ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 2008 PHÂN TÍCH LỖI SAI CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM TRONG VIỆC SỬ DỤNG T
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 2008
PHÂN TÍCH LỖI SAI CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM TRONG VIỆC SỬ DỤNG TRỢ TỪ ĐỘNG THÁI VÀ TRỢ TỪ KẾT
CẤU CỦA TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
Sinh viên thực hiện Lâm Anh Kiệt Người hướng dẫn khoa học ThS Nguyễn Thị Thu Hằng
Tp Hồ Chí Minh, 2008
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRỢ TỪ 4
1.1 Thế nào là trợ từ 4
1.2 Đặc điểm ngữ pháp của trợ từ 5
1.3 Phân loại trợ từ 6
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH LỖI SAI KHI SỬ DỤNG TRỢ TỪ CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM 9
2.1 Lỗi sai khi sử dụng trợ từ động thái 9
2.2 Lỗi sai khi sử dụng trợ từ kết cấu 27
PHẦN KẾT LUẬN 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
PHẦN PHỤ LỤC 41
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ai cũng đều biết, Hán Ngữ là một trong 5 ngôn ngữ lớn của thế giới, là một trong những ngôn ngữ quốc tế đang phổ biến khắp toàn cầu Đã có người từng nói rằng: “Hán tự của Trung Quốc độc nhất vô nhị trên thế giới!” Là một bộ phận quan trọng của ngôn ngữ, ngữ pháp của tiếng Hán cũng không ngoại lệ Việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hán cho đến nay đã đạt được không ít thành tựu, thế nhưng trước mắt vẫn tồn tại rất nhiều vấn đề về ngữ pháp tiếng Hán còn đang tranh luận, vẫn còn rất nhiều hiện tượng ngữ pháp khiến các nhà nghiên cứu còn đang phân vân, chưa tìm ra được cách giải thích thấu đáo Trợ
từ chính là một trong những vấn đề khó, và vẫn chưa được giải quyết triệt để
ấy Người học tiếng Hán nhìn chung khi sử dụng trợ từ luôn mắc phải không ít lỗi sai Không cần kể chi người nước ngoài, ngay cả chính người Trung Quốc bản xứ cũng không ngoại lệ Có thể nói đây là một thực trạng còn rất phổ biến
Từ đây có thể thấy rằng, làm thế nào để có thể sử dụng được trợ từ một cách chuẩn xác chính là một vấn đề lớn Với niềm say mê đặc biệt đối với tiếng Hán, với hứng thú vô tận trong việc đào sâu nghiên cứu phương pháp sử dụng trợ từ của tiếng Hán cùng với nguyện vọng muốn đóng góp một chút cống hiến nhỏ nhoi cho vấn đề lớn này, tôi mạo muội lấy chủ đề về trợ từ của tiếng Hán làm
đề tài nghiên cứu của mình, tiến hành nghiên cứu, điều tra, phân tích các loại lỗi sai mà sinh viên Việt Nam thường hay mắc phải khi sử dụng nó trong quá trình học tiếng Hán, đồng thời nêu ra những biện pháp sửa chữa thích hợp cho mỗi lỗi sai đó
2 Ý nghĩa và mục đích chọn đề tài
Trong ngữ pháp của tiếng Hán, trợ từ là một từ loại rất đặc biệt và quan trọng Bất kỳ văn bản tiếng Hán nào cũng không thể thiếu được trợ từ Bất kể trong khẩu ngữ hay trong văn viết, trợ từ luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng
