1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng hồ chí minh về con người và sự vận dụng vào quá trình phát triển nguồn nhân lực ở việt nam hiện nay

227 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 227
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Người bao giờ cũng có sự nhất quán về một thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng và phương pháp tư duy triết học

Trang 1

TRƯƠNG HOÀI PHƯƠNG

SỰ THỐNG NHẤT GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

TRƯƠNG HOÀI PHƯƠNG

SỰ THỐNG NHẤT GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS

Lê Trọng Ân và TS Vũ Đức Khiển Các số liệu, tài liệu được sử dụng và trích dẫn trong luận án đều trung thực và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Tác giả

Trương Hoài Phương

Trang 4

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 4

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án 10

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 11

5 Cái mới của luận án 11

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 11

7 Kết cấu của luận án 12

Chương 1 12

1.1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI VIỆT NAM VÀ BỐI CẢNH THẾ GIỚI CUỐI THẾ KỶ XIX - ĐẦU THẾ KỶ XX VỚI VIỆC HÌNH THÀNH SỰ THỐNG NHẤT GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI 12

1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX 12

1.1.2 Bối cảnh Thế giới cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX 22

1.2 NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA SỰ THỐNG NHẤT GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI 27

1.2.1 Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam - cội nguồn của sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người 27

1.2.2 Tinh hoa văn hóa thế giới - tiền đề lý luận quan trọng của sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người 40

1.2.3 Chủ nghĩa Mác-Lênin - tiền đề lý luận cơ bản của sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người 51

1.2.4 Phẩm chất đặc biệt và hoạt động thực tiễn phong phú của Hồ Chí Minh - nhân tố quyết định sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người 58

Chương 2 67

2.1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TRUYỀN THỐNG VÀ GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM 67

2.1.1 Khái niệm “truyền thống” và “giá trị truyền thống” 67

2.1.2 Những giá trị truyền thống cơ bản của con người Việt Nam mà Hồ Chí Minh nhận thức, kế thừa 76

2.2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ HIỆN ĐẠI VÀ PHƯƠNG THỨC TIẾP BIẾN CÁC GIÁ TRỊ HIỆN ĐẠI CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM 93

2.2.1 Khái niệm “hiện đại” 93

2.2.2 Phương thức tiếp biến các giá trị hiện đại của con người Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh 98

Trang 5

2.3.2 Tiếp thu giá trị hiện đại là sự bổ sung và đổi mới để nâng cao trình độ và làm

phong phú thêm truyền thống của dân tộc trong sự phát triển con người Việt Nam 114

Chương 3 133

3.1 PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC, VAI TRÒ CỦA GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM 133

3.1.1 Phát triển nguồn nhân lực - nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam 133

3.1.2 Vai trò của giá trị truyền thống và hiện đại đối với sự phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam 141

3.2 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG SỰ THỐNG NHẤT GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI ĐỂ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 149

3.2.1 Thực trạng của sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại để phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 149

3.2.2 Những yếu tố tác động và ảnh hưởng đến sự phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 169

3.2.3 Yêu cầu đối với nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay 179

3.3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP KẾT HỢP GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI ĐỂ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 185

3.3.1 Phương hướng kết hợp giữa truyền thống và hiện đại để phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 185

3.3.2 Một số giải pháp kết hợp giữa truyền thống và hiện đại để phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 189

KẾT LUẬN 203

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 207

PHỤ LỤC 217

CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 221

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hồ Chí Minh - người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới - đã để lại cho Đảng và nhân dân ta những di sản tư tưởng vô cùng to lớn Hơn 80 năm qua, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn soi sáng con đường cách mạng của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, chống nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân, tất cả vì con người và cho con người Bởi vậy, Đảng ta khẳng định: “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” [36; 21]; “Tư tưởng vĩ đại của Người cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin, mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta” [36; 6]

Xét trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Người bao giờ cũng có sự nhất quán về một thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng

và phương pháp tư duy triết học sâu sắc đó là: từ yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong thời đại mới, mỗi người Việt Nam cần phải khẳng định và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc, khắc phục những truyền thống lỗi thời, lạc hậu, đồng thời tiếp thu các giá trị hiện đại của thế giới trên cơ sở tư tưởng nhân văn

và phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin - phương pháp nhận thức khoa học luôn được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm trong suốt sự nghiệp hoạt động cách mạng của mình Chính từ nhận thức và vận dụng phương pháp tư duy khoa học đó vào việc giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra đã làm cho tư tưởng của Người được nâng lên một tầm cao mới, trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho việc giải quyết một cách khoa học những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam mà cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và

xã hội Tuy nhiên, việc nghiên cứu “sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại

Trang 7

trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người” cho đến nay vẫn còn là “vùng đất mới”, chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và mang tính khoa học sâu sắc

Bên cạnh đó, trong các quan niệm trước đây ở Việt Nam về quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mặc dù vai trò của con người đã được đề cao ở mức đáng

kể, song do nhiều lý do khác nhau, việc phát huy vai trò của con người với tất cả tiềm năng và sức mạnh vốn có thì chưa thật sự đúng nghĩa như là một nguồn lực của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Do vậy, trên thực tế trong một thời gian tương đối dài, con người vô tình bị đặt ra ngoài vị trí trung tâm của hệ thống các nguồn lực nội tại, chưa trở thành động lực của sự phát triển Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước đây đạt kết quả chưa tương xứng với nhu cầu và tiềm năng phát triển của đất nước Ngày nay, do sự tác động, chi phối bởi những đặc điểm mới của thời đại và nhu cầu phát triển đất nước cùng với những bài học rút ra từ thực tiễn và kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thực tiễn cũng như trong lý luận ở Việt Nam hiện nay đã có những bổ sung mới cả về nội dung và giải pháp Qua đó, vị trí và đặc điểm của các nguồn lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng được nhìn nhận lại, trong đó con người luôn được coi là nguồn lực nội tại, cơ bản và quyết định nhất Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta nhấn mạnh: “Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ” [36; 102], trong đó “phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững” [36; 130] Nói chung, “con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển” [36; 76]

Trang 8

Từ khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc kết hợp với những tri thức mới của thời đại, sau 27 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… làm thay đổi diện mạo đất nước, không ngừng nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên khu vực và quốc tế Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, đất nước

ta vẫn còn tồn tại những tác động và ảnh hưởng tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường, của mở cửa hội nhập và toàn cầu hóa, cũng như tập tục lạc hậu, lối sống tiểu nông còn ảnh hưởng lâu dài trong các cộng đồng dân cư, nhất là ở nông thôn và các vùng sâu, vùng xa, gây không ít khó khăn cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước Từ đó, làm nảy sinh nhiều thói hư, tật xấu, tệ nạn xã hội, làm băng hoại đạo đức, lối sống… gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng của nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay

Mặt khác, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay, tự bản thân

nó cũng đặt ra những đòi hỏi khách quan về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực với những năng lực và phẩm chất cần thiết để thích ứng với thời kỳ mới - thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước; thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ; thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở rộng quan hệ và hội nhập quốc tế Trước thời kỳ mới với những đặc điểm nêu trên, giờ đây đòi hỏi người lao động phải có trí tuệ, phẩm chất đạo đức và tinh thần sáng tạo mới trong thực tiễn Song, những phẩm chất đó xét đến cùng phải được dựa trên cơ sở giữ gìn

và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam kết hợp với tiếp thu các giá trị hiện đại của thế giới Nếu thiếu sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại một cách linh hoạt, sáng tạo để vượt lên chính mình nhằm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thì nguy cơ tụt hậu vẫn tiềm ẩn đối với Việt Nam

Như vậy, trong giai đoạn cách mạng hiện nay, tiếp tục nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, nghiên cứu “sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong

Trang 9

tư tưởng Hồ Chí Minh về con người” nói riêng để vận dụng vào quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay không chỉ có ý nghĩa khoa học sâu sắc mà còn

có ý nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn Trên tinh thần và ý nghĩa đó, tác giả lựa chọn

vấn đề “Sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng Hồ Chí

Minh về con người và sự vận dụng vào quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay” cho đề tài luận án tiến sĩ triết học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ ở Việt Nam Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ này, việc khai thác và phát triển những

di sản tư tưởng của Hồ Chí Minh nhằm định hướng cho sự phát triển đất nước thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một yêu cầu hết sức quan trọng và cấp thiết Đến nay, tư tưởng Hồ Chí Minh đã được rất nhiều nhà nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu với một số lượng công trình lớn có giá trị thiết thực Trên thực tế, Hồ Chí Minh không có những tác phẩm riêng, chuyên bàn sâu về sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong sự phát triển con người Nhưng, thông qua các bài viết, bài nói, đặc biệt là thông qua cuộc đời và sự nghiệp cách mạng phong phú của Người, các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, các tác giả trong và ngoài nước đã có nhiều tác phẩm và công trình khoa học phản ánh khá sâu sắc, toàn diện hệ thống lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, cũng như sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người nói riêng Có thể kể đến các tác giả với những công trình và tác phẩm tiêu biểu sau:

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng có tác phẩm “Hồ Chủ tịch - Tinh hoa của dân

tộc, lương tâm của thời đại” (1995) do Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội xuất bản

Trong tác phẩm này, tác giả đã giúp cho chúng ta cùng nhau ôn lại phong cách sống

và làm việc trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh Trên cơ sở

đó, tác giả đòi hỏi mỗi người Việt Nam phải nêu cao tinh thần học tập tư tưởng cách mạng và đạo đức trong sáng của Người để vươn lên, vững bước đi theo con đường cách mạng mà Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã chọn

Trang 10

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Sỹ Thắng (chủ biên) với tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí

Minh về con người và về chính sách xã hội” (1996), Nhà xuất bản Chính trị Quốc

gia, Hà Nội ấn hành Trong tác phẩm này, các tác giả đã trình bày, phân tích những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và về chính sách xã hội Qua đó, khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về con người là cơ sở cho việc hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội, là “kim chỉ nam” cho hành động của các đảng viên, các cán bộ quản lý, các cấp lãnh đạo trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Các tác giả đã đặt tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự phát triển nội tại của lịch sử tư tưởng Việt Nam thời cận hiện đại, trong mối quan hệ biện chứng giữa sự vận động tư tưởng với thực tiễn cách mạng Từ đó, khẳng định tính khoa học, tính cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và về chính sách xã hội

