1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển nguồn tài nguyên thông tin kinh tế tại trường đại học kinh tế thành phố hồ chí minh

170 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển nguồn tài nguyên thông tin kinh tế tại thư viện trường đại học kinh tế thành phố hồ chí minh
Tác giả Nguyễn Thị Khuyên
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hồng Sinh
Trường học Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Thư viện - Thông tin học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN TÀI NGUYÊN THÔNG TIN (18)
    • 1.1. Nguồn tài nguyên thông tin (18)
      • 1.1.1. Khái niệm nguồn tài nguyên thông tin (18)
      • 1.1.2. Vai trò của nguồn tài nguyên thông tin trong thư viện trường đại học (21)
      • 1.1.3. Phát triển nguồn tài nguyên thông tin (22)
      • 1.1.4. Chính sách phát triển nguồn tài nguyên thông tin (23)
      • 1.1.5. Quy trình phát triển nguồn tài nguyên thông tin (26)
      • 1.1.6. Các loại tài liệu của nguồn tài nguyên thông tin (33)
      • 1.1.7. Các nguồn bổ sung tài liệu của thư viện đại học (34)
      • 1.1.8. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển nguồn tài nguyên thông tin của thư viện đại học (35)
    • 1.2. Nguồn tài nguyên thông tin kinh tế (39)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN TÀI NGUYÊN THÔNG (44)
    • 2.1. Giới thiệu về thư viện trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (44)
    • 2.2. Nguồn tài nguyên thông tin kinh tế của thư viện trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (47)
    • 2.3. Phương thức bổ sung tài liệu kinh tế của thư viện trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (52)
      • 2.3.1. Mua (52)
      • 2.3.2. Nhận lưu chiểu (60)
      • 2.3.3. Nhận tài liệu tặng biếu (66)
      • 2.3.4. Bổ sung theo phương thức khác (67)
    • 2.4. Công tác thanh lọc nguồn tài nguyên thông tin kinh tế tại thư viện trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (67)
    • 2.5. Công tác đánh giá nguồn tài nguyên thông tin kinh tế tại thư viện trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (68)
    • 2.6. Hợp tác và chia sẻ trong phát triển nguồn tài nguyên thông tin của thư viện trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (69)
      • 2.6.1. Hợp tác nội bộ (69)
      • 2.6.2. Hợp tác bên ngoài (72)
    • 2.7. Các yếu tố chính tác động đến công tác phát triển nguồn tài nguyên thông tin (73)
      • 2.7.1. Chủ trương và chính sách của nhà trường (74)
      • 2.7.2. Chính sách phát triển nguồn tài nguyên thông tin của thư viện (77)
      • 2.7.3. Thủ tục hành chính (78)
      • 2.7.4. Đội ngũ cán bộ làm công tác phát triển nguồn tài nguyên thông tin (78)
    • 2.8. Đánh giá thực nguồn tài nguyên thông tin kinh tế tại thư viện trường Đại học (0)
      • 2.8.1. Điểm mạnh (79)
      • 2.8.2. Điểm yếu (81)
  • CHƯƠNG 3: KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU TIN CỦA NGUỒN TÀI NGUYÊN THÔNG TIN KINH TẾ TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC (84)
    • 3.1. Giới thiệu người dùng tin của thư viện trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (84)
    • 3.2. Nhu cầu tin kinh tế của người dùng tin tại thư viện trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (88)
      • 3.2.1. Nội dung thông tin của nhu cầu tin (88)
      • 3.2.1. Ngôn ngữ tài liệu của nhu cầu tin (0)
      • 3.2.2. Hình thức tài liệu của nhu cầu tin (0)
      • 3.2.3. Loại hình tài liệu của nhu cầu tin (0)
    • 3.3. Khả năng đáp ứng nhu cầu tin của nguồn tài nguyên thông tin kinh tế tại thư viện trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (97)
      • 3.3.1. Về nội dung nguồn tài nguyên thông tin kinh tế (97)
      • 3.3.2. Về chất lượng nội dung thông tin kinh tế (100)
      • 3.3.3. Về ngôn ngữ của tài liệu (102)
      • 3.3.4. Về hình thức của tài liệu (102)
    • 3.4. Khả năng đáp ứng của các dịch vụ cung cấp thông tin kinh tế tại thư viện trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (103)
    • 3.5. Đánh giá của người dùng tin về cán bộ thư viện (108)
  • CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN TÀI NGUYÊN THÔNG (111)
    • 4.1. Nhóm giải pháp khắc phục những hạn chế hiện nay của nguồn tài nguyên thông (111)
      • 4.1.1. Nâng cao chất lượng khâu lựa chọn tài liệu (111)
      • 4.1.2. Bổ sung ngôn ngữ tài liệu phù hợp với nhu cầu của người dùng tin (113)
      • 4.1.3. Đa dạng hóa hình thức, loại hình tài liệu (114)
      • 4.1.4. Cải tiến chất lượng các dịch vụ thư viện (0)
      • 4.1.5. Cải tiến chất lượng công tác thanh lọc tài liệu (119)
      • 4.1.6. Thực hiện đánh giá định kỳ nguồn tài nguyên thông tin kinh tế (119)
      • 4.1.7. Ổn định và sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí (120)
    • 4.2. Nhóm giải pháp định hướng phát triển nguồn tài nguyên thông tin kinh tế (121)
      • 4.2.1. Xây dựng chính sách phát triển nguồn tài nguyên thông tin (121)
      • 4.2.2. Tăng cường nghiên cứu nhu cầu tin (126)
      • 4.2.3. Đào tạo đội ngũ cán bộ thư viện (129)
      • 4.2.6. Cải tiến công nghệ, trang thiết bị (138)
      • 4.2.7. Tăng cường quảng bá nguồn tài nguyên thông tin kinh tế (139)
  • KẾT LUẬN (142)

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN TÀI NGUYÊN THÔNG TIN

Nguồn tài nguyên thông tin

1.1.1 Khái niệm nguồn tài nguyên thông tin

 Khái niệm vốn tài liệu

Trước khi khái niệm nguồn tài nguyên thông tin trở nên phổ biến, vốn tài liệu đã được sử dụng rộng rãi để chỉ các nguồn tài nguyên thông tin trong thư viện.

Vốn tài liệu là tập hợp các tài liệu được thu thập theo một hoặc nhiều chủ đề cụ thể, được xử lý theo quy tắc nghiệp vụ thư viện nhằm phục vụ người dùng tin và bảo quản hiệu quả.

Vốn tài liệu thư viện là bộ sưu tập có hệ thống, bao gồm các tài liệu phù hợp với chức năng và đặc điểm của từng thư viện Mục tiêu chính của bộ sưu tập này là phục vụ nhu cầu thông tin của người đọc, không chỉ cho thư viện đó mà còn cho các thư viện khác Tài liệu được phản ánh toàn diện trong bộ máy tra cứu và được bảo quản lâu dài để đảm bảo phục vụ hiệu quả cho người sử dụng trong suốt thời gian quan tâm.

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và truyền thông đã dẫn đến bùng nổ thông tin, làm thay đổi khái niệm vốn tài liệu trong hoạt động thư viện Ngày nay, thư viện không chỉ chứa tài liệu in ấn mà còn bao gồm tài liệu điện tử và số, cho phép người dùng truy cập từ xa Thư viện cũng cung cấp tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau thông qua việc chia sẻ thông tin với các cơ quan thư viện khác và từ internet Những thay đổi này khiến khái niệm vốn tài liệu trở nên không còn phù hợp.

Theo các định nghĩa đã nêu, vốn tài liệu thư viện bao gồm nhiều dạng thức khác nhau nhưng không có bộ máy tra cứu, bao gồm cả các cơ sở dữ liệu (CSDL).

Trong bối cảnh công nghệ thông tin ngày càng phát triển, thư viện hiện nay không chỉ dựa vào nguồn tài liệu sẵn có mà còn tận dụng các máy tra cứu hiện đại và cơ sở dữ liệu từ internet cũng như các tổ chức khác Điều này giúp thư viện mở rộng nguồn thông tin, phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của người dùng.

Vốn tài liệu trong thư viện cần được xử lý theo quy tắc nghiệp vụ, phản ánh trong các bộ máy tra cứu và được bảo quản lâu dài Hiện nay, các thư viện đã bổ sung thêm nguồn tài liệu điện tử và cơ sở dữ liệu trực tuyến, thường được mua theo hình thức thuê quyền truy cập Những tài liệu này thuộc quyền quản lý của các nhà xuất bản hoặc cơ quan phân phối, do đó, thư viện chỉ có quyền sử dụng mà không đảm nhận trách nhiệm bảo quản hay xử lý.

