Nghị quyết TW II khóa 8 đã chỉ rõ: “Công tác giáo dục hướng nghiệp ở bậc phổ thông chưa được coi trọng đúng mức ”3; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có Chỉ thị số 33/ 2003/CT – B
Trang 1……
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
CẤP TRƯỜNG NĂM 2011
ĐỀ TÀI:
NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG VIỆC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ
NGHIỆP CỦA HỌC SINH LỚP 12 (Nghiên cứu trường hợp Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Trường Tộ- Xã Tân Hải-Thị xã Lagi- Tỉnh Bình Thuận)
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm:
1 Hồ Thùy Linh (Nữ, Lớp Xã hội học k14A, khóa 2008-2012)
Thành viên:
2 Lào Thụy Dương (Nữ, Lớp Xã hội học k14A, khóa 2008-2012)
3 Phạm Văn Học (Nam, Lớp Xã hội học k14A, khóa 2008-2012)
4 Nguyễn Thu Hương (Nữ, Lớp Xã hội học k14A, khóa 2008-2012)
5 Bùi Văn Hưng (Nam, Lớp Xã hội học k14A, khóa 2008-2012)
Giáo viên hướng dẫn:
Ths.Trần Thị Bích Liên, Khoa Xã hội học
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2011
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 BBGB PVS: Biên bản gỡ băng phỏng vấn sâu
2 BGH: Ban giám hiệu
3 CĐ-ĐH: Cao đẳng- Đại học
4 CP: Chính phủ
5 GDCD: Giáo dục công dân
6 GD-ĐT: Giáo dục - Đào tạo
7 GDHN: Giáo dục hướng nghiệp
18 THPTDT: Trung học phổ thông dân tộc
19 THPTDTNT: Trung học phổ thông dân tộc nội trú
20 TP: Thành phố
21 TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
22 TT: Thông tư
Trang 3PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN 2: NỘI DUNG 16
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
1.1 Lý thuyết áp dụng 16
1.2 Các khái niệm 19
1.3 Khung phân tích 24
1.4 Giả thuyết nghiên cứu 25
1.5 Phương pháp nghiên cứu 25
CHƯƠNG 2: MÔ TẢ ĐỊA BÀN VÀ MẪU NGHIÊN CỨU 28
2.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu 28
2.2 Mô tả mẫu nghiên cứu 31
2.3 Tìm hiểu hoạt động hướng nghiệp của trường THPT Nguyễn Trường Tộ 33
CHƯƠNG 3: NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA HỌC SINH 12 TRONG VIỆC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP 37
3.1 Khó khăn từ chính bản thân học sinh 38
3.2 Khó khăn từ gia đình 42
3.3 Khó khăn từ nhà trường: Thiếu thông tin về ngành nghề, trường dự thi, nhu cầu lao động ở địa phương 50
3 4 Khó khăn từ phía xã hội 56
3 5 Nhu cầu bộ phận chuyên tư vấn hướng nghiệp 61
PHẦN 3: KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 74
Trang 4PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, với nền kinh tế thị trường mở và nhiều biến động Hai yếu tố nguồn nhân lực và giáo dục đào tạo được xem là quan trọng trong việc quyết định thắng lợi của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Vì vậy giáo dục đào tạo rất được Nhà nước quan tâm nhằm nâng cao trình độ dân trí và cung ứng nguồn nhân lực phù hợp với cơ cấu chuyển dịch của nền kinh tế đất nước nói chung và kinh tế từng địa phương nói riêng Nhà trường Trung học phổ thông là nơi góp phần không nhỏ cho việc đào tạo những người lao động mới; hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, là bước khởi đầu quan trọng của quá trình phát triển nguồn nhân lực
Xác định vai trò quan trọng của công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông, ngày 19 - 3- 1981, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 126/CP về công tác hướng nghiệp và sử dụng hợp lí học sinh các cấp PTCS, PTTH tốt nghiệp ra trường Quyết định nêu rõ “Công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông nhằm mục đích bồi dưỡng, hướng dẫn việc chọn nghề của học sinh cho phù hợp với yêu cầu phát triển của
xã hội đồng thời phù hợp với năng khiếu cá nhân”(1) Tiếp đó, Bộ Giáo dục đã ban hành Thông tư số 31/TT hướng dẫn thực hiện Quyết định 126/CP trong đó chỉ rõ: Công tác hướng nghiệp trong trường PT được thực hiện qua 4 con đường cơ bản: Hướng nghiệp qua dạy học các môn văn hóa
Hướng nghiệp qua dạy học các môn kỹ thuật (nay là các môn công nghệ, nghề phổ thông) và qua hoạt động lao động sản xuất
Hướng nghiệp qua các buổi “Sinh hoạt hướng nghiệp” theo chương trình GDPT mới được gọi là hoạt động GDHN
Hướng nghiệp qua các hoạt động ngoại khóa ở trong và ngoài nhà trường (2)
(1) QĐ Số 126/CP, http://www.vanban.luathonglinh.vn
(2) Thông tư số 31/TT, http://www.vanbanphapluat.com
Trang 5Thế nhưng, trong nhiều năm qua công tác hướng nghiệp ở các trường THPT mới chỉ dừng ở một số họat động nhất định như tổ chức sinh hoạt hướng nghiệp trong buổi sinh họat đầu tuần hoặc cuối tuần, hướng dẫn làm hồ sơ thi vào đại học Hiệu quả của các hoạt động ấy chưa cao, chưa đạt được mong muốn của chủ trương Thực trạng ấy
do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thuộc về quản lý Nghị quyết TW II khóa 8 đã chỉ rõ: “Công tác giáo dục hướng nghiệp ở bậc phổ thông chưa được coi trọng đúng mức ”(3); Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có Chỉ thị số 33/ 2003/CT – Bộ GD&ĐT ngày 23 - 7 - 2003 về việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, trong đó có đánh giá : “Giáo dục hướng nghiệp hiện nay chưa được các cấp quản lý giáo dục và các trường học quan tâm đúng mức, còn có địa phương và trường học chưa thực hiện đầy đủ các nội dung giáo dục hướng nghiệp, chất lượng hoạt động hướng nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của học sinh và xã hội, học sinh phổ thông cuối các cấp học và bậc học chưa được chuẩn bị chu đáo để lựa chọn nghề nghiệp, lựa chọn ngành học phù hợp với bản thân và yêu cầu của xã hội"(4) Thực tế đã qua và hiện nay hoạt động GDHN trong nhà trường phổ thông nói chung, trường THPT nói riêng còn nhiều hạn chế GDHN chưa đáp ứng yêu cầu của
xã hội đối với nhiệm vụ định hướng nghề nghiệp cho học sinh Các trường bậc THPT, THCS, những đơn vị chịu trách nhiệm chính trong tư vấn hướng nghiệp - vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn trong khâu xây dựng hệ thống hướng nghiệp để giúp học sinh có được sự lựa chọn nghề đúng đắn Vấn đề này đang được quan tâm của toàn xã hội và những người làm công tác hướng nghiệp
Trường THPT Nguyễn Trường Tộ, Xã Tân Hải – Thị Xã Lagi – Bình Thuận, là
ngôi trường mới được xây dựng lại thuộc khu vực nông thôn thì công tác hướng nghiệp của trường đã được thực hiện tốt chưa? Học sinh lớp 12 của trường nói riêng
và học sinh vùng nông thôn cũng như học sinh lớp 12 nói chung có gặp khó khăn gì trong việc định hướng nghề nghiệp không? Những khó khăn đó là gì? Có khó khăn nào mang tính đặc thù của địa phương không? Và đâu là những nguyên do dẫn đến những khó khăn đó?
