong suốt quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã nhận được sự nhiệt tình ủng hộ, động viên của quý thầy cô, bạn bè Được sự hỗ trợ tích cực của các khóa dưới trong quá trình thu thập thông tin

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng gặp nhiều thuận lợi trong quá trình tiếp xúc với đối tượng phỏng vấn, các học sinh rất vui vẻ và thoải mái cung cấp cho chúng tôi thông tin, sự hỗ trợ và tạo mọi điều kiện của các thầy cô hai trường PTTH cho chúng tôi có thể tiếp xúc với học sinh

2.4 Thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi của học sinh Trung học Phổ thông về sức khỏe sinh sản

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, hiện nay Việt Nam có khoảng 20% dân số dưới 20 tuổi Trong đó, xấp xỉ 15 triệu người ở lứa tuổi vị thành niên Do điều kiện kinh tế – xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người được cải thiện và nâng cao,

do đó, vị thành niên nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới đang bước vào tuổi dậy thì và sinh sản sớm hơn trước kia Tuổi dậy thì của nữ bắt đầu từ 13 – 15 tuổi, nam khoảng 14 – 16 tuổi, dẫn đến những nhu cầu về sinh lí, tình dục sớm Theo chuẩn mực văn hoá truyền thống của nước ta và một số nước khác trong khu vực Đông Nam Á, thì ở độ tuổi này các em chưa được phép quan hệ tình dục Tuy nhiên, trong thực tế, do

sự quản lí lỏng lẻo của gia đình, sự hội nhập văn hoá và bùng nổ thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng, khiến cho các em tò mò, có nhu cầu tìm hiểu nhiều hơn, và quan hệ tình dục trước hôn nhân là chuyện có thể xảy ra Quan hệ tình dục trước hôn nhân để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng như: có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai, bị lạm dụng tình dục hay các bệnh lây qua đường tình dục, những hậu quả này gây tổn hại lớn về mặt sức khỏe, kinh tế cũng như về mặt tinh thần

Theo Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, nguyên giám đốc bệnh viện Từ Dũ cho biết: “nước ta là một trong những nước có tỉ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới 70.000 ca mỗi năm Riêng ở TP HCM, có hơn 10.000 ca mỗi năm, trong đó, độ tuổi dưới 18

Trang 29

chiếm một lượng đáng kể” Điều đáng nói là trong tháng 12 năm 2006, khoa phụ sản bệnh viện đại học Y Dược TP HCM tiếp nhận 481 ca, tăng gần 200 ca so với các tháng khác Trong số đó, hơn 40% dưới 18 tuổi và hơn 20% là học sinh các cấp, chỉ trong hai tuần đầu của tháng 1 năm 2007, có 248 ca nạo phá thai, trong đó, có 21% dưới 18 tuổi

Trong thời gian gần đây, những nội dung về sức khỏe sinh sản đã được đề cập nhiều, các Đoàn thể, các Ban ngành cũng rất quan tâm Cụ thể là, các vấn đề sức khoẻ sinh sản đã từng bước trở thành nội dung quan trọng của hầu hết các hoạt động dân số, các cơ sở y tế, và cũng là những mục tiêu cần đạt được của kế hoạch hoá gia đình

Nhưng thực tế, nước ta cũng chỉ mới tập trung trang bị những kiến thức này cho đối tượng là những người đã kết hôn Còn vị thành niên chưa kết hôn thì không được tiếp xúc một cách rộng rãi những thông tin về sức khỏe sinh sản cũng như không có nhiều điều kiện tiếp cận với những người cung cấp dịch vụ tư vấn về sức khỏe sinh sản

Đối với học sinh trung học, nhất là học sinh lớp 12 là lứa tuổi sắp bước vào đời

và chuẩn bị hành trang đi vào môi trường học tập mới Vì thế, học sinh Trung học Phổ thông nói chung và học sinh lớp 12 nói riêng, cần được trang bị một lượng kiến thức cơ bản về sức khỏe sinh sản Trước vấn đề này, nhóm nghiên cứu nhận thấy cần tìm hiểu thực trạng kiến thức về sức khỏe sinh sản của học sinh hiện tại ra sao? các tác nhân nào ảnh hưởng đến thái độ hành vi, kiến thức sức khỏe sinh sản của học sinh? Trên cơ sở đó, thấy được những nhu cầu và mong muốn của học sinh về vấn đề sức khỏe sinh sản và đưa ra các mô hình giáo dục phù hợp với học sinh phổ thông trung học lớp 12