Ngày nay, thuật ngữ "vốn tài liệu" không còn đầy đủ để mô tả tất cả các tài liệu mà thư viện sử dụng phục vụ người dùng Thay vào đó, khái niệm "nguồn tài nguyên thông tin" đã được áp dụng để phản ánh chính xác hơn về sự đa dạng và phong phú của các tài liệu này.

 Khái niệm nguồn tài nguyên thông tin

Thuật ngữ nguồn tài nguyên thông tin được trình bày bằng tiếng Anh là

Nguồn tài nguyên thông tin, theo Nguyễn Hữu Hùng, là sản phẩm của tri thức và là yếu tố trung tâm trong môi trường thông tin, được hình thành từ sự lao động sáng tạo của con người và tổ chức dưới dạng cơ sở dữ liệu Tài nguyên này có tính vô cùng, tái sinh và có thể sử dụng nhiều lần, với nguyên tắc "càng khai thác càng phát triển" Nguyễn Thị Đông cũng định nghĩa nguồn tài nguyên thông tin là các tài liệu và khối tài liệu biệt lập, nhấn mạnh sự đa dạng và phong phú của chúng trong việc cung cấp thông tin cho người dùng.

- 11 - hệ thống thông tin (thư viện, lưu trữ, ngân hàng dữ liệu và các hệ thống thông tin khác)”

Bên cạnh những phát biểu trên, một số tài liệu lại sử dụng thuật ngữ nguồn lực thông tin khi đề cập đến nguồn tài nguyên thông tin

Nguồn lực thông tin là tập hợp các tài liệu phản ánh kết quả nghiên cứu khoa học trong nhận thức và thực tiễn của con người, bao gồm tài liệu giấy, tài liệu điện tử, tài liệu công bố và không công bố Ngoài ra, nguồn lực thông tin còn bao gồm bộ máy tra cứu, đặc biệt là cơ sở dữ liệu của các cơ quan thông tin.

Theo định nghĩa của UNESCO, nguồn lực thông tin bao gồm các dữ liệu được thể hiện dưới nhiều hình thức như văn bản, số liệu, hình ảnh và âm thanh, được ghi lại trên các phương tiện theo quy ước và không theo quy ước Đây là những bộ sưu tập kiến thức của con người, tổ chức và ngành công nghiệp thông tin.

Từ các định nghĩa trên, nguồn tài nguyên thông tin được hiểu là tập hợp các nguồn thông tin của thư viện bao gồm:

- Những bộ sưu tập có hệ thống các tài liệu dưới các dạng thức khác nhau: + Tài liệu truyền thống: sách, ấn phẩm định kỳ, bản đồ, ảnh…

+ Tài liệu điện tử: băng ghi âm, vi phim, vi phiếu, CSDL, siêu dữ liệu, bản tin điện tử, website, …

- Những bộ sưu tập có hệ thống các nguồn lực thông tin khác:

+ Các nguồn tin: Bộ máy tra cứu, hệ thống mục lục, thư mục, cổng thông tin tích hợp, ngân hàng dữ liệu

Nguồn tài nguyên thông tin là tập hợp các nguồn thông tin được thể hiện dưới dạng văn bản, số liệu, hình ảnh và âm thanh, lưu trữ trên các phương tiện theo quy ước hoặc không theo quy ước Những nguồn tài nguyên này phản ánh kết quả nghiên cứu khoa học trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người.

- 12 - các hệ thống thông tin (thư viện, lưu trữ, ngân hàng dữ liệu và các hệ thống thông tin khác)

Trong luận văn này, thuật ngữ nguồn tài nguyên thông tin được chọn sử dụng

1.1.2 Vai trò của nguồn tài nguyên thông tin trong thư viện trường đại học

Thư viện ra đời và tồn tại chủ yếu để đáp ứng nhu cầu thông tin của con người, nhu cầu này xuất hiện trong học tập, làm việc và giải trí Để khẳng định vị trí và tầm quan trọng, thư viện cần phải đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin của cộng đồng mà nó phục vụ Điều này đòi hỏi thư viện phải có nguồn tài nguyên thông tin phong phú, đa dạng và có giá trị cao.

Thư viện trong trường đại học phục vụ chủ yếu cho sinh viên, học viên cao học và giảng viên, những người có trình độ học vấn cao và nhu cầu thông tin phong phú Họ thường xuyên cần thông tin để hỗ trợ cho việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học Vai trò của thư viện và nguồn tài nguyên thông tin của nó là rất quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu này.

 Nguồn tài nguyên thông tin giúp nâng cao chất lƣợng dạy và học

Mục tiêu hàng đầu của giáo dục đại học trong kỷ nguyên thông tin là phát triển những cá nhân có khả năng tự định hướng học tập và học hỏi liên tục Họ cần biết cách lựa chọn, xử lý thông tin và sáng tạo tri thức, đồng thời tự tin tham gia vào thị trường lao động quốc tế đầy cạnh tranh Đây là xu hướng tất yếu trong xã hội thông tin hiện nay.

Nguồn tài nguyên thông tin kinh tế

 Khái niệm thông tin kinh tế

Thông tin kinh tế là tập hợp dữ liệu phản ánh các quá trình kinh tế - xã hội và nguồn nhân lực, giúp quản lý hiệu quả các quy trình sản xuất và phi sản xuất Nó thể hiện các đặc điểm của mối quan hệ sản xuất trong xã hội.

Thông tin kinh tế là loại thông tin xã hội chuyên ngành, phản ánh hoạt động kinh tế của xã hội và các hiện tượng, quá trình kinh tế trong ba lĩnh vực chính: sản xuất, kinh doanh dịch vụ, lập kế hoạch và quản lý nền kinh tế quốc dân.

Thông tin kinh tế là yếu tố quan trọng phản ánh các hiện tượng kinh tế - xã hội khách quan Trong lĩnh vực kinh tế, thông tin này được sử dụng để đo lường và mô tả các hiện tượng phát sinh trong hoạt động kinh tế, được thu thập, lựa chọn và xử lý nhằm phục vụ cho mục tiêu quản lý và quá trình tái sản xuất mở rộng nền kinh tế quốc dân.

Thông tin kinh tế bao gồm các dữ liệu về kinh tế xã hội và kinh tế kỹ thuật, phản ánh các sự kiện, tin tức và tài liệu quan trọng Những thông tin này được sử dụng để phân tích, quản lý, lập kế hoạch và dự đoán sự phát triển kinh tế xã hội, dựa trên chất lượng và số lượng của các mối quan hệ kinh tế - xã hội.

Trong thực tiễn tiếp nhận thông tin kinh tế, người ta thường quy thành hai loại thông tin kinh tế là [11]:

Khoa học kinh tế bao gồm thông tin về kết quả nghiên cứu, các trào lưu và học thuyết kinh tế, cùng với lý thuyết và luận điểm của các trường phái Nó được thể hiện qua các ấn phẩm sách báo, bài viết, bài nói và bài giảng, phục vụ cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

Thông tin thực tiễn kinh tế phản ánh các hoạt động kinh tế toàn cầu, khu vực và ngành nghề, đồng thời cho thấy tình hình thực hiện chính sách và pháp luật kinh tế của nhà nước Nó cũng nêu bật những mâu thuẫn giữa thực tiễn từng vùng với các chính sách phát triển, cũng như những tồn tại và vướng mắc Loại thông tin này không chỉ hữu ích cho các nhà kinh tế và quản lý mà còn là tư liệu cập nhật, thời sự quan trọng cho giảng dạy và học tập.

 Các đặc điểm và tính chất cơ bản của thông tin kinh tế Đặc điểm

Thông tin kinh tế là những dữ liệu phản ánh các lĩnh vực hoạt động kinh tế của xã hội một cách khách quan, đồng thời thể hiện các hiện tượng và xu hướng trong nền kinh tế.

- 32 - tượng, các quá trình kinh tế diễn ra ở cả ba lĩnh vực sản xuất, lưu thông và tiêu dùng

Các tính chất cơ bản của thông tin kinh tế

Thông tin kinh tế có những đặc điểm quan trọng như tính hữu ích, tính giá trị, tính lỗi thời và sự phụ thuộc tương đối giữa nội dung và hình thức biểu đạt của thông tin.

Thông tin kinh tế cung cấp cho người dùng kiến thức về các chính sách, luật và hoạt động kinh tế, giúp họ đưa ra quyết định chính xác trong các hoạt động kinh tế cá nhân Đối với học sinh và sinh viên, thông tin này hỗ trợ họ hiểu rõ từ những kiến thức cơ bản đến chuyên sâu về kinh tế, qua đó nâng cao hiệu quả học tập và làm phong phú thêm chuyên môn của mình.

Giá trị của thông tin kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm nội dung, thời điểm cung cấp và khả năng tiếp nhận của người dùng Thông tin cần được cung cấp nhanh chóng và kịp thời để đáp ứng nhu cầu của người dùng, đồng thời yêu cầu người nhận có khả năng xử lý thông tin hiệu quả.

