ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG LỐI SỐNG CỦA PHỤ NỮ TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở
SỐNG VÀ XÂY DỰNG LỐI SỐNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
LÝ LUẬN VỀ LỐI SỐNG VÀ LỐI SỐNG CỦA PHỤ NỮ
Mỗi xã hội, mỗi con người đều tồn tại và phát triển trong mối quan hệ với tự nhiên, với người này và người khác trong một cộng đồng lịch sử nhất định Do phải sống, tồn tại và phát triển, con người đã sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống mình và phát triển xã hội Cùng với việc sản xuất ra của cải vật chất, con người đã sản xuất ra của cải tinh thần, ra chế độ chính trị và những thiết chế nền tảng của văn hóa như lao động, gia đình, tôn giáo, văn học nghệ thuật… để duy trì sự phát triển ổn định của mình Trong quá trình ấy, mỗi cộng đồng xã hội tạo nên cách sống, phương thức sống và các hình thức sống riêng biệt
Theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật về lịch sử thì các cách sống, các phương thức sống, các hình thức hoạt động sinh sống của con người từ lao động, giao tiếp, gia đình và nhân cách trong một môi trường tự nhiên và xã hội nhất định được gọi là lối sống Có lối sống của một xã hội, lối sống của một cá nhân trong cộng đồng lịch sử nhất định
Lối sống là khái niệm vẫn đang còn nhiều ý kiến khác nhau Từ lâu, khái niệm này đã được các nhà triết học, văn hóa, xã hội học đề cập Từ
“lối sống” được dịch từ chữ “Mode de vie” trong tiếng Pháp,
“Lebensweise” trong tiếng Đức, ‘Oopaz muzhn” trong tiếng Nga và “Mode of life”, “Way of life” hoặc “Lifestyle” trong tiếng Anh Đến nay, mặc dù đã có nhiều tác giả, nhiều tài liệu đề cập đến khái niệm lối sống, nhưng người ta vẫn chưa thể nêu lên một định nghĩa tương đối thống nhất về nội dung và ý nghĩa của nó Điều này cho chúng ta thấy rõ tính phức tạp của khái niệm lối sống
Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, để làm rõ mối quan hệ giữa con người với hoàn cảnh, điều kiện sống của nó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã bổ sung vào khái niệm "phương thức sản xuất" khái niệm "phương thức sinh sống": “Phương thức mà con người sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cho mình, phụ thuộc trước hết vào tính chất của những tư liệu sinh hoạt mà con người thấy có sẵn và phải tái sản xuất ra Không nên nghiên cứu phương thức sản xuất ấy đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các cá nhân Mà hơn thế, nó là một phương thức hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của hoạt động sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định của họ” [60, 30]
Như vậy, Mác đã khẳng định, sản xuất là yếu tố quyết định sự tồn tại của cá nhân và phương thức sản xuất là hình thức hoạt động cơ bản của con người, là phương thức sinh sống của con người, là mặt cơ bản của lối sống Theo Mác, lối sống chính là phương thức, là dạng hoạt động của con người, nó chịu sự quyết định của phương thức sản xuất Từ đây, Mác cho rằng, ở những hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, sẽ có lối sống khác nhau Đặc biệt, trong những hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp, lối sống mang tính giai cấp Mác viết: “Hàng triệu gia đình sống trong những điều kiện kinh tế khác biệt và đối lập kình địch giữa lối sống, quyền lợi và giáo dục của họ với lối sống quyền lợi và giáo dục của giai cấp khác” [58, 208]
Tiếp cận lối sống trên phương diện phương thức hoạt động và tổng thể những quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của những cá nhân trong một hình thái kinh tế - xã hội, M.N Rút-kê-vích,Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, cho rằng: “Lối sống là một tổng thể, một hệ thống những đặc điểm chủ yếu nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định” [57, 45] Định nghĩa này đã được nhìn nhận là phù hợp với góc độ tiếp cận của chủ nghĩa xã hội khoa học Bằng chứng là nó đã được đưa vào sử dụng trong cuốn Chủ nghĩa cộng sản khoa học, sách giáo khoa phương pháp dùng cho các học viên các Trường Đảng cao cấp ở Liên Xô trước đây [10, 337] M.N Rút-kê-vích còn khẳng định, lối sống chịu sự quyết định của phương thức sản xuất; khái niệm “lối sống” và khái niệm “phương thức sản xuất” liên hệ chặt chẽ nhau Ông viết: “Lối sống là một trong những khái niệm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nó liên quan chặt chẽ với một khái niệm có ý nghĩa mấu chốt đối với nó là phương thức sản xuất của cải vật chất” [57, 12]
Cùng với quan điểm xem lối sống là một phương thức hoạt động, I.V Be-xtu-gi-ep, nhà nghiên cứu xã hội học Liên Xô, cho rằng: “Lối sống được kiến giải như là một phương thức hoạt động sống của con người, thì điều hợp lý là lấy các lĩnh vực hoạt động sống quan trọng nhất làm nền tảng cho cơ cấu của lối sống, các lĩnh vực đó ta đều biết là: lao động, sinh hoạt, hoạt động chính trị - xã hội và văn hóa - xã hội” [97, 42] Ở Việt Nam, trong nhiều từ điển tiếng Việt và Hán Việt đã và đang lưu hành không có từ “lối sống”, mà hầu hết chỉ dẫn khái niệm “lối sống giản dị” làm ví dụ, minh họa cho từ “lối” và dẫn “nếp sống” khi đề cập đến khái niệm “sống” Có tác giả cho rằng, từ lối sống và nếp sống là kết quả của việc tạo từ trong ngôn ngữ tiếng Việt và cách dùng thuật ngữ khác nhau để dịch một thuật ngữ nước ngoài (Nga) Và “Sách cổ, sách chữ Hán, sách chữ Nôm không có hai thuật ngữ này Trong thời kỳ cận đại và hiện đại (sau Cách mạng tháng Tám) đã bắt đầu hình thành khái niệm về cách thức, lề lối, nền nếp của con người trong sự sống Các khái niệm trên có thể mượn dịch hoặc phỏng theo từ nước ngoài” [41, 21]