(3) Số 02-NQ/HNTW , http://www.hcmut.edu.vn/phongban/tchc/vanbanphapluat/1c.html (4) Số: 33/2003/CT-BGDĐT, http://www.thuvienphapluat.vn/archive/Chi-thi/Chi-thi-33- 2003-CT-BGDDT-tang-cuong-giao-duc-huong-nghiep-hoc-sinh-pho-thong-vb54587t1.aspx
Trang 6Từ những câu hỏi đặt ra, nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài “Những khó khăn của
học sinh 12 trong việc định hướng nghề nghiệp” (Nghiên cứu trường hợp của
trường THPT Nguyễn Trường Tộ, Xã Tân Hải – Thị Xã Lagi – Bình Thuận) Trong
khả năng giới hạn của đề tài, nhóm nghiên cứu sẽ chỉ ra những khó khăn mà học sinh
12 gặp phải trong việc định hướng nghề nghiệp cho mình và những nguyên nhân dẫn đến các khó khăn đó
2 Tình hình nghiên cứu
Học sinh 12 là một bộ phận tri thức trẻ đóng góp vào sự phát triển nguồn nhân lực của đất nước Vì vậy, bộ phận này rất được sự quan tâm của nhiều người, nhất là đối với việc định hướng nghề nghiệp của các em Vì thế đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này
2.1 Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Phi Yến Khoa Kinh Tế- Quản Trị Kinh
Doanh Trường Đại Học An Giang năm 2006 với đề tài “Hành vi chọn ngành thi đại
học của học sinh 12”
Mục tiêu của cuộc nghiên cứu này là xác định nhu cầu về thi đại học của học sinh, cách tìm kiếm thông tin, đánh giá các tiêu chí chọn lựa và ra quyết định chọn lựa ngành của học sinh lớp 12; nhận biết xu hướng chọn ngành của học sinh thiên về lĩnh vực tự nhiên hay xã hội, các yếu tố tác động đến hành vi chọn ngành Và biết được sự khác nhau giữa các biến nhân khẩu trong hành vi chọn ngành thi đại học của học sinh lớp 12
Kết quả nghiên cứu cho thấy, đa số các bạn đến lớp 12 mới nghĩ đến ngành thi đại học và thường chọn từ 2 ngành trở lên để có tỉ lệ đậu đại học là cao nhất và đến lớp 12 các bạn mới bắt đầu luyện thi đại học Nguyện vọng chung nhất của các bạn học sinh
12 hiện nay là mong muốn cho mình có nghề nghiệp vững chắc, muốn kiếm tiền Trong việc tìm kiếm thông tin, phần lớn nguồn thông tin được các bạn chọn nhiều nhất là sách báo Trong khi đó, nguồn thông tin từ giờ hướng nghiệp hay từ thầy cô không phải là nguồn thông tin mà các bạn chọn nhiều nhất Các bạn học sinh chưa đặt niềm tin tuyệt đối vào giờ hướng nghiệp Công tác hướng nghiệp ở trường phổ thông chưa đảm bảo đúng yêu cầu, mục tiêu đào tạo, chưa giải đáp một cách thỏa đáng mọi
Trang 7thắc mắc liên quan đến nghề nghiệp của học sinh Nguồn thông tin mà các bạn tin cậy nhất là ba mẹ và nguồn thông tin hữu ích từ bạn bè cũng chiếm tỉ lệ cao
Tiêu chí chọn ngành của mẫu nghiên cứu phần lớn cho rằng chọn ngành phù hợp với năng lực bản thân, phù hợp với sở thích, khả năng có việc làm cao và khả năng trúng tuyển cao chiếm vị trí quan trọng trong tiêu chọn ngành Tiêu chí chọn trường của các bạn cho rằng trường phù hợp với khả năng tài chính và có tỉ lệ chọi thấp là tiêu chí quan trọng trong việc lựa chọn trường học cho mình sau này
Trong việc đưa ra quyết định chọn ngành, đa số các bạn đều tham khảo ý kiến của cha mẹ, anh chị em trong gia đình Nhưng cũng có không ít gia đình cho con cái toàn quyền quyết định ngành học cho mình Xu hướng chọn ngành thiên về lĩnh vực tự nhiên chiếm tỉ lệ cao khối A, B cao trong khi khối D, C chiếm tỉ lệ thấp Cuộc nghiên cứu cũng cho thấy, xu hướng khi không đậu đại học phần lớn các bạn đều muốn ôn thi lại để sang năm thi lại chiếm tỉ lệ cao
Đề tài được nghiên cứu ở khía cạnh tiếp thị Hành vi chọn ngành của học sinh được xem như hành vi của người tiêu dùng, học sinh chính là những khách hàng mà trường đại học là nơi cung cấp dịch vụ Nghiên cứu được tiến hành theo hai bước nghiên cứu sơ bộ định tính và nghiên cứu chính thức định lượng Nghiên cứu định tính thông qua thảo luận tay đôi và phỏng vấn thử, qua đó hiệu chỉnh bảng hỏi cho nghiên cứu chính thức Sau đó nghiên cứu định lượng được tiến hành bằng bảng câu hỏi
Đề tài nghiên cứu định lượng với cỡ mẫu 200 ở 4 trường THPT, một trường chuyên, một trường không chuyên, và hai trường có các học sinh sống ở vùng nông thôn Tương ứng mỗi trường là 50 học sinh Mẫu được lấy là chọn ngẫu nhiên một lớp
12 trong trường THPT
Qua kết quả nghiên cứu đã cho thấy xu hướng chọn ngành của các em học sinh hiện nay Thấy được vai trò của ba mẹ, điều kiện kinh tế gia đình trong việc tư vấn,
cung cấp thông tin và hành vi chọn ngành thi đại học của các em
Để tài chỉ đề cập đến hành vi chọn ngành, chưa đi sâu nghiên cứu hành vi sau khi chọn ngành để biết được học sinh có chọn đúng ngành mà mình mong muốn không Chưa tìm hiểu nguyên nhân hay những khó khăn trong việc lựa chọn ngành học Phạm
Trang 8vi nghiên cứu chưa nói lên được sự khác biệt giữa học sinh nông thôn và thành thị trong việc ra quyết định chọn ngành
2.2 Đề tài “Thực trạng hướng nghiệp cho học sinh tại Trường THPTDT Ngoại trú
Đồng Nai” của Tác giả Đoàn Thị Hải Yến (chủ nhiệm) - Khoa Giáo Dục Học - Đại
học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện năm 2007
Mục đích của cuộc nghiên cứu này nêu lên thực trạng hướng nghiệp của trường THPT dân tộc ngoại trú Đồng Nai để thấy được được tầm quan trọng của hướng nghiệp, từ đó đưa ra các kiến nghị và giải pháp góp phần giải quyết những vấn đề còn tồn đọng Với quá trình nghiên cứu tác giả đã thu được những kết quả sau:
Nhận thức của học sinh và giáo viên trường THPTDT Ngoại trú Đồng Nai đều rất cao và họ đều coi hoạt động hướng nghiệp là một việc làm quan trọng cho học sinh Hoạt động hướng nghiệp sẽ giúp cho học sinh định hướng đúng khả năng của mình phù hợp với ngành nghề nào, giúp cho học sinh nắm bắt được ngành nghề nào quan trọng và xã hội đang cần
Ngoài ra tác giả còn đi sâu phân tích thực trạng tổ chức hoạt động hướng nghiệp của trường như: mục đích hướng nghiệp, thời gian hướng nghiệp, nội dung hướng nghiệp, lực lượng hướng nghiệp và nguồn tiếp cận thông tin Mục đích hướng nghiệp theo như khảo sát thì phần đông trả lời giúp lựa chọn nghề đúng khả năng và nguyện vọng, thời gian hướng nghiệp vào các buổi họp lớp với giáo viên chủ nhiệm, các buổi sáng thứ hai chào cờ, các buổi ngoại khóa… Hướng nghiệp xoay quanh nội dung đó là cung cấp cho học sinh những kiến thức chung về các ngành nghề và các chỉ tiêu đầu vào của các trường…Tất cả các yếu tố xoay quanh vấn đề thực trạng tổ chức hướng nghiệp trên tuy đã có nhưng còn rất là hạn hẹp, hướng nghiệp ở trường mặc dù nhận thức là rất quan trọng nhưng dường như chất lượng và ứng dụng còn chưa sát với thực
tế nên học sinh vẫn chưa thể có sự lựa chọn đúng đắn nhờ vào hoạt động hướng nghiệp được
Một kết quả nữa mà nhóm tác giả thu nhận được đó là có rất nhiều khó khăn trong công tác hướng nghiệp của trường đang ảnh hưởng rất lớn tới quá trình hướng nghiệp
Trang 9cho học sinh Một trong số khó khăn lớn nhất phải kể đến đó là lực lượng hướng nghiệp còn quá non trẻ, không nắm bắt được xu hướng nghề nghiệp cũng như không
đủ trình độ chuyên môn để có thể hướng cho học sinh đi đúng hướng được Ngoài ra việc tiếp cận thông tin còn gặp rất nhiều khó khăn cũng ảnh hưởng tới quá trình hướng nghiệp
Đề tài sử dụng phương pháp định lượng và định tính để thu thập thông tin Phương pháp định lượng: phương pháp bảng hỏi gồm 21 câu hỏi cho học sinh và 15 câu hỏi cho giáo viên Tác giả khảo sát 31/153 học sinh lớp 10; 30/119 học sinh lớp 11; 105 học sinh lớp 12 và khảo sát 31 giáo viên của trường Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phi xác suất và có sự so sánh nhận thức, nhu cầu và mục đích trong hoạt động hướng nghiệp của 3 khối lớp này Phương pháp định tính: phương pháp quan sát, phương pháp tư liệu sẵn có