2 4.1 Kiến thức của học sinh về vấn đề sức khỏe sinh sản

Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu thực trạng kiến thức của học sinh về vấn đề sức khỏe sinh sản để nắm bắt được mức độ hiểu biết của học sinh đối với vấn đề này Vì thế, khảo sát kiến thức và sự hiểu biết của học sinh về sức khỏe sinh sản phải dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau dưới nhiều khía cạnh (gia đình, nhà trường, xã hội) trong môi trường mà cá nhân đang sinh sống và học tập

Trang 30

Trước khi tìm hiểu kiến thức của học sinh về vấn đề sức khỏe sinh sản, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập các thông tin định tính trên khách thể là các giáo viên dạy bộ môn Sinh, Giáo dục công dân và các bộ môn khác, nhằm tìm một “mẫu số chung” về mức độ hiểu biết của học sinh về sức khỏe sinh sản trong thời điểm hiện tại

“Đây không phải là vấn đề quan tâm của một giáo viên hay một, hai trường mà

là của cả nhà nước, theo chị thấy là vấn đề này được các em học sinh quan tâm rất nhiều vì chúng đang ở tuổi phát triển mà Nhưng nói về sự hiểu biết thì các em chưa hiểu biết hết và chưa kiểm soát được hành động của mình, những đôi trai gái bây giờ

đi quá lố, rất nhiều giáo viên không bằng lòng nên vấn đề giáo dục giới tính hay sức khỏe sinh sản cần phài xem lại“

(Giáo viên, trích biên bản phỏng vấn sâu số 5)

“Các em hầu như hiểu biết không nhiều tại vì chương trình học trên nhà trường không nhiều Trong khi đó thì phương tiện truyền thông đại chúng rất ít, khi đụng chuyện thì nó mới tìm đến“

(Giáo viên, trích biên bản phỏng vấn sâu số 4)

“Hầu như các em có hiểu biết, các em học sinh bây giờ thường hay tìm hiểu trên sách báo, các phương tiện truyền thông đại chúng nên có khi tìm hiểu kĩ hơn cả mình Nhưng việc tìm hiểu của các em nhiều lúc không chính xác lắm cho nên các em cũng dễ mắc phải những sai lầm đáng tiếc”

(Trích biên bản phỏng vấn sâu số 6_ Giáo viên sử)

“Về vấn đề này theo tôi mỗi lần nói đến học trò thường ngại ngùng, ngượng ngập hay là có những biểu hiện giống như thế, nhưng mà bên trong thì với sự phong phú về phương tiện thông tin đại chúng các em biết rất nhiều, rất rõ về nó không phải phục vụ cho việc phòng tránh mà phục vụ cho việc tò mò của các em Cho nên chuyện

đó thường xảy ra những điều đáng tiếc ngoài tầm kiểm soát của gia đình, nhà trường”

(Trích biên bản phỏng vấn sâu số 6_ Giáo viên sử)

Từ những thông tin định tính mà nhóm nghiên cứu thu thập được qua các giáo viên cho ta nhìn nhận một thực trạng chung là nhu cầu tìm hiểu về sức khỏe sinh sản của

Trang 31

học sinh rất lớn nhằm trang bị những kiến thức cơ bản để bảo vệ sức khỏe bản thân Tuy nhiên, nếu chỉ tìm hiểu kiến thức về vấn đề này của học sinh qua nhà trường, cụ thể là thông qua các thầy cô giáo thì chỉ nhận được cái nhìn phiến diện, một chiều, bởi

vì khách thể trọng tâm của đề tài là học sinh Trung học Phổ thông lớp 12 Do đó, để làm rõ mục tiêu của đề tài nên nhóm nghiên cứu đã tiến hành tìm hiểu thực trạng kiến thức sức khỏe sinh sản của học sinh trên các phương diện, các khía cạnh cụ thể sau:

* Hành vi dẫn đến việc mang thai:

Khía cạnh đầu tiên mà nhóm nghiên cứu tìm hiểu là kiến thức của học sinh về nguyên nhân của việc mang thai

Bảng 1 Hành vi dẫn đến việc mang thai

Số lượng Phần trăm(%)

Bảng trên cho thấy, tỉ lệ học sinh khẳng định rằng hành vi quan hệ tình dục sẽ dẫn đến việc mang thai chiếm 98.8% Với câu hỏi này, học sinh đã trả lời chính xác một trong những kiến thức cơ bản của vấn đề sức khỏe sinh sản

