Tìm hiểu những phương thức liên kết trong văn bản CNTT ở trình độ phổ thông còn giúp cho người học hiểu được các khái niệm khác nhau về văn bản của các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng.. Đối t
Trang 1NGUYỄN THỊ KIM TUYẾN
MSHV: 0305031017
NHỮNG PHƯƠNG THỨC LIÊN KẾT TRONG VĂN BẢN
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở TRÌNH ĐỘ PHỔ THÔNG
(SO SÁNH TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60.22.01
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Bùi Khánh Thế
Trang 2Tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trực tiếp giảng dạy các chuyên đề đã cung cấp cho tôi kiến thức và phương pháp luận nghiên cứu ngôn ngữ
Đặc biệt tôi xin gửi lời tri ân chân thành và sâu sắc nhất đến người hướng dẫn khoa học GS TS Bùi Khánh Thế Thầy không chỉ là người hướng dẫn khoa học mà còn là nguồn tiếp thêm sức mạnh, niềm say mê và tinh thần trách nhiệm của tôi trong
nghiên cứu khoa học, đặc biệt là đề tài những phương thức liên kết trong văn bản công nghệ thông tin ở trình độ phổ thông (so sánh tiếng Việt với tiếng Anh)
Tôi xin cảm ơn các anh chị, các bạn cùng lớp Cao học Ngôn ngữ khóa 2010 đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình đã luôn bên cạnh, sẵn sàng chia
sẻ mọi khó khăn trong công việc và trong cuộc sống để tôi tập trung vào luận văn này
Kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe! Kính chúc anh chị và các bạn cùng lớp làm luận văn đạt kết quả cao nhất! Chúc những người thân yêu của tôi luôn mạnh khỏe
Trang 4Câu hợp nghĩa Công nghệ thông tin phổ thông Câu tự nghĩa
Giáo sư Tiến sĩ International business machines Michael Alexander Kirkwood Halliday Ngữ trực thuộc
Phương thức liên kết
Nguồn trích dẫn tài liệu tham khảo được thực hiện theo qui định đã ghi trong Cẩm nang sau đại học của trường Đại học Quốc gia TP HCM và trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM
Ví dụ: [12, tr.101]: tài liệu tham khảo số 12, trang 101
Trang 50.2.3 Lịch sử về phong cách khoa học – kĩ thuật (CNTT)
0.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
0.4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
0.5 Định hướng đóng góp của đề tài
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ
1.1 Văn bản tiếng Việt và văn bản tiếng Anh
1.1.1 Khái niệm văn bản tiếng Việt và văn bản tiếng Anh
1.1.2 Đặc trưng của văn bản tiếng Việt và văn bản tiếng Anh
1.1.3 Phân loại văn bản tiếng Việt và văn bản tiếng Anh
1.1.4 Các đơn vị của văn bản tiếng Việt và văn bản tiếng Anh
1.2 Những PTLK hình thức của văn bản tiếng Việt và văn bản
Trang 61.2.2 Những PTLK hình thức của văn bản tiếng Anh
1.3 Những PTLK nội dung của văn bản tiếng Việt và văn bản
tiếng Anh
1.3.1 Những PTLK nội dung của văn bản tiếng Việt
1.3.2 Những PTLK nội dung của văn bản tiếng Anh
2.1 Văn bản CNTT PT tiếng Việt
2.1.1 Khái niệm văn bản CNTT PT tiếng Việt
2.1.2 Đặc trưng của văn bản CNTT PT tiếng Việt
2.1.3 Phân loại văn bản CNTT PT tiếng Việt
2.1.4 Các đơn vị của văn bản CNTT PT tiếng Việt
2.2 Những PTLK hình thức của văn bản CNTT PT tiếng Việt
2.2.1 Những PTLK hình thức giữa các phát ngôn
2.2.1.1 Các PTLK chung
2.2.1.2 Các PTLK hợp nghĩa
2.2.1.3 Các PTLK trực thuộc
2.2.2 Những PTLK hình thức giữa các đoạn văn
2.2.2.1 Câu chuyển tiếp (hay câu nối, phát ngôn nối)
2.2.2.2 Đoạn văn chuyển tiếp
2.3 Những PTLK nội dung của văn bản CNTT PT tiếng Việt
Trang 72.3.1 Liên kết chủ đề của văn bản CNTT PT tiếng Việt
2.3.2 Liên kết logic của văn bản CNTT PT tiếng Việt
COMPUTING ESSENTIALS CỦA TIMOTHY J.O’LEARY- LINDA
I.O’LEARY, BIÊN SOẠN NĂM 1998 – 1999), CÁC TƯƠNG ĐỒNG VỚI TIẾNG VIỆT VÀ VẤN ĐỀ DỊCH VĂN BẢN
3.1 Văn bản CNTT PT tiếng Anh
3.1.1 Khái niệm văn bản CNTT PT tiếng Anh
3.1.2 Đặc trưng văn bản CNTT PT tiếng Anh
3.1.3 Phân loại văn bản CNTT PT tiếng Anh
3.1.4 Các đơn vị của văn bản CNTT PT tiếng Anh
3.2 Những PTLK hình thức của văn bản CNTT PT tiếng Anh
3.2.1 Quy chiếu (Reference)
3.2.2 Tỉnh lược và thay thế (Omission and substitution)
3.2.3 Kết từ (Linking words)
3.2.4 Liên kết từ vựng
3.3 Những PTLK nội dung của văn bản CNTT PT tiếng Anh
3.4 Những điểm giống và khác nhau giữa những PTLK trong văn
bản CNTT PT tiếng Việt và những PTLK trong văn bản CNTT
Trang 8tiếng Việt và ngược lại
Trang 9Hiện nay các trường phổ thông, cao đẳng, đại học ở Việt Nam đều đưa môn tin học đại cương (một loại văn bản CNTT PT) vào chương trình giảng dạy, cũng như giới thiệu nội dung này cho mọi đối tượng, mọi lứa tuổi hay nói cách khác là cho những ai cần các hiểu biết và kỹ năng CNTT đang hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống mà không có điều kiện đến trường lớp Kiến thức đại cương này giúp người học nắm lý thuyết nhanh chóng và thực hành tốt hơn, rồi sau đó được họ áp dụng vào công việc thực tiễn của mình Vì vậy, giáo trình tin học đại cương tiếng Việt hay giáo trình tin học đại cương tiếng Anh là rất cần thiết
Thế nhưng, những công trình khoa học cũng như những thiết bị kĩ thuật được giới thiệu, phổ biến, hướng dẫn sử dụng hầu hết đều được công bố bằng tiếng Anh Không phải người Việt Nam nào cũng thông thạo tiếng Anh để sử dụng trong công việc có liên quan đến CNTT Vì vậy, việc dịch các tài liệu về CNTT từ tiếng Anh sang tiếng Việt là một nhiệm vụ cần thiết hay cũng có thể nói là cấp bách
Ở Việt Nam, GS TS Hoàng Kiếm là người đã từng viết giáo trình tin học đại cương Và ông được xem là một trong những người đầu tiên trong ngành CNTT của Việt Nam Năm 1977, Cục máy tính điện tử thành lập, ông nhận quyết định chỉ đạo
Trang 10việc phát triển tin học đầu tiên nước ta Ông là người đầu tiên tiếp quản và lập trình cho chiếc máy vẽ Benson Hai mươi năm sau, ông đảm nhiệm vị trí trưởng khoa CNTT đầu tiên tại đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Ông là người đầu tiên đề xuất ứng dụng CNTT vào giảng dạy bậc phổ thông, đại học từ những năm 70 và cũng là người thành lập trường phổ thông năng khiếu đầu tiên ở miền Nam Những dòng trên đã khiến tôi chọn sách của tác giả Hoàng Kiếm để thực hiện luận văn này
Giáo trình Computing Essentials của Timothy J O'leary, Linda I O'Leary và
Nhóm Công nghệ thông tin máy tính tại Giáo dục Đại học McGraw-Hill cung cấp cho sinh viên một chương trình học tập đầy đủ, một sự hiểu biết cơ bản của khái niệm tính toán và xây dựng các kỹ năng cần thiết để đảm bảo rằng công nghệ thông tin là một lợi thế trong sự nghiệp của bất cứ lĩnh vực gì họ chọn trong cuộc sống thông qua hướng dẫn các bước rõ ràng, cụ thể, chi tiết; ảnh chụp màn hình phong phú và giải thích khái niệm Timothy J O'leary, Linda I O'Leary đã viết nhiều sách tin học đại cương cũng
như tin học chuyên sâu, chẳng hạn như Computing Essentials 1998 – 1999; Computing
Essentials 2000 - 2001; Microsoft Access 2000; Microsoft Internet Explorer 4.0; Microsoft Powerpoint 2000, v.v
Trên thực tế ở Việt Nam, hiện nay chưa có nhiều công trình bằng tiếng Việt giới thiệu các hiểu biết và hướng dẫn cách dùng công cụ CNTT Qua đề tài luận văn của mình, tôi hy vọng có thể góp phần phục vụ sự phổ biến của CNTT đến đông đảo người
có nhu cầu qua văn bản tiếng Việt và tiếng Anh Cụ thể là tìm hiểu những phương thức liên kết trong văn bản CNTT PT tiếng Việt và tiếng Anh