Trong các Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, khái niệm
“lối sống” được đề cập lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội Toàn quốc lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng Các Đại hội sau đó, vấn đề lối sống đều được Đảng ta đề cập Quan tâm sâu sắc đến vấn đề lối sống, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã nhấn mạnh: “Tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng Nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền” [29, 160-161]
Ngày nay, vấn đề lối sống được nhiều nhà nghiên cứu, lý luận Việt Nam quan tâm nhiều hơn và bắt đầu nghiên cứu sâu hơn Trong các công trình nghiên cứu về lối sống và xây dựng lối sống xã hội chủ nghĩa của các nhà khoa học Việt Nam được công bố rải rác từ cuối thập niên 70 của thế kỷ XX đến nay, có nhiều định nghĩa cho khái niệm lối sống đã được đề xuất, trong đó có hai định nghĩa được sử dụng thường xuyên và phổ biến hơn cả, đó là:
Thứ nhất, định nghĩa của GS.Vũ Khiêu trong tác phẩm “Văn hóa Việt Nam, xã hội và con người” do nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội xuất bản năm 2000 Trong tác phẩm này, tác giả đã định nghĩa lối sống như sau: “Lối sống là phạm trù xã hội khái quát toàn bộ hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa” [52, 514] Định nghĩa này có ưu điểm là khái quát được những nét đặc trưng cơ bản của lối sống: phương diện tinh thần và phương diện vật chất của lối sống: phương thức sản xuất và hình thái kinh tế - xã hội
Thứ hai, định nghĩa của GS,TSKH Huỳnh Khái Vinh trong cuốn
“Những vấn đề thời sự văn hóa” do nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội xuất bản năm 1998 Trong cuốn sách này, tác giả đã giải thích rằng: “Lối sống là danh từ ghép gồm “lối” và “sống” “Lối” là phương thức, kiểu cách, cách thức và lề lối; “Sống” là hoạt động, sinh hoạt của mỗi cá nhân hoặc của từng cộng đồng” [104, 192] Từ lý giải đó, tác giả đề xuất một định nghĩa cho khái niệm lối sống như sau: “Lối sống là tập hợp những nét cơ bản, tiêu biểu, ổn định của các hình thức hoạt động sống của cá nhân và xã hội Đó là cách thức hoạt động và ứng xử của chủ thể (cá nhân, tập thể) để đáp ứng nhu cầu sống: từ ăn, uống, ở, mặc, đi lại, tái tạo nòi giống đến học hành, vui chơi, giao tiếp,… từ hoạt động sản xuất kinh doanh, tham gia hoạt động đất nước, văn hóa, xã hội đến việc tổ chức đời sống cá nhân và xã hội” [104, 192-193] Định nghĩa này có ưu điểm là đã nêu bật được đặc trưng của khái niệm lối sống – đó là tập hợp những nét căn bản, tiêu biểu, ổn định trong cách thức, những hình thức hoạt động và ứng xử của mỗi cá nhân hay của cộng đồng để đáp ứng nhu cầu sống của mình
Như vậy, cho đến nay ở Việt Nam và trên thế giới đã có nhiều cách hiểu, cách lý giải khác nhau về khái niệm “lối sống” Trong đó có nhiều điểm tương đồng nhưng cũng không ít những điểm khác nhau Để đi tới một khái niệm lối sống đầy đủ và sát hợp với hướng nghiên cứu của đề tài, cuối cùng để vận dụng tốt hơn vào việc xây dựng và hoàn thiện lối sống của phụ nữ trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Long An, tác giả luận văn xin nêu quan điểm và nhận thức của mình về hai vấn đề còn có nhiều ý kiến khác nhau: 1) Phân định các lĩnh vực cơ bản của lối sống; 2) Phân biệt khái niệm “lối sống” với các khái niệm “mức sống”,
Về vấn đề thứ nhất: phân định các lĩnh vực biểu hiện cơ bản của lối sống
Về nhận thức lối sống như là cách thức hoạt động đời sống của con người đòi hỏi phải chú ý đến vấn đề là cấu trúc hoạt động đời sống như là những lĩnh vực biểu hiện của lối sống của con người có thể được phân định như thế nào, thành mấy lĩnh vực và đó là những lĩnh vực nào Nhưng chính vấn đề này, cho đến hiện nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới có nhiều cách phân định, trong đó, có tính phổ biến và đại diện hơn cả là hai cách phân định như sau:
- Phân định hoạt động sống thành bốn lĩnh vực: hoạt động lao động, hoạt động sinh hoạt – gia đình, hoạt động xã hội – chính trị, hoạt động văn hóa tinh thần [53, 253]
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ YÊU CẦU XÂY DỰNG LỐI SỐNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.2.1 Đặc điểm của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Cuộc cách mạng khoa học công nghiệp nổ ra vào nửa đầu thế kỷ XVIII ở Anh được đánh dấu bằng việc phát minh ra máy hơi nước Trên cơ sở những thành tựu của cuộc cách mạng này, quá trình công nghiệp hóa đã diễn ra Từ nước Anh, quá trình công nghiệp hóa lan sang các quốc gia châu Âu, Bắc Mỹ rồi lan dần ra khắp thế giới Cách mạng công nghiệp và cùng với nó là quá trình công nghiệp hóa đã tạo ra nền văn minh công nghiệp với lực lượng sản xuất hiện đại, văn hóa và khoa học kỹ thuật ngày càng tiên tiến
Sự phát triển liên tục và mạnh mẽ của nền sản xuất công nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường và cạnh tranh đã thúc đẩy sự tăng lên không ngừng nhu cầu của con người và sự phát triển của khoa học công nghệ cùng với sự ứng dụng chúng vào sản xuất Đến lượt mình khoa học công nghệ lại tác động mạnh mẽ nâng cao năng suất lao động và mở rộng tái sản xuất xã hội