Thông tin kinh tế là loại thông tin xã hội có tính lỗi thời cao, khác với các lĩnh vực như triết học hay văn học Sự thay đổi liên tục của hoạt động kinh tế, như giá cả hàng hóa và các luật kinh tế, dẫn đến việc thông tin này trở nên nhanh chóng lỗi thời Do đó, các tài liệu về kinh tế rất phong phú nhưng cũng cần được cập nhật thường xuyên Các thư viện chuyên ngành cần lưu ý tính chất này để phát triển nguồn tài nguyên thông tin hiệu quả, đảm bảo rằng thông tin luôn mới mẻ và có giá trị cao.

Nội dung và hình thức biểu đạt thông tin có mối quan hệ phụ thuộc tương đối, nghĩa là một thông tin có thể được diễn đạt qua nhiều hình thức khác nhau.

Các ký hiệu khác nhau có thể đại diện cho con số 33, trong khi đó, cùng một hình thức và ký hiệu đó lại có khả năng truyền tải những thông tin kinh tế khác nhau.

 Hoạt động thông tin kinh tế

Hoạt động thông tin là quá trình quan trọng bao gồm thu thập, tổ chức, xử lý và phân phối thông tin đến người dùng Nó được cấu thành từ bốn yếu tố chính: nguồn lực thông tin, người dùng tin, cán bộ thông tin và cơ sở vật chất, tất cả đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong đó, nguồn lực thông tin và người dùng tin đóng vai trò then chốt, được coi là tiêu chí đánh giá sức mạnh của hoạt động thông tin trong một cơ quan Mục tiêu chính của hoạt động thông tin là đáp ứng nhu cầu thông tin của người dùng, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội.

Hoạt động thông tin kinh tế bao gồm việc thu thập, xử lý, tổ chức, bảo quản và phổ biến thông tin kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của người dùng Mục tiêu chính là thúc đẩy sự phát triển xã hội thông qua việc cung cấp các loại thông tin kinh tế đa dạng.

- Thông tin khoa học kinh tế bao gồm các hoạt động sau:

+ Thông tin các kết quả nghiên cứu khoa học kinh tế

+ Xuất bản và phổ biến các tài liệu, tư liệu, sách báo, tạp chí (báo hình, báo viết và báo nói)

+ Giới thiệu các quan điểm, các học thuyết, lý thuyết kinh tế bằng các hình thức khác nhau

+ Giảng dạy là một hình thức thông tin đặc biệt: phổ biến kiến thức kinh tế cho học sinh, sinh viên

- Thông tin thực tiễn kinh tế bao gồm các hoạt động sau:

+ Thông tin về hàng hóa

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN TÀI NGUYÊN THÔNG

Giới thiệu về thư viện trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

 Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

Trường Đại học Kinh tế TP.HCM là một trong những trường đại học hàng đầu về đào tạo kinh tế tại Việt Nam, cung cấp nhiều bậc học từ cử nhân đến thạc sĩ và tiến sĩ Trường có hai loại hình đào tạo đại học chính là chính quy và vừa làm vừa học, cùng với chương trình đào tạo sau đại học không tập trung Mỗi năm, trường thu hút khoảng 50.000 sinh viên và học viên, khẳng định vị thế của mình trong lĩnh vực giáo dục đa ngành.

Mục tiêu đào tạo của Trường ĐHKT TP.HCM là cung cấp cho xã hội những nhà hoạch định chính sách kinh tế, quản trị doanh nghiệp và chuyên gia kỹ thuật trong lĩnh vực kinh tế - quản trị kinh doanh Đồng thời, trường cũng chú trọng nghiên cứu khoa học để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước và phát triển lý luận về kinh tế phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Trường ĐHKT TP.HCM hiện có 11 khoa với 27 chuyên ngành đào tạo, cụ thể như sau:

Khoa Kinh tế phát triển cung cấp đào tạo cho 6 chuyên ngành chính, bao gồm kinh tế học, kinh tế kế hoạch - đầu tư - phát triển, kinh tế lao động và quản lý nguồn nhân lực, kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn, kinh tế thẩm định giá, cùng với kinh tế bất động sản.

- Khoa Quản trị kinh doanh đào tạo 2 chuyên ngành là quản trị kinh doanh tổng hợp và quản trị chất lượng

- Khoa Thương mại - Du lịch - Marketing đào tạo 5 chuyên ngành là kinh doanh quốc tế, ngoại thương, thương mại, marketing, du lịch

- Khoa Tài chính công đào tạo 2 chuyên ngành tài chính công và thuế

- Khoa Tài chính doanh nghiệp đào tạo 2 chuyên ngành là tài chính doanh nghiệp và kinh doanh bảo hiểm

- Khoa Ngân hàng đào tạo chuyên ngành ngân hàng

- Khoa Kế toán - Kiểm toán đào tạo 2 chuyên ngành kế toán doanh nghiệp và kiểm toán

- Khoa Toán - Thống kê đào tạo 4 chuyên ngành toán kinh tế, toán tài chính, thống kê nhà nước và thống kê kinh doanh

- Khoa Hệ thống thông tin kinh doanh đào tạo chuyên ngành hệ thống thông tin quản lý.

- Khoa Lý luận chính trị

- Khoa Luật kinh tế đào tạo chuyên ngành luật kinh doanh Đào tạo thạc sĩ

Trường hiện đang đào tạo 6 chuyên ngành chính, bao gồm Kinh tế chính trị học, Kinh tế phát triển, Quản trị kinh doanh, Kinh doanh ngoại thương, Kế toán - Kiểm toán và Kinh tế tài chính ngân hàng, với chương trình đào tạo hợp tác chất lượng cao.

Trường tích cực mở rộng hợp tác với các trường đại học và tổ chức trong và ngoài nước, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học Mục tiêu là quốc tế hóa kiến thức cho giảng viên và sinh viên, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế đất nước trong tương lai.

Các dự án đào tạo cử nhân và thạc sĩ hợp tác với các đối tác diễn ra thuận lợi, góp phần nâng cao uy tín và vị thế cho người học Nổi bật trong số đó là các chương trình và dự án đáng chú ý.

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright hiện nay cung cấp chương trình thạc sĩ "Chính sách Công - MPP" (FETP) hợp tác với Trường Quản lý Nhà nước J.F Kennedy thuộc Đại học Harvard, Hoa Kỳ.

+ Chương trình với Trung tâm Pháp - Việt đào tạo về Quản lý - CFVG, hợp tác với các đại học Paris 1 Sorbonnes, Paris IX Dauphine và trường Đại học

Thương mại Paris ESCP Europe của Pháp đào tạo chương trình thạc sĩ Marketing, Bán hàng và Dịch vụ, thạc sĩ Tài chính – Ngân hàng;

+ Chương trình liên kết đào tạo cử nhân về Kinh doanh quốc tế với Đại học Victoria tại Wellington, New Zealand;

+ Chương trình Đào tạo thạc sĩ Kinh tế Phát triển, hợp tác với Viện Nghiên cứu Xã hội, ISS, Hà Lan;

+ Chương trình với Trung tâm Đào tạo Công nghệ thông tin Việt Nam - Hàn Quốc, KOVIT, hợp tác với Đại học Woosong, Hàn Quốc

Người dùng tin tại trường ĐHKT TP.HCM có nhu cầu thông tin đa dạng và phong phú, phản ánh sự đa dạng về bậc học và chuyên ngành đào tạo Do trường chuyên về các ngành kinh tế, nhu cầu thông tin chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như tài chính, ngân hàng, kế toán - kiểm toán, marketing và quản trị kinh doanh.

 Thư viện trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

Thư viện trường Đại học Kinh tế TP.HCM được thành lập vào năm 1976 cùng với sự ra đời của nhà trường Năm 1996, khi trường ĐHKT TP.HCM sát nhập với trường Đại học Tài chính Kế toán TP.HCM, thư viện của hai trường cũng được hợp nhất và mang tên thư viện ĐHKT TP.HCM Tuy nhiên, từ năm 1996 đến 2001, hai cơ sở thư viện trước đây vẫn hoạt động độc lập.

2002 trở đi thư viện mới thống nhất tất cả các hoạt động

Thư viện đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ đào tạo, giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại trường Các hoạt động của thư viện, đặc biệt là phát triển nguồn tài nguyên thông tin, gắn liền với nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên, học viên và giảng viên Việc nâng cao chất lượng nguồn tài nguyên thông tin không chỉ đáp ứng nhu cầu người dùng mà còn khẳng định vai trò của thư viện Tại Trường ĐHKT TP.HCM, nơi chuyên đào tạo các ngành kinh tế, nhu cầu về thông tin là rất lớn và cần thiết.

