1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm của ph ăngghen về mối quan hệ biện chứng giữa con người xã hội tự nhiên trong tác phẩm biện chứng của tự nhiên

132 31 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 756,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tình hình như thế, nhiệm vụ khái quát về mặt triết học những kết quả của khoa học tự nhiên cùng toàn bộ tiến trình phát triển của khoa học tự nhiên được đề ra một cách bức thiết nh

Trang 1

-

PHẠM THỊ YẾN

QUAN ĐIỂM CỦA PH ĂNGGHEN

VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CON NGƯỜI – XÃ HỘI – TỰ NHIÊN TRONG

TÁC PHẨM BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2013

Trang 2

-

PHẠM THỊ YẾN

QUAN ĐIỂM CỦA PH ĂNGGHEN

VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CON NGƯỜI – XÃ HỘI – TỰ NHIÊN TRONG

TÁC PHẨM BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả quá trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Đinh Ngọc Thạch, tại Tp Hồ Chí Minh, năm 2013 Công trình này chưa từng được ai công bố Nếu có điều gì sai trái, tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm

Người thực hiện

PHẠM THỊ YẾN

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TÁC PHẨM BIỆN CHỨNG CỦA

TỰ NHIÊN 10

1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, KẾT CẤU VÀ MỤC ĐÍCH CỦA

TÁC PHẨM BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN 10

1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội hình thành tác phẩm Biện chứng của

tự nhiên 10

1.1.2 Kết cấu và mục đích của tác phẩm Biện chứng của tự nhiên 19

1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ VỊ TRÍ CỦA TÁC PHẨM BIỆN CHỨNG

CỦA TỰ NHIÊN 24

1.2.1 Những nội dung cơ bản của tác phẩm Biện Chứng của tự nhiên 24

1.2.2 Vị trí của tác phẩm Biện chứng của tự nhiên trong chủ

nghĩa Mác 41

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 46

Chương 2: BIỆN CHỨNG TỰ NHIÊN – CON NGƯỜI – XÃ HỘI

TRONG TÁC PHẨM BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN 47

2.1 VẤN ĐỀ NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI TRONG

TÁC PHẨM BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN 47

2.1.1 Nguồn gốc tự nhiên của con người trong tác phẩm Biện chứng của

tự nhiên 48

2.1.2 Nguồn gốc xã hội và bản chất của con người trong tác phẩm Biện

chứng của tự nhiên 64

2.2 VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG

VỚI TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI 77

2.2.1 Mối quan hệ biện chứng tự nhiên và con người 77

Trang 5

2.3 Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG TỰ NHIÊN – CON NGƯỜI – XÃ HỘI TRONG TÁC PHẨM

BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN 100

2.3.1 Ý nghĩa của tư tưởng biện chứng tự nhiên - con người – xã hội đối với vấn đề phát huy nhân tố con người trong giai đoạn hiện nay 100

2.3.2 Ý nghĩa của tư tưởng biện chứng tự nhiên - con người - xã hội đối với việc xây dựng môi trường sinh thái nhân văn trong điều kiện hiện nay 105

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 113

KẾT LUẬN 115

TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Từ xưa đến nay, trong suốt quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người, con người bao giờ cũng là vấn đề trung tâm của triết học và là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học khác Ở giai đoạn hiện nay, khi mà con người trở thành điểm gặp gỡ của khoa học – kỹ thuật, văn hóa và toàn

bộ lịch sử thế giới, khi vận mệnh con người gắn liền với sự phát triển tiếp tục của toàn xã hội thì vấn đề con người, mối quan hệ giữa tự nhiên – con người – xã hội đang trở thành một vấn đề thực tiễn, có ảnh hưởng lớn đến việc phát triển của Việt Nam nói riêng và thế giới loài người nói chung

Trong thời đại ngày nay, một số trào lưu triết học phương Tây, như chủ nghĩa Đácuyn xã hội (Social Darwinism), chủ nghĩa phân biệt chủng tộc (Apartheid), thuyết ưu sinh (Eugenics)… đang trở lại với quan điểm chỉ thừa nhận một cơ sở duy nhất tạo nên bản chất con người – cơ sở sinh học Những trào lưu như trên thừa nhận mọi hành vi của con người đều được quy định và chỉ được quy định bởi các gen di truyền, để trên cơ sở đó xem xét các hiện tượng văn hóa – lịch sử thông qua quá trình tiến hóa của giới tự nhiên, sự chọn lọc tự nhiên và cuộc đấu tranh sinh tồn trong giới tự nhiên ấy nhằm phục vụ cho những mục đích chính trị phản động Chính vì lẽ đó, nhiệm vụ của công tác nghiên cứu lý luận hiện nay là phải bảo vệ quan điểm của chủ nghĩa Mác, rằng con người là một thực thể sinh học – xã hội, và mối quan hệ giữa tự nhiên – con người – xã hội là một thể thống nhất trong cân bằng Một bên là tự nhiên với con người, xã hội, một bên là con người với

xã hội Theo đó, mọi quan điểm tuyệt đối hóa mặt này hay mặt kia dưới mọi hình thức, phục vụ cho bất kỳ mục đích nào đều đáng bị lên án và bác bỏ

Và để bảo vệ được chủ nghĩa Mác – Lênin trước những luận điểm xuyên tạc, phản động thì không gì khác hơn là quay trở về nghiên cứu các tác

Trang 7

phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin Trong hệ thống đồ sộ đó, Biện

chứng của tự nhiên là một tác phẩm có ý nghĩa quan trọng, cần được khai

thác về nhiều mặt, đặc biệt là tư tưởng về mối quan hệ giữa tự nhiên - con người – xã hội

Mặt khác, hiện nay con người đã và đang phải đương đầu với những vấn đề mà tính nghiêm trọng của nó thì tất cả những thế kỷ đã qua gộp lại cũng chưa thể so sánh được Xã hội hiện đại, trên cơ sở những thành công kỳ diệu về kinh tế và về khoa học – công nghệ đã làm cho con người có vai trò ngày càng lớn hơn trong việc ứng xử với tự nhiên Những thành công đó mặc

dù đã giúp con người khống chế giới tự nhiên ngày càng nhiều hơn, nhưng không vì thế mà con người tránh được những nguy cơ khó lường hơn từ giới

tự nhiên Giới tự nhiên, cái nôi sống của con người đã trở nên dễ tổn thương hơn nhiều trong nhịp sống công nghiệp Kẻ thù nguy hiểm nhất của giới tự nhiên, không ai khác, hóa ra lại là con người Sự thành công của con người trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội và khoa học – công nghệ, thành ra lại làm tăng thêm khả năng con người trở thành kẻ thù của giới tự nhiên Và vì thế, giới tự nhiên cũng luôn luôn rình rập báo thù con người Do vậy, mối quan

hệ của con người – xã hội với giới tự nhiên đòi hỏi phải được suy nghĩ sâu sắc ở tầm triết học Việc tìm ra cho được triết lý sáng suốt để định hướng và điều chỉnh hành vi của con người, xã hội loài người đối với giới tự nhiên là

vấn đề có ý nghĩa sống còn Biện chứng của tự nhiên là tác phẩm điển hình

nhất của chủ nghĩa Mác về thái độ tôn trọng tự nhiên, bảo vệ tự nhiên Vì thế, theo chúng tôi phân tích và luận giải những quan điểm về mối quan hệ giữa tự nhiên - con người - xã hội trong tác phẩm này, sẽ giúp chúng ta rút

ra được những triết lý sâu sắc để định hướng và điều chỉnh mối quan hệ này

Con người là một thực thể sinh học - xã hội Con người tồn tại và phát triển phải gắn chặt với cả tự nhiên lẫn xã hội Trong quá trình lịch sử - tự

Trang 8

nhiên của sự phát triển xã hội, các mối quan hệ giữa tự nhiên và con người, giữa con người với con người luôn biến đổi và cũng luôn thống nhất với nhau Để duy trì sự thống nhất ấy thì con người và xã hội loài người luôn giữ vai trò chủ đạo (vì con người là một thực thể duy nhất có ý thức, và điều khiển được ý thức của mình trong các quan hệ với giới tự nhiên) Vì vậy, phát huy nhân tố con người và phát triển con người là lời giải đáp cho sự phát triển kinh tế - xã hội và cho việc giải quyết các vấn đề phát sinh từ mối quan hệ giữa tự nhiên - con người - xã hội trong thời đại ngày nay Thông qua việc nghiên cứu vấn đề con người và các mối quan hệ giữa con người

với tự nhiên và giữa con người với con người trong tác phẩm Biện chứng

của tự nhiên, luận văn muốn được góp thêm vào việc luận giải một cách có

hệ thống những quan điểm của Ph Ăngghen về con người và về mối quan

hệ giữa tự nhiên - con người - xã hội, từ đó rút ra ý nghĩa lịch sử và liên hệ một số vấn đề thực tiễn trong việc phát triển con người và xã hội hiện nay

Xuất phát từ những ý nghĩa và mục đích như trên, học viên lựa chọn

đề tài “Quan điểm của Ph Ăngghen về mối quan hệ biện chứng giữa con

người - xã hội - tự nhiên trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên” làm

luận văn thạc sĩ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Có thể khẳng định vấn đề con người, mối quan hệ giữa tự nhiên - con người - xã hội và việc phát triển con người là một trong những vấn đề được nhiều trường phái triết học cũng như các nhà triết học trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm Trong đó, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu và những hướng nghiên cứu chủ đạo sau:

Hướng thứ nhất, nghiên cứu, phân tích những tư tưởng, luận điểm

chính của toàn bộ tác phẩm Biện chứng của tự nhiên Từ đó làm sáng tỏ giá

trị và ý nghĩa mang tính thời đại về cả lý luận và thực tiễn của tác phẩm Các

Trang 9

công trình tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có thể kể đến như: Cuốn

sách Tác phẩm Biện chứng của tự nhiên và ý nghĩa hiện thời của nó của GS

TS Nguyễn Trọng Chuẩn và cuốn Giới thiệu tác phẩm Biện chứng của tự

nhiên của Ăngghen của PGS Nguyễn Bằng Tường, Vấn đề triết học trong tác phẩm của C Mác – Ph Ăngghen và V.I Lênin (Doãn Chính – Đinh