Qua đề tài tác giả đã tập trung phân tích các yếu tố để thể hiện thực trạng hướng nghiệp của trường THPTDTNT Đồng Nai một cách đầy đủ, đồng thời tác giả đi sâu phân tích yếu tố tiếp cận thông tin, vì đây là một trường học dân tộc ngoại trú nên khả năng tiếp cận sẽ rất thấp, không có điều kiện tiếp xúc với thông tin đồng nghĩa với việc nắm bắt xu thế nghề sẽ yếu kém đi rất nhiều Tác giả sử dụng sự so sánh với 3 khối lớp để thấy được nhận thức và tầm quan trọng của khối lớp 12 là lớn hơn cả Trong đề tài, tác giả chưa đi sâu phân tích vào lực lượng hướng nghiệp như thế nào, lực lượng hướng nghiệp là nòng cốt giúp hướng cho học sinh đi đúng đắn và những người làm trong hoạt động này phải hiểu được khả năng của mỗi học sinh của mình nhưng nhóm tác giả chưa làm rõ được thực trạng đội ngũ hướng nghiệp hiện nay
2.3 Đề tài “Thực trạng tự hướng nghiệp của học sinh Trung học phổ thông tại
Thành phố Biên Hòa – Đồng Nai” – Công trình nghiên cứu khoa học sinh viên cấp
trường năm 2010 do Bùi Sơn Lâm làm chủ nhiệm, khoa Giáo Dục, Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Mục đích nghiên của đề tài là nghiên cứu thực trạng tự hướng nghiệp của học sinh THPT tại Thành phố Biên Hòa – Đồng Nai, từ đó đưa ra các kiến nghị giúp cho hoạt động tự hướng nghiệp của học sinh được tốt hơn
Trang 10Qua kết quả nghiên cứu, đề tài đã cho thấy phần lớn học sinh đã nhận thức về tính chất tự giác của chính bản thân trong quá trình kiếm tìm một ngành nghề phù hợp Hoạt động tự hướng nghiệp phải kể tới tầm quan trọng của các yếu tố giúp đỡ từ những người xung quanh, đồng thời học sinh cũng bước đầu đánh giá được tính chất phức tạp của quá trình tự hướng nghiệp
Ngoài ra hầu hết học sinh THPT thành phố Biên Hòa – Đồng Nai đều đánh giá hoạt động tự hướng nghiệp là cần thiết Tuy nhiên mức độ hứng thú của học sinh khi tham gia các hoạt động tự hướng nghiệp ở mức bình thường và học sinh thường chưa yêu thích các công tác tự hướng nghiệp như vậy
Đề tài cũng nêu ra những khó khăn trong hoạt động tự hướng nghiệp như thông tin hướng nghiệp thiếu tính thống nhất, không xác định được năng lực, sở thích của bản thân
Đề tài nghiên cứu 200 mẫu là học sinh của 2 trường THPT Nam Hà và THPT Nguyễn Hữu Cảnh Trong đó Trường Nam Hà nghiên cứu: khối 10 với 33 mẫu, khối
11 là 33 mẫu, khối 12 là 34 mẫu Trường Nguyễn Hữu Cảnh nghiên cứu: khối 10 có
33 mẫu, khối 11 là 33 mẫu, khối 12 là 34 mẫu Đề tài sử dụng các phương pháp thu thập thông tin sau: phương pháp tư liệu sẵn có, phương pháp điều tra bảng hỏi, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia, phương pháp thống kê toán học
Trong đề tài tác giả sử dụng tam giác hướng nghiệp của Platonop để làm rõ mối quan hệ giữa thị trường lao động – các yêu cầu của nghề - cá nhân và những đặc điểm
cá nhân Với mối quan hệ này thì đòi hỏi công tác tự hướng nghiệp phải được đặt lên hàng đầu Đề tài chỉ mới dừng lại ở việc tìm hiểu nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của tự hướng nghiệp mà không đi sâu vào phân tích những khó khăn của học sinh khi tự hướng nghiệp hay các yếu tố tác động đến việc tự hướng nghiệp, cách thức
tự hướng nghiệp như thế nào cho đạt hiệu quả
2.4 Đề tài: “Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh PTTH ở huyện Hóc
Môn-TP.Hồ Chí Minh” Nhóm sinh viên khoa Giáo Dục học – Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh ,tháng 4 -2004
Qua việc tìm hiểu về xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh PTTH ở huyện Hóc Môn- TP Hồ Chí Minh, bài nghiên cứu đã tập trung phân tích xu hướng chọn
Trang 11nghề trong năm 2004 ở các em và các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn ngành nghề trong các em học sinh PTTH
Việc lựa chọn nghề của các em học sinh PTTH bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: Các nhóm ngành nghề trong xã hội rõ ràng có sự chi phối bởi đặc điểm về giới tính Nam đa phần tập trung vào nhóm ngành khoa học kỹ thuật hay khoa học tự nhiên, còn nữ chủ yếu lựa chọn nhóm ngành về khoa học xã hội
Bởi lẽ, có sự khác biệt trong việc lựa chọn như vậy là do các em bị ảnh hưởng từ hai yếu tố chính, đó là yếu tố xã hội và yếu tố bên trong
Yếu tố xã hội: ngoài thành tích học tập, việc chọn nghề còn phụ thuộc vào các mối quan hệ xã hội như ông bà, cha mẹ, thầy cô, bè bạn Sự tin tưởng chủ yếu tập trung vào những người thân yêu, đáng tin tưởng là ông bà, cha mẹ, thầy cô mà không có sự khác biệt giữa giới tính và trình độ học vấn
Yếu tố bên trong: xu hướng chọn hai nghề để vào đời tỏ ra phổ biến vì những biến động bất thường trong xã hội Song sự nhận thức từ lớp 10 đến lớp 12 có thay đổi đã dẫn tới những nhận thức khác nhau Nhìn chung đến lớp 12 thì đa số cũng không đồng
ý việc chọn lấy một nghề để rồi sống chết với nghề đó
Bên cạnh đó, do yếu tố tâm sinh lý mà vị thế các ngành nghề trong xã hội cũng bị tác động, làm ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn ngành nghề ở học sinh PTTH
Các yếu tố như đô thị hoá, công nghiệp hoá đã có những tác động làm thay đổi nhận thức của học sinh PTTH ở TP.Hồ Chí Minh nói chung và Hóc Môn nói riêng, dẫn đến việc lựa chọn ngành nghề cũng thay đổi Các nghề ngoại giao, sản xuất kinh doanh thuộc lĩnh vực xã hội dường như chiếm ưu thế hơn cả, tuy vậy thì nghề truyền thống như dạy học vẫn được quan tâm
Cuộc nghiên cứu còn cho thấy rằng các em học sinh PTTH tuy đang còn ngồi trong ghế nhà trường mà các em đã có những suy nghĩ rất chín chắn, luôn mơ ước khi vào đời điều cần phải có là thi vào các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp Đa số các em muốn tiếp tục con đường học tập sau khi đã rời trường PTTH và bất đắc dĩ lắm các em mới chịu dừng lại để học nghề, làm thợ
Đề tài này tập trung nghiên cứu tại ba trường: PTTH Nguyễn Hữu Cầu, PTTH Lý Thường Kiệt và trường PTTH Bà Điểm Khảo sát trong cả ba khối 10-11-12 ở ba
Trang 12trường với tổng số mẫu điều tra là 300 học sinh Phương pháp thu thập thông tin ở đây
là bảng hỏi (gồm 20 câu hỏi bao gồm câu hỏi đóng, câu hỏi mở với thang đo định tính
và định lượng) Ngoài ra thì đề tài còn kết hợp sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu
và dùng tư liệu sẵn có với mục đích thu thập được thông tin mang tính khách quan, cũng như độ tin cậy cao hơn
Kết quả của đề tài nghiên cứu này đã giúp cho chúng ta có một cái nhìn về xu hướng lựa chọn ngành nghề của các em học sinh PTTH tại ba trường ở Hóc Môn- TPHCM năm 2004 và những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến xu hướng chọn nghề Tuy nhiên, đề tài chưa làm nổi bật được các yếu tố đó đã gây những khó khăn như thế nào đến việc định hướng, lựa chọn nghề nghiệp mà các em học sinh thường gặp phải
2.5 Bài viết “Quản lí giáo dục hướng nghiệp trung học phổ thông cần những giải
pháp mới để góp phần phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của ThS Hồ Văn Thống, đăng trên Tạp chí Giáo Dục số 240 (kì 2 – 6/2010)
Bài viết nêu lên một số điểm hạn chế trong việc triển khai chương trình giáo dục hướng nghiệp như việc phân phối hoạt động giáo dục hướng nghiệp còn quá ít và thường nằm ở ngoài giờ lên lớp hay công tác giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông còn yếu, chưa có cán bộ, giáo viên chuyên trách, nội dung hướng nghiệp còn rất nghèo nàn ở các trường…
Thông qua những điểm bất cập tác giả muốn đưa ra các giải pháp căn cơ, quyết liệt
trong giai đoạn mới: Một là: tăng cường trách nhiệm quản lý giáo dục hướng nghiệp
bằng cách xây dựng kế hoạch hướng nghiệp cụ thể, cử giáo viên tham gia các lớp tập huấn về công tác hướng nghiệp, xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và thực hiện