Người dùng chủ yếu tìm kiếm thông tin kinh tế, do đó, việc phát triển nguồn tài nguyên thông tin kinh tế tại thư viện là rất quan trọng và cần được chú trọng.

Thư viện đã phát triển một nguồn tài nguyên thông tin phong phú và đa dạng, đặc biệt trong các lĩnh vực đào tạo của trường Hiện tại, thư viện sở hữu khoảng 31,500 tên tài liệu, 128,000 bản sách, 110 tựa báo và tạp chí, cùng 11 cơ sở dữ liệu điện tử trực tuyến còn thời hạn sử dụng Ngoài ra, thư viện cũng đã tự xây dựng hơn 5,000 tài liệu toàn văn.

Nguồn tài nguyên thông tin kinh tế của thư viện trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

Thư viện ĐHKT TP.HCM được hình thành từ sự hợp nhất của hai thư viện ĐHKT TP.HCM và đại học Tài chính Kế toán TP.HCM vào năm 1996 Tuy nhiên, từ 1996 đến 2001, hai cơ sở này vẫn hoạt động độc lập, bao gồm cả công tác bổ sung tài liệu Đến năm 2002, thư viện bắt đầu thống nhất các hoạt động của mình, dẫn đến sự thay đổi trong cách thức quản lý và cung cấp dịch vụ.

2003 hiện nay không còn Số lượng tài liệu thông tin kinh tế mới phát triển trong các năm từ 2003 đến 2012 của thư viện trường ĐHKT TP.HCM như sau:

Năm Số lƣợng tên tài liệu Số lƣợng bản tài liệu

Bảng 2.1: Số liệu nguồn tài nguyên thông tin kinh tế từ 2003 đến 2012

Số liệu ở trên có sự khác biệt trong cách phân chia thời gian là do từ năm

Từ năm 2003 đến 2009, số liệu tài liệu kinh tế được nhập vào thư viện được thống kê theo năm học, trong khi từ năm 2010 trở đi, số liệu được ghi nhận theo năm tài chính Qua các năm, số lượng tên tài liệu kinh tế có sự chênh lệch không lớn, ngoại trừ năm 2003-2004 với 577 tên tài liệu, các năm còn lại đều trên 1000 tên Năm 2008-2009 là thời điểm có số lượng tài liệu bổ sung nhiều nhất Số bản tài liệu cũng không biến động nhiều, trừ năm 2010 với trên 10,000 bản, các năm khác dao động từ trên 4,000 đến trên 7,000 bản Việc bổ sung số lượng tên và bản tài liệu hàng năm đã làm phong phú thêm nguồn tài nguyên thông tin kinh tế của thư viện.

Hiện nay nguồn tài nguyên thông tin kinh tế của thư viện gồm có:

- Tài liệu in ấn: Khoảng 120 ngàn bản tài liệu, 27 ngàn nhan đề tài liệu, 70 nhan đề báo - tạp chí

- Tài liệu điện tử bao gồm 11 CSDL trực tuyến được mua, trên 5000 tài liệu toàn văn thư viện tự xây dựng

So với yêu cầu từ 60 - 105 đầu sách cho mỗi ngành kinh tế theo tiêu chuẩn kiểm định trường đại học năm 2007, thư viện của trường đã vượt qua mức tối thiểu này với số lượng đầu sách phong phú, phục vụ cho 27 chuyên ngành đào tạo.

So sánh nguồn tài nguyên thông tin kinh tế của thư viện ĐHKT TP.HCM với các thư viện trường đại học khác như ĐHNH TP.HCM và ĐHTC - Mar TP.HCM cho thấy thư viện ĐHKT TP.HCM sở hữu quy mô lớn hơn và đa dạng hơn về loại hình tài liệu Mặc dù không có số liệu cụ thể về nguồn tài nguyên của hai trường kia, nhưng số lượng nhan đề tài liệu tại thư viện ĐHKT vẫn nổi bật hơn, khẳng định vị thế của thư viện trong việc cung cấp thông tin kinh tế cho sinh viên và giảng viên.

1 Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học (Ban hành kèm theo Quyết định số:

65 /2007/QĐ-BGDĐT ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

- 40 - bản tài liệu, các CSDL điện tử của thư viện vẫn nhiều hơn so với thư viện hai trường trên

Tiêu chí so sánh ĐHKT TP.HCM ĐHNH TP.HCM ĐHTC - Mar

TP.HCM Tổng số nhan đề tài liệu

160 công trình nghiên cứu trong nước

2 CSDL trực tuyến 1 CSDL trực tuyến

CSDL điện tử do thƣ viện tự xây dựng

4200 luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

120 công trình nghiên cứu khoa học của trường

1000 tài liệu download từ trên mạng

1100 luận văn thạc sĩ, tiến sĩ

200 công trình nghiên cứu khoa học

Bảng 2.2: So sánh nguồn tài nguyên thông tin kinh tế của thư viện ĐHKT TP.HCM với nguồn tài nguyên thông tin của các thư viện khác

Ngoài ra nguồn tài nguyên thông tin kinh tế của thư viện còn bao gồm các CSDL thư mục như:

+ CSDL thư mục sách 19500 biểu ghi

+ CSDL thư mục luận văn, luận án: 5235 biểu ghi

+ CSDL thư mục báo, tạp chí: 10686 biểu ghi

+ CSDL thư mục bài trích báo, tạp chí: 41.659 biểu ghi

- Phần mềm quản lý CSDL thư mục là PSC zLIS 6.0

- Khổ mẫu biên mục và chuẩn biên mục được sử dụng theo MARC 21 và AACR2

- Bộ máy tra cứu của thư viện bao gồm mục lục trực tuyến OPAC hỗ trợ tra cứu các CSDL thư mục và CSDL toàn văn của thư viện

Thư viện ĐHKT TP.HCM sở hữu một kho tài liệu kinh tế phong phú và đa dạng, bao gồm từ điển, sách, báo, tạp chí, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu khoa học Hiện tại, phần lớn tài liệu vẫn ở dạng truyền thống, trong khi tài liệu điện tử chỉ mới được đưa vào sử dụng gần đây Cụ thể, các CSDL toàn văn luận văn, luận án đã được xây dựng từ năm 2002 nhưng chỉ phục vụ người dùng trong vài năm gần đây, và các CSDL trực tuyến mua quyền truy cập đã được áp dụng từ năm 2010.

Trước đây, thư viện trường có nhiều tài liệu bằng tiếng Nga và tiếng Pháp, nhưng sau khi tiếng Anh được đưa vào giảng dạy, số lượng tài liệu bằng hai ngôn ngữ này dần giảm do không còn được bổ sung Ngược lại, tài liệu tiếng Anh ngày càng tăng để đáp ứng nhu cầu người dùng, trong khi tài liệu tiếng Việt chiếm đa số Thư viện chủ yếu bổ sung tài liệu tiếng Anh khi có nhu cầu từ người dùng và nhận sách tặng từ Quỹ Châu Á Trong những năm gần đây, nhà trường đã chú trọng tăng cường năng lực tiếng Anh cho giảng viên và sinh viên, dẫn đến việc phát triển nguồn tài liệu này Các tài liệu bằng tiếng Nhật, Hàn, Đức hầu như không được bổ sung, và tài liệu tiếng Pháp, tiếng Nga còn lại chủ yếu là sách cũ.

Tiếng Việt Tiếng Anh Tiếng Pháp Ngôn ngữ khác

Biểu đồ 1: Tỷ lệ ngôn ngữ theo số bản tài liệu

Biểu đồ cho thấy 90% tài liệu trong thư viện là tiếng Việt, trong khi các ngôn ngữ khác chỉ chiếm 10%, với tiếng Anh chiếm 8.3% Tình trạng ngôn ngữ của nguồn tài nguyên thông tin kinh tế cũng tương tự, chủ yếu là tiếng Việt và tiếng Anh, cùng một số tài liệu tiếng Pháp và tiếng Nga, không có tài liệu bằng ngôn ngữ khác Điều này phản ánh thực trạng bổ sung nguồn tài nguyên thông tin kinh tế của thư viện trong những năm qua, chủ yếu tập trung vào tiếng Việt mà chưa chú trọng đến tài liệu ngoại văn, dẫn đến số lượng tài liệu ngoại văn hiện nay quá ít Trong bối cảnh nhu cầu đọc tài liệu chuyên ngành kinh tế bằng ngoại văn, đặc biệt là tiếng Anh, ngày càng tăng, thư viện cần tăng cường bổ sung tài liệu ngoại văn để cân đối tỷ lệ ngôn ngữ tài liệu và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dùng.