Trang 4Hay nói cách khác, trợ từ chính là ngữ tố ngôn ngữ không thể thiếu được trong tiếng Hán Nhưng càng đào sâu nghiên cứu, người ta càng ý thức được rằng, để
có thể nắm vững và sử dụng được trợ từ của tiếng Hán một cách chuẩn xác quả thật không phải là chuyện dễ Trên cơ sở nghiên cứu tỉ mỉ và phân tích cụ thể, tôi hi vọng đề tài này có thể sẽ là một tài liệu có giá trị, có thể đóng góp cho việc tìm ra nguyên nhân dễ mắc lỗi sai khi sử dụng trợ từ, đồng thời cũng đề ra nhiều phương pháp giải quyết Đề tài này sẽ giúp người học tiếng Hán nói chung và sinh viên khoa Ngữ Văn Trung Quốc nói riêng có được một cái nhìn
cụ thể để có thể nắm vững được những kiến thức cơ bản liên quan đến trợ từ
Từ đó có thể tránh được những lỗi sai khi sử dụng trợ từ, thậm chí còn có thể
sử dụng được trợ từ một cách chuẩn xác khi giao tiếp hay soạn thảo văn bản bằng tiếng Hán
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối với đề tài này, tôi lấy việc tìm hiểu nghiên cứu về trợ từ của tiếng Hán làm điểm xuất phát, trong đó đặc biệt chú trọng 2 loại trợ từ lớn: trợ từ động thái và trợ từ kết cấu Nguyên nhân chủ yếu là vì 2 loại trợ từ này đóng vai trò rất quan trọng và có tỷ lệ sử dụng hết sức rộng rãi trong việc sử dụng tiếng Hán Xuất phát từ góc độ này, tôi tiến hành phát phiếu câu hỏi điều tra trên cơ sở lấy sinh viên khoa Ngữ Văn Trung Quốc - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn TPHCM làm đối tượng nghiên cứu điều tra, thống kê và phân loại những lỗi sai thường gặp khi sử dụng 2 loại trợ từ này ở sinh viên, sau đó tiến hành phân tích nguồn gốc lỗi sai và đề ra những biện pháp sửa chữa thích hợp
4 Phương pháp nghiên cứu
Căn cứ vào đề tài nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, tôi tổng hợp chủ yếu một vài phương pháp nghiên cứu sau đây:
Phương pháp phân tích nghiên cứu cá thể (lấy trợ từ động thái và trợ
từ kết cấu làm cá thể nghiên cứu)
Trang 5 Phương pháp thống kê điều tra theo phiếu câu hỏi (lấy sinh viên khoa Ngữ Văn Trung Quốc làm đối tượng điều tra và bản mẫu nghiên cứu)
Phương pháp phân tích nội dung
6 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Hiện nay đã có rất nhiều tài liệu và đề tài nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến trợ từ của tiếng Hán, nhưng phần lớn chỉ đào sâu nghiên cứu, phân tích những kiến thức cơ bản về trợ từ Trong khi đó, tài liệu và đề tài nghiên cứu về việc phân tích những lỗi sai khi sử dụng trợ từ tiếng Hán của người học tiếng Hán, đặc biệt
là của sinh viên Việt Nam lại rất ít và hạn chế Trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu để thực hiện đề tài này, tôi tìm được tài liệu “Phân tích lỗi sai ngữ pháp tiếng Hán của người nước ngoài” của tác giả Lý Đại Chung, được nhà xuất bản Đại Học Văn Hóa Ngôn Ngữ Bắc Kinh xuất bản năm 1996 Có thể nói, đây là một trong số rất ít những tài liệu có giá trị có đề cập đến việc phân tích lỗi sai của người học tiếng Hán Nhưng trong tài liệu này, ở phần phân tích lỗi sai khi sử dụng trợ từ, tác giả chỉ giới thiệu phân tích lỗi sai khi sử dụng trợ từ động thái, không phân tích lỗi sai khi sử dụng trợ từ kết cấu Hơn nữa, tác giả chỉ phân tích lỗi sai trên mặt bằng chung của người nước ngoài học tiếng Hán Từ đó có thể thấy rằng, cho đến hiện nay vẫn chưa có tài liệu nào đào sâu nghiên cứu, phân tích lỗi sai khi sử dụng trợ