Trên cơ sở những thành tựu của quá trình công nghiệp hóa và cuộc cách mạng khoa học công nghệ được bắt đầu vào những năm 50 của thế kỷ
XX mà quá trình hiện đại hóa được triển khai ở Mỹ, sau đó lan sang Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển, Nhật Bản và hàng loạt nước khác Ở đây, đặc trưng cơ bản của hiện đại hóa thể hiện ở chỗ nhiều phát minh khoa học cao, nhiều dạng công nghệ mới được ứng dụng vào sản xuất xã hội làm cho mọi lĩnh vực của đời sống xã hội luôn đổi mới, ngày càng hiện đại, có hàm lượng trí tuệ cao và hoạt động có hiệu quả hơn
Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi cơ bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý kinh tế, xã hội từ dựa vào lao động thủ công là chính sang dựa vào lao động kết hợp cùng với phương tiện, phương pháp công nghệ, kỹ thuật có hàm lượng hiện đại để tạo ra năng suất lao động cao
Hiện đại hóa là quá trình ứng dụng và trang bị những thành tựu và công nghệ tiên tiến, hiện đại vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi xã hội một cách sâu sắc và toàn diện ở tất cả các mặt của đời sống xã hội từ cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật đến văn hóa xã hội Theo đó, tất cả các ngành kinh tế từ nông nghiệp, công nghiệp đến dịch vụ và cả cách thức quản lý đều có sự chuyển biến mạnh mẽ do sự tác động của khoa học – kỹ thuật và công nghệ
Ngày nay, quá trình công nghiệp hóa gắn liền với quá trình hiện đại hóa đã và đang lôi cuốn, tác động đến tất cả các nước, tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Hiện nay, các nước trên thế giới đang ở những giai đoạn và những trình độ không giống nhau của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ở những nước phát triển (những nước đã trải qua công nghiệp hóa, có nền công nghiệp hiện đại), hiện đại hóa chính là quá trình tiếp tục tạo ra và sử dụng những thành tựu khoa học – công nghệ mới nhất, hiện đại nhất vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển hiện đại hơn Đối với những nước đang phát triển, đang trong quá trình công nghiệp hóa cần triển khai quá trình công nghiệp hóa đồng thời với quá trình hiện đại hóa Ở đây, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình sử dụng những thành tựu khoa học – công nghệ hiện đại để đổi mới về căn bản bộ mặt kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa, giáo dục – đào tạo và tinh thần của xã hội nhằm đưa xã hội lên trình độ hiện đại
Như vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình khách quan từ thấp đến cao, kế tiếp và gắn liền với nhau trong xã hội hiện đại Đặc trưng lịch sử của ta được quy định bới tính độc đáo của bước chuyền từ xã hội truyền thống lên xã hội hiện đại, và từ xã hội hiện đại lên xã hội hiện đại hơn
Quan niệm về công nghiệp hóa đã được Đảng Cộng sản Việt Nam dần dần làm sáng tỏ qua quá trình vận dụng, bổ sung, phát triển lý luận và tổng kết thực tiễn từ các Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI cho đến nay Tại Đại hội VI, Đảng ta đã chính thức đề ra đường lối đổi mới toàn diện trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội Điều đó thể hiện tư duy sáng tạo của toàn Đảng sau những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc ở những năm 80 của thế kỷ trước Đảng ta đã đề ra ba chương trình kinh tế lớn với tư tưởng chỉ đạo các cơ sở kinh tế là nhằm mục tiêu giải phóng hết mọi năng lực cho sản xuất, khai thác tối đa những khả năng còn tiềm ẩn trong mọi thành phần kinh tế, sử dụng có hiều quả sự giúp đỡ của các nước trên thế giới để phát triển nhanh, mạnh lực lượng sản xuất
Văn kiện Đại hội VI đã khẳng định: mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế
- xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo Văn kiện Đại hội VII đã xác định rõ khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau:
“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ của khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [25, 4]
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay có đặc điểm khác với công nghiệp hóa của chủ nghĩa tư bản cổ điển và của các nước công nghiệp mới và khác với công nghiệp hóa ở nước ta trong những năm
60, 70 của thế kỷ XX, đó là:
Thứ nhất, công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa
Khác với các nước phương Tây, chúng ta không thực hiện tuần tự công nghiệp hóa rồi tiến lên hiện đại hóa nền kinh tế mà chúng ta kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại hóa ở những khâu quyết định Quá trình này cho phép chúng ta tận dụng và sử dụng có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của đất nước thông qua việc áp dụng nhiều trình độ kỹ thuật và công nghệ khác nhau, tránh lãng phí về vốn, kỹ thuật Thực chất của hiện đại hóa nền kinh tế là không ngừng nâng cao tình độ phát triển của lực lượng sản xuất theo tiến trình phát triển của khoa học và công nghệ thế giới Chính điều này sẽ nhanh chóng hiện đại hóa nền kinh tế theo kịp nền kinh tế chung của thế giới và đồng thời cũng tránh được nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước phát triển trên thế giới