công tác giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường một cách đồng bộ; Hai là xây dựng đội ngũ giáo viên, những người làm công tác giáo dục hướng nghiệp: đó là các giáo
viên dạy bộ môn kỹ thuật công nghiệp và kỹ thuật nông nghiệp, hợp đồng với giáo viên các trường trung cấp chuyên nghiệp về dạy nghề, xây dựng đội ngũ cộng tác viên
là cha mẹ, cựu học sinh đã và đang đi học…; Ba là cải tiến nội dung và hình thức giáo dục hướng nghiệp: nội dung phải xuất phát từ nhu cầu thực tế khách quan, phối hợp
đoàn thanh niên lồng ghép nội dung hướng nghiệp vào các hoạt động ngoại khóa, tổ
chức các chuyến tham quan các cơ sở sản xuất, nhà máy, xí nghiệp…; Bốn là tăng
Trang 13cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác giáo dục hướng nghiệp; Năm là tổ chức thực hiện dạy nghề phổ thông cho học sinh THPT; Sáu là phân luồng học sinh sau tốt nghiệp phổ thông để giúp học sinh hiểu rõ về khả năng của bản thân
và điều kiện gia đình, giúp cho học sinh hiểu các hướng đi sau khi tốt nghiệp
Bài viết nêu ra những giải pháp rất cụ thể trong đó đề cao vai trò của nhà trường vì nhà trường sẽ là nơi hướng dẫn và chuẩn bị cho học sinh những kỹ năng, tâm lý, tư tưởng Các giải pháp đã trình bày nếu được áp dụng một cách chặt chẽ và có hiệu quả trong quá trình quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT sẽ tạo tiền đề để góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2.6 Bài viết “Ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh 12”, Trần Đình Chiến , trường Đại học Hùng Vương –Phú Thọ,
giả đã thu được những kết quả sau:
Về xu hướng chọn trường và cấp học: học sinh 12 có nguyện vọng thi vào các trường ĐH,CĐ là rất cao Các em xem đó là con đường duy nhất để lập nghiệp, để khẳng định mình trong xã hội ngày nay Qua điều tra, tác giả cũng cho thấy thực trạng việc thi vào đại học, cao đẳng của học sinh chủ yếu mang tính “phong trào”, đa số học sinh được hỏi cho rằng không tự tin hoặc không có khả năng thi đỗ mà chỉ thi cho biết, thi cho vừa ý cha mẹ
Về xu hướng những ngành nghề mà học sinh lớp 12 ưu tiên lựa chọn thì các em có
xu hướng chọn vào những ngành: tài chính, ngân hàng, kế toán, tin học, ngoại ngữ, điện tử viễn thông, y dược…và nghề được ưu tiên nhất là nghề dạy học
Khi tìm hiểu những vấn đề học sinh lớp 12 quan tâm khi lựa chọn nghề nghiệp, học sinh 12 hiện nay chọn nghề không còn dồn sự quan tâm số một vào một số yếu tố thu nhập, xin việc hay vị thế xã hội của nghề như trước đây mà các em bắt đầu quan
Trang 14tâm đến việc thể hiện năng lực, phẩm chất cá nhân của mình trong nghề được chọn Các em luôn có sự cân nhắc giữa chi phí cho học nghề sau này và đồng thời nghề đó phải có khả năng tìm được việc làm
Qua điều tra, công tác giáo dục hướng nghiệp ở các trường chủ yếu mang tính hình thức chưa có hiệu quả Thời gian dành cho giáo dục hướng nghiệp so với các môn học khác là rất ít, hình thức đơn điệu, khô khan, lạc hậu, mang tính tự phát không thu hút được học sinh Các em chưa nhìn nhận đúng tầm quan trọng của việc chọn nghề Gia đình, nhà trường chưa thực sự thực hiện được vai trò của mình và bị ảnh hưởng khá lớn của nền kinh tế thị trường
Bài viết đã đưa ra một nguyên nhân ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp đó là do sự tác động của nền kinh tế thị trường Đó là học sinh hiện nay chỉ đặt mục tiêu thi vào các trường ĐH, CĐ và lựa chọn các em cho là có thu nhập cao lại
“nhàn hạ”, dễ tìm việc làm Tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị về công tác hướng nghiệp trong nhà trường có kết quả như: đào tạo giáo viên hướng nghiệp và chuyên gia tư vấn hướng nghiệp trong nhà trường Nêu lên thực trang xu hướng chọn nghề của học sinh 12 hiện nay còn nhiều bất cập
2.7 Bài viết, “Tìm hiểu nhận thức của học sinh nông thôn về tầm quan trọng của công tác hướng nghiệp đối với việc chọn nghề ”, Lê Minh Thiện, Tạp chí giáo dục, số
250 (kì 2/11/2010), trang 25
Để tìm hiểu nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của công tác hướng nghiệp đối với việc chọn nghề, năm 2007 và 2008, tác giả đã tiến hành khảo sát 1036 học sinh thuộc các lớp 9, 10, 11 và 12 trên địa bàn 4 tỉnh: Nam Định, Thái Bình, Hà Tây (nay là Hà Nội) và Bắc Giang Kết quả thu được:
Hầu hết học sinh đều thấy được tầm quan trọng của việc chọn nghề phù hợp Các
em đều cho rằng chọn đúng một nghề phù hợp sẽ thúc đẩy sự nỗ lực, tạo hứng thú, là động lực cho sự phấn đấu và sự nhiệp sau này
Các em đều hứng thú với các hoạt động như: tham quan các trường đại học, dạy nghề, cơ sở sản xuất ở địa phương, giới thiệu tình hình phát triển kinh tế xã hội trên cả nước và địa phương, giới thiệu ngành nghề,…nhưng các hình thức này chưa thực sự phong phú và chưa được tổ chức thường xuyên, rất ít được thực hiện
Trang 15Càng lên lớp cao nhận thức về vai trò của công tác hướng nghiệp đối với việc chọn nghề càng giảm Tác giả đã lý giải vấn đề này, đối với học sinh trung học cơ sở ở các vùng nông thôn thông tin về nghề nghiệp rất thiếu Các trung tâm dạy nghề và hướng nghiệp phần lớn nằm ở trung tâm các huyện, xa nơi các em ở Các em cũng chưa đủ mạnh dạn, tự tin và điều kiện cũng như hiểu biết để đến những nơi này nếu không có người lớn hướng dẫn Với học sinh trung học phổ thông, sau khi tốt nghiệp các em có thể thi vào các trường đại học, cao đẳng, trường nghề nào đó tùy thích Và ở trong môi trường này, học sinh có nhiều nguồn hỗ trợ thông tin hơn Do đó, tỉ lệ học sinh đánh giá tầm quan trọng của công tác hướng nghiệp giảm dần Thêm vào đó, thực tế ở nông thôn, nhiều em sau khi tốt nghiệp cấp 2, nếu gia đình không có điều kiện kinh tế để học cao hơn thì các em có thể chọn cho mình học một nghề nào đó hoặc nghỉ học ở nhà giúp gia đình
Học lực của học sinh khác nhau cũng ảnh hưởng đến sự đánh giá về mức độ quan trọng của công tác hướng nghiệp Học sinh trung bình và yếu đánh giá rất cao hơn so với học sinh giỏi và khá về vai trò của công tác hướng nghiệp trong việc chọn nghề sau này Các em không đủ tự tin để thi đậu vào các trường đại học nên việc cân nhắc lựa chọn để thi đậu là mục đích quan trọng
Đề tài đã thấy được nhận thức của học sinh nông thôn về tầm quan trọng của công tác hướng nghiệp đối với việc chọn nghề Qua đó thấy được thực trạng hướng nghiệp
ở vùng nông thôn, nhu cầu hướng nghiệp của các em học sinh vùng nông thôn
Tuy nhiên, đề tài chưa làm rõ được những khó khăn trong việc lựa chọn nghề nghiệp, trong việc tiếp cận thông tin của các em về tư vấn hướng nghiệp Những kết luận trong đề tài như nhận thức về tầm quan trọng của hướng nghiệp của học sinh có
sự khác nhau qua các năm học và học lực đi ngược lại với thực tế nên không thể đưa
ra kết luận chung cho học sinh nói chung mà chỉ ứng dụng trong phạm vi nghiên cứu
Tóm lại, qua những đề tài và bài viết trên đã cho chúng ta thấy những kết quả
đáng lưu ý trong việc định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT nói chung và các
em đang học lớp 12 nói riêng như sau:
Hầu hết các em đều nhận thấy được tầm quan trọng của việc tư vấn hướng nghiệp trong việc giúp các em định hướng được nghề nghiệp cho mình Nhưng hoạt động tư
Trang 16vấn hướng nghiệp ở các trường, đặc biệt vùng nông thôn chưa làm tốt công tác này
Đa số đều mang tính hình thức, chưa được đầu tư đúng mức, nội dung sơ sài… chưa thu hút được sự quan tâm của các em và chưa cung cấp đủ thông tin cần thiết theo như nhu cầu tìm hiểu về ngành nghề mà các em muốn lựa chọn