từ tiếng Hán của sinh viên Việt Nam, do đó, chưa đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của sinh viên Việt Nam ở mảng kiến thức sử dụng trợ từ này
Trang 6nó đề cập đến không hề thống nhất với nhau, phạm vi cũng hết sức linh hoạt Cuối thế kỷ XIV, khi nhà ngữ pháp học Hán ngữ Mã Kiến Trung viết tác phẩm “Mã Thị Văn Thông” trên cơ sở nghiên cứu và mô phỏng ngữ pháp của các ngôn ngữ phương Tây, ông đã sáng tạo nên một loại “trợ tự” (助字) song song với các hư tự khác, sáng tạo một cách hoàn chỉnh, đầy đủ một tiểu loại hư từ trên cơ sở kế thừa những cách gọi “trợ từ” (助辞), “trợ tự” (助字) của ngữ văn học truyền thống Đó chính là trợ từ (助词) Có thể nói, trợ từ (助词) đóng vai trò là một từ loại trên phương diện ngữ pháp học được đề cập đến một cách rõ ràng lần đầu tiên trong lịch sử ngữ pháp học của tiếng Hán bởi ngài Mã Kiến Trung Kể từ sau sự sáng tạo của Mã Kiến Trung, hầu như bất kỳ quyển sách ngữ pháp, sách giáo khoa tiếng Hán nào cũng đều đề cập đến “trợ từ” (助词) Đến những năm 50 của thế kỷ XX, nhà nghiên cứu Trương Chí Công trên cơ sở tổng hợp quan điểm của các bậc học giả đã nêu ra hệ thống từ loại của trợ từ bao gồm: trợ từ ngữ khí, trợ từ kết cấu, trợ
Trang 7từ động thái Nhưng trải qua quá trình phát triển lâu dài, đối tượng được biểu đạt trong trợ từ tiếng Hán về mặt cơ bản đã có sự thay đổi, chuyển biến Hay nói đúng hơn, “trợ từ” (助词) với ý nghĩa hiện tại và “trợ tự” (助字) mà nhà nghiên cứu Mã Kiến Trung từng đề cập về thực chất đã không còn nhiều điểm tương đồng Sự bổ sung thêm của trợ từ (助词) chẳng qua chỉ là quan hệ kế thừa và sự phát triển sâu
xa ở một mức độ nhất định trên phương diện lịch sử và tên gọi mà thôi
Tôi cho rằng, so với những ngôn ngữ khác, trợ từ chính là một từ loại đặc sắc riêng có của tiếng Hán Trong ngữ pháp của tiếng Hán, trợ từ là một từ loại rất đặc biệt và quan trọng Không giống với thành phần cấu hình và thành phần cấu từ của những ngôn ngữ khác, trợ từ là một loại từ mang tính độc lập tương đối
1.2 Đặc điểm ngữ pháp của trợ từ
Đặc điểm của trợ từ chủ yếu được biểu hiện trên phương diện ngữ âm, ngữ nghĩa
và kết cấu cú pháp Trên cơ sở đào sâu nghiên cứu, tôi cho rằng trợ từ của tiếng Hán hiện đại mang 3 đặc điểm ngữ pháp sau đây:
Thứ nhất, tiểu loại và con số cụ thể của trợ từ không ngừng gia tăng theo thời gian
Ví dụ như vào những năm 50 của thế kỷ XX, trợ từ chỉ được phân thành 3 loại là trợ từ kết cấu, trợ từ động thái và trợ từ ngữ khí nhưng hiện nay đã xuất hiện thêm nhiều loại trợ từ khác như trợ từ thời gian, trợ từ nơi chốn, trợ từ số lượng, trợ từ quan hệ v.v… Hay cụ thể hơn, trong cuốn “Phân tích hư từ Hán ngữ hiện đại” được xuất bản năm 1986 cho rằng có 33 loại trợ từ, nhưng trong cuốn “Từ điển hư