Ngọc Thạch chủ biên), …

Hướng nghiên cứu thứ hai của đề tài là nghiên cứu, phân tích một cách khái quát quá trình phát triển những luận điểm về con người, nguồn gốc, bản chất con người và mối quan hệ giữa tự nhiên – con người – xã hội của C Mác và Ph Ăngghen, và vận dụng những quan điểm đó vào việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay Một số công trình

nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến như sau: Con người và phát triển con

người trong quan niệm của C Mác – Ph Ăngghen, Con người và phát triển con người (Giáo trình dùng cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành triết học), Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong

sự phát triển xã hội của tác giả, nhà nghiên cứu Hồ Sĩ Quý; Quan niệm của

C Mác, Ph Ăngghen về con người và sự nghiệp giải phóng con người (sách tham khảo) (TS Bùi Bà Linh), Vấn đề tiềm năng con người và Phát triển giáo dục, phát triển con người, phục vụ phát triển kinh tế (Phạm Minh Hạc

biên soạn), Vấn đề con người và giáo dục nhìn từ góc độ xã hội và Phát

triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (tái bản) (Nguyễn Thanh), Mấy vấn đề triết học về xã hội và phát triển con người

(Nguyễn Văn Huyên biên soạn), Bàn về chiến lược con người (Viện Thông tin Khoa học – Kỹ thuật Trung ương xuất bản), Khoa học con người và phát

triển nguồn nhân lực (Hồ Bá Thâm biên soạn), Triết học Mác – Lênin về con người và việc xây dựng con người trong thời công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Vũ Thiện Vương)

Trang 10

Hướng thứ ba, nghiên cứu, trình bày một cách khái quát vấn đề con người và các quan điểm về con người trong các học thuyết triết học từ thời

kỳ cổ đại cho đến những tư tưởng về con người trong các học thuyết ở phương Tây hiện đại Từ đó nêu bật được tính khoa học và cách mạng trong quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin vào việc phát triển con người, phát

triển xã hội Việt Nam hiện nay Quyển Vấn đề xây dựng con người mới

(Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978), và một số tác phẩm của các tác giả

nước ngoài được dịch sang tiếng Việt như Triết học xã hội (tập II) của A G Xpirkin do Phạm Huy Châu dịch, Con người – những ý kiến mới về một đề

tài cũ (gồm 2 tập) của tập thể các nhà khoa học Liên Xô và Cộng hòa Dân

chủ Đức (An Mạnh Toàn dịch), Con người và tư tưởng phương Tây do Nguyễn Kiên Trường dịch (Nxb Từ điển bách khoa, 2007); Bản chất con

người có thể thay đổi do Hồng Diễm dịch (Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2008),

là những công trình tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này

Hướng thứ tư, nghiên cứu, phân tích vai trò của con người trong mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với giải quyết các vấn đề môi trường sinh thái, từ đó đề xuất các giải pháp để giải quyết các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội và môi trường, phát triển bền vững … Hướng này,

có các công trình của các tác giả, tiêu biểu như: công trình Môi trường sinh

thái, vấn đề và giải pháp của PGS PTS Phạm Thị Ngọc Trầm, cuốn Ý thức sinh thái và vấn đề phát triển lâu bền của TS Phạm Văn Boong, bài viết Một số nguyên tắc phương pháp luận căn bản của việc giải quyết mối quan

hệ giữa hiện đại hóa xã hội và môi trường sinh thái của tác giả Lương Đình

Hải (tạp chí Triết học số 6 (181), tháng 6 năm 2006), công trình Một số vấn

đề về bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay của TS

Nguyễn Văn Ngừng, bài viết Cơ sở triết học nghiên cứu mối quan hệ giữa

tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường của tác giả Bùi Văn Dũng (tạp chí

Trang 11

Triết học số 4 (167), tháng 4 năm 2005),… những công trình nghiên cứu trên là tài liệu hết sức bổ ích cho việc nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Ngoài những tác phẩm nghiên cứu tiêu biểu trên, tác giả còn tiếp cận được với một số bài báo khoa học khảo cứu về vấn đề con người và những

vấn đề liên quan như bài viết Tư tưởng của Ph Ăngghen về sự phát triển

người và giá trị của nó (PGS TS Phạm Văn Đức, tạp chí Triết học, 2003,

số 11), bài Học thuyết Mác về con người và phát triển con người với sự

nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay (tạp chí Khoa học xã hội, số 7(95), 2006),

bài Phát triển con người – thước đo nhân văn của tiến bộ xã hội trong thời

đại ngày nay và trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam (tạp chí Khoa học xã

hội, số 6 (82), 2005), hay bài Sự thống nhất biện chứng của các mối quan hệ

“con người và con người”, “con người và tự nhiên” trong quá trình lịch sử

tự nhiên của PTS Phạm Thị Ngọc Trầm (tạp chí Triết học, 6/1991, số 2) Các

bài viết trên đã đưa lại cách nhìn khái quát về vấn đề con người cũng như mối quan hệ giữa con người đối với xã hội, đối với tự nhiên trong quá trình phát triển các luận điểm triết học của C Mác và Ph.Ăngghen, và vấn đề phát triển con người trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam

Thêm nữa, có thể tra cứu và tìm hiểu về tác giả Ph Ăngghen, về tác

phẩm Biện chứng của tự nhiên, về tư tưởng con người, mối quan hệ giữa tự

nhiên - con người - xã hội qua một số địa chỉ website như: http://vi.wikipedia.org.vn; http://cpv.org.vn; http://bachkhoatoanthu.gov.vn;

Trang 12

các nhà nghiên cứu quan tâm Những nghiên cứu, phân tích, đánh giá của các tác giả về những vấn đề trên ở nhiều khía cạnh khác nhau đã cung cấp một nguồn tài liệu quý báu cho tác giả kế thừa và phát triển đề tài

Vì thế, luận văn là sự nỗ lực trong việc trình bày và hệ thống hóa tư tưởng triết học của Ph Ăngghen về con người và mối quan hệ giữa tự nhiên

- con người – xã hội trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên Và do đó,

trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn không thể không tránh khỏi những khó khăn, thiếu sót nhất định

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn

Mục đích của luận văn là nghiên cứu, phân tích, làm sáng tỏ quan điểm của Ph Ăngghen về nguồn gốc, bản chất con người và mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên - con người - xã hội Trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa lịch sử của tư tưởng về quan hệ biện chứng giữa tự nhiên - con người - xã

hội trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên

Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, khái quát về quá trình hình thành, kết cấu, mục đích, nội

dung cơ bản và đánh giá vị trí của tác phẩm Biện chứng của tự nhiên

Thứ hai, trình bày, phân tích nội dung quan điểm của Ph Ăngghen về

nguồn gốc, bản chất con người và sự thống nhất biện chứng giữa tự nhiên -

con người - xã hội trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên

Thứ ba, rút ra ý nghĩa lịch sử của tư tưởng về mối quan hệ biện chứng

giữa tự nhiên - con người - xã hội trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên;

đồng thời bước đầu liên hệ một số vấn đề xã hội mới hiện nay

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn tập trung tìm hiểu nội dung quan điểm của Ph Ăngghen về

Trang 13

nguồn gốc, bản chất con người và sự thống nhất biện chứng giữa tự nhiên - con người - xã hội Mặc dù sự nghiệp triết học của Ph Ăngghen cùng với những tác phẩm triết học của ông là rất phong phú, với một lượng không nhỏ tác phẩm Nhưng tác giả đi sâu tập trung khảo cứu nội dung trên trong

tác phẩm Biện chứng của tự nhiên

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp logic và phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp – diễn dịch, phương pháp so sánh, đối chiếu …

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần trình bày một cách có hệ thống những nội dung cơ bản quan điểm của Ph Ăngghen về vấn đề nguồn gốc, bản chất con người và

sự thống nhất biện chứng giữa tự nhiên - con người - xã hội Trên cơ sở đó, luận văn rút ra ý nghĩa lịch sử của quan điểm về con người, về mối quan hệ

giữa tự nhiên - con người - xã hội trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên

Nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập các chuyên đề về con người, về mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên – con người – xã hội và các vấn đề liên quan đến đề tài

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành hai chương, năm tiết:

Trang 14

Chương 1 Khái quát về tác phẩm Biện chứng của tự nhiên

Gồm 2 tiết (chia thành 4 tiểu tiết):

1.1 Quá trình hình thành, kết cấu và mục đích của tác phẩm Biện chứng

của tự nhiên

2.2 Những nội dung cơ bản và vị trí của tác phẩm Biện chứng của tự nhiên

Chương 2 Biện chứng tự nhiên – con người – xã hội trong tác phẩm

Biện chứng của tự nhiên

Gồm 3 tiết (chia thành 6 tiểu tiết):

2.1 Vấn đề nguồn gốc và bản chất con người trong tác phẩm Biện chứng

của tự nhiên

2.2 Vấn đề con người đặt trong mối quan hệ biện chứng với tự nhiên và

xã hội

2.3 Ý nghĩa lịch sử của tư tưởng về quan hệ biện chứng tự nhiên – con

người – xã hội trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên

Trang 15

Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ TÁC PHẨM BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN

1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, KẾT CẤU VÀ MỤC ĐÍCH

CỦA TÁC PHẨM BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN

1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội hình thành tác phẩm Biện chứng

của tự nhiên

Ph Ăngghen (Friedrich Engels) sinh năm 1820 mất năm 1895, là

“Nhà lý luận thiên tài và nhà cách mạng vô sản vĩ đại, một trong những người sáng lập ra chủ nghĩa Mác, người bạn và người đồng chí gần gũi của

C Mác” [96, tr 797]

Khác với C Mác, Ph Ăngghen sinh ra và lớn lên trong một gia đình

tư bản và ngoan đạo Song, hoàn cảnh kinh tế xã hội hay nói cách khác những tiến bộ của nền công nghiệp lớn đã quyết định sự hình thành những đội ngũ đầu tiên của giai cấp vô sản hiện đại và mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản đã bộc lộ rõ Bản thân Ph Ăngghen, với bản chất nhân đạo của mình, đã quan tâm tha thiết tới các vấn đề xã hội nhiều hơn các vấn