Thứ hai, công nghiệp hóa, hiện đại hóa được thực hiện trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Khác với trước đây, công nghiệp hóa, hiện đại hóa được thực hiện theo cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, kế hoạch hóa cao độ thì giờ đây, công nghiệp hóa, hiện đại hóa được thực hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh đó, trước hết phải tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh Cơ chế thị trường tạo ra cơ hội và điều kiện thuận lợi cho con người tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội đa dạng Nó kích thích tính chủ động, tích cực, tháo vát, sáng tạo của chủ thể tham gia vào hoạt động kinh tế Song, bên cạnh mặt tích cực, cơ chế thị trường cũng có mặt trái của nó Nó tác động đến lối sống của người lao động, là cơ hội hình thành lối sống ích kỷ, thực dụng, vụ lợi,… Vì vậy, cần nhận thức và chủ động khắc phục, điều tiết mặt hạn chế của nó Công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải đảm bảo các mục tiêu phát triển xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội phải được xem xét trong mối quan hệ biện chứng Chính vì vậy, đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà nước, một bộ phận không thể thiếu được trong cơ chế quản lý quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỐI SỐNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM HIỆN NAY
NỮ VIỆT NAM HIỆN NAY
1.3.1 Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tác động đến lối sống của phụ nữ Việt Nam
Công nghiệp hóa là khái niệm chỉ quá trình hình thành và phát triển nền đại công nghiệp, sự chuyển sang sự sản xuất bằng máy móc trong các xí nghiệp, gắn liền với sự xuất hiện các thành thị và các trung tâm công nghiệp lớn
Có thể nói, công nghiệp hóa là kết quả của quá trình tất nhiên của sự phát triển sản xuất công nghiệp Người ta cho rằng, nước Anh vào thế kỷ XVIII là nơi và thời điểm xuất hiện xã hội công nghiệp đầu tiên Ngày nay, trên thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, nó làm cho lực lượng sản xuất phát triển mới về chất, thúc đẩy quá trình cấu trúc lại nền kinh tế thế giới, làm thay đổi sâu sắc bộ mặt xã hội Do vậy, khi nói đến công nghiệp hóa thì phải gắn liền với hiện đại hóa Nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa, cho nên, việc tiến hành công nghiệp hóa là một tất yếu
Trong thời gian qua, quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã có những ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực đến việc hình thành và xây dựng lối sống của người dân nước ta nói chung, của phụ nữ nói riêng
Trước hết, có thể nêu một vài ảnh hưởng tích cực của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến lối sống của phụ nữ:
Thứ nhất, do thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên mọi lĩnh vực, nhất là công nghiệp hóa, hiện đại nông nghiệp, nông thôn, bộ mặt nông thôn nói riêng, cả nước nói chung có nhiều thay đổi theo hướng tiến bộ, văn minh, hiện đại Nhiều khu công nghiệp, nhà máy mọc lên, nhiều dịch vụ kèm theo cũng phát triển đã kéo một bộ phận không nhỏ phụ nữ từ đồng ruộng, nông thôn vào nhà máy, trở thành công nhân công nghiệp, công nhân dịch vụ Khi tham gia vào môi trường sản xuất công nghiệp, phụ nữ không chỉ có việc làm tốt với thu nhập cao hơn mà còn được tiếp cận với văn hóa lao động, kỷ luật lao động công nghiệp tiên tiến; có điều kiện nâng cao trình độ khoa học, kỹ thuật, ý thức chính trị, nắm bắt kịp thời những thành tựu khoa học công nghệ mới nhất của thế giới… Công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng làm cho đô thị hóa tăng nhanh, một bộ phận phụ nữ nông thôn trở thành người thành thị, có điều kiện giao lưu, tiếp thu những giá trị văn minh của đời sống thành thị, nhờ đó cuộc sống vật chất, tinh thần được cải thiện đáng kể
Thứ hai, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức đã giúp một số chị em phụ nữ phát huy được năng lực của mình trong việc phát minh, sáng chế các công trình khoa học, ứng dụng vào sản xuất kinh doanh, giúp người dân nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất, góp phần phát triển kinh tế đất nước Nhiều chị đã đứng đầu một số lĩnh vực quan trọng, thu hút, tạo việc làm cho hàng ngàn lao động nữ Tên tuổi của một số chị được vinh danh không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới, làm rạng rỡ phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam
Thứ ba, môi trường lao động công nghiệp đã trang bị cho chị em tinh thần hợp tác, cố kết cộng đồng chặt chẽ trong lao động, sản xuất, tinh thần lao động chăm chỉ, có kỷ luật cao; có bản lĩnh chính trị vững vàng trước những cám dỗ đời thường, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng đạo lý
Nhìn chung, công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã giải phóng thêm một bước khả năng sáng tạo của phụ nữ, rèn luyện họ trưởng thành trong cơ chế thị trường Với tinh thần cần cù, chịu khó, đảm đang, thông minh vốn có, họ đã phát huy tính tự chủ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và nhờ đó đã đạt được những thành tựu quan trọng góp phần nâng cao địa vị, vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong gia đình và ngoài xã hội
Tuy nhiên, bên cạnh những ảnh hưởng tích cực đó ta thấy còn có những ảnh hưởng tiêu cực:
Thứ nhất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo điều kiện phát triển kinh tế, tạo ra sản phẩm xã hội dồi dào, điều kiện hưởng thụ vật chất và tinh thần đầy đủ, thậm chí dư thừa, những công nghệ thoả mãn đời sống tinh thần con người ngày càng hiện đại, nhưng mặt khác, nó cũng tạo ra xu hướng khác là máy móc hóa, công nghiệp hóa trong thưởng thức văn hóa nghệ thuật, làm khô cạn, làm nghèo nàn cảm xúc phong phú trong tâm hồn con người Một số người đi vào khai thác triệt để các phương tiện kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến để thoả mãn tối đa những nhục cảm cá nhân thiếu lành mạnh, vốn dĩ xa lạ với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của phụ nữ Việt Nam
Thứ hai, một trong những yêu cầu để quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo được thực hiện tốt là sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước Chính yêu cầu này đã dẫn đến sự khai thác một cách bừa bãi, thiếu tính chiến lược, gây bất hợp lý, mất cân đối, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên ở các nước đang phát triển nói chung và ở nước ta nói riêng Đi cùng với sự khai thác này là hàng loạt nhà máy công nghiệp, cơ sở sản xuất mọc lên khắp nơi đã gây nên hiện tượng ô nhiễm môi trường sinh thái, môi trường sống con người không chỉ ở thành thị mà cả ở nông thôn một cách nghiêm trọng, đáng báo động Đời sống của phụ nữ Việt Nam không tránh khỏi những tác động đó
Thứ ba, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo ra sự phân hóa khá sâu sắc giữa thành thị và nông thôn, giữa các ngành nghề trong xã hội, giữa người lao động với nhau Hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh, khoảng cách giàu nghèo ngày càng cách xa, lực lượng lao động trong các ngành nghề mất cân đối,… là những yếu tố đang gây xáo trộn đời sống vật chất và tinh thần xã hội, tất nhiên nó ảnh hưởng đến lối sống của con người, của phụ nữ Ngoài ra, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn đang tạo nên những biến đổi mạnh mẽ trong đời sống của người nông dân Việt Nam hiện nay Bên cạnh những yếu tố tích cực thì cũng có một số tác động không tích cực của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, đặc biệt là việc chuyển đổi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp và sân gôn, khiến cho hàng ngàn hộ nông dân không còn ruộng đất canh tác và phải đi tìm những phương thức sinh kế khác nhau, làm tăng thêm số lượng người di cư từ nông thôn ra thành thị, hiện tượng phụ nữ xuất khẩu lao động và lấy chồng là người nước ngoài ngày càng tăng
1.3.2 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tác động đến lối sống của phụ nữ Việt Nam
Kinh tế thị trường là nền kinh tế hình thành từ lâu trong lịch sử Kinh tế thị trường xuất hiện như là một yêu cầu khách quan khi nền kinh tế hàng hóa phát triển đến một giai đoạn nhất định Khi kinh tế hàng hóa xuất hiện thì thị trường xuất hiện, nhưng điều đó không có nghĩa là, hễ có kinh tế hàng hóa là có kinh tế thị trường Chỉ khi nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, thị trường được mở rộng, phong phú, đồng bộ, các quan hệ thị trường tương đối hoàn thiện thì mới có kinh tế thị trường Cho nên, có thể nói, kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của nền kinh tế hàng hóa, trong đó, toàn bộ “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường Trong lịch sử, nền kinh tế thị trường có một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, thúc đẩy tiến bộ lịch sử
Từ Đại hội lần thứ VI, Đảng ta chủ trương xoá bỏ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của nhà nước Đến Đại hội lần thứ IX, Đảng ta vẫn đã xác định, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu tổ chức nền kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, vận hành theo các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, các quy luật của thời kỳ quá độ, đồng thời có sự quản lý của nhà nước, nhằm đạt mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Như vậy, nền kinh tế thị trường mà Đảng và nhân dân ta xây dựng không phải là nền kinh tế thị trường nói chung hay nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mà nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là chủ trương đúng đắn của Đảng ta nhằm khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng con người phát triển năng lực và phẩm chất hoàn thiện nhân cách và lối sống phù hợp với bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở đó, chúng ta xây dựng lối sống lành mạnh trong toàn xã hội Hơn nữa, việc xây dựng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm khắc phục những khuyết tật vốn có của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Có thể nói, kinh tế thị trường vừa có ảnh hưởng tích cực, đồng thời có ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội nói chung và lối sống của phụ nữ nói riêng