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (chủ biên) với tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh và

con đường cách mạng Việt Nam” (1997) do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà

Nội xuất bản Ở tác phẩm này, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các tác giả đã phân tích sâu sắc và trình bày một cách có hệ thống những luận điểm sáng tạo lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối và phương pháp cách mạng, về chiến lược và sách lược cách mạng, về tổ chức các lực lượng cách mạng,

về tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, về tư tưởng nhân văn, đạo đức, văn hóa và phương pháp luận của Hồ Chí Minh Từ đó, các tác giả đi đến khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - xã hội cụ thể của cách mạng Việt Nam, là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa thế giới và chủ nghĩa Mác-Lênin

Giáo sư Đinh Xuân Lâm và Tiến sĩ Bùi Đình Phong với những bài nghiên cứu

có hệ thống trong tác phẩm “Hồ Chí Minh, văn hóa và đổi mới” (1998), Nhà xuất

bản Lao động, Hà Nội ấn hành Qua những bài viết trong tác phẩm này, các tác giả

đã tiếp cận và phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh từ nhiều góc độ như: chính trị, văn hóa, tư tưởng, đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam; về những ảnh hưởng của

Trang 11

các trào lưu tư tưởng trên thế giới xưa và nay, nhằm khám phá và phát hiện những cái mới sâu sắc hơn trong tư tưởng của Người về mối quan hệ giữa văn hóa và đổi mới Ngoài ra, các tác giả cũng đã đưa ra một số phân tích về bản sắc văn hóa dân tộc toát ra từ Hồ Chí Minh trong nhiều suy nghĩ, hành động cách mạng và hoạt động thực tiễn phong phú của Người

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hữu Nghĩa (chủ biên) với tác phẩm “Tư tưởng triết học Hồ

Chí Minh” (2000), do Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội xuất bản Trong tác phẩm

này, các tác giả đã tập trung phân tích một số nội dung lớn trong tư tưởng triết học

Hồ Chí Minh về thế giới quan, lý luận và thực tiễn, giai cấp và dân tộc, đạo đức cách mạng và chủ nghĩa nhân văn trong quan niệm về con người Qua đó, góp phần định hướng thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng và gợi mở một số vấn đề về triết lý giáo dục đạo đức mới mang ý nghĩa cách mạng cho con người Việt Nam hiện nay

Nhà văn Nga E.Cô-bê-lép có tác phẩm “Đồng chí Hồ Chí Minh” (2000) do

Nguyễn Minh Châu và Mai Lý Quảng dịch, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội ấn hành Với tác phẩm này, tác giả đã khẳng định và làm rõ được toàn bộ cuộc đời và

sự nghiệp của Hồ Chí Minh chỉ theo đuổi một mục đích duy nhất đó là: Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người Việt Nam thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, bất công, tất cả mọi người đều được hạnh phúc, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, được tự do sáng tạo và thụ hưởng những giá trị văn hóa mới

Tiến sĩ Lê Quang Hoan với tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người”

(2002) do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội xuất bản Trong tác phẩm này, tác giả đã khái quát nguồn gốc, quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người; phân tích và làm sâu sắc thêm khái niệm con người, nhân tố con người, phát huy nhân tố con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh; sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người để phát huy sức sáng tạo của nhân tố con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay

Trang 12

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Hiền và Tiến sĩ Đinh Xuân Lý (đồng chủ biên) với

tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” (2003), Nhà

xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội ấn hành Trong tác phẩm này, Tiến sĩ Nguyễn Văn Tài đã trình bày bản chất con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh và rút ra giá trị của nó đối với việc xây dựng con người Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới ở nước

ta hiện nay Còn tác giả Nguyễn Thị Mai Hoa thì trình bày khái quát nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, trên cơ sở đó rút ra

ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo có tác phẩm “Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí

Minh” (2005) do Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà Nội xuất bản Trong tác phẩm

này, tác giả đã làm sáng tỏ vấn đề “dân chủ” và “dân vận” trong tư tưởng, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh; văn hóa Hồ Chí Minh với việc giáo dục và rèn luyện nhân cách cho thanh niên Việt Nam hiện nay

Tác giả Phạm Ngọc Liên (chủ biên) với tác phẩm “Hồ Chí Minh - những chặng

đường lịch sử” (2005), Nhà xuất bản Hải Phòng ấn hành Trong tác phẩm này, qua

những sự kiện về đời sống, hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, các tác giả đã phác họa chân dung của Người gắn liền với thời đại, với đất nước, với truyền thống hào hùng của dân tộc Việt Nam nhằm giáo dục những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc cho con người Việt Nam, nhất là cho thế hệ trẻ trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay

Tác giả Vũ Ngọc Khánh với tác phẩm “Minh triết Hồ Chí Minh” (2007) do Nhà

xuất bản Thanh niên, Hà Nội xuất bản Thông qua tác phẩm này, tác giả đã chỉ ra: Cái độc đáo của Hồ Chí Minh là đã biết khai thác tâm thức Folklore (văn hóa dân gian) để đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc phục hưng đất nước Theo tác giả, một điểm mới mà Hồ Chí Minh đem vào đời sống sinh hoạt tư tưởng Việt Nam là không những đi sâu vào tâm thức Folklore để giữ gìn những yếu tố truyền thống mà còn sử dụng truyền thống với một ý thức cách tân để phát huy và nâng cao những gì

là tốt đẹp trong tâm thức Folklore Đồng thời, tác giả cũng đã đề cập đến vấn đề đạo đức - một lĩnh vực không thể tách rời văn hóa Tác giả khẳng định, chất minh triết

Trang 13

của Hồ Chí Minh thể hiện ở sự đúng đắn và nét sáng tạo độc đáo trong phương thức tiếp cận đối với đạo đức truyền thống và các học thuyết bên ngoài nhằm phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam

Tiến sĩ Nguyễn Hữu Công có tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển

con người toàn diện” (2010), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội ấn hành

Trong tác phẩm này, tác giả đã chỉ ra được tính quy luật, những điều kiện và phương sách để đào tạo, phát triển con người Việt Nam toàn diện theo tư tưởng Hồ Chí Minh Từ đó, tác giả đi đến khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện không những có tác dụng to lớn trong việc chỉ đạo, giáo dục, đào tạo, phát triển con người toàn diện trước đây mà còn là ánh sáng định hướng cho chiến lược xây dựng và phát triển con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay

Ngoài ra, còn có các tác phẩm nghiên cứu về truyền thống và hiện đại trong quá trình phát triển con người Việt Nam nói chung và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam nói riêng, trong đó có những công trình và tác phẩm tiêu biểu sau:

Giáo sư Trần Văn Giàu với tác phẩm “Giá trị tinh thần truyền thống của dân

tộc Việt Nam” (1993), Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh ấn hành Trong tác

phẩm này, tác giả đã phân tích và luận giải một cách khoa học về các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam Trong đó, tác giả đặc biệt quan tâm trình bày những giá trị đạo đức truyền thống của con người Việt Nam Qua đó, chứng minh tư tưởng

Hồ Chí Minh là sự kết tinh của các giá trị truyền thống và đạo đức cách mạng

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) với tác phẩm “Triết lý phát

triển - C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin” (2000) do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội,

Hà Nội xuất bản Trong tác phẩm này, tác giả khẳng định đặc điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng - hành động Từ đó, đi đến làm rõ triết lý cốt lõi của Hồ Chí Minh về một đất nước phát triển và chứng minh một trong những giải pháp có tính nguyên tắc của Hồ Chí Minh đối với quá trình thực hiện công cuộc phát triển đất nước đó là: Kết hợp giữa truyền thống và hiện đại là mối liên hệ tất yếu để đảm bảo

sự phát triển

Trang 14

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Chuẩn, Tiến sĩ Phạm Văn Đức và Tiến sĩ Hồ Sĩ

Quý (đồng chủ biên) với tác phẩm “Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá

trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2001), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà

Nội ấn hành Trong tác phẩm này, các tác giả đã bàn sâu về các giá trị văn hóa truyền thống vì mục tiêu phát triển; vài nét về Nho giáo trong văn hóa truyền thống

và về một số vấn đề giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Chuẩn và Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn

Huyên (đồng chủ biên) với tác phẩm “Giá trị truyền thống trước những thách thức

của toàn cầu hóa” (2002) do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội xuất bản

Trong tác phẩm này, các tác giả đã trình bày những giá trị truyền thống cơ bản của dân tộc Việt Nam và nêu lên những vấn đề đặt ra trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Trên cơ sở đó, đề xuất phương thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

Tiến sĩ Nguyễn Đức Tiến (chủ biên) với tác phẩm “Phát triển lý tưởng xã hội

chủ nghĩa cho thanh niên Việt Nam hiện nay” (2005), Nhà xuất bản Chính trị Quốc

gia, Hà Nội ấn hành Trong tác phẩm này, tác giả đã chỉ ra những giá trị tư tưởng truyền thống cần phải được giữ gìn và phát huy trong quá trình xây dựng và phát triển lý tưởng xã hội chủ nghĩa cho thanh niên Việt Nam hiện nay

Tiến sĩ Trần Hoàng Hảo với Luận án Tiến sĩ Triết học về đề tài “Biện chứng

giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (2005) Nội dung chủ yếu của luận án tập trung trình

bày các giá trị truyền thống trong văn hóa Việt Nam, làm sáng tỏ sự kết hợp biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong nền văn hóa Việt Nam Từ đó, tác giả đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Tiến sĩ Vũ Thị Kim Dung (2003) với tác phẩm “Về sự biến đổi của chuẩn mực

đánh giá thẩm mỹ trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc

gia, Hà Nội ấn hành Trong tác phẩm này, tác giả khẳng định xu hướng biến đổi cơ

Trang 15

bản, giữ vai trò chủ đạo, thể hiện rõ tính chất của văn hóa thẩm mỹ trong xã hội ta hiện nay là xu hướng biến đổi các chuẩn mực đánh giá thẩm mỹ theo hướng dân tộc

- hiện đại Theo tác giả, đây là xu hướng biến đổi tích cực, vừa kế thừa được những nét đẹp trong chuẩn mực giá trị truyền thống, vừa có sự bổ sung, nâng cao theo hướng hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại

Từ những khảo cứu trên, cho thấy: Các tác phẩm và các công trình nghiên cứu

tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về truyền thống và hiện đại trong quá trình phát triển con người Việt Nam đã có những giá trị khoa học và thực tiễn to lớn Đó

là những tài liệu vô cùng quý báu và hữu ích, gợi mở nhiều ý tưởng quan trọng để tác giả lựa chọn, tham khảo nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài luận án của mình Tuy nhiên, hướng tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh dưới góc độ triết học về vấn đề “truyền thống và hiện đại” - hai mặt thống nhất trong sự phát triển con người Việt Nam - thì đến nay vẫn còn là một “vùng đất mới”, chưa có công trình nào trình bày một cách toàn diện và có hệ thống Do vậy, trên cơ sở kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu đã được công bố có liên quan trực tiếp

đến đề tài, tác giả lựa chọn vấn đề “Sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại

trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và sự vận dụng vào quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay” cho đề tài luận án tiến sĩ triết học của

mình

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

Mục đích của luận án

Phân tích và làm sáng tỏ nội dung khoa học của sự thống nhất giữa truyền thống

và hiện đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Từ đó, vận dụng vào quá trình phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay

Nhiệm vụ của luận án

Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính yếu sau:

Trang 16

Thứ nhất, phân tích và làm sáng tỏ hoàn cảnh lịch sử - xã hội và những tiền đề

hình thành sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh

về con người

Thứ hai, phân tích và luận giải những nội dung cơ bản của sự thống nhất giữa

truyền thống và hiện đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người

Thứ ba, vận dụng sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng

Hồ Chí Minh về con người để phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ của luận án, tác giả đã dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về truyền thống và hiện đại, về con người và phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, thống kê, so sánh - đối chiếu…; theo nguyên tắc: khách quan, toàn diện, lịch

sử - cụ thể, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để thực hiện đề tài luận án của mình

5 Cái mới của luận án

Thứ nhất, luận án đã kiến giải và làm sáng tỏ được nội dung cơ bản của sự

thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người

Thứ hai, luận án đã phân tích và làm rõ được sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta

về sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người để phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

Thứ ba, luận án đã đề xuất một số giải pháp kết hợp giữa truyền thống và hiện

đại để phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa khoa học của luận án

Luận án góp phần làm sáng tỏ và khẳng định nội dung khoa học và cách mạng

về sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con

Trang 17

người, về mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn của luận án

Kết quả của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng nghiên cứu, học tập chuyên đề tư tưởng Hồ Chí Minh về con người hoặc dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm nghiên cứu chuyên sâu về sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Ngoài ra, kết quả của luận án cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho các cấp lãnh đạo, các nhà tổ chức, quản lý kinh tế - xã hội và những ai quan tâm nghiên cứu chuyên sâu về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và những công trình khoa học của tác giả đã được công bố, nội dung chủ yếu của luận

án được kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết

Chương 1

HOÀN CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH

SỰ THỐNG NHẤT GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI

TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI

1.1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI VIỆT NAM VÀ BỐI CẢNH THẾ GIỚI CUỐI THẾ KỶ XIX - ĐẦU THẾ KỶ XX VỚI VIỆC HÌNH THÀNH SỰ THỐNG NHẤT GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI

1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX

Năm 1858, nổ tiếng súng đầu tiên vào bán đảo Sơn Trà ở Đà Nẵng, thực dân Pháp chính thức mở màn xâm lược Việt Nam Sau khi hoàn thành căn bản cuộc xâm lược về mặt quân sự, chúng lập tức triển khai kế hoạch thống trị và khai thác thuộc địa Trong quá trình thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội

và từ một nước “phong kiến độc lập”, “có chủ quyền” trở thành một nước “thuộc địa nửa phong kiến” Nói chung, vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, xã hội Việt

Trang 18

Nam chịu sự tác động tiêu cực bởi chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp

Về chính trị: Với những thủ đoạn chính trị hết sức thâm độc như “chia để trị”,

“dùng người Việt trị người Việt”, thực dân Pháp đã tìm đủ mọi cách để chia cắt đất nước, chia rẽ dân tộc nhằm phân tán lực lượng trong xã hội Việt Nam Hồ Chí Minh

tố cáo: “Bọn thực dân dùng mọi thủ đoạn để chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo, chúng

áp dụng chính sách cổ điển là chia để trị” [83; 471] và “chủ nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi cái châm ngôn chia để trị của nó Chính vì thế mà nước An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói, đã bị chia năm sẻ bảy” [76; 116] Tuy nhiên, để dễ bề cai trị Việt Nam và các dân tộc nhỏ yếu khác, thực dân Pháp cũng rất quan tâm đến sự thống nhất của “bộ máy thuộc địa” trên toàn cõi Đông Dương Đây là một chính sách cai trị hết sức phản động của thực dân Pháp Thực hiện “cái châm ngôn” phản động đó, vào ngày 19/4/1899, thực dân Pháp đã chia Việt Nam ra làm ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau đó là Bắc kỳ, Trung kỳ

và Nam kỳ Bắc kỳ và Trung kỳ là hai xứ bảo hộ vẫn giữ lại chính quyền phong kiến về hình thức, còn Nam kỳ là đất thuộc địa do Pháp thống trị Thông qua thủ đoạn này, ý đồ của thực dân Pháp đã bộc lộ rõ là mong muốn xóa bỏ tên gọi Việt Nam trên bản đồ thế giới Bên cạnh đó, chúng cũng cho xây dựng ở nước ta một bộ máy hành chính cai trị chặt chẽ và thiết lập một hệ thống quân sự, cảnh sát, tòa án, nhà tù hết sức nghiêm ngặt Để dập tắt các cuộc khởi nghĩa và đàn áp các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp đã lập ra nhiều “tòa án đặc biệt” với chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là tìm mọi cách làm thật nhiều “án chém” và

“án nặng”, còn việc xét xử chỉ cần qua loa mang tính hình thức chiếu lệ Trong quá trình thực hiện chính sách “dùng người Việt trị người Việt”, “dùng binh lính thuộc địa để bảo vệ thuộc địa hoặc để lấn chiếm thuộc địa”, thực dân Pháp đặc biệt chú trọng đến việc tăng cường lực lượng vũ trang và ra sức bắt lính người Việt Cơ quan cảnh sát, an ninh có nhiệm vụ theo dõi, ngăn ngừa tất cả những hành động nào có

Trang 19

tính chất chống đối, điều tra, săn lùng thủ phạm và cùng với giới cầm quyền bản địa

ra sức đàn áp các cuộc nổi dậy, đấu tranh của nhân dân ta

Vạch trần bản chất chính trị phản động của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh chỉ rõ:

“Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào Chúng thi hành những luật pháp dã man Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu” [77; 555] và “thanh niên nào nói đến những chữ bình đẳng, tự do, cách mạng đều bị bọn thực dân và phong kiến coi là phạm tội và bị chúng xử tội, nhẹ là bắt bớ, giam cầm; nặng là tù đày, bắn giết” [84; 389] Nói chung, “ở nước ta, đế quốc Pháp hoành hành dã man; đồng bào

ta bị làm nô lệ, có Tổ quốc mà không có quyền yêu nước Nhân dân ta, kể cả thanh niên, bơ vơ không có người lãnh đạo và hầu như không thấy lối ra” [84; 105]

Về giáo dục: Trong báo cáo gửi toàn quyền Đông Dương ngày 1/3/1899, Thống

sứ Bắc kỳ đã viết: “Kinh nghiệm các dân tộc Châu Âu khác đã chỉ rõ rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột” [67; 109]

Rõ ràng, ngu dân về mặt giáo dục, đầu độc về mặt văn hoá là một trong những biện pháp cai trị phản động nhất của bọn thực dân Do mục đích của nền giáo dục ở xã hội thuộc địa là duy trì vĩnh viễn ách thống trị của thực dân Pháp nên tùy theo yêu cầu chính trị của từng giai đoạn mà chúng đưa ra những chủ trương cụ thể Hồ Chí Minh chỉ rõ: Thực dân Pháp “cố tâm hủy bỏ Hán học mà chúng thấy là nguy hiểm cho sự thống trị của chúng, vì chúng biết rằng Hán học có thể đưa vào An Nam những tư tưởng tiến bộ phương Tây thông qua Trung Quốc và Nhật Bản…” [75; 399]; nham hiểm hơn khi “các ấn phẩm sách báo thực dân đều đầy rẫy những đòn

đả kích hung bạo đánh vào nhân dân bị chinh phục” [75; 7], vì chúng cho rằng

“truyền học vấn cho bọn annamít hoặc cho phép tự chúng có học vấn, tức là một mặt cung cấp cho chúng những súng bắn nhanh để chống chúng ta và mặt khác đào tạo những con chó thông thái gây rắc rối hơn là có ích” [75; 7] Cho nên, thực dân Pháp luôn tuyên truyền với nhau rằng: “Đối với cái giống nòi annamít ấy chỉ có một cách tốt để cai trị nó - đó là ách thống trị bằng sức mạnh” [75; 7] Hồ Chí Minh kết

Trang 20

luận: Thâm ý của thực dân Pháp đối với nền giáo dục thuộc địa ở nước ta “chỉ là đẩy người An Nam vào vòng ngu tối” [75; 399]

Về văn hóa: Dưới chính sách “bần cùng hoá” và “ngu dân hoá” của thực dân

Pháp, tình hình sinh hoạt văn hóa của xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi theo chiều hướng tiêu cực “Những thói hư, tật xấu được dung dưỡng Nạn cờ bạc không bị cấm mà còn được khuyến khích bằng cách cho mở các sòng bạc để thu thuế Tệ uống rượu không bị hạn chế mà dân ta còn bị bắt phải uống một loại rượu cồn độ nặng do Hãng rượu độc quyền Phông-ten (Fontaine) sản xuất trên khắp cả nước Thực dân Pháp còn mở các cơ quan thu mua và các ti bán thuốc phiện để lập quỹ cho phủ toàn quyền chính là trực tiếp khuyến khích nạn nghiện hút Ở nông thôn, hủ tục ma chay, cưới xin, tệ hương ẩm, nạn thù hằn giữa các phe giáp vẫn tồn tại, thêm vào đó nạn bói toán, đồng bóng, mê tín dị đoan ngày càng nặng nề” [67; 111] Trước thực trạng đó, Hồ Chí Minh tố cáo: “Rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho cái công cuộc ngu dân của chính phủ Máy chém và nhà tù làm nốt phần còn lại” [75; 28] Từ đó, Người đi đến vạch rõ những tội ác mà bọn thực dân Pháp đã gây ra cho nhân dân Việt Nam đó là: làm cho