đề chính trị Đâu đâu, ông cũng chứng kiến cảnh áp bức xã hội đè nặng lên quần chúng công nhân, cảnh đói khổ cùng cực của họ trong thời đại chủ nghĩa tư bản sơ kỳ Công nhân không có pháp luật xã hội hay tổ chức nghề nghiệp bênh vực Tình cảnh đó ảnh hưởng sâu sắc và có tác dụng quyết định đối với sự phát triển tư tưởng của Ph Ăngghen sau này Nếu như C Mác đã

khác trong Lời nói đầu cho tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của

Trang 16

lại thấy từ đời sống xã hội cần phải có triết học để xây dựng cho con người một thế giới quan khoa học, cách mạng trong cuộc đấu tranh chống lại mọi

áp bức bất công trong xã hội, giải phóng người dân lao động, giải phóng con người Vì thế, ngay từ buổi bình minh của cuộc đời ông đã tuyên bố:

“Chúng tôi sẽ đấu tranh và đổ máu, chúng tôi sẽ không run sợ nhìn thẳng vào cặp mắt man rợ của kẻ thù và sẽ chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng!” [56,226] Chính phương châm đầy cao thượng ấy đã quy định nguyên tắc sống chủ yếu của Ph Ăngghen, toàn bộ hoạt động cách mạng sôi nổi của ông đã chứng minh hùng hồn cho điều đó

Cũng như C Mác, Ph Ăngghen là một người có tri thức đặc biệt toàn diện Kiến thức nhiều mặt của ông khiến nhiều người phải kinh ngạc Êlê-ô-norơ Mác Êvơ-linh (con gái út của C Mác và Gienny) đã viết trong hồi ký của mình về Ph Ăngghen: “cũng như sự minh mẫn trẻ trung và tốt bụng của ông, tài ba nhiều mặt của Ph Ăngghen thật đáng ngạc nhiên, không có gì xa

lạ với ông Vạn vật học, hóa học, thực vật học, vật lý học, ngôn ngữ và văn học (báo “Phi-ga-rô” trong năm 1970 đã viết: “Ph Ăngghen nói được 20 thứ tiếng”), kinh tế chính trị học, ” [xem 2, tr 9-10]

Những năm sống ở Anh (1842 - 1844) là thời kỳ Ph Ăngghen chuyển tiếp sang lập trường của chủ nghĩa xã hội khoa học (Scientific - socialism)

và chủ nghĩa duy vật biện chứng (Dialectical materialism) Năm 1844 trên đường từ Anh trở về Đức, Ph Ăngghen ghé qua Pari, ở đó ông gặp C Mác Cuộc gặp gỡ này bộc lộ sự thống nhất hoàn toàn các quan điểm của họ và

mở đầu tình bạn chưa từng có, một tình bạn lâu dài, một sự hợp tác sáng tạo trong việc xây dựng lý luận chủ nghĩa cộng sản khoa học và trong việc lãnh

Hêghen, C Mác nhấn mạnh: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được

sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào lực lượng quần chúng” và “Giống như triết học tìm thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của

mình, giai cấp vô sản cũng tìm thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình” [51, 570, 589]

Trang 17

đạo cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản thế giới C Mác mà Ph Ăngghen đã kết giao (tháng 11 năm 1842) là người đã giúp đỡ Ph Ăngghen thoát khỏi chủ nghĩa cộng sản đạo đức (Communist morality) trừu tượng một

cách dứt khoát Bài báo đăng năm 1844 trong Niên giám Pháp – Đức của Ph Ăngghen có tên Lược thảo phê phán khoa kinh tế chính trị và những tác

phẩm khác đã chỉ rõ ràng những con đường phát triển tư tưởng của hai ông trùng hợp nhau về phương hướng Từ đó, giữa C Mác và Ph Ăngghen có sự trao đổi thư từ thường xuyên, mở đầu cho tình bạn keo sơn của hai ông

Sự thống nhất giữa lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội, thống nhất giữa

lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản mà ngay từ đầu C Mác và Ph Ăngghen đã kiên trì khi sáng lập triết học Mác Chính vì vậy, việc nghiên cứu những phát hiện khoa học tự nhiên nhằm mục đích khái quát chúng về mặt triết học có một địa vị quan trọng trong hoạt động lý luận của C Mác và

Ph Ăngghen, nhất là trong những năm 70 – 80 của thế kỷ XIX

Năm 1873, với sự ủng hộ nhiệt tình của C Mác, Ph Ăngghen bắt tay vào viết một cuốn sách trình bày quan niệm của ông về giới tự nhiên theo phép biện chứng duy vật để triết học Mác ngày càng có hệ thống và hoàn thiện hơn, đồng thời nhằm mục đích giải quyết cụ thể những vấn đề quan

trọng nhất của khoa học và củng cố nền tảng duy vật của nó Biện chứng của

tự nhiên chính là tác phẩm kết tinh, tâm huyết của Ph Ăngghen sau nhiều

năm nghiên cứu

Nét đặc trưng của điều kiện lịch sử - xã hội khi Ph Ăngghen viết Biện

chứng của tự nhiên có thể khái quát như sau:

Từ những năm 70 của thế kỷ XIX đã mở đầu một thời kỳ mới của lịch

sử toàn thế giới, mà nét đặc trưng là sự phát triển tương đối nhanh và hòa bình Đó là thời kỳ mà theo Ph Ăngghen: “Chúng tôi phải lợi dụng thời kỳ yên tĩnh hiện nay của lịch sử thế giới để hoàn thành những công tác này;

Trang 18

chúng tôi lại càng phải lợi dụng lúc nhàn rỗi ngắn ngủi này để phát triển dù chỉ là chút ít, mặt lý luận là mặt không kém phần quan trọng” [xem 48,10] Chủ nghĩa tư bản đã được xác lập ở phần lớn các nước châu Âu và châu Mỹ Công nghiệp phát triển như vũ bão, cùng với đó là số lượng công nhân tăng lên nhanh chóng Tuy nhiên, sau sự thất bại của Công xã Pari, giai cấp tư sản đã mở cuộc tấn công toàn diện vào chủ nghĩa Mác, đặc biệt là trên lĩnh vực tư tưởng triết học

Vào thời kỳ này, đối lập với tính cách mạng vô sản đã hình thành hai

(Reformism) và chủ nghĩa vô

chung chủ nghĩa Mác đã giành thắng lợi về tư tưởng, nhưng cả hai trào lưu này vẫn tiếp tục có một ảnh hưởng nhất định tới phong trào công nhân Đặc biệt nguy hiểm hơn, ảnh hưởng này còn thể hiện cả trong đảng Công nhân dân chủ - xã hội Đức, một đảng được xem là đảng Mácxít kiểu mẫu và là một tổ chức hiện thân cho lý luận và thực tiễn của giai cấp vô sản Vì vậy, nhiệm vụ thời kỳ này mà C Mác và Ph Ăngghen đặt ra là củng cố về mặt tư tưởng và chống những ảo tưởng của chủ nghĩa cải lương tiểu tư sản; những

tư tưởng của chủ nghĩa xã hội tư sản (Bourgeois socialism) đã được truyền

(Opportunism), đặc biệt là Đuyrinh (Karl Eugen Dühring)

2

Chủ nghĩa cải lương (Reformism) – xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, là trào lưu chính trị

ở bên trong phong trào công nhân, phủ nhận tính tất yếu của đấu tranh giai cấp, của cách mạng xã hội chủ nghĩa, của chuyên chính vô sản, tuyên truyền hợp tác giai cấp và hy vọng nhờ một số cải cách mà có thể biến chủ nghĩa tư bản thành một xã hội “thịnh vượng chung”

3

Chủ nghĩa vô chính phủ (Ananarchism) - trào lưu chính trị xã hội tiểu tư sản đối địch với mọi quyền lực và nhà nước, kể cả đối với chuyên chính vô sản, đối lập lợi ích của chế độ tư hữu nhỏ và kinh tế tiểu nông với sự tiến bộ xã hội dựa trên nền sản xuất lớn

4

Chủ nghĩa cơ hội (Opportunism) – hệ thống quan điểm chính trị không theo một định

hướng, một đường lối rõ rệt, không có chính kiến, chủ trương lìa bỏ con đường đấu tranh

Trang 19

Do sự phát triển như vũ bão của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, thời

kỳ này đã đặt ra yêu cầu phát triển các lĩnh vực khác trong xã hội, đặc biệt là

sự phát triển của khoa học tự nhiên Đạt được những thành tựu vô cùng to lớn, trong khoa học tự nhiên thời kỳ này xuất hiện một bước chuyển khá nhanh từ thái độ khai sáng duy lý đối với khoa học tự nhiên sang thái độ thuần túy thực dụng được biểu hiện bằng chủ nghĩa duy vật tầm thường

(Trivial materialism) và chủ nghĩa thực chứng (Positivism) Khuynh hướng

phủ nhận triết học và phép biện chứng (Dialectics), coi triết học và phép biện chứng là “những lời nói mê sảng”, tư biện, siêu hình, vô bổ đối với khoa học thực chứng tồn tại phổ biến trong xã hội

Mặt khác, những lý luận gia tư sản lợi dụng, xuyên tạc những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên theo tinh thần của chủ nghĩa duy tâm (Idealism) và phép siêu hình (Metaphysical) Một trong những hình thức đấu tranh của những người theo chủ nghĩa Đácuyn xã hội là cố gắng không ngừng đưa những quy luật có tác dụng trong tự nhiên vào xã hội loài người

còn có tham vọng “nhận xét chủ nghĩa xã hội và chính trị kinh tế học, dựa trên cơ sở cuộc đấu tranh sinh tồn …” [52,686]

Những năm 70 của thế kỷ XIX, trong giới trí thức tư sản châu Âu và châu Mỹ xuất hiện xu hướng sùng bái thuật cầu hồn, đồng bóng Vì tư duy của các nhà khoa học tự nhiên chịu ảnh hưởng của phép siêu hình và vì họ thiếu một thế giới quan duy vật triệt để nên thuật cầu hồn và phong trào đồng bóng dễ dàng truyền bá trong họ Điều này cũng gây ảnh hưởng không

chân chính, tùy cơ thỏa hiệp với kẻ thù, không dám tiến hành đầu tranh cách mạng triệt

để - thường chỉ khuynh hướng thỏa hiệp với giai cấp tư sản trong phong trào công nhân.