Thông tin định tính cũng thể hiện rõ hiểu biết của học sinh về hành vi dẫn đến việc mang thai:

“Theo em nghĩ đó là quan hệ tình dục, nếu mà không quan hệ tình dục thì không thể nào có thai ’’

(Nữ, trích biên bản phỏng vấn sâu số 1)

« Em nghĩ là quan hệ tình dục sẽ dẫn đến việc mang thai »

(Nam, trích biên bản phỏng vấn sâu số 2)

Trên cơ sở của vấn đề này, nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu những hiểu biết của học sinh về các bệnh lây truyền qua đường tình dục được thể hiện qua các thông tin định lượng sau:

Trang 32

* Các bệnh lây truyền qua đường tình dục:

Bảng 2 Các bệnh lây truyền qua đường tình dục

Các bệnh lây truyền qua đường tình dục Phần trăm (%)

và 56.1% cho rằng bệnh lậu cũng là những bệnh lây truyền qua đường tình dục Chứng

tỏ, kiến thức và sự hiểu biết của học sinh về các bệnh lây truyền qua đường tình dục là khá cao

“Bình thường em hay nghe trên ti vi, đài, sách báo, nói về các căn bệnh lây qua đường tình dục như HIV, giang mai, da liễu, viêm gan siêu vi B, ”

(Nữ, trích biên bản phỏng vấn sâu số 1)

“Em biết là các bệnh lây truyền qua đường tình dục là: HIV, giang mai nè, lậu

nè, ”

(Nữ, trích biên bản thảo luận nhóm nữ, trường Nguyễn Huệ)

Bên cạnh tỉ lệ cao học sinh hiểu biết đúng về các bệnh lây truyền qua đường tình dục thì vẫn còn một tỉ lệ nhỏ học sinh có kiến thức sai lệch về vấn đề này: có 1.2% học sinh cho rằng ho lao lây truyền qua đường tình dục

“Theo em thì các bệnh lây qua đường tình dục như: giang mai, viêm gan siêu vi

B, HIV, lậu , ho lao”

Trang 33

(Nam, trích biên bản phỏng vấn sâu số 2)

Kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục của học sinh trường Phổ thông Trung học Gia Định và trường Phổ thông Trung học Nguyễn Huệ cũng được thể hiện rõ qua các số liệu sau:

Bảng 3 Các bệnh lây truyền qua đường tình dục * học sinh đang học hai trường :

Gia Định và Nguyễn Huệ

Tỉ lệ về mức độ hiểu biết của học sinh hai trường về vấn đề này có sự chênh lệch nhau đáng kể:

+ Đối với bệnh HIV/AIDS, tỉ lệ học sinh trường Phổ thông Trung học Gia Định tham gia trả lời là 51.8%, trong khi đó ở trường Phổ thông Trung học Nguyễn Huệ là 48.2%

+ Bệnh Lậu: tỉ lệ học sinh cho rằng bệnh Lậu là bệnh qua đường tình dục ở trường Phổ thông Trung học Gia Định chỉ chiếm 40.2%, thì trường Nguyễn Huệ chiếm tỉ lệ cao hơn (59.8%)

Nhìn chung, kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục của học sinh trường Phổ thông Trung học Nguyễn Huệ chiếm tỉ lệ cao hơn so với học sinh trường Phổ thông Trung học Gia Định Điều này đưa ra một hướng nhìn khác trái với giả thuyết ban đầu của cuộc nghiên cứu, tức là, học sinh ở các trường Phổ thông Trung học ngoại thành có kiến thức về sức khoẻ sinh sản hạn chế hơn so với học sinh các trường Phổ thông Trung học ở nội thành thành phố Tuy nhiên, thông tin định lượng

Trường đang học Các bệnh lây truyền qua

Trang 34

trên cho thấy học sinh Trường Phổ thông Trung học Nguyễn Huệ có kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục cao hơn so với học sinh trường Phổ thông Trung học Gia Định

* Độ tuổi mang thai thích hợp

Trong 173 phiếu được khảo sát trong mẫu nghiên cứu, cho thấy tỉ lệ học sinh trả lời độ tuổi mang thai thích hợp là từ 20 – 35 tuổi chiếm 100% Tỉ lệ này nói lên sự hiểu biết rõ ràng của học sinh về độ tuổi mang thai thích hợp của người phụ nữ, bởi vì, các học sinh lý giải cho sự lựa chọn đó rằng :