Tìm hiểu những phương thức liên kết trong văn bản CNTT ở trình độ phổ thông còn giúp cho người học hiểu được các khái niệm khác nhau về văn bản của các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Ngoài ra, nó cũng giới thiệu các phương thức liên kết trong một văn bản CNTT sao cho văn bản đó trở thành một văn bản CNTT thống nhất, hoàn
Trang 11chỉnh Điều này giúp cho người học có thể không khó khăn lắm để nắm được lý thuyết
và kỹ năng thực hành tốt hơn Nhờ vậy mà người học từng bước hoàn thiện khả năng độc lập nghiên cứu, tự bồi dưỡng và tiếp tục sử dụng thành thạo dần thiết bị CNTT và hiểu sâu hơn CNTT về mặt lý thuyết
0.2.2 Lịch sử về phong cách học
Phong cách ngôn ngữ (Linguistic Style) là kết quả cụ thể về sự lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ nhằm mục đích biểu đạt một ý tưởng, một tình cảm, một nguyện vọng nào đó có hiệu quả nhất, tinh tế nhất Những tiêu chuẩn và tập quán ngôn ngữ, những điều kiện giao tiếp cụ thể, qui định sự lựa chọn những phương tiện ngôn ngữ khác nhau để biểu đạt ý tưởng, tình cảm một cách hiệu quả nhất Từ đó hình thành nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau, chẳng hạn như phong cách ngôn ngữ khi nói, phong cách ngôn ngữ khi viết, ngôn ngữ trịnh trọng, ngôn ngữ không trịnh trọng, ngôn ngữ văn chương, ngôn ngữ báo chí, ngôn ngữ khoa học kĩ thuật, v.v Tập quán nói năng có thể biến đổi theo thời gian, theo hoàn cảnh lịch sử và tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổi phong cách ngôn ngữ
Phong cách ngôn ngữ còn được hiểu là biến thể của ngôn ngữ được hình thành trong một xã hội nhất định, với một chức năng xã hội nhất định; là biến thể của ngôn
Trang 12ngữ được hiểu như phong cách nói, viết của một người nếu người đó có những thói quen ổn định sử dụng các biện pháp ngôn ngữ và được xã hội thừa nhận là có giá trị tiêu biểu Phong cách ngôn ngữ còn là biến thể của ngôn ngữ trong một thời kì lịch sử nhất định gắn liền với các điều kiện xã hội quy định cách vận dụng ngôn ngữ ấy trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống cộng đồng
Phong cách học ngôn ngữ là bộ môn khoa học nghiên cứu các dạng biểu hiện, các biến thể nói trên của ngôn ngữ và những vấn đề gắn liền với nó
Dẫn theo Akhmanova, tr.454, “Phong cách học là bộ môn ngôn ngữ học có nhiệm vụ nghiên cứu các phong cách khác nhau (như phong cách ngôn ngữ cá nhân và phong cách thể loại ngôn ngữ) và các thuộc tính biểu cảm của các phương tiện, thủ pháp khác nhau trên hai bình diện lựa chọn (paradigmatic) và kết hợp (syntagmatic) theo quan điểm xem xét chúng trong các phạm vi giao tiếp khác nhau”
Vào những năm 20 trở đi, một số nhà nghiên cứu phong cách thường quan tâm chủ yếu đến ngôn ngữ văn chương và tác phẩm của các tác giả lớn
Những năm 30- 40 của thế kỉ này, những nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái Praha xem phong cách học là học thuyết về mối tương quan giữa văn bản và các nhân
tố ngoài văn bản Văn bản và hoạt động ngôn từ nói chung (viết và nói) theo quan điểm này là kết quả của quá trình người nói lựa chọn trong số những khả năng vốn có của ngôn ngữ các dạng thức ngôn ngữ thích hợp để thực hiện mục đích nói năng (chức năng) Quan điểm này là khoa học bởi nó dựa trên cơ sở khái niệm phong cách giao tiếp, phong cách chức năng, do đó còn gọi phong cách học chức năng
Dẫn theo Akhmanova, trang 454, “Trên những nét đại cương, các nhà nghiên cứu phân phong cách ngôn ngữ thành các loại: phong cách nói, phong cách viết, phong cách hành chính sự vụ, phong cách chính luận, báo chí, phong cách văn chương, phong cách thể loại, phong cách khoa học –kĩ thuật…”
Tóm lại, từ khi thuật ngữ phong cách học xuất hiện vào thế kỉ XIX và được xem như một khoa học cho đến nay, nó dần dần được dùng như tên gọi của một lý thuyết về
Trang 13“sử dụng ngôn ngữ”, một chuyên ngành khoa học trong ngữ văn học đại cương và là bộ phận của ngành ngôn ngữ học Phong cách ngôn ngữ học đặc biệt có tác dụng trong các mục đích ứng dụng ngôn ngữ và làm phong phú nhiều cho lý thuyết ngôn ngữ học đại cương [16; tr 158-159]
Ở Việt Nam, mãi cho đến những năm 1964, môn phong cách học tiếng Việt mới được hình thành Từ những năm 1968 trở đi, phong cách học tiếng Việt đã được tách riêng ra, giảng dạy ở bậc đại học với tính cách là bộ môn khoa học độc lập Đó là các bài giảng về phong cách học của Nguyễn Phan Cảnh, Hoàng Trọng Phiến, Hữu Đạt; đó cũng là các công trình được in thành sách với tư cách là các văn bản của Đại học Sư phạm của Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc, Lê Anh Hiền, Nguyễn Nguyên Trứ, Nguyễn Thái Hoà, v.v Ngoài ra, còn phải kể đến một số công trình chuyên sâu với tư cách là sách chuyên luận của Phan Ngọc, Nguyễn Phan Cảnh, Hữu Đạt, Mai Ngọc Chừ Nhiều bài báo đăng rải rác từ những năm 1960 trở lại đây có liên quan đến nghiên cứu phong cách học của các tác giả như Hoàng Tuệ, Võ Bình, Đào Thản, Nguyễn Thế Lịch, v.v Cũng có một số công trình luận văn, luận án của cử nhân, thạc sĩ làm phong phú nền phong cách học tiếng Việt ở Việt Nam một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong gần non nửa thế kỉ qua Những đóng góp đó cũng có những thiếu sót, nhất định cần được khắc phục Vì vậy, việc cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu phong cách học tiếng Việt là rất cần thiết
0.2.3 Lịch sử về phong cách khoa học – kĩ thuật (CNTT)
Lịch sử phát triển của phong cách khoa học – kĩ thuật hay cụ thể là CNTT (tin học) gắn liền với lịch sử phát triển của kỹ thuật máy tính điện tử, kỹ thuật xử lý thông tin, mà ta có thể chia thành bốn giai đoạn Trình tự xuất hiện là: thời kỳ chuẩn bị công nghiệp máy tính điện tử (MTĐT) (1945- 1952), cụ thể là máy tính điện tử đầu tiên trên thế giới tên gọi máy ENIAC (Electronic Numerical Integrator and Computer) sản xuất
ở Mỹ vào khoảng 1942 – 1946; thế hệ thứ nhất bắt đầu với MTĐT UNIVAC I
Trang 14(UNIVersal Automatic Computer I), đặc biệt là IBM-1401, IBM-701,…; thế hệ thứ hai của các MTĐT sử dụng bán dẫn để chế tạo máy tính như COBOL (COmmon Business-Oriented Language),…; thế hệ thứ ba gồm IBM, CDC, SIEMENS,…; thế hệ thứ tư bắt đầu từ sự ra đời của lớp máy IBM-370 (1970) sử dụng các mạng tích hợp cao hơn lớp máy IBM-360, sự phát triển của các máy mini và micro, đặc biệt là một số tiến bộ đáng
kể như các bộ vi xử lý (1971)
Ở Việt Nam, chiếc máy tính điện tử đầu tiên MINSK- 22 được lắp đặt, đưa vào
sử dụng từ năm 1968 và khái niệm công nghệ thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội" Từ đó lĩnh vực máy tính phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay
Trải qua gần 45 năm, nhu cầu sử dụng máy tính ngày càng cao, thực tế đó đòi hỏi phải có những sách chuyên ngành, những văn bản hướng dẫn cụ thể Hàng loạt sách chuyên ngành, văn bản có liên quan đến CNTT ra đời đáp ứng nhu cầu ấy Và cũng từ đó, trong phạm vi phong cách khoa học – kĩ thuật, phong cách khoa học kỹ thuật máy tính có một số đặc điểm riêng đáng chú ý
0.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tuy không thuộc chuyên ngành đào tạo là so sánh – đối chiếu, nhưng luận văn