từ Hán ngữ hiện đại” được xuất bản năm 1998 thì lại cho rằng có tới 40 loại trợ từ Thứ hai, giữa các loại trợ từ có sự khác biệt với nhau rất lớn: có loại thì cách dùng
đa dạng, phức tạp; có loại thì cách dùng tương đối đơn giản; có loại tỷ lệ sử dụng rất cao nhưng cũng có loại tỷ lệ sử dụng rất thấp; có loại có chức năng thay thế, chủ yếu biểu thị quan hệ kết cấu; có loại có chức năng phụ trợ hoặc liên kết, có thể
Trang 8biểu thị quan hệ nối tiếp … Nói chung, cho dù các trợ từ cùng thuộc một tiểu loại thì cũng đều mang những đặc trưng, cá tính khác nhau
Thứ ba, giới hạn giữa trợ từ và những từ loại khác như phó từ, liên từ, đại
từ, phương vị từ … đôi khi rất khó phân biệt rõ, giữa chúng hình thành nên hiện tượng đan xen lẫn nhau
Có thể nhận định về điểm chung của trợ từ, đó chính là: trợ từ luôn được đọc bằng khinh thanh, không thể sử dụng riêng lẻ, có khả năng kết hợp rộng rãi, có chức năng cú pháp, đôi khi có thể lược bỏ không dùng
động thái của tiếng Hán chủ yếu có “了”, “着”, “过” Xét về mặt nguồn gốc, đại
đa số trợ từ động thái của tiếng Hán hiện đại đều bắt nguồn từ những động từ của
Hán ngữ cổ đại “了” bắt nguồn từ động từ “了” (liao), có nghĩa gốc là “xong xuôi,
Trang 9kết thúc”; “着” bắt nguồn từ động từ “着” (zhuo), có nghĩa gốc là “phụ thêm, kèm thêm”; “过” bắt nguồn từ động từ “过”, có nghĩa gốc là “kinh qua, trải qua”.1
Trợ từ động thái được đọc bằng khinh thanh, được dùng để biểu thị tiến trình và trạng thái của động tác Đại bộ phận động từ đều có thể mang trợ từ động thái, một
“的” làm từ liên kết giữa định ngữ và trung tâm ngữ (Ví dụ: 洁白的牙齿) Song
song đó, nó còn đứng sau động từ, danh từ, tính từ, đại từ … có tác dụng và đặc
điểm của danh từ (Ví dụ: 我要白的 ) Ngoài ra, nó còn được dùng trong kết cấu
Trang 10“地” được dùng để bổ nghĩa cho động từ hoặc tính từ, tạo thành kết cấu trạng ngữ
Một đặc điểm của trợ từ ngữ khí là có thể sử dụng liền nhau, tạo thành âm tiết
Ví dụ: 呢(ne)+ 啊(a) 哪(na)
了(le)+ 啊(a) 啦 (la)
Trợ từ ngữ khí “啊” còn có thể kết hợp với một âm tiết phía trước, tạo thành một hình thức biến âm mới
Ví duï : 气(qi)+ 啊(a) 气呀 (ya)
好(hao)+ 啊(a) 好哇 (wa)
Nhìn chung, mỗi trợ từ ngữ khí đều có sự biểu thị ngữ khí không giống nhau.Trợ
từ thật sự là một từ loại phức tạp Ngoài 3 loại trợ từ chính đã kể trên, trong đa số các nghiên cứu, tôi thấy các tác giả đa phần còn đề cập thêm nhiều loại trợ từ khác như trợ từ thời gian, trợ từ nơi chốn, trợ từ số lượng, trợ từ quan hệ v.v … Nhưng
vì phạm vi nghiên cứu của đề tài không cho phép cho nên ở chương 1 này, tôi chỉ giới thiệu một cách khái quát về 3 loại trợ từ chính kể trên mà thôi
Trang 11CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH LỖI SAI KHI SỬ DỤNG TRỢ TỪ CỦA
SINH VIÊN VIỆT NAM