Sau khi tốt nghiệp, đa số học sinh đều muốn thi vào các trường CĐ, ĐH và dù có rớt cũng muốn ôn thi lại Xu hướng lựa chọn nghề là chọn những nghề có thu nhập cao, dễ kiếm việc làm, có địa vị trong xã hội Xu hướng này chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố như điều kiện gia đình, bản thân và lớn nhất là do sự tác động của xã hội Cha mẹ, thầy cô, nhà trường đóng vai trò quan trọng trong việc tư vấn hướng nghiệp cho các em định hướng nghề nghiệp cho mình nhưng phần lớn các em đều cho rằng chưa nhận được sự quan tâm đúng mức
Một giải pháp cho các vấn đề này được đưa ra đó là phải có bộ phận tư vấn hướng nghiệp chuyên trách trong nhà trường nhưng hiện nay chưa được triển khai trong tất
cả các trường, còn nhiều bất cập về nguồn nhân lực, trình độ, nội dung…
3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Mối liên hệ giữa các xung đột xã hội với những khó khăn của học sinh lớp 12 trường THPT Nguyễn Trường Tộ (Xã Tân Hải- Thị xã Lagi- Bình Thuận) trong việc định hướng nghề nghiệp
- Nhóm gia đình: Cha mẹ của học sinh lớp 12 trường THPT Nguyễn Trường Tộ,
Xã Tân Hải – Thị xã Lagi – Bình Thuận
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Trường THPT Nguyễn Trường Tộ, Xã Tân Hải- Thị xã Lagi- Bình Thuận
Trang 17- Thời gian: Từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2011
4 Mục tiêu nghiên cứu
4.1 Mục tiêu chung
- Nghiên cứu các xung đột xã hội về xung đột nhận thức và xung đột vai trò như
là nguyên nhân của những khó khăn mà học sinh lớp 12 gặp phải trong việc định hướng nghề nghiệp của mình
- Đưa ra một số suy nghĩ mang tính khuyến nghị
- Nhu cầu của học sinh lớp 12 trường THPT Nguyễn Trường Tộ, xã Tân Hải – Thị xã Lagi – Bình Thuận đối với việc giải quyết những khó khăn nếu có của mình
5 Ý nghĩa đề tài
5.1 Ý nghĩa khoa học:
Giáo dục đóng một vai trò quan trọng trong đời sống và trong sự nghiệp phát triển đất nước Chính vì thế, những vấn đề liên quan đến giáo dục được quan tâm nghiên cứu của nhiều ngành như: giáo dục học, tâm lý học, văn hóa học trong đó có xã hội học
Đề tài đã sử dụng hai lý thuyết là lý thuyết xã hội hóa và lý thuyết xung đột xã hội vào nghiên cứu những khó khăn trong việc định hướng nghề nghiệp của học sinh lớp
12
Đặc biêt là lý thuyết xung đột xã hội để thấy các mâu thuẫn, xung đột xã hội đã tác động gây những khó khăn trong việc định hướng nghề nghiệp của học sinh lớp 12 Nghiên cứu này có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến chuyên ngành xã hội học trong việc áp dụng lý thuyết xung đột vào giải quyết các vấn đề xã hội
Trang 185.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh 12 là một vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa trong xã hội, các nhà quản lý giáo dục nói chung và cho chính bản thân, gia đình của các em nói riêng Nghiên cứu định hướng nghề nghiệp sẽ góp phần đưa ra những giải pháp giúp học sinh có thể lựa chọn nghề nghiệp một cách đúng đắn và đạt được nhiều hiệu quả
Đề tài đi sâu phân tích những khó khăn mà các em học sinh 12 gặp phải trong quá trình định hướng nghề nghiệp của mình, do chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau Trên cơ sở khoa học, kết quả nghiên cứu đề tài giúp cho những ai quan tâm có thêm chút ít thông tin để làm cơ sở trong hoạt động thực tiễn của mình
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khuyến nghị Phần nội dung đề tài gồm
có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Mô tả địa bàn và mẫu nghiên cứu
Chương 3: Những khó khăn của học sinh trong việc định hướng nghề nghiệp
Trang 19PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Lý thuyết áp dụng
1.1.1 Lý thuyết xung đột xã hội:
Đối với các nhà lý thuyết xã hội học thì lý thuyết xung đột xã hội được coi như là một khuynh hướng đặc sắc của lý thuyết xã hội học hiện đại Các phạm trù của lý thuyết này có khởi nguồn từ rất sớm, từ những ý tưởng ban đầu của Machiavelli ở thế
kỉ 15, Hobbes ở thế kỉ 16, rồi phát triển đến những nền tảng kinh điển của Marx ở giữa thế kỉ 19, Marx Weber và Simmel ở trong khoảng từ cuối thế kỉ 19 sang đầu thế
kỉ 20
Các nhà xã hội học đưa ra một cách hiểu khái quát về khái niệm “xung đột xã
hội” Trong cuốn “Các lý thuyết xã hội học hiện đại” được dịch sang tiếng việt năm
1999 tác giả Gunter Endruweit viết “xung đột xã hội là các quan hệ và quá trình xã hội mà ở đó có thể phân biệt hai hay nhiều cá nhân hay nhóm có quyền lợi đối lập nhau trong những cách giải quyết vấn đề nhất định” Đồng thời G Endruweit cũng
cho rằng nếu hiểu khái niệm xung đột quá hẹp thì nó sẽ loại những quan hệ xung đột tiềm ẩn giữa các nhóm xã hội ra khỏi phân tích thông qua đó những điều kiện cấu trúc quan trọng cho sự hình thành hành động xung đột rõ ràng sẽ biến mất khỏi tầm quan sát
“Xung đột” (conflicts), theo nghĩa chung nhất của từ này, được hiểu như quan hệ không tương thích giữa các yếu tố trong một hệ thống, dẫn đến sự vận hành trục trặc hoặc sự sụp đổ của hệ thống Xung đột cũng có nghĩa là mâu thuẫn giữa các bên, các ý kiến hay các thế lực Xung đột không phải là khái niệm phản ánh bản chất của sự kiện
mà chỉ thâu tóm “vẻ bề ngoài”, tức là quan hệ “không tương hợp” của các chủ thể khi cùng tham dự vào một hệ thống xác định Cơ sở của mọi xung đột xã hội đều bắt nguồn từ sự khác biệt và không dung hợp về lợi ích, nhu cầu, vai trò, giá trị,…giữa các chủ thể có mặt trong tương tác
Trang 20Vậy, xung đột xã hội là sự đối đầu công khai, là mâu thuẫn giữa hai hoặc nhiều hơn nữa chủ thể và người tham gia vào tương tác xã hội mà nguyên nhân là sự bất đồng về nhu cầu, lợi ích, giá trị (5)
Nguồn gốc của mọi sự xung đột khác nhau, tùy theo sự khác nhau của bản thân những cuộc xung đột xã hội Nhưng mọi cuộc xung đột đều được giải thích bởi sự kiện là những hành động xã hội và những mục đích mà chúng tìm kiếm tất yếu sẽ gặp nhau, đúng như là tự do của mỗi người gặp gỡ tự do của người khác Việc gặp gỡ này
là một sự hạn chế lẫn nhau, nếu nó được sự thừa nhận và chấp nhận ngay tức khắc, thì tình hình xung đột không nảy sinh Trong trường hợp ngược lại, sự xung đột là không thể tránh khỏi
Trên thực tế, xung đột được biểu thị qua ba mức độ khác nhau của phản ứng đó là: bày tỏ thái độ phản đối bằng ngôn ngữ, thể hiện sự phản đối bằng hành động phi bạo lực và chủ động trấn áp bằng cách sử dụng bạo lực (vũ trang)
Các chức năng tích cực của xung đột ở chỗ nó bộc lộ ra chỗ đứng, lợi ích và mục tiêu của người tham gia, nhờ thế góp phần giải quyết cân bằng mọi vấn đề nảy sinh Tuy nhiên, xung đột còn chứa đựng các chức năng tiêu cực như dẫn đến tình trạng lộn xộn và mất ổn định, không thể đảm bảo sự bình yên và trật tự Hậu quả của xung đột
là những tổn thất về vật chất và tinh thần Tiêu cực có thể bao gồm phần lớn những xung đột phát sinh do con người thiếu phù hợp với nhau về tâm lý- xã hội, ngoài ra còn phải kể đến những xung đột gây khó khăn cho việc đưa ra quyết định cần thiết Uliam Samnher (1840-1910) là người theo chủ nghĩa Darwin về xã hội nổi tiếng ở nước Mỹ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX Samnher trước hết nghiên cứu hệ thống các quy tắc hành vi điều chỉnh các quan hệ xã hội trong nội bộ nhóm và giữa các nhóm xã hội với nhau Mối liên hệ của sự xung đột trong một nhóm xã hội với sự xung đột giữa các nhóm xã hội mà Samnher rút ra có ý nghĩa to lớn đối với việc nghiên cứu về xung đột xã hội Trong đề tài nghiên cứu, vận dụng lý thuyết xung đột
để giải thích, thấy được nguyên nhân gây ra khó khăn trong việc định hướng nghề
(5) Vũ Quang Hà, Giáo trình lí thuyết xã hội học hiện đại, nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh, 2010, trang 72-76.