sẽ nghiên cứu những đặc điểm đáng chú ý của văn bản CNTT trong phong cách khoa học – kĩ thuật, đặc biệt chú ý đến PTLK trong văn bản CNTT tiếng Việt và tiếng Anh nhằm làm cho phù hợp với kiến thức của các sinh viên không chuyên ngành (cụ thể là sinh viên ngoài khoa CNTT) học tiếng Anh và những người nước ngoài học tiếng Việt
Trang 15Luận văn so sánh, đối chiếu những nét tương đồng và những nét dị biệt của PTLK trong văn bản CNTT tiếng Việt và tiếng Anh ở trình độ phổ thông nhằm phù hợp với kiến thức của các sinh viên không chuyên ngữ (cụ thể là sinh viên khoa CNTT) học tiếng Anh và những người nước ngoài học tiếng Việt
0.4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
Xuất phát từ phạm vi nghiên cứu, nội dung và đối tượng nghiên cứu của đề tài, luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp miêu tả, phân tích để tìm hiểu, xem xét từng PTLK trong văn bản tiếng Việt và tiếng Anh
- Phương pháp so sánh, đối chiếu để nhận diện những điểm tương đồng và những nét dị biệt trong PTLK của văn bản CNTT tiếng Việt và tiếng Anh
- Dĩ nhiên, trong khi làm việc, người viết luận văn này phải sử dụng thao tác tổng hợp, khái quát trong quá trình nghiên cứu để rút ra những kết luận khi nghiên cứu những lý thuyết về văn bản, và đối chiếu các văn bản khác nhau
Nguồn ngữ liệu là các văn bản CNTT tiếng Việt và tiếng Anh ở trình độ phổ thông
0.5 Định hướng đóng góp của đề tài
Nghiên cứu văn bản tạo ra mối quan hệ liên ngành, như văn học, thi pháp học,
xã hội học, văn hóa học, v.v Điều đó làm cho việc nghiên cứu ngôn ngữ không bó hẹp
Trang 16trong phạm vi nghiên cứu của mình; các ngành khác cũng hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong xu hướng tích hợp và hội nhập hiện nay
Các PTLK rất cần thiết và quan trọng trong văn bản Chúng góp phần làm cho một chuỗi câu tưởng chừng như hỗn độn, không liên quan gì với nhau trở thành một bộ phận hợp thành hữu cơ trong một văn bản Mỗi văn bản khác nhau có nhiều PTLK khác nhau, phong phú và đa dạng Điều này giúp cho người đọc, người học tiếp cận một văn bản CNTT với nội dung mới lạ có thể tiếp nhận nội dung văn bản đó dễ dàng hơn, nhẹ nhàng hơn
Làm tăng tính chất văn hóa giao tiếp, nhất là văn hóa giao tiếp công sở, chuẩn hóa văn bản nhà nước, đóng góp vào phát triển kinh tế, ngoại giao, v.v
Đặc biệt là, việc tìm hiểu PTLK trong văn bản CNTT ở trình độ phổ thông còn giúp người học hiểu nhanh lý thuyết của một văn bản và thực hành tốt hơn
Quan trọng hơn, việc tìm hiểu PTLK trong văn bản CNTT PT tiếng Việt kèm theo văn bản CNTT PT tiếng Anh, không những giúp người học có thêm kiến thức cơ bản về văn bản CNTT bằng tiếng mẹ đẻ mà còn cho họ cơ hội tiếp xúc với một văn bản CNTT của một thứ tiếng khác – một thứ tiếng phổ biến trên thế giới Người học, người
sử dụng CNTT, khi cần diễn đạt ý tưởng của mình (khi làm bài, khi trình bày báo cáo khoa học), có thể noi theo các điều tiếp thu từ sách tham khảo, có thể diễn đạt đúng ý tưởng của mình về đặc điểm của một văn bản CNTT
Trang 170.6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn này triển khai vấn đề thành 3 chương
có nội dung như sau:
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Đây sẽ là cơ sở lí luận quan trọng để chúng tôi vận dụng vào việc phân tích các
PTLK trong hai văn bản cụ thể, đó là Giáo trình tin học đại cương của GS TS Hoàng Kiếm biên soạn năm 1997 và giáo trình Computing Essentials của Timothy J O’Leary
và Linda I O’Leary, biên soạn năm 1998 – 1999 Chương này chú ý đến cơ sở lý
thuyết của phong cách học, sự phân loại và đặc điểm các phong cách, đồng thời cũng chú ý đến các phương diện lý thuyết của ngôn ngữ học văn bản
Chương 2
NHỮNG PHƯƠNG THỨC LIÊN KẾT TRONG VĂN BẢN CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN PHỔ THÔNG TIẾNG VIỆT (TRÊN CỨ LIỆU “GIÁO TRÌNH TIN HỌC ĐẠI CƯƠNG” CỦA HOÀNG KIẾM BIÊN SOẠN NĂM 1997)
Đây là chương vận dụng lý thuyết vào việc phân tích từng PTLK trong Giáo trình tin học đại cương của GS TS Hoàng Kiếm biên soạn năm 1997, đồng thời thống
kê số lần xuất hiện của mỗi PTLK trong văn bản đó
Chương 3
NHỮNG PHƯƠNG THỨC LIÊN KẾT TRONG VĂN BẢN CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN PHỔ THÔNG TIẾNG ANH (TRÊN CỨ LIỆU COMPUTING ESSENTIALS CỦA TIMOTHY J.O’LEARY- LINDA I O’LEARY, BIÊN SOẠN
NĂM 1998 – 1999), CÁC TƯƠNG ĐỒNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ VẤN ĐỀ DỊCH VĂN BẢN
Trang 18Đây là chương vận dụng lý thuyết vào việc phân tích từng PTLK trong giáo
trình Computing Essentials của Timothy J.O’Leary và Linda I O’Leary, biên soạn năm
1998 – 1999 Sau đó, đưa ra những nét tương đồng và những nét dị biệt giữa hai văn bản tiếng Việt và tiếng Anh, đồng thời thống kê số lần xuất hiện của mỗi PTLK trong hai văn bản đó Bên cạnh đó, người viết sẽ đề cập đến vấn đề dịch văn bản từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại
Luận văn còn có thư mục tài liệu tham khảo gồm 40 đơn vị và 6 bảng phụ lục đính kèm
Trang 19Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ
1.1 Văn bản tiếng Việt và văn bản tiếng Anh
Để trao đổi thông tin, thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình trong hoạt động giao tiếp, con người dùng phương tiện ngôn ngữ, công cụ có chức năng thông báo, truyền tin Khi nói cũng như viết, người ta không dừng lại ở từ hay câu mà tạo lập ra văn bản Văn bản là một sản phẩm của hoạt động giao tiếp và là một đơn vị giao tiếp hoàn chỉnh
1.1.1 Khái niệm văn bản tiếng Việt và văn bản tiếng Anh
Có nhiều khái niệm về văn bản tiếng Việt Có người quan niệm văn bản thiên về nội dung văn bản như L.M Loseva, M Halliday, E Coseriu, I.R Galperin, v.v Có người quan niệm văn bản thiên về hình thức văn bản như Nunan, R Harweg, W Koch,
L Hjelmslev, v.v Có người quan niệm văn bản theo hướng tổng hợp như Trần Ngọc Thêm, Diệp Quang Ban, Nguyễn Quang Ninh, v.v Có người quan niệm văn bản theo hướng phân biệt văn bản và diễn ngôn như Barthe, Cook, Crystal, Hồ Lê, v.v Còn M.A.K Halliday lại quan niệm văn bản là “một cái gì đó xảy ra, dưới hình thức nói hoặc viết, nghe hoặc đọc Khi chúng ta phân tích nó, chúng ta phân tích cái sản phẩm của quá trình đó, và thuật ngữ “văn bản” thường được dùng để chỉ sản phẩm - đặc biệt
là sản phẩm dưới hình thức viết của nó, bởi vì đây là một vật thể có thể tri giác dễ dàng nhất” [34, tr 496] Người viết dựa trên quan niệm văn bản theo hướng tổng hợp của Trần Ngọc Thêm: “Văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là phần tử Ngoài các câu – phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy” [23, tr 19]
Trang 201.1.2 Đặc trưng của văn bản tiếng Việt và văn bản tiếng Anh
Đã có nhiều tác giả bàn về đặc trưng của văn bản tiếng Việt và tiếng Anh Có thể nói, văn bản tiếng Việt và văn bản tiếng Anh đều có những đặc trưng cơ bản nhất của một văn bản, đó là tính liên kết và tính hoàn chỉnh [5, tr 33]
1.1.2.1 Đặc trưng của văn bản tiếng Việt
Văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là các phần tử Ngoài các câu – phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ và liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Tính liên kết trong văn bản tiếng Việt là mạng lưới các mối liên hệ giữa các câu trong một văn bản