“Em nghĩ là khoảng 25 tuổi, vì đến tuổi này mình đã có sự nghiệp đầy đủ và các bộ phận sinh dục cũng đã phát triển toàn diện”

(Nữ, trích biên bản thảo luận nhóm nữ, trường Nguyễn Huệ)

“Theo em từ 20 tuổi trở lên thì quan hệ tình dục là tốt nhất, vì ở tuổi này chúng

ta đã phát triển đầy đủ về cơ thể cũng như tâm sinh lý, ở tuổi này mình đã chín chắn rồi”

(Nữ, trích biên bản thảo luận nhóm nữ, trường Nguyễn Huệ)

Học sinh bước đầu có những hiểu biết cơ bản về quá trình phát triển tâm sinh lý của lứa tuổi vị thành niên, từ đó, ý thức được độ tuổi nào thì thích hợp cho việc quan

hệ tình dục Không chỉ dừng lại ở những kiến thức về tâm sinh lý mà học sinh cũng đã nhận thức được vai trò xã hội của bản thân Tức là, vai trò và nhiệm vụ chính của học sinh trong độ tuổi này là học tập nhằm mục đích có một nền tảng vững chắc trong tương lai Do đó, học sinh cho rằng độ tuổi này chưa cần thiết cho việc hoạt động tình dục mà đây là giai đoạn để học sinh thực hiện chức năng xã hội của bản thân đối với gia đình, nhà trường và xã hội

* Thời gian dễ mang thai trong chu kì kinh nguyệt của người phụ nữ

Khi tìm hiểu các kiến thức của học sinh về vấn đề này thì học sinh đã thể hiện

sự sai lệch khá lớn trong việc hiểu rõ về thời gian dễ thụ thai nhất trong chu kì kinh nguyệt của người phụ nữ

Trang 35

Bảng 4 Thời gian dễ thụ thai trong chu kì kinh nguyệt của người phụ nữ

Số lượng Phần trăm(%)

Khoảng 2 tuần trước khi có kinh 61 35.3%

Bất kì ngày nào trong tháng 1 0.6%

Qua các thông tin định lượng bảng 4 ta có thể thấy rõ tỉ lệ học sinh trả lời thời gian dễ mang thai trong chu kì kinh nguyệt của người phụ nữ là khoảng hai tuần trước khi xuất hiện kinh nguyệt chiếm tỉ lệ thấp (35.3%) Trong khi đó, có 30.1% học sinh trả lời là không nắm bắt rõ thời gian dễ thụ thai của người phụ nữ Tại sao lại có sự sai lệch kiến thức lớn như vậy? Chúng tôi sẽ làm rõ nguyên nhân vấn đề này ở phần sau

Bên cạnh đó, qua khảo sát định lượng nhóm nghiên cứu còn nhận thấy sự chênh lệch quá lớn giữa học sinh nam và học sinh nữ về sự hiểu biết thời gian dễ mang thai của người phụ nữ

Bảng 5 - Thời gian dễ thụ thai * giới tính

Giới tính

Ngay trước khi có kinh 4.1% 10%

Trong thời gian có kinh 7.6% 2.3%

Ngay sau khi có kinh 2.9% 6.4%

Khoảng 2 tuần trước khi có kinh 8.3% 27.5%

Bất kì ngày nào trong tháng 0.6%

Vào thời điểm khác 0.6%

Trang 36

Học sinh nữ trả lời thời kì dễ mang thai của người phụ nữ là “khoảng hai tuần trước khi có kinh nguyệt” chiếm 27.5%, nhưng ở học sinh nam thì chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ là 8.3% Bên cạnh đó, tỉ lệ học sinh nam trả lời là “không rõ thời điểm dễ thụ thai của người phụ nữ” chiếm tỉ lệ là 21% so với tỉ lệ 9.4% ở học sinh nữ Điều đó chứng

tỏ, học sinh nam thường không quan tâm, không thích tìm hiểu những vấn đề sức khỏe sinh sản liên quan đến phái nữ Bởi vì, vấn đề học sinh nam quan tâm nhất chính là những biến đổi về tâm sinh lý của bản thân và của chính “phe mình” mà không biết rằng, cần phải có sự hiểu biết về vấn đề sức khỏe sinh sản của hai giới nam và nữ Từ tâm lý chỉ tìm hiểu những gì liên quan đến “phe mình” đã tạo nên sự chênh lệch khá lớn về kiến thức sức khỏe sinh sản của học sinh nam đối với học sinh nữ như đã nêu ở trên