Trang 21nghiệp của học sinh 12 qua các xung đột xã hội về nhận thức, vai trò, nhu cầu của các nhóm xã hội
Xung đột về nhận thức ở đây được xem xét từ phía học sinh Cụ thể, trong bản thân học sinh có thể có sự xung đột xảy ra giữa một bên là việc học sinh nhận thức rõ
về năng lực học tập của chính mình với một bên là sở thích từ các em Ngoài ra, sự nhận thức về trách nhiệm là một người con trong gia đình thì xung đột còn được nhìn nhận trên góc độ giữa năng lực, sở thích tự bản thân đối với sự kỳ vọng, mong đợi từ gia đình
Mặt khác, chúng ta còn tìm hiểu xung đột về vai trò, đối với học sinh khi một lúc đóng vai trò là một người con phải nghe lời ba mẹ, làm tròn bổn phận của người con, nhưng cũng là một người học sinh luôn có những ước mơ, sở thích riêng cho chính mình Đồng thời, đối với gia đình hoặc nhà trường thì chính những nơi này cũng có thể xảy ra xung đột, khi đóng vai trò vừa là nơi cung cấp về điều kiện vật chất, tinh thần, kiến thức, nhưng cũng là nơi định hướng tương lai cho học sinh
1.1.2 Lý thuyết xã hội hóa
Xã hội hóa là quá trình mà trong đó cá nhân học cách thức hành động tương ứng vai trò của mình để thực hiện tốt các mô hình hành vi tương ứng với hệ thống vai trò
mà cá nhân phải đóng trong cuộc đời mình Xã hội hóa cũng có thể hiểu là quá trình tương tác giữa người này với người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động và sự thích nghi với những khuôn mẫu (6)
Quá trình xã hội hóa của một cá nhân diễn ra trong ba môi trường chính: môi trường xã hội hóa trong gia đình, trong nhà trường và trong xã hội Mỗi môi trường đóng một vai trò khác nhau trong giai đoạn phát triển của con người Lứa tuổi học sinh sẽ chịu sự ảnh hưởng nhiều từ môi trường nhà trường Nhà trường ở đây không chỉ là nơi cung cấp kiến thức cho các em mà còn có vai trò định hướng tương lai cho học sinh để các em chuẩn bị bước ra, tiếp xúc nhiều hơn với môi trường xã hội
Trong đề tài nghiên cứu của mình, nhóm nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận lý thuyết xã hội hóa để làm rõ những khó khăn, áp lực của học sinh lớp 12 từ phía 3 môi
(6) Phạm Thủy Ba dịch, “Nhập môn xã hội học”, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội năm 1993.
Trang 22trường: gia đình, nhà trường và xã hội đối với việc định hướng nghề nghiệp trong
Định hướng nghề nghiệp: là các hoạt động nhằm hỗ trợ mọi cá nhân chọn lựa và phát triển chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của cá nhân, đồng thời thỏa mãn nhu cầu nhân lực cho tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp (thị trường lao động) ở cấp độ địa phương và quốc gia (8)
- Hỗ trợ: là sự giúp đỡ, trợ giúp từ các cơ quan, các tổ chức chuyên ngành (cả về
vật chất và tinh thần) đối với từng cá nhân để họ có thể đạt được mục đích theo những yêu cầu được đề ra
- Phát triển chuyên môn: là sự phát huy những kiến thức nghiệp vụ, cũng như
kinh nghiệm về ngành nghề mà chúng ta đã học tập, trau dồi được từ gia đình, nhà trường, xã hội Trên cơ sở đó, chúng ta áp dụng vào công việc thực tế, vận dụng những kĩ năng, kiến thức này một cách tối ưu để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
Khó khăn
Là những vướng mắc, những chướng ngại thường gặp ở mỗi cá nhân, con người, qua đó có thể cản trở chúng ta duy trì và phát triển cuộc sống của mình trong xã hội Khó khăn trong việc định hướng nghề nghiệp bao gồm những khó khăn (9)
1 Giới hạn của năng lực bản thân: tri thức là vô tận, năng lực con người thì hạn chế Mỗi người có một năng lực riêng nên việc lựa chọn một ngành nghề phải phù hợp với năng lực của mỗi người
(7) Forum.huongnghiep.vn
(8) www.huongnghiepviet.vn
(9) www.huongnghiepviet.vn
Trang 232 Thiếu thông tin về ngành-nghề, thị trường lao động ở trong nước cũng như từng địa phương: là thiếu sự hiểu biết đầy đủ về bản chất thực tế của ngành-nghề
đó, những yêu cầu về kĩ năng cần có…; những thông tin về nhu cầu sử dụng nhân lực của các tỉnh, thành phố như: nhu cầu sử dụng nhân lực các loại cho các vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp, khu chế xuất và cho các loại doanh nghiệp và liên doanh của các thành phần kinh tế khác, hay nhu cầu về nguồn nhân lực cần có
ở địa phương
3 Thiếu điều kiện tài chính để theo học: là những yêu cầu, cũng như đòi hỏi cần thiết về mặt của cải, vật chất nhằm phục vụ cho mục đích học tập, đào tạo ngành nghề Như việc nhiều người đã chọn được nghề phù hợp nhưng thiếu điều kiện tài chính theo học như không đủ tiền đóng học phí, không có điều kiện để trọ học Nhiều gia đình có con thi đỗ vào trường đại học nhưng đành phải cho con ở nhà vì thu nhập của gia đình không đủ sức cung ứng cho việc học của con em, trong hoàn cảnh ấy, nhiều em vừa học đại học, vừa lao động
4 Áp lực từ sự kì vọng của gia đình: đó là những rào cản, trở ngại xuất phát
từ chính những người thân, gia đình các em trong việc lựa chọn ngành nghề của mình Họ can thiệp vào việc chọn nghề của các em thường do động cơ muốn con
em mình chọn những nghề mà theo chủ quan của họ thì đó là lĩnh vực hoạt động mang lại lợi ích thiết thực mà không quan tâm xem nó có phù hợp với năng lực, sở thích của các em hay không
5 Sự phát triển ngày càng cao và đa dạng của xã hội, xã hội luôn biến đổi, sự phát triển nhanh chóng của nền tri thức, tuy có nhiều công việc, ngành nghề mới xuất hiện, nhiều nhu cầu mới về khả năng và kỹ năng của người lao động nhưng năng lực của các em có giới hạn nên chưa thể đáp ứng hết được đòi hỏi ngày càng cao của xã hội
Khái niệm vai trò, xung đột vai trò
Có nhiều khái niệm khác nhau về vai trò: khái niệm vai trò của mỗi cá nhân như
là một vai diễn, là một hoặc nhiều chức năng mà cá nhân ấy phải đảm trước xã hội Theo Robertsons thì vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa
vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định Hay, vai trò là mô hình hành vi được
Trang 24xác lập một cách khách quan căn cứ vào đòi hỏi của xã hội đối với từng vị thế nhất định để thực hiện quyền và nghĩa vụ tương ứng đối với các vị thế đó (10)
Khái niệm vai trò được hiểu gắn liền với một loạt các khái niệm khác: quy chế, chức năng, nghĩa vụ, quyền…Có thể coi vai trò như tập hợp những ứng xử của mỗi các nhân mà người khác mong đợi Người ta phân biệt vai trò được đóng với vai trò được định đóng Vai trò được đóng biểu hiện thành một ứng xử, một hoạt động với bên ngoài (như: cha mẹ chăm sóc con cái, bác sĩ chữa bệnh,…) Còn vai trò định đóng chủ yếu nhấn mạnh tới khía cạnh bên trong của mọi ứng xử, moi hoạt động (như tán thành quan điểm của một người khác Vai trò không phải là một cái gì đó có sẵn, nó là kết quả của một quá trình luyện tập của cá nhân, có ý thức hoặc không có ý thức Nó gắn liền với quá trình xã hội hóa của cá nhân (11)
Vai trò xã hội: đây là một phạm trù dùng để diễn đạt sự tương tác xã hội, sự thực hiện chức năng của mỗi cá nhân trong tập đoàn hay của cá nhân và tập đoàn trong toàn bộ xã hội Theo quan điểm của xã hội học thì “vai trò xã hội là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những nghĩa vụ và quyền lợi gắn liền với một vị trí xã hội nào đó” (12) Vai trò xã hội của một cá nhân trong xã hội cũng nhận được những quyền lợi xã hội tương ứng với việc thực hiện vai trò của họ Mỗi cá nhân có vô vàn vai trò, bao nhiêu mối quan hệ xã hội thì có bấy nhiêu vai trò xã hội Vị thế và vai trò của mỗi cá nhân trong xã hội bắt nguồn từ vị trí kinh tế, chính trị xã hội của họ, từ địa vị của các cá nhân thuộc các giai cấp và các nhóm xã hội khác quy định nên Mỗi cá nhân có nhiều
vị thế và vai trò khác nhau ở gia đình ngoài xã hội và tùy theo vai trò của mình mà cá nhân sẽ có những ứng xử, hành vi, tác phong, hành động tương ứng với vai trò cá nhân đảm trách
Xung đột vai trò: trong một xã hội mỗi cá nhân có rất nhiều vị trí, vị thế khác nhau Ở mỗi vị trí cá nhân lại có các quyền và nghĩa vụ kèm theo gọi là địa vị xã hội hay vị thế xã hội Ở mỗi vị thế cá nhân lại có nhiều vai trò khác nhau, cá nhân càng có
Trang 25nhiều vị thế trong xã hội thì lại càng có nhiều vai trò Vì thế nếu như mỗi cá nhân không thực hiện tốt được các vai trò của mình thì sẽ xảy ra xung đột vai trò Xung đột vai trò xảy ra khi cá nhân thấy vai trò không thích hợp và họ thấy khó khăn trong việc thực hiện vai trò đó, nhất là những vai trò được nhiều người mong đợi, kỳ vọng quá nhiều Xung đột vai trò ở đây được xét trong tự bản thân người học sinh đối với vai trò là một người con trong gia đình, và đó còn là vai trò của gia đình cũng như nhà trường với vị trí là những người hướng dẫn, định hướng ngành nghề cho các em học sinh
Khái niệm nhận thức, xung đột nhận thức
Nhận thức là hành động (quá trình) con người tìm hiểu thế giới tự nhiên Trong quá trình này, con người lý giải vạn vật theo từng giai đoạn nhận thức của mình Từ
đó, tìm ra quy luật vận động và phát triển, thay đổi và tiến hóa, bản chất và hình thức, hình thành và tiêu vong của thế giới vật chất và tinh thần (13)
Theo triết học Mac-Lenin, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: nhận thức
là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn
Còn theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam”: nhận thức là quá trình biện chứng của
sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể Quá trình nhận thức diễn ra không giản đơn, thụ động, máy móc mà là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người một cách năng động, sáng tạo, biện chứng
Mỗi người luôn chịu sự tác động không giống nhau của từng thế giới khách quan khác nhau thì sẽ có những nhận thức khác nhau Nhận thức là quá trình con người ta được tiếp thu và định hình sẵn trong óc khi sống trong từng hoàn cảnh, trong từng nhóm người và ở trong từng vai trò khác nhau Khi nhận thức dưới tác động của nhiều yếu tố thì sẽ có những quan điểm, những tư duy, những tưởng tượng rất khác nhau Chính sự khác nhau đó có thể là nguyên nhân dẫn đến sự xung đột
Xung đột nhận thức là một dạng của xung đột mà ở đó có sự khác biệt, không tương đồng trong suy nghĩ, trong ý thức của con người Xung đột nhận thức là dạng
(13) Trích Mic.edu.vn
Trang 26xung đột không biểu hiện rõ ở bên ngoài nhưng thông qua quá trình cảm nhận mà ta nhìn nhận được xung đột đang diễn ra