Phương thức bổ sung tài liệu kinh tế của thư viện trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

tế thành phố Hồ Chí Minh

Nguồn tài nguyên thông tin kinh tế của thư viện hiện nay được bổ sung thông qua các phương thức mua, nhận lưu chiểu và nhận tặng biếu

Để tồn tại và phát triển, các tổ chức, đặc biệt là thư viện, cần có nguồn kinh phí duy trì hoạt động Thư viện thường không tạo ra lợi nhuận đủ để tự đầu tư, do đó phụ thuộc vào ngân sách từ chính quyền hoặc cơ quan chủ quản Thư viện trường ĐHKT TP.HCM chủ yếu phát triển nguồn tài nguyên thông tin thông qua việc mua sắm, với nguồn kinh phí từ ngân sách nhà trường Tuy nhiên, nguồn kinh phí này phụ thuộc vào chính sách của nhà trường trong từng giai đoạn.

Năm Sách Báo - tạp chí Tổng cộng

Bảng 2.3: Ngân sách bổ sung tài liệu của thư viện từ 2003 đến 2011

Số liệu thống kê ở trên cho thấy nguồn kinh phí bổ sung của thư viện từ

Từ năm 2003 đến 2006, nguồn kinh phí cho thư viện giảm 1.5 lần, ảnh hưởng đến việc mua sách và báo - tạp chí Tuy nhiên, từ năm 2006 đến 2011, kinh phí bổ sung cho thư viện tăng nhanh chóng do nhà trường không còn khống chế nguồn kinh phí này So sánh nguồn kinh phí dành cho công tác bổ sung của thư viện năm 2007 cho thấy sự gia tăng đáng kể so với các năm trước.

Từ năm 2011, nguồn kinh phí dành cho phát triển tài nguyên thông tin đã tăng 2.8 lần trong vòng 5 năm Nhờ sự hỗ trợ tài chính bổ sung từ nhà trường, thư viện đã mở rộng và phát triển một nguồn tài nguyên thông tin kinh tế phong phú và đa dạng.

Vào năm 2012, do chủ trương tiết kiệm của nhà trường, nhiều nguồn kinh phí bị cắt giảm, trong đó có nguồn kinh phí bổ sung cho thư viện giảm 50% so với năm 2011, chỉ còn khoảng 700 - 800 triệu đồng mỗi năm.

Việc cắt giảm nguồn kinh phí bổ sung trong bối cảnh giá tài liệu ngày càng tăng đã dẫn đến việc số lượng tài liệu bổ sung vào thư viện giảm sút, gây khó khăn cho cán bộ trong việc lựa chọn tài liệu Đồng thời, thư viện hiện đang sử dụng các nguồn tài liệu điện tử được mua theo dự án Trig, nhưng khi các cơ sở dữ liệu này hết hạn, thư viện sẽ không thể tiếp tục duy trì việc mua sắm nếu không có sự hỗ trợ tài chính bổ sung từ nhà trường.

Việc phân bổ kinh phí cho thư viện hiện chưa rõ ràng và thiếu quy định cụ thể về tỷ lệ phần trăm ngân sách dành cho nguồn tài nguyên thông tin kinh tế, cũng như phân bổ kinh phí cho từng chuyên ngành đào tạo Hệ quả là số lượng tài liệu bổ sung hàng năm cho các chuyên ngành không ổn định, với một số chuyên ngành nhận quá nhiều tài liệu trong khi các chuyên ngành khác lại thiếu hụt Sự chênh lệch này hàng năm làm cho nguồn tài nguyên thông tin kinh tế của thư viện không đáp ứng tốt nhu cầu của người dùng.

Công tác phát triển nguồn tài nguyên thông tin kinh tế của thư viện phụ thuộc vào ngân sách được cấp Việc quản lý và phân bổ ngân sách hiệu quả cho từng lĩnh vực chuyên ngành đào tạo là yếu tố then chốt để đảm bảo chất lượng nguồn tài nguyên thông tin kinh tế của thư viện.

 Đặc điểm của nguồn tài nguyên thông tin kinh tế bổ sung theo phương thức mua

Nguồn tài nguyên này khá đa dạng và phong phú về ngôn ngữ, hình thức, loại hình và nội dung:

+ Ngôn ngữ: Bổ sung chủ yếu là tài liệu tiếng Việt và tiếng Anh

Hình thức tài liệu hiện nay bao gồm cả in ấn và điện tử, trong đó tài liệu in ấn chiếm ưu thế hơn, còn tài liệu điện tử vẫn chưa phổ biến.

+ Loại hình tài liệu bao gồm sách giáo trình, sách tham khảo, từ điển, báo - tạp chí, các công trình nghiên cứu, các CSDL trực tuyến…

+ Nội dung nguồn tài nguyên thông tin kinh tế từ cơ bản đến chuyên sâu phù hợp cho từng đối tượng người dùng tin

 Quy trình lựa chọn và bổ sung

Quy trình bổ sung nguồn tài nguyên thông tin theo phương thức mua tại thư viện ĐHKT TP.HCM có thể khái quát thành sơ đồ như sau:

Sơ đồ 1: Quy trình bổ sung tài liệu qua phương thức chọn mua

Quy trình bổ sung tài liệu tại thư viện được thực hiện qua hai giai đoạn lựa chọn: trước tiên là sự chọn lọc của cán bộ bổ sung, sau đó là sự xác nhận từ các khoa Quy trình này đảm bảo chất lượng tài liệu được lựa chọn, tuy nhiên, do phải trải qua nhiều bước và thời gian chờ đợi, một số sách có thể không còn hoặc không đủ số bản khi hoàn tất thủ tục.

Giao dịch với với nhà cung cấp

Chọn tài liệu, tra trùng

Phân loại sách theo từng khoa chuyên ngành

Làm tờ trình đề nghị mua sách và chuyển cho trưởng/ phó khoa xem xét và cho ý kiến

Tập hợp tờ đề nghị đã có ý kiến của trưởng/phó khoa trình lên Ban giám hiệu duyệt

Phòng TCKT mở báo giá và chọn nhà cung cấp

Kiểm tra, nhận tài liệu

Chuyển phiếu xuất kho cho Phòng TCKT

Lưu trữ hồ sơ TCKT

Chuyển tài liệu cho bộ phận xử lý kỹ thuật. Đặt mua

Thư viện đang gặp khó khăn trong việc đáp ứng 47 yêu cầu mua tài liệu, điều này ảnh hưởng đến tính cập nhật của thông tin và khiến thư viện không thể kịp thời phục vụ nhu cầu của người dùng tin.

Tài liệu điện tử là loại tài liệu đặc biệt, đòi hỏi quy trình mua sắm khác biệt so với tài liệu truyền thống Mặc dù vẫn cần mở báo giá và chọn nhà cung cấp, việc lựa chọn tài liệu điện tử không qua các khoa ký duyệt mà dựa vào khảo sát thực tế từ người dùng thông qua bảng hỏi.

 Thực trạng bổ sung nguồn tài nguyên thông tin theo phương thức mua

Nguồn tài liệu truyền thống (dưới dạng in ấn)

Tài liệu in ấn là nguồn tài liệu quan trọng nhất trong thư viện hiện nay, được người dùng tin tưởng và sử dụng rộng rãi Việc bổ sung tài liệu in ấn dựa trên các nguyên tắc và diện bổ sung của thư viện, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn tài nguyên thông tin Các hình thức tài liệu in ấn bao gồm sách giáo trình, sách tham khảo, và báo - tạp chí, đóng vai trò thiết yếu trong việc cung cấp thông tin cho người dùng.

Trường ĐHKT TP.HCM sở hữu đội ngũ giảng viên và nhà nghiên cứu đông đảo, thường xuyên tham gia viết sách và giáo trình Nhờ đó, trường có nhiều giáo trình mới hoặc tái bản hàng năm, cung cấp nguồn tài liệu phong phú cho thư viện Theo thống kê, lượng giáo trình bổ sung hàng năm vào thư viện luôn duy trì ở mức ổn định.

Bảng 2.4: Số lượng giáo trình thư viện thu thập được từ 2007 đến 2012

Nguồn sách giáo trình được thư viện thu thập hàng năm bao gồm sách giáo trình của giảng viên trong trường và giáo trình của trường ngoài:

Giáo trình của giảng viên trong trường là nguồn tài liệu quan trọng, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số giáo trình được bổ sung vào thư viện Đây là loại tài liệu mà sinh viên thường xuyên có nhu cầu sử dụng.

Thư viện bổ sung từ 50 đến 100 bản giáo trình cho mỗi tên sách, nhưng nếu nhu cầu của sinh viên cao hơn, số lượng này có thể được xem xét tăng cường Giáo trình được lựa chọn phải qua kiểm định của trường, và do tần suất sử dụng cao, sách thường nhanh chóng cũ nát Giảng viên thường xuyên cập nhật và đổi mới giáo trình, vì vậy thư viện cần nắm bắt kịp thời các môn học và giáo trình mới để bổ sung tài liệu cho sinh viên Để đảm bảo nguồn tài liệu đầy đủ, thư viện phải liên hệ thường xuyên với các khoa và nhà cung cấp sách Đồng thời, thư viện cũng cần có chính sách thanh lọc hợp lý, thường tiến hành sau 5 năm nếu giáo trình đã được cập nhật hoặc có bản thay thế.