Tính liên kết trong văn bản tiếng Việt là nhân tố quan trọng nhất, có tác dụng biến một chuỗi câu trở thành văn bản Không phải vô cớ mà thuật ngữ “văn bản” trong
các ngôn ngữ Ấn – Âu bắt nguồn từ chữ Latinh textum (nghĩa là “sự liên kết”)
Tính liên kết có khả năng rất lớn Nó có thể làm cho một chuỗi câu không liên quan gì với nhau trở thành một bộ phận của văn bản bằng cách thêm một câu thứ n+1 cho nó Khi đó, lập tức cả chuỗi câu tưởng chừng như hỗn độn đó bỗng nhiên cựa quậy
và trở nên một bộ phận hợp pháp của văn bản [23, tr.19]
Liên kết trong văn bản tiếng Việt có hai mặt: liên kết nội dung và liên kết hình thức Giữa hai mặt liên kết hình thức và liên kết nội dung có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ: liên kết nội dung được thể hiện bằng một hệ thống các PTLK hình thức, và liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung [23, tr 20]
“Tính hoàn chỉnh” trong văn bản tiếng Việt được nhiều tác giả xem là “mạch lạc” như Diệp Quang Ban, Phan Mậu Cảnh, v.v Nhưng khi bàn về hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, Trần Ngọc Thêm không dùng “mạch lạc” mà gọi là “liên kết nội
dung” bao gồm liên kết chủ đề và liên kết logic [23, tr.24-25] Ngược lại, khi dịch Ngữ
Trang 21pháp văn bản của O.I Moskalskaja, Trần Ngọc Thêm có đề cập đến tính hoàn chỉnh
như sau: “….tính hoàn chỉnh của văn bản tiếng Việt thể hiện dưới dạng tính hoàn chỉnh
về cấu trúc, nghĩa và giao tiếp hay còn gọi là tính hoàn chỉnh về hình thức, nội dung và chức năng” [37, tr 27]
Tính hoàn chỉnh nghĩa của văn bản thể hiện ở sự thống nhất chủ đề của nó Chủ
đề được hiểu là hạt nhân nghĩa của văn bản, nội dung cô đúc và khái quát của văn bản [37, tr.27]
Tính hoàn chỉnh giao tiếp của văn bản được thể hiện ở sự kế thừa giao tiếp giữa các thành tố của nó Cụ thể là mỗi câu tiếp theo dựa vào câu trước về mặt giao tiếp, đưa phát ngôn từ cái đã biết, “cái cho trước” đến cái mới, kết quả là tạo nên một chuỗi chủ đề - thuật đề có tính chất hữu hạn [37, tr.33-34]
Tính hoàn chỉnh cấu trúc được thể hiện bằng những tín hiệu đa dạng bên ngoài
có tác dụng chỉ ra rằng chúng là những bộ phận của một chỉnh thể và hợp lại tạo nên một thể thống nhất cấu trúc [37, tr.46]
1.1.2.2 Đặc trưng của văn bản tiếng Anh
Trong tiếng Anh, thuật ngữ “liên kết” được M.A.K Halliday và R Hasan đưa ra năm 1976 và hiểu đó là những phương tiện ngôn ngữ khác nhau giúp cho các câu và các khúc đoạn lớn hơn câu có thể kết nối với nhau về mặt nghĩa Hệ thống liên kết của Halliday ngày càng được phổ biến rộng rãi, nó được sử dụng đắc lực vào việc nghiên cứu diễn ngôn cũng như trong thực hành dạy tiếng Anh
Trong văn bản tiếng Anh, M.A.K Halliday có nói đến “liên kết” trong Dẫn luận ngữ pháp chức năng: “Liên kết là mối quan hệ giữa các thực thể, là nguồn lực phi cấu
trúc…” [34, tr 492] Do đó, M.A.K Halliday và Hasan không tính đến liên kết nội dung trong văn bản như Trần Ngọc Thêm
“Tính liên kết trong văn bản tiếng Anh”, theo M.A.K Halliday, “tất nhiên là một quá trình, bởi vì diễn ngôn tự nó là một quá trình Văn bản là một cái gì đó xảy ra,
Trang 22dưới hình thức nói hoặc viết, nghe hoặc đọc Khi chúng ta phân tích nó, chúng ta phân tích cái sản phẩm của quá trình đó, và thuật ngữ “văn bản” thường được dùng để chỉ sản phẩm - đặc biệt là sản phẩm dưới hình thức viết của nó, đó là cái đối tượng có thể tri giác được sáng rõ nhất (mặc dù ngày nay chúng ta có máy ghi âm và nó khiến cho người ta dễ dàng chấp nhận ngôn ngữ nói cũng có tư cách văn bản).” [34, tr 496]
Mạch lạc là tập hợp những quan hệ có ý nghĩa dùng chung cho mọi văn bản, phân biệt văn bản với “phi văn bản” và làm phương tiện phát hiện liên hệ phụ thuộc lẫn nhau về nội dung giữa các mảnh đoạn cụ thể [5, tr 51] Tính thống nhất đề tài – chủ đề
có tầm quan trọng nhất định đối với việc tạo lập và giải thuyết văn bản
Văn bản tiếng Anh cũng có liên kết hình thức và liên kết nội dung Tuy nhiên, Halliday chủ trương miêu tả ngôn ngữ chủ yếu theo quan điểm hệ thống Trong sự liên kết nghĩa của câu với câu, ông phát hiện ra những hệ thống phương tiện thuộc các cấp
độ khác nhau trong hệ thống ngôn ngữ Bản thân các yếu tố trong mỗi hệ thống này không có quan hệ cấu trúc với nhau, cho nên chúng có tính chất phi cấu trúc tính, mặc
dù khi được sử dụng giữa các câu liên kết với nhau, chúng có thể tạo ra được quan hệ cấu trúc giữa các bộ phận nghĩa trong các câu đó
1.1.3 Phân loại văn bản tiếng Việt và văn bản tiếng Anh
Văn bản tiếng Việt là một đối tượng phức tạp về nhiều mặt: nội dung, hình thức
và thể Việc phân loại văn bản dựa vào nhiều cách khác nhau [5, tr 319] Sau đây là một số cơ sở và kết quả phân loại văn bản tiêu biểu Dựa vào hình thức thể hiện, có văn bản nói và văn bản viết Dựa vào cách thức thể hiện hành vi (mục đích) xây dựng văn bản, có văn bản tự sự, văn bản miêu tả, văn bản trữ tình, văn bản lập luận Dựa vào phong cách chức năng, có văn bản hành chính, công vụ; văn bản khoa học; văn bản báo chí; văn bản chính luận; văn bản nghệ thuật
Văn bản tiếng Anh cũng có nhiều loại như văn bản tiếng Việt nói trên
Trang 231.1.4 Các đơn vị của văn bản tiếng Việt và văn bản tiếng Anh
1.1.4.1 Các đơn vị của văn bản tiếng Việt
Trong văn bản tiếng Việt, đơn vị trực tiếp tạo lập văn bản khi ta phân xuất văn bản thành những bộ phận nhỏ hơn ngay sau đó chính là câu (phát ngôn) và đoạn văn [5, tr.54]
Phát ngôn hoàn chỉnh về cấu trúc được gọi là câu, phát ngôn không hoàn chỉnh
về cấu trúc được gọi là ngữ trực thuộc [23, tr 57] Các phát ngôn hoàn chỉnh về cấu trúc trên văn bản được chia thành hai phần rõ rệt theo cách mà lí thuyết phân đoạn thực tại đã xác lập: phần nêu (cái mà người đọc đã biết hoặc giả định là đã biết) và phần báo (cái mới) Sự phân đoạn này là sự phân đoạn thông báo (phân đoạn ngữ nghĩa) Cấu trúc phổ biến của phân đoạn thông báo là phần nêu đứng trước phần báo Khái quát hoá
sự phân đoạn thông báo, có thể nói rằng cấu trúc của mọi câu đều chia thành hai phần:
đề và thuyết Đề hay còn gọi chủ đề (Theme, kí hiệu T) là phần mà đối tượng được nêu
ra để thông báo, đóng vai trò trung tâm tổ chức (trung tâm ngữ pháp của câu) Thuyết hay còn gọi là thuật đề (Rheme, kí hiệu R) là phần thông báo về chủ đề, đóng vai trò trung tâm thông tin (trung tâm ngữ nghĩa) của câu, luôn luôn đứng sau chủ đề Sự phân chia nội dung phát ngôn thành hai phần với trật tự T R như vậy được gọi là sự phân đoạn nội dung Cấu trúc nội dung T R là chỗ giao nhau của ngữ pháp và ngữ nghĩa, cũng như mặt cấu trúc là chỗ giao nhau của mặt hình thức và mặt nội dung Nếu một phát ngôn có đủ cả hai phần T R thì nó sẽ hoàn chỉnh về cấu trúc và là câu Ngược lại, thì nó sẽ là ngữ trực thuộc (NTT)
Câu trong văn bản là một bộ phận (thành tố) của văn bản, chứa thông báo nhỏ nhất, chịu sự chi phối về nội dung, hình thức và phong cách của văn bản, có mối quan
hệ qua lại với nhau về mặt ngữ pháp và ngữ nghĩa, có tính đa dạng về cấu tạo và liên quan với nhau về ngữ pháp, có sự chuyển đổi trật tự một cách linh hoạt, có sự phối kết với nhau về nội dung ý nghĩa, mang tính phong cách, có sự điều phối chặt chẽ về trật tự giữa câu trong văn bản, về phương tiện liên kết Câu trong văn bản có thể là câu tiêu