Xung đột nhận thức có nghĩa là một bên có nhận thức, có suy nghĩ đúng – có ý thức, còn một bên có nhận thức, có suy nghĩ chưa đúng – vô ý thức hoặc một bên có nhận thức và suy nghĩ khác so với bên kia Khi nhận thức, quan điểm không đồng nhất thì sẽ bộc lộ lên những xung đột Xung đột này có thể là những xung đột nhỏ và không gay gắt nhưng nếu nhận thức của hai bên cứ khác xa nhau như thế thì đến một lúc nào đó sẽ xảy ra xung đột lớn Chính nhận thức không giống nhau dẫn đến quan điểm không giống nhau và hành động cũng khác xa nhau nên lúc đó xung đột là không thể tránh khỏi
Và với đề tài này, nhóm nghiên cứu muốn tìm hiểu xung đột nhận thức thông qua bản thân các em học sinh (nhận thức rõ giữa năng lực với sở thích), thông qua nhận thức của các em đối với nghĩa vụ, bổn phận của mình với gia đình, ba mẹ
Trang 27
1.3 Khung phân tích
Bối cảnh kinh tế-xã hội
Khó khăn trong việc định hướng nghề nghiệp của học sinh 12 Xung đột xã hội
Từ nhà trường
Từ gia đình
HS
Từ chính bản thân
HS
Từ
xã hội Xung
đột nhận thức
Xung
đột
vai trò
-Học sinh: +Người học sinh
+Người con trong GĐ
- Gia Đinh:+Nuôi dưỡng về VC
Trang 281.4 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Học sinh lớp 12 chưa được tư vấn hướng nghiệp đầy đủ từ gia
đình, nhà trường và các tổ chức xã hội
Giả thuyết 2: Năng lực, sở thích bản thân là một trong những yếu tố tác động
đến việc định hướng nghề nghiệp của học sinh lớp 12
Giả thuyết 3: Điều kiện kinh tế gia đình và sự kì vọng của gia đình là yếu tố
ảnh hưởng đến việc định hướng nghề nghiệp của học sinh lớp 12
Giả thuyết 4: Sự đòi hỏi bằng cấp của xã hội ảnh hưởng đến tâm lý chọn nghề
của học sinh lớp 12
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp thu thập thông tin
1.5.1.1 Phương pháp phân tích tư liệu sẵn có
Các tư liệu sẵn có được sử dụng trong đề tài bao gồm các đề tài, các bài viết của các tác giả Thông qua đó nhóm nghiên cứu có thể hình dung được thực trạng hướng nghiệp của một số trường ở các địa phương, bối cảnh xã hội của địa phương địa bàn nghiên cứu, dân số, tình hình phát triển kinh tế- xã hội của địa phương), cũng như tình hình học tập, giảng dạy của giáo viên và học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ Từ các kết quả của các đề tài chúng tôi sẽ lấy làm cơ sở dữ liệu
cho đề tài của mình
1.5.1.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đề tài đã sử dụng 150 bảng hỏi để thu thập thông tin Các câu hỏi xoay quanh tìm hiểu những khó khăn cũng như những tác động của gia đình, nhà trường, xã hội mà học sinh lớp 12 đang gặp phải trong việc định hướng nghề nghiệp cho mình Với phương pháp điều tra bằng bảng hỏi chúng tôi sử dụng chọn mẫu xác suất để lấy thông tin đại diện Để thuận tiện cho việc lấy mẫu nhóm tiến hành lấy mẫu của cả 7 lớp trong khối 12 gồm 297 học sinh, mỗi lớp lấy 50% tổng số học sinh
Mỗi bàn lấy 2/4 học sinh theo số lẻ ngồi ở vị trí đầu bàn là 1 và giữa bàn là 3 Mẫu dự trữ sẽ là 28 học sinh chia đều cho 7 lớp (2 bàn đầu tiên sẽ lấy hết để lấy mẫu dự trữ) 28 dự trữ +150 chính thức= 178
Trang 291.5.1.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Tiến hành 8 cuộc phỏng vấn sâu bao gồm:
- 4 Học sinh lớp 12 Trong đó 3 nữ, 1 nam:
Tiêu chí để chọn mẫu phỏng vấn sâu:
+ Học lực khá, mức sống trung bình
+ Học lực trung bình, mức sống gia đình vào loại khá
+ Học lực yếu,mức sống gia đình vào loại trung bình
Thông qua việc phỏng vấn học sinh để tìm hiểu một cách sâu sắc những khó khăn
mà bản thân học sinh đang gặp phải trong quá trình định hướng nghề nghiệp trong từng hoàn cảnh Khó khăn gặp phải là gì, nguyên nhân dẫn đến khó khăn, hậu quả của những khó khăn cho bản thân… Ngoài ra còn tìm hiểu nhu cầu của học sinh hiện nay
là như thế nào trong việc định hướng nghề nghiệp
- 1 người thuộc Ban giám hiệu nhà đồng tụ trách công tác hướng nghiệp Qua cuộc phỏng vấn để tìm hiểu công tác hướng nghiệp cho học sinh của nhà trường, khó khăn mà nhà trường gặp phải trong quá trình hướng nghiệp cho học sinh, tình hình địa bàn, học sinh của trường, những khó khăn học sinh 12 gặp phải trong định hướng nghề nghiệp liên quan đến địa bàn…
- 1 giáo viên làm công tác chủ nhiệm nhiều năm Vì GVCN là người gần gũi với học sinh lớp chủ nhiệm Thông qua cuộc trao đổi với giáo viên chủ nhiệm để biết được học lực chung của học sinh, năng lực và khả năng của học sinh đến đâu, những khó khăn mà học sinh gặp phải khi định hướng nghề nghiệp, GVCN đã làm gì để giúp học sinh
- 2 phụ huynh học sinh nam và nữ Qua cuộc phỏng vấn với phụ huynh để thấy được quan điểm định hướng nghề nghiệp cho con cái của mỗi người là như thế nào, sự quan tâm của phụ huynh đến việc học của con cái, xác định vai trò của gia đình và mối liên hệ giữa phụ huynh với nhà trường trong việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh
Tất cả các cuộc phỏng vấn sâu trên nhằm làm rõ hơn những khó khăn mà học sinh đang gặp phải trong từng môi trường cũng như trong chính bản thân mình Phỏng
Trang 30vấn sâu giúp cho bài nghiên cứu làm rõ và chặt chẽ thêm những luận điểm của mình khi viết bài
1.5.2 Phương pháp xử lý thông tin
1.5.2.1 Phương pháp xử lý thông tin định lượng
Thông tin thu được từ các bảng hỏi sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS
1.5.2.2 Phương pháp xử lý thông tin định tính
Từ những thông tin thu thập được của các cuộc phỏng vấn sâu, chúng tôi sẽ tiến hành mã hóa, phân tích, nhận xét để làm rõ các xung đột xã hội đang xảy ra ở các nhóm gia đình, nhà trường, xã hội hay chính trong bản thân học sinh Để từ đó thấy
được các khó khăn mà các học sinh 12 trường THP Nguyễn Trường Tộ, Xã Tân Hải – Thị Xã Lagi – Bình Thuận đang gặp phải trong việc định hướng nghề nghiệp cho
mình
Trang 31CHƯƠNG 2: MÔ TẢ ĐỊA BÀN VÀ MẪU NGHIÊN CỨU
2.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Tỉnh Bình Thuận nằm trong vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ, có mối
liên hệ chặt chẽ với vùng Đông Nam Bộ và nằm trong khu vực ảnh hưởng của địa bàn Kinh tế trọng điểm phía Nam Nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km, cách Thành phố Nha Trang 250 km Có quốc lộ IA, đường sắt Bắc Nam chạy qua; quốc lộ 28 nối liền Bình Thuận với các tỉnh Nam Tây Nguyên; quốc lộ 55 nối liền với Trung tâm dịch vụ dầu khí và du lịch Vũng Tàu Diện tích tự nhiên 7.828 km2, dân số 1,3 triệu người, lực lượng lao động 734.500 người Gồm 10 đơn vị hành chính: Thành phố Phan Thiết (trung tâm tỉnh lỵ), Thị xã Lagi và 8 huyện; trong đó có huyện đảo Phú Quý (14)
2.1.2 La Gi là thị xã mới thành lập thuộc địa phận huyện Hàm Tân, tỉnh Bình
Thuận, với diện tích tự nhiên 18.355 ha, dân số trên 110.000 người, gồm có 5 phường: Phước Hội, Phước Lộc, Bình Tân, Tân Thiện, Tân An và 4 xã Tân Phước, Bình Tân, Tân Tiến, Tân Hải Là đô thị ven biển phía Nam của tỉnh Bình Thuận, gần kề vùng kinh tế động lực Đông Nam Bộ có hệ thống giao thông phát triển, kết nối thông suốt với các huyện, thành phố trong tỉnh và các tỉnh lân cận như: Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, La Gi có vị trí thuận lợi trong hợp tác đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Trong tương lai, khi Cảng nước sâu Kê Gà được xây dựng tại Hàm Thuận Nam cách trung tâm thị xã khoảng 30 km thì La Gi cùng có lợi thế về phát triển công nghiệp, dịch vụ, vận chuyển hàng hải (15)
Thuộc khu vực giáp biển nên có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển cả về đánh bắt, chế biến và cung ứng dịch vụ Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến hải sản, đóng sửa tàu thuyền, khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng….bởi nguồn nguyên liệu tại địa phương khá đa dạng, đặc biệt là nguồn nguyên liệu hải sản với trữ lượng lớn, lực lượng lao động dồi dào Thêm vào đó
(14) http://www.ictbinhthuan.gov.vn
( 15 ) www.lagi.gov.vn
Trang 32đường bờ biển dài gần 28km có nhiều bờ biển, đồi cát đẹp thuận lợi cho phát triển du lịch ở địa phương
Chính vì vậy nhu cầu về nguồn lao động địa phương đang rất cần thiết để phục vụ phát triển kinh tế của vùng Thị xã đã phối hợp với tỉnh Bình Thuận mở các trung tâm dạy nghề, các trường đại học, trung cấp, cao đẳng nghề… ở địa phương để đáp ứng nhu cầu lao động ở địa phương Trung tâm dạy nghề ở địa phương đào tạo các ngành như: May công nghiệp, May thủ công, Tin học văn phòng, Lắp ráp – cài đặt máy vi tính, Điện cơ - điện dân dụng, Chăn nuôi thú y, Anh văn phục vụ Lễ tân, Anh văn phục vụ nhà hàng, Nghề hàn, Xây dựng dân dụng, Trồng cây lương thực - trồng nấm, Trồng và chăm sóc cây cảng, Kế toán Doanh nghiệp, Bảo vệ thực vật, Trồng rau sạch…Ngoài ra, Trung tâm còn phối hợp với cơ sở đào tạo ở TP Hồ Chí Minh thường xuyên đào tạo một số lớp sau: Tin học trình độ A, B; Anh văn trình độ A, B; Các lớp lái xe hạng B2, C Các lớp cao đẳng nghề: May và thiết kế thời trang; Quản trị mạng máy tính
2.1.3 Xã Tân Hải là một trong chín xã phường thuộc thị xã Lagi, có diện tích tự
nhiên 34,33 km2, có 6 thôn với dân số trên 8.291 người
Tân Hải là địa phương có thế mạnh về sản xuất nông lâm ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến thủy hải sản Tân Hải còn có diện tích nuôi trồng thủy sản rất lớn
Trong năm 2007 Tân Hải đã đạt 35 ha diện tích nuôi trồng thủy sản chủ yếu là tôm sú, tôm thẻ và cá nước ngọt Tân Hải có hơn 13 cơ sở chế biến hải sản Trong năm 2007, Tân Hải thu ngân sách được trên 1,7 tỷ đồng Số hộ nghèo của Tân Hải còn 9,51% Tuy nhiên, do kinh tế chủ yếu là nuôi trồng thủy sản, nghề biển nên cuộc sống của người dân bấp bênh, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên Vì vậy việc đầu tư, quan tâm cho việc học của con cái của người dân còn chưa được chú trọng
2.1.4 Trường PTTH Nguyễn Trường Tộ ra đời năm 2005 theo quyết định Số
2723/UBND tỉnh Bình Thuận, ngày 21/07/2005, đặt tại xã Tân Hải, TX La Gi, tỉnh Bình Thuận Trường thuộc địa bàn xã Tân Hải, khu vực vùng sâu, nằm cách trung tâm thị xã 20km Học sinh của trường tập trung từ nhiều xã phường, khu vực lân cận
Trang 33Trường THPT Nguyễn Trường Tộ - Xã Tân Hải – Thị xã Lagi
Từ chỗ 11 lớp, khi mới thành lập (năm học 2005 – 2006), trường phát triển vượt bậc trong năm học sau (2006 – 2007), với số lớp lên 28, xếp trường hạng I, số học sinh ba khối trên một ngàn em Sơ kết cuối học kì 1, Năm học 2010-2011 trường có
Loại giỏi: 15/1133 chiếm 1.3% (tăng 0.8% so với cùng kỳ năm học trước)
Loại khá: 122 hs chiếm 10.8% (giảm so với cùng kỳ năm trước 0.6%.)
Trung bình: 484 hs chiếm 42.7% (giảm so với cùng kỳ năm trước 2%)
Yếu: 487 hs chiếm 43% (tăng so với cùng kỳ năm trước 2.8%)
Kém: 42 hs chiếm 2.1% (giảm 0.9% so với cùng kỳ năm trước)
Trang 34*Về hạnh kiểm:
Loại Tốt: 409/1133 chiếm 36,1% (tăng so với cùng kỳ năm học trước
1.1%)
Loại khá: 442 hs chiếm 39% (giảm so với cùng kỳ năm trước 0.4%.)