Về các tác động tích cực của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đối với lối sống của phụ nữ Việt Nam chủ yếu được thể hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, cơ chế thị trường năng động đã tác động, kích thích tính sáng tạo, nhạy bén của phụ nữ trong lao động, sản xuất, kinh doanh Kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều ngành nghề mới, đem lại nhiều việc làm cho phụ nữ, nhất là lĩnh vực dịch vụ Phụ nữ tham gia nhiều vào hoạt động có tính chất kinh doanh nên thu nhập tăng, năng lực quản lý, năng lực xã hội cũng tăng lên Nhiều phụ nữ đã góp phần tạo công ăn, việc làm cho nhiều phụ nữ khác, cho cộng đồng, góp phần nâng cao đời sống vật chất cho gia đình, cho cộng đồng, xã hội Có thể nói, trong nền kinh tế thị trường, sự đóng góp về kinh tế của phụ nữ cho gia đình, cộng đồng, xã hội ngày càng rõ nét và được khẳng định Phụ nữ trẻ hiện nay có sự phát triển vượt trội trong nền kinh tế thị trường so với thế hệ phụ nữ trước đây Sự tự tin, năng động, tính quyết đoán, trình độ ngoại ngữ, tin học, trình độ quản lý… của bộ phận phụ nữ trẻ trở thành ưu thế cho phụ nữ giữ gìn, phát triển phẩm chất, đạo đức của mình
KHÁI QUÁT VỀ TỈNH LONG AN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦ A QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH
2.1.1 Khái quát về tỉnh Long An và tình hình phụ nữ trong tỉnh Long An
Khái quát v ề t ỉ nh Long An
Về vị trí địa lý: Long An là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông
Cửu Long, phía Đông giáp thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh, phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp và phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang Nằm ở vị trí bản lề giữa Đông và Tây Nam Bộ, giữa vùng trọng điểm phát triển kinh tế phía Nam và cận kề với thành phố
Hồ Chí Minh, trung tâm sản xuất và tiêu thụ hàng hoá lớn nhất cả nước, Long An có điều kiện thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước Với 137,7 km biên giới, Long An có điều kiện thuận lợi trong việc trao đổi hàng hoá với Campuchia và các nước Đông Nam Á khác Với cửa sông Soài Rạp hướng ra biển Đông, Long An có khả năng phát triển công nghiệp, dịch vụ vận tải, xuất nhập khẩu
Về địa hình: Địa hình Long An bằng phẳng, có xu thế thấp dần từ phía Bắc - Đông Bắc xuống Nam – Tây Nam, trong đó khu vực phía Bắc và Đông Bắc tương đối cao, khu vực Đồng Tháp Mười thấp, trũng, chiếm 66,4% diện tích đất tự nhiên thường xuyên bị ngập lụt hàng năm
Dọc theo tuyến biên giới ở Long An, hiện nay có 5 cửa khẩu, bao gồm: Cửa khẩu Mỹ Quí Tây - Đức Huệ; Cửa khẩu Bình Hiệp– Mộc Hoá; Cửa khẩu Vàm Đồn – Vĩnh Hưng; Cửa khẩu Kênh 28 – Vĩnh Hưng; Mỹ Quý Tây (Xòm-Rông) Ngoài ra, còn có 5 điểm trao đổi hàng hoá khác như Voi Đình, Dóc Đinh thuộc huyện Đức Huệ, Tà Lọt thuộc huyện Mộc Hoá, Rạch Chanh, Tàu Nu, Cây Trâm Dồ thuộc huyện Vĩnh Hưng
Về khí hậu: Long An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm
Do tiếp giáp giữa hai vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ nên vừa mang các đặc tính đặc trưng cho vùng đồng bằng sông Cửu Long lại vừa mang những đặc tính riêng biệt của vùng miền Đông Tỉnh Long An nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo có nền nhiệt ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài, nhiệt độ và tổng tích ôn cao, biên độ nhiệt ngày đêm giữa các tháng trong năm thấp, ôn hòa
Những khác biệt nổi bật về thời tiết khí hậu như trên có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội và sản xuất nông nghiệp
Về hệ thống sông ngòi: Long An có mạng lưới sông, ngòi, kênh rạch chằng chịt nối liền nhau, chia cắt địa bàn tỉnh thành nhiều vùng Nổi bật trong mạng lưới sông, rạch này là hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây
Sông Vàm Cỏ Đông dài trên 200 km, bắt nguồn từ Campuchia chảy qua Tây Ninh vào Long An qua các huyện Đức Huệ, Đức Hoà, Bến Lức, Tân Trụ và Cần Đước Phần sông chảy trên địa bàn Long An dài khoảng 150 km
Sông Vàm Cỏ Tây dài trên 250 km, cũng bắt nguồn từ Campuchia chảy vào Long An qua các huyện Vĩnh Hưng, Mộc Hoá, Tân Thạnh, Thanh Hoá, Thủ Thừa, thành phố Tân An, Tân Trụ, Châu Thành, Cần Đước Phần sông chảy trên địa bàn Long An dài khoảng 186 km
Về đất đai: Long An có 6 nhóm đất chính: đất phù sa cổ (chiếm 21,5% diện tích), đất phù sa ngọt (chiếm 17,04% diện tích), đất phù sa nhiễm mặn (chiếm 1,26% diện tích), đất phèn (chiếm 55,47% diện tích) và đất than bùn (chiếm 0,05% diện tích) Phần lớn đất đai Long An được tạo thành ở dạng phù sa bồi lắng lẫn nhiều tạp chất hữu cơ nên đất có dạng cấu tạo bới rời, tính chất cơ lý rất kém, các vùng thấp, trũng tích tụ độc tố làm đất trở nên chua phèn, bất lợi trong tổ chức sản xuất nông nghiệp [107]
Về khoáng sản: Long An có trữ lượng than bùn vào khoảng 2,5 triệu tấn, phân bố ở các huyện vùng Đồng Tháp Mười như Tân Lập – Mộc Hoá, Tân Lập – Thạnh Hoá (Tráp Rùng Rình), Tân Thạnh (xã Tân Hoà), Đức Huệ (xã
Mỹ Quý Tây, Tráp Mốp Xanh) Với độ tro thấp, mùn cao, lượng khoáng cao, than bùn ở Long An là nguồn nguyên liệu tốt để sản xuất chất đốt và phân bón Ngoài ra, tỉnh còn có những mỏ đất sét ở khu vực phía bắc, tuy trữ lượng không lớn, nhưng có thể đáp ứng yêu cầu khai thác làm vật liệu xây dựng [107]
Về dân số, mật độ dân số: Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh
Long An đạt gần 1.449.600 người, mật độ dân số đạt 323 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 258.000 người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.191.600 người [108]
Về dân tộc: Long An là tỉnh có nhiều dân tộc cùng cư trú; trong đó người
Kinh chiếm số lượng áp đảo; kế đến là người Hoa, người Khmer Theo kết quả điều tra dân số năm 2009 đăng trên Website tỉnh, dân tộc Kinh có 1.431.644 người, chiếm 99,69% dân số tỉnh; dân tộc Hoa có 2.690 người, chiếm 0,18%; dân tộc Khmer có 1.195 người, chiếm 0,08%; còn lại là các dân tộc khác [109]