Trang 24đề; câu định vị; câu tỉnh lược; câu khuyết chủ ngữ, câu biệt lập, kiểu phát ngôn tách biệt
Đoạn văn (paragraph) cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng được các nhà nghiên cứu về văn bản thống nhất là một bộ phận của văn bản do câu tạo thành theo một cấu trúc nhất định, biểu thị một nội dung tương đối độc lập, có hình thức rõ ràng Về hình thức, đoạn văn trong văn bản viết mở đầu bằng cách lùi vào một chữ so với hàng tiếp theo, kết thúc là dấu ngắt dòng chuyển đoạn Về nội dung, đoạn văn là một đơn vị thông báo chứa một phần nội dung – chủ đề tương đối trọn vẹn của văn bản Về cấu tạo, đoạn văn được hình thành trực tiếp từ các câu Có nhiều cách phân loại đoạn văn: dựa vào dạng tồn tại, dựa vào chức năng, dựa vào cấu trúc Thế nhưng, cách phân loại dựa vào cấu trúc là phổ biến hơn cả Có thể phân loại đoạn văn về cấu trúc như sau: dựa vào câu chủ đề và quan hệ giữa các câu trong đoạn văn, có hai loại đoạn văn là đoạn văn có câu chủ đề và đoạn văn không có câu chủ đề
1.1.4.2 Các đơn vị của văn bản tiếng Anh
Cú (clause) được hiểu là đơn vị lớn nhất về cấu trúc ngữ pháp của một ngôn ngữ, và khi các cú ghép lại với nhau sẽ làm thành một hợp thể cú (clause complex - với complex là danh từ), và hợp thể cú khi thể hiện trên chữ viết được gọi là một câu (sentence - với dấu chấm câu ở hai đầu, cho nên câu thuộc ngôn ngữ viết), và chính nhờ hợp thể cú mà câu phát triển và có vị trí trong hệ thống ngôn ngữ viết (một dạng của sản phẩm, cũng tức là văn bản) Điều vừa nêu được Halliday ghi nhận như sau:
“Một hợp thể cú tương ứng một cách chặt chẽ với một câu trong ngôn ngữ viết tiếng Anh; trên thực tế, chính sự tồn tại của hợp thể cú trong ngữ pháp là cái dẫn đến sự tiến hoá của câu trong hệ thống ngôn ngữ viết” [34, tr 309]
Dưới cú còn được gọi là cụm từ (nhóm các từ hay tổ hợp từ) hoặc cú đoạn Cụm
từ có thể là cụm danh từ, cụm động từ, cụm trạng từ, cụm liên từ và cụm giới từ Trong khi cụm từ là sự mở rộng của một từ, thì cú đoạn là sự thu nhỏ của một cú
Trang 25Trên cú có thể là cú phức Trong thực tế, một câu sẽ được định nghĩa như là một
cú phức Cú phức sẽ là đơn vị ngữ pháp duy nhất trên cú
Bên cạnh cú còn có ngữ điệu và nhịp điệu Các thành tố thuộc cấp độ này không phải chỉ là những đơn vị vận luật; chúng là một bộ phận của hệ thống tiếng Anh Tất cả các ngôn bản trong tiếng Anh tự nhiên khẩu ngữ đều được làm từ các nhóm ngữ điệu
kế tiếp nhau liên tục, và những nhóm ngữ điệu này đến lượt chúng lại được làm thành những nhóm nhịp điệu hay các “bộ”
Xung quanh cú là liên kết và ngôn bản Để tạo ngôn bản, ta cần phải có khả năng thiết lập các mối quan hệ bổ sung trong ngôn bản; các mối quan hệ có thể liên quan đến các thành phần thuộc bất kì phạm vi nào Điều này không thể thực hiện được bằng cấu trúc ngữ pháp, nó phụ thuộc vào một nguồn lực kiểu khác Những nguồn lực phi cấu trúc để kết cấu ngôn bản này được gọi là liên kết (cohesion)
Bên ngoài cú gồm các phương thức thể hiện ẩn dụ hay nói cách khác là “mĩ từ” được hiểu nôm na là cách gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng có nét tương đồng với nó nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt Có nhiều cách ẩn dụ: chuyển nghĩa tu từ, ẩn dụ ngữ pháp, ẩn dụ tư tưởng, ẩn dụ ở bình diện liên nhân, v.v
1.2 Những PTLK hình thức của văn bản tiếng Việt và văn bản tiếng Anh
1.2.1 Những PTLK hình thức của văn bản tiếng Việt
1.2.1.1 Những PTLK hình thức giữa các phát ngôn
PTLK giữa các câu (hay còn gọi là phát ngôn) trong văn bản tiếng Việt được
Trần Ngọc Thêm chia thành ba nhóm lớn [23, tr.84]: các PTLK chung, các PTLK hợp
nghĩa và các PTLK trực thuộc
Các PTLK chung: được dùng chung cho cả ba loại câu tự nghĩa, hợp nghĩa, và
ngữ trực thuộc Chúng gồm có phương thức lặp (từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm), phương
Trang 26thức đối, phương thức thế đồng nghĩa, phương thức liên tưởng, phương thức tuyến tính
Các PTLK hợp nghĩa: được dùng cho các loại câu hợp nghĩa và ngữ trực thuộc
Chúng gồm có phép thế, cụ thể là thế đại từ (thế đại từ khiếm diện và dự báo, thế đại
từ hiện diện và hồi quy), phép tỉnh lược yếu và phép nối lỏng
Các PTLK trực thuộc: chỉ được dùng cho loại ngữ trực thuộc Chúng gồm có
phép tỉnh lược mạnh, phép nối chặt
1.2.1.2 Những PTLK hình thức giữa các đoạn văn
Liên kết giữa đoạn văn với đoạn văn cũng sử dụng các phép trên và xét về mặt
lý thuyết hiện đang dùng thì không có gì khác biệt Tuy nhiên, trong thực tiễn dạy học làm văn, việc chú ý đến câu làm nhiệm vụ chuyển tiếp và đoạn văn làm nhiệm vụ chuyển tiếp giữa hai đoạn văn là việc có ích Vì vậy, khi nói đến liên kết giữa đoạn văn với đoạn văn có thể nói tới hai phương tiện liên kết (không phải PTLK), đó là câu chuyển tiếp (câu nối – phát ngôn nối) và đoạn văn chuyển tiếp
(a) Các câu chuyển tiếp (hay câu nối hay phát ngôn nối)
Các câu chuyển tiếp (hay câu nối hay phát ngôn nối) bao giờ cũng đứng ở đầu
hoặc cuối các đoạn văn và thực hiện chức năng liên kết hồi quy, chỉ ra sự liên kết của
đoạn văn mà chúng mở đầu với đoạn văn trước đó hoặc đứng ở cuối đoạn văn và thực
hiện chức năng liên kết dự báo, báo trước sự xuất hiện của một (hoặc nhiều) đoạn văn
tiếp theo
Khác với ở các phát ngôn bình thường, chức năng liên kết ở phát ngôn nối nổi lên và chức năng ngữ nghĩa giảm đi rõ rệt Phát ngôn nối hầu như không mang đến cho người đọc một lượng thông tin mới nào, song sự có mặt của nó lại làm cho đoạn văn phụ thuộc về mặt nội dung vào một đoạn văn (hoặc nhóm đoạn văn khác) Về mặt cấu
Trang 27trúc, phát ngôn nối có thể được đặt vào hoặc bỏ ra mà hoàn toàn không làm ảnh hưởng
gì đến cấu trúc của đoạn văn Chính vì vậy mà chúng là phương tiện của phép nối lỏng
(b) Đoạn văn nối (chuyển tiếp)
Đoạn văn nối (chuyển tiếp) có chức năng chuyển tiếp ý của đoạn trước với đoạn sau Đoạn văn này có thể ngắn (một phát ngôn) hoặc dài (nhiều phát ngôn) Nó thường được dùng trong các văn bản tương đối dài hoặc dài, khi trình bày nhiều nội dung, nhiều lớp thông tin Nó đóng vai trò như “người dẫn chuyện”: tạm thời thoát ra khỏi nội dung chính, “đứng lên” thực hiện vai trò dẫn dắt, làm cho nội dung các phần liền mạch, dễ theo dõi, dễ tiếp thu
Về hình thức, đoạn văn chuyển tiếp bao giờ cũng có vị trí xen kẽ giữa các đoạn văn triển khai Đoạn văn chuyển tiếp cũng thường gặp nhất trong văn bản khoa học hay chính luận, bởi những văn bản này mang nội dung thông tin thiên về nhận thức, quan niệm
Để thực hiện chức năng nối kết đó, cấu trúc của đoạn văn chuyển tiếp - ở dạng đầy đủ - gồm có hai phần Phần đầu của đoạn văn chuyển tiếp có xu hướng liên quan
ngược trở lại với đoạn (nhiều đoạn) triển khai trước đó (còn gọi là liên kết chiều ngược hay liên kết hồi cố), nó thường chứa thông tin vắn tắt đã trình bày trước nó Phần sau
của đoạn văn chuyển tiếp lại có xu hướng mở ra về phía đoạn (nhiều đoạn) tiếp theo
sau (còn gọi là liên kết chiều xuôi, liên kết dự báo), nó thường chứa thông tin vắn tắt về
những điều sẽ trình bày sau nó Trong thực tế, đoạn văn chuyển tiếp có thể không có đủ hai thành phần này