Công tác thanh lọc nguồn tài nguyên thông tin kinh tế tại thư viện trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

Từ năm 2002 đến 2008, thư viện không thực hiện việc thanh lọc tài liệu do chính sách của nhà trường yêu cầu sự đồng ý từ các khoa, nhưng không có khoa nào chấp thuận Trong thời gian này, thư viện chỉ thanh lọc một số đầu sách không còn nằm trong chương trình học.

Từ năm 2009, việc thanh lọc tài liệu trong thư viện được nhà trường đồng ý và tiến hành thường xuyên, nhằm giải quyết tình trạng tài liệu cũ, lạc hậu và hư hỏng Sau một thời gian dài không thực hiện, số lượng tài liệu cần thanh lọc đã tăng lên đáng kể Trong giai đoạn từ 2009 đến 2011, thư viện đã thanh lọc tổng cộng 17.662 bản sách, trong đó năm 2009 là 13.480 bản, năm 2010 là 4.182 bản.

Khi tiến hành thanh lọc thư viện, cần dựa trên các tiêu chí rõ ràng về tình trạng tài liệu, bao gồm việc loại bỏ sách rách nát, nội dung lạc hậu, đặc biệt là các giáo trình đã có phiên bản mới, và loại bỏ các lần xuất bản cũ Tuy nhiên, hiện tại việc thanh lọc tài liệu thường thiếu kế hoạch cụ thể và mang tính chủ quan cao, chưa có sự thẩm định đầy đủ cho các tài liệu được lựa chọn để thanh lọc.

Công tác đánh giá nguồn tài nguyên thông tin kinh tế tại thư viện trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

Để đánh giá sự phát triển nguồn tài nguyên thông tin của thư viện, có hai cách tiếp cận chính: một là tập trung vào nguồn tài nguyên thông tin, và hai là chú trọng vào người dùng tin.

Cách tiếp cận lấy nguồn tài nguyên thông tin làm trung tâm là phương pháp đánh giá nguồn tài nguyên thông tin theo định lượng Đánh giá này dựa vào quy mô, tổng số tên, số bản, tỷ lệ tăng trưởng tài liệu hàng năm và tỷ lệ tài liệu trên mỗi người dùng Các phương pháp thống kê so sánh, đánh giá trực tiếp nguồn tài nguyên và thống kê lưu hành được áp dụng để thực hiện quá trình đánh giá này.

+ Cách tiếp cận lấy người dùng tin làm trung tâm: Các phương pháp được sử dụng như điều tra người dùng tin, đánh giá của các chuyên gia

Thư viện ĐHKT TP.HCM hiện đang áp dụng phương pháp lấy người dùng tin làm trung tâm để đánh giá nguồn tài nguyên thông tin, thông qua các cuộc khảo sát bằng bảng hỏi Tuy nhiên, việc này chưa được thực hiện đều đặn và thiếu một bảng hỏi chuyên biệt để khảo sát nhu cầu tin của người dùng về nguồn tài nguyên Kết quả khảo sát hiện tại chưa được phân tích và sử dụng hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng nguồn tài nguyên thông tin của thư viện.

Để đánh giá nguồn tài nguyên thông tin điện tử thư viện, chúng tôi sử dụng số liệu thống kê lượt sử dụng từ các nhà cung cấp cơ sở dữ liệu trực tuyến.

Việc thu thập ý kiến từ các giảng viên về các cơ sở dữ liệu (CSDL) là cần thiết, tuy nhiên hiện tại chưa có kế hoạch cụ thể cho quá trình này Hoạt động này chủ yếu được thực hiện theo yêu cầu từ phía nhà trường.

Hợp tác và chia sẻ trong phát triển nguồn tài nguyên thông tin của thư viện trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

Hợp tác và chia sẻ thông tin là yếu tố then chốt trong việc phát triển nguồn tài nguyên của các thư viện Việc thực hiện hiệu quả công tác này sẽ giúp thư viện ĐHKT TP.HCM mở rộng và làm phong phú thêm nguồn tài nguyên thông tin kinh tế, đảm bảo tính đa dạng và đầy đủ.

 Hợp tác với các khoa

Hợp tác giữa thư viện và các khoa là rất quan trọng, vì các giảng viên là những người xác định nhu cầu thông tin và đánh giá nguồn tài nguyên tốt nhất Sự gắn kết chặt chẽ giữa thư viện và các khoa sẽ nâng cao chất lượng phát triển nguồn tài nguyên thông tin kinh tế.

Hiện nay, thư viện hợp tác với các khoa trong việc lựa chọn tài liệu và thu thập loại hình tài liệu chuyên đề tốt nghiệp của sinh viên

Hiện nay, sự hợp tác giữa thư viện và các khoa trong trường chủ yếu dừng lại ở việc thư viện lựa chọn tài liệu và trình danh sách cho các trưởng/ phó khoa ký duyệt Quy trình này giúp cải thiện nguồn tài nguyên thông tin của thư viện, nhưng việc lấy ý kiến từ các khoa thường mang tính hình thức, khi mà nhiều người ký duyệt không nắm rõ nội dung sách Hơn nữa, sự chủ động trong việc phản hồi và đề xuất bổ sung tài liệu từ phía các khoa vẫn còn hạn chế, dẫn đến việc thiếu tính hiệu quả trong hợp tác.

Thư viện cần chủ động chọn tài liệu cho giảng viên, nhưng sự hợp tác từ các khoa còn hạn chế, khi các khoa chưa thường xuyên đưa ra yêu cầu tài liệu Nhiều giảng viên ít đến thư viện và không nắm rõ nguồn tài liệu có sẵn, dẫn đến việc họ không quan tâm và ít yêu cầu bổ sung tài nguyên thông tin Việc thu thập chuyên đề tốt nghiệp của sinh viên cũng chưa được thực hiện hiệu quả, do một số khoa chưa nộp tài liệu cho thư viện Mặc dù thư viện đã có văn bản yêu cầu hỗ trợ từ các khoa từ năm 2012, nhưng chỉ một số khoa thực hiện phối hợp.

 Hợp tác với các phòng ban

Thư viện chú trọng hợp tác với các phòng ban trong trường để thu thập tài liệu nội sinh và thực hiện thủ tục mua sắm Sự hợp tác này giúp nâng cao chất lượng nguồn tài nguyên thông tin kinh tế, đảm bảo tính đầy đủ, cập nhật và phù hợp với chương trình học Các phòng ban như Đào tạo và Công tác sinh viên, Viện đào tạo Sau đại học, phòng QLKH&HTQT, và phòng TCKT thường xuyên phối hợp trong việc phát triển nguồn tài nguyên thông tin kinh tế.

Theo cán bộ bổ sung:

Phòng Đào tạo và Công tác sinh viên cung cấp cho thư viện chương trình giảng dạy và thời khóa biểu các môn học, giúp thư viện nắm bắt nội dung giảng dạy của nhà trường Điều này cho phép thư viện bổ sung tài liệu kịp thời và phù hợp với chương trình học.

Viện đào tạo Sau đại học phối hợp chặt chẽ với thư viện trong việc quản lý nộp luận văn và luận án Sự hợp tác này được thể hiện qua các thông báo về quy trình và thủ tục bảo vệ luận văn thạc sĩ cũng như luận án tiến sĩ, nhằm cung cấp thông tin rõ ràng cho học viên và nghiên cứu sinh.

Học viên và nghiên cứu sinh cần nộp cho thư viện một bản luận văn hoặc luận án cùng với một CD chứa nội dung đã chỉnh sửa theo yêu cầu của hội đồng Giấy biên nhận xác nhận việc nộp luận văn/luận án cho thư viện cũng là tài liệu bắt buộc để hoàn tất quy trình bảo vệ luận văn/luận án.

Phòng QLKH&HTQT gửi cho thư viện tất cả các công trình nghiên cứu khoa học của trường, bao gồm các nghiên cứu từ sinh viên đến các dự án cấp bộ, cũng như các kỷ yếu từ hội thảo và hội nghị.

Thư viện phối hợp chặt chẽ với phòng TCKT để thực hiện quy trình thanh toán khi mua tài liệu Quy trình thanh toán ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ chuyển giao tài liệu về thư viện; nếu thủ tục thanh toán diễn ra nhanh chóng, tài liệu sẽ được chuyển về thư viện kịp thời hơn.

Thực trạng, tính chất của việc hợp tác giữa thư viện và các phòng ban:

Thư viện đã hợp tác hiệu quả với Viện đào tạo Sau đại học để thu thập luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ, giúp việc thu thập tài liệu này trở nên thuận lợi và đầy đủ hơn.