Về tôn giáo: đa số dân Long An không theo tôn giáo, tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh cũng có khá nhiều tôn giáo như: Phật giáo, Cao Đài, Công giáo, Tin Lành, Hoà Hảo Theo kết quả điều tra dân số năm 2009 đăng trên Website tỉnh, có đến 85,57% dân số không theo đạo, 8,71% người theo đạo Phật, 3,09% người theo đạo Cao Đài, 2,16% người theo Công giáo [109] Điều kiện kinh tế - xã hội
Về công nghiệp – xây dựng: Trong vùng trọng điểm kinh tế phía
Nam, Long An có phần yếu thế hơn so với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông Nam Bộ Tuy nhiên, từ năm 2000, khi các khu vực này đã bắt đầu quá tải, làn sóng đầu tư kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp tràn về tỉnh Long An Tỉnh đã nắm bắt thời cơ bằng nhiều chính sách ưu đãi, trở thành địa phương thu hút đầu tư nước ngoài nhiều nhất ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long
THỰC TRẠNG LỐI SỐNG CỦA PHỤ NỮ TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH LONG
2.2.1 Những yếu tố tích cực trong lối sống của phụ nữ Long An trong những năm qua
Trong ho ạt động lao độ ng s ả n xu ấ t v ậ t ch ấ t
Trong lao động sản xuất, phụ nữ gắn liền với lợi ích phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ Đặc biệt, sự phát triển công nghiệp trong những năm qua trên địa bàn tỉnh Long An đã đem lại những lợi ích cơ bản, trực tiếp cho người lao động như việc làm, đời sống vật chất và tinh thần được nâng lên, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển về mọi mặt
Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, vượt qua những khó khăn thử thách, khắc nghiệt của thiên tai, chị em đã tích cực lao động sản xuất, tìm hiểu, học hỏi phương thức làm ăn mới, thích nghi với cơ chế chuyển đổi trong nông nghiệp, biết phát huy tính tự chủ của đơn vị kinh tế hộ gia đình Các chị đã cùng gia đình chủ động trong kế hoạch sản xuất, mạnh dạn áp dụng kỹ thuật mới, nhanh nhạy nắm bắt nhu cầu thị trường, tạo ra nhiều sản phẩm có năng suất cao, nông nghiệp Long An từ lâu đã nổi tiếng với nhiều sản phẩm như: gạo tài nguyên, gạo nàng thơm Chợ Đào, dưa hấu Long Trì huyện Châu Thành, dứa (khóm hoặc thơm) Bến Lức, đậu phộng Đức Hoà, mía Thủ Thừa
Chị em nữ trong các ngành sản xuất, dịch vụ, thương mại, y tế ,văn hóa và thể dục thể thao là lực lượng lao động lớn Những năm qua chị em đã phải đương đầu với bao khó khăn thách thức, giữ vững vị trí hoạt động của mình Qua thử thách đã hình thành đội ngũ nữ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, luôn nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, từng bước vươn lên thay đổi cách nghĩ, cách làm, tìm ra những phương án sản xuất kinh doanh mới nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường, tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập, góp phần ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống Để tăng năng suất, tạo ra sự hăng say trong lao động sản xuất cũng như tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ tay nghề của mình, chính quyền các cấp tỉnh Long An đã chú trọng đến việc dạy nghề, phổ cập tin học cho phụ nữ, tổ chức nhiều phong trào thi đua sản xuất giỏi, cải tiến kỹ thuật, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, nghiệp vụ Đặc biệt phong trào
“phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình”, đã được phụ nữ tỉnh tham gia tích cực với tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách Trong năm 2011, đã có 67.122 phụ nữ giúp nhau làm kinh tế với nhiều hình thức như: cho mượn tiền vốn không lấy lãi, ngày công, con giống, cây giống… với tổng số tiền trên 400 triệu đồng, giúp cho nhiều phụ nữ có công ăn việc làm ổn định, giải quyết hàng ngàn lao động nữ [45, 5] Đặc biệt sau khi phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” được đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu phụ nữ tỉnh Long An nhiệm kỳ 2006 - 2011, thì các tầng lớp phụ nữ đã phấn đấu học tập, nâng cao trình độ mọi mặt, hình thành tác phong công nghiệp trong lao động, sản xuất, kinh doanh, góp phần khẳng định vai trò và những giá trị đóng góp trên các lĩnh vực đời sống xã hội Hàng năm có trên 97% hội viên và trên 69% phụ nữ đăng ký thực hiện phong trào [7, 1] Từ phong trào thi đua đã xuất hiện nhiều gương điển hình phụ nữ xuất sắc trên các lĩnh vực, xây dựng hình ảnh người phụ nữ thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước “có sức khỏe, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa, có lòng nhân hậu”…
Phụ nữ nông thôn đã đầu tư, nghiên cứu ứng dụng khoa học – kỹ thuật để tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, cây trồng, vật nuôi có chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế Một bộ phận phụ nữ đã mạnh dạng phát triển kinh tế trang trại, doanh nghiệp tư nhân, xây dựng những cánh đồng chuyên canh đạt giá trị tăng thêm 25 triệu/ha/năm
[7, 2] Các doanh nghiệp nữ được Hội các cấp quan tâm hỗ trợ thông qua các hình thức tổ chức tập huấn, hội thảo, hội thi, phát hành đặc san về doanh nghiệp, hội chợ giới thiệu sản phẩm; hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp do nữ làm chủ; củng cố, nâng chất lượng hoạt động các câu lạc bộ nữ doanh nghiệp huyện, thành phố Hiện nay, toàn tỉnh xây dựng được 615 doanh nghiệp nhỏ với ngành nghề truyền thống do phụ nữ làm chủ, giải quyết trên 12.000 lao động tại chỗ [7, 5]