Tóm lại, đoạn văn nối (chuyển tiếp) là một bộ phận nằm trong đoạn văn triển khai, nhưng có cương vị riêng: nhẹ về chức năng thông tin, nặng về chức năng liên kết Trong những văn bản có đoạn này, quan hệ giữa các phần rõ ràng, mạch lạc, hiển ngôn
Do vậy, loại đoạn văn chức năng này tỏ ra phù hợp với các văn bản thiên về trình bày,
Trang 28diễn giải Đoạn văn triển khai có quan hệ tiền đề và chi phối chặt chẽ đối với loại đoạn văn này
1.2.2 Những PTLK hình thức của văn bản tiếng Anh
Khác với PTLK hình thức trong văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm, trong
văn bản tiếng Anh của Halliday có bốn phương tiện liên kết: quy chiếu, tỉnh lược, liên hợp và liên kết từ vựng [34, tr 492]
1.2.2.1 Quy chiếu (reference)
Theo M.A.K Halliday, một tham thể hay một thành phần chu cảnh được giới thiệu ở một vị trí nào đó trong ngôn bản có thể được xem như là một điểm quy chiếu cho những thành phần đứng sau nó
Quy chiếu là mối quan hệ giữa hai sự vật, hay hai thực tế có thể được thiết lập ở những khoảng cách khác nhau Mặc dù nó được dùng để liên hệ các thành phần đơn lẻ
có chức năng trong cú, nó còn có thể cho bất kì đoạn ngôn nào một vị thế của một thực
tế, và biến nó thành một tham thể của cú
Theo ông, có ba kiểu quy chiếu góp phần vào liên kết ngôn bản: liên kết nhân xưng (person), liên kết chỉ định (demonstrative), liên kết so sánh (comparative)
1.2.2.2 Tỉnh lược và thay thế (Omission and substitution)
Một cú, hay một phần của cú, hay một phần của một cụm động từ hay một cụm danh từ, có thể được tiền giả định ở một vị trí sau trong ngôn bản bằng thủ thuật lược
bỏ tích cực (positive omission) – nghĩa là, bằng cách không nói gì cả ở nơi cần phải nói
để tạo nghĩa Hiện tượng cấu trúc bị bỏ ngỏ, hoặc một thành phần chiếm chỗ được chêm vào để thể hiện khoảng trống được gọi là thay thế (substitution)
Cũng như các phương tiện liên kết khác, tỉnh lược góp phần vào cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn bản
Trang 29Không giống với quy chiếu, tỉnh lược tạo nên mối quan hệ ngữ pháp – từ vựng chứ không phải mối quan hệ ngữ nghĩa; mối quan hệ trong ngôn từ chứ không phải trực tiếp trong ý nghĩa
Có ba ngôn cảnh chính cho tỉnh lược và thay thế trong tiếng Anh: cú, cụm động
từ và cụm danh từ
1.2.2.3 Kết từ (Linking words)
Một cú đơn hay một cú phức, hay một đoạn ngôn dài hơn có thể liên hệ với các thành phần đứng sau nó bằng hình thức này hay hình thức kia của một tập hợp các mối quan hệ ngữ nghĩa cụ thể Về cơ bản, các mối quan hệ này thuộc cùng một kiểu như các mối quan hệ giữa các cú trong một cú phức mở rộng Các phạm trù khái quát nhất
là các phạm trù đồng chức (apposition) và làm rõ (clarification), bổ sung (addition) và làm biến đổi (variation), và các phạm trù không gian – thời gian, phong cách, nguyên nhân – điều kiện và vấn đề
1.2.2.4 Liên kết từ vựng
Tính liên tục có thể được thiết lập trong ngôn bản bằng sự lựa chọn các từ Điều này có thể có hình thức lặp từ (repetition), đồng nghĩa (synonym)/ trái nghĩa (antonym) hay đồng định vị (collocation)
Liên kết từ vựng có thể được duy trì qua các đoạn văn dài bằng sự hiện diện của các từ chủ chốt, các từ có tầm quan trọng đặc biệt đối với ý nghĩa của một văn bản cụ thể
Tóm lại, các phép liên kết này rất quan trọng và cần thiết, chúng góp phần hình thành văn bản tiếng Anh nói chung và văn bản CNTT PT tiếng Anh nói riêng
1.3 Những PTLK nội dung của văn bản tiếng Việt và văn bản tiếng Anh
1.3.1 Những PTLK nội dung của văn bản tiếng Việt
Trang 30Khi đề cập đến liên kết nội dung trong văn bản tiếng Việt, Trần Ngọc Thêm đã trình bày liên kết nội dung gồm liên kết chủ đề và liên kết logic [23, tr 238] như sau:
1.3.1.1 Liên kết chủ đề
(a) Khái niệm về liên kết chủ đề
Khái niệm về liên kết chủ đề đã được nhiều tác giả bàn đến như Trần Ngọc Thêm, Diệp Quang Ban, Nguyễn Quang Ninh, v.v Có thể hiểu một cách chung nhất, liên kết chủ đề đòi hỏi toàn văn bản phải xoay quanh một chủ đề Liên kết chủ đề của
văn bản chính là sự tổ chức những chủ đề và phần nêu của các phát ngôn [23, tr 239]
Hai phát ngôn có thể coi là có liên kết chủ đề khi chúng nói đến những đối
tượng chung hoặc những đối tượng có quan hệ mật thiết với nhau Đơn vị cơ sở tham
gia liên kết chủ đề là các đối tượng của hiện thực, trong đó chủ yếu là các sự vật, khái niệm, v.v được thể hiện bằng các tên gọi (danh từ, đại từ)
Có hai kiểu liên kết chủ đề giữa các phát ngôn: liên kết song song và liên kết móc xích Liên kết song song là khi những yếu tố được liên kết với nhau bằng những phương thức duy trì hoặc phát triển chủ đề thuộc những phần cùng loại của các phát ngôn (cùng là phần nêu hoặc cùng là phần báo) Liên kết móc xích là khi những yếu tố được liên kết với nhau bằng các phương thức duy trì hoặc phát triển chủ đề thuộc những phần khác loại của các phát ngôn (phần báo của phát ngôn trước và phần nêu của phát ngôn sau)
(b) Cách thể hiện liên kết chủ đề
Có nhiều cách thể hiện liên kết chủ đề Bảy phương thức thể hiện liên kết chủ đề
chuyên được dùng để liên kết những tên gọi chỉ cùng một đối tượng hoặc những đối tượng có liên quan mật thiết với nhau là lặp từ vựng, đối, thế đồng nghĩa, liên tưởng, thế đại từ, tỉnh lược yếu và tỉnh lược mạnh
Trang 31Năm PTLK duy trì chủ đề liên kết các tên gọi biểu thị cùng một đối tượng trong
chuỗi đồng nhất với nhau và tạo nên một chuỗi đồng nhất là lặp từ vựng, thế đồng nghĩa, thế đại từ, tỉnh lược yếu, tỉnh lược mạnh
Hai PTLK phát triển chủ đề liên kết các đối tượng khác nhau trong chuỗi khu
biệt là phép liên tưởng hoặc phép đối
1.3.1.2 Liên kết logic
(a) Khái niệm liên kết logic
Liên kết logic đã được nhiều tác giả bàn đến như Trần Ngọc Thêm, Diệp Quang
Ban, Nguyễn Quang Ninh, v.v Có thể nói rằng, sự liên kết của hai đơn vị sẽ được coi
là có liên kết logic khi chúng phù hợp với nhau theo những quan hệ ngữ nghĩa nhất định Định nghĩa này cho thấy rằng, muốn nghiên cứu liên kết logic, cần phải tìm hiểu
các khái niệm “quan hệ ngữ nghĩa” và “sự phù hợp ngữ nghĩa (của các đơn vị)” [23, tr
266]
Quan hệ ngữ nghĩa có nhiều loại Một là những quan hệ ngữ nghĩa bậc một
Chúng mang tính khái quát cao, được nhiều ngành khoa học (ngôn ngữ học, triết học,
toán học, logic học) quan tâm, như: quan hệ thứ tự, quan hệ bao hàm, quan hệ tương
tự, quan hệ đồng nhất, quan hệ mâu thuẫn, v.v Hai là những quan hệ ngữ nghĩa bậc hai Chúng làm nhiệm vụ cụ thể hóa cho các quan hệ bậc một Chẳng hạn, quan hệ thứ
tự được cụ thể hóa thành các quan hệ: định vị thời gian, trình tự diễn đạt, nhân quả, v.v Quan hệ bao hàm được cụ thể hóa thành các quan hệ: giống loài, chung riêng, sở hữu, đặc trưng, v.v Những quan hệ bậc hai này phụ thuộc nhiều hơn và gắn bó chặt hơn với
những nhân tố ngoài ngôn ngữ Ba phương thức được dùng để thể hiện các quan hệ
ngữ nghĩa này là phép tuyến tính, phép nối lỏng và phép nối chặt
(b) Sự phù hợp ngữ nghĩa (của các đơn vị)
Trang 32Mọi đơn vị liên kết logic đều có những đặc trưng bản thể (cũng có thể gọi là
“đặc trưng khẳng định”) của mình Bên cạnh các đặc trưng bản thể, mỗi đơn vị còn có các đặc trưng tiền giả định Khi hai đơn vị cùng cấp độ kết hợp lại với nhau, nếu các đặc trưng bản thể và tiền giả định của chúng không đối lập nhau và có điểm chung thì