5

L Buysone (1646 - 1716) – nhà triết học, nhà bác học, nhà hoạt động xã hội người Đức Ông bắt đầu con đường triết học của mình từ chủ nghĩa duy vật máy móc, về sau ông đã chuyển sang lập trường của chủ nghĩa duy tâm khách quan (biểu hiện ở học thuyết về đơn tử).

Trang 20

nhỏ đến sự phát triển của khoa học, sự phát triển của toàn xã hội nói chung

và của chủ nghĩa Mác nói riêng

Trên lĩnh vực sinh vật học đầu thế kỷ XIX, thịnh hành chủ nghĩa duy

Họ lợi dụng thành tựu nghiên cứu về các giác quan mà cho rằng cảm giác của con người chỉ là ký hiệu ước lệ, không phải là sự vật khách quan để truyền bá cho chủ nghĩa bất khả tri Trong vật lý học, những tư tưởng về cái chết nhiệt của vũ trụ, về “khởi đầu” và “sự tận cùng” của thế giới cũng được truyền bá Hơn nữa, do quan niệm bị hạn chế về vật chất và vận động nên chủ nghĩa duy vật máy móc tỏ ra không có khả năng chống lại sự tấn công của chủ nghĩa duy tâm Mặt khác, trong nội bộ khoa học tự nhiên nổ ra một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa một bên là những người bảo vệ quan điểm siêu hình và duy tâm, một bên là những người tán thành quan điểm mới xét

về bản chất là biện chứng và duy vật

Trong tình hình như thế, nhiệm vụ khái quát về mặt triết học những kết quả của khoa học tự nhiên cùng toàn bộ tiến trình phát triển của khoa học tự nhiên được đề ra một cách bức thiết nhằm đẩy lùi những thế lực đang tìm cách lợi dụng những thành tựu khoa học tự nhiên để bác bỏ chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng Chứng minh rằng khoa học tự nhiên không những không gạt bỏ chủ nghĩa duy vật biện chứng mà trái lại còn hoàn toàn

6

Chủ nghĩa duy tâm sinh lý học (Physical Idealism) - Lý thuyết duy tâm chủ quan được phổ biến trong các nhà sinh học và các nhà y học vào giữa thế kỷ XIX Học thuyết này đánh giá cao sự lệ thuộc của nội dung các cảm giác vào hoạt động của các giác quan Cảm giác được nhìn nhận không pphải như là hình ảnh của thế giới hiện thực khách quan, mà như là tượng trưng của nó

7 G Muyle (Johannes Peter Muller), (1801 - 1858) - người sáng lập chủ nghĩa duy tâm sinh lý học

8

Hem – hôn – xtơ Héc – man (Hermann Ludwig Ferdinand Von Helmholtz), (1821 - 1894) – nhà khoa học tự nhiên Đức, đại biểu của chủ nghĩa duy tâm sinh lý học.

Trang 21

xác nhận nó; hơn nữa, chỉ ra rằng những kết quả của khoa học tự nhiên chỉ

có thể được nhận thức một cách đúng đắn và khái quát về lý luận trên cơ sở của phép biện chứng duy vật

Trong những năm này, Ph Ăngghen đấu tranh để giải quyết nhiệm vụ khái quát về mặt triết học theo quan điểm duy vật biện chứng những kết quả của khoa học tự nhiên Những vấn đề triết học của khoa học tự nhiên được

Ph Ăngghen nghiên cứu sâu sắc không phải chỉ trong tác phẩm Chống

Đuyrinh mà cả trong một tác phẩm đặc biệt, mà Ph Ăngghen đã phải viết

trong suốt mười năm (từ 1873 - 1882), Biện chứng của tự nhiên

Quá trình Ph Ăngghen biên soạn tác phẩm Biện chứng của tự nhiên

chia làm hai giai đoạn chủ yếu:

Giai đoạn đầu, từ tháng 5 năm 1873 đến tháng 5 năm 1876

Ngày 30 tháng 5 năm 1873, trong bức thư gửi từ Luân Đôn cho C Mác ở Man - se – xtơ, Ph Ăngghen đã trình bày những “tư tưởng biện chứng về các khoa học tự nhiên” Theo yêu cầu của Ph Ăngghen, C Mác giới thiệu ông với C Soóc – lem – mơ, người bạn chung của hai ông Và C Soóc – lem – mơ đã hoàn toàn tán thành những tư tưởng của Ph Ăngghen

Sau đó, ông đã đi sâu biên soạn tác phẩm Biện chứng của tự nhiên trong ba

năm (tháng 5 năm 1873 đến tháng 5 năm 1876 – khi bắt đầu viết tác phẩm

Chống Đuyrinh) Trong thời kỳ này, Ph Ăngghen đã đề xuất một loạt luận

điểm chủ yếu của tác phẩm Biện chứng của tự nhiên Ông đã nêu tư tưởng

về mối tương quan giữa triết học và khoa học tự nhiên, đã phân loại những hình thức vận động chủ yếu của vật chất, phân loại các khoa học, đã phát hiện ra tác động của các quy luật biện chứng và các phạm trù trong tự nhiên

và chứng minh sự cần thiết phải có phương pháp biện chứng duy vật cho khoa học tự nhiên Ông đã viết gần 100 bút ký và đoạn ngắn của tác phẩm

Trang 22

Trong những năm 1875 – 1876, Ph Ăngghen bắt tay vào viết tác phẩm một cách có hệ thống Ông viết “lời nói đầu” cho toàn bộ tác phẩm, trong đó vạch rõ những đoạn chủ yếu của lịch sử khoa học tự nhiên và trình bày quan điểm của mình về sự phát sinh và phát triển của thế giới và của xã

hội loài người Chính trong thời gian này, Ph Ăngghen đã viết bài Tác dụng

của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người mà về sau

ông đưa vào tác phẩm Biện chứng của tự nhiên Nhưng trong tháng 6 năm

1876, để chống lại cuộc tấn công của Ơ G Đuyrinh vào chủ nghĩa C Mác,

Ph Ăngghen phải mất hai năm tạm ngưng công việc biên soạn tác phẩm

Biện chứng của tự nhiên để công khai phê phán một cách cặn kẽ học thuyết

xã hội chủ nghĩa giả hiệu của Ơ G Đuyrinh Trong quá trình viết Chống

Đuyrinh – cuốn bách khoa toàn thư của chủ nghĩa Mác, việc nghiên cứu

những thành tựu của khoa học tự nhiên và chuẩn bị những tư liệu cho Biện

chứng của tự nhiên cũng có nhiều thuận lợi

Giai đoạn thứ 2, từ tháng 7 năm 1878 đến tháng 3 năm 1883

Sau khi cuốn Chống Đuyrinh xuất bản, từ tháng 7 năm 1878 đến tháng 3 năm 1883, Ph Ăngghen trở lại biên soạn tác phẩm Biện chứng của

tự nhiên Giai đoạn này, mặc dù bận nhiều việc nhưng ông vẫn hoàn thành

được một khối lượng công việc không nhỏ Ph Ăngghen đã lần lượt viết các

sơ thảo đề cương chung và sơ thảo đề cương cục bộ, ông cũng viết hầu hết các chương, ghi chép rất nhiều bút ký và một số đoạn

Trong những năm 1885 – 1886, Ph Ăngghen tiếp tục bổ sung vào tác phẩm khá nhiều ý tưởng mời Tuy nhiên, ông không thể nghiên cứu các khoa học tự nhiên một cách đều đặn, do có rất nhiều những công việc cấp bách khác như: việc lãnh đạo phong trào công nhân; việc nghiên cứu chỉnh

lý để xuất bản tập II đến tập IV bộ Tư bản từ sau khi C Mác qua đời,

Những công việc đó đã chiếm mất của ông rất nhiều thời gian và sức lực

Trang 23

Ngày 5 tháng 8 năm 1895, Ph Ăngghen qua đời, Biện chứng của tự nhiên

vẫn chưa được hoàn thành một cách trọn vẹn

Chỉ sau khi Ph Ăngghen mất, tác phẩm Biện chứng của tự nhiên mới

bắt đầu được công bố từng phần một Trước năm 1925, có hai bài nằm trong

tác phẩm Biện chứng của tự nhiên được xuất bản Đó là bài Tác dụng của

lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người xuất bản năm

1896 trên tạp chí Neue Zeit và bài Khoa học tự nhiên trong thế giới thần

linh xuất bản năm 1898 trên Niên giám Illustrirter Neue welt – Kalender

Còn phần lớn nội dung cuốn sách, trong một thời gian dài, đã nằm yên trong kho lưu trữ của đảng Dân chủ - Xã hội Đức Đến năm 1925, trước sự đấu tranh kiên trì của Trung ương đảng Cộng sản Liên Xô, trước sức ép mạnh

mẽ của dư luận, lần đầu tiên bản thảo Biện chứng của tự nhiên được chuyển

sang Liên Xô và được xuất bản đồng thời bằng hai thứ tiếng Đức và Nga

Năm 1940, lần đầu tiên Biện chứng của tự nhiên được dịch sang tiếng

Anh và xuất bản tại Mỹ Ngày nay, tác phẩm đã được xuất bản nhiều lần bằng nhiều ngôn ngữ thông dụng trên khắp thế giới Bản tiếng Việt của tác phẩm được nhà xuất bản Sự thật dịch và ấn hành lần đầu tiên vào năm 1963

mang tên Phép biện chứng của tự nhiên Bản dịch đầy đủ Biện chứng của tự

nhiên được in trong C Mác và Ph Ăngghen Toàn tập, tập 20 do nhà xuất

bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 1994 Sau này được tái bản nhiều lần