Trong chương 2 này, ở cả hai phần trợ từ động thái và trợ từ kết cấu, trước tiên, tôi chú trọng giới thiệu khái quát những đặc điểm quan trọng về ý nghĩa và cách dùng cơ bản của hai loại trợ từ này Trên cơ sở đó, tôi tiến hành phân tích những lỗi sai thường gặp của sinh viên Việt Nam khi sử dụng hai loại trợ từ này
2.1 Lỗi sai khi sử dụng trợ từ động thái
2.1.1 Khái quát về trợ từ động thái
2.1.1.1 Thế nào là trợ từ động thái
Tôi cho rằng, muốn hiểu rõ thế nào là trợ từ động thái, đầu tiên phải kể đến bổ ngữ kết quả và bổ ngữ xu hướng của tiếng Hán Bổ ngữ kết quả và bổ ngữ xu hướng của tiếng Hán ban đầu ít nhiều cũng mang ý nghĩa “hoàn thành” Trong quá trình phát triển của mình, hai bổ ngữ này dần dần phân hóa thành hai loại: một loại còn lưu giữ lại đặc điểm của động từ hoặc tính từ, một loại hư hóa thành trợ từ động thái
Trợ từ động thái phát triển từ bổ ngữ kết quả và bổ ngữ xu hướng mà thành 4, dần dần trở thành thành phần ngữ pháp quan trọng của tiếng Hán hiện đại, hình thành nên một phạm trù ngữ pháp Đây chính là sự phát triển tất yếu của lịch sử
Như tôi đã trình bày ở chương 1, đại đa số trợ từ động thái đều có nguồn gốc từ những động từ của Hán ngữ cổ đại Khoảng đầu thế kỷ VIII, thế kỷ thứ IX, những động từ này bắt đầu hư hóa 5 Trải qua một quá trình tương đối dài, chúng dần dần mất đi thanh điệu vốn có và biến thành khinh thanh, ý nghĩa về mặt từ vựng ban đầu cũng dần dần mất đi, chỉ biểu đạt ý nghĩa về mặt ngữ pháp như “hoàn thành” hay “tiến hành” …, thế là biến thành trợ từ động thái
Trang 122.1.1.2 Đặc điểm ngữ pháp của trợ từ động thái
Mỗi loại trợ từ đều cĩ đặc điểm của riêng nĩ Muốn hiểu rõ đặc điểm ngữ pháp của trợ từ động thái, phải nhìn từ nhiều gĩc độ và tính chất khác nhau, cụ thể như sau:
Trên phương diện ngữ âm, hầu hết các trợ từ động thái đều phải đọc bằng khinh thanh
Trên phương diện kết cấu, trợ từ động thái đều là từ khơng độc lập hoặc bán độc lập, chúng phải được dùng chung với từ, đoản ngữ hoặc trong câu
Trên phương diện ngữ nghĩa, ý nghĩa về mặt từ vựng của trợ từ động thái đã hư hĩa, chúng chỉ biểu thị ý nghĩa về mặt ngữ pháp, khơng biểu thị ý nghĩa về mặt từ vựng
2.1.1.3 Phân loại trợ từ động thái
Trợ từ động thái cĩ thể được chia thành 2 nhĩm: một nhĩm được biến đổi từ bổ ngữ kết quả, bao gồm: “了”,“着”,“过”; một nhĩm được biến đổi từ bổ ngữ xu hướng, bao gồm: “来”và “去”.6 Do điều kiện nghiên cứu cĩ hạn, tơi chỉ chú
trọng giới thiệu ý nghĩa và cách dùng cơ bản của “了”,“着”,“过” Bởi vì đây là nhĩm trợ từ động thái được sử dụng nhiều nhất trong tiếng Hán hiện đại
Trang 13Căn cứ vào vị trí cú pháp của “了”, cĩ thể chia nĩ thành 2 loại: dùng sau động từ
và trước tân ngữ là “了1”, dùng ở cuối câu là “了2”
“了1” được dùng sau động từ mang tính kết thúc biểu thị ý nghĩa hồn thành
“了2” cĩ tác dụng tạo thành câu Bởi vì “động từ +了 1 + danh từ” khơng thể
đứng một mình mà tạo thành câu được, phía sau nĩ thường phải cĩ thêm “了2”
hoặc nối thêm câu nhỏ