“chúng tôi không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã, mà còn bị hành hạ

và đầu độc một cách thê thảm… Bất kỳ người bản xứ nào có tư tưởng xã hội chủ nghĩa cũng đều bị bắt và đôi khi bị giết mà không cần xét xử Chúng tôi không có quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận, ngay cả quyền tự do hội họp và lập hội cũng không có Chúng tôi không có quyền cư trú và du lịch ra nước ngoài; chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự do học tập” [75; 22 - 23]

Về kinh tế: Thực dân Pháp tăng cường chiếm đoạt “ruộng đất” của nông dân

Việt Nam trên quy mô rộng lớn với nhiều hình thức để lập đồn điền, vì chúng luôn hiểu rõ nông nghiệp là ngành đầu tư ít vốn nhưng dễ dàng thu được nhiều lợi nhuận

Do đó, vào năm 1897, đối với những vùng “đất hoang, đất vô chủ - thực ra là những ruộng đất màu mở của nông dân” [67; 120], thực dân Pháp buộc “triều đình Huế ký điều ước nhượng cho thực dân quyền khai khẩn đất hoang” [67; 120] và ra sức đuổi

Trang 21

những người nông dân ra khỏi các vùng đất đó Đến “ngày 1/5/1900, thực dân Pháp

ra nghị định phủ nhận quyền sở hữu ruộng đất trong luật pháp phong kiến để dễ cướp đoạt ruộng đất của nông dân” [67; 120]

Ở các đồn điền nông nghiệp, phương thức bóc lột chủ yếu của thực dân Pháp vẫn là phát canh thu tô theo kiểu phong kiến Trong khi đó, sản xuất công nghiệp chỉ giới hạn chủ yếu trong ngành công nghiệp khai thác và chế biến để cung cấp cho chính quốc những nguyên liệu hay sản vật gì mà nước Pháp không có Phương thức bóc lột của thực dân Pháp trong lĩnh vực công nghiệp ở nước ta là tận dụng nguồn nhân công rẻ mạt, sử dụng đến mức tối đa lao động thủ công, kết hợp lao động thủ công với lao động cơ giới, kết hợp phương thức bóc lột tư bản chủ nghĩa với phương thức bóc lột tiền tư bản chủ nghĩa, nhằm tìm mọi cách để chi phí sản xuất giảm xuống ở mức thấp nhất nhưng vẫn thu được lợi nhuận ở mức cao nhất Trong thương nghiệp, thực dân Pháp thực hiện chính sách độc quyền thương mại với những quy định hết sức vô lý như “hàng hóa của Việt Nam mà Pháp cần đều phải dành cho Pháp, không được sản xuất ra nước khác Những hàng hóa mà Pháp thừa ế hoặc kém phẩm chất so với hàng các nước thì Việt Nam phải mua vào” [67; 120] Trước thực trạng trên, Hồ Chí Minh kết luận: “Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn” [77; 556]

Về xã hội: Với việc đẩy mạnh khai thác thuộc địa trên quy mô lớn vào cuối thế

kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã làm cho cơ cấu kinh tế Việt Nam có những chuyển biến nhanh chóng và có lợi cho Pháp Phương thức bóc lột mới theo kiểu tư bản chủ nghĩa đã được du nhập vào Việt Nam, bắt đầu thâm nhập các khu vực kinh tế nông, công, thương nghiệp Đồng thời, phương thức bóc lột cũ theo kiểu phong kiến cũng được thực dân Pháp cố tình duy trì để mang lại lợi ích cho chúng

Sự kết hợp giữa hai phương thức bóc lột đó đã dẫn tới sự hình thành phương thức

Trang 22

bóc lột thuộc địa nhằm đảm bảo siêu lợi nhuận tối đa cho thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai Trước bối cảnh đó, cơ cấu xã hội Việt Nam bắt đầu có sự thay đổi nhanh chóng “Công, thương nghiệp phát triển dẫn đến sự nảy sinh lớp người làm thuê ăn lương, trong số đó có một số đã trở thành những người vô sản công nghiệp” [67; 123] và họ đã trở thành công nhân bằng nhiều con đường khác nhau

Có người do bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất nên phải tự đến các hầm mỏ, xí nghiệp, đồn điền để tìm kiếm công ăn việc làm Có người do thu hoạch nông nghiệp thấp kém nên phải đi làm công nhân theo mùa để kiếm thêm chút ít tiền trang trải cuộc sống và bổ sung cho sản xuất nông nghiệp Có người do bị cưỡng bức đi làm đường sắt, đường bộ, công sở… nên trở thành những phu hay công nhân Mặc dù được hình thành bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng đa số công nhân Việt Nam đều có những nét chung cơ bản đó là: tính tập trung ngày càng mạnh mẽ, phát triển nhanh về số lượng và sớm phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc của ông cha ta để đấu tranh chống lại ách áp bức, bóc lột của bọn thực dân Pháp Họ đã đứng lên đấu tranh bằng nhiều hình thức khác nhau, hết sức phong phú và đa dạng như: từ bỏ trốn tập thể, công khai bỏ việc, đưa đơn tố cáo cho đến phối hợp với các phong trào yêu nước để tổ chức mít-tinh, phát động đình công, bãi công, thậm chí tiến hành những cuộc nổi dậy để đấu tranh bằng bạo lực Nhìn chung, vào cuối thế

kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, công nhân Việt Nam có “số lượng phát triển khá cao, với chất lượng biểu hiện rõ ở tính tập trung, có tinh thần đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung Tuy nhiên, vì chưa có lý luận tiên tiến soi đường nên họ chưa quan niệm được mình là một giai cấp có quyền lợi và nguyện vọng riêng, chưa nhận thức được vị trí và vai trò của mình trong lịch sử” [67; 126]

Cuối thế kỷ XIX, dưới sự tác động của phương thức bóc lột tư bản chủ nghĩa nên đô thị Việt Nam đã phát triển theo kiểu đô thị công, thương nghiệp Cùng với

sự phát triển này, “tầng lớp tư sản đầu tiên đã xuất hiện, nhưng chưa đông về số lượng và có nguồn gốc xuất thân khác nhau Xuất hiện sớm nhất là một số tư sản mại bản đứng ra bao thầu các bộ phận kinh doanh của Pháp Quyền lợi bọn này gắn với quyền lợi thực dân” [67; 127] Cũng có một bộ phận kinh doanh riêng biệt

Trang 23

nhằm phát triển theo một hướng độc lập, ban đầu cùng làm chung với Pháp, nhưng sau khi đã có một số vốn tương đối thì tách ra làm ăn riêng để hạn chế phần nào sự

lệ thuộc vào tư sản Pháp Một số xuất thân từ địa chủ phong kiến giàu có, với ý thức chống lại độc quyền của thực dân Pháp nên đã chuyển một phần vốn sang kinh doanh công thương nghiệp Một số quan lại với ý thức phát triển kinh tế dân tộc cũng cáo quan về kinh doanh công thương nghiệp “Cũng có những người hoạt động yêu nước chuyển sang kinh doanh thương nghiệp để hỗ trợ cho công tác chính trị” [67; 128] Song, do bị thực dân Pháp chèn ép nặng nề nên tư sản Việt Nam phát triển khá chậm về mọi mặt “Cùng ra đời với tầng lớp tư sản là các tầng lớp tiểu tư sản, có trước và đông hơn tầng lớp tư sản Đó là những nhà tiểu công nghệ, tiểu thương, những người làm việc ở các sở công hay tư, những người làm nghề tự do, học sinh các trường” [67; 128] Nhìn chung, đời sống vật chất của những người này

so với các giai cấp và tầng lớp xã hội khác có phần ổn định hơn đôi chút, nhưng họ cũng bị chèn ép về kinh tế cho đến chính trị, văn hóa, xã hội và đều thấm thía sâu sắc nỗi nhục của người dân mất nước

Trong khi đó, nông dân và thợ thủ công cũng bị bần cùng hóa và phá sản hàng loạt Cuối thế kỷ XIX, “nạn chiếm hữu ruộng đất diễn ra một cách khủng khiếp trong toàn quốc Hết Điều ước tháng 10/1897 của triều đình Huế nhượng cho thực dân quyền khai thác đất hoang đến Nghị định ngày 1/5/1900 phủ nhận quyền sở hữu ruộng đất trong luật pháp phong kiến càng giúp tư bản Pháp và bè lũ phong kiến tay sai trắng trợn cướp đoạt ruộng đất của nông dân trên quy mô lớn” [67; 129] Sau khi chiếm được ruộng đất, thực dân Pháp vẫn áp dụng phương thức bóc lột theo kiểu phong kiến vì chúng nhận thấy đó là cách làm ít tốn kém, chắc chắn và thu được nhiều lợi nhất Thêm vào đó, nạn sưu cao, thuế nặng ngày một tăng, nạn cho vay nặng lãi vẫn duy trì làm cho nông dân mất hết những tài sản cuối cùng, thậm chí đến mảnh đất là tài sản sinh nhai duy nhất cũng bị tước đoạt Ngoài ra, do thực dân Pháp không chú ý đến việc bảo vệ đê điều nên nạn vỡ đê, lụt lội xảy ra gần như thường xuyên Từ đó, làm cho đời sống của nhân dân ta ngày một thêm điêu đứng

Trang 24

Đến những năm đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam có những chuyển biến rõ rệt làm nảy sinh những mâu thuẫn hết sức sâu sắc và ngày càng trở nên quyết liệt Đó

là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản, mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân đế quốc Pháp Tất cả những mâu thuẫn đó tạo tiền đề dẫn đến các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp ngày càng mạnh mẽ Trước thực trạng biến đổi về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước thời bấy giờ, Hồ Chí Minh nhận định: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đó đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm” [75; 28] và khi thời cơ đến, “toàn dân Việt Nam trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp” [77; 557]

Việt Nam vốn là một nước nghèo, lạc hậu về kinh tế, nhưng lại có truyền thống yêu nước hết sức nồng nàn, có tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc rất cao, luôn anh dũng, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm nên nhân dân ta