Biện chứng của tự nhiên được hình thành trong bối cảnh lịch sử xã

hội đặc biệt Nó chứa đựng những tư tưởng triết học và khoa học tự nhiên phong phú vô tận Do hoàn cảnh lịch sử, có một số tài liệu cũng như thành tựu khoa học tự nhiên lúc bấy giờ chưa được Ph Ăngghen cập nhật và sự phát triển nhanh chóng khoa học tự nhiên đã vượt xa nhiều quan niệm cụ thể của khoa hoc tự nhiên cổ điển mà ông đã phân tích Mặc dù vậy, tác phẩm vẫn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của khoa học nói

Trang 24

chung và đối với sự phát triển của chủ nghĩa Mác nói riêng Hơn thế, một số

tư tưởng trong tác phẩm vẫn còn có ý nghĩa to lớn ngay cả trong thời đại chúng ta

1.1.2 Kết cấu và mục đích của tác phẩm Biện chứng của tự nhiên

Biện chứng của tự nhiên là một tác phẩm chưa hoàn thành Chỉ có

một vài bài đã được Ph Ăngghen gọt giũa về văn chương và được coi như một phần chủ yếu và liên tục của cuốn sách Còn phần lớn quyển sách là những đoạn bút ký, bản nháp mà tác giả có ý định tiếp tục soạn thành những chương của một cuốn sách Chính vì thế, xác định rõ ràng kết cấu của tác phẩm và nghiên cứu tác phẩm là một công việc khó khăn Tuy vậy, ta có thể nghiên cứu tác phẩm qua hai bản sơ thảo đề cương

Trước hết là bản Sơ thảo đề cương chung của cuốn sách viết vào

tháng 8 năm 1878 bao trùm toàn bộ tác phẩm của Ph Ăngghen Mặc dù tài

liệu hiện có của tác phẩm Biện chứng của tự nhiên được tích lũy lại một

cách không liên tục trong một loạt năm đã không hoàn toàn ăn khớp với tất

cả mọi điểm của đề cương Tuy nhiên, những hướng chủ yếu thì chúng đồng nhất với nhau và Ph Ăngghen dự kiến trình bày bản sơ thảo như sau:

“1 Nhập đề lịch sử: trong khoa học tự nhiên, do sự phát triển của bản thân nó, quan điểm siêu hình không thể tồn tại được nữa

2 Tiến trình phát triển lý luận ở nước Đức từ thời kỳ Hêghen đến nay (bài tựa cũ) Trở lại phép biện chứng một cách không tự giác, do đó đầy mâu thuẫn và chậm chạp

3 Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến Những quy luật chủ yếu: sự chuyển hóa lượng thành chất, - sự xâm nhập lẫn nhau của các mâu thuẫn đối cực và sự chuyển hóa từ mâu thuẫn này sang mâu thuẫn khác khi mâu thuẫn đó lên tới cực độ, - sự phát triển bằng mâu thuẫn hoặc phủ định của phủ định, - phát triển theo hình thức xoáy chôn ốc

Trang 25

4 Liên hệ giữa các bộ môn khoa học Toán học, cơ học, vật lý học, hóa học, sinh học – Xanh – xi – mông (Công - tơ) và Hê-ghen

5 Apercus về các môn khoa học riêng biệt và nội dung biện chứng của các môn khoa học đó:

1) toán học: công cụ bổ trợ và phương thức biểu hiện biện chứng –

Vô hạn toán học tồn tại trong thực tế;

2) cơ học thiên thể, - hiện nay người ta coi toàn bộ nó là một quá trình

nào đó – Cơ học: xuất phát điểm của nó là quán tính, mà quán tính chỉ là biểu hiện mặt trái của tính không thể bị tiêu diệt được của vận động;

3) vật lý học, - chuyển hóa lẫn nhau của các vận động phân tử Clau –

di – út và Lốt – smít;

4) hóa học: các lý thuyết năng lượng;

5) sinh học: chủ nghĩa Đác – uyn Tất nhiên và ngẫu nhiên

6 Giới hạn của nhận thức Đuy boa Rây – mông và Nê – gơ – li – Hem – hôn – txơ, Can – tơ, Hi – um

7 Thuyết cơ giới – Hếch – ken

8 Linh hồn của thể hạt nhỏ - Hếch – ken và Nê - giơ – li

9 Khoa học và việc giảng dạy – Viếc – sốp

10 Quốc gia tế bào – Viếc – sốp

11 Chính trị của chủ nghĩa Đác – uyn và học thuyết Đác – uyn về xã

hội E – Héch – ken và Smít lao động [Arbeit] phân hóa con người

- Áp dụng kinh tế chính trị học vào khoa học tự nhiên Khái niệm về

“công” [Arbeit] của Hem – hôn – txơ (“Những báo cáo phổ thông”, q II)”

[52, 455-456]

Như vậy, trong bản Sơ thảo đề cương chung viết năm 1878, Ph

Ăngghen đã có ý định trình bày phép biện chứng của giới hữu cơ và vấn đề nguồn gốc của sự sống và sự phát triển của giới hữu cơ và vấn đề nguồn gốc

Trang 26

của sự sống và sự phát triển của giới tự nhiên Đặc biệt hơn, ông nêu ra vấn

đề giới tự nhiên thực hiện bước nhảy vọt sang xã hội loài người như thế nào Đây chính là một đóng góp lý luận quan trọng của Ph Ăngghen đối với chủ nghĩa Mác

Bản Sơ thảo đề cương cục bộ, được Ph Ăngghen viết xong khoảng năm 1880 hoặc 1881 Sơ thảo đề cương cục bộ gồm bảy điểm như sau:

“1 Vận động nói chung

2 Hút và đẩy Truyền dẫn vận động

3 Việc áp dụng ở đây [định luật] bảo toàn năng lượng Đẩy + hút – sự can thiệp của đẩy bằng năng lượng

4 Trọng lực – thiên thể - cơ học địa cầu

5 Vật lý học Nhiệt năng Điện năng

6 Hóa học

7 Tóm tắt

a Trước điểm 4: Toán học – Đường thẳng vô hạn + và – bằng nhau

b Lúc khảo sát thiên văn học: Công do thủy triều sinh ra

Tính toán của Hem-hôn-txơ về hai mặt, quyển II, 120

“Lực” của Hem-hôn-txơ, quyển II, 190” [52, 457]

Đối với Sơ thảo đề cương cục bộ (do điều kiện lịch sử) Ph Ăngghen

chỉ trình bày phép biện chứng của giới vô cơ Trung tâm của cuốn sách là học thuyết về các hình thức vận động của vật chất được cơ học, vật lý học, hóa học nghiên cứu Như vậy, có thể khẳng định rằng, mục đích của Ph Ăngghen là vạch ra biện chứng của các hình thức vận động ngự trị trong giới tự nhiên không sống và sự phát triển bằng bước nhảy vọt từ hóa học sang sự sống Hay nói cách khác là tổng kết những thành tựu mới của khoa học tự nhiên, xây dựng thống nhất quan điểm của chủ nghĩa Mác về giới tự nhiên Bằng cách đó, Ph Ăngghen vạch rõ mâu thuẫn rõ rệt giữa các nhà

Trang 27

khoa học tự nhiên đương thời với ông Mâu thuẫn đó là ở chỗ bản thân các nhà bác học bị phép siêu hình cầm tù, không hiểu được ý nghĩa thật sự của những phát hiện của họ, mà những phát hiện này thì lại gạt bỏ tận gốc bất cứ phép siêu hình nào

Như vậy, khác với bản Sơ thảo đề cương cục bộ, bản Sơ thảo đề

cương chung đồ sộ và phong phú hơn Bản Sơ thảo đề cương cục bộ thực ra

chỉ là một điểm (điểm 5) trong số 11 điểm mà bản Sơ thảo đề cương chung nêu ra Nếu tác phẩm được hoàn thành theo hướng mà bản Sơ thảo đề cương

chung nêu ra thì đây sẽ là một công trình vĩ đại của chủ nghĩa Mác nói

chung, của Ph Ăngghen nói riêng

Qua hai bản đề cương ta thấy, Ph Ăngghen viết Biện chứng của tự

nhiên nhằm những mục đích sau:

Thứ nhất, Ph Ăngghen viết về lịch sử của khoa học tự nhiên, tổng kết

và phân tích những thành tựu mới của khoa học tự nhiên Ông hướng đến xây dựng hệ thống quan niệm của chủ nghĩa Mác về giới tự nhiên để thay thế cho quan niệm siêu hình và phương pháp kinh nghiệm đã lỗi thời, phê phán trào lưu tư tưởng thực chứng chủ nghĩa, xác lập vai trò, vị trí của phép biện chứng duy vật cho khoa học tự nhiên Đây là mục tiêu quan trọng hàng đầu và trực tiếp của Ph Ăngghen

Thứ hai, khi nghiên cứu về lịch sử khoa học tự nhiên và khoa học tự nhiên thời kỳ này, Ph Ăngghen nhận thấy lý luận nhận thức và phương pháp luận siêu hình chiếm địa vị thống trị trong khoa học tự nhiên từ lâu đã bộc lộ những hạn chế rất cơ bản Do đó, cần phải cung cấp cho khoa học tự nhiên lý luận nhận thức và phương pháp luận khoa học duy vật biện chứng; cần phải khẳng định tầm quan trọng đặc biệt và tính tất yếu của phép biện chứng duy vật đối với việc nghiên cứu khoa học tự nhiên Đây trở thành

Trang 28

nhiệm vụ vô cùng bức thiết nhằm đáp ứng những đòi hỏi và sự phát triển trong khoa học tự nhiên lúc bấy giờ