Ví dụ : 我到了北京( )我到了北京了。/ 我到了北京打电话给你。
Trừ phi được dùng trong câu trả lời của một cuộc nĩi chuyện, “động từ +了1 + danh từ” mới cĩ khả năng đứng một mình tạo thành câu
Ví dụ: “你已经到了北京吗?”“我到了北京。”
Chức năng ngữ pháp của “了2” chủ yếu được dùng để biểu thị trạng thái của sự
vật khi nĩi chuyện đã cĩ sự thay đổi, đồng thời biểu thị một ngữ khí cụ thể
Ví dụ : 他没有死,他活了
.。
两年没见你,你跟从前不一样了
.。
Trang 14“了1” và“了2” cĩ thể được dùng lần lượt trong 2 câu hoặc dùng chung trong 1
câu, vừa biểu thị ý nghĩa hồn thành, vừa biểu thị ý nghĩa thay đổi
Trang 15Căn cứ vào việc “着” có thể xuất hiện cùng với phó từ “在”“正”“正在” hay không, ta có thể chia “着” thành 2 loại: không thể đi chung với “在”“正”“正在” là
“着1”, có thể đi chung với “在”“正”“正在” là “着2”
“着1” được dùng sau động từ hoặc tính từ biểu thị sự kéo dài của động tác hoặc
Động từ mang “着1” thường kết hợp với những đoản ngữ động từ khác tạo thành
hình thức liên động, biểu thị những trạng thái hoặc phương thức nào đó
Ví dụ : 他低着
“着1” cũng thường được dùng trong câu tồn hiện, biểu thị sự kéo dài của một
động tác hoặc trạng thái nào đó
Ví dụ: 门口坐着
“着2” được dùng sau động từ biểu thị động tác đang được diễn ra Phía trước
động từ mang “着2” có thể thêm vào phó từ “在”“正”“正在”, cuối câu có thể
thêm trợ từ ngữ khí “呢” biểu thị ý nghĩa tiếp diễn
Ví dụ: 我们跟着呢
Trang 16Phía trước động từ mang “着2” thêm vào những phó từ như “早就” “已经” … có
thể biểu thị ý nghĩa tiếp diễn trong quá khứ
Ví dụ: 她早就
Phía trước động từ mang “着 2” thêm vào những từ như “永远” “多少年来” …
biểu thị động tác đang được diễn ra liên tục từ quá khứ đến hiện tại
Trang 172.1.1.3.3 过
Căn cứ vào việc trợ từ động thái “过” có thể xuất hiện chung với phó từ “曾经” hay không, ta có thể chia “过” thành 2 loại: không thể đi chung với “曾经” là “过
1”, có thể đi chung với “曾经” là “过2”
“过1” được dùng sau động từ biểu thị động tác đã kết thúc, có lúc phía sau còn có
thể thêm “了1”
Ví dụ: 她洗过了
“过2” được dùng sau động từ hoặc tính từ biểu thị một động tác nào đó đã từng
xảy ra hoặc một trạng thái nào đó đã từng tồn tại, nhưng hiện tại động tác đó đã không còn diễn ra nữa hoặc trạng thái đó đã không còn tồn tại nữa
Ví dụ : 当年,我也曾
Có những động từ mang “过2” mặc dù phía trước không xuất hiện “曾经”, nhưng
xét về mặt ngữ nghĩa thì có thể dùng thêm “曾经” hoặc những từ ngữ khác hàm chứa ý nghĩa “曾经” (đã từng)
Ví dụ: 他从前爱过
“从前爱过
.”. tức là “trước đây đã từng yêu, hiện tại không còn yêu nữa”
Hình thức phủ định của động từ hoặc tính từ mang “过2” là thêm “没(有)”
vào phía trước
Trang 18Ví dụ: 他没
.跟谁红过.脸,没.跟谁吵过.嘴。
“过2” cũng có thể được dùng “不曾”“未曾” biểu thị ý nghĩa phủ định, nhưng
mang sắc thái của văn viết
2.1.2 Phân tích lỗi sai và cách sữa lỗi