đã phát huy truyền thống vẻ vang của ông cha mà liên tiếp vùng lên đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược nhằm bảo vệ nền độc lập nước nhà Hồ Chí Minh khẳng định: “Ông cha chúng ta với ý chí quật cường và lòng nồng nàn yêu nước đã liên tiếp vùng dậy, luôn luôn nêu cao ngọn cờ độc lập tự do” [83; 372] Phong trào chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương do vua Hàm Nghi lãnh đạo mở đường cho các phong trào giải phóng dân tộc nổ ra Song, vì chưa có đường lối chính trị rõ ràng và chưa có được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân cả nước nên phong trào Cần Vương đã bị thất bại Có thể nói, “trong suốt gần một thế kỷ thống trị của thực dân Pháp, phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam không ngừng phát triển, kẻ trước ngã, người sau đứng dậy Nhưng tất cả những cuộc khởi nghĩa yêu nước ấy đã bị dìm trong máu” [83; 323] Tuy chưa đạt được mục đích, nhưng các phong trào đó

có một ý nghĩa hết sức lớn lao trong việc khơi dậy lòng yêu nước, phát huy tinh thần đại đoàn kết và khích lệ ý chí đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân ta

từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX và Hồ Chí Minh tin rằng: “Pháp có mạnh không? Mạnh Bắt đầu kháng chiến nó mạnh, nhưng nó mạnh mà yếu, mình yếu mà

Trang 25

mạnh Nó mạnh nhờ có xe tăng, tàu chiến Mình mạnh mà mạnh gấp mấy lần nó vì mình có tinh thần, có chính nghĩa, có lòng yêu nước Cuối cùng ai thắng? Ta thắng” [83; 500]

Cũng những năm đầu của đầu thế kỷ XX, các tư tưởng tư sản của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Tôn Dật Tiên ở Trung Quốc và tư tưởng của các nhà khai sáng Pháp với những khẩu hiệu hết sức nhân văn được nhân dân ta tiếp nhận Đặc biệt, tư tưởng về “tự do - bình đẳng - bác ái” của các nhà tư sản Pháp đã tác động trực tiếp vào các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam Sự tác động

đó tiếp tục sôi động làm dấy thêm tinh thần đấu tranh giải phóng dân tộc dưới nhiều hình thức, tổ chức và màu sắc khác nhau Các phong trào như: phong trào Đông Du (1906 - 1908), phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), phong trào Duy Tân (1906 - 1908) xuất hiện là những sự kiện tất yếu của lịch sử xã hội Việt Nam thời bấy giờ Sự đa dạng của các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đã nói lên tính thiết thực, cấp bách của thực tiễn nước ta đòi hỏi phải được giải quyết và đó là xu thế tất yếu của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX Sự kìm kẹp của thực dân Pháp cộng với sự biến đổi theo chiều hướng tiêu cực về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục

do thực dân Pháp gây ra cho xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX là tiền đề để đi đến thiết lập một trật tự xã hội mới, nó đang được chuẩn bị về mặt xã hội, cái còn lại chỉ là việc gieo hạt giống tinh thần đến với quần chúng, đến với nhân dân lao động nữa mà thôi Nhưng, “để gieo hạt giống đó đòi hỏi phải có phương pháp Phương pháp của Phan Châu Trinh là khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh Phương pháp của Phan Văn Trường là dụng lý thuyết thâu nhân tâm Phương pháp của Phan Bội Châu là cầu cứu nghĩa cử đồng văn, đồng chủng, chạy đông chạy tây, dĩ ngoại đột nội…” [99; 26] Có thể nói, phương pháp và cách thức tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc của các phong trào đó rất phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức tiến hành Song, tất cả các phương pháp và cách thức tiến hành đó cũng chưa vượt ra khỏi phạm vi của những cuộc cách mạng không đến nơi, đến chốn “Phương pháp cách mạng của họ có nhược điểm chủ yếu là không nhận thức đúng đắn, đầy đủ về yêu cầu và nhiệm vụ cấp bách của xã hội Việt Nam

Trang 26

cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Họ chưa được trang bị phương pháp luận khoa học để nhận thức xã hội Việt Nam một cách toàn diện” [99; 26] Cho nên, phong trào Đông Du, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào Duy Tân vừa bùng lên đã bị thực dân Pháp đàn áp, dập tắt

Nói chung, nguyên nhân thất bại chủ yếu của các phong trào yêu nước cuối thế

kỷ XIX - đầu thế kỷ XX là do chưa có lý luận đúng đắn soi đường cho cách mạng Việt Nam Ở các phong trào đó, nhân dân ta đã có tinh thần phát huy một cách cao

độ những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam như: chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường, ý thức độc lập tự do… để chiến đấu anh dũng, kiên cường, bất khuất, thậm chí hy sinh trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm nhằm bảo vệ non sông đất nước Nhưng, những giá trị truyền thống ấy chỉ được cụ thể hóa bằng những hành động yêu nước dưới sự soi rọi bởi hệ tư tưởng và lập trường của giai cấp địa chủ phong kiến, của nông dân hay của giai cấp tư sản, tầng lớp tiểu tư sản Từ đó, làm cho các phong trào cách mạng của họ là không đến nơi, đến chốn, không đem lại được độc lập cho dân tộc, tự do

và hạnh phúc cho toàn thể quần chúng nhân dân đang bị áp bức bóc lột, không giải quyết được những mâu thuẫn cơ bản vốn đang ngày càng trở nên gay gắt trong xã hội Việt Nam

Trước sự thất bại của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ

XX, trước tình cảnh nước nhà chưa được độc lập, nhân dân chưa được tự do, mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam chưa được giải quyết… đã đòi hỏi nhân dân ta hơn lúc nào hết cần phát huy cao độ hơn nữa những giá trị truyền thống quý báu mà dân tộc Việt Nam đã có từ ngàn xưa Song, những giá trị truyền thống đó khi phát huy phải được đặt trên nền tảng lập trường tư tưởng cách mạng nào? Phải được tổ chức hành động như thế nào để đạt được mục đích độc lập tự do, ấm no và hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam? Điều này đòi hỏi cả một quá trình trăn trở, suy tư, tìm tòi, nghiên cứu để hình thành một lập trường cách mạng đúng đắn cho cả dân tộc Việt Nam Trải qua nhiều bước khảo nghiệm, cuối cùng vào những năm 20 của thế

kỷ XX, Hồ Chí Minh đã đến được với chủ nghĩa Mác-Lênin - Hệ tư tưởng của giai

Trang 27

cấp công nhân và cũng là hệ tư tưởng tiên tiến nhất của thời đại ngày nay Trên nền tảng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn nước ta để hình thành lập trường cách mạng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam,

Hồ Chí Minh đã kết hợp những giá trị truyền thống vốn có của dân tộc gắn liền với

lý tưởng xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân Người cho rằng, chỉ có gắn liền với với lý tưởng xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân thì con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam mới có đủ khả năng thực hiện thắng lợi “cuộc cách mạng đến nơi, đến chốn”, mới đem lại độc lập cho dân tộc, tự do, ấm no và hạnh phúc cho nhân dân Hồ Chí Minh khẳng định: “Biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công” [86; 305]

1.1.2 Bối cảnh Thế giới cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX

Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển sang giai đoạn

đế quốc chủ nghĩa Trong giai đoạn này, lực lượng sản xuất chuyển biến mạnh mẽ, nền kinh tế hàng hóa phát triển nhanh và mạnh đã đòi hỏi các nước tư bản phải có nhiều nguồn nguyên liệu và mở rộng thị trường tiêu thụ V.I.Lênin đã chỉ ra rằng:

“Chủ nghĩa tư bản phát triển càng cao, nguyên liệu càng thiếu thốn, sự cạnh tranh càng gay gắt và việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu trên toàn thế giới càng ráo riết thì cuộc đấu tranh để chiếm thuộc địa càng quyết liệt hơn” [140; 481]

Trong khi các nước tư bản phương Tây đã phát triển nhanh và chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa thì Việt Nam cũng như các nước phương Đông khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Mianma… vẫn là những quốc gia phong kiến có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu Dù có nền văn hóa phát triển sớm, nhưng những nước này vẫn chìm sâu dưới sức nặng của quan hệ sản xuất phong kiến và chế độ chính trị chuyên chế, bảo thủ; lực lượng sản xuất chậm phát triển, trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ lạc hậu; đời sống của các tầng lớp nhân dân hết sức khó khăn; mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ phong kiến thống trị với nhân dân mà tuyệt đại đa

số là nông dân ngày càng sâu sắc… Trước sự lạc hậu, trì trệ kéo dài của các nước phương Đông trong đó có Việt Nam đã trở thành miếng mồi béo bở cho sự xâm

Trang 28

lược của chủ nghĩa thực dân đế quốc phương Tây Trên thực tế, hầu hết các nước phương Đông đều trở thành thuộc địa của các nước đế quốc phương Tây Nhằm mục đích phục vụ cho sự bành trướng và phát triển của mình, các nước đế quốc đã

ra sức tranh giành thuộc địa các nước và các dân tộc nhỏ yếu trên phạm vi toàn thế giới Chủ nghĩa đế quốc không chỉ vơ vét, bóc lột, khai thác thuộc địa về kinh tế mà chúng còn đầu độc và phá hoại những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc khi chúng đến xâm lược và nô dịch

Những điều mà chủ nghĩa đế quốc mang đến cho nhân dân thuộc địa hoàn toàn không phải để “khai hóa văn minh” mà là mượn danh “khai hóa” và “cải tạo” các dân tộc này theo kiểu phương Tây để chúng dễ bề áp bức, bóc lột các dân tộc thuộc địa Hồ Chí Minh đã có lần nhận xét: “Thật là một sự mỉa mai đau đớn khi ta thấy rằng văn minh dưới nhiều hình thức khác nhau như tự do, công lý - được tượng trưng bằng hình ảnh một người đàn bà dịu hiền và được một hạng người nổi tiếng là hào hoa phong nhã ra sức điểm tô - lại đối xử một cách hết sức bỉ ổi với người đàn

bà bằng xương bằng thịt và xúc phạm một cách vô liêm sỉ tới phong hóa, trinh tiết

và đời sống của họ” [75; 96] Công cuộc khai hóa của những người tự xưng là đại diện cho nền văn minh phương Tây đã thể hiện rõ bản chất phản văn hóa, hết sức tàn bạo và độc ác Vạch trần bản chất thật sự của chủ nghĩa thực dân, Hồ Chí Minh viết: “Bổn phận, đến nhân đạo và khai hóa! Vậy bổn phận ấy là cái gì?… Đó là thị trường, là cạnh tranh, là lợi tức, là đặc quyền Buôn bán, tài chính, đó là những cái tượng trưng cho lòng nhân đạo của các ông Sưu thuế, lao dịch, bóc lột nặng nề - công cuộc khai hóa của các ông, tóm lại là thế đó” [75; 137 - 138] Chính sự áp bức

và thôn tính ngày càng gia tăng như vậy đã làm cho mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và chủ nghĩa thực dân đế quốc ngày càng trở nên gay gắt hơn nữa