Trong bản Sơ thảo đề cương cục bộ, Ph Ăngghen chưa có ý định

trình bày phép biện chứng của giới hữu cơ và do đó cũng chưa nghĩ tới vấn

đề nguồn gốc của sự sống và sự phát triển của nó, cũng không có ý định nêu

ra vấn đề bước nhảy từ tự nhiên sang xã hội loài người như thế nào Tuy nhiên, những vấn đề đó xưa nay lại là những vấn đề nan giải trong khoa học

tự nhiên, cũng là tiêu điểm của cuộc tranh luận gay gắt giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa phép biện chứng và phép siêu hình với sự phát triển của khoa học tự nhiên Lần thứ hai quay trở lại nghiên cứu vấn đề

này, đặc biệt, sau khi bộ Tư bản của C Mác ra đời đã chỉ ra một cách khoa

học phép biện chứng trong sự phát triển xã hội, đã khiến Ph Ăngghen mở

rộng kế hoạch biên soạn Biện chứng của tự nhiên, điều này thể hiện rõ ở bản

Sơ thảo đề cương chung Với những bài viết, những bút ký trong tác phẩm,

Ph Ăngghen đã thực sự làm rõ phép biện chứng về sự quá độ từ giới tự nhiên sang xã hội loài người Đó chính là mục đích thứ ba mà Ph Ăngghen

muốn hướng đến khi viết tác phẩm Biện chứng của tự nhiên

Thứ tư, Ph Ăngghen phê phán và vạch trần những xu hướng thế giới

9

Thuyết không thể biết hay thuyết bất khả tri (Agnosticism) – học thuyết phủ nhận hoàn toàn hoặc một phần khả năng nhận thức thế giới Thuyết không thể biết được phổ biến rộng rãi thong triết học tư sản hiện đại; được trình bày một cách kinh điển trong triết học của Hi – um và Can – tơ

10

Chủ nghĩa máy móc (Mechanism) – sự ra đời và phổ biến được gắn với những thành tựu của cơ học cổ điển thế kỷ XVII – XVIII, là thế giới quan nhằm giải thích sự phát triển của tự nhiên và xã hội bằng những quy luật của hình thức vận động máy móc của vật chất Hay là sự đồng nhất hóa một cách trừu tượng hình thức vận động cấp cao với hình thức vận động cấp thấp của vật chất (ví dụ như đồng nhất hình thức vận động xã hội với hình thức vận động sinh học…)

Trang 29

… Ph Ăngghen chống lại những sai lạc của các nhà tư sản và các triết gia

tư sản về các hiện tượng xã hội, lạm dụng những thành tựu mới của khoa học tự nhiên để chống lại chủ nghĩa Mác Đó chính là mục đích trực tiếp của tác phẩm

1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ VỊ TRÍ CỦA TÁC PHẨM BIỆN

CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN

1.2.1 Những nội dung cơ bản của tác phẩm Biện Chứng của tự nhiên

Biện chứng của tự nhiên là tác phẩm chưa trọn vẹn, được Ph

Ăngghen trình bày dưới dạng những bài viết, những bút ký, những trích đoạn tản mạn Tác phẩm bàn đến khá nhiều vấn đề như: vấn đề vận động và các hình thức vận động của vật chất để phác thảo sơ khởi về vận động xã hội, vấn đề lịch sử khoa học và lịch sử phép biện chứng, lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội, vấn đề sự sống và vai trò của lao động trong quá trình hình thành con người và xã hội loài người, về lịch sử triết học, … Tuy nhiên, có thể tóm lược lại cho những vấn đề mà Ph Ăngghen đã bàn đến trong tác

phẩm Biện chứng của tự nhiên thành hai nội dung cơ bản xuyên suốt toàn bộ

tác phẩm Và đây cũng là hai nội dung lớn, hai bộ phận của triết học Mác: những vấn đề của chủ nghĩa duy vật biện chứng và những vấn đề của chủ nghĩa duy vật lịch sử

Việc tách biệt thành hai nội dung lớn nêu trên chỉ nhằm khảo cứu những nội dung cơ bản của tác phẩm một cách thuận lợi hơn, bởi thực chất,

11

Thuyết sức sống (Vitalism), từ tiếng la tinh “Vitalis” có nghĩa là sự sống, sức sống – học thuyết duy tâm trong sinh vật học, giải thích tất cả quá trình hoạt động sống bằng sự tác động của những nhân tố phi vật chất đặc biệt dường như bao hàm trong những cơ thể sống Viện vào đặc thù về chất của giới sinh vật, thuyết sức sống tách rời các quá trình hoạt động sống khỏi những quy luật vật chất lý hóa và sinh hóa Sự đối lập quá đáng giới hữu sinh với giới vô sinh đã khiến cho thuyết sức sống phủ nhận khả năng cái hữu sinh nảy sinh từ cái vô sinh Từ đó dẫn đến việc thừa nhận nguồn gốc thần linh của sự sống hoặc sự tồn tại vĩnh viễn của sự sống

Trang 30

triết học Mác chính là sự gắn bó hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử

1.2.1.1 Những vấn đề của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Sau công xã Pari, chủ nghĩa duy vật biện chứng được xác minh một cách sâu sắc và được phát triển thêm trong những tác phẩm của C Mác và

Ph Ăngghen, như Tư bản tập (2,3), Phê phán cương lĩnh Gô ta, Chống

Đuyrinh, Lút vích Phoi ơ bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, và

cả trong một tác phẩm đặc biệt mà Ph Ăngghen đã phải viết trong mười

năm (1873 - 1882) – tác phẩm Biện chứng của tự nhiên

Trong Biện chứng của tự nhiên thì việc đi sâu nghiên cứu, phân tích

những thành tựu của khoa học tự nhiên trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã giúp Ph Ăngghen thể hiện rõ quan điểm đối với những vấn đề triết học như: quan điểm về vật chất và các hình thái vận động của vật chất, quan điểm về phép biện chứng, về lý luận nhận thức khoa học, hay việc xác lập quan niệm duy vật biện chứng về tự nhiên và về khoa học, về mối quan hệ giữa khoa học tự nhiên và triết học

Quan điểm về vật chất, các hình thái vận động cơ bản của vật chất,

sự phân loại các khoa học và quan niệm biện chứng về giới tự nhiên

Trong Biện chứng của tự nhiên, những tư tưởng của Ph Ăngghen về

vật chất và các hình thái vận động cơ bản của vật chất cũng như sự phân loại các khoa học là một thành tựu khoa học hết sức lớn lao của Ph Ăngghen

Tiếp tục tư tưởng về vật chất và tính thống nhất vật chất của thế giới

trong tác phẩm Chống Đuyrinh, thì ở Biện chứng của tự nhiên, Ph Ăngghen

đã giải đáp vấn đề khái niệm vật chất thuần túy (vật chất nói chung) và vấn

đề vật chất trong những hình thức cụ thể của nó Ông cũng phê phán quan điểm siêu hình khi giải quyết vấn đề vật chất thuần túy một cách giản đơn Quan điểm siêu hình cho rằng chỉ cần gạt bỏ những dấu hiệu riêng, đặc thù

Trang 31

của các vật thể, khi đó cái chung còn lại là vật chất thuần túy Ph Ăngghen khẳng định, trong tự nhiên không có thứ “vật chất nói chung” đó, cũng như không có một thứ quả nào nói chung mà lại không đồng thời là một thứ quả

cụ thể nhất định (quả táo, lê, …) Chúng ta nhận thức thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan, nghiên cứu những vật riêng biệt hợp thành thế giới vật chất ấy; trong khi nhận thức những vật ấy, chúng ta cũng do đó mà nhận thức được cả vật chất thuần túy Vì vậy Ph Ăngghen nhấn mạnh: “Vật chất với tính cách là vật chất, là một sáng tạo thuần túy của tư duy và là một sự trừu tượng Chúng ta bỏ qua sự khác nhau về chất của những sự vật, khi chúng ta gộp chúng với tư cách là những vật tồn tại hữu hình vào khái niệm vật chất” [52,751] Quan điểm này, về sau đã được V I Lênin kế thừa và

phát triển trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê

phán để có được định nghĩa về vật chất hoàn thiện như ngày nay

Theo Ph Ăngghen, trước hết vận động là phương thức tồn tại của vật

chất, là thuộc tính bản chất vốn có của vật chất Nếu trong Chống Đuyrinh

ông cho rằng, vật chất và vận động không thể tách rời nhau: “Vật chất không có vận động cũng như vận động không có vật chất, đều là điều kiện

không thể hình dung nổi” [52,89], thì trong Biện chứng của tự nhiên, Ph

Ăngghen khẳng định: vật chất và vận động có tình đồng nhất Do đó, nghiên cứu hình thức vận động tức là nghiên cứu bản thân vật chất “Một khi chúng

ta nhận thức được những hình thức vận động của vật chất (tất nhiên những hình thức này còn nhiều chỗ hổng vì khoa học tự nhiên chỉ mới có được ít lâu nay) thì chúng ta nhận thức được bản thân vật chất” [52,721]

Phê phán quan điểm duy vật máy móc, siêu hình, loại bỏ ra khỏi khoa học tự nhiên tư tưởng phản khoa học về “cú hích đầu tiên của chúa”, Ph Ăngghen đã đưa ra quan điểm mới về vận động: “Vận động được hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là

Trang 32

thuộc tính cố hữu của vật chất, - thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy” [52,519] Như vậy, vận động là vận động của vật chất, là hình thức tồn tại của vật chất, và vận động là vận động nói chung Nó không chỉ là sự thay đổi vị trí mà còn là sự thay đổi về chất lượng, vận động là vận động tự thân

Ph Ăngghen cũng nhấn mạnh rằng cần thiết phải nghiên cứu các hình thức của vận động và sự chuyển hóa của những hình thức vận động ấy

Dựa trên những tài liệu về khoa học tự nhiên mà Ph Ăngghen có được, ông đã lý giải các hình thái vận động của vật chất, bắt đầu từ hình thái vận động thấp nhất đến hình thái vận động cao nhất bao gồm năm hình thái vận động cơ bản là: vận động cơ học, vận động vật lý học, vận động hóa học, vận động sinh học, vận động xã hội Mỗi hình thức vận động phù hợp với một dạng vật chất nhất định Và theo ông thì, hình thức vận động cao bao hàm trong nó các hình thức vận động thấp hơn, nhưng giữa chúng có sự khác biệt, không thể quy hình thức vận động cao hơn về hình thức vận động thấp hơn