* Dấu hiệu nhận biết người phụ nữ mang thai

Trên cơ sở những hiểu biết về thời gian dễ mang thai trong chu kì kinh nguyệt của người phụ nữ, nhóm nghiên cứu tiến hành tìm hiểu kiến thức của học sinh về vấn

đề dấu hiệu để nhận biết người phụ nữ có thai và đã nhận được các thông tin định lượng sau:

Bảng 6 Dấu hiệu nhận biết người phụ nữ có thai

Số lượng Phần trăm(%)

Có chu kì kinh nguyệt thay đổi 19 11%

Trang 37

Trong những thông tin định lượng trên cho thấy có hai dấu hiệu của một người phụ nữ có thai được trả lời nhiều nhất là: ói mửa, thèm chua (66.5%) và không có kinh nguyệt xuất hiện (61.8%)

« Nếu nhìn bề ngoài thì không thấy, nếu người mang bầu thì họ bị mất kinh từ 1-2 tháng »

(Nữ, trích biên bản phỏng vấn sâu số 1)

“Theo em, dấu hiệu để nhận biết một người phụ nữ mang thai là ói mửa thèm chua »

(Nam, trích biên bản phỏng vấn sâu số 2)

Ở đây, nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy một yếu tố tương tự như ở vấn đề thời gian dễ mang thai trong chu kì kinh nguyệt của người phụ nữ, đó chính là sự chênh lệch về kiến thức giữa hai giới nam và nữ Thật vậy, số liệu nghiên cứu thu được đã chứng minh cho nhận định trên: học sinh nam cho rằng dấu hiệu để nhận biết một người phụ nữ có thai “ói mửa, thèm chua” chiếm 38.2% và “mất kinh nguyệt” là 24.3%, tuy nhiên, cũng với câu hỏi này thì tỉ lệ học sinh nữ tham gia trả lời cao hơn so với học sinh nam: “ói mửa, thèm chua” (61.7%) và “mất kinh nguyệt” (68.6%)

Và sự chênh lệch về kiến thức sức khỏe sinh sản giữa hai giới nam và nữ còn được thể hiện rõ nét trong vấn đề mà nhóm nghiên cứu tìm hiểu: “phụ nữ sinh con qua đường nào?”

Bảng 7 Nơi phụ nữ sinh con

Trang 38

(23.1%) học sinh cho là phụ nữ sinh con qua hậu môn Nguyên nhân của việc nhận thức sai lệch này là:

“Em nghĩ là người phụ nữ sinh con qua đường hậu môn, vì âm đạo quá nhỏ làm sao mà em bé chui qua lọt được”

(Nữ, trích biên bản thảo luận nhóm nữ, trường Nguyễn Huệ)

“Hồi nhỏ em nghe mẹ em nói là sinh em ra từ nách, thật sự bây giờ em cũng không biết sinh con bằng đường nào, mẹ em nói khi nào lớn thì biết”

(Nữ, trích biên bản thảo luận nhóm nữ, trường Nguyễn Huệ)

Từ những thông tin định lượng và định tính trên ta có thể đưa ra nhận định: Những hạn chế của học sinh về các kiến thức sức khỏe sinh sản là do chịu ảnh hưởng yếu tố gia đình, nhà trường và xã hội, và những hiểu biết sai lệch này thể hiện sâu sắc qua sự chênh lệch quá lớn về kiến thức sức khỏe sinh sản giữa học sinh nam và học sinh nữ Chúng tôi sẽ đề cập đến những nguyên nhân ảnh hưởng đến kiến thức sức khỏe sinh sản của học sinh ở phần sau

* Các biện pháp tránh thai

Sự hiểu biết về các biện pháp tránh thai là một trong những vấn đề trọng điểm của sức khỏe sinh sản, sở dĩ, nó được đánh giá cao là do: sự hiểu biết về các biện pháp tránh thai là rất cần thiết, nó không chỉ giúp cho học sinh có thể phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục mà còn là phương tiện hữu hiệu để tránh thai khi “lỡ” quan hệ tình dục, ví dụ: bao cao su, thuốc ngừa thai khẩn cấp Bởi vì nếu mang thai ngoài ý muốn khi ở độ tuổi còn quá trẻ thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến việc học tập của bản thân, chưa kể những tai biến có thể xảy ra khi nạo phá thai hoặc sinh con khi còn quá trẻ và những rắc rối, phức tạp trong việc điều trị các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục Nhìn nhận được tầm quan trọng của các biện pháp tránh thai đối với việc chăm sóc và bảo vệ bản thân, nhóm nghiên cứu đã khảo sát kiến thức của học sinh về các biện pháp tránh thai