Không những thế, với lòng tham vô hạn, chủ nghĩa đế quốc còn không ngừng tăng cường sự áp bức, bóc lột dã man đối với giai cấp công nhân ở chính quốc Trên hành trình tìm đường cứu nước của mình, Hồ Chí Minh đã tận mắt chứng kiến tội

ác của chủ nghĩa đế quốc ngay chính trên quê hương của họ Ở nước Mỹ, dưới chân tượng Nữ thần tự do, những vụ tàn sát, hành hạ và sỉ nhục con người diễn ra hàng

Trang 29

ngày Trên đất nước Pháp, hoàn toàn không có cái gọi là “tự do - bình đẳng - bác ái”

mà chỉ có sự đối lập giữa những lâu đài nguy nga và những khu ổ chuột, giữa giàu sang và đói rét, những cảnh chém giết và bóc lột Chứng kiến tất cả những cái xấu

xa che đậy bức bình phong giả tạo văn minh của chủ nghĩa đế quốc, Hồ Chí Minh hiểu rằng: Ở các nước thuộc địa hay trên chính quốc, chủ nghĩa tư bản chỉ có một bản chất là bóc lột người lao động để làm giàu và “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột” [75; 266] Do đó, Người nhận rõ giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở tất cả các nước đều là bạn và chủ nghĩa đế quốc xâm lược ở bất kỳ đâu cũng đều là kẻ thù Nói chung, “vào cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, hầu hết các nước ở phương Đông chưa thoát ra khỏi chế độ phong kiến; Châu Phi và Châu Mỹ - La tinh

đa số còn lạc hậu và bị chiếm làm thuộc địa; phần đông các dân tộc còn lạc hậu bị một số nước tư bản như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, Pháp và Mỹ bóc lột Thời đại đó đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn như: Mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và

tư sản ở chính quốc, mâu thuẫn giữa các dân tộc bị bóc lột với bọn thực dân đế quốc, mâu thuẫn giữa đa số người lao động với địa chủ phong kiến, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân ở thuộc địa với tư sản ở chính quốc và tư sản bản xứ, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc lớn với nhau Những mâu thuẫn đó ngày một phát triển tạo tiền đề dẫn đến những cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX” [99; 12] Tính tất yếu đó được mở đầu bằng cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) và tiếp đến

là Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) “Cách mạng Tháng Mười Nga thành công

do Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo đã minh chứng một thời đại mới xuất hiện - thời đại ưu thế thuộc về giai cấp công nhân” [99; 14] Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cách mạng Tháng Mười đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản

và giai cấp địa chủ phong kiến, lập nên chính quyền của những người lao động, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, một xã hội không có người bóc lột người” [86; 300

- 301] Cuộc cách mạng đó đã làm xuất hiện “chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản

từ chỗ chỉ là một ước mơ cao đẹp của loài người, sau khi Cách mạng Tháng Mười

vĩ đại trở thành hiện thực trong xã hội đã tạo ra một sức sống vô cùng to lớn, lôi

Trang 30

cuốn hàng triệu người vào hành động cách mạng, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” [86; 303] Được cổ vũ bởi Cách mạng Tháng Mười Nga, các phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa cũng đã diễn ra quyết liệt và liên tục, nhất là các phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam Nhưng, “các phong trào này cũng bị thất bại vì phần lớn người lãnh đạo phong trào đều xuất thân từ địa chủ phong kiến, số ít khác lãnh đạo nông dân lại thuộc giai cấp tư sản” [99; 15] nên chưa có mục đích và phương châm thiết thực, chưa thể làm một cuộc cách mạng đến nơi cho dân tộc

Từ việc khảo cứu sự thất bại của các phong trào giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước và kinh nghiệm thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh khẳng định: Vào những năm đầu thế kỷ XX, chỉ có phong trào cách mạng nào có mục tiêu giải quyết đồng thời những mâu thuẫn lớn của thời đại ở nước mình thì mới có thể đi đến thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công

đã phá vỡ một khâu quan trọng của hệ thống tư bản chủ nghĩa, thành lập Nhà nước đầu tiên thật sự thuộc về nhân dân lao động Cột mốc vĩ đại đó có vai trò to lớn là vạch ra con đường đúng đắn cho các phong trào cách mạng giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp trên thế giới Nó đã đánh thức và cổ vũ những người bị áp bức bóc lột trên thế giới, khơi dậy tinh thần đấu tranh giải phóng dân tộc nhằm thoát khỏi áp bức, bất công Người nói: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức bóc lột trên trái đất Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế” [86; 300] Nhưng, con đường giải phóng dân tộc dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin chưa thể tới ngay được các nước thuộc địa trong đó

có Việt Nam

Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển mạnh mẽ Đầu năm 1919, V.I.Lênin và những người theo chủ nghĩa Mác ủng hộ lập trường của V.I.Lênin họp tại Mátxcơva, thành lập Quốc tế Cộng sản III (Quốc tế III) Quốc tế III ra đời đánh dấu một thắng lợi vĩ đại của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế vì nó đã đánh bại được đường lối cơ hội, cải lương và chủ

Trang 31

nghĩa sô-vanh của những phần tử Quốc tế II, do đó đã thúc đẩy việc thành lập nhiều đảng cộng sản và phát triển phong trào cách mạng ở các nước trên thế giới Đến năm 1920, Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin được Đại hội lần thứ hai của Quốc tế III thông qua, trong đó Hồ Chí Minh tâm đắc nhất là tuyên

bố ủng hộ của Quốc tế III đối với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc

Giai cấp công nhân quốc tế đã có thành trì cách mạng vững chắc là Liên Xô (cũ) và có tổ chức lãnh đạo đúng đắn là Quốc tế Cộng sản Phong trào cách mạng thế giới đang đòi hỏi phải có những đảng mác-xít chân chính, đảng kiểu mới của giai cấp công nhân lãnh đạo Như một số đảng công nhân khác ở Châu Âu lúc bấy giờ, trong Đảng xã hội Pháp đã nổ ra cuộc đấu tranh rất gay gắt để bảo vệ chủ nghĩa Mác, chống lại bọn cơ hội, xét lại và Hồ Chí Minh đã tham gia các cuộc tranh luận

ở các tổ chức cơ sở của Đảng xã hội Pháp Cũng trong thời gian này, Người đã tìm

thấy và khảo cứu “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin

Được sự giúp đỡ của các đồng chí cách mạng Pháp, Hồ Chí Minh càng thấy rõ Quốc tế III là tổ chức tiến bộ và Luận cương của V.I.Lênin là quan điểm hiện đại, tiên tiến nhất của thời đại ngày nay, đáp ứng được nguyện vọng tha thiết nhất của Người là “độc lập cho Tổ quốc” và “tự do cho đồng bào” Người nói: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao? Tôi vui mừng đến phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng cho chúng ta!” [84; 127] Từ đó, Hồ Chí Minh tìm các tác phẩm của V.I.Lênin để học tập, bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và

đã trở thành một trong những người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp

Hồ Chí Minh là một trong những đảng viên đầu tiên của Đảng Cộng sản Pháp, đồng thời cũng là người cộng sản Việt Nam đầu tiên Đây là một sự kiện chính trị

vô cùng quan trọng trong cuộc đời của Hồ Chí Minh, đánh dấu bước ngoặt thay đổi

về chất trong tư tưởng và lập trường chính trị của Người Từ đó, Hồ Chí Minh đã tìm ra được con đường cách mạng đúng đắn cho nhân dân Việt Nam - con đường

Trang 32

kết hợp đấu tranh dân tộc với đấu tranh giai cấp, kết hợp giá trị truyền thống dân tộc

mà chủ đạo là chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa chủ nghĩa quốc tế vô sản Hay nói cách khác, là sự kết hợp giữa giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa Mác-Lênin - giá trị hiện đại, tiên tiến nhất của thời đại ngày nay

Như vậy, từ những bài học thành công và thất bại của các phong trào giải phóng dân tộc vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX và sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, sau khi tiếp xúc với Luận cương của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc

và thuộc địa, Hồ Chí Minh đã nhận thức được tính tất yếu phải kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong sự phát triển con người Việt Nam nhằm thực hiện thắng lợi

sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước

1.2 NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA SỰ THỐNG NHẤT GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI

1.2.1 Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam - cội nguồn của sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người

Mọi học thuyết, tư tưởng ra đời đều “kế thừa những học thuyết, tư tưởng trước

đó và phát sinh, phát triển trên mảnh đất hiện thực, phản ánh lợi ích của giai cấp, dân tộc và là kết quả hoạt động nhận thức của cá nhân hay sự hợp tác của nhiều người” [47; 36] trong một thời gian nhất định Cho nên, toàn bộ hệ thống tư tưởng

Hồ Chí Minh cũng là “sự tích hợp của nhiều nền văn hóa, trong đó có sự khai thác,

sử dụng nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống của dân tộc để vận dụng trong điều kiện hoàn cảnh mới của đất nước Việt Nam Đó là kết quả tất yếu của Hồ Chí Minh, một người đi nhiều, hiểu rộng, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa và sử dụng thành thạo nhiều ngôn ngữ phổ biến trên thế giới” [47; 36] Xét riêng trong tư tưởng

Hồ Chí Minh về con người, chúng ta thấy điểm chủ yếu và nét nổi bật của Người chính là sự kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Khái quát lại, có thể nêu ra một số giá trị truyền thống cơ bản của dân tộc Việt Nam - giữ vai trò là cội nguồn của sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, đó là: chủ nghĩa yêu nước; tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc; ý thức tự chủ, tự lực, tự cuờng, độc lập tự do; nhân ái, khoan dung; lao động cần cù, tiết kiệm; mong muốn hòa bình, yêu cuộc sống bình dị, đề