Sự phối hợp giữa thư viện và phòng QLKH&HTQT còn thiếu chặt chẽ do chưa có văn bản quy định cụ thể về hợp tác Điều này dẫn đến việc thư viện không thu thập đầy đủ công trình nghiên cứu khoa học và tài liệu hội thảo Hơn nữa, việc chuyển giao tài liệu chỉ diễn ra một lần mỗi năm và phụ thuộc vào sự sắp xếp của phòng QLKH&HTQT, gây mất tính cập nhật của các tài liệu.

Việc phối hợp với phòng TCKT trong thanh toán hóa đơn và chứng từ đã có quy trình quy định rõ ràng, nhưng thực tế thanh toán thường không tuân thủ đúng quy định Thêm vào đó, thủ tục bổ sung tài liệu phức tạp đôi khi làm chậm trễ quá trình thanh toán và giao sách.

 Hợp tác với các chương trình đào tạo liên kết hợp tác quốc tế của trường

Trường ĐHKT TP.HCM hiện có nhiều chương trình đào tạo liên kết với giáo trình và tài liệu học tập riêng, bao gồm các tủ sách và thư viện đặc thù cho sinh viên như chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright và CFVG Việc hợp tác chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin với các chương trình này sẽ làm phong phú thêm nguồn tài nguyên kinh tế của thư viện, giúp sinh viên tiếp cận và tìm hiểu các chương trình giảng dạy tiên tiến từ nước ngoài.

Thư viện đang hợp tác với các chương trình đào tạo liên kết của trường, bao gồm chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright và chương trình thạc sĩ Kinh tế phát triển ISS từ Hà Lan.

Các yếu tố chính tác động đến công tác phát triển nguồn tài nguyên thông tin

Công tác phát triển nguồn tài nguyên thông tin tại thư viện ĐHKT TP.HCM chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như cơ quan chủ quản, ngành xuất bản, và nguồn nhân lực Thị trường xuất bản phẩm ngày càng phát triển, tạo ra nhiều lựa chọn cho cán bộ bổ sung, nhưng cũng đặt ra thách thức về việc lựa chọn tài liệu chất lượng trong nguồn kinh phí hạn chế Sự phát triển của công nghệ thông tin yêu cầu cán bộ phải làm quen với các loại hình tài liệu mới như cơ sở dữ liệu và sách điện tử Nhu cầu của cộng đồng người dùng tin là yếu tố quan trọng để thư viện phát triển nguồn tài nguyên thông tin kinh tế.

Tuy nhiên, do các điều kiện thực tế khác nhau, nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển nguồn tài nguyên thông tin kinh tế tại thư viện Đại học Kinh tế.

Thư viện trường ĐHKT TP.HCM có những điểm khác biệt trong việc phát triển nguồn tài nguyên thông tin, chủ yếu do sự tác động của cơ quan chủ quản qua các chính sách và chủ trương của nhà trường Trong khi đó, các thư viện khác không ảnh hưởng nhiều đến công tác này vì thư viện ĐHKT TP.HCM chưa tham gia vào việc hợp tác và chia sẻ nguồn tài nguyên với các thư viện khác Bên cạnh đó, chính sách phát triển nguồn tài nguyên thông tin, thủ tục hành chính và đội ngũ cán bộ cũng là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển này.

2.7.1 Chủ trương và chính sách của nhà trường Đối với các thư viện trường đại học, mọi hoạt động của thư viện nói chung, việc phát triển nguồn tài nguyên thông tin nói riêng chịu sự tác động rất lớn từ các cơ quan chủ quản Một trường đại học quan tâm đến thư viện, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho thư viện phát triển thì thư viện đó sẽ phát triển rất tốt và ngược lại

Công tác phát triển nguồn tài nguyên thông tin kinh tế của thư viện ĐHKT TP.HCM chịu ảnh hưởng lớn từ nhà trường, yêu cầu phải phù hợp với nhiệm vụ, sứ mạng và định hướng phát triển Hiện nay, sự tác động này thể hiện rõ qua các chính sách và chủ trương của nhà trường trong việc phát triển nguồn tài nguyên thông tin kinh tế.

Những chính sách, chủ trương của nhà trường đang ảnh hưởng đến việc phát triển nguồn tài nguyên thông tin của thư viện hiện nay là:

Chính sách phân bổ kinh phí đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nguồn tài nguyên thông tin của thư viện, đặc biệt là nguồn tài nguyên thông tin kinh tế Mức độ phân bổ kinh phí cho thư viện sẽ quyết định số lượng tài nguyên thông tin kinh tế mà thư viện có thể mua, từ đó ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của người dùng Trong những năm qua, nguồn kinh phí được cấp đã góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng và số lượng tài nguyên thông tin tại thư viện.

Từ năm 2007 đến 2011, thư viện đã mở rộng nguồn tài nguyên thông tin kinh tế với sự gia tăng đáng kể về số lượng tài liệu, bao gồm cả các cơ sở dữ liệu điện tử và tài liệu tiếng Anh Tuy nhiên, từ năm 2012, việc cắt giảm kinh phí của nhà trường đã buộc thư viện phải thận trọng hơn trong việc lựa chọn tài liệu, dẫn đến sự giảm sút trong số lượng tài liệu bổ sung.

Chương trình đào tạo của nhà trường quy định nội dung và ngôn ngữ của tài nguyên thư viện, với chính sách đổi mới giảng dạy nhằm chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế và tăng cường hợp tác quốc tế Đặc biệt, nhà trường chú trọng đến các chương trình giảng dạy bằng tiếng nước ngoài, bao gồm các lớp chất lượng cao và chương trình liên kết giảng dạy bằng tiếng Anh, tiếng Pháp Để phục vụ cho việc giảng dạy và học tập, thư viện được yêu cầu bổ sung tài liệu ngoại văn, đặc biệt là tài liệu tiếng Anh liên quan đến chuyên ngành kinh tế Do đó, thư viện cần tăng cường nguồn tài liệu tiếng Anh, bao gồm giáo trình giảng dạy và tài liệu tham khảo Nhu cầu tài liệu tiếng Anh của người dùng thư viện ngày càng tăng do sự đổi mới trong các chương trình giảng dạy theo giáo trình quốc tế.

Thư viện hiện đang đối mặt với thách thức về việc bổ sung tài liệu ngoại văn, khi mà tỷ lệ tài liệu này còn thấp và chủ yếu là sách được tặng từ Quỹ Châu Á Để cải thiện tình hình, thư viện cần đầu tư nhiều hơn vào ngân sách để thu thập nguồn tài liệu này Tuy nhiên, việc lựa chọn và đánh giá tài liệu ngoại văn gặp khó khăn do trình độ ngoại ngữ và chuyên môn kinh tế của cán bộ thư viện còn hạn chế Do đó, nội dung các chương trình đào tạo sẽ là căn cứ quan trọng để thư viện xác định và bổ sung tài liệu phù hợp với nhu cầu của người dùng.

Quy mô đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ kinh phí bổ sung của thư viện cho các bậc học và chuyên ngành trong trường Nhà trường hiện nay cam kết duy trì quy mô đào tạo đại học ổn định, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo trình độ sau đại học Cụ thể, chỉ tiêu đào tạo thạc sĩ năm 2012 được đặt ra là 1.760 chỉ tiêu, cùng với 100 chỉ tiêu cho nghiên cứu sinh.

Từ năm 1991 đến 2005, số lượng tiến sĩ đạt khoảng 300, trong khi đó, số lượng tiến sĩ từ năm 1985 đến 2005 là 2000 Do đó, thư viện không chỉ cần tiếp tục bổ sung tài liệu cho sinh viên mà còn phải phát triển các tài liệu phù hợp với chương trình đào tạo sau đại học, phục vụ cho công tác nghiên cứu và hỗ trợ học viên cao học trong việc làm luận văn và luận án.

Thư viện cần tăng cường bổ sung sách giáo trình và tài liệu tham khảo chuyên sâu cho học viên, đồng thời thu thập đầy đủ và kịp thời nguồn tài liệu nội sinh của trường.

Mục tiêu của việc kiểm định chất lượng trường đại học là đảm bảo chất lượng đào tạo, trong đó thư viện đóng vai trò quan trọng trong quá trình đánh giá Sự quan tâm từ nhà trường đối với thư viện ngày càng tăng, đồng thời yêu cầu thư viện phải nỗ lực đáp ứng các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng Để đạt được điều này, thư viện cần xây dựng kế hoạch phát triển nguồn tài nguyên thông tin kinh tế chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu của người dùng.

Các chính sách và chủ trương hiện tại của nhà trường ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nguồn tài nguyên thông tin kinh tế của thư viện Trong đó, chính sách phân bổ kinh phí, đổi mới chương trình đào tạo, quy mô đào tạo và mục tiêu nâng cao chất lượng đại học đóng vai trò quan trọng, với chính sách phân bổ kinh phí có tác động mạnh mẽ nhất.