Để tìm hiểu và phân tích lỗi sai của sinh viên Việt Nam khi sử dụng các trợ từ này, tôi đã tiến hành phương pháp điều tra thực tế, cụ thể là: tôi nêu ra 12 ví dụ bằng tiếng Việt có liên quan đến trợ từ của tiếng Hán hiện đại (chủ yếu là trợ từ động thái và trợ từ kết cấu), sau đó tôi yêu cầu sinh viên đang theo học năm 2, 3, 4 của khoa Ngữ Văn Trung Quốc – Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn TPHCM dịch những ví dụ này sang tiếng Hán Trên cơ sở những phiếu điều tra thu được, tôi tiến hành thống kê, phân loại, tìm ra và phân tích những lỗi sai điển hình, phổ biến nhất có liên quan đến trợ từ của các sinh viên, đồng thời nêu ra những biện pháp sửa chữa thích hợp
Trên thực tế, trợ từ động thái là một trong những điểm khó nổi bật đối với sinh viên Việt Nam Trong những ví dụ thực tế về lỗi sai của sinh viên mà tôi thu được, lỗi sai về loại trợ từ này không những đứng đầu về số lượng mà các loại hình lỗi sai cũng tương đối đa dạng Sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên nhân khác nhau: tỷ
lệ sử dụng của trợ từ động thái rất cao, cách dùng loại trợ từ này cũng hết sức phức
Trang 19tạp, những nghiên cứu của giới học thuật về nó còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế, sinh viên Việt Nam khi sử dụng tiếng Hán còn chịu sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ v.v…
Cũng xin được nói rõ, thông qua điều tra thực tế, khi tiến hành phân tích lỗi sai, tôi phân các loại lỗi sai thành từng nhóm theo từng ví dụ tiếng Việt, mỗi nhóm lỗi sai đều có ví dụ minh họa cụ thể, sau đó nêu ra cách sửa lỗi thích hợp Cụ thể như sau:
A Dường như cô ấy bắt đầu hiểu được một chút rồi!
Động từ động tác biểu thị một động tác có điểm xuất phát, có thể kéo dài, có điểm kết thúc, chẳng hạn như: “跑”, “跳”, “搬”, “看”, “听”, “说” … Loại động từ này dùng thêm “了” có thể biểu thị một động tác được thực hiện Động từ trạng thái không biểu thị động tác mà biểu thị một trạng thái có điểm xuất phát, có thể kéo
7
Lưu Nguyệt Hoa, Phan Văn Ngu (2002), “Ngữ pháp Hán ngữ hiện đại thực dụng”, Nhà xuất bản Thương
Vụ, tr.362
Trang 20dài nhưng không có điểm kết thúc, ví dụ như _: “俄”, “生气”, “累”, “困” … Loại động từ này dùng thêm “了” để biểu thị một trạng thái được xuất hiện Động từ mang tính kết thúc biểu thị một động tác vừa xảy ra thì liền kết thúc, tức là động tác đó không có giai đoạn kéo dài, điểm xuất phát và điểm kết thúc chỉ là một, ví
dụ như : “毕业”, “结婚”, “死”, “知道”, “懂”, “忘” … Loại động từ này khi kết hợp với “了” sẽ biểu thị động tác vừa xảy ra thì đã kết thúc, hoàn thành
“懂” được dùng trong câu gốc chính là động từ mang tính kết thúc Lỗi của câu sai này chính là thiếu trợ từ động thái “了”, không thể biểu thị được ý nghĩa vốn
có của câu gốc, cho nên câu dịch này không thể tồn tại
Tôi cho rằng cách sửa thích hợp đối với lỗi sai này là thêm trợ từ động thái “了” vào sau động từ “懂”
Trong quá trình điều tra thực tế, tôi thấy đại bộ phận sinh viên mắc phải lỗi sai này chủ yếu là những sinh viên năm 2
Loại lỗi sai thứ hai : Thay trợ từ động thái bằng trợ từ kết cấu
Ví dụ : 她好像开始懂得
.一点。