Trang 33

cao các giá trị văn hóa, làng xã, dòng họ, gia đình; nhẫn nại chịu đựng, giản dị, khiêm tốn, chất phác, thật thà

Chủ nghĩa yêu nước

Yêu nước là “nguyên tắc đạo đức và chính trị, một tình cảm xã hội mà nội dung của nó là lòng trung thành với Tổ quốc, là lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc” [2; 11] Thực ra, trên thế giới, mỗi quốc gia, dân tộc đều có tình yêu quê hương đất nước, nhưng bản sắc, sự hình thành cũng như biểu hiện của nó lại có những nét khác nhau Ở Việt Nam, có thể nhận thấy chủ nghĩa yêu nước là giá trị đạo đức cao quý nhất của dân tộc ta, là chuẩn mực đạo đức đứng đầu trong thang bậc giá trị truyền thống và là hằng số trong mỗi con người Việt Nam, là “tiêu điểm của mọi tiêu điểm” Yêu nước là đặt lợi ích của

Tổ quốc, của nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân, luôn chăm lo xây dựng và bảo

vệ đất nước, có ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, luôn tự hào về dân tộc

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được bắt nguồn từ những tình cảm bình dị, đơn

sơ của mỗi người dân Tình cảm đó, ban đầu chỉ là sự quan tâm đến những người thân yêu ruột thịt, rồi đến xóm làng, sau đó mới phát triển cao thành tình yêu quê hương đất nước Tuy nhiên, tình yêu quê hương đất nước của con người Việt Nam không phải là tình cảm bẩm sinh vốn có mà là sản phẩm của lịch sử phát triển rất lâu dài và gắn liền với những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - xã hội cụ thể của Việt Nam

Tình yêu quê hương đất nước không chỉ gắn liền với quá trình xây dựng đất nước mà nó còn được thể hiện rõ hơn trong quá trình bảo vệ Tổ quốc Trên thế giới, hầu như dân tộc nào cũng phải trải qua quá trình chống xâm lăng, bảo vệ giang sơn của Tổ quốc Nhưng có lẽ, không dân tộc nào lại phải trải qua quá trình giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc nhiều và đặc biệt như ở Việt Nam Trong khoảng thời gian

từ thế kỷ III trước công nguyên đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, dân tộc ta đã dành hơn nửa thời gian cho các cuộc kháng chiến giữ nước và các cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm để giải phóng dân tộc Không có một dân tộc nào trên thế giới lại

Trang 34

phải chịu nhiều cuộc chiến tranh như vậy và với những kẻ thù lớn mạnh hơn rất nhiều Cho nên, mỗi người Việt Nam đều mang trong mình tinh thần yêu nước rất nồng nàn và tinh thần ấy đã được các thế hệ con người Việt Nam nối tiếp nhau gìn giữ, phát huy thành sức mạnh vô địch để dân tộc ta vượt qua muôn trùng khó khăn

và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược Qua nhiều cuộc chiến đấu đánh đuổi giặc ngoại xâm trường kỳ đầy gian khổ, chủ nghĩa yêu nước đã trở thành “dòng chủ lưu của đời sống Việt Nam, trở thành một dạng triết lý xã hội và nhân sinh trong tâm hồn Việt Nam” [64; 63]

Như vậy, có thể khẳng định chủ nghĩa yêu nước là giá trị truyền thống thiêng liêng của cả dân tộc Việt Nam, là sức mạnh tiềm tàng, thường trực trong lòng dân tộc, là nguồn lực không bao giờ cạn trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc và là đặc trưng tiêu biểu cho tính cách của con người Việt Nam Nhưng, bất cứ tiềm năng tinh thần nào dù to lớn bao nhiêu, muốn biến thành sức mạnh vật chất đều cần phải được thường xuyên khơi dậy và phát huy Vì vậy, trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, việc phát huy chủ nghĩa yêu nước của dân tộc ta luôn là nhu cầu cấp thiết và

Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ được điều này ngay từ rất sớm Người dạy: “Nhân dân Việt Nam có truyền thống yêu nước nồng nàn Lịch sử ngàn năm của dân tộc Việt Nam đã ghi những trang oanh liệt của nhân dân đấu tranh để xây dựng nước nhà, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc” [83; 321] nên mỗi người Việt Nam phải ra sức gìn giữ và phát huy truyền thống yêu nước “Nói phải đi đôi với làm” - đây là một trong những nguyên tắc giáo dục của Hồ Chí Minh, do đó Người luôn là tấm gương tiêu biểu nhất đã kế thừa và phát huy ở mức cao nhất giá trị truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước

Đại đoàn kết toàn dân tộc

Đại đoàn kết toàn dân tộc là sản phẩm đặc thù, là nhân tố cốt lõi trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam và nhờ đó mà nhân dân ta đã có được sức mạnh

to lớn, vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong quá trình dựng nước và giữ nước

Trang 35

Ý thức về đại đoàn kết toàn dân tộc của con người Việt Nam đã trở thành một

truyền thuyết - truyền thuyết về hai chữ “đồng bào” - tất cả mọi người đều cùng

chung một cái bọc mà ra Truyền thuyết này phản ánh nhu cầu và mong ước của ông cha ta về sự gắn bó máu thịt giữa những con người có cùng chung một nguồn cội

Tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc của người Việt Nam trước tiên được thể hiện trong gia đình, trong cộng đồng làng xã và rộng hơn nữa là trong toàn thể cộng đồng các dân tộc Việt Nam Trong gia đình, sức mạnh đoàn kết đã được ông cha ta đúc kết, lưu truyền, răn dạy các thế hệ con người Việt Nam qua các câu châm ngôn như: “Chia rẽ thì chết, đoàn kết thì sống”; “Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn”; “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” và từ thực tế của cuộc sống, những quy tắc, thể lệ về một mảnh ruộng chung (công điền), về việc phải cùng nhau hợp tác trong lao động sản xuất, chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai mà tinh thần đoàn kết ngày càng được củng cố trong làng xã Có lẽ hiếm dân tộc nào trên thế giới mà tinh thần đoàn kết lại được biểu hiện nhiều vẻ và đa dạng như ở làng quê Việt Nam Học giả Đào Duy Anh đã có lần nhận xét: “Ở trong một làng người ta thấy những cuộc đoàn kết nhỏ, như hội tư văn gồm những người có chức tước khoa danh, hội văn phả gồm những người nho học mà không có phẩm hàm khoa mục gì, hội võ phả gồm những quan võ, hội đồng môn gồm có tất cả học trò của một thầy Ngoài ra, còn có vô số các đoàn thể khác như hội mua bán dùng cách gắp thăm hay bỏ tiền úp bát mà lần lượt góp tiền cho nhau trong việc khánh hỉ, hội chư bà họp các bà vãi lễ phật, hội đồng quan họp những bà thời đồng thánh, hội bát

âm họp các tài tử âm nhạc, cho đến hội chọi gà, hội chọi chim… Xem thế thì thấy người nhà quê ta rất ham lập hội” [1; 144] Nói chung, ở bất kỳ lĩnh vực nào và ở bất cứ nơi đâu trên đất nước Việt Nam, người ta cũng luôn tạo ra sự đoàn kết nhất trí cao

Tinh thần đoàn kết trong cộng đồng làng xã được mở rộng thành tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc và không ngừng được nâng cao qua quá trình dựng nước và giữ nước Vì vậy, dân tộc Việt Nam đã duy trì được sự hài hòa trong các mối quan

Trang 36

hệ xã hội, làm hạn chế phần nào tính vị kỷ, tạo ra được sức mạnh chung cho sự sinh tồn và chiến thắng ngoại xâm Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh rằng, nếu không tạo được sự đoàn kết nhất trí cao thì nguy cơ nước mất nhà tan sẽ là điều khó tránh khỏi Điều này đã được thể hiện rõ qua thất bại của nhà Hồ trước sự xâm lăng của quân Minh (Trung Quốc) ở thế kỷ XV Mặc dù, nhà Hồ đã có thời gian chuẩn bị kháng chiến lâu dài, vũ khí tân tiến, nhưng do không thống nhất được lòng dân, không tạo ra được sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc nên vẫn không bảo vệ được nền độc lập nước nhà

Như vậy, đại đoàn kết toàn dân tộc là giá trị truyền thống vô cùng quý báu của dân tộc Việt Nam Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” [77; 217] Từ đó, Người đã chủ trương kế thừa và phát huy truyền thống đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam lên một tầm cao mới để xây dựng và phát

triển đất nước, phát triển con người Việt Nam

Ý thức tự chủ, tự lực, tự cường, độc lập tự do

Con người Việt Nam có ý thức tự chủ, tự lực, tự cường trước hết do họ là những người dân bản địa sinh sống lâu đời trên một vùng lãnh thổ có nhiều khó khăn, thử thách Mặt khác, từ ngàn xưa dân tộc Việt Nam đã phải liên tiếp đấu tranh

để bảo vệ biên cương quốc gia, luôn phải chiến đấu chống lại những kẻ thù lớn mạnh hơn mình gấp bội lần Không thể dựa được vào ai nên người dân Việt Nam ngay từ thuở xa xưa đã phải tự chủ, tự lực, tự cường và sớm ý thức được sức mạnh

“nội lực” to lớn của chính dân tộc mình

Suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, con người Việt Nam bằng trí tuệ

và sức mạnh “nội lực” của mình đã kiên trì, bất khuất để giành và giữ độc lập cho dân tộc Chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền đã chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc kéo dài một nghìn năm và mở ra một kỷ nguyên độc lập cho dân tộc Ý thức tự chủ, tự lực, tự cường của con người Việt Nam đã tạo nên hào khí Đông A giúp nhà Trần ba lần đánh tan cuộc xâm lược của quân Nguyên, rồi tiếp theo là mười năm kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi, một trăm năm chống Pháp và ba mươi năm

Trang 37

chống Mỹ Nói rộng ra, ngay cả những khi đất nước có được độc lập, nhân dân ta được sống trong hòa bình, bằng ý thức tự chủ, tự lực, tự cường cùng với ý thức độc lập tự do, con người Việt Nam vẫn phải thường xuyên cảnh giác để ngăn chặn âm mưu chống phá và xâm lược của các thế lực thù địch từ mọi phía; vẫn phải tiếp tục củng cố và xây dựng một nền quốc phòng - an ninh vững mạnh để đủ sức đương đầu, chủ động ứng phó với các cuộc chiến tranh xâm lược có thể xảy ra Có thể nói,