2.7.2 Chính sách phát triển nguồn tài nguyên thông tin của thư viện

Mặc dù cán bộ thư viện nhận định rằng đã có chính sách phát triển nguồn tài nguyên thông tin từ khi thành lập, nhưng thực tế cho thấy chính sách này đã thay đổi qua từng giai đoạn phát triển Tuy nhiên, thư viện vẫn chưa có văn bản chính thức nào quy định về chính sách này, mà chỉ có các quy định không được ghi chép rõ ràng mà cán bộ thực hiện.

- Diện bổ sung của thư viện là tài liệu thuộc các lĩnh vực đào tạo của trường, các môn học chung

Đánh giá thực nguồn tài nguyên thông tin kinh tế tại thư viện trường Đại học

chuẩn khác về trình độ ngoại ngữ, tin học, sự hiểu biết các lĩnh vực chuyên ngành thuộc diện bổ sung của thư viện, đạo đức tốt…

Thư viện ĐHKT TP.HCM hiện có một cán bộ phụ trách lựa chọn và bổ sung tài liệu, cùng với một cán bộ đảm nhiệm công tác đặt mua và thực hiện các thủ tục thanh toán Theo nhận xét của lãnh đạo thư viện, cán bộ phụ trách bổ sung tài liệu đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng nguồn tài liệu của thư viện.

Với nhiều năm kinh nghiệm trong công tác bổ sung, người cán bộ luôn nỗ lực học hỏi và tự nâng cao trình độ, đặc biệt là đạt được trình độ thạc sĩ Họ yêu nghề và tâm huyết với công việc của mình Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế về trình độ ngoại ngữ, kiến thức chuyên ngành kinh tế và công nghệ.

2.8 Đánh giá thực trạng công tác phát triển nguồn tài nguyên thông tin kinh tế tại thư viện trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

Nghiên cứu thực trạng phát triển nguồn tài nguyên thông tin, đặc biệt là nguồn tài nguyên thông tin kinh tế tại thư viện ĐHKT TP.HCM, cho thấy những điểm mạnh và điểm yếu trong công tác này, dựa trên ý kiến của cán bộ bổ sung và ban giám đốc thư viện.

 Được sự hỗ trợ của nhà trường

Ban giám đốc thư viện cho biết: “Thư viện nhận được sự ủng hộ và chỉ đạo sát sao từ ban giám hiệu.” Điều này được thể hiện qua việc ngân sách bổ sung tài liệu hàng năm của thư viện liên tục gia tăng.

Từ năm 2006 đến 2011, mặc dù gặp khó khăn tài chính trong năm 2012, nhà trường vẫn nỗ lực hỗ trợ thư viện mua sắm tài liệu, bao gồm việc dành riêng ngân sách cho CSDL OECD Bên cạnh đó, nhà trường cũng tạo điều kiện thuận lợi cho thư viện trong việc phê duyệt các giấy tờ liên quan đến phát triển nguồn tài nguyên thông tin, như văn bản nộp luận văn và chuyên đề tốt nghiệp Cuối cùng, nhà trường đã đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật để nâng cao hiệu quả khai thác nguồn tài nguyên thông tin, giúp thư viện thu được nhiều lợi ích từ các dự án giáo dục.

Trig: bao gồm tiền trang bị thêm nhiều trang thiết bị như máy tính, thay đường dây mạng, nâng cấp phần mềm thư viện…

 Nguồn tài liệu phong phú đa dạng

Thư viện Trường ĐHKT TP.HCM, được thành lập từ năm 1976, sở hữu nguồn tài nguyên thông tin kinh tế phong phú và đa dạng Thư viện liên tục mua sắm tài liệu, bao gồm sách, báo, tạp chí, với cả hình thức tài liệu truyền thống và điện tử Nguồn tài liệu nội sinh, đặc biệt là luận văn, luận án, đã được thu thập đầy đủ hơn trước đây So với các thư viện đại học khác như ĐHTC - Mar TP.HCM và ĐHNH TP.HCM, thư viện ĐHKT TP.HCM nổi bật với khoảng 27,000 nhan đề tài liệu kinh tế, trong đó có hơn 5,000 luận văn thạc sĩ, 235 luận án tiến sĩ, và 830 công trình nghiên cứu khoa học.

Nguồn tài liệu điện tử thư viện từ dự án Trig của trường là nguồn thông tin quý giá, hỗ trợ tích cực cho giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học, đặc biệt dành cho giảng viên và học viên cao học.

 Nhận đƣợc các nguồn tài trợ, sách tặng biếu bên ngoài

Số lượng sách báo thư viện nhận được hàng năm từ các tổ chức và cá nhân là nguồn tài liệu quý giá, giúp thư viện phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dùng Nhiều tài liệu này có giá trị cao và phù hợp với chuyên ngành đào tạo của nhà trường, bao gồm các tài liệu từ Quỹ Châu Á và những ấn phẩm được tặng từ giảng viên, cựu sinh viên.

 Sự phát triển của thị trường xuất bản

Sự phát triển của thị trường xuất bản cùng với nguồn tài liệu kinh tế phong phú và đa dạng mang lại cho thư viện ĐHKT TP.HCM nhiều cơ hội để lựa chọn các tài liệu có giá trị cao hơn.

 Quy trình bổ sung phù hợp

Thư viện trường thực hiện quy trình bổ sung tài liệu mua một cách chặt chẽ, với sự phối hợp giữa thư viện và các khoa, phòng ban nhằm nâng cao chất lượng nguồn tài nguyên thông tin kinh tế Thư viện đã xác định định hướng ưu tiên phát triển nguồn tài nguyên này và thiết lập các nguyên tắc bổ sung, từ đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu thực tế Đặc biệt, quy trình bổ sung tài liệu nội sinh, bao gồm luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ, đã được triển khai trong những năm gần đây, giúp thư viện thu thập đầy đủ loại hình tài liệu quan trọng này.

Thư viện đã tải xuống một số tài liệu tiếng Anh từ internet nhằm mở rộng nguồn tài liệu tham khảo cho người dùng.

 Nguồn tài liệu tiếng Việt phong phú

Thư viện có một kho tàng tài liệu bằng tiếng Việt phong phú, bao gồm nhiều loại hình như sách giáo trình, sách tham khảo, luận văn và luận án Nội dung của các tài liệu này rất đa dạng, từ những nguyên lý cơ bản cho đến các vấn đề chuyên sâu.

2.8.2 Điểm yếu và nguyên nhân

 Thƣ viện chƣa có chính sách phát triển nguồn tài nguyên thông tin

Thư viện cần xây dựng một chính sách phát triển nguồn tài nguyên thông tin rõ ràng để cải thiện công tác bổ sung tài liệu, hiện tại việc này còn mang tính chủ quan cao và dẫn đến nhiều bất cập như phân bổ kinh phí chưa hợp lý, lựa chọn tài liệu thiếu kế hoạch và tỷ lệ ngôn ngữ không đồng đều Sự hiểu biết chưa đúng về chính sách phát triển nguồn tài nguyên thông tin từ ban giám đốc và cán bộ bổ sung là nguyên nhân chính Để nâng cao hiệu quả phát triển nguồn tài nguyên thông tin, thư viện cần hoàn thiện chính sách và quy trình bổ sung tài liệu của mình.

 Nội dung tài liệu thiếu cập nhật

Nội dung tài nguyên thông tin hiện tại thiếu tính cập nhật do quy trình mua tài liệu phức tạp, kéo dài thời gian Sự phối hợp giữa thư viện, các phòng ban và nhà cung cấp tài liệu chưa hiệu quả, cùng với công tác thanh lọc tài liệu chưa được thực hiện tốt, dẫn đến tình trạng này.

 Tỷ lệ ngôn ngữ tài liệu chƣa cân đối

Thư viện hiện nay chủ yếu cung cấp tài liệu bằng tiếng Việt, trong khi tài liệu tiếng Anh lại chiếm tỷ lệ rất thấp, mặc dù nhu cầu về tài liệu tiếng Anh ngày càng gia tăng Các tài liệu bằng các ngôn ngữ khác như Hoa, Nhật, Hàn gần như không có hoặc rất ít Nguyên nhân của tình trạng này là do thư viện chưa có chính sách phát triển nguồn tài nguyên thông tin hiệu quả, khả năng ngoại ngữ của cán bộ còn hạn chế và thư viện chưa chủ động thu thập nhu cầu thông tin từ người dùng.

 Kinh phí bổ sung bị cắt giảm

KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU TIN CỦA NGUỒN TÀI NGUYÊN THÔNG TIN KINH TẾ TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN TÀI NGUYÊN THÔNG

Ngày đăng: 07/05/2021, 22:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w