ta có thể nói rằng hai đơn vị đó phù hợp với nhau về ngữ nghĩa Sự kết hợp càng có
kích thước lớn thì đòi hỏi sự phù hợp ngữ nghĩa trong phạm vi càng rộng
(c) Sự thể hiện của PTLK logic
Liên kết logic được thể hiện bằng phép tuyến tính và phép nối Sự phân bố giữa
phép tuyến tính và các phép nối trong việc thể hiện liên kết logic ở các phương thức ngữ pháp tổng hợp tính và phân tích tính không hoàn toàn như nhau Ở phương thức
ngữ pháp tổng hợp tính, sự liên kết logic giữa các từ trong phát ngôn được thể hiện hoặc là bằng phép nối hoặc là phép tuyến tính Ở phương thức ngữ pháp phân tích, các
phương tiện nối bao giờ cũng mang chức năng hoặc là liên kết hồi quy hoặc là liên kết
dự báo tùy theo vị trí của chúng trong phát ngôn, nghĩa là các phép nối bao giờ cũng đồng thời có phép tuyến tính đi kèm
1.3.2 Những PTLK nội dung của văn bản tiếng Anh
Nếu Trần Ngọc Thêm quan niệm liên kết là khái niệm thuộc về cấu trúc của văn bản, được khai thác trên cả hai phương diện hình thức lẫn mặt ý nghĩa, do có tính đến mặt ý nghĩa cho nên liên kết được hiểu là “nhân tố quan trọng nhất có tác dụng biến một chuỗi câu trở thành văn bản” thì M.A.K Halliday và R.Hasan quan niệm liên kết chỉ như một khái niệm chuyên môn không thuộc về cấu trúc mà thuộc về ý nghĩa và chỉ các phương tiện hình thức của ngôn ngữ làm nhiệm vụ liên kết mới thuộc liên kết Những yếu tố ngôn ngữ này tập hợp lại thành những hệ thống con cho người dùng lựa chọn Ở đây, cái gọi là “liên kết nội dung” không được tính đến Với cách hiểu này, liên kết không giữ vai trò quyết định cái “là văn bản” của một sản phẩm ngôn ngữ
Trang 33Nhiệm vụ đó thuộc về tính mạch lạc (coherence), hoặc rộng hơn thuộc về tính văn bản (textuality) hay chất văn bản (texture) [M.A.K.Halliday và R.Hasan, 1994, tr.2] Như vậy, chỗ hơn trội của quan điểm này là nó thuận tiện hơn cho việc phân tích diễn ngôn (discourse)
Để cho tiện, liên kết hiểu theo quan niệm của Trần Ngọc Thêm sẽ được gọi là liên kết hình thức và liên kết nội dung, liên kết hiểu theo Halliday và Hasan gọi là liên kết phi cấu trúc tính Nghĩa là, liên kết là thành tố phi cấu trúc tính, chỉ được khai thác
ở phương diện hình thức mà không có ở phương diện nội dung; còn mạch lạc giữ vai trò quyết định phẩm chất “là văn bản” của một sản phẩm ngôn ngữ
1.4 Lý thuyết dịch văn bản
Dịch thuật là một hoạt động bao gồm việc luận giải ý nghĩa của một đoạn văn trong một ngôn ngữ nào đó - văn bản nguồn - và chuyển sang một ngôn ngữ khác thành một đoạn văn mới và tương đương - văn bảm đích hay bản dịch
Dịch thuật thường được chia thành biên dịch và phiên dịch Biên dịch thường được hiểu là dịch văn bản, từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác Trong khi
đó, phiên dịch thường được hiểu là dịch nói, hoặc là diễn giải lại câu của ngôn ngữ A của người khác sang ngôn ngữ B để người nghe hiểu
1.4.1 Vấn đề lịch sử của dịch thuật
Dấu hiệu đầu tiên của biên dịch có thể tìm thấy là từ năm 3000 trước công nguyên, trong suốt thời kỳ vương quốc Cổ đại Ai Cập, ở vùng Cataract đầu tiên, Elephantine Năm 300 trước công nguyên đã có một đại diện quan trọng về dịch thuật
ở Phương Tây, đó là bản dịch Kinh thánh của Luther vào năm 1522 , đây là nền móng
cho tiếng Đức hiện đại
Thế kỷ thứ 20 được gọi là “thời đại của dịch thuật” Các thoả ước quốc tế giữa các quốc gia, các tổ chức tư nhân giờ đây được dịch cho tất cả các bên quan tâm Và sự
Trang 34ra đời của những tổ chức như Liên Hợp Quốc phụ thuộc chủ yếu vào phiên dịch và biên dịch có thể là những ví dụ điển hình về tầm quan trọng của dịch thuật
Ở Việt Nam, ngay sau cách mạng tháng 8, hàng loạt bản dịch các tác phẩm tiên tiến của văn học thế giới được in thành sách Bắt đầu các bản dịch trên báo chí là những bài dịch lý thuyết văn chương, những tài liệu về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Trung Quốc, khối Đông Âu, v.v Cho đến ngày nay, dịch thuật trở nên phổ biến ngay trong đời sống của người dân
Trong luận văn này, người viết chỉ bàn về vấn đề biên dịch văn bản
1.4.2 Vai trò của dịch thuật
1.4.2.1 Vai trò của phân tích ngôn cảnh trong dịch
Dịch là vấn đề của ngữ nghĩa và ngữ nghĩa là vấn đề xã hội Nghĩa không xuất hiện trong “chân không”, nó chỉ có giá trị trong các ngôn cảnh mà ngôn ngữ thể hiện
nó xuất hiện
1.4.2.2 Vai trò của phân tích ngữ pháp trong dịch
Để phân tích ngôn bản ở ngữ nguồn và đánh giá được ngôn bản dịch ở ngữ đích,
ta áp dụng một số nội dung cơ bản của ngữ pháp chức năng Ngữ pháp chức năng có ba thành phần được xem là cần thiết cho việc mô tả toàn diện một ngôn ngữ siêu chức năng tư tưởng, bao gồm siêu chức năng kinh nghiệm và siêu chức năng logic, siêu chức năng liên nhân và siêu chức năng ngôn bản
1.4.2.3 Vai trò của phân tích liên kết ngôn bản trong dịch
Liên kết là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của ngôn bản Các PTLK
cơ bản trong ngôn bản bao gồm: liên kết quy chiếu, liên kết bắc cầu, trường ngữ nghĩa, liên kết từ vựng và liên kết liên từ Nhiệm vụ của người dịch là phải hiểu, phân tích và xác định đúng các phương tiện này trong ngôn bản ngữ nguồn và phải biết sử dụng các
Trang 35phương tiện liên kết tương đương phù hợp trong ngôn bản ngữ đích thậm chí ngay cả khi chúng có thể không hiện diện trong ngôn bản ngữ nguồn
1.4.2.4 Vai trò của phân tích ngữ dụng học trong dịch
Những vấn đề cơ bản của ngữ dụng học như lý thuyết về lời nói, hành động lời nói gián tiếp, và nguyên tắc cộng tác rất có lợi cho quá trình phân tích và tổng hợp ngôn bản của thông dịch viên, giúp thông dịch viên hiểu được khi nào một phát ngôn là một khẳng định, một câu hỏi, một lời mời, một yêu cầu, v.v Ngoài ra, nó còn giúp họ hiểu được khi nào những người giao tiếp ở ngôn bản ngữ nguồn với những người giao tiếp ở ngôn bản ngữ đích (trong giao tiếp khẩu ngữ như trong hội đàm ngoại giao hay hội đàm thương mại) cộng tác với nhau, khi nào họ không cộng tác với nhau thông qua hình thức ngôn ngữ được sử dụng, khi nào trên bề mặt ngôn ngữ họ không cộng tác nhưng trong ẩn ý thì họ lại cộng tác và ngược lại
1.4.3 Các loại hình dịch các kiểu ngôn bản
Dẫn theo Catford, có các loại hình dịch sau: dịch đầy đủ và dịch từng phần; dịch tổng thể và dịch hạn chế; dịch âm vị, dịch chữ viết, dịch chuyển tự, dịch giới hạn cấp
độ và dịch không giới hạn cấp độ
Dẫn theo Newmark, có sự phân biệt giữa dịch ngữ nghĩa với dịch giao tiếp Dẫn theo Larson, có hai cách dịch chính, gồm dịch nghĩa đen và dịch đặc ngữ Các kiểu ngôn bản gồm: ngôn bản trần thuật, ngôn bản quy trình, ngôn bản giải thích, ngôn bản khuyên răn, ngôn bản miêu tả, ngôn bản ứng đối và ngôn bản hội thoại Dịch là một quá trình cực kỳ phức tạp Tuy nhiên, nếu người dịch quan tâm đến việc chuyển ý nghĩa của ngôn bản ngữ nguồn sẽ thấy rằng ngữ đích cũng có cách để diễn đạt ý nghĩa mong muốn, cho dù nó có thể rất khác với hình thức của ngôn bản ngữ nguồn Kinh nghiệm cho thấy rằng người dịch dành nhiều thời gian vào để phân tích kỹ ngôn bản ngữ nguồn, phân tích cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa của nó, và gia công tìm
Trang 36cách diễn đạt tương đương nhất trong ngữ đích để chuyển nghĩa và thường tạo ra bản dịch mĩ mãn, nếu không muốn nói là tuyệt hảo