Và các hình thức vận động thì luôn luôn có sự chuyển hóa lẫn nhau

Trên cơ sở đó ông đã đưa ra nguyên tắc chung về sự phụ thuộc của các khoa học để làm cơ sở phân loại chung Ph Ăngghen viết: “Mỗi ngành khoa học nghiên cứu một hình thức vận động riêng biệt hoặc một loạt những hình thức vận động liên quan với nhau và chuyển hóa lẫn nhau, do đó, là sự phân loại, sự sắp xếp bản thân các hình thức vận động đó theo thứ tự vốn có của chúng” [52,744] Theo ông, các khoa học cũng có tiến trình phát triển của nó tương tự như sự phát triển tuần tự của các hình thức vận động của vật chất Theo đó, tính tuần tự lịch sử của những ngành riêng biệt của khoa học

tự nhiên ra đời từ việc tách khỏi triết học tự nhiên thống nhất trước kia Ông chỉ ra rằng, nếu sự phát triển của bản thân những hình thức vận động của vật chất được thực hiện theo một sự liên tục nhất định - từ những hình thức đơn

Trang 33

giản đến những hình thức cao, thì những hình thức ấy nghĩa là sự phản ánh của chúng vào đầu óc con người cũng được thực hiện theo thứ tự như thế

Theo những tài liệu khoa học tự nhiên thời Ph Ăngghen sống, vận động cơ giới được coi là hình thức vận động đơn giản nhất của vật chất Vậy nên, Ph Ăngghen cũng xuất phát từ quan điểm đó để giải thích vì sao khoa học tự nhiên lại bắt đầu từ cơ học Cơ học ở vào địa vị thứ nhất, rồi đến vật

lý, hóa học và cuối cùng là sinh vật học Và việc nghiên cứu những hình thức vận động khác nhau là đối tượng chủ yếu của khoa học tự nhiên

Cùng với việc phân loại khoa học tự nhiên, Ph Ăngghen còn vạch rõ mối liên hệ bản chất nội tại và sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các ngành khoa học tự nhiên với nhau “Những sự chuyển hóa đó phải được tự chúng thực hiện, phải tự nhiên Cũng giống như một hình thức vận động này phát triển

từ một hình thức vận động khác thì sự phản ánh những hình thức vận động

ấy, những khoa học khác nhau cũng phải suy ra một cách tất nhiên từ cái này thành cái kia” [52,745] Giữa các hình thức vận động của vật chất – với tư cách là đối tượng của các ngành khoa học tự nhiên – có sự liên hệ với nhau và chuyển hóa lẫn nhau Và tất nhiên giữa các ngành khoa học cũng có mối liên

hệ biện chứng bên trong Đặc biệt, ông còn cho rằng, các hình thức vận động còn xâm nhập lẫn nhau, chứa đựng lẫn nhau Do đó, khoa học tự nhiên cũng chứa đựng lẫn nhau Khoa học giao thoa giữa hai ngành khoa học hoặc nhiều ngành khoa học là biểu hiện tập trung của mối liên hệ biện chứng đó Đây chính là logic của sự phát triển của các khoa học, đồng thời cũng thống nhất với tiến trình lịch sử của sự phát triển bản thân khoa học tự nhiên

Tuy nhiên, Ph Ăngghen chỉ ra rằng sự quá độ từ quan niệm cơ giới chủ nghĩa về tự nhiên sang quan niệm biện chứng được thực hiện không phải ngay một lúc, mà do kết quả của một loạt phát hiện, mà mỗi phát hiện này tựa hồ chọc một lỗ thủng trong khoa học tự nhiên siêu hình cứng nhắc

Trang 34

Tuy vậy, những thành tựu khoa học tự nhiên vào giữa thế kỷ XIX đã vạch ra phép biện chứng của tự nhiên và phá hủy phép siêu hình cũ Ph Ăngghen đã kết luận: “Quan điểm mới về tự nhiên đã được hoàn thành trong những nét căn bản của nó, mọi cái ngưng trệ đều trở thành lưu động, mọi cái bất động đều trở thành động, mọi cái trước kia được coi là vĩnh viễn thì đều tỏ ra là tạm thời, người ta chứng minh rằng toàn thể tự nhiên đều vận động trong một dòng suối và sự tuần hoàn vĩnh viễn” [52,471] Nhưng, đồng thời bản thân các nhà khoa học tự nhiên thì tuyệt đại đa số vẫn đứng trên lập trường của phép siêu hình Ph Ăngghen khẳng định, thói quen suy nghĩ một cách siêu hình biến thành một truyền thống rất dai dẳng và rất có hại: “…Truyền thống là lực lượng rất mạnh không những chỉ trong nhà thờ công giáo, mà

cả trong khoa học tự nhiên” [52,468] Phép biện chứng chỉ có thể thâm nhập vào khoa học tự nhiên thời kỳ đó một cách tự phát Bản thân các nhà khoa học không có ý thức về nó, do đó sự phát triển của khoa học tự nhiên trở thành hỗn loạn và mâu thuẫn sâu sắc

Mâu thuẫn ở chỗ là xét theo xu hướng của nó thì khoa học tự nhiên lúc bấy giờ có tính chất triệt để cách mạng, bởi về mặt tư tưởng thì nó nhằm chống lại tôn giáo, thần học Nhưng, do tính siêu hình của nó, nó không thể giải thích tự nhiên từ bản thân nó, vì nó gạt bỏ tư tưởng về sự phát triển Từ

đó, tất nhiên nó phải thừa nhận “những sự thúc đẩy đầu tiên” hay những

“hành vi sáng tạo” Như vậy, có nghĩa là sau khi đã mở ra một cuộc đấu tranh kiên quyết chống thần học thì bản thân khoa học tự nhiên lại sa lầy vào trong thần học, sa lầy vào chủ nghĩa duy tâm

Theo Ph Ăngghen, hơn bao giờ hết khoa học tự nhiên, cũng như các nhà bác học thời kỳ này cần phải được giải phóng khỏi phép siêu hình, giải phóng khỏi tư duy siêu hình để đến với phương pháp nhận thức đúng đắn, khoa học là phép biện chứng, tư duy biện chứng Đặc biệt, ông còn chỉ ra

Trang 35

trong mỗi lĩnh vực khoa học tự nhiên, ngoài thực nghiệm và những tính toán toán học thì cần phải phân tích những khái niệm phổ biến, những học thuyết

và giả thuyết mà khoa học đó đưa ra dựa trên lập trường duy vật biện chứng

Những vấn đề của phép biện chứng và lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Vào thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên, được cổ vũ bởi sự phát triển mạnh

mẽ của kinh tế, của kỹ thuật hiện đại, đã có được những thành tựu vô cùng to lớn, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật

biện chứng Ba phát minh vĩ đại – định luật bảo toàn và chuyển hóa năng

lượng, thuyết tế bào, thuyết tiến hóa của S Đácuyn (Charles Robert Darwin)

và hàng loạt các phát minh khoa học khác như thuyết trường điện từ của Pharađây (Michael Faraday), thuyết trường điện từ và ánh sáng của Mácxuên (James Clerk Maxwell), quy luật tuần hoàn của các nguyên tố hóa học của Menđêlêép (Dmitri Ivanovich Mendeleev), học thuyết cấu trúc hóa học, các

tổ hợp hữu cơ của Bút – lê - rốp (Alexander Mikhailovich Butlerov), hay việc

hoàn thiện và phát triển thuyết tiến hóa của Héc – ken (Ernst Haeckel) và anh

em nhà Côvalépxky (V O Covalepxki), rồi những thành quả ban đầu ở lĩnh vực vi sinh, phân tích quang phổ, … Những thành tựu trên của khoa học tự nhiên đã đem đến cho các nhà duy vật chất liệu sống động để học đánh giá, nghiên cứu phát triển học thuyết của mình, khắc phục những hạn chế, đặc biệt

có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển của tư duy biện chứng hay phép biện chứng Ph Ăngghen viết: “…Quan điểm duy vật về giới tự nhiên ngày nay, -

đã dựa trên một cơ sở vững vàng hơn so với thời kỳ trước … Bây giờ thì toàn

bộ giới tự nhiên đã bày ra trước mắt chúng ta thành một hệ thống những mối liên hệ và các quá trình mà ta đã giải thích được và đã hiểu được ít ra cũng trên những nét chủ yếu” [52, 677]

Trang 36

Về phép biện chứng, trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ph Ăngghen đã

định nghĩa, phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài

người và của tư duy Trong Biện chứng của tự nhiên, ông cũng chỉ rõ: “Tính

chất chung của phép biện chứng với tính cách là khoa học về các mối liên hệ trong sự đối lập với siêu hình học” [52,510] Đối tượng của phép biện chứng

là quy luật phổ biến của mọi vận động Ph Ăngghen đã phân biệt và chỉ ra sự thống nhất giữa biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan Hai quá trình này mặc dù khác nhau nhưng liên hệ mật thiết với nhau “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối toàn bộ giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên, của sự vận động thông qua những mặt đối lập, … thông qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hóa …” [52,694]

Ph Ăngghen còn nhấn mạnh phép biện chứng là cơ sở, phương pháp luận đối với khoa học tự nhiên, giúp các nhà khoa học tự nhiên khắc phục những hạn chế, mà ở đây là sự cầm tù của phép siêu hình đối với họ Ông viết: “…Phép biện chứng là một hình thức tư duy quan trọng nhất đối với khoa học tự nhiên hiện đại, bởi vì chỉ có nó mới có thể đem lại sự tương đồng và do đó đem lại phương pháp giải thích những quá trình phát triển diễn ra trong giới tự nhiên, giải thích những mối liên hệ phổ biến, những bước quá độ từ một lĩnh vực này sang một lĩnh vực khác” [52,488]

Và Ph Ăngghen chỉ ra cho các nhà khoa học tự nhiên lối thoát duy nhất để thoát khỏi tư duy siêu hình là phải tìm đến với tư duy biện chứng Ông nhấn mạnh, không có khả năng nào khác để đạt tới sự sáng sủa ngoài việc quay trở lại dưới hình thức này hoặc hình thức khác từ tư duy siêu hình sang tư duy biện chứng