Động từ hoặc tính từ mang trợ từ kết cấu “得” tạo thành kết cấu bổ ngữ, biểu thị ý nghĩa tình thái, trình độ, xu hướng, kết quả… ( ví dụ: 怕得要死,听得清楚 ) Trong trường hợp này, nếu dùng “得” thay thế cho “了” thì không thể diễn đạt được ý nghĩa “động tác đã hoàn thành” một cách triệt để, thấu đáo
Cách sửa thích hợp đối với lỗi sai này là bỏ trợ từ kết cấu _ “得”, sau đó thêm trợ
từ động thái “了” vào sau động từ mang tính kết thúc _ “懂”
Trang 21B Đã đến lúc anh ấy phải đi rồi
Đáp án: 到了
Loại lỗi sai thứ nhất: Thiếu trợ từ động thái “了 1 ”
Ví dụ : 已到他要走的时候了。
Như đã trình bày ở chương 1, căn cứ vào vị trí cú pháp của “了” mà có thể chia
nó thành 2 loại: loại được dùng sau động từ, trước tân ngữ là “了1” ; loại được
dùng ở cuối câu là “了2”
Cũng nên nhắc lại rằng, “了1” được dùng sau động từ mang tính kết thúc biểu thị
ý nghĩa hoàn thành và được dùng sau động từ mang tính kéo dài biểu thị ý nghĩa thực hiện “了 2” chủ yếu được dùng để biểu thị trạng thái của sự vật khi nói
chuyện đã có sự thay đổi, đồng thời biểu thị một ngữ khí cụ thể “了1” và “了2”
có thể được dùng chung trong một câu, vừa biểu thị ý nghĩa hoàn thành, vừa biểu thị ý nghĩa thay đổi Cho nên, nhìn từ phương diện ý nghĩa của câu gốc, trợ từ
“了” dùng sau động từ _ “到” là “了1” biểu thị ý nghĩa hoàn thành, còn trợ từ
“了” dùng ở cuối câu này là “了2” biểu thị ý nghĩa thay đổi
Do câu sai này thiếu trợ từ động thái “了1” làm cho câu gốc thiếu đi ý nghĩa
“hoàn thành”, cho nên nội dung tư tưởng của câu gốc chưa được diễn đạt đầy đủ Đối với lỗi sai này, cách sửa lại rất đơn giản, chỉ cần thêm trợ từ động thái “了1”
vào sau động từ_ “到” thì nội dung ý nghĩa chủ yếu của câu gốc sẽ được diễn đạt trọn vẹn
Trang 22 Loại lỗi sai thứ hai : Thiếu trợ từ động thái “了 2 ”
Ví dụ : 已到了他要走的时候。
Căn cứ vào lỗi sai thứ nhất đã phân tích trên, ta có thể thấy ngay lỗi trong câu sai này là thiếu trợ từ động thái “了2”, tức là cũng tương tự như trên, lỗi sai này làm cho câu gốc thiếu đi ý nghĩa “thay đổi” Từ đó, câu dịch này không thể tồn tại Cách sửa đối với lỗi sai này cũng gần như trên, tức là thêm trợ từ động thái “了2” vào cuối câu
Thông qua kết quả điều tra cho thấy, đại bộ phận sinh viên mắc phải những lỗi sai này chủ yếu là những sinh viên năm 3 và năm 4
Loại lỗi sai thứ ba: Thiếu cả hai trợ từ động thái “了 1 ” và “了 2 ”
Ví dụ : 已经到他要走的时候。
Từ ví dụ trên, ta có thể thấy ngay, cả 2 ý nghĩa “hoàn thành” và “thay đổi” của câu gốc đều không được biểu đạt trong câu dịch này Do chịu sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ, cho nên hầu hết sinh viên Việt Nam khi dịch câu này sang tiếng Hán đều bỏ hết cả 2 trợ từ động thái “了1” và “了2”, chỉ dùng _ “已经” đặt ở đầu câu
để biểu đạt ý nghĩa “hoàn thành” theo cách nói thông thường của người Việt Từ
đó làm mất đi ý nghĩa vốn có của câu gốc
Theo tôi, để sửa lại câu này cho đúng thì trước tiên nên bỏ đi từ “已经”, sau đó lần lượt thêm “了1” vào sau động từ _ “到” và “了2” vào cuối câu
Loại lỗi sai thứ tư : Hoàn toàn không có thành phần diễn đạt ý nghĩa “hoàn thành”
Ví dụ : _ (1)他要去了。