Trung bình: 197 hs chiếm 17.4% (giảm so với cùng kỳ năm trước 1.4%)
Yếu: 85 hs chiếm 7.5% (tăng so với cùng kỳ năm trước 0.9%)
Số giáo viên hiện có: 51/28 lớp, tỷ lệ: 1,82; số giáo viên mới ra trường dưới 5 năm là 28 giáo viên chiếm 55%, nên kinh nghiệm còn thiếu; giáo viên không đồng bộ
(thừa ở môn Văn, Giáo dục công dân, Thể dục; thiếu ở bộ môn: Tin học, Địa lý, Sinh, Hóa)
2.2 Mô tả mẫu nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu của mình, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập thông tin dựa trên tổng số học sinh của khối học sinh 12 trong trường là 297 học sinh Chọn mẫu sác xuất ngẫu nhiên trên 7 lớp 12 của trường từ lớp 12A1- 12A7 Một vài nét mô
tả về mẫu nghiên cứu của đề tài:
Về giới tính: Trong 150 học sinh trả lời thì có 52 là nam (34.7%)
và 98 là nữ (65.3%)
Biểu đồ 1: Giới tính
Nguồn: Xử lý SPSS
Trang 35 Về học lực: Trong 150 học sinh lớp 12 tham gia trả lời thì có đến
93 (62%) học sinh có học lực trung bình, 31 (20.7%) học sinh có học lực yếu
và chỉ có 25 học sinh (16.7%) học lực khá và 1 học sinh (0.7%) học lực giỏi
Biểu đồ 2: Học lực
Nguồn: Xử lý SPSS
Về số anh chị em trong gia đình:
Trong 120 học sịnh trả lời(30 học sinh không tham gia trả lời) thì đa số gia đình đông anh chị em Gia đình có 1-2 người con chỉ chiếm 22.5% trong tổng số học sinh trả lời Còn gia đình có từ 3-12 người con chiếm 77.5%
Về mức sống của gia đình:
Mức sống gia đình của 150 học sinh đa số là thuộc loại trung bình chiếm 72.7%,
có 10.7% thuộc loại khó khăn, giàu có và khá giả chiếm 16.7% và
Biểu đồ 3: Mức sống của gia đình
Nguồn: Xử lý SPSS
Trang 36 Về nghề nghiệp của ba mẹ:
Theo như kết quả khảo sát nhận được thì đa số ba mẹ của các em học sinh lớp 12 ở
đây đa số làm nghề nông, nghề biển và buôn bán Cụ thể trong đó có 51.3% ba làm nghề nông , 20% làm nghề biển và 7.3% làm nghề buôn bán Trong khi đó có 32% mẹ của các em làm nghề nông, 34% làm nghề biển và 16.7% làm nghề buôn bán Còn lại
là các nghề khác như cán bộ viên chức, giáo viên…
2.3 Tìm hiểu hoạt động hướng nghiệp của trường THPT Nguyễn Trường Tộ 2.3.1 Hoạt động giảng dạy môn giáo dục hướng nghiệp trong chương trình học:
Năm học 2006-2007, Bộ GD-ĐT đã cải cách môn nghề phổ thông theo chương trình mới dài 3 năm Theo đó, học sinh có 81 tiết giáo dục hướng nghiệp, mỗi năm 27 tiết học, tức mỗi tháng có 3 tiết Ngoài ra còn duy trì môn giáo dục học nghề 3 tiết mỗi tuần cho riêng học sinh khối 11
Theo như tìm hiểu từ các cuộc phỏng vấn sâu, trường Nguyễn Trường Tộ cũng đã
tổ chức dạy theo như chương trình và nội dung của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo “Trường
đã phân công cho thầy cô dạy môn giáo dục công dân chịu trách nhiệm môn giáo dục hướng nghiệp và môn hoạt động ngoài giờ lên lớp
Nội dung chương trình học là sẽ học theo chuyên đề mỗi tháng một buổi 3 tiết trong mỗi lớp vào trái buổi học văn hóa Nội dung các buổi ấy là giáo viên có trách nhiệm với hoạt động sẽ dạy theo chương trình mà Bộ đã đề ra, tổ chức vui chơi giải trí, tìm hiểu các ngành nghề, định hướng cho học sinh các ngành nghề trong tương lai Trên cơ sở nội dung đã có sẵn trong chương trình, giáo viên bộ môn sẽ tìm hiểu thêm nguồn thông tin khác trên báo đài, phương tiện truyền thông khác”.(Trích
BBGB PVS BGH, trang 1)
Phương pháp dạy môn này “thì cũng vừa dạy bằng máy chiếu, vừa dạy theo cách
truyền thống là đọc chép” (Trích BBGB PVS GVCN, trang 8) Giáo viên sử dụng
giáo án bằng giấy, một số hình ảnh được chiếu lên máy chiếu cho học sinh xem
Vì là môn học bắt buộc nên đa số học sinh phải tham gia đầy đủ, học sinh nào nghỉ học sẽ xem như vắng học và đưa vào xét hạnh kiểm, trừ điểm thi đua
Trang 37Theo như thông tin được biết, trong quá trình giảng dạy môn này trường cững như
giáo viên bộ môn gặp một số khó khăn như “nội dung bài là phải đưa học sinh đi thực
tế trong các công ty, làng nghề truyền thống ở địa phương nhưng ở địa phương không
có, điều kiện cho học sinh tham gia không có Nên giáo viên chỉ kiếm tìm hình ảnh trên mạng trình chiếu cho học sinh xem.”(Trích BBGB PVS BGH, trang 2) Khi hỏi
về hiệu quả của hoạt động môn giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong việc định hướng nghề nghiệp, giáo viên trong Ban giám hiệu đã đưa ra một số hiệu quả, lợi ích
từ hoạt động này như sau:
- “Giúp học sinh đến trường nhiều hơn, giảm tệ nạn (một số em lao vào game, chơi bời)
- Học tập, hoạt động vui chơi, tìm hiểu những kiến thức hay cho học sinh
- Giáo viên có thể định hướng cho học sinh những ngành nghề trong tương lai, những ngành nghề đang “hot”, dễ kiếm việc làm
Tuy nhiên cũng có nhiều khó khăn, bất tiện như;
- Thời gian đến trường nhiều quá của học sinh không có lợi như đi lại trên đường giao thông không an toàn
- Mất nhiều thời gian của học sinh nên học sinh không tập trung vào học văn hóa
- Một số nội dung bài không phù hợp với từng văn hóa của địa phương như thăm làng truyền thống Nhưng đã đưa vào nội dung chương trình học mà không đưa vào thì lại nghiêng về lý thuyết hơn thực hành mà mình thì cần thực
hành hơn lý thuyết ”.(Trích BBGB PVS BGH, trang 2)
Về thái độ và hứng thú của học sinh trong các buổi học môn này thì thầy cho biết:
“Vì là bắt buộc nên đa số các em đều tham gia chấp hành, có hứng thú trong giờ học Đối với những em có tinh thần học tập, có dự định trong tương lai thì chăm chú, hứng thú Còn một số em không xác định được thì thấy môn học mất thời gian, không có ý nghĩa nên thường trốn không đi hay ngủ, quậy phá trong giờ học”(Trích BBGB PVS BGH, trang 3)
Trang 38Theo như nhận xét của một học sinh thì: “Lên cô đọc nhớ sơ sơ cho tụi em ghi, nhiều bạn không ghi toàn nói chuyện không Em thấy thời gian đó tự học ở nhà còn tốt hơn là lên trên đấy” (Trích BBGB PVS HS 4, trang 21)
Như vậy việc giáo dục hướng nghiệp của trường THPT Nguyễn Trường Tộ cũng giống như những trường khác mà phần tổng quan đã đề cập đến còn nhiều khó khăn
và hạn chế như:
Nội dung chương trình học còn “cứng nhắc”, chưa mang lại hứng thú, gần gũi, quen thuộc cho học sinh Chương trình được biên soạn trong sách giáo khoa áp dụng cho toàn quốc nhưng mỗi địa phương, vùng miền, mỗi trường có những điều kiện kinh
tế, văn hóa, đặc trưng làng nghề riêng nên trong nội dung chương trình có những nội dung không phù hợp, xa lạ với học sinh Do vậy nên nhiều nội dung chỉ mang tính lý thuyết, không có điều kiện thực hành nên chưa làm được yêu cầu cần có của môn học Chất lượng giáo viên giảng dạy còn thiếu kĩ năng chuyên môn, chưa được đào tạo những kĩ năng cần có, chưa có giáo viên chuyên trách môn này nên việc truyền đạt kiến thức cho học sinh chưa đạt hiệu quả nên chưa thể mang lại hứng thú cho học sinh
trong các buổi học
Nhà trường, giáo viên bộ môn và học sinh chưa ý thức được tầm quan trọng của môn hướng nghiệp trong nhà trường đối với học sinh và xã hội Xem nó như là một
môn học tốn thời gian và không quan trọng như các môn văn hóa khác Yêu cầu của
chương trình GDHN là giúp cho học sinh hiểu được hệ thống nghề nghiệp trong xã hội, phương hướng phát triển nền kinh tế quốc dân nói chung và của địa phương nói riêng nhằm xác định cho bản thân trách nhiệm, nghĩa vụ sẵn sàng tham gia vào lao động sản xuất Xác định được vai trò của hoạt động hướng nghiệp trong nhà trường, các nhà quản lý giáo dục và xã hội cần quan tâm, điều chỉnh để hoạt động hướng nghiệp phát huy thực hiện được vai trò, nhiệm vụ của nó
2.3.2 Các hoạt động hướng nghiệp ngoại khóa khác trong trường
Ngoài những hoạt động trong chương trình học, nhà trường còn tổ chức các hoạt động khác như Hội trại mừng xuân, Hội khỏe phù đổng, sinh hoạt trong các ngày lễ lớn Mục đích của nhà trường là giáo dục cho học sinh về mặt truyền thống cũng như
về mặt đạo đức, hướng các em đến việc chọn ngành trong tương lai
Trang 39Một số hoạt động khác bên Đoàn trường, giáo viên dạy GDCD vào sáng thứ 2 chào cờ khoảng 10-15phút để giải đáp những thắc mắc của học sinh trong việc định hướng nghề nghiệp, nhất là đối với học sinh 12 sắp làm hồ sơ thi đại học
Hàng năm đến mùa tuyển sinh thì trường có các trường về tư vấn, trao học bổng như: trường ĐH Văn Hiến, ĐH Kĩ Thuật Công Nghệ TP.HCM, ĐH Phan Thiết, CĐ Bách Việt, CĐ Nguyễn Tất Thành Các năm trước trường dành một buổi để giao lưu văn nghệ, tư vấn tuyển sinh Năm nay do điều kiện thời gian có hạn nên trường chỉ dành 30 phút trong giờ chào cờ buổi sáng ngày thứ 2 Thường thì các trường này giới thiệu về trường, các ngành đào tạo một cách tổng quát Thời gian rất hạn chế nên việc giải đáp thắc mắc cho học sinh hầu như không có Về phía nhà trường, cũng đã cố gắng tổ chức nhiều hoạt động về hướng nghiệp, tư vấn tuyển sinh cho học sinh Đặc biệt là học sinh lớp12 giúp học sinh định hướng nghề nghiệp và lựa chọn ngành nghề thích hợp Nhưng không thể đáp ứng, giải đáp tất cả những thắc mắc do điều kiện còn hạn chế
Trang 40CHƯƠNG 3: NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA HỌC SINH 12 TRONG VIỆC ĐỊNH
HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP
Năm học 12 là năm học cuối cùng của thời học sinh Năm học này cũng có vai trò rất quan trọng trong cuộc đời đi học mỗi người Học sinh phải đối diện với những kì thi vô cùng quan trọng là kì thi tốt nghiệp và kì thi CĐ-ĐH Chính vì vậy trong giai đoạn này học sinh gặp rất nhiều áp lực, khó khăn Nhất là trong việc định hướng cho
mình một nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp Lúc này học sinh đang đứng “giữa ngã 3 đường” với những băn khoăn trăn trở Khi được hỏi “bạn có thấy khó khăn trong việc định hướng nghề nghiệp cho mình không?”, phần lớn các em đều trả lời “rất khó khăn” chiếm 28 % tổng số học sinh trả lời, “khó khăn” chiếm 53.3%
Biểu đồ 4: Khó khăn trong việc định hướng nghề nghiệp
Nguồn: Xử lý SPSS Qua cuộc khảo sát, những khó khăn của học sinh 12 gặp phải khi định hướng nghề nghiệp thường là những khó khăn như: giới hạn năng lực bản thân (chiếm 77.3%), không hiểu rõ về khả năng và sở thích của mình (chiếm 34.7%), thiếu điều kiện tài chính gia đình (chiếm 46%), áp lực từ sự mong đợi của gia đình (chiếm 32.7%), không hiểu biết đầy đủ thông tin về ngành nghề, về trường (chiếm 58.7%), thiếu thông tin về nhu cầu lao động ở địa phương cũng như xã hội (chiếm 44.7%), sự đòi hỏi ngày càng cao và đa dạng của xã hội (chiếm 62.7%) chiếm trong tổng số học sinh trả lời Những khó khăn này xuất phát từ nhiều phía: từ chính bản thân học sinh,