ý thức tự chủ, tự lực, tự cường, độc lập tự do của con người Việt Nam được hình thành từ rất sớm và xuyên suốt tiến trình đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước Qua từng thời kỳ lịch sử, quan điểm đó từng bước được hoàn thiện, được khái quát thành lý luận, thành quan điểm chỉ đạo để các Nhà nước Việt Nam độc lập kế tiếp nhau thực hiện và phát triển

Ý thức tự chủ, tự lực, tự cường, độc lập tự do cùng với chủ nghĩa yêu nước, con người Việt Nam đã vì độc lập của dân tộc, vì cuộc sống tự do của nhân dân mà sẵn sàng hiến dâng tất cả, thậm chí chấp nhận hy sinh miễn sao có được “độc lập - tự do” Cho nên, dù kẻ thù là ai, lớn mạnh, hung hãn đến cỡ nào, đã chinh phục được những đâu trước khi xâm lược đất nước này, con người Việt Nam vẫn không sợ, vẫn dám đương đầu với nó, vẫn vươn vai đứng dậy, ngẩng cao đầu, vừa tự bồi dưỡng sức mình vừa làm hao mòn sức giặc để cuối cùng đè bẹp kẻ thù

Nhờ có ý thức tự chủ, tự lực, tự cường, độc lập tự do, con người Việt Nam mới

tự tin ở mình, tin ở con người, ở sức mạnh của dân tộc, chứ không trông đợi ở Trời, Phật hay ở bất kỳ một “đấng cứu thế” nào trong chiến tranh để giành độc lập tự do

Đó là một đặc trưng nổi bật của con người Việt Nam chống xâm lăng Từ bài thơ Thần đến Hịch Tướng Sĩ, Bình Ngô Đại Cáo rồi đến lời Vua Quang Trung khích lệ tướng sĩ trước khi tiến đánh quân Thanh, không ở đâu các anh hùng dân tộc cầu viện đến thần linh Điều này cũng có nghĩa là quân dân ta ở thời kỳ nào cũng không cần được khích lệ bằng uy lực của thần linh mà chỉ cổ vũ và biểu dương sức mạnh của con người, sức mạnh của cả dân tộc với ý chí tự chủ, tự lực, tự cường, độc lập

tự do Mặc dù, trong bài thơ “Thần” của Lý Thường Kiệt có đề cập đến “định phận tại thiên thư”, nhưng đấy chỉ là lối nói khẳng định chủ quyền đất nước của dân tộc

Trang 38

Việt Nam vốn đã là một tất yếu, nhằm khích lệ toàn thể quần chúng nhân dân quyết tâm vùng lên đánh đuổi kẻ thù xâm lược phương Bắc để “làm chủ một phương” - làm chủ đất nước mình, chứ hoàn toàn không mang ý nghĩa gì là “trời định”

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, ý thức tự chủ, tự lực, tự cường, độc lập tự

do của dân tộc đã giúp cho con người Việt Nam chiến thắng những kẻ thù lớn mạnh

và sau mỗi lần giành độc lập đều xưng vương, xưng đế Ý thức đó làm thành một mạch dẫn liên tục từ thời đại Hùng Vương đến thời đại Hồ Chí Minh: “Con người Việt Nam thà chết chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” [87; 50]

Tinh thần nhân ái, khoan dung

Tinh thần nhân ái của dân tộc Việt Nam xuất phát từ tình cảm yêu quý con người - “người ta là hoa của đất” Chính trong quá trình lao động sản xuất và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng, ông cha ta đã rút ra triết lý: Con người là vốn quý hơn cả, không gì có thể so sánh được Mọi người luôn “thương người như thể thương thân”, vì lẽ đó mà trong quan hệ ứng xử hàng ngày, người Việt Nam luôn đặt tình đặt nghĩa lên trên hết - “vì tình vì nghĩa, ai vì đĩa xôi đầy” Chữ “tình” chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống của mỗi người Trong gia đình, đó là tình cảm “vợ chồng đầu gối tay ấp”, “anh em như thể tay chân”, “công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” Rộng hơn là tình cảm đối với hàng xóm: “Sớm hôm tối lửa tắt đèn vui buồn có nhau” Và rộng hơn cả là tình yêu quê hương đất nước: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống, nhưng chung một giàn”… Do coi trọng chữ “tình” mà trong những cuộc xung đột, người Việt Nam thường cố gắng giải quyết theo phương châm “có lý có tình”, “chín bỏ làm mười”, bởi tình cảm giữa những con người với nhau là quý hơn cả, không thể vì những điều khác mà bỏ đi được - “Một mặt người hơn mười mặt của”, “người sống hơn đống vàng”…

Tinh thần nhân ái, thương yêu con người còn biểu hiện trong sự tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau theo phương châm “lá lành đùm lá rách”, “chị ngã em nâng”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”… Từ tinh thần nhân ái đã tạo nên tinh thần khoan dung,

Trang 39

vị tha, độ lượng ở mỗi người Việt Nam Người xưa thường nói: “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại” Người ta không những vị tha với nhau mà còn vị tha với

kẻ thù Lịch sử đã từng ghi lại rất nhiều rằng, với những tù binh chiến tranh, họ luôn được đối xử tử tế, được mở đường hiếu sinh, được cấp đầy đủ lương thực khi trở về nước

Như vậy, lòng nhân ái, khoan dung là giá trị đạo đức truyền thống đặc trưng của dân tộc Việt Nam, một giá trị rất đáng tự hào Nó gắn liền với tình thương yêu đồng loại và là cái gốc của đạo đức “Không có lòng nhân ái thì không thể có lòng yêu

nước, thương nhân dân được” [24; 175]

Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm

Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm cũng là một giá trị nổi bật trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam Thực ra, để làm ra của cải vật chất thì bất kỳ dân tộc nào cũng phải lao động, cũng phải cần cù, chịu khó Song, đối với dân tộc Việt Nam, một đất nước có nền văn minh nông nghiệp lâu đời thì lao động nông nghiệp là một loại hình lao động vất vả, cần phải hao tốn rất nhiều thời gian và công sức mới có được hạt gạo, bát cơm để ăn Hơn nữa, thiên nhiên lại quá nhiều nắng gió, mưa bão mà nhiều khi mùa nắng thì hạn hán đến cháy đồng, còn mùa mưa thì thường gây ra bão lũ nên quanh năm suốt tháng ai cũng phải lo đắp đập, đào mương lấy nước chống hạn, đắp đê phòng chống lũ lụt Theo Giáo sư Trần Văn Giàu:

“Những người nước ngoài đến Việt Nam đều hết sức ngạc nhiên khi thấy mọi cơ năng của con người Việt Nam đều được dùng để làm việc: đầu đội, vai gánh, lưng cõng, tay nhanh nhẹn và khéo léo, chân chạy như bay” [42; 153] Có thể nói, ngoài

sự khéo léo, nhanh nhẹn, đó còn là một minh chứng thể hiện sự cần cù, chịu khó của con người Việt Nam

Cùng với quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất để duy trì sự sinh tồn của con người, dân tộc Việt Nam còn luôn phải chịu sự xâm lăng của các thế lực bên ngoài Bất cứ cuộc xâm lăng với quy mô, mức độ nào, các thế lực đến xâm lược Việt Nam đều có chung một mục đích là cướp bóc của cải, phá hoại mùa màng nhằm làm cho kinh tế Việt Nam suy yếu để chúng dễ bề thôn tính, cai trị Do đó, để

Trang 40

phòng ngừa và khắc phục hậu quả do các thế lực xâm lược gây ra, nhân dân Việt Nam không còn cách nào khác hơn là phải anh dũng, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm và nhất thiết phải cần cù trong lao động sản xuất của cải vật chất

Như vậy, lao động cần cù không chỉ là một yêu cầu tất yếu để đảm bảo cho sự sinh tồn của con người Việt Nam mà còn là một truyền thống quý báu gắn kết với các giá trị truyền thống khác của dân tộc để chiến thắng kẻ thù xâm lược, chiến thắng đói nghèo Trong dân gian, mọi người luôn nhắc nhở với nhau rằng, “năng nhặt chặt bị”, “kiến tha lâu đầy tổ” và luôn phê phán thói lười biếng, “ăn không ngồi rồi”, vì “nhàn cư vi bất thiện” Lao động cần cù của con người Việt Nam cũng luôn gắn với tiết kiệm, bởi lẽ “buôn tàu, buôn bè không bằng ăn dè, tiết kiệm”, “ăn bữa trước phải ước tính cho bữa sau”, “được mùa chớ phụ ngô khoai, đến khi thất bát lấy ai bạn cùng”, nghèo mà không biết ăn dè, tiết kiệm thì có khác chi “tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống” Cho nên, cần cù lao động gắn với tiết kiệm không chỉ là một giá trị truyền thống mà còn là phương châm sống và hành động của mỗi người Việt Nam

Tinh thần mong muốn cuộc sống bình dị, yên ổn trong hòa bình, đề cao các giá trị văn hóa làng, xã, dòng họ, gia đình

Dân tộc Việt Nam từ thuở khai sinh lập nước cho đến nay đã nếm trải biết bao nỗi đắng cay, thăng trầm, luôn bị kẻ thù bên ngoài dòm ngó, lăm le xâm chiếm Do

đó, hơn bất cứ dân tộc nào khác, dân tộc Việt Nam chỉ mong muốn có được một cuộc sống bình dị trong hòa bình, yên ổn để lao động sản xuất và xây dựng đời sống của chính mình Còn gì hạnh phúc hơn đối với người dân Việt Nam khi được sống trong cảnh thanh bình để “trên đồng cạn, dưới đồng sâu; chồng cày vợ cấy, con trâu

đi bừa”

Dân gian ta có câu: “Quan nhất thời, dân vạn đại” đã bộc lộ mong muốn của người dân muốn sống một cuộc sống bình dị, không quá vướng bận vào cuộc sống quan trường với những bổng lộc nhất thời Người Việt Nam luôn coi trọng các giá trị văn hóa làng, xã và không gì quý bằng quê hương, làng, xã của mình - nơi chôn

Ngày đăng: 07/05/2021, 23:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w