1.4.4 Ngôn bản khoa học và một số các vấn đề liên quan đến việc dịch các ngôn
212 - 243]
Dịch thuật nói chung và dịch văn bản nói riêng không chỉ là một môn khoa học chính xác mà còn là một sản phẩm thẩm mỹ Trong đó, mức độ tập trung khác nhau của cùng một chuyên viên ngôn ngữ có thể tạo ra sản phẩm cuối cùng khác nhau Đó là chưa kể đến những sản phẩm dưới mức tiêu chuẩn được thực hiện bởi những nhóm hoặc cơ sở dịch thuật tự do, thiếu kinh nghiệm và không đủ kỹ năng Quan trọng hơn
cả, mỗi một từ được chuyển ngữ là một quyết định của người dịch thuật, mà quyết định của một người thì có thể đúng và cũng rất có thể sai Khả năng mắc lỗi tỉ lệ thuận với với số từ cần chuyển ngữ Đó là những lý do chúng ta cần phải có sự bảo đảm chặt chẽ
về chất lượng, nếu không thì có thể dẫn đến những hậu quả không đáng có
1.5 Tiểu kết
Văn bản CNTT dù được viết bằng tiếng Việt hay tiếng Anh cũng đều có hai đặc trưng cơ bản nhất của loại văn bản này là tính liên kết và tính hoàn chỉnh
Trang 37Hệ thống PTLK trong văn bản tiếng Việt được Trần Ngọc Thêm trình bày theo hai nhóm: nhóm những PTLK hình thức và nhóm những PTLK nội dung Nhóm những PTLK hình thức gồm những PTLK chung cho cả ba loại phát ngôn (chẳng hạn như phép lặp, đối, thế đồng nghĩa, liên tưởng, tuyến tính), những PTLK hợp nghĩa (chẳng hạn như phép thế đại từ khiếm diện và dự báo, phép thế đại từ hiện diện và hồi quy, phép tỉnh lược yếu, phép nối lỏng) và PTLK trực thuộc (chẳng hạn như phép tỉnh lược mạnh và phép nối chặt) Nhóm những PTLK nội dung gồm những PTLK chủ đề (chẳng hạn như lặp từ vựng, đối, thế đồng nghĩa, liên tưởng, thế đại từ, tỉnh lược yếu
và tỉnh lược mạnh) và những PTLK logic (chẳng hạn như phép tuyến tính, phép nối lỏng và phép nối chặt) Trong khi đó, hệ thống liên kết của Halliday gồm quy chiếu, tỉnh lược, kết từ và liên kết từ vựng
Người viết luận văn này quyết định chọn những điều chung nhất giữa các quan điểm chủ yếu là theo quan điểm của tác giả Trần Ngọc Thêm để làm chỗ dựa về lý thuyết khi xây dựng luận văn của mình, bỏ qua một số khác biệt tiểu tiết do loại hình ngôn ngữ chi phối
Trên đây là kiến thức cơ bản làm nền tảng, làm điểm tựa mà người viết dựa vào
để đi sâu phân tích những PTLK trong văn bản CNTT PT tiếng Việt và văn bản CNTT
PT tiếng Anh ở các chương tiếp theo
Trang 38Chương 2
NHỮNG PHƯƠNG THỨC LIÊN KẾT TRONG VĂN BẢN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN PHỔ THÔNG TIẾNG VIỆT
(TRÊN CỨ LIỆU ‘GIÁO TRÌNH TIN HỌC ĐẠI CƯƠNG’ CỦA HOÀNG KIẾM
BIÊN SOẠN NĂM 1997)
2.1 Văn bản CNTT PT tiếng Việt
2.1.1 Khái niệm văn bản CNTT PT tiếng Việt
CNTT (tiếng Anh viết tắt là IT, tức là Information Technology) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin
CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin Người làm việc trong ngành này thường được gọi là dân CNTT (IT specialist) hoặc cố vấn quy trình doanh nghiệp (Business Process Consultant)
Trong hệ thống giáo dục Tây phương, CNTT đã được chính thức tích hợp vào chương trình học phổ thông Người ta đã sớm nhận ra rằng nội dung về CNTT có ích cho tất cả các môn học khác
Với sự ra đời của Internet mà các kết nối băng tần rộng tới tất cả các trường học, việc áp dụng kiến thức, kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong các môn học đã trở thành hiện thực Hiện nay, hầu hết các ngành học đều áp dụng CNTT trong chuyên ngành của mình nhằm nâng cao hiệu quả
Văn bản CNTT PT tiếng Việt là một loại văn bản tiếng Việt mang tính chuyên ngành khoa học - kĩ thuật Phong cách này được dùng để trao đổi những vấn đề có liên quan đến việc nghiên cứu, phổ biến và phát triển khoa học – kĩ thuật Phong cách này
mang tính khách quan, trừu tượng, khái quát, chuyên ngành, cô đọng, logic Từ ngữ
dùng trong phong cách khoa học – kĩ thuật không những gồm từ ngữ chung trong ngôn ngữ toàn dân mà còn có các tập hệ (apparatus) thuật ngữ chuyên ngành khoa học – kĩ
Trang 39thuật Những từ ngữ này mang tính chính xác, ngắn gọn, đặc biệt là tính thuật ngữ cao
Cú pháp của phong cách khoa học có tính chuẩn mực cao Các cách nói, viết khuôn
mẫu, không bóng gió hay khoa trương; lời văn không bóng bẩy; biện pháp so sánh là logic chứ không dùng biện pháp tu từ; các câu tường thuật, giải thích, các câu vắng chủ
ngữ - phiếm định được chấp nhận Kết cấu câu của phong cách này rất chặt chẽ,
thường là câu vô nhân xưng hay câu có đủ các thành phần (chứ không có câu tỉnh lược hay cảm thán) Đây là loại phong cách hay sử dụng các loại câu ghép, đặc biệt là các loại câu mở rộng thành phần phụ bổ ngữ, trạng ngữ [16; tr 158-159]
2.1.2 Đặc trưng của văn bản CNTT PT tiếng Việt
Văn bản CNTT PT tiếng Việt có tất cả các đặc trưng của một văn bản tiếng Việt: tính liên kết và tính hoàn chỉnh
Văn bản CNTT PT tiếng Việt thể hiện tính liên kết qua hai mặt: liên kết hình thức và liên kết nội dung
2.1.2.1 Tính liên kết (Cohesion)
Liên kết hình thức trong văn bản CNTT PT tiếng Việt thể hiện qua các PTLK như phép lặp, thế đồng nghĩa, đối, liên tưởng, tuyến tính, thế đại từ, tỉnh lược yếu, nối lỏng, tỉnh lược mạnh, nối chặt
Ví dụ: “(1) Những năm đầu, Internet chủ yếu phục vụ cho chính phủ và các nhà khoa học, bởi vì không có tính thân thiện lắm, mã và lệnh phức tạp chỉ có giới lập trình
có thể hiểu được (2) Mãi đến thập niên 90, phần mềm Internet mới có những bước tiến khả dụng nhảy vọt (3) Biến chuyển lớn nhất đến với sự phát triển của hệ thống mạng toàn cầu – World Wide Web, bằng các nút nhấn đơn giản thấy trên màn hình, bất kì ai cũng có khả năng đến với Internet (4) Web là một hệ thông tin toàn cầu hàng đầu vì sự chuyển tải thông tin không phải ở môi trường văn bản truyền thống mà bằng truyền
Trang 40thông đa phương tiện (multimedia) – sự kết hợp giữa âm thanh, hình ảnh, hoạt hình, và
cả video nữa.” [13, tr 22]
Đoạn văn trên gồm có 4 câu Liên kết hình thức trong câu ghép (1) là quan hệ từ
“bởi vì”, trong câu ghép (4) là quan hệ từ “và” và cặp quan hệ từ “không phải… mà
…” và liên kết giữa các câu trong đoạn văn trên thể hiện qua các PTLK lặp (Internet), tỉnh lược (World Wide Web Web)
2.1.2.2 Tính hoàn chỉnh (hay mạch lạc) (Coherence)
Khi bàn về hệ thống liên kết trong văn bản tiếng Việt, Trần Ngọc Thêm không dùng “tính hoàn chỉnh” mà dùng “liên kết nội dung” gồm liên kết chủ đề và liên kết logic
Liên kết chủ đề thể hiện ở sự thống nhất chủ đề của nó Thật vậy, tất cả các chương, các mục trong văn bản CNTT PT này xoay quanh việc miêu tả ngành kỹ thuật
sử dụng máy tính và phần mềm máy tính
Ví dụ: Trong chương 5 về Mạng máy tính và ứng dụng từ trang 142 đến 181, tác
giả Hoàng Kiếm đã chia ra thành hai phần lớn (A, B) 7 phần nhỏ (được đánh số từ 1
đến 7) của phần A đều xoay quanh mạng máy tính và viễn thông, 7 phần nhỏ (được đánh số từ 1 đến 7) của phần B nói về Internet xa lộ thông tin
Có thể tóm lược nội dung của chương 5 thành các phần lớn, nhỏ, các mục như sau để thấy rõ sự thống nhất chủ đề:
A Mạng máy tính và viễn thông
I Cơ sở của mạng: sự liên kết
II Mạng gần và xa
III Phương thức truyền thông trên mạng
IV Thư tín điện tử và tham chiếu từ xa liên kết giữa các máy tính cá nhân
V Một số vấn đề hệ thống trực tuyến
VI Hướng truyền thông: Kỹ thuật tổng hợp và phân tích