Căn cứ vào những tài liệu khoa học tự nhiên, cùng với việc nghiên

Trang 37

cứu, phê phán, kế thừa phép biện chứng duy tâm đặc biệt là phép biện chứng duy tâm của Hêghen (Georg Wilhelm Friedrich Hegel) trên lập trường quan điểm của chủ nghĩa duy vật, Ph Ăngghen đã phát triển thêm một bước quan niệm của mình về những quy luật, những phạm trù cơ bản của phép biện

chứng trong Biện chứng của tự nhiên Ông viết: “Vậy là từ trong lịch sử của

giới tự nhiên và lịch sử xã hội loài người mà người ta đã rút ra được các quy luật của phép biện chứng Những quy luật không phải là cái gì khác hơn là những quy luật chung nhất của hai giai đoạn phát triển lịch sử ấy cũng như bản thân tư duy” [52,510] Ph Ăngghen đã phê phán những sai lạc trong quan niệm của Hêghen về phép biện chứng, nêu ra những minh chứng cụ thể

để chứng minh rằng, những quy luật biện chứng là những quy luật thực sự của sự phát triển của tự nhiên và do đó cũng có cả hiệu lực cả đối với khoa học lý thuyết về tự nhiên

Ph Ăngghen đề cập đến tất cả những quy luật của phép biện chứng theo quan điểm duy vật Đó là các quy luật: quy luật về sự chuyển hóa của những biến đổi về số lượng thành những biến đổi về chất lượng, quy luật về

sự xâm nhập lẫn nhau của các cái đối lập, quy luật về sự phủ định của phủ định Những quy luật mà Ph Ăngghen dự định trình bày ở trên, có một số vấn đề mà ông vẫn chưa kịp trình bày một cách đầy đủ, có hệ thống ở trong

Biện chứng của tự nhiên Tuy nhiên, cũng có thể nhận thấy một số tư tưởng

quan trọng như: trong tư tưởng về sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, ông chỉ ra rằng, sự vận động ở khắp mọi nơi trong giới tự nhiên đều

là kết quả của sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập: “… thông qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hóa cuối cùng của chúng từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia, tương tự với những hình thức cao hơn đã quy định sự sống của giới tự nhiên” [52,694]; tư tưởng về sự chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại,

Trang 38

Ph Ăngghen viết: “… trong tự nhiên, những biến đổi về chất bằng phương thức được quy định một cách chính xác đối với mỗi trường hợp riêng biệt – chỉ có thể xảy ra: con đường thêm hoặc bớt số lượng hay vận động (còn gọi

là năng lượng)” [52,511] Đặc biệt, trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên,

Ph Ăngghen đã nêu lên tư tưởng về tính chất và kiểu của những bước nhảy xảy ra trong tự nhiên Ông bác bỏ quan niệm siêu hình và duy tâm cho rằng trong tự nhiên có những biến đổi không do cái gì chuẩn bị cả, mà do sự tác động của một lực lượng siêu tự nhiên nào đó Bên cạnh đó, Ph Ăngghen trên quan điểm về sự phát triển đã khẳng định những sự vật khác nhau về chất trong tự nhiên xuất hiện và phát triển tuần tự và dần dần, chứ hoàn toàn không phải là do kết quả của một “hành vi sáng tạo đột nhiên” nào cả Từ

(Georges Cuvier) Ông viết: “chỉ có Lai – en là đã đem lẽ phải vào địa chất học bằng cách thay thế những biến cách đột nhiên do tạo hóa tùy tiện gây ra bằng tác động tuần tự của một sự biến đổi dần dần của quả đất” [52,468]

Ph Ăngghen đã phân tích một loạt các phạm trù cơ bản của phép biện chứng trên cơ sở tài liệu sinh vật học, mà chủ yếu là lý luận về sự phát triển Những phạm trù chủ yếu trong tự nhiên, theo Ph Ăngghen là: “Tính đồng nhất và tính khác biệt – tính tất yếu và tính ngẫu nhiên – nguyên nhân và kết

12

Thuyết tai biến (Catastrophe theory) – do Georges Cuvier xây dựng nên Ông căn cứ vào một số dữ kiện địa chất, Cuvier cho rằng thế giới sinh vật biến đổi một cách đột ngột, tức thời không có chuyển tiếp Ông và học trò đã tính rằng có khoảng 26 tai biến và 27 sáng tạo được lặp lại nhiều lần trong lịch sử quả đất Đó là cơ sở cho ông bác bỏ tư tưởng

về sự tiến hóa của giới hữu cơ Ph Ăngghen đã nhận xét “Lý thuyết của Cuvier về những biến cách mà trái đất đã trải qua là có tính chất cách mạng trên lời nói, nhưng có tính phản động trên thực tế Lý thuyết ấy đưa ra cả một loạt những hành vi sáng tạo lặp đi lặp lại để thay cho một hành động sáng tạo duy nhất của thượng đế và lấy phép màu làm

thành đòn bẩy quan trọng của giới tự nhiên” [7, tr.641]

13

Georges Cuvier (1769 - 1832) – nhà khoa học tự nhiên người Pháp, người sáng lập giải phẫu học so sánh và cổ sinh vật học ông kiên trì những quan điểm siêu hình về các hiện tượng của giới hữu sinh “Lý thuyết về các tai biến” của ông đã bác bỏ tư tưởng về sự tiến hóa của giới hữu cơ

Trang 39

quả - đó là những đối lập chủ yếu, những đối lập, nếu xét một cách riêng rẽ, thì chuyển hóa lẫn nhau” [52,701]

Khi nghiên cứu mối tương quan giữa sự đồng nhất và sự khác nhau, trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Ph Ăngghen đã phê phán quan niệm về sự đồng nhất của triết học siêu hình Ông cho đó là sự đồng nhất trừu tượng biểu hiện bằng công thức A là A, rồi đi đến khẳng định quá trình phát triển của cơ thể không nằm trong khuôn khổ trừu tượng của logic hình thức cũ, và sự đồng nhất trừu tượng không áp dụng được vào tự nhiên hữu

cơ Ông viết: “Thực vật, động vật, mỗi tế bào trong nháy mắt của đời sống của chúng là đồng nhất với bản thân chúng và tuy nhiên vẫn khác với bản thân chúng nhờ hấp thu và đào thải vật chất, nhờ hô hấp, nhờ có những tế bào mới được hình thành và những tế bào chết đi, nhờ quá trình tuần hoàn đang diễn ra – nói tóm lại, nhờ tổng những biến đổi không ngừng của các phân tử, những biến đổi này làm thành sự sống… Sinh lý học càng phát triển, thì những biến đổi không ngừng, vô cùng nhỏ ấy lại càng trở nên quan trọng hơn đối với nó, do đó cả việc nghiên cứu những khác biệt trong nội bộ

sự đồng nhất cũng trở nên quan trọng hơn đối với nó, và quan điểm cũ, hình thức một cách trừu tượng về cái tính đồng nhất, theo đó phải coi vật thể hữu

cơ là một cái gì đồng nhất một cách giản đơn với bản thân vật thể đó, là cái

gì bất biến thì đã tỏ ra lỗi thời” [52,698] Sự đồng nhất trừu tượng chỉ tồn tại trong đầu óc con người, do quá trình trừu tượng hóa, gạt bỏ những sự khác nhau thực tế giữa các vật Còn sự đồng nhất cụ thể thì có thật trong tự nhiên

và bao hàm cả sự khác nhau, sự biến đổi Ph Ăngghen cho rằng: “Khoa học

tự nhiên gần đây đã chứng minh một cách tỉ mỉ rằng, sự đồng nhất thật sự,

cụ thể bao hàm trong bản thân nó, sự khác biệt, sự biến đổi” [52,700]

Các cặp phạm trù, tính tất nhiên và tính ngẫu nhiên; nguyên nhân và kết quả cũng được Ph Ăngghen phân tích tỉ mỉ Trên cơ sở phê phán những

Trang 40

quan điểm siêu hình, duy tâm, ông đã có những quan điểm hết sức biện chứng về sự tồn tại khách quan, về sự liên hệ chuyển hóa lẫn nhau của các

cặp phạm trù Ông viết: “Tác dụng lẫn nhau là điều thứ nhất mà chúng ta

thấy khi chúng ta đứng trên quan điểm của khoa học tự nhiên mà xem xét toàn bộ vật chất vận động Chúng ta thấy hàng loạt hình thức vận động: vận động cơ giới, nhiệt, ánh sáng, điện, từ, hóa hợp và phân giải hóa học, những

sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các trạng thái liên kết, đời sống hữu cơ, tất cả

những hình thức ấy – nếu ta hãy tạm thời gạt bỏ ở đời sống hữu cơ ra – đều

chuyển hóa lẫn nhau, làm điều kiện cho nhau, ở đây là nguyên nhân, ở kia lại là kết quả, …” [52,720-721]

Trong Biện chứng của tự nhiên, Ph Ăngghen cũng dành sự quan tâm

đến logic biện chứng và lý luận nhận thức Ông chỉ ra rằng, phạm trù của logic là những trình độ mà nhận thức của con người về tự nhiên trải qua trong lịch sử Nhận thức bắt đầu từ việc xác định và nghiên cứu những sự kiện riêng biệt (cái đơn nhất), chuyển sang nhóm những sự kiện thuộc lĩnh vực riêng biệt của các hiện tượng tự nhiên (cái đặc thù) và kết thúc bằng sự phát hiện ra những quy luật chung của tự nhiên (cái phổ biến)

Trên cơ sở những tài liệu của khoa học tự nhiên, Ph Ăngghen đã tập trung phê phán chủ nghĩa bất khả tri, vạch rõ nguồn gốc nhận thức luận của chủ nghĩa duy tâm, đặc biệt trong toán học Ông cho rằng, nếu không hiểu logíc biện chứng, phép biện chứng thì các nhà khoa học tự nhiên sẽ rơi vào chủ nghĩa bất khả tri

Ngoài ra, ông còn nghiên cứu những vấn đề như: vai trò của giả thuyết đối với sự phát triển khoa học tự nhiên, vấn đề thực tiễn là tiêu chuẩn của tính chân lý của nhận thức, vấn đề tính nhân quả trong tự nhiên và nhiều vấn đề khác

Có thể thấy, những vấn đề duy vật biện chứng mà Ph Ăngghen

Ngày đăng: 07/05/2021, 22:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w