Theo quy hoạch đến năm 2020, tỉnh Long An chuyển 31.000 ha đất sản xuất nông nghiệp sang xây dựng phát triển công nghiệp, dự kiến có khoảng 620.000 lao động (số đông là lao động nữ) trong nông nghiệp mất việc làm Để nhằm tạo công ăn việc làm cho lao động nữ ở nông thôn, tỉnh Long An đã quy hoạch các làng và cụm làng nghề truyền thống như: Làng nghề chầm nón, đan mây, tre trúc, bao đệm bàng ở xã Tân Mỹ, Lộc Giang,
An Ninh Đông, Hiệp Hòa, Tân Phú (huyện Đức Hòa) thu hút từ 20.000 đến 30.000 lao động dôi dư ra từ nông nghiệp; làng nghề đan bao đệm bàng ở xã Mỹ Quý Tây, Mỹ Quý Đông (huyện Đức Huệ); giải quyết việc làm cho từ 3.000 đến 4.000 lao động; làng dệt chiếu ở xã An Nhựt Ninh, Mỹ Bình, Lạc Tấn (huyện Tân Trụ), Nhựt Chánh, Bình Nhựt, An Thạnh thu hút hơn 30.000 lao động (huyện Bến Lức) và thông qua nhiều mô hình như: mô hình nuôi tôm sú - cá ở các huyện vùng ven biển Cần Đước, Cần Giuộc,
Tân Trụ, Châu Thành; mô hình nuôi cá rô đồng xen canh vụ lúa đông xuân; mô hình khai thác nước giếng để sản xuất hoa màu, dưa hấu xen canh với 1 vụ lúa ở các huyện Đức Hòa, Cần Giuộc, Cần Đước, Châu Thành; mô hình chuyển gần 1.000 ha đất trồng lúa sang trồng cỏ voi nuôi bò sữa ở các huyện Đức Hòa, Châu Thành và Đức Huệ, Hội Phụ nữ tỉnh đã phát huy được nội lực, tinh thần hợp tác, tương trợ cùng vượt qua khó khăn, tạo thêm việc làm cho lao động nữ tại địa phương, có nhiều phụ nữ đạt danh hiệu sản xuất kinh doanh giỏi (trong 5 năm 2006-2011 có 709 phụ nữ đạt danh hiệu “Nữ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi”) [45, 5]
Có thể khẳng định rằng, tuyệt đại đa số phụ nữ Long An dù đang hoạt động sản xuất trong bất cứ thành phần kinh tế nào, họ vẫn giữ được phẩm chất truyền thống tốt đẹp: cần cù, thông minh sáng tạo, họ dám nghĩ, dám làm trên cơ sở kiến thức khoa học, biết làm giàu cho gia đình và cho xã hội một cách chân chính Họ là những người có trách nhiệm, có đạo đức, có lòng tự trọng cao, có tinh thần vươn lên tự học tập nâng cao trình độ mọi mặt Bản thân người phụ nữ khi tham gia vào quá trình sản xuất, ý thức tổ chức kỷ luật và tác phong công nghiệp của họ cũng không ngừng được nâng cao
Trong công tác giảm nghèo, phụ nữ luôn giữ vai trò nòng cốt đi đầu thông qua mô hình sổ tiết kiệm – tín dụng giúp nhau phát triển kinh tế gia đình Thông qua các nguồn vốn ủy thác (Ngân hàng chính sách xã hội), vốn tiết kiệm, tín dụng, vốn của các dự án phi Chính phủ, các cấp Hội đã hỗ trợ giúp nhiều phụ nữ thoát nghèo Số vốn tổ tín dụng tiết kiệm trên 58 tỷ đồng, trên 138.000 thành viên tham gia (so năm 2006 tăng 12 tỷ đồng); nguồn vốn các tổ chức phi Chính phủ giao Hội quản lý đã ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội trên 2,2 tỷ đồng đã giúp 580 hộ gia đình có thu nhập thấp được hỗ trợ phát triển kinh tế Ngoài ra, các cấp Hội còn tín chấp Ngân hàng Chính sách xã hội trên 655 tỷ đồng (so năm 2006 tăng trên
454 tỷ đồng), cho gần 55.000 lượt hộ phụ nữ vay, giúp 100% phụ nữ nghèo có nhu cầu vay vốn được hỗ trợ vốn làm kinh tế Từ sự hỗ trợ của Hội đã có 3.948/11.186 hộ nghèo do nữ làm chủ hộ vươn lên thoát nghèo, ổn định cuộc sống gia đình (tỷ lệ 35,3%) [45, 5] Kết quả đó góp phần tích cực cùng với Đảng, Nhà nước thực hiện chương trình giảm nghèo, giải quyết việc làm của tỉnh
Trong ho ạt độ ng chính tr ị - xã h ộ i
Phụ nữ Long An luôn tin tưởng vào các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước, hăng hái tham gia vào hoạt động thi đua cũng như các hoạt động chính trị - xã hội Trong năm 2011, có 29.510 phụ nữ tham gia học tập nội dung phong trào thi đua và 100% trong số họ đăng ký thực hiện các phong trào thi đua và có 17.706 phụ nữ đạt 3 tiêu chuẩn: phụ nữ tích cực học tập; lao động sáng tạo; xây dựng gia đình hạnh phúc [45, 1]
Phụ nữ luôn thực hiện theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tôn trọng quy định nơi làm việc và nơi cư trú Phần lớn phụ nữ có trình độ học vấn cao đã có những hiểu biết tốt về chính trị, về quyền và nghĩa vụ của mình trong đời sống chính trị, về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về những vấn đề thời sự nổi bật trong và ngoài nước Đa số phụ nữ Long An có lòng tự hào về truyền thống đấu tranh dân tộc, về chủ tịch Hồ Chí Minh, tích cực tự giác học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người qua các cuộc vận động mà Đảng ta phát động Sau các đợt học tập, đã xuất hiện nhiều chương trình hành động tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống; đã xuất hiện nhiều gương điển hình tiên tiến và nhiều mô hình tiết kiệm như: mô hình nuôi heo đất; hủ gạo tình thương; tiết kiệm điện, nước, tiêu dùng,… với số tiền tiết kiệm gần 2 tỷ đồng giúp đỡ những phụ nữ khuyết tật, người già neo đơn, trẻ em nghèo [6, 2]
Lực lượng nữ công chức, viên chức và người lao động trong tỉnh không ngừng học tập nâng cao trình độ, tay nghề; năng động, sáng tạo, tích cực thực hiện phong trào “Phụ nữ giỏi việc nước, đảm việc nhà” (gọi tắt là phong trào phụ nữ 2 giỏi), có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí,… nhiều phụ nữ đã phấn đấu trở thành những người lãnh đạo, quản lý giỏi, đã góp phần tích cực trong việc xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền vững mạnh Qua 5 năm (2006-