“Các biện pháp tránh thai, yêu đương có quan hệ không kiểm soát được, phải giáo dục bao nhiêu tuổi thì mới được kết hôn và quan hệ tình dục Vì không thể kiểm soát được thì phải phòng tránh Đa số các em xảy ra rồi mới tìm hiểu những vấn đề đó

Trang 39

bây giờ tụi nó muốn mua các dụng cụ tránh thai cũng chẳng biết mua ở đâu, ngại, làm sao mình cho nó biết được khi mà quan hệ với người khác và gặp những vấn đề đó thì

tư vấn ở đâu, mình nên cung cấp số điện thoại, địa chỉ những nơi các em mua được dụng cụ tránh thai“

(Giáo viên, trích biên bản phỏng vấn sâu số 4)

Bảng 8 Sự hiểu biết về các biện pháp tránh thai

Các biện pháp tránh thai Số lượng Phần trăm (%)

“Theo em thì dùng bao cao su là an toàn nhất vì bao cao su, vừa tránh được có thai vừa tránh được các bệnh lây qua đường tình dục”

(Nam, trích biên bản phỏng vấn sâu số 2)

“Theo em biết thì có dùng thuốc tránh thai, bao cao su, lúc trước em cũng không biết sử dụng thế nào, em biết cách sử dụng là nhờ được tập huấn để đi tuyên truyền, phát bao cao su cho nhà dân một lần, còn các phương pháp khác em chỉ nghe

Trang 40

nói thôi chứ không biết thế nào, nhưng em vẫn còn may mắn hơn các bạn khác, các bạn ấy không biết sử dụng bao cao su »

(Nữ, trích biên bản phỏng vấn sâu số 1)

Tóm lại: Kiến thức sức khỏe sinh sản là một vấn đề lớn, nó bao gồm nhiều yếu

tố khác nhau dưới các khía cạnh, góc độ không giống nhau Trong phạm vi giới hạn của đề tài, nhóm nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu kiến thức sức khỏe sinh sản của học sinh qua các vấn đề:

+ Hành vi dẫn đến việc mang thai

+ Các bệnh lây truyền qua đường tình dục

+ Độ tuổi thích hợp để mang thai

+ Thời gian dễ mang thai trong chu kì kinh nguyệt của người phụ nữ

+ Dấu hiệu nhận biết phụ nữ có thai

+ Đường sinh con của phụ nữ

+ Các biện pháp tránh thai

Từ những vấn đề này, cung cấp cho chúng ta cái nhìn tổng quan về mức độ hiểu biết của học sinh Phổ thông Trung học đối với các kiến thức sức khỏe sinh sản cơ bản ban đầu Qua đó, để có thể xác định rõ hơn những thái độ, hành vi và nhu cầu của học sinh đối với vấn đề giáo dục giới tính nói chung và vấn đề sức khỏe sinh sản nói riêng

2.4.2 Thái độ của học sinh Phổ thông Trung học đối với vấn đề sức khỏe sinh sản

Môi trường xã hội ngày càng thay đổi với sự phát triển vượt bậc của kinh tế, xã hội, trong đó có vấn đề giáo dục giới tính đang ngày càng được sự quan tâm của toàn

xã hội, thông qua việc các vấn đề tâm sinh lí của tuổi vị thành niên được đề cập rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng Trước thực trạng như vậy, nhóm nghiên cứu đã thực hiện tìm hiểu thái độ của học sinh đối với việc tiếp cận các kiến thức về giáo dục giới tính, cách riêng là các kiến thức về sức khỏe sinh sản Như theo lời nhận xét của một giáo viên:

“Học sinh có đứa nói kỳ quá nhưng theo cô nghĩ không có chuyện gì cả rất bình thường, biết để mình có thể tránh xa đề phòng, mình chẳng ngại ngùng gì.“

(Giáo viên, trích biên bản phỏng vấn sâu số 3)

Ngày đăng: 07/05/2021, 23:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w